Xét Nghiệm Hiv Bằng Phương Pháp Elisa

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Đáp Chứng Chỉ Esl Là Gì
  • Phương Pháp Tổ Chức Lớp Học Khóa Esl Tại Cip
  • Chương Trình Esl Là Gì? Tìm Hiểu Về Giải Pháp Tiếng Anh Dành Cho Bạn
  • Những Điều Cần Biết Về Chương Trình Học Tiếng Anh Esl
  • Emu: Eap Phương Pháp Cập Nhật
  • HIV ( human immunodeficiency virus, có nghĩa virus suy giảm miễn dịch ở người) là một lentivirus (thuộc họ retrovirus) có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải một tình trạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho những nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người bị nhiễm.

    Elisa là phương pháp xét nghiệm HIV miễn dịch gắn men và nó có độ nhạy rất cao. Đây là phương pháp xét nghiệm được khá nhiều người lựa chọn, vậy xét nghiệm HIV bằng phương pháp elisa là gì?

    – Xét nghiệm elisa dựa vào sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, trong đó thì mỗi một kháng thể sẽ được gắn với một enzym. Khi chúng ta cho thêm bệnh phẩm có chứa kháng thể thì nó sẽ phản ứng và enzym sẽ phân hủy thành máu, thông qua cường độ máu thì sẽ biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể Hiv.

    – Huyết thanh cần thử ủ với kháng nguyên tinh chế cố định trên giá đỡ 30 phút. Sau khi rửa để loại kháng thể thừa, không đặc hiệu, lại tiếp tục ủ với kháng thể kháng globulin người gắn Enzym. Nếu kháng thể trong huyết tương có xuất hiện sẽ gắn vào kháng nguyên điều chế và rửa không mất đi. Hoạt tính Enzym sẽ biến cơ chất không màu thành một sản phẩm có màu. Phản ứng màu được nhận định sơ bộ bằng mắt thường và đọc chính xác bằng quang kế.

    – Độ nhạy cao, giá thành không quá đắt. Bệnh phẩm là máu, nước tiểu, nước bọt. Elisa từ máu 4h là cho kết quả nhưng phải làm cùng nhiều mẫu xét nghiệm cho đỡ tốn kém nên có thể phải chờ 1-2 tuần mới có kết quả. Dương tính giả 0,5-2%.

    Xét nghiệm không có giá trị với phơi nhiễm trong thời gian cửa sổ.

    Elisa(+) phải bổ sung bằng Western blot.

    Elisa (-) phải xem xét hết giai đoạn cửa sổ mới có giá trị.

    Qua đó ta thấy việc phát hiện sớm và điều trị HIV bằng xét nghiệm HIV là vô cùng quan trọng trong chẩn đoán và điều trị HIV !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ecmo Là Gì, Khi Nào Bệnh Nhân Cần Can Thiệp Ecmo?
  • Roe Là Gì? Cách Tính Và Ứng Dụng (Hiệu Quả Nhất)
  • Dcf Là Gì? Tại Sao Cần Dcf?
  • Những Ưu Điểm Của Phương Pháp Điều Trị Dha
  • Chi Phí Điều Trị Và Những Ưu Điểm Của Phương Pháp Dha Là Gì
  • Xét Nghiệm Hiv Nhanh 3 Phương Pháp Elisa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Hiv Elisa Ag/ab Test Nhanh Sau 6 Tuần Kết Quả Âm Tính
  • Xét Nghiệm Hiv Elisa Sau 6 Tuần Là Gì Và Kết Quả Chính Xác Không?
  • Giới Thiệu Về Kỹ Thuật Elisa
  • Kỹ Thuật Phân Tích Trên Elisa
  • Ma Trận Eisenhower: Phương Pháp Để Trở Nên Năng Suất Hơn
  • Trước hết cần phải hiểu rằng xét nghiệm HIV 3 phương pháp đơn giản là sự kết hợp giữa 2 phương pháp xét nghiệm HIV có độ đặc hiệu cao và 1 phương pháp xét nghiệm HIV nhanh có độ nhạy cao để giảm thiểu khả năng dương tính giả hay âm tính giả.

    1.Đại cương

    Trên thực tế tại các cơ sở xét nghiệm ban đầu đều sử dụng phương pháp test nhanh HIV, kỹ thuật này rất đơn giản, chủ yếu mang tính chất sàng lọc bệnh nhân. Phương pháp Test nhanh HIV thường được sản xuất trên nguyên tắc “thà bắt nhầm còn hơn bỏ sót”, vì vậy có một số khả năng cho kết quả là dương tính giả. Bởi vậy để đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm HIV, Bộ Y tế đã quy định, kết quả xét nghiệm HIV dương tính chỉ được khẳng định sau khi đã được xét nghiệm bằng 3 phương pháp khác nhau, trong đó có các phương pháp mang tính kỹ thuật cao như Elisa và Western Blot.

    2. Những xét nghiệm được sử dụng trong xét nghiệm HIV 3 phương pháp:

    • Xét nghiệm ELISA 1 (BIO-RAD) với các kháng nguyên gp160, p25, gp36
    • Xét nghiệm ELISA 2 (SD) với các kháng nguyên gp 41, p24, gp36
    • Xét nghiệm ELISA 3 (Abbott) với kháng nguyên peptide tổng hợp của virus HIV1, HIV2 nhóm O và M, gắn với các kháng thể kháng p24, p26.
    • Xét nghiệm serodia SFD (Fujirebio) với các kháng nguyên gp41, p24, gp36
    • Xét nghiệm nhanh Determine HIV1 /2 với các kháng nguyên của HIV1 (gp41), HIV2 (gp36), là các kháng thể kháng HIV1, HIV2 gắn selenium colloid.

    3. Các chiến lược xét nghiệm HIV 3 phương pháp thường được áp dụng:

    • ELISA 1 + SERODIA + Determine HIV1/2
    • ELISA 1 + ELISA 2 + Determine HIV1/2
    • ELISA 1 + ELISA 3 + Determine HIV1/2

    Từ năm 1996 đến đầu năm 2021, dựa trên kết quả xét nghiệm sàng lọc 63948 bệnh nhân, trong đó có 547 bệnh nhân dương tính (tỷ lệ dương tính chung là 0,85%, tỷ lệ HIV dương tính từ năm 2000 đến nay là 1,062%) bằng chiến lược 3 xét nghiệm.

    Nhược điểm:

    4. So sánh với Western Blot: mức độ phù hợp 17/17.

    • Không xác định được HIV1 và HIV2
    • Không có khả năng định typ, không đánh giá được gánh nặng virus

    5. khi nào nên đi xét nghiệm HIV 3 phương pháp ?

    Theo các chuyên gia thời gian để cho giá trị xét nghiệm trở nên chính xác là vào khoảng từ 3 cho tới 6 tháng bởi vì lúc này cơ thể người bệnh mới sản sinh ra các kháng thể để chống lại virut HIV, và thực chất hầu hết các loại xét nghiệm không phải tìm ra virus HIV mà là đi tìm kháng thể chống virus HIV.

    Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIV, tư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

    Trong điều kiện hiện nay đối với các cơ sở y tế thực hành lâm sàng, chiến lược 3 xét nghiệm vẫn là một chiến lược tốt, nên áp dụng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nuôi Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Easy
  • Trải Nghiệm Phương Pháp Nuôi Con Easy Và Phương Pháp Truyền Thống
  • Phương Pháp Easy Và Luyện Ngủ, Luyện Ăn Cho Con Thế Nào Cho Đúng?
  • Phương Pháp Dạy Lịch Sử Thành Công Đã Được Áp Dụng Vào Thực Tế
  • Vận Dụng Hướng Dạy Học Dự Án Của Môn Lịch Sử
  • Quy Trình Tìm Giun Đũa Chó Bằng Phương Pháp Elisa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Xét Nghiệm Hiv
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Với Ma Trận Eisenhower Actioncoach Thu Ngô
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả, Matrix Eisenhower
  • Quản Lý Thời Gian Theo Phương Pháp Eisenhover – Blog Jogo
  • 4 Phương Pháp Pha Chế Căn Bản Cho Các Bạn Tìm Hiểu Về Nghề Bartender
  • Hiện nay việc chẩn đoán bệnh ký sinh trùng bao gồm nhiều phương pháp giúp phát hiện nhiều  loại ký sinh trùng đang “ký sinh” trên cơ thể làm hại sức khỏe để từ đó đưa ra cách loại bỏ chúng. Tùy vào diễn biến cũng như triệu chứng của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định một số phương pháp chẩn đoán đối với từng bệnh nhân. Hầu hết tất cả các bệnh viện và phòng khám hiện nay điều sử dụng kỹ thuật Elisa.

    Kỹ thuật Elisa phát hiện hầu hết các loại ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể người thông qua đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với  loại ký sinh trùng đó. Tuy nhiên tùy theo mỗi loại ký sinh trùng mà độ đặc hiệu của kháng thể đáp ứng với các căn nguyên đó. Một số kít Elisa phát hiện ký sinh trùng như giun đũa chó,… có độ chính xác rất cao, độ đặc hiệu đạt 93.3 %.

    Phương pháp xét nghiệm tìm giun đũa chó là miễn dịch hấp thụ liên kết enzyme. Kỹ thuật xét nghiệm phức hợp Sandwich. Toxocara Elisa Kit là xét nghiệm miễn dịch hấp thụ liên kết enzyme (Elisa) dùng để phát hiện định tính kháng thể IgG kháng Toxocara trong mẫu huyết thanh người.

    Nguyên tắc xét nghiệm

    Vi giếng được phủ kháng nguyên ngoại tiết của ấu trùng Toxocara. Trong bước ủ đầu tiên với huyết thanh của bệnh nhân, nếu có bất kỳ kháng thể hiện, chúng sẽ liên kết với các giếng phủ kháng nguyên trong quá trình ủ đầu tiên. Tiếp theo, các giếng phải được rửa bỏ những phần còn lại cảu mẫu, và thêm vào là enzyme liên hợp. Trong lần ủ thứ hai, enzyme liên hợp sẽ liên kết với bất kỳ kháng thể có mặt. Sau khi rửa lần 2, chất tạo màu (tetramethylbenzidine hoặc TMB) được thêm vào. Với sự hiện diện của enzyme liên hợp, peroxidase xúc tác sử dụng peroxide để biến chất tạo màu thành màu xanh. Màu xanh chuyển sang màu vàng sau khi bổ dung dịch dừng phản ứng STOP. Kết quả được đọc bằng mắt hoặc sử dụng máy đọc Elisa.

    Chuẩn bị

    Trước khi sử dụng, ta mang tất cả thuốc thử và mẫu để tại nhiệt độ phòng (15-25 oC).

    Dịch rửa đậm đặc (20X) có thể kết tủa khi bảo quản trong tủ lạnh, nhưng sẽ trở thành dung dịch khi đưa về nhiệt độ phòng và trộn. Đảm bảo rằng dịch rửa đậm đặc (20X) là hoàn toàn thành dung dịch trước khi pha loãng thành nồng độ hoạt động.

    Quy trình xét nghiệm

    Lưu ý:

    Chắc rằng mẫu và thuốc thử phải để tại nhiệt độ phòng (15-25 oC).

    Khi chạy xét nghiệm, cố gắng tránh tạo bọt trong giếng. Bọt có thể ảnh hưởng đặc tính kỹ thuật và việc đọc kết quả cuối. Đập giếng ngược lên khăn thấm sau mỗi bước để giúp giảm thiểu việc tạo bọt trong giếng.

    Chứng âm và dương được cung cấp đã pha loãng trước. Không pha loãng thêm.

    Các bước tiến hành

    Bẻ ra số giếng cần thiết (hai cho đối chứng cộng với số lượng mẫu) và đặt trong khung giữ thanh vi giếng.

    Pha loãng huyết thanh bệnh nhân tỷ lệ 1:64 với đệm pha loãng.

    Thêm 100 µl chứng âm vào giếng # 1,100 µl chứng dương vào giếng # 2 và 100 µl mẫu xét nghiệm đã pha loãng vào các giếng còn lại.

    Ủ ở nhiệt độ phòng trong 10 phút, sau đó rửa 5 lần. Sau lần rửa cuối, Đập giếng lên khăn giấy để loại bỏ nước còn sót lại.

    Thêm 100µl Enzyme Liên hợp vào mỗi giếng.

    Ủ ở nhiệt độ phòng trong 5 phút, sau đó rửa 5 lần. Sau lần rửa cuối, Đập giếng lên khăn giấy để loại bỏ nước còn sót lại.

    Thêm 100µl chất bắt màu TMB vào mỗi giếng.

    Ủ ở nhiệt độ phòng xét nghiệm trong 5 phút.

    Thêm 100µl dung dịch dừng phản ứng STOP vào mỗi vi giếng. Trộn bằng cách gõ nhẹ khung giữ bằng ngón tay khoảng 15 giây.

    Đọc kết quả trong vòng một giờ sau khi thêm dung dịch dừng phản ứng.

    Quy trình rửa cho máy rửa tự động và bán tự động

    Thực hiện rửa (5) lần trên một bước thay vì ba lần.

    Thiết lập máy để “ngâm” một phút giữa mỗi bước rửa.

    Sau mỗi bước rửa, đập giếng lên khăn thấm.

    Đọc kết quả

    Máy đọc Elisa: đọc mức Zero với không khí. Thiết lập đọc bước sóng kép tại 450/620-650 nm.

    Giải thích kết quả – máy đọc Elisa

    Đọc Elisa mức Zero với không khí. Đọc tất cả các giếng tại 450/650 – 620 nm.

    Dương tính: kết quả đọc độ hấp thụ cao hơn 0,3 đơn vị OD

    Âm tính: kết quả đọc độ hấp thụ thấp hơn 0,3 đơn vị OD.

    Giải thích kết quả – đọc bằng mắt

    So sánh kết quả với đối chứng, kết quả được cho là dương tính nếu sự tạo màu rõ rệt và có ý nghĩa.

    Quản lý chất lượng

    Sử dụng thuốc chứng cho phép xác nhận độ ổn định của bộ xét nghiệm. Các bộ xét nghiệm không nên được sử dụng nếu bất kỳ thuốc chứng nào vượt ra khỏi phạm vi. Giá trị dự kiến cho các thuốc chứng là:

    Chứng âm: 0,0 đến 0,3 đơn vị OD.

    Chứng dương: 0,5 đơn vị OD trở lên.

    Chẩn đoán nhiễm Toxocara không nên được thực hiện chỉ dựa trên kết quả của một xét nghiệm ELISA Toxocara, mà phải kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng và triệu chứng khác và những phát hiện trong phòng thí nghiệm khác.

    Các yếu tố dịch tễ học, lâm sàng, vùng đặc hữu, và kết quả xét nghiệm khác cần được xem xét khi thực hiện một chẩn đoán.

    Bảo quản mẫu

    Các chất phản ứng, thanh vi giếng và các thành phần đóng chai bảo quản tại 2 – 8ºC.

    Bình tia chứa đệm rửa pha loãng có thể được lưu trữ ở nhiệt độ phòng.

    Liên hệ xét nghiệm và điều trị ký sinh trùng giun sán tại Phòng khám bệnh giun sán, 76 Trần Tuấn Khải, phường 5, quận 5. Là phòng khám Chuyên khoa Nội Ký sinh trùng uy tín tại TP. HCM. Giờ mở của từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, hoạt động từ thứ 2 đến thứ 7, nghỉ ngày CN. Phòng khám do các bác sĩ Chuyên khoa Ký sinh trùng giàu kinh nghiệm thành lập, trực tiếp khám và điều trị bệnh giun sán, đảm bảo mọi quyền lợi cho người bệnh./.

     

    Bác sĩ. Lê Giang

    PHÒNG KHÁM KÝ SINH TRÙNG

    76 TRẦN TUẤN KHẢI, TP.HCM

    TRỊ MẨN NGỨA DA DO GIUN SÁN

     ĐC: 76 Trần Tuấn Khải, P.5, Q.5, TP. HCM

    Bác sĩ của bạn: 0877688286 

    Làm việc từ thứ 2 – 7, Nghỉ ngày CN

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Elisa Đa Kháng Nguyên Để Chẩn Đoán Melioidosis – Một Phương Pháp Mới Để Cải Thiện Chẩn Đoán Huyết Thanh Melioidosis
  • Chỉ Số Hbsag Là Gì?
  • Rèn Thói Quen Ngủ Cho Bé Như Thế Nào
  • ‘rèn’ Bé Sơ Sinh Tự Ngủ, Bắt Đầu Từ Đâu?
  • Nuôi Con Không Phải Là Cuộc Chiến Với Nếp Sinh Hoạt Easy
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Xét Nghiệm Hiv Elisa Cách Phát Hiện Bệnh Hiv

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Elisa Tìm Hiv Là Xét Nghiệm Gì?
  • Kỹ Thuật Xét Nghiệm Máu Bằng Phương Pháp Miễn Dịch Học Elisa Tìm Ký Sinh Trùng
  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Miễn Dịch Lâm Sàng
  • Quản Lý Thời Gian Theo Cách Của Eisenhower
  • Quản Lý Thời Gian Theo Phương Pháp Eisenhover
  • Hiện nay, có khá nhiều cách xét nghiệm phát hiện HIV tuy nhiên, xét nghiệm HIV bằng phương pháp ELISA được khá nhiều người lựa chọn. Thế nhưng xét nghiệm này được thực hiện thế nào và có đảm bảo chính xác không? Để giúp mọi người có những thông tin về vấn đề này thì chúng tôi xin có một vài chia sẻ thông qua nội dung bài viết sau đây.

    Xét nghiệm HIV ELISA là gì?

    Cách duy nhất để có thể giúp mọi người có thể phát hiện được mình có nhiễm virus HIV hay không là thực hiện xét nghiệm. Vì đa số người bệnh khi nhiễm HIV đều không hay biết cho tới khi bệnh có triệu chứng và phát triển với giai đoạn AIDS. Đặc biệt, người bị nhiễm HIV nếu không hay biết có thể sẽ làm bệnh lây lan nhanh chóng đặc biệt gây ra nhiều vấn đề nguy hiểm.

    Xét nghiệm HIV ELISA là một trong nhiều những xét nghiệm giúp người bệnh biết được mình có nhiễm virus suy giảm miễn dịch hay không. Xét nghiệm ứng dụng trong quá trình sàng lọc máu. Phương pháp sẽ tiến hành nhiều xét nghiệm cùng một lúc và cho kết quả đọc trên máy không phụ thuộc nhiều nhiều và tính chủ quan của con người.

    ELISA là kỹ thuật xét nghiệm virus HIV dựa vào định lượng vật chất bên trong cơ thể như protein, hormone, peptides…

    Phương pháp xét nghiệm HIV ELISA là xét nghiệm sàng lọc mẫu máu chứa kháng thể HIV, nếu kiểm tra sàng lọc cho kết quả dương tính cho thấy kháng thể chống HIV thì bệnh nhân đã bị nhiễm HIV.

    Nguyên lý chung của xét nghiệm HIV ELISA đó là:

    Kháng nguyên (Ag) virus cố định trên phiến nhựa

    Kháng thể (Ab) kháng HIV của bệnh nhân kết hợp với đặc hiệu Ag

    Phức hợp Ag – Ab được phát hiện nhờ hệ thống cộng hợp gắn enzym và phản ứng hiện màu với cơ chất tương ứng.

    Cách đọc kết quả xét nghiệm HIV ELISA như thế nào?

    Có bao nhiêu cách xét nghiệm HIV ELISA?

    Hiện nay có bốn loại xét nghiệm HIV ELISA được áp dụng thực hiện đó là:

    ELISA trực tiếp: Phương pháp được sử dụng tỏng ELISA định tính, ít dùng trong định lượng, phương pháp này chỉ một lần ủ nên sẽ tiết kiệm thời gian tối thiểu được việc kiểm soát các điều kiện trong quá trình thực hiện.

    ELISA gián tiếp: Phương pháp cho độ nhạy cao chỉ cần tạo một loại kháng thể mang enzym để nhận biết cho nhiều kháng nguyên khác nhau.

    ELISA sandwich: Phương pháp này cho độ nhạy cao, giảm được nhuộm màu nền và các phản ứng không đặc hiệu do đã loại bỏ được hầu hết các thành phần tạp nên sẽ dễ dàng thực hiện hơn.

    ELISA cạnh tranh; Phương pháp ELISA hiệu quả cho định lượng các yếu tố hiện diện trong mẫu với lượng nhỏ.

    Thời gian để cho kết quả xét nghiệm HIV ELISa có thể từ 1 – 2 tuần do thực hiện kiểm tra nhiều mẫu thử.

    Xét nghiệm HIV ELISA được thực hiện thế nào?

    Phương pháp xét nghiệm HIV ELISA được thực hiện khá đơn gian bằng việc lấy mẫu máu của người bị nghi ngờ nhiễm HIV tại nhà hoặc địa chỉ y tế sau đó mẫu máu được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích.

    Thời điểm xét nghiệm HIV là khi nào?

    Thời điểm tốt nhất để thực hiện xét nghiệm HIV lần đầu là sau ba tháng khi có hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn, sử dụng chung bơm kim tiêm. Lần thứ hai sau lần đầu khoảng ba tháng với trẻ em bị lây nhiễm từ mẹ thì chỉ có thể xác định khi bé đủ 18 tháng tuổi.

    Địa chỉ xét nghiệm HIV bằng phương pháp ELISA nào uy tín?

    Thời gian để cho kết quả xét nghiệm HIV chính xác là từ 3 – 6 tháng vì lúc này có thể người bệnh mới sinh sản các kháng thể chống lại virus.

    Giai đoạn cửa sổ thường kéo dài từ ba đền bốn tháng tuy nhiên, có những trường hợp này có thể kéo dài hơn nhưng cũng không quá sáu tháng.

    Do đó, việc xét nghiệm HIV ELISA có chính xác không sẽ tùy thuộc vào yếu tố thời gian thực hiện xét nghiệm cũng như địa chỉ y tế tiến hành. Để cho kết quả xét nghiệm đảm bảo thì mọi người cẩn chủ động lựa chọn địa chỉ y tế chất lượng.

    Địa chỉ xét nghiệm HIV ELISA nào uy tín?

    Trong số rất nhiều những cơ sở y tế thực hiện xét nghiệm HIV ELISA hiện nay thì phòng khám Đa Khoa Thái Bình Dương là cơ sở tiến hành xét nghiệm một cách nhanh chóng và đảm bảo tính chính xác cao.

    Phòng khám có nhiều ưu điểm trong việc thực hiện các xét nghiệm HIV một cách đảm bảo như:

    Đội ngũ kỹ thuật viên thực hiện xét nghiệm có tay nghề cao, được đào tào bài bàn tiến hành xét nghiệm một cách chính xác, tỉ mỉ.

    Phòng xét nghiệm cũng như trang thiết bị y tế chất lượng, đảm bảo giúp thực hiện quá trình xét nghiệm chất lượng, hiệu quả.

    Chi phí thực hiện xét nghiệm HIV ELISA tại phòng khám đảm bảo công khai, cụ thể, hợp lý phù hợp với mọi đối tượng.

    Đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân cho người thực hiện xét nghiệm, cũng như thực hiện xét nghiệm nhanh chóng.

    B.S

       Địa chỉ phòng khám: 34- 36 Đinh Tiên Hoàng, phường Đakao, quận 1, TP. HCM.

    Đừng ngại chia sẻ tình trạng của bạn với các bác sĩ chuyên khoa chúng tôi, bởi mọi thắc mắc của bạn sẽ được các bác sĩ giải đáp và cho lời khuyên tốt nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Elisa Trong Chẩn Đoán Y Khoa
  • Vai Trò Và Ứng Dụng Của Xét Nghiệm Elisa Trong Y Học
  • Một Số Kỹ Thuật Xét Nghiệm Xác Định Các Dấu Ấn Huyết Thanh Học Nhiễm Virus Viêm Gan B
  • Easy Hay Không Easy? Và Chuyện Luyện Ngủ Của Bà Mẹ 2 Con
  • Nuôi Dạy Con Khoa Học Với Phương Pháp Easy
  • Kỹ Thuật Xét Nghiệm Máu Bằng Phương Pháp Miễn Dịch Học Elisa Tìm Ký Sinh Trùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Miễn Dịch Lâm Sàng
  • Quản Lý Thời Gian Theo Cách Của Eisenhower
  • Quản Lý Thời Gian Theo Phương Pháp Eisenhover
  • Hướng Dẫn Cách Điền First Name
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Building Link Chuyên Nghiệp
  • Khi người bệnh có nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng giun, sán sẽ tìm tới phòng khám chuyên khoa về bệnh giun sán để gặp bác sĩ. Với mỗi con giun, sán, đơn bào bác sĩ sẽ chọn phương pháp xét nghiệm phù hợp để tìm ra bệnh sớm nhất có thể cho bệnh nhân.

    Trichomonas tenax Entamoeba gingivalis là những đơn bào ký sinh không gây bệnh ở miệng, trong nước bọt, trong cao răng.

    Pneumocystis jiroveci ký sinh ở phổi, có thể tìm thấy trong đàm, nhưng hiếm khi bắt gặp. Tìm ký sinh trùng trong nước rửa phế quản, phế nang sẽ cho kết quả tốt hơn.

    Cryptosporidium sp là một trùng bào tử, ký sinh ở ruột, gây tiêu chảy tự giới hạn ở người bình thường. Ở những người bị suy giảm miễn dịch, cryptosporidium gây tiêu chảy kéo dài và có thể gặp ở phổi.

    Ngoài ra, có thể tìm thấy trứng sán lá phổi trong đàm hoặc trong chất nôn. Nếu người bệnh có bứu sán Echinococus granulosus ở phổi bị vỡ thì trong chất nôn có đầu sán, hay những màng bướu.

    Trong thời gian ấu trùng của giun đũa, giun móc, giun lươn di chuyển qua phổi, trong đàm đôi khi tìm thấy chúng. Ngoài ra còn có thể gặp các tinh thể Charcot Leyden và rất nhiều bạch cầu đa nhân toan tính.

    Kỹ thuật miễn dịch ELISA là kỹ thuật cho ra kết quả gián tiếp. Đây là phương pháp giúp hỗ trợ cho chẩn đoán bệnh sớm tránh bỏ sót. Nó không có giá trị hoàn toàn tuyệt đối, vì sự hiện diện của kháng thể không phải lúc nào cũng nói lên là bệnh đang tiến triển, mà có thể là bệnh đã qua. Kết quả được đánh giá theo chỉ số đo OD hoặc bằng mắt qua chỉ thị màu.

    Những giá trị dương tính thấp gần với mức độ âm tính có thể chỉ là dương tính giả hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh chứ chưa chắc hẳn là đã nhiễm bệnh do kháng nguyên của ký sinh trùng này kết hợp với kháng thể do ký sinh trùng khác gây ra phản ứng chéo do cơ thể bị kích thích tạo ra. Các kết quả xét nghiệm gián tiếp này không hoàn toàn thay thế việc khám bệnh và chẩn đoán của bác sĩ.

    Các phản ứng miễn dịch này được bác sĩ căn cứ và phối hợp với các biểu hiện bên trong và bên ngoài cơ thể người bệnh, cộng với các nguy cơ mà người bệnh đã trải qua để bác sĩ dẫn tới kết luận người có nhiễm bệnh hay không. Để theo dõi và có hướng điều trị.

    Dù vậy trong những năm gần đây, các xét nghiệm miễn dịch học ngày càng được sử dụng rộng rãi, dù không phải là nơi có bác sĩ chuyên khoa điều trị về giun sán, nhưng rất nhiều nơi vẫn tiến hành xét nghiệm và cho ra các kết quả không giống nhau, có nhiều kết quả dương tính thấp, dương tính giả làm cho bệnh nhân rất hoang mang nghĩ mình đã nhiễm bệnh và điều trị không phải nơi chuyên khoa. Làm cho người bệnh tốn kém tiền bạc và mất nhiều thời gian cho mà không đạt hiệu quả chữa bệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Elisa Tìm Hiv Là Xét Nghiệm Gì?
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Xét Nghiệm Hiv Elisa Cách Phát Hiện Bệnh Hiv
  • Xét Nghiệm Elisa Trong Chẩn Đoán Y Khoa
  • Vai Trò Và Ứng Dụng Của Xét Nghiệm Elisa Trong Y Học
  • Một Số Kỹ Thuật Xét Nghiệm Xác Định Các Dấu Ấn Huyết Thanh Học Nhiễm Virus Viêm Gan B
  • Giới Thiệu Về Kỹ Thuật Elisa

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Phân Tích Trên Elisa
  • Ma Trận Eisenhower: Phương Pháp Để Trở Nên Năng Suất Hơn
  • Muốn Làm Việc Hiệu Quả Như Tổng Thống Mỹ?
  • Phong Cách Lãnh Đạo Theo Tình Huống Là Gì?
  • Đánh Thức Con Người Phi Thường Trong Bạn
  • ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) hay EIA (Enzyme ImmunoAssay) là một kỹ thuật sinh hóa để phát hiện kháng thể hay kháng nguyên trong mẫu xét nghiệm. Hiện nay ELISA được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như y học, nông nghiệp và đặc biệt là trong các quy trình kiểm tra an toàn chất lượng các sản phẩm sinh học. Nguyên lý của ELISA chính là dựa vào tính đặc hiệu kháng nguyên – kháng thể và gồm các bước cơ bản như sau:

    (1) Kháng nguyên – antigen (KN) chưa biết được gắn trên một bề mặt;

    (2) Kháng thể – antibody (KT) biết trước được “rửa” qua bề mặt đó. Kháng thể này được gắn kết với enzyme;

    (3) Thêm vào một cơ chất (substance); enzyme sẽ biến đổi cơ chất này và tạo tín hiệu có thể xác định được.

    Đối với các ELISA phát quang, ánh sáng sẽ được phát ra từ mẫu chứa KN-KT. Sự hiện diện của phức hợp KN-KT sẽ quyết định cường độ sáng phát ra.

    Với nguyên lý trên, ELISA giúp xác định sự có mặt hay không có mặt cũng như lượng KN trong mẫu nghiên cứu.

    Để tiến hành ELISA cần phải có ít nhất một KT đặc hiệu cho KN chưa biết. Thông thường KN được cố định tại các giếng của vi phiếm (polystyrene microtiter plate).

    – Phương thức cố đinh không đặc hiệu: KN gắn trực tiếp vào bề mặt của đĩa;

    – Phương thức gắn đặc hiệu (“sandwich” ELISA): KN được gắn với một kháng thể đặc hiệu cho cùng kháng nguyên cần kiểm tra

    KT đặc hiệu sẽ được thêm vào, phản ứng tạo phức hợp KT-KN có thể sảy ra.

    Nếu KT được gắn trực tiếp với enzyme, tín hiệu quang học do enzyme làm biến đổi cơ chất sẽ giúp phát hiện KN cần kiểm tra. Trong trường hợp sử dụng KT thứ cấp (secondary antibody) được gắn với enzyme thông qua các liên kết cộng hóa trị giữa các phân tử sinh học (bioconjugation), KN cần xác định sẽ được nhận biết qua KT thứ cấp này.

    Giữa các bước của ELISA, các protein và các KT không đặc hiệu, KT không gắn với KN sẽ được lấy đi nhờ các loại dịch có tác dụng “rửa”. Sau bước “rửa” cuối cùng, chỉ còn KT liên kết với KN được giữ lại. Sau khi được thêm vào, cơ chất sẽ chịu tác dụng của enzyme liên kết với KT trong phức hợp KT-KN. Phản ứng phát quang (biến đổi cơ chất) sẽ sảy ra.

    Trước đây các cơ chất tạo màu sắc được sử dụng trong ELISA nhưng ngày nay các chất phát quang được dùng rộng rãi làm tăng tính đặc hiệu và độ chính xác của ELISA.

    Vào năm 1960, Rosalyn Sussman Yalow và Solomon Berson Prior mô tả phương pháp miễn dịch có gắn chất phóng xạ (radioimmunoassay) dùng để xác định KN, KT 1. Trong phương pháp này, KT hay HN có gắn chất đánh dấu phóng xạ và sự hiện diện của chúng được xác định thông qua tín hiệu phóng xạ. Tuy vậy, các chất phóng xạ lại tiềm ẩn mối nguy hiểm vì vậy người ta nghĩ đến một phương pháp mới trong đó tín hiệu được phát ra không phải nhờ phóng xạ. Khi đó người ta đã biết rằng một số loại enzyme như các peroxidase phản ứng với một số cơ chất nhất định như Tetramethylbenzidine hay 3-ethylbenzthiazoline-6-sulphonic acid sẽ phát màu. Màu sinh ra từ các phản ứng này có thể được sử dụng làm tín hiệu nhận biết (tín hiệu chỉ thị).

    Tuy nhiên, để tín hiệu này được sử dụng như chất phóng xạ trong radioimmunoassay, tín hiệu màu phát ra phải đồng nghĩa với sự có mặt của KT hay KN. Chính vì vậy, giải pháp được đưa ra là enzyme sẽ được gắn với KN hay KT. Kỹ thuật gắn kết enzyme với KN hay KT được phát triển bởi Stratis Avrameas và G.B. Pierce 2. Tiếp sau đó, vào năm 1966, Wide và Porath phát triển phương pháp gắn KN và KT trên bề mặt rắn (bề mặt của các vi phiếm hay các đĩa) nhờ đó mà KN hay KT không được gắn kết sẽ dễ dàng được rửa trôi 3.

    Peter Perlmann và Eva Engvall (Thụy Điển) cùng với nhóm Anton Schuurs và Bauke van Weemen (Hà Lan) công bố phương pháp được đặt tên ELISA (EIA) dựa trên tất cả những bước phát triển nói trên. Phương pháp chính thức ra đời vào năm 1971 4,5.

    Nhược điểm cơ bản: Bước cố định KN không có tính đặc hiệu nên bất kỳ protein nào cũng gắn với bề mặt đĩa vì vậy KT (có nồng độ thấp) phải cạnh tranh với các protein khác trong huyết thanh khi gắn kết với bề mặt của điwax. Sandwich ELISA hạn chế được nhược điểm này.

    Phương pháp được sử dụng để phát hiện KN trong mẫu nghiên cứu và bao gồm các bước cơ bản sau (quy trình có thể được thay đổi trong nhiều trường hợp):

    Các bước trong Sandwich ELISA.

    (1) Phủ đĩa bằng KT;

    (2) Thêm mẫu cần xác định KN. KN (nếu có) sẽ gắn với KT;

    (3) kháng thể dùng để phát hiện được thêm vào và kết hợp với KN;

    (4) Thêm KT thứ cấp liên kết với enzyme. KT thứ cấp sẽ gắn với KT dùng để phát hiện;

    (5) Thêm cơ chất. Enzym sẽ làm biến đổi cơ chất và phát tín hiệu có thể phát hiện và đo được.

    1. Yalow R, Beón S (1960). “Immunoassay of endogenous plasma insulin in man”. Journal of Clinical Investigation 39: 1157-75.

    2. Lequin R (2005). “Enzyme immunoassay (EIA)/enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA).” Clinical Chemistry 51 (12): 2415-8.

    3. Wide L, Porath J. Radioimmunoassay of proteins with the use of Sephadex-coupled antibodies. Biochem Biophys Acta 1966;30:257-260

    4. Engvall E, Perlman P (1971). “Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA). Quantitative assay of immunoglobulin G”. Immunochemistry 8 (9): 871-4.

    5. Van Weemen BK, Schuurs AH (1971). “Immunoassay using antigen-enzyme conjugates.”. FEBS Letters 15 (3): 232-6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Hiv Elisa Sau 6 Tuần Là Gì Và Kết Quả Chính Xác Không?
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Hiv Elisa Ag/ab Test Nhanh Sau 6 Tuần Kết Quả Âm Tính
  • Xét Nghiệm Hiv Nhanh 3 Phương Pháp Elisa
  • Nuôi Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Easy
  • Trải Nghiệm Phương Pháp Nuôi Con Easy Và Phương Pháp Truyền Thống
  • Những Điều Cơ Bản Về Kỹ Thuật Elisa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Ăn Eat Clean Thanh Đạm Nhưng Vô Cùng Có Lợi Cho Sức Khỏe
  • Phương Pháp Euler Đối Với Phương Trình Vi Phân Trong Chương Trình Toán A1
  • Nuôi Con Không Phải Là Cuộc Chiến Với Nếp Sinh Hoạt Easy, Bé Nhà Mình Không Còn Quấy Khóc
  • Effortless English Là Gì? Cách Học Effortless English
  • Hướng Dẫn Học Effortless English (Bản Tiếng Việt)
  • Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA), còn được gọi là enzyme immunoassay (EIA), là một kỹ thuật sinh hóa sử dụng chủ yếu trong miễn dịch học để phát hiện sự hiện diện của một kháng thể hoặc kháng nguyên trong một mẫu. ELISA được sử dụng như một công cụ chẩn đoán trong y học và bệnh lý học thực vật, cũng như kiểm tra kiểm soát chất lượng trong các ngành công nghiệp khác nhau, chẳng hạn như ứng dụng ELISA trong ngành công nghiệp thực phẩm. Theo thuật ngữ đơn giản, trong kỹ thuật ELISA, một lượng của kháng nguyên được gắn liền với một bề mặt, và sau đó là một kháng thể đặc hiệu được cho vào trên bề mặt để nó có thể liên kết với các kháng nguyên. Kháng thể này sẽ liên kết với một loại enzyme, và cuối cùng thêm cơ chất để enzyme phân giải cơ chất và phát ra những tín hiệu, phổ biến nhất là sự đổi màu một chất hóa học.

    Sau khi kháng nguyên được cố định, các kháng thể phát hiện được thêm vào, tạo thành một phức hợp với các kháng nguyên. Các kháng thể phát hiện có thể liên kết với một loại enzyme, hay chính nó có thể được phát hiện bởi một kháng thể thứ cấp liên kết với một loại enzyme thông qua liên kết cộng hóa trị giữa các phân tử sinh học. Các phần của kháng thể ELISA là tương tự với phương pháp western blot. Giữa mỗi bước, các đĩa thường được rửa bằng dung dịch tẩy nhẹ để loại bỏ các protein hoặc các kháng thể không gắn. Sau bước rửa cuối cùng, cơ chất của enzyme được thêm vào để tạo ra tín hiệu có thể nhìn thấy, giúp chỉ ra số lượng kháng nguyên trong mẫu.

    Các bước cơ bản trong ELISA gián tiếp:

      Ưu điểm của phương pháp ELISA gián tiếp

    andwich định lượng kháng nguyên giữa hai lớp kháng thể (kháng thể bắt- capture và phát hiện- detection). Các kháng nguyên được định lượng phải chứa ít nhất hai epitope kháng nguyên có khả năng liên kết với các kháng thể, ít nhất là với hai kháng thể hoạt động trong kỹ thuật sandwich. Các kháng thể đơn dòng hoặc đa dòng đều có thể được sử dụng như là các kháng thể bắt và kháng thể phát hiện trong hệ thống ELISA s andwich . Kháng thể đơn dòng có một epitope duy nhất cho phép phát hiện và định lượng tốt sự khác biệt nhỏ trong kháng nguyên. Một kháng thể đa dòng thường được sử dụng như các kháng thể bắt giữ càng nhiều kháng nguyên càng tốt. ​(Epitope- Quyết định kháng nguyên, là vị trí trên kháng nguyên, nơi gắn với kháng thể).

    + Linh hoạt và độ nhạy cao, vì cả hai phương pháp phát hiện trực tiếp và gián tiếp đều có thể được sử dụng. Độ nhạy cao hơn 2-5 lần so với phương pháp ELISA trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng thấp hơn ELISpot.

    4. Các kháng thể thứ cấp gắn enzym mà đặc hiệu với các kháng thể sơ cấp sẽ được thêm vào.

    5. Thêm cơ chất, enzyme phân giải cơ chất và tạo tín hiệu màu hoặc huỳnh quang.

    Đĩa polystyrene sẽ giữ một loạt các protein với số lượng tăng dần tùy thuộc vào nồng độ của chúng trong dung dịch. Số lượng cụ thể và tối ưu cần được xác định cho mỗi protein, nhưng một số quan sát chung đã được thực hiện đối với các kháng thể. Đĩa có độ bám từ trung bình đến thấp có thể gắn 100-200 ng IgG/ cm2, trong khi đĩa có độ bám cao thường có thể gắn lên đến 400-500 ng IgG/ cm2. Ngoài protein, đĩa polystyrene còn hấp thụ các peptide có chiều dài từ 15 – 20 axit amin. Để đạt được liên kết mạnh, một peptide sẽ cần cả hai tương tác kỵ nước và ưa nước. Thông thường, nhược điểm để hấp phụ peptide trực tiếp là chúng có xu hướng có ít epitope, và nếu chúng tương tác với nhựa, việc bắt của kháng thể sẽ gặp khó khăn. Một giải pháp khác là gắn các peptide lên một protein lớn hơn thông qua một đoạn spacer- nhằm cung cấp khoảng cách giữa các peptide và protein, cho phép các kháng thể tương tác được với các peptide.

    Dịch và tổng hợp từ: http://www.elisa-antibody.com/ Xem bài ” Các lưu ý về thao tác khi tiến hành phản ứng ELISA”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Theo Dự Án
  • Tại Sao Phương Pháp Dạy Học Dự Án Lại Quan Trọng
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án
  • Cách Dạy Toán Lớp 1
  • Các Phương Pháp Dạy Toán Lớp 1 Cho Bé Hiệu Quả
  • Xét Nghiệm Elisa Trong Chẩn Đoán Y Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Xét Nghiệm Hiv Elisa Cách Phát Hiện Bệnh Hiv
  • Xét Nghiệm Elisa Tìm Hiv Là Xét Nghiệm Gì?
  • Kỹ Thuật Xét Nghiệm Máu Bằng Phương Pháp Miễn Dịch Học Elisa Tìm Ký Sinh Trùng
  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Miễn Dịch Lâm Sàng
  • Quản Lý Thời Gian Theo Cách Của Eisenhower
  • Xét nghiệm ELISA sán lợn là xét nghiệm gì? Giá trị chẩn đoán ra sao?

    Xét nghiệm ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay), còn được gọi là EIA (E nzyme ImmunoAssay), là một xét nghiệm phân tích miễn dịch học hay sử dụng để chẩn bệnh trong y khoa. ELISA còn được sử dụng trong nông nghiệp để chẩn đoán bệnh học vật nuôi, cây trồng cũng như để kiểm tra chất lượng trong các ngành công nghiệp khác nhau.

    Có rất nhiều loại xét nghiệm ELISA cho nhiều loại bệnh nhiễm trùng như trực tiếp, gián tiếp, sandwich, cạnh tranh, nhưng đều theo nguyên lý chung là phát hiện kháng nguyên bằng các kháng thể đặc hiệu theo cơ chế miễn dịch học. Điểm đặc biệt ở đây là các kháng thể được cho gắn kết với một loại enzyme (enyme-linked), và sau khi phản ứng kháng nguyên-kháng thể xảy ra, người ta cho cơ chất (substrate) đặc hiệu vào enzyme sẽ phân giải cơ chất ra các sản phẩm (products), tỷ lệ với lượng kháng nguyên cần đo đạc. Đo những tín hiệu, phổ biến nhất là sự đổi màu một chất hóa học, sẽ tính ra được lượng kháng nguyên có trong mẫu vật xét nghiệm.

    Xét nghiệm ELISA dùng để xác định những bệnh nào

    Nói chung, ELISA là một xét nghiệm miễn dịch học tiên tiến dùng để phát hiện những kháng nguyên ngoại lai, xâm nhập vào cơ thể.

    Những kháng nguyên, chất ngoại lai được phát hiện bởi xét nghiệm ELISA rất nhiều bao gồm: các hormone, chất gây dị ứng, kháng nguyên virus (sốt xuất huyết, viêm gan B), kháng nguyên vi khuẩn (lao, thương hàn), kháng nguyên ký sinh trùng (sán lá gan, sán dây lợn), kháng thể do cơ thể tạo ra do đáp ứng miễn dịch với nhiễm trùng (kháng thể kháng viêm gan B, kháng thể sau tiêm chủng), kháng nguyên độc chất….

    Đôi điều bàn luận

    Xét nghiệm ELISA giúp tìm ra các kháng nguyên chính là mầm gây bệnh. Các kháng nguyên thường là các phân tử kích thước lớn, đa số là các phân tử chất protein phức hợp với carbohydrate, chất béo thành glycopolypeptides, lipoprotein….

    Một xét nghiệm lý tưởng để chẩn đoán bệnh cần đạt hai chỉ tiêu: (1) độ nhạy (sensibility Se) cao, càng sát lý tưởng 100% càng tốt với sai số âm giả là 0%, tức là có thể phát hiện rất sớm trong giai đoạn khới phát bệnh; và (2) độ đặc hiệu (specificity Sp) lớn, lý tưởng là 100% và sai số dương giả là 0%, tức là chỉ cho kết quả dương khi có bệnh thật sự. Trong thực tế lâm sàng, thường không có xét nghiệm lý tưởng như thế. Do đó, một căn bệnh cần phải có nhiều xét nghiệm để hỗ trợ nhau. Đặc biệt, khi sàng lọc bệnh cho một cộng đồng, cơ sở y tế thường chọn loại xét nghiệm có độ nhạy Se cao (có thể bị dương giả), sau đó các xét nghiệm dương tính sẽ kiểm tra lại với xét nghiệm chuyên sâu hơn có độ đặc hiệu Sp cao hơn để khẳng định lại chẩn đoán.

    Cần lưu ý, con sán dây lợn vào cơ thể người có thể gây hai dạng bệnh: (1) ký sinh trong ruột, phát triển thành sán dây trưởng thành, và (2) những kén ấu trùng sán lợn (cysticercus cellulosae)vào các mô cơ quan như cơ (98%), não, mắt…Do đó, khi xét nghiệm ELISA dương tính nghĩa là con sán dây đã vào cơ thể, nhưng gây bệnh hay chưa và khu trú ở đâu cũng cần thêm các xét nghiệm, thủ thuật thăm dò thêm như: Sinh thiết các nang sán dưới da tìm ấu trùng sán dây lợn; Chụp cắt lớp vi tính (CT Scan) não tìm các hình ảnh đặc hiệu, Soi đáy mắt nếu nghi ngờ sán ở ổ mắt….

    TS.BS Trần Bá Thoại Ủy viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Ứng Dụng Của Xét Nghiệm Elisa Trong Y Học
  • Một Số Kỹ Thuật Xét Nghiệm Xác Định Các Dấu Ấn Huyết Thanh Học Nhiễm Virus Viêm Gan B
  • Easy Hay Không Easy? Và Chuyện Luyện Ngủ Của Bà Mẹ 2 Con
  • Nuôi Dạy Con Khoa Học Với Phương Pháp Easy
  • Dạy Học Theo Dự Án Có Tích Hợp Công Nghệ (Cntt) Và Ứng Dụng Cntt Trong Giảng Dạy Địa Lý Ở Trường Phổ Thông.
  • Kỹ Thuật Phân Tích Trên Elisa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ma Trận Eisenhower: Phương Pháp Để Trở Nên Năng Suất Hơn
  • Muốn Làm Việc Hiệu Quả Như Tổng Thống Mỹ?
  • Phong Cách Lãnh Đạo Theo Tình Huống Là Gì?
  • Đánh Thức Con Người Phi Thường Trong Bạn
  • List Sách Hay, Coach Thu Ngô Khuyên Đọc; Quà Tặng E
  • Tiền thân của ELISA là kỹ thuật miễn dịch phóng xạ (Radioimmunoassay – RIA) được phát triển từ những năm 1960s bởi Rosalyn Sussman Yalow khi thực hiện thí nghiệm miễn dịch phóng xạ để xác định nồng độ insulin trong huyết tương. Nhờ phát minh này mà bà được tặng giải Nobel năm 1977. Ngày nay phương pháp này được dùng để xác định hocmon, thuốc, glucagon, globulin MD, các kháng nguyên virut… Đến năm 1966 Wide và Porath có những nghiên cứu mới tạo nền tảng cho ELISA. Năm 1971, kỹ thuật ELISA được hoàn thiện và phát minh bởi Peter Perlmann, Eva Engvall tại đại học Stockholm – Thụy điển. Đến năm 1975 các kháng thể đơn dòng của thế hệ đầu tiên ra đời.

    ELISA là phương pháp miễn dịch hấp phụ sử dụng enzyme liên kết dùng để phát hiện những hợp chất mong muốn (kháng thể hay kháng nguyên trong mẫu xét nghiệm), dựa trên phản ứng đặc hiệu giữa kháng nguyên (Antigen) và kháng thể (Antibody), trong đó kháng thể được gắn với một enzyme. Khi cho thêm cơ chất thích hợp vào phản ứng, enzyme sẽ thuỷ phân cơ chất thành một chất có màu. Thông qua cường độ màu mà biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện.

    Kháng nguyên (Antigen):

    Là một protein hoặc carbohydrate mà khi tiêm vào động vật sẽ sinh ra kháng thể.

    là các globulin trong máu của động vật, có khả năng liên kết đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích sinh ra nó.

    Enzyme:

    là một chất có thể phản ứng với nồng độ thấp như chất cần phân tích tạo thành phản ứng đặc hiệu. Thông thường trong ELISA, enzyme đặc hiệu được sử dụng với cơ chất đặc hiệu.

    Cơ chất (subtrate):

    là cơ chất mà enzyme biến đổi tạo sản phẩm có màu xanh bước sóng 370-652nm chuyển màu vàng có bước sóng 450nm.

    Chất dừng phản ứng (Stop solution):

    là chất có khả năng dừng được quá trình kết hợp giữa enzyme và cơ chất và đổi màu dung dịch từ xanh sang vàng.

    Với những lợi thế mà ELISA mang lại ứng dụng trong y học và trong kiểm nghiệm thực phẩm nên phương pháp ELISA đã được tiêu chuẩn hóa thành bộ KIT để sản xuất cũng như ứng dụng rộng rãi. Cho đến nay, kỹ thuật ELISA liên tục được cải tiến, tuy nhiên chỉ có 4 loại kỹ thuật chính là:

    • ELISA trực tiếp (Direct Elisa)
    • ELISA gián tiếp (Indirect Elisa)
    • ELISA sandwich (Sandwich Elisa)
    • ELISA cạnh tranh (Competitive Elisa)

    Được coi là dạng ELISA đơn giản nhất. Trong đó, kháng nguyên cần phát hiện sẽ được gắn trực tiếp lên bề mặt giá thể (plate) và sẽ được phát hiện bằng một kháng thể duy nhất (đã được gắn enzyme). Phương pháp được ứng dụng trong phát hiện vi sinh vật trong thực phẩm. Ví dụ xác định Staphylococcus Aureus

    Phương pháp này khác Elisa trực tiếp ở chỗ kháng thể không gắn enzyme mà nó là mục tiêu gắn đặc hiệu của một kháng kháng thể khác (kháng kháng thể có gắn enzyme). Ứng dụng nhiều trong y học và trong hóa học thực phẩm.

    Là một dạng Elisa phổ biến trong thực tiễn do có phản ứng nhanh và nhạy. Được gọi là “sanwich” là do kết quả thí nghiệm được đánh giá thông qua sự kết hợp của 2 loại kháng thể là kháng thể bắt và kháng thể phát hiện.

    Phản ứng cạnh tranh mang nghĩa hai chất tham gia phản ứng cùng ái lực bắt cặp với chất thứ 3. Phản ứng cạnh tranh lành mạnh (đúng đắn) thì 2 chất cạnh tranh phải được đưa vào đồng thời.

    • Hóa chất/kháng nào cần phân tích.
    • Kit thử có đáp ứng yêu cầu về giới hạn kỹ thuật của chất cần phân tích không (so sánh với giới hạn phát hiện).
    • Có hướng dẫn về xử lý mẫu đối với đối tượng cần phân tích không.
    • Độ nhạy, độ đặc hiệu đối với chất cần phân tích.
    • Độ thu hồi, độ lặp lại của kit thử.
    • Thời gian phân tích.
    • Quy trình có phức tạp không…

    Tuy nhiên phương pháp ELISA chỉ là phương pháp sàng lọc và bán định lượng. Do vậy vẫn cần những phương pháp khẳng định để kết luận về sự hiện diện cũng như nồng độ của chất cần phân tích có trong mẫu.

    • Nhiệt độ bảo quản kit thử: trong quá trình vận chuyển và bảo quản tại PTN.
    • Thời hạn sử dụng gồm: thời hạn sử dụng của kit thử và thời gian từ lúc mở kit thử tới lúc kết thúc sử dụng kit thử đó.
    • Nhiệt độ ủ mẫu trong quá trình phản ứng
    • Thời gian ủ mẫu
    • Kinh nghiệm của kiểm nghiệm viên: chiết mẫu, lên giếng, đọc và đánh giá kết quả…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Kỹ Thuật Elisa
  • Xét Nghiệm Hiv Elisa Sau 6 Tuần Là Gì Và Kết Quả Chính Xác Không?
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Hiv Elisa Ag/ab Test Nhanh Sau 6 Tuần Kết Quả Âm Tính
  • Xét Nghiệm Hiv Nhanh 3 Phương Pháp Elisa
  • Nuôi Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Easy
  • Elisa Đa Kháng Nguyên Để Chẩn Đoán Melioidosis – Một Phương Pháp Mới Để Cải Thiện Chẩn Đoán Huyết Thanh Melioidosis

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Tìm Giun Đũa Chó Bằng Phương Pháp Elisa
  • Những Điều Cần Biết Về Xét Nghiệm Hiv
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Với Ma Trận Eisenhower Actioncoach Thu Ngô
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả, Matrix Eisenhower
  • Quản Lý Thời Gian Theo Phương Pháp Eisenhover – Blog Jogo
  • ELISA đa kháng nguyên để chẩn đoán melioidosis – một phương pháp mới để cải thiện chẩn đoán huyết thanh melioidosis

    08/07/2013 11:16    

    11,889

        

    13,199

        

    08/07/2013 11:16

    Vấn đề nghiên cứu: Burkholderia pseudomallei, tác nhân gây ra melioidosis, là một bệnh dịch lưu hành ở Đông Nam Á và Bắc Úc. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, biên độ trải dài từ nhiễm mãn tính đến nhiễm khuẩn máu cấp tính. Chuẩn vàng chẩn đoán hiện thời là nuôi cấy vi khuẩn và việc nhận diện mà là tốn kém thời gian và thường quá muộn để giúp cho việc can thiệp y khoa sớm. Từ đó, mà việc chẩn đoán nhanh bệnh melioidose là vô cùng quan trọng đối với việc quản lý thành công melioidosis.

    Phương pháp: Nghiên cứu này đã đánh giá 4 protein tái tổ hợp đã được tinh khiết của B. pseudomallei (TssD-5, Omp3, smBpF4 and Omp85) như là những thành phần tiềm năng để chẩn đoán melioidosis. Toàn bộ 68 mẫu huyết thanh từ các bệnh nhân người Mã lai mắc melioidosis đã được sàng lọc đối với sự hiện có của các kháng thể hướng tới các proteins này bằng cách dung phương pháp ELISA. Mẫu huyết thanh từ các bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm khuẩn và virus khác nhau nhưng kết quả âm tính với B. pseudomallei, cũng như những mẫu huyết thanh của những người khỏe mạnh cũng được dung như những nhóm chứng không bị melioidosis. Test Mann Whitney được thực hiện để so sánh những khác biệt về thống kê giữa bệnh nhân bị melioidosis và các nhóm chứng không melioidosis.

    Kết quả: TssD-5 đã biểu thị độ nhạy cao nhất là 71%, tiếp đến là Omp3 (độ nhạy 59%), smBpF4 (độ nhạy 41%) và Omp85 (độ nhạy 19%). Tất cả 4 kháng nguyên đã cho thấy độ đặc hiệu cao bằng nhau (89-96%). Một hổn hợp của 4 kháng nguyên cho kết quả độ nhạy hơn giảm nhẹ là 65% nhưng đã cải thiện độ đặc hiệu (99%). Phương pháp ELISA đa kháng nguyên đã cung cấp độ nhạy được cải thiện là 88,2% trong khi đó duy trì tốt độ đặc hiệu (96%). Có một phản ứng tối thiểu với huyết thanh từ các cá nhân khỏe mạnh đề đạt tính hữu dụng của các kháng nguyên này để phân định ranh giới (to demarcate) những cá nhân mắc bệnh với những cá nhân không bieur hiện triệu chứng ở một xứ sở bệnh lưu hành.

    Kết luận: TssD-5 đã biểu thị độ nhạy và độ đặc hiệu của việc phát hiện cao và các kết quả đã đạt được trong vài giờ được so với thời gian tiêu tốn của phương pháp nuôi cấy và IFAT đã được dung phổ biến trong bối cảnh lâm sàng. Việc dùng nhiều kháng nguyên tạo ra kết quả về độ nhạy được cải thiện (88,2%) trong khi vẫn duy trì độ đặc hiệu cao. Các dữ liệu này làm sang tỏ việc dùng TssD-5 và các kháng nguyên tái tổ hợp khác đã được kiểm định trong nghiêu cứu này như là những thành phần chẩn đoán huyets thanh tiềm năng đối với  melioidosis.

    Tài liệu tham khảo

    Yuka Hara, Chui-Yoke Chin, Rahmah Mohamed, Savithri D Puthuchearyand Sheila Nathan. (2013). Multiple-antigen ELISA for melioidosis – a novel approach to the improved serodiagnosis of melioidosis. BMC Infectious Diseases 2013, 13:165 doi:10.1186/1471-2334-13-165, Published: 4 April 2013

    Bs Phan Quận – Hội Truyền Nhiễm Việt Nam

     

    Facebook a Comment

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Số Hbsag Là Gì?
  • Rèn Thói Quen Ngủ Cho Bé Như Thế Nào
  • ‘rèn’ Bé Sơ Sinh Tự Ngủ, Bắt Đầu Từ Đâu?
  • Nuôi Con Không Phải Là Cuộc Chiến Với Nếp Sinh Hoạt Easy
  • Nguyên Nhân Trẻ Sơ Sinh Ngủ Không Sâu Giấc Và Cách Khắc Phục
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50