Phương Pháp Dumas Trong Xác Định Hàm Lượng Đạm

--- Bài mới hơn ---

  • Chủ Đề 1: Đại Cương Hóa Hữu Cơ
  • 3 Mẫu Bài Tập Nghiệp Vụ Kế Toán Hàng Tồn Kho Có Đáp Án Lời Giải
  • Công Thức Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Fifo
  • Bài Tập Kế Toán Tài Chính 1 – Kế Toán Hàng Tồn Kho – Bài 1
  • Kế Toán Hàng Tồn Kho
  • 1.Đặt vấn đề

            Tất cả các dạng nitơ có trong cơ thể hay trong các mô được gọi là nitơ tổng số. Nitơ có trong thành phần axit amin của protein là N protein. Nitơ không có trong thành phần protein như các muối đạm vô cơ, axit nitric, các axit amin tự do, ure và các dẫn xuất của ure, các alcaloit, các bazơ purin và pyrimidin…là các nitơ phi protein.

                   Nitơ tổng số = nitơ protein + nitơ phi protein

            Trong thời gian qua phương pháp Kjeldahl đã sử dụng rộng rãi để xác định hàm lượng protein trong thực phẩm. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây phương pháp Kjeldahl đã được thay dần bằng phương pháp Dumas vì phương pháp Dumas cho kết quả nhanh hơn và không phải sử dụng các hóa chất độc hại. Cả hai phương pháp này đều dùng để xác định hàm lượng nitơ trong sản phẩm nhưng sử dụng các nguyên tắc khác nhau. Sử dụng hệ số thích hợp để chuyển đổi tượng nitơ thành hàm lượng protein. Hệ số này thay đổi theo lượng protein khác nhau và thành phần axit amin của chúng có trong sản phẩm đó.

            Phương pháp Dumas cũng như phương pháp Kjeldahl đều không phân biệt được nitơ protein và nitơ phi protein. Trong nhiều trường hợp, các kết quả thu được bằng phương pháp Dumas hơi cao hơn kết quả thu được bằng phương pháp Kjeldahl, bởi vì phương pháp Dumas xác định được gần như tất cả các nitơ phi protein còn phương pháp Kjeldahl thì chỉ xác định được một phần.

    2. Nguyên tắc của phương pháp

            Phương pháp đốt cháy Dumas để xác định protein thô. Quy trình dùng một thiết bị lò điện đun nóng mẫu phân tích lên đến 900oC trong một lò phản ứng được bịt kín với sự hiện diện của oxy. Hàm lượng nitơ của khí đốt sau đó được đo bằng cách dùng máy dò dẫn nhiệt. Mỗi lần xác định chỉ cần khoảng 2 phút.

     

              Mẫu được chuyển hóa thành khí bằng cách đốt hóa khí mẫu. Tất cả các thành phần gây nhiễu được loại bỏ ra khỏi hỗn hợp khí tạo thành. Các hợp chất nitơ của hỗn hợp khí hoặc của phần đại diện của chúng được chuyển về nitơ phân tử và được định lượng bằng detector dẫn nhiệt. Hàm lượng nitơ được tính toán bằng bộ vi xử lý.

     

              Phương pháp Dumas là một kỹ thuật xác định hàm lượng nitơ trong các chất khác nhau. Đây là phương pháp có tính chính xác cao và đo mẫu nhanh. Phương pháp này được thừa nhận bởi các tổ chức quốc tế như: AOAC, AACC, ASBC, ISO, OIV.

              Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc đốt cháy mẫu cần phân tích để thu được nước, oxi, cacbon đioxit, nitơ. Tách nước qua hai bước: quá trình tách vật lý và quá trình hóa học. Giữa hai bước tách này, các thành phần khí đi qua bộ phận khử furnace reduction để chuyển hóa nitơ thành nitơ oxit. Sau khi tách CO2 ở bộ phận hấp phụ tự tái sinh, khí còn lại chỉ là nitơ và được phát hiện bởi detector dẫn nhiệt TCD.

     

          + Đầu dò TCD chứa một dây tóc được đốt ở một nhiệt độ nhất định.

           + Trong điều kiện bình thường có một dòng nhiệt ổn định từ dây tóc đến detector. Tạo ra thế ổn định.

          + Khi có một chất được rữa giãi từ cột, thì lập tức độ dẫn nhiệt của cột bị giảm, dây tóc nóng lên làm điện trở thay đổi.

          + Sự thay đổi điện trở này thường được cảm nhận bởi một mạch cầu Wheatstone mà từ đó sinh ra một sự thay đổi điện áp.

          + Để xác định hàm lượng khí Nito của mẫu người ta so sánh mức độ thay đổi điện áp của nó với sự thay đổi điện áp của mẫu thực phẩm có chứa hàm lượng nito xác định (chất chuẩn). Từ đó tính ra hàm lượng protein.

          Quá trình này được thực hiện có sự hiện diện của Oxi để chuyển hóa hoàn toàn N thành NO2. PP Dumas có nhiều cách tiến hành, cách em hỏi có lẽ hơi cổ điển và định lượng bằng cách đo khí không phù hợp với những mẫu phân tích nhỏ và cần độ chính xác cao.

    Hình 4. Thiết bị Dumas của hãng Velp – Ý

     

     3.Ý nghĩa của phương pháp

             - Máy có thể phân tích được tất cả các mẫu hữu cơ và hần hết các mẫu vô cơ dạng lỏng hoặc rắn, có thể phân tích được cả các mẫu có hàm lượng béo cao như hạt dầu hoặc các sản phẩm thịt.

             - Với các mẫu lớn, máy có thể phân tích trực tiếp các mẫu không đồng nhất mà không cần phải qua quá trình tiền xử lý (thường rất tốn kém).

             - Nhờ có đầu dò TCD độ nhạy cao, dòng khí có độ ổn định cao, khối lượng mẫu lớn, máy có giới hạn phân tích cận dưới thấp đến 20 ppm. Yếu tố này rất có ý nghĩa đối với các mẫu có nồng độ nitơ thấp như mẫu đất bạc màu hoặc là tinh bột.

             - Đối với các mẫu có hàm lượng khoáng cao, ta sử dụng lò nung tro trong ống cháy để chạy các mẫu này. Việc vệ sinh lò nung tro rất dễ dàng và chỉ mất vài phút.

    So sánh giữa phương pháp Dumas và phương pháp kejhdal

              - Quá trình làm khô nhiều lần, hiệu quả cao, cho phép đo các mẫu lỏng có thể tích chỉ 1ml. Khi kết hợp với bộ điều khiển dòng MFC (mass flow controller) trực tiếp với đầu dò sẽ cho thiết bị khả năng hoạt động ổn định và tuổi thọ cao hơn. Thời gian giữa những lần hiệu chuẩn có thể từ vài tháng đến vài năm

             - Việc đo dòng khí toàn phần cho phép kiểm soát online quá trình đốt cháy và tự động giảm thời gian phân tích và lượng oxy cần cho phân tích.

             - Phần mềm hiện đại, chạy tốt trên Windows® XP professional, Vista hay Windows 7, dễ dàng vận hành và đánh giá dữ liệu từ quá trình phân tích thông qua máy tính.

             - Phần mềm bảo trì được tích hợp, tự động dò tìm rò rỉ, chức năng tạm dừng hay khởi động lại, xuất kết quả sang file định dạng Excel và kết hợp với hệ thống dữ liệu khác.

            Phương pháp này đáp ứng các tiêu chuẩn: AOAC 990.03,AOAC 968.06, AOAC 993.13, AOAC 992.15, AOAC 992.23, ASBC, AACC,FGIS, AOCS, CGC ( đối với thịt, sản phẩm thịt, ngũ cốc, hạt dầu, rượu bia, bột, thực phẩm cho vật nuôi), DIN/ISO 900114891 (sữa và các sản phẩm từ sữa), DIN/ISO 13878 (đất), LUFA, MEBAK (bia) ICC 16

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tất cả các dạng nitơ có trong cơ thể hay trong các mô được gọi là nitơ tổng số. Nitơ có trong thành phần axit amin của protein là N protein. Nitơ không có trong thành phần protein như các muối đạm vô cơ, axit nitric, các axit amin tự do, ure và các dẫn xuất của ure, các alcaloit, các bazơ purin và pyrimidin…là các nitơ phi protein.Nitơ tổng số = nitơ protein + nitơ phi proteinTrong thời gian qua phương pháp Kjeldahl đã sử dụng rộng rãi để xác định hàm lượng protein trong thực phẩm. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây phương pháp Kjeldahl đã được thay dần bằng phương pháp Dumas vì phương pháp Dumas cho kết quả nhanh hơn và không phải sử dụng các hóa chất độc hại. Cả hai phương pháp này đều dùng để xác định hàm lượng nitơ trong sản phẩm nhưng sử dụng các nguyên tắc khác nhau. Sử dụng hệ số thích hợp để chuyển đổi tượng nitơ thành hàm lượng protein. Hệ số này thay đổi theo lượng protein khác nhau và thành phần axit amin của chúng có trong sản phẩm đó.Phương pháp Dumas cũng như phương pháp Kjeldahl đều không phân biệt được nitơ protein và nitơ phi protein. Trong nhiều trường hợp, các kết quả thu được bằng phương pháp Dumas hơi cao hơn kết quả thu được bằng phương pháp Kjeldahl, bởi vì phương pháp Dumas xác định được gần như tất cả các nitơ phi protein còn phương pháp Kjeldahl thì chỉ xác định được một phần.Phương pháp đốt cháy Dumas để xác định protein thô. Quy trình dùng một thiết bị lò điện đun nóng mẫu phân tích lên đến 900C trong một lò phản ứng được bịt kín với sự hiện diện của oxy. Hàm lượng nitơ của khí đốt sau đó được đo bằng cách dùng máy dò dẫn nhiệt. Mỗi lần xác định chỉ cần khoảng 2 phút.Mẫu được chuyển hóa thành khí bằng cách đốt hóa khí mẫu. Tất cả các thành phần gây nhiễu được loại bỏ ra khỏi hỗn hợp khí tạo thành. Các hợp chất nitơ của hỗn hợp khí hoặc của phần đại diện của chúng được chuyển về nitơ phân tử và được định lượng bằng detector dẫn nhiệt. Hàm lượng nitơ được tính toán bằng bộ vi xử lý.là một kỹ thuật xác định hàm lượng nitơ trong các chất khác nhau. Đây là phương pháp có tính chính xác cao và đo mẫu nhanh. Phương pháp này được thừa nhận bởi các tổ chức quốc tế như: AOAC, AACC, ASBC, ISO, OIV.Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc đốt cháy mẫu cần phân tích để thu được nước, oxi, cacbon đioxit, nitơ. Tách nước qua hai bước: quá trình tách vật lý và quá trình hóa học. Giữa hai bước tách này, các thành phần khí đi qua bộ phận khử furnace reduction để chuyển hóa nitơ thành nitơ oxit. Sau khi tách COở bộ phận hấp phụ tự tái sinh, khí còn lại chỉ là nitơ và được phát hiện bởi detector dẫn nhiệt TCD.+ Đầu dò TCD chứa một dây tóc được đốt ở một nhiệt độ nhất định.+ Trong điều kiện bình thường có một dòng nhiệt ổn định từ dây tóc đến detector. Tạo ra thế ổn định.+ Khi có một chất được rữa giãi từ cột, thì lập tức độ dẫn nhiệt của cột bị giảm, dây tóc nóng lên làm điện trở thay đổi.+ Sự thay đổi điện trở này thường được cảm nhận bởi một mạch cầu Wheatstone mà từ đó sinh ra một sự thay đổi điện áp.+ Để xác định hàm lượng khí Nito của mẫu người ta so sánh mức độ thay đổi điện áp của nó với sự thay đổi điện áp của mẫu thực phẩm có chứa hàm lượng nito xác định (chất chuẩn). Từ đó tính ra hàm lượng protein.Quá trình này được thực hiện có sự hiện diện của Oxi để chuyển hóa hoàn toàn N thành NO. PP Dumas có nhiều cách tiến hành, cách em hỏi có lẽ hơi cổ điển và định lượng bằng cách đo khí không phù hợp với những mẫu phân tích nhỏ và cần độ chính xác cao.- Máy có thể phân tích được tất cả các mẫu hữu cơ và hần hết các mẫu vô cơ dạng lỏng hoặc rắn, có thể phân tích được cả các mẫu có hàm lượng béo cao như hạt dầu hoặc các sản phẩm thịt.- Với các mẫu lớn, máy có thể phân tích trực tiếp các mẫu không đồng nhất mà không cần phải qua quá trình tiền xử lý (thường rất tốn kém).- Nhờ có đầu dò TCD độ nhạy cao, dòng khí có độ ổn định cao, khối lượng mẫu lớn, máy có giới hạn phân tích cận dưới thấp đến 20 ppm. Yếu tố này rất có ý nghĩa đối với các mẫu có nồng độ nitơ thấp như mẫu đất bạc màu hoặc là tinh bột.- Đối với các mẫu có hàm lượng khoáng cao, ta sử dụng lò nung tro trong ống cháy để chạy các mẫu này. Việc vệ sinh lò nung tro rất dễ dàng và chỉ mất vài phút.- Quá trình làm khô nhiều lần, hiệu quả cao, cho phép đo các mẫu lỏng có thể tích chỉ 1ml. Khi kết hợp với bộ điều khiển dòng MFC (mass flow controller) trực tiếp với đầu dò sẽ cho thiết bị khả năng hoạt động ổn định và tuổi thọ cao hơn. Thời gian giữa những lần hiệu chuẩn có thể từ vài tháng đến vài năm- Việc đo dòng khí toàn phần cho phép kiểm soát online quá trình đốt cháy và tự động giảm thời gian phân tích và lượng oxy cần cho phân tích.- Phần mềm hiện đại, chạy tốt trên Windows® XP professional, Vista hay Windows 7, dễ dàng vận hành và đánh giá dữ liệu từ quá trình phân tích thông qua máy tính.- Phần mềm bảo trì được tích hợp, tự động dò tìm rò rỉ, chức năng tạm dừng hay khởi động lại, xuất kết quả sang file định dạng Excel và kết hợp với hệ thống dữ liệu khác.Phương pháp này đáp ứng các tiêu chuẩn: AOAC 990.03,AOAC 968.06, AOAC 993.13, AOAC 992.15, AOAC 992.23, ASBC, AACC,FGIS, AOCS, CGC ( đối với thịt, sản phẩm thịt, ngũ cốc, hạt dầu, rượu bia, bột, thực phẩm cho vật nuôi), DIN/ISO 900114891 (sữa và các sản phẩm từ sữa), DIN/ISO 13878 (đất), LUFA, MEBAK (bia) ICC 16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Của Lọc Hepa Và Tia Cực Tím Trong Môi Trường Bệnh Viện
  • Tiêu Chuẩn Phòng Sạch Bệnh Viện Của Các Nước Và Hiện Trạng Chất Lượng Không Khí Trong Phòng Sạch Của Một Số Bệnh Viện Ở Việt Nam
  • Learn To Speak English Like A Native
  • Tải Bộ Giáo Trình Effortless English Đầy Đủ Nhất
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Học Effortless English, Ngoại Ngữ Pasal
  • Phương Pháp Kjeldahl – Phân Tích Hàm Lượng Nitơ Chính Xác Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Kjeldahl – Thiết Bị Khoa Học Công Nghệ
  • Phương Pháp Thực Nghiệm Tối Ưu Hóa Cho Phép Xác Định Hàm Lượng Nitơ (N
  • Phương Pháp Chưng Cất Đạm Kjeldahl Phổ Biến, Chưng Cất Đạm Kjeldahl,máy Chưng Cất Đạm Kjeldahl, Phương Pháp Kjeldahl, Phương Pháp Dumas, So Sáng Phương Pháp Kjeldahl Và Dumas
  • So Sánh 2 Phương Pháp Phân Tích Nito Protein Bằng Phương Pháp Dumas Và Phương Pháp Kjeldahl. Ưu Nhược Điểm Giữa 2 Phương Pháp Dumas Và Phương Pháp Kjeldahl, Máy Phân Tích Đạm, Máy Chưng Cất Đạm
  • Phương Pháp Quản Trị Kinh Điển Của Người Nhật
  • Protein hay còn gọi là chất đạm là thành phần quan trọng của mọi sự sống trên trái đất. Thiếu hay dư protetin đều ảnh hưởng đến sức khỏe chúng ta. Có nhiều phương pháp giúp phân tích nồng độ protein như phương pháp Dumas, sử dụng tia UV, phương pháp Biuret… Tuy nhiên phương pháp được nhiều phòng thí nghiệm sử dụng nhất là phương pháp Kjeldahl. Trong bài viết này mình sẽ giới thiệu cách hoạt động, ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích đạm Kjeldahl.

    Phương pháp Kjeldahl là gì?

    Đây là phương pháp giúp xác định hàm lượng nitơ trong các hợp chất hữu cơ và vô cơ. Phương pháp phân tích nitơ của Kjeldahl là tiêu chuẩn trên toàn thế giới để tính toán hàm lượng protein trong nhiều loại vật liệu khác nhau, từ thức ăn của người và động vật, phân bón, nước thải và hóa thạch.

    Phương pháp Kjeldahl được phát triển vào năm 1883 bởi một nhà sản xuất bia tên là Johann Kjeldahl. Một loại thực phẩm được tiêu hóa bằng một axit mạnh để nó giải phóng nitơ có thể được xác định bằng một kỹ thuật chuẩn độ phù hợp.

    Đây là một phương pháp chính và được nhiều tổ chức công nhận như AOAC, USEPA, ISO, DIN, Pharmacopeias.

    Phương pháp Kjeldahl gồm những quy trình nào?

    Phương pháp Kjeldahl bao gồm ba bước, phải được thực hiện theo đúng thứ tự các bước sau:

    • Chuyển đổi nitơ amin thành ion amoni trong môi trường H2SO4. Đây còn gọi là quá trình tiêu hóa.
    • Chưng cất: Chuyển đổi ion amoni thành khí amoniac.
    • Chuẩn độ: Lượng amoniac được xác định bằng cách chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn. Sau đó ta sẽ xác định được hàm lượng nitơ.

    Chi tiết cách thực hiện các quy trình trên gồm:

    Bước 1: Phân hủy chất hữu cơ

    Mục đích của quy trình phân hủy này là là phá vỡ tất cả các liên kết nitơ trong mẫu và chuyển đổi tất cả liên kết nitơ thành các ion amoni (NH4+). Hợp chất carbon và hydro tạo thành carbon dioxide và nước.

    • Cân khoảng 1 gm mẫu chứa protein, ghi chú trọng lượng và đặt mẫu vào bình phân hủy, cùng với 12-15 ml axit sulfuric đậm đặc (H2SO4).
    • Thêm 7g kali sulfat và chất xúc tác, thường là đồng.
    • Đưa ống / bình phân hủy và hỗn hợp đun sôi (khoảng 370 o C đến 400 o C).
    • Đun nóng hỗn hợp trong ống / bình cho đến khi có thể nhìn thấy khói trắng, và sau đó tiếp tục gia nhiệt trong khoảng 60-90 phút.
    • Làm mát ống / bình và từ từ thêm 250 ml nước.

    Tốc độ phân hủy có thể được cải thiện rất nhiều bởi việc bổ sung muối nitrat và chất xúc tác. Kali sulfat được thêm vào để tăng điểm sôi của axit sunfuric và chất xúc tác được thêm vào để tăng tốc độ và hiệu quả quá trình phân hủy. Các tác nhân oxy hóa cũng có thể được thêm vào để cải thiện tốc độ phản ứng.

    • PTPƯ: Protein (-N) + H2SO4    =  (NH4)2SO4 + CO2 + H2O

    Bước 2: Chưng cất

    Trong bước chưng cất các ion amoni (NH4+) được chuyển thành amoniac (NH3) bằng cách thêm kiềm (NaOH). Amoniac (NH3) được chuyển vào bình thu bằng phương pháp chưng cất hơi nước.

    • NH4)2SO4 + 2NaOH = 2NH3+ Na2SO4 + 2H2O

    Khí amoniac sinh ra được giải phóng khỏi dung dịch và di chuyển ra khỏi bình phân hủy và vào bình tiếp nhận, nơi chứa một lượng dư axit boric. Độ pH thấp của dung dịch trong bình tiếp nhận chuyển đổi khí amoniac thành ion amoni và đồng thời chuyển axit boric thành ion borat:

    • NH3 + H3BO3 (axit boric)  =  NH4 + + H2BO3

    Bước 3: Chuẩn độ

    Nồng độ của các ion amoni thu được có thể được xác định bằng hai loại chuẩn độ:

    Khi sử dụng dung dịch axit boric làm dung dịch hấp thụ, việc chuẩn độ axit-bazơ được thực hiện bằng cách sử dụng dung dịch chuẩn của axit sunfuric hoặc axit clohydric và hỗn hợp các chất chỉ thị. Tùy trên lượng ion amoni có mặt, nồng độ trong khoảng 0,01N đến 0,5N là đã sử dụng. Ngoài ra, điểm cuối có thể được xác định bằng phương pháp đo điện thế bằng điện cực pH. Cách này được gọi là chuẩn độ trực tiếp.

    • B(OH)O4 – + HX = X– + B(OH)3 + H2O (HX là loại axit mạnh)

    Khi sử dụng dung dịch chuẩn axit sunfuric làm dung dịch hấp thụ, axit sunfuric dư (phần dư không phản ứng với NH3) được chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn natri hydroxit và chênh lệch lượng amoniac được tính toán. Chuẩn độ này được gọi là chuẩn độ trở lại.

    • H2SO4+ 2NH3  =  SO42- + 2NH4+

    Công thức xác định nồng độ phần trăm nitơ

    Việc tính toán% nitơ hoặc% protein phải tính đến loại dung dịch nào đã được sử dụng và bất kỳ yếu tố pha loãng được sử dụng trong quá trình chưng cất. Phương trình sau đây có thể được sử dụng để xác định nồng độ phần trăm nitơ của mẫu nặng m gam bằng dung dịch axit HCl x M để chuẩn độ:

    Trong đó vs và vb là thể tích chuẩn độ của mẫu và mẫu trắng và 14g là khối lượng phân tử của nitơ N. Một mẫu trắng thường được chạy cùng lúc với vật liệu được phân tích để tính đến bất kỳ nitơ dư nào có thể trong các thuốc thử được sử dụng để thực hiện phân tích. Khi hàm lượng nitơ đã được xác định nó được chuyển đổi sang một hàm lượng protein bằng cách sử dụng thích hợp chuyển đổi yếu tố: % Protein = F % N.

    Ưu và nhược điểm phương pháp Kjeldahl

    Ưu điểm: Phương pháp Kjeldahl được sử dụng rộng rãi trên phạm vi quốc tế và vẫn là phương pháp tiêu chuẩn để so sánh với tất cả các phương pháp khác. Tính phổ biến, độ chính xác cao và khả năng tái sản xuất tốt đã khiến nó trở thành phương pháp chính để ước tính protein trong thực phẩm.

    Nhược điểm: Nó không đưa ra thước đo về protein thực sự, vì tất cả nitơ trong thực phẩm không ở dạng protein. Các protein khác nhau cần các yếu tố hiệu chỉnh khác nhau vì chúng có trình tự axit amin khác nhau. Việc sử dụng axit sunfuric đậm đặc ở nhiệt độ cao gây ra một mối nguy hiểm đáng kể, cũng như việc sử dụng một số chất xúc tác có thể có. Kỹ thuật này rất tốn thời gian để thực hiện.

    Phương pháp Kjeldahl là cách hiệu quả nhất giúp xác định hàm lượng và nồng độ phần trăm nitơ trong các phòng thí nghiệm, trung tâm nguyên cứu hay kiểm nghiệm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phương Pháp Kjeldahl
  • Kaizen Là Gì? Những Lợi Ích Từ Việc Áp Dụng Kaizen ?
  • Các Phương Pháp Xác Định Yêu Cầu Tổng Thể Phần 2.
  • Jcic Phương Pháp Thần Kì Đánh Bay Viêm Xoang Mãn Tính
  • Các Kỹ Thuật Hỗ Trợ Sinh Sản Tại Bệnh Viện Từ Dũ
  • Màng Ghép Phức Hợp Và Các Phương Pháp Ghép Màng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lợi Ích Từ Phương Pháp Ghép Răng Implant Là Gì? Bạn Biết Chưa
  • Scrum Là Gì? Agile Là Gì? Các Công Cụ Scrum Cần Biết
  • Hướng Dẫn Từng Bước Triển Khai Agile Marketing
  • Agile Là Gì Và Cách Xây Dựng Nhóm Agile Development Thành Công
  • Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp Agile
  • 1.Màng phức hợp là gì?

    Màng nhựa phức hợp hay còn gọi là màng ghép là một loại vật liệu nhiều lớp mà ưu điểm là nhận được những tính chất tốt của các loại vật liệu thành phần.

    Người ta đã sử dụng cùng lúc (ghép) các loại vật liệu khác nhau để có được một loại vật liệu ghép với các tính năng được cải thiện nhằm đáp ứng các yêu cầu bao bì. Khi đó chỉ một tấm vật liệu vẫn có thể cung cấp đầy đủ tất cả các tính chất như: tính cản khí, hơi ẩm, độ cứng, tính chất in tốt, tính năng chế tạo dễ dàng, tính hàn tốt… như yêu cầu đã đặt ra.

    Tính chất cuối cùng của một loại vật liệu nhiều lớp phụ thuộc nhiều vào những tính chất của các lớp thành phần riêng lẻ.

    Màng ghép thường được sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu cho bao bì thực phẩm, dược phẩm… Sự hình thành màng ghép là việc kết hợp có chọn lựa giữa màng nguyên liệu ban đầu, mực in, keo dán, nguyên liệu phủ… sử dụng các phương pháp gia công có nhiều công đoạn, đa dạng.

    Về mặt kỹ thuật vật liệu ghép được ứng dụng thường xuyên, chúng đạt được các yêu cầu kỹ thuật, các yêu cầu về tính kinh tế, tính tiện dụng thích hợp cho từng loại bao bì, giữ gìn chất lượng sản phẩm bên trong bao bì, giá thành rẻ, vô hại ….

    Các polymer khác nhau được sử dụng tùy thuộc vào vai trò của chúng như là lớp cấu trúc, lớp liên kết, lớp cản, lớp hàn.

    Lớp cấu trúc: đảm bảo các tính chất cơ học cần thiết, tính chất in dễ dàng và thường có cả tính chống ẩm. Thông thường đó là những loại nhựa rẻ tiền. Vật liệu được dùng thường là LDPE, HDPE, EVA, LLDPE, PP (đối với những cấu trúc mềm dẻo) và HDPS hay PD (đối với cấu trúc cứng).

    Các lớp liên kết: là những lớp keo nhiệt dẻo (ở dạng đùn) được sử dụng để kết hợp các loại vật liệu có bản chất khác nhau.

    Các lớp cản: được sử dụng để có được những yêu cầu đặc biệt về khả năng cản khí và giữ mùi. Vật liệu được sử dụng thường là PET (trong việc ghép màng), nylon, EVOH và PVDC.

    Các lớp vật liệu hàn: thường dùng là LDPE và hỗn hợp LLDPE, EVA, inomer,…

      Một số loại màng phức hợp

    2 lớp: BOPP/PE; PET/PE; BOPP/PP; NY/PE

    3 lớp: BOPP(PET)/PET (M)/PE; BOPP(PET)/Al/PE;

    4 lớp: BOPP(PET)/PE/Al/PE; Giấy/PE/Al/PE;

    5 lớp: PET/PE/Al/PE/LLDPE

    2. Các phương pháp tạo màng phức hợp

      Giới thiệu về phương pháp ghép màng

    Màng phức hợp được cấu tạo bằng cách:

    • Ghép hai hay nhiều lớp màng bằng chất kết dính
    • Tráng lên một lớp màng vật liệu một lớp vật liệu khác ở dạng lỏng (nóng chảy) sau khi lớp vật liệu này nguội đi sẽ đông cứng lại

    Có ba phương pháp tráng ghép màng cơ bản thường được ứng dụng trong sản xuất bao bì mềm, trong đó mỗiphương pháp bao gồm các dạng riêng của chúng:

    • Tráng ghép đùn Đùn đơn
    • Đùn trước và sau
    • Đùn kép
    • Ghép khô Ghép có dung môi
    • Ghép không dung môi
    • Ghép kết hợp
    • Ghép ướt
    • Phương pháp ghép ướt

    Ở phương pháp ghép ướt là phương pháp ghép bằng keo, tại thời điểm ghép hai lớp vật liệu với nhau chất kết dính (keo) ở trạng thái lỏng. Đây là phương pháp ghép được sử dụng khá rộng rãi đặc biệt ứng dụng nhiều nhất khi ghép màng nhôm với giấy.

    Keo sử dụng trong phương pháp ghép này là dạng keo polimer nhân tạo gốc nước.Trong quá trình ghép keo ở trạng thái lỏng chúng sẽ thẩm thấu qua một lớp vật liệu và bay hơi sau đó.

    A. Cuộn xả 1 E. Bộ phận ghép dán

    B. Bộ phận tráng keo F. Các lô ép và căng màng

    C. Bộ phận sấy G. Cuộn thu

    D. Cuộn xả 2

    Keo được tráng lên lớp vật liệu 1 ít có tính thấm nước hơn, sau đó ngay lập tức được ghép với lớp vật liệu thứ 2. Bộ phận ghép gồm cặp lô trong đó có một lô được mạ crom và một lô cao su. Sau khi ghép nước chứa trong keo sẽ bay hơn tại đơn vị sấy, keo khô tạo kết dính giữa hai lớp vật liệu.

    Phương pháp ghép khô

    Ghép khô không dung môi:

    Là phương pháp ghép bằng keo, như tên công nghệ đã chỉ ra, kỹ thuật ghép màng không dung môi không sử dụng tới các loại keo có gốc dung môi mà sử dụng loại keo 100% rắn. Nhờ đó ta có thể giảm một cách đáng kể việc tiêu thụ năng lượng tiêu tốn cho các công đoạn sấy khô dung môi trong keo hoặc cho việc thổi và thông gió.

    Keo được sử dụng là loại keo 1 hoặc 2 thành phần, loại keo một thành phần được dùng chủ yếu để ghép với giấy.

    Để ghép bằng keo không dung môi, đòi hỏi phải có bộ phận tráng keo đặc biệt, bằng cách dùng trục tráng keo phẳng thay vì trục khắc, gồm các trục được gia nhiệt và các trục cao su.

    Sức căng bề mặt của màng phải được chú ý đặc biệt, để xử lý độ bám dính, vì độ bám dính ban đầu của keo rất yếu khi chưa khô. Lớp keo được tráng vào khoảng từ: 0.8-1.5g/m2.

    Các ưu điểm của công nghệ ghép màng không dung môi như sau:

    • Giảm được tiếng ồn do bởi không có hệ thống thông gió
    • Không còn sót dung môi trong lớp màng đã ghép, do đó rất thích hợp cho việc dùng làm bao bì thực phẩm, dược phẩm.
    • Không gây ô nhiễm không khí
    • Chi phí đầu tư thấp
    • Không cần sấy qua nhiệt
    • Không cần bảo vệ sự nổ gây ra dung môi
    • Yêu cầu về mặt bằng ít
    • Chi phí sản xuất thấp
    • Tốc độ sảnxuất cao

    Công nghệ ghép màng không dung môi là công nghệ ghép màng tiên tiến nhất hiện nay trong lĩnh vực ghép màng, các nhà sản xuất và biến đổi bao bì trên thế giới đang chuyên sang phương pháp ghép màng không dung môi này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Ghép Cành Cây Cảnh
  • Nhân Giống Cây Bằng Phương Pháp Ghép
  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Phương Pháp Thực Nghiệm Tối Ưu Hóa Cho Phép Xác Định Hàm Lượng Nitơ (N

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Chưng Cất Đạm Kjeldahl Phổ Biến, Chưng Cất Đạm Kjeldahl,máy Chưng Cất Đạm Kjeldahl, Phương Pháp Kjeldahl, Phương Pháp Dumas, So Sáng Phương Pháp Kjeldahl Và Dumas
  • So Sánh 2 Phương Pháp Phân Tích Nito Protein Bằng Phương Pháp Dumas Và Phương Pháp Kjeldahl. Ưu Nhược Điểm Giữa 2 Phương Pháp Dumas Và Phương Pháp Kjeldahl, Máy Phân Tích Đạm, Máy Chưng Cất Đạm
  • Phương Pháp Quản Trị Kinh Điển Của Người Nhật
  • Hướng Dẫn Chăm Sóc Trẻ Sơ Sinh Bằng Phương Pháp Kangaroo
  • Phương Pháp Kangaroo Care Chăm Sóc Cho Trẻ Sinh Non
  • Nguyễn Phi

    08/ 06/ 2022

    GIỚI THIỆU CHUNG:

    Phương pháp Kendan (Kjeldahl) được sử dụng trong hóa học phân tích để xác định hàm lượng Nitơ trong các mẫu chất hữu cơ hiện được quan tâm rất lớn trong các lĩnh vực quan trọng như thực phẩm, đồ uống, phân bón đất cây trồng, thức ăn chăn nuôi và môi trường ngày nay.

    Hàm lượng Protein (đạm) tổng số trong thực phẩm được tạo thành từ hỗn hợp protein phức tạp. Chúng tồn tại trong sự kết hợp với carbohydrate hoặc lipit, có thể là vật lý hoặc hóa học. Hiện tại, tất cả các phương pháp xác định hàm lượng protein tổng số của thực phẩm đều có tính chất thực nghiệm. Một phương pháp tuyệt đối là cô lập và cân trực tiếp protein nhưng phương pháp này chỉ được sử dụng đôi khi trong nghiên cứu sinh hóa, vì nó rất khó và cũng không thực tế lắm.

    Năm 1883, nhà nghiên cứu người Đan Mạch Johann Kjeldahl đã phát triển phương pháp được sử dụng nhiều nhất đến nay, để phân tích protein (gọi tắt là phương pháp Kjeldahl) bằng cách xác định nitơ hữu cơ. Trong kỹ thuật này, protein và các thành phần hữu cơ khác của thực phẩm được phân hủy trong hỗn hợp với axit sulfuric khi có mặt chất xúc tác. Nitơ hữu cơ tổng số được chuyển đổi bằng cách phân hủy trong amoni sulfat. Hỗn hợp phân hủy được trung hòa với một bazơ và chưng cất sau đó. Sản phẩm chưng cất được thu nhận trong dung dịch axit boric. Các anion borat tạo thành được chuẩn độ bằng HCl đã được chuẩn hóa (hoặc H2SO4) để xác định hàm lượng nitơ trong mẫu.

    Kết quả phân tích là một hàm lượng protein thô gần đúng của mẫu chất thực phẩm vì nitơ cũng đến từ các thành phần phi protein.

    Phương pháp Kjeldahl đã trải qua một số sửa đổi. Ban đầu, kali permanganat được sử dụng để thực hiện quá trình oxy hóa (phân hủy); tuy nhiên, kết quả không đạt yêu cầu, do đó thuốc thử đã bị loại bỏ. Năm 1885, Wilforth thấy rằng phân hủy có thể tăng tốc bằng cách sử dụng axit sulfuric và thêm chất xúc tác. Gunning năm 1889 đề xuất bổ sung kali sulfat, làm tăng điểm sôi của axit sulfuric được sử dụng trong quá trình oxy hóa, để giảm thời gian phản ứng.

    Ngày nay, đồng sulfate pent hydrated CuSO4.5H2O được sử dụng chủ yếu làm chất xúc tác.

    CÁC ỨNG DỤNG

    Từ năm 1883, khi John Kjeldahl trình bày phương pháp của mình, phương pháp của ông đã được chấp nhận rộng rãi và được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau để phân tích lương thực, đồ uống, thức ăn, ngũ cốc, thịt, nước thải, đất trồng cây. Ngày nay ,phương pháp của ông được sử dụng rộng rãi nhất để phân tích protein và được thực hiện bằng cách xác định nitơ hữu cơ. Điều này là do các loại protein khác nhau trùng với tất cả trong một tỷ lệ tương tự của nitơ hữu cơ . Trong hầu hết các trường hợp, hệ số tính toán sau được sử dụng:

    Hàm lượng protein = hàm lượng nitơ hữu cơ x 6.25

    Trong kỹ thuật này, protein và các hợp chất hữu cơ khác trong hỗn hợp thức ăn được phân hủy bằng axit sulfuric khi có mặt chất xúc tác. Tổng nitơ hữu cơ được chuyển thành amoni sulfat thông qua quá trình phân hủy. Hỗn hợp thu được được trung hòa với một bazơ và chưng cất. Sản phẩm chưng cất được thu lại trong dung dịch axit boric. Các anion borat hình thành được chuẩn độ bằng HCL chuẩn hóa để xác định hàm lượng nitơ trong mẫu.

    Nhìn chung, phương pháp Kjeldahl có ưu điểm là được thực hiện bởi các thiết bị không phức tạp và có thể được thực hiện bởi các kỹ thuật viên ít kinh nghiệm.

    Phương pháp Kjeldahl đã được chính thức công nhận bởi một số lượng lớn các cơ quan chính phủ và các hiệp hội quốc tế như: AOAC , EPA, AACC, AOCS, ISO, USDA và các tổ chức khác.

    QUY TRÌNH PHƯƠNG PHÁP:

    Phương pháp này bao gồm 3 giai đoạn: DIGESTION – DISTILLATION – TITRATION (Phân hủy – Chưng cất – Chuẩn độ)

    Phân hủy là quá trình tách nitơ chứa trong các mẫu hữu cơ bằng cách sử dụng dung dịch axit đậm đặc và được thực hiện bằng cách đun sôi mẫu trong axit sulfuric. Kết quả là một dung dịch amoni sulfat.

    Amoniac được giải phóng trong giai đoạn DISTILLATION, được giữ lại trong dung dịch với một lượng axit boric đã biết. Giai đoạn đầu,  chưng cất  được thực hiện theo phương pháp chưng cất hơi nước truyền thống, việc tăng tốc chưng cất  sau đó giúp thu được sản phẩm.

    TITRATION được sử dụng cuối cùng ,để cuối cùng đánh giá lượng amoni có trong mẫu chưng cất.

    CÁC PHẢN ỨNG THỰC HIỆN THEO PHƯƠNG PHÁP KJELDAHL

    PHÂN HỦY/PHÁ MẪU

    DIGESTION

    catalysts

    (1) n – C -NH2 + mH2SO4 CO2 + (NH4)2 SO4 + SO2

    protein heat

    NEUTRALIZATION AND DISTILLATION

    (2) (NH4)2SO4 + 2 NaOH 2NH3 + Na2SO4+ 2H2O

    (3) NH3 + H3BO3 (boric acid) NH4 + H2BO3- (borate ions)

    TITRATION

    Các Anion borat (tỷ lệ thuận với hàm lượng nitơ) được chuẩn độ bằng HCl chuẩn hóa (hoặc H2SO4)

    (4) H2BO3- + H+ H3BO3

    THỰC NGHIỆM – THIẾT BỊ CHUẨN BỊ

    Trong những năm gần đây, các thiết bị mới đang được phát triển và cải tiến công nghệ để thực hiện các kỹ thuật phân tích này.

    Hãng JP Selecta, nhận thức được nhu cầu của các phòng thí nghiệm, đã dành một sự đầu tư không hề nhỏ cùng với nỗ lực đáng kể để đưa ra thị trường một loạt thiết bị mới, ngày càng tối ưu, hoàn hảo, để giúp công việc phát triển phương pháp Kjeldahl nâng cao tốc độ, độ chính xác, và kết quả lặp lại chính xác.

    Các thiết bị xác định nitơ hữu cơ bao gồm ba bộ thiết bị cơ bản sau:

      • Bộ phân hủy mẫu/phá mẫu

      • Bộ công cụ hỗ trợ ( Macro or Micro)

      • Máy chưng cất đạm ProNitro “M” , Pro-Nitro “S” (semiautomatic) và Pro-Nitro “A” (automatic)

    Gần đây, hệ thống phá mẫu tự động mới, Auto Digest 20, đã được bổ sung, tối ưu hóa thời gian và cho độ tin cậy cao  với các phòng thí nghiệm chuyên nghiệp.

    QÚA TRÌNH PHÂN HỦY/PHÁ MẪU

    Việc điều chỉnh bất kỳ thông số nào trong các yếu tố này đều ảnh hưởng đến phần còn lại. Đã có các nghiên cứu để xác định các thông số cần thiết để đạt được điều kiện tối ưu tùy thuộc vào ma trận mẫu.

    Ví dụ, lượng axit cần thiết thay đổi tùy thuộc vào lượng chất béo có trong mẫu. Lượng chất béo càng nhiều thì càng cần nhiều axit hơn. Nó cũng thay đổi theo thời gian phân hủy.Thời gian phân hủy càng dài, càng nhiều axit bị mất do bay hơi. Thời gian phân hủy nên được xác định tùy thuộc vào lượng thu hồi bằng cách sử dụng các mẫu đã biết.

    Bổ sung muối để tăng nhiệt độ sôi của H2SO4, việc bổ xung lượng muối là cần thiết để quá trình phá hủy nhanh hơn. Tùy thuộc vào loại muối được sử dụng, nhiệt độ có thể đi từ 330 °C chỉ riêng axit sulfuric, đến  400 °C khi có muối, do đó làm tăng tốc độ phân hủy/phá mẫu và rút ngắn đáng kể thời gian phá hủy.

    Để thực hiện phá hủy, thông thương sử dụng khối gia nhiệt làm bằng nhôm và vỏ được bao quanh bởi lớp cách nhiệt dày và được lắp ráp trên khung thép không gỉ. Khối gia nhiệt có các kích thước khối khác nhau cho 6, 12 và 20 mẫu cùng lúc.

    Yếu tố gia nhiệt là điện trở nhiệt và được điều khiển bởi một thiết bị điện tử kết hợp bộ vi xử lý cho phép người dùng lựa chọn và ghi nhớ một số chương trình làm việc với phân đoạn nhiệt và thời gian có thể lập trình đầy đủ. Khả năng lập trình như vậy cho phép tối ưu hóa quá trình phân hủy.

    QÚA TRÌNH PHÁ HỦY ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG 3 BƯỚC

    1. Tùy thuộc vào hàm lượng nước trong mẫu, bắt đầu quá trình phân hủy bằng cách làm bay hơi nước ở 150 °C trong 15 và 30 phút.

    2. Thực hiện bước thứ hai từ 270 đến 300 °C trong khoảng thời gian từ 15 đến 30 phút để giảm lượng khói trắng sinh ra trong quá trình phá hủy

    3. Tiếp tục phân hủy ở 400 ºC trong 60 và 90 phút.

    Kiểm soát trực quan kết quả: Kết quả là chất lỏng trong suốt có màu xanh nhạt, xanh lục hoặc vàng tùy thuộc vào chất xúc tác được sử dụng. Không còn dư lượng cặn kết tủa bám vào thành ống.

    MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ CHƯƠNG TRÌNH THƯ VIỆN VỚI MẪU ĐÃ CÓ:

    Pho mát hoặc thịt:

    Ngũ cốc:

    Các thiết bị của J.P. SELECTA phù hợp nhất cho quy trình phân tích PHÁ MẪU  MODEL “BLOC-DIGEST”

    Đặc điểm kỹ thuật:

    o Kiểm soát nhiệt độ độc lập.

    o Kết nối RS-232 trực tiếp hai chiều cho phép chuyển tải thông tin dữ liệu chương trình ghi nhiệt độ của khối gia nhiệt với  chương trình ghi và cổng kết nối RAT với máy tính.

    o Đĩa CD phần mềm được cung cấp kèm theo bộ phá mẫu. Phần mềm này tạo điều kiện cho phép chỉnh sửa các chương trình chỉnh phân hủy và cho phép bạn theo dõi và ghi lại nhiệt độ của bộ phá hủy mẫu

    o Xử lý mẫu ít hơn.

    o Khối gia nhiệt bằng nhôm nâng cao khả năng đồng đều khi gia nhiệt.

    o Phạm vi nhiệt độ từ 45 đến 450 °C.

    o Bộ nhớ được lập trình ghi tới 20 chương trình nhiệt, với 4 bước phân đoạn. 

    o Thời gian tối đa mỗi bước: 600 phút.

    o Chỉ thị âm thanh khi kết thúc chương trình phá mẫu.

    o Hai gradient nhiệt độ có thể lựa chọn: Kjeldahl / D.Q.O.

    o Cảnh báo khi cảm biến đường nhiệt bị đứt gãy.

    HỆ THỐNG CHIẾT TÁCH VÀ TRUNG HÒA KHÍ ĐỘC

    Hệ thống được thiết kế đặc biệt để hấp thụ và trung hòa các khí axit tạo ra trong quá trình phá mẫu Kjeldahl.

    Bao gồm bộ lọc hút trung hòa axit ngưng tụ và bơm tuần hoàn nước tạo thể tích chân không lớn cho việc hút khí độc.

    BỘ PHÁ MẪU HOÀN TOÀN TỰ ĐỘNG 20 VỊ TRÍ ,MODEL AUTO DIGEST 20

    Thiết bị thực hiện quá trình phá mẫu hoàn toàn tự động, với giá đỡ mẫu thiết kế tự động nâng lên và hạ xuống.

    Thiết bị có cấu trúc kim loại và vỏ ngoài của giá giữ mẫu tự động được phủ epoxy. Giá đỡ ống phá mẫu được làm bằng một vật liệu đặc biệt chống ăn mòn hóa học axit.

    Đặc điểm:

    o Thao tác mẫu tự động.

    o Nhiệt độ đồng nhất.

    o Điều khiển điều khiển tự động cho tối đa 20 chương trình về nhiệt độ, thời gian và độ cao của mẫu sau khi phân hủy và chạy / dừng hút khí độc.

    o Cổng RS-232 kết nối bộ ghi nhiệt độ và chương chình phá hủy từ máy tính.

    o Hệ thống hấp thụ khí độc mà không cần sử dụng tủ hút ngoài.

    Bộ hoàn chỉnh bao gồm:

    o 1 khối gia nhiệt bằng kim loại gồm 20 vị trí.

    o 1 hệ thống nâng tự động cho mẫu.

    o 1 Lập trình điều khiển “Rat-2” cho các quy trình thời gian / nhiệt độ.

    o 1 giá đỡ ống phá mẫu

    o 1 bộ thu khí

    o bộ ống phá mẫu 20 ống * 250ml

    QUY TRÌNH CHƯNG CẤT

    Sản phẩm sau khi phá hủy thường được pha loãng với nước không có amoniac để giảm thiểu tác động của hỗn hợp có chứa tỷ lệ axit / muối cao.

    Phần lớn NH3 được chưng cất và giữ lại trong dung dịch axit trong 5 đến 10 phút đun sôi đầu tiên, nhưng tùy thuộc vào thể tích hỗn hợp phá hủy và phương pháp tiếp theo, với thể tích ngưng tụ từ 20 đến 140ml thu được thì có thể thu được lượng nitơ hoàn chỉnh trong mẫu phá.

    Đôi khi việc chưng cất được yêu cầu phải thu được lớn hơn, tạo ra nhiều nước hơn, tuy nhiên điều này không làm thay đổi kết quả khi thực hiện chuẩn độ.

    Tốc độ chưng cất nhanh chậm phụ thuộc vào công suất làm lạnh ngưng tụ và khả năng sinh nhiệt từ bộ phận gia nhiệt.

    Hệ thống gia nhiệt bằng hơi nước tăng tốc để thực hiện việc chưng cất.

    Sử dụng dung dịch axit Boric đã biết liều lượng, không nhất thiết phải cần độ chính xác cao, khi chuẩn độ cần đo chính xác lượng amoniac bằng cách trung hòa 1:1 phức hợp được hình thành bởi amoniac và axit boric. Trong thực tế, axit boric có thể được thêm vào để đảm bảo sự hấp thu hoàn toàn của amoniac.

    Dung dịch thu được phải duy trì ở 45 °C để tránh mất amoniac.

    Các thiết bị của J.P. SELECTA phù hợp nhất cho quy trình chưng cất với các phòng thí nghiệm có quy mô nhỏ, trung bình khối lượng phân tích mẫu không nhiều là: PRONITRO “M” và PRONITRO “S”.

    Pronitro M với mức độ tự động hóa phù hợp, cung cấp hoạt động đơn giản và an toàn. Nó phù hợp cho phòng thí nghiệm phân tích với khối lượng mẫu nhỏ hoặc trung bình

    Tính năng, đặc điểm:

    o Thiết bị chưng cất hơi nước.

    o Máy tạo hơi nước nhỏ gọn với công tắc áp suất bảo vệ an toàn quá nhiệt và quá áp suất.

    o Cửa an toàn, dừng chưng cất khi cửa mở.

    o Phát hiện sự hiện diện của ống phân hủy / chưng cất. Thiết bị này dừng định lượng NaOH nếu không có ống.

    o Bộ kết hợp chung cho ống phân hủy / chưng cất MACRO (Ø 42 mm) và MICRO (Ø 26 mm).

    o Các bể chứa H2O và NaOH được đặt bên trong thiết bị, giúp tiết kiệm không gian trong phòng thí nghiệm.

    o Vỏ bằng thép không gỉ và mặt trước bằng nhựa ABS.

    o Bộ kít chuẩn độ tự động.

    Thông số kỹ thuật:

    o Khoảng đo: từ 0,2 đến 200 mg nitơ .

    o Thời gian chưng cất có thể lập trình.

    o Tốc độ chưng cất: từ 35 đến 40 ml / phút.

    o Thời gian chưng cất điển hình: từ 7 đến 10 phút.

    o Tỷ lệ tiêu thụ nước: từ 80 đến 100 lít / h.

    o Tiêu thụ nước từ máy tạo hơi nước: 2,5 lít / h.

    o Dung tích bể chứa nước cho máy tạo hơi nước: 6 lít.

    o Dung tích bể chứa NaOH: 2 lít.

    QUY TRÌNH CHUẨN ĐỘ

    Axit Boric bẫy (bắt) khí amoniac và tạo thành một phức hợp amoniac boric. Khi amoniac bị bắt, màu của dung dịch nhận thay đổi. Tiến hành quy trình như sau:

    Chuẩn độ chưng cất bằng HCl hoặc H2SO4 cho đến khi thay đổi màu (Điểm kết thúc: pH 4,65)

    Phân tử gam HCL = phân tử gam NH3 = phân tử gam N trong mẫu

    Phân tử gam H2S04 = 2 phân tử gam NH3 = 2 phân tử gam N trong mẫu

    Trên thực tế, các chỉ số khác nhau có thể được sử dụng để có được một hệ số điểm rẽ sạch sẽ và sắc nét nhất có thể.

    Nếu khó phát hiện điểm chuyển, có thể hữu ích khi sử dụng dung dịch trắng để tham chiếu

    TÍNH TOÁN

    Khi thực hiện tính toán, chúng ta phải tính đến dung dịch nhận được và các yếu tố pha loãng được sử dụng trong quá trình chưng cất. Tài liệu tham khảo có thể được sử dụng với các phương pháp tham chiếu đã xuất bản.

    Thực hiện phép tính:

    mg N = N x V x 14

    Trong đó:

    N = Axit chuẩn độ.

    V = Lượng axit tiêu thụ.

    14 = Trọng lượng nguyên tử.

    • Để chuyển sang hàm lượng protein phù hợp, thì sửa nó theo tham số thích hợp tùy theo tính chất của mẫu (mặc định là 6.25)

    • Định kỳ thực hiện một phép thử test mẫu trắng và trừ nó khỏi kết quả.

    % Proteins = P2/P0 x 100 x F

    Trong đó:

    P2: Nitơ (mg).

    P0: Trọng lượng mẫu (mg).

    F: Tham số protein.

    (tham số mặc định là 6.25)

     

    MÁY CHƯNG CẤT VÀ CHUẨN ĐỘ TỰ ĐỘNG HOÀN TOÀN

    *Model:PRO-NITRO “A”

    Đây là hệ thống hoàn toàn tự động, tích hợp hệ thống chuẩn độ “on-line” (chuẩn độ theo thời gian thực). Thiết bị phân tích có tính hệ thống, độ chính xác cao và không mất nhiều nguồn lực người thực hiện, dễ dàng làm việc và an toàn. Thích hợp cho phòng thí nghiệm phân tích với khối lượng mẫu trung bình hoặc lớn.

    PRO-NITRO “A” thực hiện việc chưng cất và chuẩn độ tự động theo thời gian thực, do đó giúp rút ngắn thời gian thực hiện phân tích.

    Thiết bị tích hợp loại chuẩn độ này cung cấp một lợi thế bổ sung: nó phát hiện điểm mà tại đó mẫu không còn tạo ra Nitơ, tính chất này được sử dụng để dừng chưng cất vào đúng thời điểm và do đó đảm bảo rằng thời gian chưng cất luôn tối ưu cho việc thu hồi nitơ tối đa và việc kéo dài chưng cất không còn cần thiết nữa.

    Phép đo màu sắc (so màu) được chấp nhận bởi AOAC và không cần hiệu chuẩn định kỳ.

    Tính năng, đặc điểm:

    o Thiết bị chưng cất hơi nước.

    o Tự động «On-line» đánh giá màu sắc.

    o Máy tạo hơi nước với công tắc áp suất bảo vệ an toàn nhiệt độ quá nhiệt và bảo vệ quá áp.

    o Cửa an toàn ngăn/ ngừng chưng cất nếu cửa mở.

    o Phát hiện sự hiện diện của ống chưng cất / phá hủy. Thiết bị này dừng định lượng NaOH nếu không có ống.

    o Bộ kết hợp chung cho ống phân hủy / chưng cất MACRO (Ø 42 mm) và MICRO (Ø 26 mm).

    o H2O và NaOH, axit boric và HCl được đặt bên trong thiết bị, giúp tiết kiệm không gian trong phòng thí nghiệm.

    o Hệ thống thoát nước của ống phân hủy / chưng cất và được thu.

    o Dừng chưng cất tự động.

    o Màn hình LCD lớn 20 x 4 ký tự.

    o Đầu ra RS-232 để in kết quả.

    o Vỏ bằng thép không gỉ và mặt trước bằng nhựa ABS.

    Thông số kỹ thuật:

    o Khoảng đo: từ 0,2 đến 200 mg nitơ.

    o Tốc độ chưng cất: từ 35 đến 40 ml / phút.

    o Tỷ lệ tiêu thụ nước: từ 80 đến 100 lít / h.

    o Tiêu thụ nước của máy tạo hơi nước: 2,5 lít / h.

    o Dung tích bể chứa nước cho máy tạo hơi nước: 6 lít.

    o Dung tích bể chứa NaOH: 2 lít.

    o Dung tích bể chứa axit Boric: 2 lít.

    o Dung tích bể chuẩn độ: 2 lít.

    o Độ chính xác của chuẩn độ: 1,5%.

    o Liều lượng tối thiểu của chuẩn độ: 0,01 ml.

    THỰC NGHIỆM

    XÁC ĐỊNH PROTEIN TỔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP KJELDAHL

    1.Nguyên lý:

    Phương pháp này bao gồm việc khoáng hóa mẫu bằng axit sulfuric đậm đặc và kiềm hóa bằng natri hydroxit. Việc giải phóng amoniac được thực hiện bằng cách chưng cất và thu lại trên axit boric. Tiếp theo chuẩn độ với axit clohydric cho phép tính hàm lượng protein ban đầu có trong mẫu.

    2. Thuốc thử cần thiết:

    o Axit sulfuric 96%  (d = 1,84).

    o NaOH, dung dịch 35% (w / v).

    o Chỉ thị hỗn hợp, đặc biệt đối với chuẩn độ amoniac.

    o Chất xúc tác Kjeldahl.

    o Axit boric 4%  (w / v).

    o HCl 0,25N

    o Nước cất.

    o Đá bọt dạng hạt.

    Lưu ý: Điều quan trọng là tất cả các thuốc thử hoàn toàn không có nitơ.

    3. Trang thiết bị cần thiết:

    o Cân phân tích, độ phân giải  0,1 mg

    o Digestor (Bloc-Digest).

    o Lập trình quy trình RAT.

    o Tủ/ quạt hút khí độc

    o Pro-Nitro “M” hoặc Pro-Nitro “A”

    o Burette để chuẩn độ.

    4. Phá mẫu:

    o Cân khoảng 1 gram mẫu hoàn toàn được xay nhỏ và được đồng nhất trong giấy không chứa nitơ và cho vào ống phân hủy.

    o Thêm 10 g chất xúc tác Kjeldahl, 25 ml axit sulfuric 96% (d = 1,84) và một số hạt đá bọt đã được xử lý vào ống mẫu.

    o Đặt các ống phân hủy với các mẫu vào trong khối phân hủy, đặt trong tủ hút khí độc.

    o Phân hủy/phá mẫu có thể được thực hiện ở nhiệt độ giữa 350 ~ 420 °C và tại thời gian thực hiện có thể mất từ 1 đến 2h.

    o Cuối cùng, chất lỏng thu được là màu xanh lá cây trong suốt hoặc màu xanh tùy thuộc vào chất xúc tác được sử dụng.

    o Để mẫu nguội xuống nhiệt độ phòng.

    o Tránh kết tủa bằng cách thỉnh thoảng khuấy, lắc.

    o Thực hiện thao tác chậm đưa liều lượng 50 ml nước cất cho vào trong mỗi ống mẫu (cẩn thận do phản ứng mạnh).

    o Để mẫu nguội xuống nhiệt độ phòng.

    o Nếu kết tủa xảy ra, hãy khuấy nhẹ hoặc gia nhiệt.

    5. Chưng cất

    Định lượng 50 ml axit boric trong bình Erlenmeyer và một vài giọt chỉ thị hỗn hợp. Lưu ý, bình Erlenmeyer phải được ngâm trong axit boric.

    Khi ống mẫu và bình Erlenmeyer có axit boric được đặt, định lượng 50ml NaOH và bắt đầu chưng cất.

    Chưng cất nên được kéo dài đủ lâu để chưng cất ít nhất 150 ml, khoảng từ 5 đến 10 phút.

    6. Test mẫu trắng

    Sau khi chưng cất mẫu, thực hiện phép thử trắng bằng cách sử dụng phương pháp được mô tả ở trên, nhưng sử dụng 5 ml nước cất.

    7. Chuẩn độ

    Chuẩn độ dung dịch chưng cất thu được bằng axit clohydric 0,25N cho đến khi dung dịch chuyển từ màu xanh sang màu tím.

    -Tính toán lượng nitơ có mặt:

    % Nitrogen = 14 x (V1-V0) x N / P

    % Protein =% Nitơ x F

    Trong đó:

    P = Trọng lượng mẫu (g)

    V1 = Thể tích HCl được tiêu thụ bởi chuẩn độ (ml)

    N = HCl

    V0 = Thể tích HCl được tiêu thụ bằng chuẩn độ mẫu trắng (ml)

    F = Hệ số chuyển đổi chuyển từ hàm lượng nitơ sang hàm lượng protein. Đối với protein thô, giá trị của 6,25 thường được sử dụng. Để có độ chính xác cao hơn, các hệ số chuyển đổi khác có thể được sử dụng bằng cách phân biệt chất lượng protein theo tính chất mẫu.

     

    Performed by Center of Research and Development -R&D (An Hòa Co.,Ltd)

    Reference source J.P Selecta S.A

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Kjeldahl – Thiết Bị Khoa Học Công Nghệ
  • Phương Pháp Kjeldahl – Phân Tích Hàm Lượng Nitơ Chính Xác Nhất
  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phương Pháp Kjeldahl
  • Kaizen Là Gì? Những Lợi Ích Từ Việc Áp Dụng Kaizen ?
  • Các Phương Pháp Xác Định Yêu Cầu Tổng Thể Phần 2.
  • Xem Phương Pháp Dùng “các Mảnh Ghép”

    --- Bài mới hơn ---

  • Mindmap Là Gì? Cách Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Bằng Tay
  • Bản Đồ Tư Duy Dạy Sớm Giúp Con Giỏi Sớm
  • Dạy Con Thông Minh Bằng Sơ Đồ Tư Duy Mind Map
  • Quên Mindmap Đi, Đây Mới Là Phương Pháp Học Đỉnh Cao Năm 2022
  • Phương Pháp Phát Triển Tư Duy Hiệu Quả Nhất Bằng Mindmap
  • (Ảnh có tính chất minh họa)

    Kỹ thuật các mảnh ghéplà kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác.

    Cách tiến hành: Vòng 1: Nhóm chuyên gia

    Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người). Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau. Ví dụ:

    + Nhóm 1: Nhiệm vụ A

    + Nhóm 2: Nhiệm vụ B

    + Nhóm 3: Nhiệm vụ C

    Vòng 2: Nhóm mảnh ghép

    Hình thành nhóm mới khoảng từ 3-6 người (bao gồm 1-2 người từ nhóm 1; 1-2 từ nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3…), gọi là nhóm mảnh ghép.

    Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau.

    Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1)

    Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ trình bày và chia sẻ kết quả.

    Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kỹ thuật các mảnh ghép:

    Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2.

    Các chuyên gia ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nên cần xác định yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi chuyên gia có thể hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2.Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau.Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1. Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kĩ năng, thông tin,…cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này.

    Nhằm nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, tạo ra đội ngũ giáo viên trong tương lai độc lập, sáng tạo. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải năng động hơn và biết kết hợp nhiều phương pháp:

    Ý kiến của sinh viên:

    Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận của các phương pháp dạy học, được tham gia các lớp tập huấn đổi mới phương pháp dạy học và đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, tôi thiết nghĩ là giảng viên đứng lớp phải biết kết hợp nhiều yếu tố như có kiến thức rộng, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và có thái độ nhiệt tình, luôn quan tâm đến người học. Bên cạnh những yếu tố vừa nêu về phía quản lý giáo dục nên quan tâm đến số lượng sinh viên trên một lớp, thời lượng kiến thức cho một học phần, cách đánh giá, thi cử cho phù hợp thì việc đổi mới phương pháp dạy học đem lại hiệu quả tốt hơn.

    Giảng viên Trần Thị Mỹ Dung

    Những ý kiến phản ảnh của các sinh viên cho thấy các phương pháp mới giúp cho các em thấy hứng thú trong việc chủ động nghiên cứu trước tài liệu, để có kiến thức đóng góp ý kiến trong nhóm, đồng thời được trao đổi ý kiến với các bạn cũng như cô giáo (ở cả vòng 1 và 2), cho nên nắm vững kiến thức bài học.

    Đấy là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu của cả thầy lẫn trò. Nhưng đây cũng không phải là “phương pháp vạn năng” để áp dụng thích hợp với mọi môn học cũng như mọi đối tượng.

    Là hình thức học tập hợpTrà T tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Nào Nên Phẫu Thuật Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng?
  • 4 Phương Pháp Phẫu Thuật Thoát Vị Đĩa Đệm Và Chi Phí Cần Biết
  • Phẫu Thuật Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng Có Mấy Phương Pháp?
  • Thoát Vị Đĩa Đệm Có Nên Mổ Không Và Có Những Phương Pháp Mổ Nào?
  • Có Nên Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Không? Các Phương Pháp Mổ Hiện Nay.
  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Giống Cây Bằng Phương Pháp Ghép
  • Kỹ Thuật Ghép Cành Cây Cảnh
  • Màng Ghép Phức Hợp Và Các Phương Pháp Ghép Màng
  • Những Lợi Ích Từ Phương Pháp Ghép Răng Implant Là Gì? Bạn Biết Chưa
  • Scrum Là Gì? Agile Là Gì? Các Công Cụ Scrum Cần Biết
  • NGHỀ NÔNG xin giới thiệu đến quý độc giả 2 phương pháp ghép cây cơ bản mà Blog dụng cụ kim khí đã thực hiện

    1. Ghép cành

    – Ghép áp nhánh:

    • Chọn hai cây có đặc tính khác nhau: một cây có khả năng sống khoẻ mạnh được chọn làm gốc ghép, cây còn lại có những đặc tính tốt khác như cho hoa đẹp, sai trái… được chọn làm mắt ghép. Chọn hai nhánh có kích thước gần bằng nhau, cạo vỏ hai mép cây kề nhau, ( dài 1,5-2cm, rộng 0,4-0,5cm) rồi áp chúng lại. Dùng dây nylon mỏng buộc chặt nơi tiếp xúc. Khi đoạn trên đã phình to hơn đoạn dưới chỗ ghép (chứng tỏ vết ghép đã dính), cắt bỏ phần ngọn của cây dùng làm gốc ghép, cắt gốc cành ghép cách chỗ buộc 2 cm. Đối với những cây khó ghép, có thể cắt gốc cành ghép làm 2 lần: lần đầu cắt 1/2 đường kính, 5-10 ngày sau khi cắt đứt hoàn toàn. Bây giờ, phần gốc ghép đã bị cắt bỏ ngọn sẽ nuôi phần mắt ghép phát triển và tạo một cây ghép mới vừa sống khoẻ mạnh vừa có mang những đặc tính mà ta mong muốn.
    • Ưu điểm: Thao tác nhanh, dễ ghép. Tỷ lệ sống cao khi chọn đúng tổ hợp ghép, nhanh bật mầm ở cành ghép, sức sống của cành ghép tốt. Thường sử dụng trong lĩnh vực cây ăn trái.
    • Nhược điểm: vị trí ghép thường nổi lên các vết sần không đẹp lắm nên ít được sử dụng trong lĩnh vực trồng bonsai.
    • Làm vệ sinh gốc ghép trước một tuần: Cắt cành phụ, làm sạch cỏ vườn, bón phân, tưới nước lần cuối để nhựa lưu thông tốt trên cây.
    • Chọn những đoạn cành có màu xanh xen kẽ với những vạch màu nâu (bánh tẻ), lá to, có từ 2 -3 mầm ngủ. Giữ trong bẹ chuối tươi hoặc giẻ ẩm để đem đến vườn ươm.
    • Dùng kéo cắt cành cắt ngọn gốc ghép sao cho dưới vết cắt có nhiều lá bánh tẻ là tốt nhất. Những lá bánh tẻ này sẽ tiếp tục tổng hợp dinh dưỡng nuôi cây trong khi nhờ ưu thế đỉnh mà cành ghép được cung cấp dinh dưỡng nhiều nhất trên toàn cây. Sau đó tay trái giữ gốc ghép, tay phải dùng dao cắt vát một đoạn dài 1,5-2cm. Lấy một đoạn cành có 2-3 mầm ngủ dùng dao cắt vát đầu sao cho gốc ghép và cành ghép chồng khít với nhau. Muốn vậy vết cắt phải nhẵn, phẳng và đường kính của gốc ghép và cành ghép phải tương đương.
  • Sau khi buộc chặt bằng dây nilông mảnh và quấn kín vết ghép và đầu cành ghép lại. Buộc càng chắc càng tốt. Có thể cắt gốc ghép và cành ghép thành hình lưỡi gà giống nhau để gài cành ghép cho chắc.
  • Nếu trong thời gian tiến hành ghép mà đất hạn thì tưới nước và sau ghép 3 ngày phải tưới nước cho vườn gốc ghép. Sau ghép 30-35 ngày có thể mở dây buộc kiểm tra tỷ lệ cây sống. Ghép theo hình thức này, cây con rất chóng bật mầm.
  • Có thể ghép đoạn cành theo nhiều cách khác nhau như ghép nêm, ghép dưới vỏ, ghép chẻ bên (áp dụng khi gốc ghép có đường kính lớn).
  • 2. Ghép mắt

    Mắt ghép là chồi non nhú lên trên nách lá.

    Cành lấy mắt ghép là những cành “bánh tẻ”, đường kính gốc cành từ 6- 10 mm tùy mùa ghép và tùy theo giống loài. Mỗi cành có từ 6-8 mầm ngủ ở các nách lá to. Nên chọn những cành ngoài bìa tán, không có sâu bệnh và ở các cấp cành cao. Mỗi cành có từ 6-8 mầm ngủ ở các nách lá to. Vệ sinh chăm sóc và chuẩn bị gốc ghép như ở phương pháp ghép đoạn cành.

    Có 2 phương pháp ghép mắt chủ yếu là: ghép chữ T và ghép cửa sổ.

    – Ghép chữ T:

    • Thường áp dụng cho những cây non, vỏ mỏng, gốc ghép phải đang lên nhựa mới thực hiện được.
    • Mở miệng gốc ghép như sau: Dùng dao ghép rạch một đường ngang 1cm cách mặt đất từ 10-20cm. Sau đó từ điểm giữa rạch một đường vuông góc với đường rạch trên dài 2 cm làm thành hình chữ T; dùng mũi dao tách vỏ theo chiều dọc vết ghép. Mắt ghép có kèm theo cuống lá, dài 1,5-2cm, có một lớp gỗ rất mỏng ở phía trong. Lát cắt phải thật : ngọt tránh dập nát tế bào ở phía trong. Tay phải cầm cuống lá gài mắt ghép vào khe dọc chữ T đã mở, đẩy nhẹ cuống lá xuống. Dùng nilông mỏng và bền buộc chặt và kín vết ghép lại. Buộc càng chặt càng tốt.

    – Ghép cửa sổ:

    • Thường áp dụng đối với những cây to, vỏ dày và già.
    • Dùng dao ghép mở “cửa sổ” trên thân gốc ghép. Nếu đất ẩm thì mở cửa sổ cao, đất khô cần ghép thấp hơn. Kích thước miệng ghép “cửa sổ” 1 x 2 cm. Bóc một miếng vỏ trên cành ghép đã mở. Đặt mắt ghép vào “cửa sổ” đã mở của gốc ghép, đậy cửa sổ lại và quấn dây nilông mỏng cho thật chặt. Trong vài ngày dầu không nên tưới vì có thể làm úng và hỏng mắt ghép. Sau ghép 15-20 ngày có thể mở dây buộc và cắt miếng vỏ đậy ngoài của gốc ghép, nếu có nhựa hàn kín, chứng tỏ việc ghép dã thành công. Cắt ngọn gốc ghép cách vết ghép 2cm và nghiêng một góc 45độ về phía ngược chiều với mắt ghép. Ghép cửa sổ là một trong những phương pháp ghép cây có tỷ lệ sống cao nhất.

    2: Tách vỏ hình chữ T trên gốc ghép

    3: Đặt mắt ghép vào gốc ghép

    4: Quấn kín bằng dây nilon

    5: Kết quả sau khi mắt ghép phát triển tốt

    3: Đặt mắt ghép vào gốc ghép

    4: Quấn chặt lại bằng dây nilon (chừa đỉnh sinh trưởng của mắt ghép)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Cấy Ghép Răng Implant Là Gì? Hiệu Quả Không?
  • Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì? 5 Ưu Điểm Của Phương Pháp Này Là Gì?
  • Bao Bì Pp Ghép Giấy Là Gì?
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì?
  • Scrum Là Gì? Quy Trình Áp Dụng Mô Hình Scrum Hiệu Quả
  • Ghép cây là phương pháp nhân giống cây trồng rất hiệu quả. Theo đó, người trồng sẽ là tách rời một mắt ghép hoặc chồi non vừa lú ra ở nách lá hoặc một đoạn thân non của cây có những đặc tính nổi bật đặt vào một cây khác có đặc tính sống khoẻ và phát triển tốt, còn gọi là gốc ghép (gốc tháp) tiếp tục sống và tăng trưởng nhờ vào gốc ghép.

    Kỹ thuật này sẽ đem đến nhiều hiệu ứng tích cực cho chất lượng và năng suất cây trồng. Đây là phương pháp đơn giản nhưng hữu hiệu được nhiều người trồng cây áp dụng rất nhiều năm nay. Bởi cách thức thực hiện đơn giản nhưng lại có rất nhiều ưu điểm, đặc biệt là trên các loại cây ăn quả.

    Ghép cây là phương pháp nhân giống đem lại nhiều hiệu ứng tích cực

    Cây ghép sẽ sinh trưởng tốt nhờ sự hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc ghép. Nhờ đó, cây ghép sẽ sống được trong điều kiện mà trước đây chúng không thể, nhưng vẫn giữ lại các đặc tính của cây ghép, điều này sẽ giúp có nhiều vụ mùa trong năm hơn.

    Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ. Đồng thời, tăng cường khả năng chống chịu của cây trong điều kiện bất lợi như: chịu hạn, chịu úng, chịu rét và sâu bệnh. Thông qua gốc ghép có thể điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép. Cây sẽ có khả năng phục hồi sinh trưởng, duy trì giống quý thông qua các phương pháp ghép như: ghép nối cầu hay ghép tiếp rễ.

    Tuy nhiên để đảm bảo mối ghép phát triển khỏe mạnh và quá trình ghép cây diễn ra thành công, đòi hỏi người làm vườn phải thành thạo kỹ thuật này cũng như phải có các dụng cụ chuyên môn như dao ghép cành và băng ghép cây. Đây là hai dụng cụ thiết yếu đối với công việc ghép cành. Xưa nay, người trồng cây luôn sử dụng những dụng cụ tự chế, không đảm bảo được hiệu quả thành công cao nhất cho mối ghép.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống
  • Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định: Phân Tích Nội Dung Và Ý Nghĩa
  • Phân Tích Nội Dung Qui Luật Phủ Định Của Phủ Định. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quy Luật Này?
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Với Việc Nhận Thức Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ, Công Bằng Xã Hội
  • Nhân Giống Cây Bằng Phương Pháp Ghép

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Ghép Cành Cây Cảnh
  • Màng Ghép Phức Hợp Và Các Phương Pháp Ghép Màng
  • Những Lợi Ích Từ Phương Pháp Ghép Răng Implant Là Gì? Bạn Biết Chưa
  • Scrum Là Gì? Agile Là Gì? Các Công Cụ Scrum Cần Biết
  • Hướng Dẫn Từng Bước Triển Khai Agile Marketing
  • Phương pháp ghép là sự kết hợp một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây khác, tạo thành một tổ hợp ghép, cùng sinh trưởng và phát triển như là một cây thống nhất.

    Nếu phân chia theo cách ghép thì có nhiều nhưng gộp chung lại thành hai cách: Ghép áp cành hai cây sống gần nhau và ghép rời từng bộ phận của cây này với gốc của một cây khác (cành, lá, mắt rễ…). Cách ghép rời từng bộ phận lại có hai cách: ghép cành và ghép mắt.

    Thời gian liền lại của một tổ hợp ghép nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào loài cây ăn quả, các giống loài dùng trong tổ hợp và những điều kiện khí hậu của môi trường. Ở nước ta thời gian liền lại của một tổ hợp ghép là 15 – 30 ngày tuỳ mùa ghép và tuỳ giống cây. Cam, quýt, chanh ghép vào mùa xuân và mùa thu có thể mở dây buộc và cắt ngọn gốc ghép sau khi ghép 10 – 15 ngày. Nếu ghép trong mùa đông và mùa hè phải 30 ngày.

    Các yếu tố quan trọng sau đây có ảnh hưởng đến khả năng ghép sống của các tổ hợp.

    Tình trạng ngủ nghỉ của cành và mắt ghép; mức độ thuần thục và mô tế bào đỉnh sinh trưởng và tượng tầng.

    Khả năng hoạt động của mô tế bào tượng tầng của cây gốc ghép.

    Điều kiện khí hậu tối thích (sự phân chia tế bào được xúc tiến mạnh và khả năng tiếp hợp tốt giữa gốc ghép và cành ghép khi ẩm độ tương đối của không khí là 100% và nhiệt độ từ 7 – 32 0

    Cây ghép hoàn toàn có thể giữ nguyên được những đặc tính tính trạng của cây mẹ. Những đặc tính tính trạng đó chỉ có thể được nhân lên trong trường hợp chúng ta chọn đúng tổ hợp ghép, đồng thời chăm sóc cây ghép theo đúng yêu cầu kỹ thuật.

    Trồng cây gốc ghép

    Cớ 2 phương pháp trồng cây gốc ghép:

    + Gieo thẳng trong vườn ươm ra ngôi chờ ghép với mật độ thưa hơn trong vườn gieo và hơi dày hơn khi ra ngôi cây non. Trong thời gian chờ ghép tiến hành làm cỏ, xới vun cây từ 4 – 6 lần; bón phân hữu cơ và phân khoáng 2 – 3 lần. Tùy mức độ xuất hiện của sâu và bệnh hại mà quyết định số lần phun thuốc

    + Cây gốc ghép gieo thẳng đỡ tốn công ra ngôi nhưng lại tốn công chăm sóc trên diện tích rộng trong một thời gian dài.

    Ở nước ta thường dùng cách gieo dày rồi sau đó ra ngôi trồng trong vườn chờ ghép. Do khi ra ngôi cây non bị đứt một phần rễ chính nên rễ phụ phát triển mạnh, phân nhánh nhiều và lan rộng, sinh trưởng nhanh. Một vài tháng đầu cây còn ở trong vườn gieo, diện tích hẹp nên rất đỡ công chăm bón và làm cỏ.

    Thời vụ gieo hạt phụ thuộc vào thời vụ thu hoạch quả, cũng có thể xê dịch một vài tháng do đó thời vụ ra ngôi cũng phụ thuộc vào thời vụ gieo. Các tỉnh phía bắc hay gieo hạt vào vụ thu đông để ra ngôi cây con vào tháng 1 – 2 hoặc gieo vào tháng 5 để tháng 9 – 10 cùng năm có thể ghép được. Nếu dùng gốc chanh thì có thể gieo vào tháng 8, ra ngôi tháng 10 và tháng 2 năm sau có thể đạt tiêu chuẩn ghép nếu được chăm sóc tốt.

    Ra ngôi vụ xuân có thuận lợi là ghép được vào vụ thu, dễ ghép và tỷ lệ sống cao (ở phía nam gieo hạt và ra ngôi theo hai vụ: vụ khô và vụ mưa). Ở các tỉnh khu 4 cũ và Nghệ Tĩnh nên tìm cách chuyển vụ ra ngôi cây con vào tháng 9 – 10 đến tháng 9 năm sau cây đạt tiêu chuẩn ghép nhiều và đỡ vất vả hơn so với ra ngôi cây con vụ xuân vì ở Nghệ Tĩnh có 4 tháng hoạt động của gió tây nóng nên cây con bị kìm hãm sinh trưởng rất nhiều.

    Gốc ghép nhân bằng phương pháp vô tính

    Việc sử dụng các dạng gốc ghép nhân vô tính là một trong những thành tựu mới trong nghề trồng cây ăn quả của thế giới, nó đã được sử dụng mạnh mẽ trong vòng 20 năm trở lại đây.

    Có nhiều hình thức nhân gốc ghép vô tính như: Chiết, giâm cành, tách chồi… Đối với những cây dễ ra rễ nên áp dụng hình thức nhân giống gốc ghép bằng cách giâm cành còn xanh. Nếu dùng gốc chiết, phải đốn cho cây mọc nhiều cành non để chiết.

    Kỹ thuật chiết, giâm cành, ra ngôi như đã trình bày ở bài trước.

    Một số tổ hợp ghép có thể sử dụng ở nước ta

    Thông thường người ta chọn những cây có quan hệ họ hàng về mặt thực vật để làm gốc ghép cho nhau. Trong nhiều trường hợp ghép cùng giống, cùng loài là dễ thành công nhất.

    Trong những trường hợp cá biệt người ta đã ghép thành công giữa những cây khác họ, khác loài với nhau.

    Trung Quốc đã dùng cây hồng (Dioa Piros kaki) làm gốc ghép cho cây nhót tây (Eribo trya Liundl), và dùng cây dâu tằm (Morusalba L.) làm gốc ghép cho lê (Pyrus L.). Mishurin cũng đã ghép được cây chanh trên gốc Cydonica vulgaris và ghép chanh với lê.

    Gốc ghép phải đạt yêu cầu sau:

    Có sức sinh trưởng tương đương với cành ghép.

    Có bộ rễ sinh trưởng mạnh, phân nhánh tốt, nhiều rễ tơ.

    Thích ứng tốt với điều kiện khí hậu của địa phương, chống chịu tốt với sâu và bệnh hại.

    Dễ nhân giống và sinh trưởng nhanh.

    Ở miền Bắc nước ta có thể dùng một số tổ hợp ghép sau trong nhân giống cây ăn quả:

    Chanh Eureka, chanh yên, Tắc hạnh, chanh tứ thời địa phương, cam ngọt, cam voi Quảng Bình, trấp Thái Bình, quýt hôi địa phương, quýt Clêôpat, bưởi chua làm gốc ghép cho cam quýt, chanh, bưởi.

    Táo quả nhỏ địa phương, táo giai làm gốc ghép cho táo Gia Lộc, táo Biên Hoà, táo Thiện Phiến, táo Đào tiên, Má hồng dòng 12, 32.

    Mít (Artocarpus Heeterophyllus) ghép trên các giống mít địa phương; mít mật làm gốc ghép cho mít giai, mít tố nữ…

    Nhãn lồng ghép trên gốc nhãn trơ địa phương (Euphoria longana L.).

    Vải (Litsi chinesis L.), chôm chôm (Nepphilium lappaceum L.).

    Lê (Pyrus L.) trên gốc mắc coọc (Lê dại P. pashia Ham hoặc Pyrus purifolia Nakai).

    Các phương pháp ghép cây ăn quả

    Ghép áp

    Ra ngôi cây gốc ghép trong túi bầu PE (kích thước 10 x 13 cm hoặc 13 x 15 cm). Khi gốc ghép có đường kính tương đương với cành ghép, ta tiến hành chọn vị trí treo gốc ghép và sửa sang cành ghép: Cắt hết lá, cành tăm, cành gai ở vị trí định ghép. Sau đó dùng dao sắc cắt vát một miếng nhỏ vừa chớm đến lớp gỗ ở gốc ghép và cành ghép (dài 1,5 – 2cm, rộng 0,4 – 0,5 cm). Dùng dây nilông tốt buộc chặt cành ghép và cây gốc ghép lại với nhau ở vị trí vết cắt.

    Buộc cố định túi bầu gốc ghép vào cành cây lân cận, hàng ngày phái tưới 2 lần cây gốc ghép và cá cây mẹ. Sau ghép 30 – 40 ngày vết ghép liền sẹo, có thể cắt ngọn gốc ghép, cắt gốc cành ghép cách chỗ buộc 2 cm. Đối với những cây khó ghép, có thể cắt gốc cành ghép làm 2 lần: lần đầu cắt 1/2 đường kính, 5 – 10 ngày sau thì cắt đứt hoàn toàn.

    Phương pháp ghép này cho tỷ lệ sống rất cao (90 – 95%) nhưng rất công phu và hệ số nhân giống thấp. Những cây mẹ to cao, thao tác có nhiều khó khăn trở ngại. Phương pháp này cũng thường được áp dụng để nhân giống hoa và cây cảnh, một số cây ăn quả khó ghép mà không cần đến số lượng cây giống lớn

    Ghép cành

    Ghép đoạn cành là một phương pháp tương đối phổ biến trong nhân giống cây ăn quả; áp dụng trong trường hợp ghép các loại cây khó lấy mắt (gô cứng, vỏ mỏng giòn, khó bóc), hoặc ghép trong những thời vụ mà nhiệt độ và ẩm độ thấp, sự chuyển động nhựa trong cây kém. Nhiều khi kết hợp giữa ghép đoạn cành và ghép mắt để tận dụng cành ghép.

    Làm vệ sinh vườn gốc ghép trước một tuần: Cắt cành phụ, gai ở đoạn cách mặt đất 15 – 20 cm, làm sạch cỏ vườn, bón phân, tưới nước lần cuối để cây chuyển động nhựa tốt.

    Chọn những cành ra trong vụ xuân hoặc vụ hè trong năm (nếu là ghép trong vụ thu), đoạn cành có màu xanh, xen kẽ với đôi vạch màu nâu (bánh tẻ), lá to, mầm ngủ to. Sau khi cắt cành ghép, loại bỏ hết lá, bó lại thành từng bó trong bẹ chuối tươi hoặc giẻ ẩm để đem đến vườn ươm.

    Dùng kéo cắt cành (xêcatơ) cắt ngọn gốc ghép ở vị trí cách mặt đất 10 – 15 cm. Sau đó tay trái giữ gốc ghép, tay phải dùng dao cắt vát một đoạn dài 1,5 – 2 cm. Lấy một đoạn cành có 2 -3 mầm ngủ dùng dao cắt vát đầu gốc một vết tương tự như ở gốc ghép, sao cho khi đặt lên gốc ghép, tượng tầng của gốc và cành chổng khít với nhau. Muốn vậy vết cắt phải nhẵn, phẳng và đường kính của gốc ghép và cành ghép phải tương đương. Sau khi buộc chặt bằng giây nilông mảnh và dai (loại dây nilông dệt bao bì), dùng nilông bản mỏng quấn kín vết ghép và đầu cành ghép lại. Buộc càng chặt càng tốt. Có thể cắt gốc ghép và cành ghép thành hình lưỡi gà giống nhau để gài cành ghép cho chắc.

    Nếu trong thời gian tiến hành ghép mà đất hạn thì tưới nước và sau ghép 3 ngày phải tưới nước cho vườn gốc ghép. Sau ghép 30 – 35 ngày có thể mở dây buộc kiểm tra tỷ lệ cây sống. Ghép theo hình thức này, cây con rất chóng bật mầm.

    Có thể ghép cành theo nhiều cách khác nhau như ghép nêm, ghép dưới vỏ, ghép chẻ bên (áp dụng khi gốc ghép có đường kính lớn).

    Ghép mắt

    Là phương pháp ghép rất phổ biến, áp dụng được cho nhiều giống loài cây ăn quá khác nhau; thao tác thuận tiện; có thể thu hoạch, báo quán, vận chuyển cành ghép đi xa, hệ số nhân giống cao, cây ghép ít bị nhiễm bệnh.

    Ghép cửa sổ

    Gốc ghép và cành ghép có đường kính tương đối lớn, chuyển động nhựa tốt, dễ bóc vỏ.

    Cành lấy mắt ghép là những cành “bánh tẻ”, đường kính gốc cành từ 6 – 10 mm tùy mùa ghép và tùy theo giống loài. Mỗi cành có từ 6 – 8 mầm ngủ ở các nách lá to. Chú ý chọn những cành ngoài bìa tán, không có sâu bệnh và ở các cấp cành cao. Vệ sinh chăm sóc và chuẩn bị gốc ghép như ở phương pháp ghép đoạn cành. Dùng dao ghép mở “cửa sổ” trên thân gốc ghép, cách mặt đất từ 10 – 20 cm. Nếu đất ẩm thì mở cửa sổ cao, đất khô cần ghép thấp hơn. Kích thước miệng ghép “cửa sổ” 1 x 2 cm. Bóc một miếng vỏ trên cành ghép có mắt ngủ ở giữa, kích thước đúng bằng miệng ghép đã mở. Đặt mắt ghép vào “cửa sổ” đã mở của gốc ghép, đậy cửa sổ lại và quấn dây nilông mỏng cho thật chặt. Sau ghép 15 – 20 ngày có thể mở dây buộc và cắt miêng vỏ đậy ngoài của gốc ghép. Sau mở dây buộc 7 ngày cắt ngọn gốc ghép. Cắt ngọn gốc ghép cách vết ghép 2 cm và nghiêng một góc 45 0 về phía ngược chiều với mắt ghép. Ghép cửa sổ là một trong những phương pháp ghép có tỷ lệ sống cao nhất.

    Ghép chữ T Là một phương pháp ghép phổ biến nhất ở tất cả các nước trồng cây ăn quả phát triển; tốc độ nhanh, có thể kết hợp từng cặp công nhân một người ghép, một người buộc dây. Phương pháp này cũng đòi hỏi gốc ghép và cành ghép phải đang trong thời kỳ chuyển động nhựa mạnh.

    Chuẩn bị và làm vệ sinh vườn nhân gốc ghép như ở ghép cửa sổ. Chọn những cành ghép non hơn so với ghép cửa sổ một chút.

    Mở miệng gốc ghép như sau: Dùng dao ghép rạch một đường ngang 1 cm cách mặt đất từ 10 – 20 cm. Sau đó từ điểm giữa rạch một đường vuông góc với đường rạch trên dài 2 cm, làm thành hình chữ T; dùng mũi dao tách vỏ theo chiều dọc vết ghép. Cắt mắt ghép theo hình vẽ (6a): Mắt có kèm theo cuống lá, dài 1,5 – 2 cm, có một lớp gỗ rất mỏng ở phía trong. Lát cắt phải thật “ngọt” tránh dập nát tế bào ở phía trong. Tay phải cầm cuống lá gài mắt ghép vào khe dọc chữ T đã mở, đẩy nhẹ cuống lá xuống. Dùng dây nilông mỏng và bền buộc chặt và kín vết ghép lại. Buộc càng chặt càng tốt.

    Tùy theo mùa vụ và giống loài cây mà sau ghép 15 – 20 ngày có thể mở dây buộc, kiểm tra sức sống của mắt ghép. Nếu mắt ghép xanh, cuống lá vàng và rụng đi là chắc sống. Từ 7 – 10 ngày sau khi mở dây buộc có thể cắt ngọn gốc ghép.

    Ghép mắt nhỏ có gỗ

    ưu điểm nhất của phương pháp này là thao tác đơn giản, có thể tận dụng được mắt ghép. Ghép mắt nhỏ có gỗ có thể ghép được ở rất nhiều thời vụ. Trong điều kiện nước ta, đối với một số cây ăn quả nhất định có thể ghép được quanh năm. Trong phương pháp này cành ghép và gốc ghép không dóc vỏ cũng ghép được. Tất nhiên, khi cây chuyển nhựa tốt tỷ lệ sống sẽ cao hơn.

    Chọn những cành ghép mập khỏe, còn có màu xanh hoặc mới xuất hiện một vài vạch nâu, đã bắt đầu “tròn mình”. Các tiêu chuẩn khác tương tự như trong phần ghép chữ T và cửa sổ.

    Dùng dao cắt vát một lát hình lưỡi gà từ trên xuống, cách mặt đất từ 10 – 20 cm, có độ dày gỗ bằng 1/5 đường kính gốc ghép. Nếu cành ghép có đường kính nhỏ hơn gốc ghép thì vết ghép cắt mỏng hơn. Chiều dài ở miệng ghép chừng 1 – 1,2 cm. Cắt một miếng tương tự, có cuống lá và mầm ngủ ở giữa đặt nhanh vào vết ghép. Buộc chặt và kín bằng dây nilông dẻo. Sau ghép 18 – 30 ngày có thể mở dây buộc và cắt gọn gốc ghép. Nếu buộc bằng dây nilông mảnh và để hở đỉnh sinh trưởng của mầm ghép thì có thể cắt ngọn gốc ghép trước khi mở dây buộc (sau khi bật mầm được 10 – 15 ngày mới mở dây cũng được, vì cách này lâu liền da và mắt ghép dễ bị rời ra ngoài do gió hoặc người và gia súc đi lại chạm vào). Vết cắt ngọn gốc ghép cách vết ghép 1,5 – 2 cm.

    Tóm lại phương pháp có nhiều nhưng áp dụng phổ biến cho việc nhân giống cây ăn quả là ghép chữ T và mắt nhỏ có gỗ. Tùy theo thời vụ và loại cây trồng, tùy tình trạng của gốc ghép và cành ghép mà chọn phương pháp ghép cho thích hợp. Ở nước ta, phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ tuy mới được áp dụng một vài năm gần đây nhưng được tiếp nhận rất nhanh chóng và đã trở thành một phương pháp ghép phổ biến.

    Chăm sóc cây con sau khi ghép

    Khi cành ghép vươn cao được 15 – 20 cm, bắt đầu làm cỏ vun gốc và bón phân. Việc phun thuốc trừ sâu có thể phải tiến hành sớm hơn khi mầm ghép mới mọc được 1 – 2 cm. Lần làm cỏ đầu phải thao tác nhẹ nhàng, tránh va đập vào gốc ghép và cành ghép. Sau đó cứ cách một tháng lại bón phân thúc cho cây con một lần. Loại phân và cách bón áp dụng như đối với chăm sóc cây gốc ghép. Tưới nước chống hạn kịp thời là biện pháp rất quan trọng quyết định sự phát triển của cây con sau khi ghép và tỷ lệ cây xuất vườn. Thường xuyên theo dõi, bắt sâu, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại. Khi ghép trái vụ nhất là vào vụ hè nhiệt độ và ẩm độ vườn ươm rất cao, do đó phải thường xuyên phun Boocđô (1:1:100) để chống nấm gây héo cành.

    Luôn luôn kiểm tra cắt bỏ các cành bất định mọc lên từ gốc ghép (thường gọi là cành dại).

    Khi cành ghép mọc cao 40 – 50 cm, tùy giống cây ăn quả tùy dạng hình của gốc ghép mà tiến hành tỉa cành con, bấm ngọn tạo tán cho cành ghép. Trên môi cành ghép chỉ để 2 – 3 cành chính khỏe, phân bố đều về các phía. Khi cành chính mọc cao 20 – 25 cm lại tiếp tục bấm ngọn để môi cành chính ra 2 – 3 cành cấp II. Nhiều trường hợp phải đào cây con đi trổng từ khi có 2 – 3 cành chính. Việc tạo và sửa cành cấp II tiến hành ở vườn sản xuất: Cắt bỏ cành vượt, cành tăm, cành mọc lệch không đúng vị trí và những cành bị sâu bệnh.

    Việc tạo hình cây con ở vườn ươm là rất cần thiết, lâu nay ít người chú ý, song cách tạo hình phải tùy thuộc vào thứ cây trổng, giống và hình thức nhân giống gốc ghép.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống

    --- Bài mới hơn ---

  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây
  • Phương Pháp Cấy Ghép Răng Implant Là Gì? Hiệu Quả Không?
  • Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì? 5 Ưu Điểm Của Phương Pháp Này Là Gì?
  • Bao Bì Pp Ghép Giấy Là Gì?
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì?
  • Ghép cây là một trong những phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống (một mắt hay một đoạn cành) sang một gốc cây khác (gọi là gốc ghép) để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được những đặc tính của cây giống ban đầu

    Cơ sở khoa học của ghép cây

    Ghép cây là một trong những phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống (một mắt hay một đoạn cành) sang một gốc cây khác (gọi là gốc ghép) để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được những đặc tính của cây giống ban đầu. Bằng các biện pháp nhất định làm cho gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng làm cho gốc ghép và mắt ghép gắn liền với nhau, cây ghép sẽ phát triển bình thường.

    Ưu điểm của phương pháp ghép

    – Cây ghép sinh trưởng tốt nhờ bộ rễ của gốc ghép.

    – Cây vẫn giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ.

    – Sớm ra hoa, kết quả.

    – Hệ số nhân giống cao, tốc độ tăng diện tích nhanh mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ của cây mẹ.

    – Nâng cao được sức chống chịu của giống, chịu hạn, chịu úng, chống chịu sâu bệnh trên cơ sở chọn được giống gốc ghép thích hợp.

    – Duy trì được nòi giống đối với những giống không hạt hoặc chiết, giâm cành khó.

    Tuy có những ưu điểm kể trên nhưng khi ghép nếu không chú ý chọn gốc ghép và mắt ghép sạch bệnh, nhất là bệnh vi rút, thì cây con giống sẽ bị lây truyền bệnh.

    Để có những cành ghép tốt cần chú ý một số điểm sau:

    Chọn mắt ghép: Chọn cành ghép tốt trên cây mẹ có năng suất cao, ổn định qua 3 vụ quả trở lên và phẩm chất tốt. Thường lấy mắt ghép ở các cành giữa tầng tán, nhô ra ánh sáng, cành có 4 – 6 tháng tuổi, đường kính gốc cành từ 4 – 10mm.

    Chọn gốc ghép:

    Gốc ghép tốt phải có các tiêu chuẩn sau:

    – Giống làm gốc ghép sinh trưởng phải khoẻ, có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai ở địa phương, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt

    – Cây sinh trưởng nhanh để chóng được ghép, dễ gây giống (từ phương pháp gieo hạt, giâm cành), ít mọc mầm phụ ở gốc cây con.

    – Có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép. Thông thường các cây trong cùng họ, cùng loài khi ghép dễ hợp với nhau hơn: cam, bưởi; mận, đào; mãng cầu xiêm, bình bát.

    Xác định cho được thời vụ ghép thích hợp cho từng giống ở địa phương mình

    Vụ xuân: Thời vụ ghép tốt là tháng 3,4 đối với cam, chanh, quýt, bưởi,mơ.

    Vụ hè: Các tháng 5, 6, 7 nhiệt độ cao dần, thỉnh thoảng có trận mưa rào, ở khu 4 cũ có gió Lào, ghép lúc này tỷ lệ sông thấp.

    Vụ thu: Tháng 8, 9, 10 nhiệt độ cao, mưa nhiều, là mùa sinh trưởng mạnh của nhiều loại cây vì vậy cây ghép dễ sống. Ví dụ đối với táo ghép vào tháng 8 – 9 là tốt nhất.

    Vụ đông: Tháng 11, 12, 1 nhiệt độ thấp, khô hạn nên tỉ lệ sống thấp. Riêng đối với hồng là ghép tốt (tháng 10 – 11).

    Ở các tỉnh miền Nam thường ghép vào đầu mùa mưa hoặc gần cuối mùa mưa tuỳ theo điều kiện của từng vùng và từng giống cụ thể.

    Các phương pháp ghép cây

    Có 2 phương pháp ghép với nhiều kiểu ghép khác nhau:

    Ghép mắt: Chữ T, cửa sổ, ghép mắt nhỏ có gỗ.

    Ghép cành: Ghép áp, ghép nêm, ghép chẻ bên, ghép yên ngựa.v.v…

    Chọn những cành ghép mập, khoẻ, có vỏ màu xanh mới xuất hiện vài vạch nâu, đã bắt đầu “tròn mình”. Các tiêu chuẩn khác như ghép chữ T và cửa sổ. Dùng dao sắc vát một lát hình lưỡi gà từ trên xuống, cách mặt đất từ 16 – 20cm, có độ dày gỗ bằng 1/5 đường kính gốc ghép. Nếu cành ghép đường kính nhỏ hơn gốc ghép thì vết ghép cắt mỏng hơn. Chiều dài miệng ghép chừng 1 – 1,2cm. Cắt một miếng tương tự ở cành ghép có cuống lá và mầm ngủ ở giữa đặt nhanh vào vết ghép. Buộc chặt và kín bằng dây nilông mềm. Sau 18 – 30 ngày có thể mở dây buộc và cắt ngọn gốc ghép, vết cắt ngọn gốc ghép cách vết ghép 1,5 – 2cm.

    Chăm sóc cây sau khi ghép:

    Sau khi ghép được 1 tuần đến 10 ngày thì cởi dây cho gốc ghép. Nếu cởi dây quá sớm sự tiếp hợp giữa mất ghép và gốc ghép chứa tốt. Sau khi cởi dây được 5 ngày kiểm tra mắt ghép, lấy móng tay cạo nhẹ lớp biểu bì ở mắt ghép nếu thấy xanh là mắt ghép sông, cắt ngọn gốc ghép chỗ trên mắt ghép độ 2 – 3cm. Vặt bỏ các mầm phụ ở gốc ghép. Khi mắt ghép phát triển thành cành cao 15 – 20cm thì bắt đầu làm cỏ, vun gốc và bón phân.

    Việc phun thuốc trừ sâu phải làm sớm hơn, khi mầm ghép mọc được 1 – 2cm. Nếu ghép vào mùa hè, nhiệt độ và ẩm độ cao thì phải thường xuyên phun thuốc Boócđô với tỷ lệ (1: 1: 100) để chống nấm gây héo cành. Bón phân tốt nhất là dùng nước phân chuồng ủ hoai pha loãng tỷ lệ 1: 3 – 5 lần hay dùng 1% sulfat đạm. Sau đó cứ cách 1 tháng thì bón thúc một lần cho cây.

    Khi cành ghép cao 40 – 50cm thì tuỳ giống cây ăn quả, tùy dạng hình của gốc ghép mà có thể bấm ngọn, tạo hình, tỉa bốt các cành con sao cho trên mỗi cây để lại 2 – 3 cành chính khoẻ phân bố đều về các phía là tốt.

    Một số điểm kỹ thuật cần được quan tâm khi ghép:

    – Phải có cành ghép tốt,gốc ghép sung sức, trước khi ghép nên tưới một lần nước phân đạm nồng độ 1% cho gốc ghép.

    – Người ghép phải thành thạo các thao tác, ghép nhanh, không để bị khô, bị ôxy hoá hoặc làm dính cát bụi vào mắt ghép và vết cắt ở gốc ghép.

    – Nên ghép vào buổi sáng, tránh ghép lúc mưa, lúc nắng to hay lúc lá còn ướt.

    – Dao ghép phải sắc, cắt ngọt, không làm xơ hoặc bầm dập mắt ghép.

    – Ghép xong phải buộc chặt và che kỹ, không để nước thấm vào mắt ghép.

    – Sau khi ghép sống, cắt cây, cần tưới nước giữ ẩm và vặt mầm phụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định: Phân Tích Nội Dung Và Ý Nghĩa
  • Phân Tích Nội Dung Qui Luật Phủ Định Của Phủ Định. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quy Luật Này?
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Với Việc Nhận Thức Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ, Công Bằng Xã Hội
  • Biện Chứng Vật Chất Và Ý Thức: Phân Tích Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận.
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Scrum Là Gì? Quy Trình Áp Dụng Mô Hình Scrum Hiệu Quả
  • Quản Lý Dự Án Theo Phương Pháp Truyền Thống Hay Phương Pháp Agile
  • Goodbye Orgchart! The Dual Operating System And Scale
  • Scrum Là Gì Và Tại Sao Nên Dùng Scrum
  • So Sánh Phương Pháp Scrum Và Kanban Trong Agile
  • Phương pháp cấy ghép Implant tức thì nói một cách dễ hiểu hơn thì nó chính là quy trình nhổ răng và cấy ghép Implant trong một lần phẫu thuật. So với phương pháp cấy ghép Implant truyền thống. Thì sau công đoạn đặt trụ Implant, bệnh nhân cần phải đợi một khoảng thời gian để Implant được ổn định hoàn toàn rồi sau đó mới có thể tiến hành phục hình răng sứ. Thông thường, thời gian mà bệnh nhân cần chờ đợi phải từ 3 – 6 tháng.

    Tuy nhiên, với phương pháp cấy ghép Implant tức thì hiện đại như ngày nay. Thay vì chờ đợi mòn mỏi từ 3 – 6 tháng. Bệnh nhân có thể tiến hành phục hình răng trên Implant sau khi tiến hành đặt trụ chỉ trong vòng 72 giờ.

    Đây cũng chính là một trong những lý do khiến phương pháp này lại phổ biến như vậy. Phương pháp cấy ghép này được đánh giá cao bởi không những giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của bệnh nhân. Mà nó còn khiến bệnh nhân có được trải nghiệm rất thoải mái, tự nhiên khi sử dụng.

    Phương pháp cấy ghép Implant xét mà nói thì đây chính là một kỹ thuật chuyên sâu hơn của phương pháp cấy ghép Implant thông thường. Vì vậy mà chắc chắn nó cũng sở hữu nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp truyền thống.

    Rút ngắn thời gian điều trị

    Như đã nói ở trên, thì kỹ thuật nhổ răng và cấy ghép implant được thực hiện trong cùng một lần sẽ giúp bệnh nhân tiết kiệm được không ít thời gian. Cũng từ đó mà bệnh nhân cũng không phải đi đến phòng khám nha khoa quá nhiều lần trong thời gian chờ đợi phục hình răng.

    Loại bỏ tình trạng tiêu xương hàm sau khi bị mất răng

    Nếu sau khi bị mất răng, nếu bạn không nhanh chóng phục hình răng kịp thời thì sẽ dẫn đến tình trạng bị tiêu hõm ở xương hàm. Do đó, ngay từ khi mới bị mất răng, bạn cần nên cấy ghép implant tức thì để chúng có thể giúp duy trì cơ chế sinh học của xương hàm. Nhờ đó bảo tồn được cấu trúc của gương mặt. Quan trọng là xóa bỏ các biến chứng do tình trạng mất răng lâu ngày gây nên.

    Tiết kiệm chi phí

    Không chỉ giúp rút ngắn thời gian điều trị, phương pháp cấy ghép này còn giúp tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân do kịp thời ngăn chặn được tình trạng tiêu xương, ghép xương xảy ra. Không chỉ vậy, cấy ghép xong một lần bạn cũng không phải tốn chi phí để di chuyển và qua lại nha khoa nhiều lần.

    Mang đến vẻ ngoài thẩm mỹ

    Đối với các vùng như răng cửa, nhóm răng tiền cối thì việc phục hình răng tức thì có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện vấn đề thẩm mỹ. Kỹ thuật cấy ghép răng hoàn hảo giúp cho bệnh nhân có thể cảm thấy tự tin hơn trong quá trình giao tiếp, trong cuộc sống hay cả trong công việc.

    Đảm bảo chức năng ăn nhai như răng thật

    Cấy ghép Implant là phương pháp hiện đại và tối ưu. Nó không chỉ đảm bảo được vẻ ngoài thẩm mỹ mà chức năng ăn nhai của răng còn được đảm bảo một cách tối đa nhất.

    Khi tiến hành cấy ghép Implant tức thì, bệnh nhân được tiến hành gây tê nên không hề gây đau đớn. Đồng thời, do chỉ cần được tiến hành phẫu thuật 1 lần cho cả nhổ răng và cấy ghép implant. Nên nhờ đó mà bệnh nhân sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng và dễ chịu hơn trong quá trình phẫu thuật.

    Giống như bất kỳ một phương pháp phục hình răng nào khác. Để đảm bảo cho răng luôn được bảo toàn chất lượng cũng như giúp bạn yên tâm về sức khỏe của mình. Thì việc lựa chọn một cơ sở nha uy tín là một điều vô cùng quan trọng.

    Nếu bạn đang phân vân không biết đâu là cơ sở uy tín để tiến hành cấy ghép Implant chất lượng. Thì chính là một sự lựa chọn hoàn hảo dành cho bạn. Với hơn 15 năm kinh nghiệm cùng đội ngũ bác sĩ giàu kỹ năng, kết hợp với máy móc hiện đại và chất lượng. Bạn hoàn toàn có thể yên tâm vì chất lượng mà dịch vụ cấy ghép răng Implant tức thì mang lại.

    Ưu đãi từ 10-60% cho nhiều dịch vụ điều trị khi đăng ký tư vấn & đặt hẹn online

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Bì Pp Ghép Giấy Là Gì?
  • Phương Pháp Cấy Ghép Implant Là Gì? 5 Ưu Điểm Của Phương Pháp Này Là Gì?
  • Phương Pháp Cấy Ghép Răng Implant Là Gì? Hiệu Quả Không?
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây
  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100