Skkn Phương Pháp Giảng Dạy Các Tác Phẩm Thơ Trữ Tình Trung Đại Việt Nam Lớp 7 Thông Qua Đặc Trưng Thể Loại

--- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất Cho Học Sinh Hà Nội
  • Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Thể Dục
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Thể Dục
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến Thời Đại Công Nghệ 4.0
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Và Hướng Dẫn Học Sinh Học Tốt Bộ Môn Gdcd Ở Trường Thpt
  • Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ trung đại chiếm một vị trí rất quan trọng. Bởi vì các tác phẩm văn học nói chung, thơ trung đại nói riêng là một bộ phận gắn liền với giai đoạn lịch sử phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam.

    Chúng ta có thể tìm thấy trong thơ trung đại những quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn. Đối với cấp THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ. cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.

    Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ trữ tình trung đại có nhiều điểm tương đồng. Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội đương thời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm. của người Việt Nam một cách sâu sắc.

    Các tác phẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường, thi pháp thơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc ở: ngôn ngữ hàm súc, nói ít gợi nhiều, ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại. Hiểu được các bài thơ này một cách thấu đáo đã là khó, song việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất nhiều. Thiết nghĩ, đó là vấn đề mà rất nhiều giáo viên dạy môn Ngữ văn rất trăn trở.

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT NAM LỚP 7 THÔNG QUA ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI Người thực hiện: Mai Thị Hồng Minh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Ba Đình SKKN thuộc môn: Ngữ văn BỈM SƠN NĂM 2022 MỤC LỤC Nội dung Trang 1. Mở đầu 1 1. 1. Lí do chọn đề tài 1 1.2. Mục đích nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 2.1. Cơ sở lí luận 3 2.2. Thực trạng vấn đề 3 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 13 3. Kết luận, kiến nghị 13 3.1. Kết luận 13 3.2. Kiến nghị 13 * Tài liệu tham khảo 15 * Phụ lục 16 I. MỞ ĐẦU: 1. Lí do chọn đề tài. Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ trung đại chiếm một vị trí rất quan trọng. Bởi vì các tác phẩm văn học nói chung, thơ trung đại nói riêng là một bộ phận gắn liền với giai đoạn lịch sử phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam. Chúng ta có thể tìm thấy trong thơ trung đại những quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn. Đối với cấp THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ... cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu. Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ trữ tình trung đại có nhiều điểm tương đồng. Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội đương thời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm... của người Việt Nam một cách sâu sắc. Các tác phẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường, thi pháp thơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc ở: ngôn ngữ hàm súc, nói ít gợi nhiều, ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại. Hiểu được các bài thơ này một cách thấu đáo đã là khó, song việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất nhiều. Thiết nghĩ, đó là vấn đề mà rất nhiều giáo viên dạy môn Ngữ văn rất trăn trở. Chương trình Ngữ văn THCS được biên soạn theo thể loại và phương thức biểu đạt nên thơ trung đại được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 7. Với đối tượng học sinh vừa chuyển lên cấp học mới được một năm, trong khi chương trình Ngữ văn không có một bài nào giới thiệu về tiến trình lịch sử văn học, mặt khác vốn sống, vốn hiểu biết về văn học của các em còn hạn chế thì việc tiếp nhận các tác phẩm thơ trung đại sẽ gặp những khó khăn nhất định. Vì vậy dẫn đến hiện tượng học sinh ngại học các tác phẩm thơ trung đại. Đây là một cản trở trong quá trình truyền thụ cho các em học sinh vẻ đẹp của các bài thơ thuộc giai đoạn này. Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn đó và đáp ứng được yêu cầu giảng dạy giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ các sách nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với học sinh để giúp các em vượt qua những khó khăn trên và dễ dàng cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các bài thơ trung đại. Sách Ngữ văn 7 có chú trọng bồi dưỡng cho học sinh lý thuyết về thể loại và rèn kỹ năng nhận diện thể loại của tác phẩm dù còn rất sơ lược, nhưng hơn ai hết giáo viên phải là người nắm vững đặc trưng kết cấu của từng thể loại cụ thể cùng đặc điểm hệ thống thi pháp của chúng (lục bát, song thất lục bát, ngâm khúc, tứ tuyệt, bát cú, ca, cổ phong mỗi thể loại có những yêu cầu riêng), đồng thời nắm chắc niêm, luật, vần, đối mà từng thể loại yêu cầu, thì mới có thể định hướng cho học sinh nhận diện thể loại một cách dễ dàng, chỉ cho các em biết cách vận dụng những yêu cầu đặc trưng của chúng để tập làm thơ theo từng thể loại. Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lịch sử văn học giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, nhưng bản thân tôi chưa thấy công trình nào đi sâu nghiên cứu về đặc trưng thể thơ để qua đó giúp học sinh tiếp cận các tác phẩm thơ trung đại. Các đồng nghiệp của tôi trong tổ Ngữ văn cũng luôn trăn trở tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn và đối tượng học sinh trong từng lớp, từng khóa học cụ thể, nhưng cũng chưa có đồng chí nào đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này. Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu, suy nghĩ, trăn trở để tìm ra cách tiếp cận hiệu quả nhất cho các em học sinh khi dạy các bài thơ trung đại. Đây là một vấn đề bản thân tôi cho là rất quan trọng trong việc dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung, và trong chương trình Ngữ văn lớp 7 nói riêng, đặc biệt là phần thơ trữ tình trung đại Việt Nam. Xuất phát từ những trăn trở như trên nên tôi đã nghiên cứu tìm tòi, tích lũy để đúc rút thành sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: "Phương pháp giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 7 thông qua đặc trưng thể loại". 1.2 Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc tiếp cận và cảm thụ tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại của thơ trữ tình trung đại Việt Nam để giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam. 1.3.Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7 trường THCS Ba Đình - Bỉm Sơn - Thanh Hóa 1.4.Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng và phối hợp nhiều phương pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau: a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này giúp chúng ta đi tìm hiểu sâu hơn từng thể loại thơ để từ đó chúng ta tìm ra được những phương pháp phù hợp khi giảng dạy các bài thơ trữ tình trung đại. b. Phương pháp điều tra, quan sát: Phương pháp này giúp chúng ta tìm ra được những phương pháp phù hợp nhất để giáo viên áp dụng vào quá trình giảng dạy cho từng bài thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7. c. Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm: Phương pháp này giúp chúng ta tìm hiểu được thực trạng của việc dạy của từng giáo viên, việc học ở học sinh từng lớp qua các bài thơ trữ tình trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS. d. Phương pháp đàm thoại: e. Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này giúp chúng ta kiểm nghiệm tính khả thi và tác dụng của các ý kiến đóng góp về phương pháp giảng dạy thơ trữ tình trung đại để từ đó điều chỉnh sao cho hợp lý hơn. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm: 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm: Việc dạy và học văn học trung đại Việt Nam nói chung và tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 7 nói riêng thì cho đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn cho người dạy lẫn người học. Để hiểu được sâu sắc những tác phẩm đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; dạy những tác phẩm đó cho người học hiểu được cái hay, cái đẹp của nó lại càng khó khăn gấp bội. Vấn đề có nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là rào cản ngôn ngữ bởi những tác phẩm ấy đều viết bằng ngôn ngữ Hán cổ và ngôn ngữ Việt cổ có phần khó hiểu với tiếng Việt hiện đại. Thêm vào đó là người tiếp nhận văn bản dù muốn hay không ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ tư tưởng thời trung đại, điển cố điển tích, thể loại văn học Chỉ bấy nhiêu thứ cũng đủ làm cho người dạy lẫn người học đau đầu, mệt trí thì thử hỏi làm sao mà lắng lòng, mà bình tâm để cảm nhận cho được cái hay cùng vẻ đẹp của nó qua cách biểu đạt rất kiệm lời của các bậc tiền bối đã gởi gắm trong từng câu chữ. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến. Các tác giả thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời. Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế... Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THCS tôi nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa về thời gian. Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứng thú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam. Chúng ta đều biết rằng văn học trung đại là bộ phận văn học đồng hành với sự phát triển của xã hội phong kiến. Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngày nay. Vì vậy tìm hiểu, phân tích một tác phẩm văn học Trung đại là việc làm không đơn giản. Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệu quả tốt. Mặc dù vậy vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ. Bản thân những người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tích cực nghiên cứu tìm hiểu các kiến thức. Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu quả dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Các điển tích, điển cố của văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần vănhọc quan trọng này. Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử dụng trong tác phẩm văn học cổ. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đât nước, chúng ta có những thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những phức tạp và những ảnh hưởng không lành mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ. Đặc biệt là đối tượng học sinh, trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở. Một bộ phận lớn học sinh chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực của XH chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu tự giác. Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần văn học khó nhất. Vì thế, chất lượng học sinh thuyên giảm. Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là sính học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của học sinh đối với môn Ngữ văn. Điều đó càng đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh, trong đó có phần văn học trung đại Việt Nam. Kết quả cụ thể thi khảo sát chất lượng học kì I năm học 2022 - 2022 khi tôi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm : " Phương pháp giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 7 thông qua đặc trưng thể loại" như sau: Lớp Sĩ số Giỏi Khá Tb 7B 40 SL % SL % SL % 3 10,7 19 53,6 18 35,7 Đó là lí do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài " Phương pháp giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 7 thông qua đặc trưng thể loại" với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong giảng dạy để dạy tốt các bài thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học môn ngữ văn ở trường THCS Ba Đình. 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: "Phương pháp giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 7 thông qua đặc trưng thể loại": 2.3.1. Hướng dẫn học sinh nắm được đặc trưng thi pháp của thơ trung đại Văn học Trung đại Việt Nam nói chung và Thơ trữ tình trung đại nói riêng được ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến phát triển. Nó phản ánh thực tế lịch sử xã hội phong kiến từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Đặc biệt là những biến động của xã hội và thân phận con người. Chủ đề xuyên suốt như sợi chỉ đỏ của thơ Trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Các tác giả thơ Trung đại Việt Nam chủ yếu là những người có địa vị xã hội, có những ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của xã hộiChính vì thế khi giảng dạy hoặc phân tích, bình giảng cần phải chú ý đến các đặc điểm cơ bản sau : * Quan niệm "Văn dĩ tải đạo" : Văn chương phải chuyên chở đạo lý. *Tính ước lệ, tượng trưng, quy phạm: Đây là đặc điểm nổi bật của văn thơ Trung đại. Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn thi liệu điển cố, điển tích lấy từ sách vở thánh hiền và kinh sách của các tôn giáo. Chẳng hạn nói đến cây và hoa thì tùng, trúc, cúc, mai, senbởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậctrượng phu; nói đến con vật thì phải long, ly, quy, phượng ; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; nói đến hoa bốn mùa thì phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen,đông sen; tả mỹ nhân thì làn thu thủy, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết * Tính giáo huấn, bác học,cao quý, trang nhã: Đối tượng, mục đích của văn thơ chủ yếu là đề cao thần quyền, cường quyền mang tính giáo hóa, giáo huấn con người với khuôn phép định sẵn. Ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thô tục, nếu có thì dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói thẳng * Cảm thức về thế giới con người thời Trung đại Việt Nam: Con người thấy mình trong tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ Vì thế khi nói về trời đất, về không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằng nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau như thời gian chu kỳ tuần hoàn,thời gian tuyến tính, thời gian vĩnh cửu, thời gian không gian được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhauCho nên con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội. Người Trung Quốc ý thức gia tộc, gia hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớ đến quê nhà (Tĩnh dạ tứ), cũng như trong thơ Đường luật của Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan nhìn cảnh đèo Ngang mà nhớ về quê cũ; với Bác Hồ trong bài : "Tức cảnh Pác Bó" thì đó là không gian bờ suối, hang đá * Cách biểu hiện: Cái tôi trữ tình hoà lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh, nó tỉnh lượt chủ ngữ, nó tan trong cảm xúc, cái tôi nó đạt tính phổ quát . * Cách diễn đạt: Gợi mà không tả, hoà quyện giữa thi, nhạc và hoạ. * Ngôn ngữ: Từ ngữ sử dụng ở thơ Đường là những từ ngữ quen thuộc nhưng lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú. Sở dĩ đạt được như thế là vì công phu tinh luyện của các nhà thơ. Vì thế, học thơ Đường là học tinh thần lao động và sáng tạo của nhà thơ với vốn từ hữu hạn. * Đề tài: Đề tài trong thơ Đường không lấy gì làm phong phú nhưng không hề trùng lặp vì những mối quan hệ từ ngữ. Vì thế phải hướng dẫn học sinh chú ý những từ ngữ đắc giá (nhãn tự) vì đó là những từ có tính khái quát cao. * Tứ thơ: Cái quan trọng nhất trong thơ Đường là tứ thơ. Tư duy thơ Đường là kiểu tư duy quan hệ, học sinh phải cảm nhận mối quan hệ giữa các sự vật trong không gian, quan hệ giữa con người với vũ trụ và quan hệ giữa con người với con người. Thơ ca nói chung cũng như thơ Đường nói riêng, nó không nói hết, không nói trực tiếp ý mình muốn nói mà để cho người đọc cùng suy nghĩ, cùng sáng tạo. Chính đặc điểm này đã tạo nên cái gọi là "ý tại ngôn ngoại", "ngôn tận ý bất tận". Nói gọn lại: chính đặc điểm này mà thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính biểu tượng. Nó gợi mà không tả để tạo nên một môi trường liên tưởng rộng. Vậy, ta giúp học sinh tham gia đồng sáng tạo cùng tác giả, học sinh cảm nhận được cái mạch ngầm của những tác 2.3.2. Thống kê các văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 7: Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách tiếp cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận. Cho nên, trước khi dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các văn bản thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho từng cụm bài, từng bài. Có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ thống sau: STT Tác phẩm Tác giả Thể loại 1 Sông núi nước Nam Lý Thường Kiệt ( tương truyền) Thất ngôn tứ tuyệt 2 Phò giá về kinh Trần Quang Khải Ngũ ngôn tứ tuyệt 3 Côn Sơn ca Nguyễn Trãi Lục bát 4 Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra Trần Nhân Tông Thất ngôn tứ tuyệt 5 Bánh trôi nước Hồ Xuân Hương Tứ tuyệt 6 Sau phút chia li Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm dịch) Song thất lục bát 7 Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh Quan Thất ngôn bát cú Đường luật 8 Bạn đến chơi nhà Nguyễn Khuyến Thất ngôn bát cú Đường luật Phần lớn các bài thơ Trung Đại Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong cách thơ Đường của Trung Quốc. Chính vì vậy, trong quá trình dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại, các tín hiệu nghệ thuật (chủ yếu là các thể thơ cổ điển, nghệ thuật đối, ước lệ, cách sử dụng từ ngữ) để trên cơ sở đó, dẫn dắt HS đi tìm cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm. 2.3.3.Khâu chuẩn bị phải chu đáo: - Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng nhuần nhuyễn đến mức thuộc thơ, sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu được thấu đáo nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hướng dẫn HS soạn kĩ ở nhà, kiểm tra kĩ bài soạn của HS, có biện pháp nhắc nhở, phê bình hay báo với giáo viên chủ nhiệm nếu HS có biểu hiện soạn chống đối như: soạn sơ sài, soạn nhưng chỉ là chép lại mà không hiểu, không nhớ. 2.3.4. Dạy học trên lớp phải theo từng bước cụ thể: Bước 1: Giáo viên nên hết sức coi trọng khâu kiểm tra sự chuẩn bị của HS, bởi đây chính là tiền đề quan trọng để HS cảm thụ được tác phẩm ngay trên lớp. Bước 2: Giáo viên cần chú ý khâu vào bài để tạo không khí phù hợp với bài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh, một câu chuyện... mang nội dung tư tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học. Bước 3: Với phần đọc văn bản: - Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng chính là bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch thơ. - Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động theo âm- vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật trữ tình, cái mà đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo lên sự đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả. Bước 4: Đối chiếu giữa phiên âm và dịch thơ - So sánh đối chiếu giữa phiên âm và dịch thơ để phát hiện những chữ dịch hay, thoát ý, sát ý và những chữ chưa dịch hay, thoát ý, sát ý. - Từ đó lưu ý học sinh để trong quá trình phân tích cần phát hiện để hiểu đúng, hiểu sâu văn bản. Bước 5: Với phần phân tích: * Cho học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Dạy thơ trung đại, cần lưu ý xác lập một cái nhìn biện chứng và lịch sử. Các tác phẩm văn học trung đại được sáng tạo và truyền bá trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tựu chung những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa của cuộc sống văn hoá, tinh thần của dân tộc đã in đậm dấu ấn trên những tác phẩm này. Nếu không đặt tác phẩm trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, bản thân tác giả.... nhiều khi chúng ta không thể hiểu, lí giải chính xác và thấu đáo những vấn đề trong tác phẩm. 2.3.5. Chú ý đến đặc trưng thể loại: Như tôi đã nói trên, một trong những cách chuyển tải tư tưởng, tình cảm của nhà thơ là lựa chọn thể thơ phù hợp với nhu cầu sáng tác của mình. Để

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Và Phương Pháp Dạy Học Người Lớn
  • Phương Pháp Sư Phạm Cho Người Lớn
  • Phương Pháp Giảng Dạy Nào Phù Hợp Cho Tất Cả Học Viên
  • Phương Pháp Giảng Dạy Và Huấn Luyện Chạy Ngắn Cho Học Sinh Thcs (Skkn Cấp Tp. Hà Nội)
  • Skkn Các Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Thuật Chạy Cự Li 100M
  • Một Số Phương Pháp Giảng Dạy Thơ Trữ Tình Trung Đại Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảng Viên Fpt Polytechnic Tập Huấn Về Phương Pháp Giảng Dạy Cdio
  • Đổi Mới Phương Pháp Tổ Chức Giảng Dạy Thực Hành Tdtt :: Xuất Bản
  • Cùng Topica Thay Đổi Từng Ngày Bằng Phương Pháp Giảng Dạy E
  • Khoa Sư Phạm Tiếng Anh
  • Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý
  • Đề tài “Một số phương pháp giảng dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7

    I.1. Lí do chọn đề tài.

    I.1.1 Cơ sở lí luận:

    Trong chương trình Ngữ văn 7 kì I, thơ trữ tình trung đại chiếm một vị trí khá quan trọng bao gồm bộ phận thơ trữ tình trung đại Việt Nam và các bài thơ trữ tình đời Đường của Trung Quốc. Các tác phẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường: ngôn ngữ rất hàm súc, nói ít gợi nhiều,ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại. Hiểu được các bài thơ này một cách thấu đáo đã là khó, việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất nhiều.

    Các tác phẩm thơ trung đại có nhiều bản phiên âm chữ Hán, chúng ta lâu nay thường gặp những khó khăn nằm trong những khó khăn chung của bộ phận văn học dịch. Mặc dù có bản dịch nhưng vẫn còn nhiều bản dịch chưa sát nguyên tác. Mặt khác, các bài thơ thời này thường ngắn và ý nghĩa thường ẩn sâu trong ngôn ngữ tác phẩm…Vì vậy, giáo viên thường dựa vào các bản dịch để giảng cho học sinh mà ít quan tâm đến nguyên tác. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc chuyển tải cái hay,cái đẹp của tác phẩm tới học sinh.

    Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn đó và đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ các sách nghiên cứu, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp,vừa sức với học sinh.

    I.2. Cơ sở thực tiễn:

    – Đối tượng để cảm và hiểu cái hay cái đẹp của các tác phẩm này là các HS lớp 7

    – Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ yếu hướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ mà sao nhãng bản phiên âm

    – Bên cạnh đó, văn chương không có tính năng ứng dụng, học sinh ngày càng xa rời văn chương. Đặc biệt, sách tham khảo, sách hướng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu… quá nhiều, vô hình chung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa.

    – Còn có nhiều ý kiến trao đổi về việc dạy thơ trữ tình trung đại, chưa đi đến một thống nhất chung.

    I.2. Mục đích nghiên cứu.

    – Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tự đặt ra câu hỏi: làm thế nào để cho các em hiểu thơ yêu thơ và say mê với thơ hơn, đặc biệt thơ trữ tình trung đại, để từ đó hình thành thói quen ham học và cảm thụ văn thơ.

    Tôi đã quyết định chon đề tài “Một số phương pháp giảng dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7“.

    I.3. Thời gian địa điểm.

    -Thời gian: năm học 2022 – 2022

    -Địa điểm: Trường THCS Nam Thái.

    -Phạm vi: lớp 7C.

    I.4. Phương pháp nghiên cứu:

    Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng và phối hợp nhiều phương pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau:

    – Phương pháp nghiên cứu tài liệu

    – Phương pháp điều tra, quan sát

    – Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm

    – Phương pháp đàm thoại

    – Phương pháp thực nghiệm

    I.5 Đóng góp về mặt lí luận, thực tiễn:

    – Với đề tài này, tôi mong học sinh hiểu thơ yêu thơ và say mê với thơ hơn, đặc biệt thơ trữ tình trung đại, để từ đó hình thành thói quen ham học và cảm thụ văn thơ để từ đó chất lượng học văn ngày càng được nâng lên.

    – Phương pháp giảng dạy thơ trữ tình: chú ý đến đặc trưng của thơ. Đặc biệt về mặt loại thể, khai thác hình tượng, tâm tư của tác giả hay của nhân vật trữ tình.

    Chương I: Tổng quan

    II.1.1. Nhìn chung về bộ phận thơ trữ tình trung đại lớp 7:

    Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ thống sau:

    II.1.2. Đặc trưng của thơ trữ tình trung đại lớp 7:

    – Thơ trữ tình trung đại là các văn bản nghệ thuật mẫu mực về hình thức (kết cấu, nghệ thuật sử dụng ngôn từ) và có giá trị cao ở nội dung (mượn cảnh hoặc việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế)

    – Những nét đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình trung đại:

    + Về nội dung: nghĩa bề mặt và nghĩa hàm ẩn

    + Về thể thơ: Các thể thơ Đường, gồm:Thất ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu bẩy chữ ), Ngũ ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu năm chữ ), Thất ngôn bát cú ( Bốn câu, mỗi câu tám chữ ) … Song chung quy lại , thơ Đường thường gồm 2 loại chính là Ngũ ngôn (mỗi câu 5 chữ) và Thất ngôn ( mỗi câu 7 chữ ). Các câu 1 ,2 , 4 hoặc chỉ có câu 2 , 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối. Hai thể thơ chính của Thơ Đường là Cổ thể ( gồm Cổ phong và Nhạc phủ ) và Cận thể ( hay Kim thể, gồm Luật thơ và Tuyệt cú ).

    Các thể thơ Việt Nam lục bát, song thất lục bát.

    + Nhịp thơ, âm điệu:

      Ví dụ: bài thơ “Phò giá về kinh”, ta thấy tâm trạng nhà thơ phấn khởi, tự hào khi gợi lại những chiến thắng oanh liệt. Chính cảm xúc ấy đã chi phối trực tiếp nhịp thơ nhanh, mạnh, dứt khoát như những chiến thắng dồn dập, vang dội của quân đội nhà Trần.

    + Vần thơ, thanh điệu:

      Ví dụ: gieo vần “ư” (trong bài “Nam quốc sơn hà”) “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư..Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” giọng điệu hùng hồn, lí lẽ sắc bén, Lí Thường Kiệt đã cho khẳng định: nước Nam là của người Nam, chân lí đó không thể thay đổi. Đồng thời thể hiện rõ niềm tin vào chính nghĩa, nhất định thắng lợi của quân ta và sự bại vong tất yếu của quân giặc.

    +Ngôn từ, chi tiết, hình ảnh thơ:

      Trong bài ” Thiên Trường vãn vọng” kết bài thơ là hình ảnh từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng ” Bạch lộ song song phi hạ điền”. Có thể nói thông qua hình ảnh này là cuộc sống thanh bình, yên ả chốn làng quê.

    +Phép tu từ:

      Ví dụ trong bài “Bánh trôi nước”, ẩn đằng sau việc miêu tả cái bánh trôi nước là hình ảnh người phụ nữ đẹp về cả hình thức lẫn tâm hồn nhưng cuộc đời truân chuyên lận đận. Qua đó tác giả ca ngợi họ và gián tiếp tố cáo XHPK.

    + Không gian và thời gian trong thơ trữ tình:

      Ví dụ trong bài ” Tĩnh dạ tứ”, trong đêm khuya thanh vắng, nhìn vầng trăng sáng tròn đầy, tác giả càng nhớ quê hương hơn.

    Hay bài ” Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” tác giả bộc lộ nỗi nhớ quê ngay trên chính mảnh đất quê hương ngay sau câu hỏi hồn nhiên của lũ trẻ.

    Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu.

    II.2.1. Thực trạng:

    *Về phía học sinh:

    – Nhiều học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn ngại học.

    *Về phía giáo viên:

    – Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ yếu hướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ.

    II.2.2. Đánh giá về thực trạng:

    – Học sinh không yêu thích các tác phẩm văn thơ xưa, lười đọc tác phẩm, soạn chống đối.

    – Kĩ năng hướng dẫn học sinh khai thác tác phẩm của giáo viên còn hạn chế

    Chương III: *Đối với khâu chuẩn bịMột số biện pháp dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7

    – Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng, hướng dẫn HS soạn kĩ ở nhà, kiểm tra kĩ bài soạn của HS.

    *Đối với hoạt động dạy học trên lớp lớp:

    – Về phía học sinh: cần chuẩn bị bài soạn chu đáo trên cơ sở hướng dẫn của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của giáo viên.

    Giáo viên chú ý khâu vào bài để tạo không khí phù hợp với bài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh… mang nội dung tư tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học.

      Ví dụ: khi học bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, giáo viên có thể cho HS nghe bài hát “Quê hương” của Đỗ Trung Quân.

    Với phần đọc văn bản:

    Đọc thơ :Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch thơ. Đọc diễn cảm, ngắt nghỉ đúng nhịp thơ.

    – Với phần phân tích:

    +Bố cục của bài :

    • Ví dụ, khi dạy bài thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), đây là một bài thơ tuân theo các quy định nghiêm ngặt của phong cách thơ Đường, vì vậy, giáo viên nên hướng dẫn HS khai thác theo bố cục của bài thất ngôn bát cú, gồm 4 phần đề – thực – luận – kết, ở mỗi phần luôn có sự song hành bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng.
    • Nhưng với bài thơ “Bạn đến chơi nhà” (Nguyễn Khuyến), vẫn là đề – thực – luận – kết, vẫn đủ 8 câu với niêm, luật, vần, đối rất chuẩn như luật thơ Đường quy định nhưng phá cách ở ý tưởng, ở cấu tứ bài thơ. Vì thế, khi dạy bài thơ này nên đi theo diễn biến tự nhiên quá trình cảm xúc của nhân vật trữ tình, nên chia bài thơ theo 3 ý như sau:

    1-Cảm xúc khi bạn tới chơi (câu 1)

    2-Cảm xúc về gia cảnh (câu 2 đến câu 7);

    3-Cảm nghĩ về tình bạn (câu 8)

    +Nhịp thơ, vần thơ, thanh điệu, âm hưởng:

      Với bài “Tụng giá hoàn kinh sư”, cần hướng dẫn HS thấy được tác dụng của việc sử dụng nhịp thơ nhanh, dồn dập nhằm diễn tả khí thế chiến thắng của tướng sĩ nhà Trần

    +Ngôn từ, chi tiết, hình ảnh thơ:

      Trong bài “Qua Đèo Ngang, đó là hệ thống các từ láy mang giá trị gợi hình gợi cảm: “lom khom”, gợi lên hình ảnh những tiều phu bóng dáng nhỏ bé, nhạt nhòa như muốn chìm lắng vào trong không gian núi rừng hui hắt, vắng lặng; “lác đác” gợi lên sự thưa thớt, vắng vẻ của những ngôi nhà chợ ven sông…Tất cả đều nhằm làm nổi bật lên bức tranh thiên nhiên đèo Ngang heo hút lúc chiều tà, ẩn trong đó là tâm trạng buồn bã cô đơn của người “lữ khách”

    +Phép tu từ:

      Ví dụ, câu thơ “Cử đầu vọng minh nguyệt. Cúi đầu tư cố hương” (trong bài “Tĩnh dạ tứ”). Nghệ thuật đối, đối về số lượng câu chữ, từ loại, cấu trúc ngữ pháp nói lên 2 tư thế, 2 tâm trạng, 2 đố tượng làm xúc động và trĩu lòng kẻ xa quê. Hành động ngẩng- cúi chỉ trong khoảnh khắc nhưng đủ chạm đến mối tình quê sâu sắc, luôn thường trực.

    +Phân tích tác phẩm phải gắn liền với thân thế, phong cách tác giả và hoàn cảnh xã hội nảy sinh tác phẩm.

    Phi lưu trực há tam thiên xíchNghi thị ngân hà lạc cửư thiên

      Ví dụ, phong cách thơ Lý Bạch : một tâm hồn phóng khoáng, tự do, hình ảnh thơ tươi sáng kỳ vĩ ,một người thích viễn du, thích thưởng ngoạn cái đẹp…:

    ( Vọng Lư Sơn bộc bố )

    Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây

    Dịch thơ : Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước

    Lý Bạch đã xây dựng một hình tượng thiên nhiên kì vĩ và hình ảnh thơ tráng lệ nhờ trí tưởng tượng mạnh mẽ, kì lạ, đạt đến mức điêu luyện. Chính bởi vậy mà Tô Đông Pha, đời Tống đã nhận xét ” Đây là bài thơ vịnh thác nước hay nhất.

    +Luôn có sự kết hợp hài hoà giữa phiên âm, dịch nghĩa với dịch thơ

      Chẳng hạn ,dạy bài “Vọng Lư Sơn bộc bố” ( Xa ngắm thác núi Lư ) của Lí Bạch, bản dịch thơ làm mất đi chữ ” quải”, dù dịch khá hay, khá sát. Chỉ với chữ ” quải” (treo) đã biến động thành tĩnh, từ thác nước chảy ào ào, thoắt cái đã biến thành dải lụa tráng mềm mại, rủ xuống im lìm. Ở bản dịch thơ thiếu từ “quải” nên chưa lột tả được sự biến đổi thần kì của thác nước.

    +Cảnh và tình được thể hiện trong tác phẩm: các thi nhân xưa thường tức cảnh sinh tình.

      Bài “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), cần chú ý hai bức tranh ngoại cảnh và tâm cảnh song song: ẩn bên trong bức tranh một Đèo Ngang hoang sơ, hiu hắt, vắng lặng khi chiều tà là nỗi lòng nhớ nước thương nhà của một con người cô đơn, nặng lòng hoài cổ.

    Lời bình thể hiện rõ nhất ở giọng điệu, cảm xúc, thái độ, độ tinh nhạy của mĩ cảm. Cho nên nó mang dấu ấn cá nhân người viết rất đậm. Người được xem là có chất văn, hồn văn hay không chủ yếu thể hiện ở những lời bình văn này. Và qua lời bình ấy, HS mới cảm nhận được cái hay của tác phẩm, ngâng cao hiệu quả của giờ học văn.

    *Khi hướng dẫn HS phân tích, cần chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí để khai thác nghệ thuật và nội dung của bài:

      Khi hướng dẫn HS phân tích hết bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, giáo viên có thể cho HS so sánh cụm từ “ta với ta” trong bài thơ này với cụm từ “ta với ta” trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan, trên cơ sở đó giáo viên có thể bình về tình cảm của Nguyễn Khuyến đối với bạn: Nếu “ta với ta” trong bài “Qua Đèo Ngang” là mình ta đối diện với chính ta, là sự cực tả nỗi cô đơn đang xâm chiếm toàn bộ cõi lòng người lữ khách thì “ta với ta” trong bài “Bạn đến chơi nhà” ấm áp tình bạn, ta với ta là tôi với bác, tuy hai mà một, là sự gắn bó thắm thiết của một tình bạn chân thành, trong sáng, cao đẹp.

    – Các câu hỏi đàm thoại ngoài tính chất xác định rõ ràng, phải có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợi tình cảm, cảm xúc, xúc động thẩm mỹ cho học sinh.

    – Câu hỏi phải vừa sức học sinh, thích hợp với khuôn khổ một giờ học trên lớp, vừa phải có khả năng “gợi vấn đề” suy nghĩ tìm tòi sáng tạo cho học sinh.

      Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy – học:

    Trong khi tiến hành tổ chức học sinh tiếp cận văn bản, đặc biệt những bài thơ có phiên âm chữ Hán, giáo viên có thể khéo léo phá bỏ hàng rào ngôn ngữ ấy bằng việc tổ chức học sinh vận dụng những kiến thức về “nghĩa của từ” (lớp 6 ) “Từ đồng nghĩa” “từ trái nghĩa” , từ “Hán Việt” (lớp 7) tạo ra một con đường mới mà học sinh có thể dễ dàng cảm nhận được văn bản Thơ chữ Hán một cách chủ động sáng tạo.

    Ngoài ra , trong các bài thơ đều là sự kết hợp của nhiều phương thức biểu đạt mà học sinh lớp 7 đã từng học :

    – Văn bản tự sự

    – Văn bản miêu tả

    – Văn bản biểu cảm

    *Đối với phần hướng dẫn về nhà:

    – Hướng dẫn HS soạn kĩ bài sau.

    * Kết luận: để giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 đạt hiệu quả cao, đòi hỏi người giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt với từng đối tượng học sinh, với từng bài dạy; bản thân người giáo viên cần tích cực đọc, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để có cái nhìn sâu rộng về tác phẩm, trên cơ sở đó từng bước hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc cảm thụ, đi tìm cái đẹp, cái hay của tác phẩm văn học. Thành công của một giờ dạy là không chỉ rèn cho HS năng lực cảm thụ văn học, mà quan trọng hơn, những tác phẩm văn học ấy đã có sự tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của học sinh.

    III.3.2. Kết quả thực nghiệm:

    PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊIII.1. Kết luận:

    Khi áp dụng phương pháp này, qua kiểm tra chất lượng bài 15 phút và 45 phút ở học kì I, tôi thu được kết quả như sau:

    III.2. Kiến nghị:

    – Do những hạn chế về kinh nghiệm của bản thân, cũng như thời gian nghiên cứu đề tài chưa nhiều nên không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.

    – Thư viện nhà trường nên bổ sung nguồn tài liệu mới giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của các tác giả thơ trữ tình trung đại Việt Nam .

    Nam Thái, ngày tháng 12 năm 2022 Người viếtVũ Thị LanPHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC

    – Các tài liệu văn học giới thiệu về các giai đoạn phát triển của văn học nước nhà gắn với các giai đoạn lịch sử của dân tộc.

    IV.1. Tài liệu tham khảo:

    – Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt – Tác giả: Trần Đình Chung

    – Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 7.

    IV.2. Phụ lục:

    – Bồi dưỡng nâng cao Ngữ văn 7.

      PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….1

    I.1.Lí do chọn đề tài…………………………………………………………………………1

    I.1.1. Cơ sở lớ luận…………………………………………………………………………..1

    I.1.2. Cơ sở thực tiễn………………………………………………………………………..2

    I.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………………….3

    I.3. Thời gian và địa điểm…………………………………………………………………4

    I.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………….4

    I.5. Đóng góp mới về mặt lí luận, thực tiễn…………………………………………5

      PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………………..6

    Chương I: Tổng quan……………………………………………………………………….6

    II.1.1. Nhìn chung về bộ phận thơ trữ tình trung đại lớp 7…………………….6

    II.1.2. Đặc trưng thơ trữ tình trung đại lớp 7……………………………………….7

    Chương II: Nội dung vấn đề cần nghiên cứu……………………………………..11

    II.2.1. Thực trạng…………………………………………………………………………..11

    II.2.2. Đánh giá thực trạng:……………………………………………………………..12

    Chương III: Một số biện pháp dạy thơ trữ tình trung đại 7…………………..14

    III.3.1. Một số biện pháp dạy học thơ trữ tình trung đại 7……………………14

    Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………29

    Phần IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC: …………………………30

    Phần V. NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG VÀ PHÒNG GIÁO

    V.1. Nhận xét của HĐKH trường:……………………………………………………31

    PHẦN V: NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG VÀ PHÒNG GD & ĐT.

    V.2. Nhận xét của HĐKH cấp phòng:………………………………………………32

    V.1. Nhận xét của hội đồng khoa học cấp trường.

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    V.2 Nhận xét của hội đồng khoa học phòng GD & ĐT.

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Lớn Học Như Thế Nào
  • Du Học Trung Học Canada Phương Pháp Giảng Dạy Của Giáo Viên
  • Điều Chỉnh Phong Cách Giảng Dạy Và Kế Hoạch Bài Học Để Phù Hợp Với Phong Cách Học Tập Của Học Sinh
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em.
  • Phúc Âm Hóa Đời Sống Gia Đình: Dạy Giáo Lý
  • Bàn Về Một Số Phương Pháp Dạy Thơ Trung Đại Việt Nam Ở Môn Ngữ Văn 7 Trong Nhà Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng, Phát Triển Chương Trình Đào Tạo Theo Cdio Và Giảng Dạy Học Phần Chuyên Môn Bằng Tiếng Anh Cho Khối Ngành Kinh Tế
  • Đổi Mới Chương Trình Đào Tạo Theo Mô Hình Cdio
  • Giáo Dục Thể Chất
  • Mô Hình Hệ Thống E
  • Dạy Giáo Lý Theo Định Hướng Truyền Giáo
  • PHÒNG GD & ĐT YÊN LẠC TRƯỜNG THCS LIÊN CHÂU BÀN VỀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở MÔN NGỮ VĂN 7 TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài. 1.Cơ sở lí luận: Văn thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được xác lập, đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi. Giai đoạn văn học này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệthuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bóvới truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một  bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng). Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn. Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trongviệc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ...cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu. Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như nhiều giáo viên giảng dạy văn học quan tâm. 2. Cơ sở thực tiễn: Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến. Các tác giả thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời. Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế... Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THCS chúng tôi nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa về thời gian. Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứng thú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam. Đó là lí do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài “Bàn về  một số phương pháp giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở Môn Ngữ văn 7 trong nhà trường THCS” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong giảng dạy để dạy tốt các bài thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học môn ngữ văn ở trường THCS. II. Mục đích nghiên cứu: - Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy, học thơ trữ tình trung đại Việt Nam. - Đề xuất những biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy, học thơ trữ tình trung đại Việt Nam. III. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam của giáo viên và học sinh lớp 7. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Khảo sát việc dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 7 để nắm bắt hiện trạng một cách chính xác. - Xây dựng cơ sở lí luận của phương pháp phát huy tính tích cực - Bước đầu đề xuất một số biện pháp trong dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 7 theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. PHẦN II :NỘI DUNG. I. Thống kê các văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 7: Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách tiếp cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận. Cho nên, trước khi dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các văn bản thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho từng cụm bài, từng bài. Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ thống sau: STT Tác phẩm Tác giả Thể loại 1 Sông núi nước Nam Lý Thường Kiệt Thất ngôn tứ tuyệt 2 Phò giá về kinh Trần Quang Khải Ngũ ngôn tứ tuyệt 3 Côn Sơn ca Nguyễn Trãi Lục bát 4 Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra Trần Nhân Tông Thất ngôn tứ tuyệt 5 Bánh trôi nước Hồ Xuân Hương Tứ tuyệt 6 Sau phút chia li Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm dịch) Song thất lục bát 7 Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh Quan Thất ngôn bát cú đường luật 8 Bạn đến chơi nhà Nguyễn Khuyến Thất ngôn bát cú Đường luật Như vậy, phần phần lớn các bài thơ Trung Đại Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong cách thơ Đường của Trung Quốc. Chính vì vậy, trong qúa trình dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại, các tín hiệu nghệ thuật (chủ yếu là các thể thơ cổ điển, nghệ thuật đối, ước lệ, cách sử dụng từ ngữ) để trên cơ sở đó, dẫn dắt HS đi tìm cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm. II. Một số nét khái quát về thơ trữ tình Trung đại Việt nam . 1. Đặc trưng thi pháp của thơ trung đại Văn học Trung đại Việt Nam nói chung và Thơ trữ tình Trung đại nói riêng được ra đời trong bối cảnh xã hội phongkiến phát triển. Nó phản ánh thực tế lịch sử xã hội phong kiến từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Đặc biệt là những biến động của xã hội và thân phận con người. Chủ đề xuyên suốt như sợi chỉ đỏ của thơ Trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Các tác giả thơ Trung đại Việt Nam chủ yếu là những người có địa vị xã hội, có những ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của xã hộiChính vì thế khi giảng dạy hoặc phân tích, bình giảng cần phải chú ý đến các đặc điểm cơ bản sau : * Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” : Vănchương phải chuyên chở đạo lý. *Tính ước lệ, tượng trưng, quy phạm: Đây là đặc điểm nổi bật của văn thơ Trung đại. Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn thi liệu điển cố, điển tích lấy từ sách vở Thánh Hiền và kinh sách của các tôn giáo. Chẳng hạn nói đến cây và hoa thì tùng, trúc, cúc, mai, senbởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậctrượng phu; nói đến con vật thì phải long, ly, quy, phượng ; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; nói đến hoa bốn mùa thì phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen,đông sen; tả mỹ nhân thì làn thu thủy, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết  * Tính giáo huấn, bác học,cao quý, trang nhã: Đối tượng, mục đích của văn thơ chủ yếu là đề cao thần quyền, cường quyền mang tính giáo hóa, giáohuấn con người với khuôn phép định sẵn. Ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thô tục, nếu có thì dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói thẳng * Cảm thức về thế giới con người thời Trung đại Việt Nam: Con người thấy mình trong tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ Vì thế khi nói về trời đất, về không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằng nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau như thời gian chu kỳ tuần hoàn,thời gian tuyến tính, thời gian vĩnh cửu, thời gian không gian được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhauCho nên con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội. Người Trung Quốc ý thức gia tộc, gia hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớ đến quê nhà (Tĩnh dạ tứ), cũng như trong thơ Đường luật của Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan nhìn cảnh đèo Ngang mà nhớ về quê cũ; với Bác Hồ trong bài : “Tức cảnh Pác Bó” thì đó là không gian bờ suối, hang đá * Cách biểu hiện: Cái tôi trữ tình hoà lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh, nó tỉnh lượt chủ ngữ, nó tan trong cảm xúc, cái tôi nó đạt tính phổ quát . * Cách diễn đạt: Gợi mà không tả, hoà quyện giữa thi, nhạc và hoạ. * Ngôn ngữ: Từ ngữ sử dụng ở thơ Đường là những từ ngữ quen thuộc nhưng lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú. Sở dĩ đạt được như thế là vì công phu tinh luyện của các nhà thơ. Vì thế, học thơ Đường là học tinh thần lao động và sáng tạo của nhà thơ với vốn từ hữu hạn. * Đề tài: Đề tài trong thơ Đường không lấy gì làm phong phú nhưng không hề trùng lặp vì những mối quan hệ từ ngữ. Vì thế phải hướng dẫn học sinh chú ý những từ ngữ đắc giá( nhãn tự) vì đó là những từ có tính khái quát cao. * Tứ thơ: Cái quan trọng nhất trong thơ Đường là tứ thơ. Tư duy thơ Đường là kiểu tư duy quan hệ, học sinh phải cảm nhận mối quan hệ giữa các sự vật trong không gian, quan hệ giữa con người với vũ trụ và quan hệ giữa con người với con người. Thơ ca nói chung cũng như thơ Đường nói riêng, nó không nói hết, không nói trực tiếp ý mình muốn nói mà để cho người đọc cùng suy nghĩ, cùng sáng tạo. Chính đặc điểm này đã tạo nên cái gọi là “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn tận ý bất tận”. Nói gọn lại: chính đặc điểm này mà thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính biểu tượng. Nó gợi mà không tả để tạo nên một môi trường liên tưởng rộng. Vậy, ta giúp học sinh tham gia đồng sáng tạo cùng tác giả, học sinh cảm nhận được cái mạch ngầm của những tác phẩm thơ ca. 2. Đặc điểm hình thức . Ở bậc Trung học cơ sở, thơ Đường luật các em được học một số thể thơ như: ngũ ngôn, thất ngôn với số dòng là tứ tuyệt, bát cú. Vậy, trước hết ta phải hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm hình thức của thể thơ này. a. Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật: - Thể thơ này, bài thơ có bốn dòng, mỗi dòng có năm chữ, vần ở cuối các câu một, hai, bốn hoặc cuối câu hai, bốn. - Xét về thanh điệu: tiếng thứ hai với thứ tư trong mỗi câu phải đối nhau và tiếng thứ hai, thứ tư trong mỗi cặp câu cũng phải đối nhau. Nghĩa là trong một dòng, nếu tiếng thứ hai là tiếng bằng thì tiếng thứ tư phải là tiếng trắc, và ngược lại nếu tiếng thứ hai là tiếng trắc thì tiếng thứ tư phải là tiếng bằng. b. Thể thơ thất ngôn bát cú: - Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có tám câu, mỗi câu có bảy chữ. - Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu một và các câu chẵn và là vần bằng. - Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau. Có khi đối ngay ở hai câu đề và trốn đối ở hai câu thực và hai câu luận. - Về niêm: Niêm nghĩa là dính. Câu một niêm với câu tám, câu hai niêm với câu ba, câu bốn niêm với câu năm, câu sáu niêm với câu bảy. - Về luật: Theo hệ thống thanh ngang. Cho phép: “ Nhất tam ngũ bất luận” và buộc phải: “ Nhị tứ lục phân minh”. Có luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng. c. Thất ngôn tứ tuyệt: - Là dạng rút gọn của thể thơ thất ngôn bát cú: gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ. - Vần: Vần bằng và là vần chân ở câu một, hai, bốn; có khi chỉ ở câu hai và câu bốn. KẾT CẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ Thất ngôn tứ tuyệt Thất ngôn bát cú Mục đích Phần 1 Khai Đề Giới thiệu tựa đề Phần 2 Thừa Thực Giải thích, triển khai tự đề Phần 3 Chuyển Luận Bàn luận ý nghĩa của bài Phần 4 Hợp Kết Tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ thái độ, tình cảm III. Thực trạng việc giảng- dạy các tác phẩm văn học trung đại ViệtNam trong nhà trường THCS hiện nay. 1.Về việc dạy của giáo viên : Chúng ta đều biết rằng văn học Trung đại là bộ phận văn học đồng hành với sự phát triển của xã hội phong kiến. Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngày nay. Vì vậy tìm hiểu, phân tích một tác phẩm văn học Trung đại là việc làm không đơn giản. Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệu quả tốt. Mặc dù vậy vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ. Bản thân những người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tích cực nghiên cứu tìm hiểu các kiến thức. Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu quả dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Các điển tích, điển cố của văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần văn học quan trọng này. 2.Việc học của học sinh: Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử dụng trong tác phẩm văn học cổ. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đât nước, chúng ta có những thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những phức tạp và những ảnh hưởng không lành mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ. Đặc biệt là đối tượng học sinh, trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở. Một bộ phận lớn học sinh chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực của XH chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu tự giác. Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần văn học khó nhất. Vì thế, chất lượng học sinh thuyên giảm. Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là sính học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của học sinh đối với môn Ngữ văn. Điều đó càng đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh, trong đó có phần văn học trung đại Việt Nam. IV. Một số phương pháp dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7 1. Đối với khâu chuẩn bị - Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng nhuần nhuyễn đến mức thuộc thơ, sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu được thấu đáo nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hướng dẫn HS soạn kĩ ở nhà, kiểm tra kĩ bài soạn của HS, có biện pháp nhắc nhở, phê bình hay báo với giáo viên chủ nhiệm nếu HS có biểu hiện soạn chống đối như: soạn sơ sài, soạn nhưng chỉ là chép lại mà không hiểu, không nhớ. 2. Đối với hoạt động dạy học trên lớp lớp: Bước 1: Giáo viên nên hết sức coi trọng khâu kiểm tra sự chuẩn bị của HS, bởi đây chính là tiền đề quan trọng để HS cảm thụ được tác phẩm ngay trên lớp. Bước 2: Giáo viên cần chú ý khâu vào bài để tạo không khí phù hợp với bài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh... mang nội dung tư tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học. Bước 3: Với phần đọc văn bản: - Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng chính là bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch thơ - Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động theo âm- vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật trữ tình, cái mà đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo lên sự đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả Bước 4: Với phần phân tích: * Cho học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Dạy thơ trung đại, cần lưu ý xác lập một cái nhìn biện chứng và lịchsử. Các tác phẩm văn học trung đại được sáng tạo và truyền bá trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tựu chung những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa của cuộc sống văn hoá, tinh thần của dân tộc đã in đậm dấu ấn trên những tác phẩm này. Nếu không đặt tác phẩm trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, bản thân tác giả.... nhiều khi chúng ta không thể hiểu, lí giải chính xác và thấu đáo những vấn đề trong tác phẩm. * Chú ý đến đặc trưng thể loại: Cho học sinh tìm hiểu về thể loại và đặc trưng của từng thể loại. Mỗi thể loại văn học trung đại nói chung, Thơ trung đại nói riêng có dạng thức tồn tại và phương thức biểu đạt nhất định. Phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại là đi vào thi pháp- đi lại con đường của người sáng tác để có thể thâm nhập và hiểu tác phẩm được dễ dàng. Cho học sinh nắm được thi pháp của thơ trung đại. Thơ Đường luật gồm có các thể thơ: Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú...Dạy thơ Đường luật thất ngôn bát cú ( thể thơ được học nhiều ở THCS)cần chú ý các đặc điểm về vần, niêm luật, đối và kết cấu, ngôn ngữ. Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), đây là một bài thơ tuân theo các quy định nghiêm ngặt của phong cách thơ Đường. Vì vậy, giáo viên có thể hướng dẫn HS khai thác theo bố cục của bài thất ngôn bát cú, gồm 4 phần đề - thực – luận – kết. Ở mỗi phần luôn có sự song hành bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng, giáo viên cần chú ý hướng dẫn HS khai thác tìm hiểu. Hoặc chia bài bát cú thành 2 phần: bốn câu đầu gọi là “nửa trên” thì nặng cảnh nhẹ tình ; bốn câu sau gọi là “nửa dưới” thì nặng tình nhẹ cảnh. Nhưng với bài thơ “Bạn đến chơi nhà” (Nguyễn Khuyến), vẫn là đề - thực - luận-kết với niêm, luật, vần, đối rất chuẩn như luật thơ Đường quy định nhưng phá cách ở ý tưởng, ở cấu tứ bài thơ. Vì thế, khi dạy bài thơ này nên đi theo diễn biến tự nhiên quá trình cảm xúc của nhân vật trữ tình, nên chia bài thơ theo 3 ý như sau: 1-Cảm xúc khi bạn tới chơi (câu 1); 2-Cảm xúc về gia cảnh (câu 2 đến câu 7); 3-Cảm xúc về tình bạn (câu 8) * Suy ngẫm để thấy các tầng ý nghĩa sau những ngôn từ hàm súc.   Ngắn gọn, hàm súc vốn là những tiêu chuẩn của cái hay, cái đẹp trong hoạt động nghệ thuật ngôn từ thuở trước. Bởi vậy nếu chỉ đọc và suy diễn qua loa sẽ không thể hiểu, cảm thụ hết giá trị của tác phẩm. Cần đọc chậm, đi sâu từng bước và thường xuyên đọc đi đọc lại để suy ngẫm.    VD: Nếu không tìm hiểu kĩ, ta chỉ thấy được nội dung tả cảnh đèo núi lúc chiều tà trong 4 câu thơ sau: “ Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà.” ( “Qua đèo Ngang”- Bà Huyện Thanh Quan) Thực ra 4 câu thơ tả ít mà gợi nhiều. Tả cảnh đèo Ngang hoang vắng trong buổi hoàng hôn, qua đó mà gửi gắm tâm trạng, tình cảm cô đơn, buồn nhớ dằng dặc trong lòng người lữ khách. Đó chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, là tính hàm súc “ý tại ngôn ngoại” thường thấy trong thơ văn trung đại. * Khai thác đặc trưng về ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm trung đại. - Về ngôn ngữ thơ đã là thơ thì ngôn ngữ phải cô đọng, hàm súc, giàuhình tượng, cảm xúc... Ngôn ngữ thơ Trung đại ảnh hưởng ngôn ngữ của Đường thi càng như thế. Đặc biệt các bài thơ tuyệt cú, bát cú dùng rất ít chữ. Cho nên người làm thơ Đường coi trọng từng chữ một. Ngôn ngữ thơ Đường bao giờ cũng súc tích, công phu, điêu luyện. Thơ Đường nói riêng và thơ nói chung thường có “nhãn tự” hoặc “thi nhãn” (những chữ mà thơ dùng hay nhất, khéo nhất, thể hiện rõ nhất cái “thần” của câu thơ). Một bài thơ có thể có một, hai “nhãn tự” cũng có thể không có “nhãn tự” . VD: ở bài “Nam quốc sơn hà”, chữ “Nam quốc”, “Nam đế”; trong “Truyện Kiều”những chữ như “tót” trong câu “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “lẻn” trong “ Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, hay “ngây” trong câu “Lạ cho mặt sắt cũngngây vì tình”...đều có thể coi là “nhãn tự”; Với bài thơ “ Qua đèo Ngang ” cụm từ “Ta với ta” là nhãn tự . tác giả sử dụng nghệ thuật điệp đại từ “ta” sáng tạo để cho thấy nữ thi sỹ Bà Huyện thanh quan đang đối diện với chính nỗi buồn, cô đơn, nỗi nhớ của mình đã cực tả nỗi cô đơn đến mức tuyệt đối. - Khi khai thác bài, giáo viên cần chú ý đến hệ thống từ ngữ được sử dụng, đó là các tính từ, các từ láy gợi hình gợi cảm, các động từ, các hình ảnh thơ... để thể hiện sâu sắc, rõ nét bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình. VD: Trong bài “Qua Đèo Ngang, đó là hệ thống các từ láy mang giá trị gợi hình gợi cảm: “lom khom”, gợi lên hình ảnh những tiều phu bóng dáng nhỏ bé, nhạt nhòa như muốn chìm lắng vào trong không gian núi rừng hiu hắt, vắng lặng; “lác đác” gợi lên sự thưa thớt, vắng vẻ của những ngôi nhà chợ ven sông...Tất cả đều nhằm làm nổi bật lên bức tranh thiê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy “Người Lớn”
  • Giới Thiệu 5 Cuốn Sách Hay Về Phương Pháp Giảng Dạy Nghiên Cứu
  • Khóa Đào Tạo Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Mầm Non Và Tiểu Học
  • Cập Nhật Phương Pháp Dạy Tiếng Anh
  • Hiểu Phong Cách Học Tập Của Bạn
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp So Sánh Trong Giảng Dạy Các Tác Phẩm Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Tác Động Của Một Dự Án Hoặc Chương Trình Phát Triển: Phương Pháp Propensity Score Matching
  • So Sánh Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Hiếu Khí Và Kỵ Khí * Tin Cậy
  • Bài 4: Hiếu Khí, Kỵ Khí Và Các Loại Phân Hủy
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Sản Phẩm Hiện Đại (Phần 1)
  • So Sánh Các Phương Pháp Sản Xuất Tinh Dầu
  • Văn học là một môn học quan trọng trong chương trình phổ thông vì nó có tác dụng rất lớn đến việc giúp các em học sinh có một thế giới quan, nhân sinh quan nhân đạo và tiến bộ; giúp các em có một vốn tri thức về tiếng Việt để bước vào cuộc sống. Bên cạnh đó, văn học còn giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách. Các em đã được tiếp cận môn Văn từ thuở nhỏ qua những câu hát ru của bà, của mẹ, qua những câu chuyện cổ tích. Khi lớn lên, các em tiếp cận với Văn học nhiều hơn qua các bài học trong chương trình. Nhưng có một điều đáng bàn là lớn lên, trưởng thành hơn, trong quá trình học tập thì một bộ phận học sinh có xu hướng “lạnh lùng” với môn Văn. Để lí giải thực trạng này các cấp quản lí giáo dục, những người tâm huyết với môn Văn đã đưa ra nhiều nguyên nhân khác nhau như vấn đề đầu ra với học sinh ban Xã hội nói chung và môn Văn nói riêng; chương trình sách giáo khoa còn nặng, ít chất văn nhưng một thực tế mà nhiều người phải công nhận là phương pháp dạy và học môn văn trong nhà trường còn không ít bất cập. Bên cạnh đó, những năm gần đây với việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới các dạng đề thi nhất là đề thi THPT Quốc gia đòi hỏi phải đổi mới cách dạy và học văn Để các em học môn Văn đạt hiệu quả cao, có hứng thú trong các giờ học cũng như tham gia tốt trong các kỳ thi và đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hoặc nghề nghiệp sau này, trong quá trình giảng dạy, cá nhân tôi đã cố gắng tìm tòi nhiều phương pháp khác nhau để truyền thụ cho học sinh, ví dụ như phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp phân tích, phương pháp giảng bình

    Nhìn một cách chung nhất thì khi tiếp cận tác phẩm Văn học, học sinh thường rất khó khăn bởi có quá nhiều điều phức tạp, thêm vào đó các em lại không muốn vướng vào các vấn đề dài dòng khó hiểu. Vậy có cách nào giúp các em không?

    MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG Phần 1: Mở đầu 1 1.1 Lí do chọn đề tài 1 1.2 Mục đích nghiên cứu 1 1.3. Đối tượng nghiên cứu 3 1.4. Phương pháp nghiên cứu 3 Phần 2: Nội dung SKKN 3 2.1. Cơ sở lí luận của SKKN 3 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 4 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1. Tìm hiểu các kiểu bài so sánh văn học 5 2.3.2 Cách giảng bài cảm thụ văn học bằng phương pháp so sánh 9 2.3.3 Thực hành ứng dụng phương pháp so sánh trong một số đề thi học sinh giỏi cấp trường, học sinh giỏi cấp tỉnh, thi tuyển sinh đại học và đề thi THPT Quốc gia 13 2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường. 18 Phần 3: Kết luận, kiến nghị 19 3.1. Kết luận 19 3.2. Kiến nghị 20 PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài Văn học là một môn học quan trọng trong chương trình phổ thông vì nó có tác dụng rất lớn đến việc giúp các em học sinh có một thế giới quan, nhân sinh quan nhân đạo và tiến bộ; giúp các em có một vốn tri thức về tiếng Việt để bước vào cuộc sống. Bên cạnh đó, văn học còn giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách. Các em đã được tiếp cận môn Văn từ thuở nhỏ qua những câu hát ru của bà, của mẹ, qua những câu chuyện cổ tích... Khi lớn lên, các em tiếp cận với Văn học nhiều hơn qua các bài học trong chương trình. Nhưng có một điều đáng bàn là lớn lên, trưởng thành hơn, trong quá trình học tập thì một bộ phận học sinh có xu hướng "lạnh lùng" với môn Văn. Để lí giải thực trạng này các cấp quản lí giáo dục, những người tâm huyết với môn Văn đã đưa ra nhiều nguyên nhân khác nhau như vấn đề đầu ra với học sinh ban Xã hội nói chung và môn Văn nói riêng; chương trình sách giáo khoa còn nặng, ít chất văn nhưng một thực tế mà nhiều người phải công nhận là phương pháp dạy và học môn văn trong nhà trường còn không ít bất cập. Bên cạnh đó, những năm gần đây với việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới các dạng đề thi nhất là đề thi THPT Quốc gia đòi hỏi phải đổi mới cách dạy và học văn Để các em học môn Văn đạt hiệu quả cao, có hứng thú trong các giờ học cũng như tham gia tốt trong các kỳ thi và đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hoặc nghề nghiệp sau này, trong quá trình giảng dạy, cá nhân tôi đã cố gắng tìm tòi nhiều phương pháp khác nhau để truyền thụ cho học sinh, ví dụ như phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp phân tích, phương pháp giảng bình Nhìn một cách chung nhất thì khi tiếp cận tác phẩm Văn học, học sinh thường rất khó khăn bởi có quá nhiều điều phức tạp, thêm vào đó các em lại không muốn vướng vào các vấn đề dài dòng khó hiểu. Vậy có cách nào giúp các em không? 1.2. Mục đích nghiên cứu 1.2.1. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm đối với giáo viên Những năm gần đây, đề thi tuyển sinh, thi THPT Quốc gia, học sinh giỏi các cấp có dạng đề so sánh văn học. Vì vậy, SKKN Sử dụng phương pháp so sánh trong giảng dạy các tác phẩm văn học" sẽ giúp giáo viên Ngữ văn có cái nhìn toàn diện hơn khi hướng dẫn học sinh so sánh tác phẩm văn học và thực sự chú ý hơn trong việc rèn kĩ năng so sánh văn học cho học sinh, đồng thời xác định được hướng dạy, hướng ôn tập, hướng khai thác tác phẩm và hướng ra đề kiểm tra nhằm đáp ứng yêu cầu đề thi tuyển sinh, đề thi học sinh giỏi các cấp, đề thi THPT Quốc gia. Bên cạnh đó, SKKN Sử dụng phương pháp so sánh trong giảng dạy các tác phẩm văn học" chắc chắn sẽ đưa ra những vấn đề cơ bản của chuyên môn, nảy sinh những tranh luận, hoặc những ý kiến bổ sung, góp ý thêm. Vì thế, SKKN còn góp phần thúc đẩy và khơi dậy phong trào học hỏi, tìm tòi, sáng tạo của các thầy cô bộ môn Văn. Mục đích của dạng bài so sánh văn học này là để chỉ ra được chỗ giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng được so sánh từ đó thấy được điểm kế thừa, cách tân của từng khuynh hướng văn học, giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm,thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác giả, tác phẩm, sự đa dạng trong phong cách nhà văn, góp phần hình thành kỹ năng lí giải nguyên nhân của sự giống nhau, khác nhau giữa các hiện tượng văn học. Đối tượng của so sánh văn học rất đa dạng, để cảm thụ một số tác phẩm văn học dưới dạng so sánh đạt hiệu quả cao đòi hỏi người học sinh không chỉ nắm vững kiến thức cơ bản mà còn phải nắm sâu, có năng lực cảm thụ tốt, tư duy khái quát caoNếu là học sinh có năng lực thấp hoặc trung bình chắc các em sẽ khó có thể tìm ra điểm tương đồng, khác biệt lại càng không thể lí giải được nguyên nhân vì sao lại như thế, không biết được nét riêng biệt, độc đáo của các nhà văn, nhà thơNhư vậy, giáo viên căn cứ vào đây dễ dàng phân loại được học sinh và lựa chọn được những học sinh chất lượng tốt cho các đội tuyển. 1.2.2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm đối với học sinh Trước đây thường có bộ đề thi và những bài văn mẫu có sẵn nên học sinh đa phần chỉ cần học thuộc lòng là đủ đáp ứng yêu cầu thi cử và yêu cầu học tập. Song với việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay, cách dạy và học cũ đã không còn phù hợp. Học sinh tránh được lối học vẹt, học tủ, thụ động. Khi sử dụng phương pháp so sánh trong giảng dạy tác phẩm văn học: học sinh phải có một hệ thống kiến thức hoàn thiện từ tác giả, tác phẩm đến giai đoạn văn học thậm chí là cả lí luận văn họcĐể làm tốt phương pháp so sánh đòi hỏi học sinh phải nhận ra những nét tương đồng, khác biệt dù là nhỏ nhất, những kế thừa, cách tân, nét riêng của từng tác giả, tác phẩm, qua đó đánh giá được chính xác những đóng góp của mỗi nhà văn, nhà thơ. Đồng thời với việc sử dụng phương pháp so sánh học sinh không chỉ nắm vững, nắm sâu tác phẩm mà còn khám phá ra cái hay, cái đẹp sẽ giúp học sinh có một năng lực cảm thụ tốt, tinh tế, phát huy được năng khiếu, sở trường, cách suy nghĩ của mình, từ đó nâng cao hơn chất lượng học tập. Không chỉ vậy, để làm tốt phương pháp so sánh văn học, học sinh còn cần phải có một quá trình tích luỹ cộng với lòng yêu thích và say mê tìm tòi, khám phá môn Ngữ văn. Chính điều đó đã thắp lên ngọn lửa của sự đam mê khiến các em ngày càng thích thú và gắn bó với môn học Ngữ văn hơn. 1.2.3. Đáp ứng được yêu cầu của xu hướng đề thi hiện nay Gần đây trong đề thi tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là ở kỳ thi THPT Quốc gia, ở câu nghị luận văn học (4,0 hoặc 5,0 điểm) có thể xuất hiện dạng đề so sánh. Bên cạnh đó, các kỳ thi học sinh giỏi các cấp cũng rất chú trọng dạng đề này. Vì vậy: Sử dụng phương pháp so sánh trong giảng dạy các tác phẩm văn học" chính là giúp thầy cô và các em đáp ứng tốt yêu cầu của xu hướng ra đề thi hiện nay 1.3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm văn học trung đại, văn học hiện đại trong chương trình THPT, áp dụng cho học sinh lớp 10, 11, 12 trường THPT Quảng Xương 2. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết có kết quả yêu cầu, nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp lí luận như: -Phương pháp thống kê -Phương pháp phân loại, phân tích -Phương pháp so sánh -Phương pháp tổng hợp Cùng với một số phương pháp nghiên cứu thực tiễn như : -Phương pháp quan sát, điều tra -Phương pháp trải nghiệm thực tế giảng dạy -Sử dụng sách tham khảo, tài liệu trên mạng internet PHẦN 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Trong kỳ họp của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình phổ thông, đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là "Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới" . Chính vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn đã viết rằng môn Ngữ văn là một môn học công cụ. Năng lực sử dụng tiếng Việt và tiếp nhận tác phẩm văn học mà môn học này trang bị cho học sinh là công cụ để học sinh học tập và sinh hoạt, nhận thức về xã hội và con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đặc biệt là tư tưởng nhân văn và tình cảm thẩm mĩ. Do đó nhiệm vụ của chương trình môn Ngữ văn là cung cấp kiến thức về Văn học, trang bị những đánh giá, nhận định về tác gia, tác phẩm, nâng cao năng lực thẩm mĩ, kỹ năng sống... Học sinh học Ngữ văn không phải chỉ đọc hiểu các loại văn bản, viết các loại văn bản thông dụng, nói đúng phong cách ngôn ngữ, mà còn biết đọc - hiểu, giao tiếp với loại văn bản phức tạp nhất, là văn bản văn học nghệ thuật. Hiểu được tính chất của bộ môn, chúng ta sẽ thấy, chỉ dạy văn học theo lối "giảng văn" truyền thống, thầy giảng trò nghe một cách thụ động thì không thể đào tạo ra những thế hệ học sinh mới được. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực; tự giác, chủ động, sáng tạo cuả học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh cũng như đáp ứng yêu cầu của các đề thi tuyển sinh, nhất là đề thi THPT Quốc gia. Với những căn cứ đó, bản thân đã cố gắng tìm tòi và phát huy những phương pháp dạy học tích cực trong đó có "Sử dụng phương pháp so sánh trong giảng dạy các tác phẩm văn học". 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Trên thực tế ta nhận thấy việc học nói chung và việc giảng dạy môn văn nói riêng vẫn luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đông đảo các nhà nghiên cứu, mọi tầng lớp nhân dân. Đội ngũ giáo viên luôn nỗ lực tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học nhằm đem lại kết quả tốt nhất cho hoạt động dạy và học, hướng tới nhận thức và tình cảm của học sinh. Tuy nhiên: Về phía giáo viên: giáo viên gặp không ít những khó khăn thử thách như tư liệu dạy học khan hiếm, trong phân phối chương trình những tiết làm văn dưới kiểu bài so sánh văn học chưa nhiều nên tư liệu dạy học rất ít. Do phân phối chương trình và thời gian lên lớp ngắn nên hầu hết các giáo viên chỉ chú ý đi sâu, đào kĩ vào các vấn đề trung tâm tác phẩm, ít có điều kiện giảng tác phẩm bằng phương pháp so sánh, nếu có cũng chỉ là sự liên hệ mở rộng chứ chưa đi sâu vào các phương diện cụ thể. Thêm vào đó kĩ năng so sánh còn hạn chế, ngại đầu tư công sức... Về phía học sinh: hiện nay hứng thú học văn ở học sinh đã giảm sút đáng kể. Học sinh thờ ơ với bộ môn, quá trình học không phải là quá trình tìm tòi khám phá mà miễn cưỡng bắt buộc. Từ tư tưởng ấy dẫn đến kết quả không chỉ cảm thụ sai tác phẩm mà năng lực rung cảm của học sinh cũng dần bị xói mòn. Đây là vấn đề khiến chúng ta phải lưu tâm. Không chỉ vậy, phần nhiều học sinh còn lúng túng, chưa có kĩ năng so sánh văn học: so sánh văn học đòi hỏi học sinh phải tổng hợp nhiều kĩ năng. Những dạng bài so sánh thường khó, phức tạp đòi hỏi học sinh phải có tư duy tổng hợp. Bên cạnh đó, học sinh sử dụng tài liệu tham khảo nhiều, nhiều tài liệu chất lượng kém. Học sinh bị lúng túng, thiếu tự tin, thiếu sự tìm tòi đánh giá, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Thực tế hiện nay, học sinh bị hổng kiến thức từ các lớp học dưới, học trước quên sau, cho nên khi tiếp thu kiến thức ở mức độ cao và sâu còn hạn chế. Phần lớn học sinh chỉ biết diễn xuôi nội dung một cách cứng nhắc và gượng ép, vụng về, chưa biết cách đối chiếu so sánh giữa các văn bản với nhau. Tác phẩm văn học trong nhà trường thường là những tác phẩm nghệ thuật đã được cân nhắc, lựa chọn rất kĩ, có giá trị lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn giá trị nghệ thuật. Vì vậy để khám phá hết những cái hay, cái đẹp của một văn bản không phải là một điều dễ dàng, đặt ra nhiều thử thách với giáo viên: làm thế nào để có thể hướng dẫn dẫn học sinh chiếm lĩnh hết được những giá trị tác phẩm. Chính vì con đường khám phá có tính chất "mở" như vậy mà thời gian có hạn, nên đòi hỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm bài dạy, thiết kế giáo án phù hợp với đối tượng. Nhất là nên tìm những phương pháp khác nhau để giúp học sinh tiếp cận đến đích văn bản. Vì vậy, tôi mong muốn trình bày một vài suy nghĩ, giải pháp của bản thân về giảng dạy tác phẩm bằng phương pháp so sánh. Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú học tập của các em học sinh cũng như giúp các em đạt kết quả cao trong học tập, trong thi cử. Mong rằng sẽ nhận được sự góp ý, bổ sung chân thành của bạn bè, đồng nghiệp .... 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề Trong quá trình giảng dạy ở nhà trường tôi đã rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân (mặc dù những kinh nghiệm ấy còn chưa nhiều). Tôi nghĩ rằng, một tiết học hấp dẫn và đạt hiệu quả phải có những phương pháp phù hợp của giáo viên nhằm thu hút học sinh. Từ những suy nghĩ ban đầu, tôi đem nó thực hiện vào quá trình giảng dạy và đã đạt những hiệu quả nhất định. Đó là giảng dạy tác phẩm văn học bằng phương pháp so sánh. Cách thức tiến hành như sau: 2.3.1. Tìm hiểu các kiểu bài so sánh văn học a. Khái niệm về so sánh Theo Từ điển Tiếng Việt thì "so sánh là nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém". Từ những khái niệm trên vận dụng vào việc rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh, có thể thấy so sánh giúp cho học sinh hiểu rõ hơn đối tượng (có thể là những chi tiết, nhân vật, hình tượng, quan niệm) cảm nhận được những mới mẻ, độc đáo của đối tượng cũng như những sáng tạo của nghệ sĩ. Bởi vậy, trong quá trình nhận thức người ta thường so sánh để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng để có được những nhận xét, đánh giá chính xác - So sánh các tác phẩm - So sánh các đoạn tác phẩm (hai đoạn thơ hoặc hai đoạn văn xuôi) - So sánh các nhân vật văn học - So sánh các tình huống truyện - So sánh các chi tiết nghệ thuật - So sánh nghệ thuật trần thuật - So sánh cái tôi trữ tình giữa các bài thơ - So sánh cách kết thúc tác phẩm -So sánh hai lời nhận định về một tác phẩm Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học. Vì vậy ta có thể chia ra thành các kiểu bài so sánh văn học như sau: b.1. So sánh các tác phẩm Đây là trường hợp hai tác phẩm trọn vẹn được yêu cầu phân tích, đối sánh với nhau. Đó có thể là tác phẩm thơ hoặc tác phẩm thuộc thể loại khác. Tuy nhiên, đây là một dạng đề bài có biên độ so sánh khá rộng nên có lẽ sẽ không xuất hiện thường xuyên. Thường thì đối tượng so sánh là các bài thơ ngắn. Sau khi giáo viên giảng dạy xong một số tác phẩm hoặc trong quá trình giảng dạy một tác phẩm nào đó giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu so sánh. Ví dụ 1: Anh/chị hãy phân tích, so sánh bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và đoạn trích Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm. Ví dụ 2: Cảm hứng về dòng sông trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường Ví dụ 3: Cảm hứng đất nước qua Việt Bắc và Tây Tiến. b.2. So sánh đoạn thơ, đoạn văn Đối với dạng bài này, phải thâm nhập được vào các đoạn thơ, đoạn văn, xem xét chúng như những đơn vị nghệ thuật độc lập lại vừa phải đặt chúng trong mối liên hệ với chỉnh thể để việc phân tích, luận giải được thỏa đáng hơn. Ví dụ 1: Tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong cảm nhận về sự sống trần gian qua 2 đoạn thơ sau "Còn xa lắm mới tới cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng." (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân) "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại." (Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường) b.3. So sánh ở cấp độ các vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm (hoặc của đoạn thơ, đoạn văn) Những bài văn thuộc dạng này có thể yêu cầu phân tích, so sánh các phương diện, nội dung tư tưởng như: tư tưởng hiện thực, tư tưởng nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước Ví dụ 1: Cảm hứng quê hương đất nước trong các bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên và đoạn trích Đất nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm. Ví dụ 2: Anh/chị hãy phân tích, so sánh tư tưởng hiên thực, tư tưởng nhân đạo của Nam Cao và Kim Lân qua truỵên ngắn Chí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Làm Kiểu Bài So Sánh Văn Học
  • Cách Xác Định Tỷ Suất Lợi Nhuận Thuần Trên Doanh Thu Khi Lập Hồ Sơ Giao Dịch Liên Kết
  • Phương Pháp So Sánh Tỷ Suất Lợi Nhuận Gộp Trên Doanh Thu
  • Các Phương Pháp Phân Tích Doanh Thu Bán Hàng Trong Các Doanh Nghiệp
  • So Sánh Ưu Nhược Điểm Của Xe Lắp Ráp Nội Địa Và Xe Nhập Khẩu Nguyên Chiếc
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Của Học Sinh Về Giáo Viên Giảng Dạy Tại Roadmap
  • Bàn Về Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tại Các Trường Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ
  • Kinh Nghiệm Trong Đánh Giá Và Phương Pháp Giảng Dạy Đại Học
  • Nhận Xét Của Các Bạn Học Viên Về Cách Giảng Dạy Tại Tester Việt Trong Bài Kiểm Tra Cuối Khóa.
  • Hệ Tọa Độ Gauss Và Những Ứng Dụng Của Hệ Tọa Độ Gauss
    • Học viên đã tốt nghiệp đại học;
    • Có nhu cầu giảng dạy tiếng Việt cho Việt kiều, người nước ngoài;

    2. Khoá học:

    Tổng thời lượng: 60 tiết, học trong 8 tuần; có các lớp như sau:

    • Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu; hoặc thứ ba, thứ năm, thứ bảy; mỗi tuần 3 buổi, mỗi buổi 2 tiết (tuỳ chọn các lớp buổi sáng, buổi chiều, buổi tối);
    • Hai ngày thứ bảy và chủ nhật: mỗi ngày 1 buổi sáng hoặc chiều, mỗi buổi 3 tiết.

    3. Nội dung Chương trình:

    1. Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (10 tiết)
    2. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng nghe, nói (14 tiết);
    3. Đặc điểm từ vựng tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng đọc (12 tiết);
    4. Đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng viết (12 tiết);
    5. Khung Năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài của Bộ GD&ĐT và Đề thi mẫu (10 tiết);
    6. Kiểm tra cuối khoá (2 tiết)

    4. Chuẩn đầu ra:

    • Nắm các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong hoạt động giảng dạy ngoại ngữ; tâm lý học giáo dục;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ âm tiếng Việt: cấu trúc âm tiết, hệ thống âm vị, phát âm phương ngữ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy phát âm tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của từ vựng tiếng Việt: cấu tạo từ, từ đơn và từ ghép, từ láy, nghĩa của từ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy từ tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt: từ loại, cụm từ, câu, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy ngữ pháp tiếng Việt;
    • Nắm Khung năng lực tiếng Việt cho người của Bộ GD&ĐT và cấu trúc, yêu cầu của một đề thi, đề thi mẫu của Bộ.

    5. Chứng chỉ:

    Sau khi học và kiểm tra đạt yêu cầu, học viên được cấp chứng chỉ của Trung tâm Ngoại ngữ Tin học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng và có thể được mời giảng các lớp tiếng Việt do Trung tâm tổ chức nếu có nhu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Báo Chiêu Sinh Khóa “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ” Khóa 02
  • Thông Báo Tổ Chức Lớp Bồi Dưỡng “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Chiêu Sinh Khoá Đào Tạo “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan Tương Tác

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • Pháp: Sử Dụng Phương Pháp Giảng Dạy “học Sinh Là Trung Tâm”
  • Tuyển Sinh Chương Trình Thạc Sĩ Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh (Tesol)
  • Du Học Úc Ngành Thạc Sĩ Giảng Dạy Tiếng Anh (Master Of Tesol)
  • Về Phương Pháp Giảng Dạy Văn Học Pháp
    • Minh họa: giáo viên sử dụng các đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, hình vẽ trên bảng…
    • Trình bày: thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, sử dụng các thiết bị kỹ thuật để chiếu phim điện ảnh, băng video…

    Học viên đóng vai trò trung tâm và giáo viên chính là người trợ giúp

    Với mô hình tương tác, học viên đóng vai trò trung tâm và giáo viên chính là người trợ giúp và hướng dẫn. Học viên sẽ chủ động tham gia vào các bài học bằng cách điều khiển bảng điện tử, tự kiểm tra kết quả và khả năng ngôn ngữ của mình hoặc chơi các trò chơi để được hiệu quả cao nhất cho mỗi bài học.

    2. Những ưu điểm của phương pháp này?

    Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp giảng dạy nhằm tạo cho học viên những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát đồ dùng minh họa. Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học viên nhớ kỹ và hiểu sâu kiến thức. Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học viên.

    Học viên có thể tương tác với các thiết bị hiện đại để thực hành kỹ năng ngôn ngữ

    Trong khi đó, các hoạt động tương tác lại tạo cơ hội cho học viên nâng cao khả năng giao tiếp và thực hành các kỹ năng ngôn ngữ. Thay vì ngồi một chỗ nghe giáo viên nói, học viên có thể tương tác xung quanh, tương tác với thầy cô, bạn học, các thiết bị và dụng cụ trong lớp. Điều này tương tự như phương pháp trực quan, thậm chí còn mạnh mẽ hơn trực quan ở chỗ, học viên nắm vai trò chủ động trong giờ học hơn.

    3. Tại sao học viên sẽ tiến bộ nhanh khi học?

    Cơ sở hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp giảng dạy trực quan tương tác đã được các nhà khoa học thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu. Bạn có biết, chúng ta chỉ nhớ được 10% những điều đã đọc, 20% điều đã nghe, 30% điều đã thấy nhưng lại đến 50% điều vừa thấy vừa nghe, 70% điều đã nói và 90% điều chúng ta vừa nói vừa làm? Những con số ấn tượng của Cẩm nang Kỹ thuật đào tạo sáng tạo (Robert W. Pike, Mỹ, 1992) khiến chúng ta phải nhìn nhận lại cách học tiếng Anh nào sẽ giúp bản thân tiến bộ nhanh nhất.

    Các công cụ trực quan sinh động như hình ảnh, âm thanh, video… sẽ giúp học viên nắm bắt nội dung bài học nhanh chóng. Hơn nữa, các hình ảnh luôn tạo cho người học một cảm giác thích thú vì bố cục rõ ràng và đa sắc màu. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các học viên thiếu nhi và thiếu niên nhằm khơi gợi sự hứng thú khi học tiếng Anh.

    Quá trình học tập của học viên sẽ càng phát huy hiệu quả nếu kết hợp các giác quan và hành động tương tác liên tục. Phương pháp giảng dạy này đặc biệt quan trọng trong dạy-học tiếng Anh tại Việt Nam, khi mô hình lớp học truyền thống đã tạo nên sự thụ động và hạn chế vậnb dụng ngoại ngữ vì thiếu môi trường tương tác.

    Ví dụ: Giáo viên dạy từ vựng theo phương pháp cũ thường chép từ và dịch nghĩa từ lên bảng, học sinh chép theo, đọc theo.

    Trực quan: Phương pháp đưa hình ảnh của từ vựng lên, chiếu phim về đề tài đang dạy có nhiều ưu điểm hơn cách truyền thống vì sinh động, dễ nhớ.

    Tương tác: Học viên chơi các trò chơi, tương tác với bạn học, thầy cô, sử dụng bảng tương tác và các thiết bị trong lớp để học từ vựng.

    ĐĂNG KÝ HỌC THỬ NGAY BÂY GIỜ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Cận “đa Giác Quan” Trong Giảng Dạy Tiếng Anh Theo Phương Pháp Phonics
  • Phương Pháp Giảng Dạy Âm Nhạc Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Ngữ Văn
  • Một Số Chú Ý Về Cập Nhật Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Tin Học
  • Lớp Tập Huấn “phương Pháp Giảng Dạy Trên Tiền Lâm Sàng”
  • Ông Hoàng Thơ Tình Của Việt Nam Là Ai?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chứng Minh Xuân Diệu Là Ông Hoàng Thơ Tình
  • Những Áng Thơ Tình Hay Nhất Của “ông Hoàng Thơ Tình” Xuân Diệu
  • Vì Sao Ăn Yến Mạch Lại Giảm Cân?
  • Giải Đáp Thắc Mắc Ăn Yến Mạch Giảm Cân : Đúng Hay Không ?
  • Tại Sao Âm Đạo Bị Khô? Giúp Tăng Độ Nhờn Cho Âm Đạo
  • 1. Xuân Diệu là ai?

    Xuân Diệu (1916-1985) tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha. Cha ông là Ngô Xuân Thọ, vốn quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ tú tài kép Hán học, vào Bình Định dạy học, lấy vợ là Nguyễn Thị Hiệp, sinh ra Xuân Diệu tại Gò Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Xuân Diệu thuở nhỏ sống ở quê mẹ, đến năm mười tuổi sống với cha.

    Xuân Diệu trải qua quá trình đào tạo quy củ. Năm 1927, Xuân Diệu xuống học ở Quy Nhơn. Sau đó Xuân Diệu ra Huế học 1 năm (1936-1937) đến khi tốt nghiệp trường tú tài Khải Định. Năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940).

    Cuối năm 1940, ông vào Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) làm viên chức (tham tá thương chánh), Năm 1942, ông quay lại Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Trong kháng chiến, Xuân Diệu di tản lên chiến khu Việt Bắc, hoạt động văn nghệ cách mạng.

    Xuân Diệu đã từng lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung. Sau khi ly dị, ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985.

    2. Sự nghiệp sáng tác thơ văn của Xuân Diệu như thế nào?

    Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, ông hoàng của thơ tình.

    Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào Thơ Mới. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945).

    Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc. Ông từng tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.

    Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983).

    Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.

    Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.

    3. Vì sao Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình?

    Với Xuân Diệu, tình yêu được coi như một giá trị sống đích thực, tình yêu đáng được tôn thờ như một thứ tôn giáo và thi sĩ đã tin vào tình yêu với một niềm tin thiêng liêng nhất.

    Xuân Diệu thấu hiểu sâu sắc tình yêu cần thiết cho cuộc sống con người đến nhường nào, con người chỉ có thể sống có ý nghĩa trong sự gắn bó với tình yêu. Và có lẽ thế nên suốt cuộc đời mình, thi sĩ đã luôn trong tâm thế đi tìm những cung bậc cảm xúc tình yêu, và thơ là nơi ông gửi gắm bao cung bậc của con tim luôn tha thiết yêu đương đến si mê, cuồng nhiệt.

    Vì quan niệm yêu là nguồn sống nên hầu hết các bài thơ tình của Xuân Diệu như Hôn cái nhìn, Biển, Bóng đêm biếc, Bài thơ tuổi nhỏ, Vì sao, Yêu… đều cho thấy những cảm xúc trong ông luôn được đẩy đến tận cùng. Thi sĩ yêu cuộc sống đến cuống quýt “muốn ôm, muốn riết, muốn say…” (Vội vàng), và bởi thế nên ông như đắm chìm trong cõi yêu đương nồng nàn, cháy bỏng. Chính thi sĩ đã thừa nhận: Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì(Vì sao?). Ở đây, có thể coi sự “khờ khạo, ngu ngơ” của thi sĩ như một giá trị, một lối ứng xử văn hóa trong tình yêu. Nó chính là biểu hiện của những gì thanh khiết, chân thành, trong sáng, vô tư, phi vụ lợi của tình yêu đích thực.

    Triết lý yêu của ông hoàng thơ tình là một trong những giá trị quan trọng làm nên sự bất tử của thơ Xuân Diệu. Bạn đọc nhớ đến Xuân Diệu sau 100 năm hay 1000 năm hoặc lâu hơn nữa phải chăng, cũng bắt đầu từ những bài thơ tình thấm đẫm triết lý yêu mang vẻ đẹp nhân sinh cao cả và đầy khao khát trần thế – những bài thơ dạt dào, tha thiết, êm đềm và sâu lắng, ru lòng người mãi mãi khôn nguôi.

    Xuân Diệu là một tác giả lớn của nền văn học Việt Nam, một nhà thơ xuất sắc có đóng góp lớn vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Ông là con người toàn tâm, toàn trí, toàn hồn, nhiệt thành cống hiến sự sống cho thơ ca, chạy đua với thời gian để giành giật lấy từng phút giây của cuộc đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bước Khắc Phục Tình Trạng Tivi Sony Không Kết Nối Được Wifi
  • 5 Cách Sửa Lỗi Tivi Lg Không Kết Nối Được Wifi Thành Công 100%
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Tivi Lg Không Kết Nối Được Wifi
  • Tại Sao Tivi Không Kết Nối Được Với Wifi: Tivi Samsung, Sony Và Lg
  • Nguyên Nhân Khiến Ipad Không Vào Được Wifi Và Phương Án Khắc Phục
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt – Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Báo: Tuyển Sinh Lớp “Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Chương Trình “Đào Tạo Giáo Viên Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài” – Khóa Thứ 22
  • Vật Lý Tính Toán – Phần 2: Đại Số Tuyến Tính
  • Cách Học Giỏi Môn Văn Lớp 10, 11, 12 Dành Cho Học Sinh Thpt
  • Autocad Là Gì ? Hướng Dẫn Cách Học Autocad Hiệu Quả Nhất ⋆ Autocad
  • 1. Đối tượng: 

    • Học viên đã tốt nghiệp đại học;
    • Có nhu cầu giảng dạy tiếng Việt cho Việt kiều, người nước ngoài;

    2. Khoá học:

    Tổng thời lượng: 60 tiết, học trong 8 tuần; có các lớp như sau:

    • Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu; hoặc thứ ba, thứ năm, thứ bảy; mỗi tuần 3 buổi, mỗi buổi 2 tiết (tuỳ chọn các lớp buổi sáng, buổi chiều, buổi tối);
    • Hai ngày thứ bảy và chủ nhật: mỗi ngày 1 buổi sáng hoặc chiều, mỗi buổi 3 tiết.

    3. Nội dung Chương trình:

    1. Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (10 tiết)
    2. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng nghe, nói (14 tiết);
    3. Đặc điểm từ vựng tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng đọc (12 tiết);
    4. Đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng viết (12 tiết);
    5. Khung Năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài của Bộ GD&ĐT và Đề thi mẫu (10 tiết);
    6. Kiểm tra cuối khoá (2 tiết)

    4. Chuẩn đầu ra:

    • Nắm các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong hoạt động giảng dạy ngoại ngữ; tâm lý học giáo dục;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ âm tiếng Việt: cấu trúc âm tiết, hệ thống âm vị, phát âm phương ngữ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy phát âm tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của từ vựng tiếng Việt: cấu tạo từ, từ đơn và từ ghép, từ láy, nghĩa của từ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy từ tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt: từ loại, cụm từ, câu, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy ngữ pháp tiếng Việt;
    • Nắm Khung năng lực tiếng Việt cho người của Bộ GD&ĐT và cấu trúc, yêu cầu của một đề thi, đề thi mẫu của Bộ.

    5. Chứng chỉ:

    Sau khi học và kiểm tra đạt yêu cầu, học viên được cấp chứng chỉ của Trung tâm Ngoại ngữ Tin học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng và có thể được mời giảng các lớp tiếng Việt do Trung tâm tổ chức nếu có nhu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Dể Dạy Và Học Tốt Phần Văn Học Nước Ngoài – Ngữ Văn 11
  • “Phương Pháp Dạy Học Tác Phẩm Văn Học Nước Ngoài Ở Trường Phổ Thông Dưới Ánh Sáng Của Lí Thuyết Tiếp Nhận”
  • Phương Pháp Dạy Học Tác Phẩm Văn Học Nước Ngoài Ở Trường Phổ Thông Dưới Ánh Sáng Lý Thuyết Tiếp Nhận
  • Phương Pháp Giảng Dạy Ezoe
  • Giảng Dạy Trực Tuyến Hấp Dẫn Hơn Với 5 Kỹ Thuật
  • Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Chiêu Sinh Khoá Đào Tạo “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Thông Báo Tổ Chức Lớp Bồi Dưỡng “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Thông Báo Chiêu Sinh Khóa “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ” Khóa 02
  • Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tuyển sinh khoá đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ “Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” như sau:

    Người Việt Nam và người nước ngoài có đủ năng lực, có nhu cầu được đào tạo và được cấp chứng chỉ Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

    Phiếu đăng ký tham gia khóa học (theo mẫu kèm theo); bản sao bằng cử nhân hoặc sau đại học (nếu có); bản sao giấy khai sinh và chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu) ; bản sao thẻ sinh viên (nếu có); 2 ảnh chân dung cỡ 4 x 6 chụp trong vòng 3 tháng trở lại đây, mặt sau ảnh ghi rõ họ tên, ngày sinh, nơi sinh.

    Ghi chú : Các loại văn bằng, thẻ sinh viên, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu) không bắt buộc nộp bản sao có công chứng. Khi nộp hồ sơ, ứng viên mang theo bản gốc để đối chiếu, kiểm tra.

    Khoa Việt Nam học và tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (phòng 27, B7 bis Trần Đại Nghĩa, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng. Hà Nội)

    1. Thời gian học: 1,5 tháng, vào tối thứ 4, chiều thứ 7 và chiều chủ nhật hàng tuần
    2. Nhập học (dự kiến): 14h, ngày 23/04/2016 tại Khoa Việt Nam học và tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (B7 Bis, Trần Đại Nghĩa, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng. Hà Nội).
    3. Học phí:

    – 4.000.000 đ/khóa học ( bốn triệu đồng)

    – Ưu tiên các đối tượng sau:

    + Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cộng tác viên đang làm việc tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt học phí là: 2.500.000 đ/khóa học ( Hai triệu năm trăm ngàn đồng).

    + Sinh viên các trường Đại học khác học phí là 3.000.000 đ/ khóa học (Ba triệu đồng)

    – Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (B7 Bis, Trần Đại Nghĩa, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội). – ĐT: (04). 38694323. Email: [email protected]

    – Thường trực tuyển sinh: Th.S. Nguyễn Thị Huyền Vân: 0977.899.981 hoặc Th.S. Nguyễn Thị Minh Hạnh: 0904.361.011

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Lao Động Ngoài Nước
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến
  • 3 Cách Giảng Dạy Để Học Sinh Hiểu Bài Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • Giảng Dạy Pháp Luật Cộng Đồng Thcs Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên
  • Bảng Đối Chiếu Các Triều Đại Việt Nam Và Các Triều Đại Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Lịch Sử Trung Quốc Qua Các Triều Đại
  • Bài 5: Trung Quốc Thời Phong Kiến
  • Giáo Án Hướng Nghiệp 11
  • Ví Điện Tử Momo Là Gì? Sử Dụng Momo Có An Toàn Không?
  • Bài Giảng Tìm Hiểu Một Số Nghề Thuộc Ngành Giao Thông Vận Tải Và Địa Chất
  • I. HỌ HỒNG BÀNG (2000 NĂM TCN) QUỐC HIỆU VĂN LANG, KINH ĐÔ PHONG CHÂU

    II. NHÀ THỤC (257T-208TCN) 50 NĂM, QUỐC HIỆU ÂU LẠC, KINH ĐÔ PHONG KHÊ (CỔ LOA, HUYỆN ĐÔNG ANH HÀ NỘI)

    Thục Phán

    An Dương Vương

    An Dương Vương

    Giáp Thìn

    257 – 208 TCN

    Năm thứ 58 (từ 246 – 210 TCN)

    từ 246 – 210 (Cơ Diên) Tần Thuỷ Hoàng (Doanh Chính)

    III. PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ LẦN THỨ NHẤT

    NHÀ TRIỆU (107 – 111 TCN) 97 NĂM , QUỐC HIỆU NAM VIỆT, KINH ĐÔ PHIÊN NGUNG (GẦN QUẢNG CHÂU, TRUNG QUỐC)

    IV. THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC THỐNG TRỊ LẦN THỨ NHẤT (207 T – 39) 246 NĂM

    V. TRƯNG NỮ VƯƠNG (40 – 43) 3 NĂM, KINH ĐÔ MÊ LINH (VĨNH PHÚC)

    VI. THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC LẦN THỨ HAI ( 43 – 543) 500 NĂM

    VII. NHÀ TIỀN LÝ VÀ NHÀ TRIỆU (544 – 602) 58 NĂM , QUỐC HIỆU VẠN XUÂN KINH ĐÔ LONG BIÊN

    VIII. THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC LẦN THỨ BA (603 – 939) 336 NĂM

    IX. THỜI KỲ X Y DỰNG NỀN TỰ CHỦ (905 – 938) 33 NĂM

    X. NHÀ NGÔ (939 – 965) 26 NĂM, KINH ĐÔ CỔ LOA (ĐÔNG ANH – HÀ NỘI)

    XI. NHÀ ĐINH (968 – 980) 12 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI CỒ VIỆT, KINH ĐÔ HOA LƯ

    XII. NHÀ TIỀN LÊ (980 – 1009) 29 NĂM, KINH ĐÔ HOA LƯ

    XIII. NHÀ LÝ (1010 – 1225) 215 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI CỒ VIỆT, KINH ĐÔ HOA LƯ – NĂM 1010 DỜI ĐÔ VỀ THĂNG LONG (HÀ NỘI), TỪ 1054 ĐỔI QUỐC HIỆU LÀ ĐẠI VIỆT.

    XIV. NHÀ TRẦN (1225 – 1400) 175 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT, KINH ĐÔ THĂNG LONG

    XV. NHÀ HỒ (1400 – 1407) 7 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI NGU, KINH ĐÔ T Y ĐÔ (THANH HÓA)

    XVI. NHÀ HẬU TRẦN (1407 – 1414) 7 NĂM, KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

    XVII. THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG NHÀ MINH ĐÔ HỘ (1414 – 1427) 14 NĂM

    XVIII. TRIỀU LÊ SƠ (1428 – 1527) 99 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT, KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

    XIX. NHÀ MẠC (1527 – 1592) 65 NĂM , KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

    (TỪ 1533 TRỞ VỀ SAU KHI CÓ NHÀ LÊ TRUNG HƯNG THÌ NHÀ MẠC COI NHƯ NGỤY TRIỀU, ĐẾN NĂM 1677 THÌ MẤT HẲN)

    XX. NHÀ HẬU LÊ (LÊ TRUNG HƯNG HAY THỜI LÊ TRỊNH TRỞ VỀ SAU 1533 -1788)

    255 NĂM (BỊ GIÁN ĐOẠN TỪ NĂM 1527 – 1532 ) DO NHÀ MẠC CƯỚP NGÔI

    XXI. NHÀ TÂY SƠN (1778 – 1802), 24 NĂM, KINH ĐÔ PHÚ XUÂN HUẾ, PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ – VINH NGHỆ AN

    XXII. NHÀ NGUYỄN (1802 – 1945) 143 NĂM, QUỐC HIỆU VIỆT NAM (TỪ MINH MẠNG LÀ ĐẠI NAM ) KINH ĐÔ HUẾ (THỪA THIÊN)

    XXIII. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945 – 1976) THỦ ĐÔ HÀ NỘI

    Hồ Chí Minh ( Nguyễn Tất Thành)

    2-9-1945 đến 2-9-1969

    Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa

    Tôn Đức Thắng

    22-9-1969 đến 24-6-1976

    XXIV. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 2-7-1976 đến nay) Thủ đô Hà Nội

    Tôn Đức Thắng

    25-6-1976 đến 3-4-1980

    Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa

    Trương Tấn Sang

    7-2011 đến 2-4-2016

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài : Tìm Hiểu Về Một Số Đồ Dùng Gia Đình Bé
  • Qua Tìm Hiểu Ở Các Phương Tiện Đại Chúng, Em Hãy Nêu Một Số Mối Quan Hệ Hợp Tác Hữu Nghị Giữa Việt Nam Và Cuba?
  • Tình Hữu Nghị Đặc Biệt Giữa Việt Nam
  • Tìm Hiểu Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Đáp Án Tìm Hiểu Luật Giao Thông Trực Tuyến Thái Nguyên 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100