Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Trong Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông

--- Bài mới hơn ---

  • Trường Mầm Non Nụ Cười Bé Thơ
  • Những Khó Khăn, Thách Thức Đối Với Đội Ngũ Giáo Viên Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Khi Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Trại Giam Số 6:đột Phá Trong Công Tác Giáo Dục Phạm Nhân
  • Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục Chính Trị
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Giáo Dục, Rèn Luyện Kỷ Luật Đối Với Cán Bộ, Đảng Viên Ở Học Viện Lục Quân Hiện Nay
  • Đổi mới phương pháp dạy học trong đổi mới giáo dục phổ thông

    – Lượt xem: 12692

    Đổi mới giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm. Đổi mới phương pháp dạy học trong đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực.

    Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới – mà trước hết là chương trình tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải lên mạng lần thứ hai – từ 16/4 đến 20/5/2017 – để tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo và các tầng lớp nhân dân, trong đó có phụ huynh học sinh và học sinh) được xây dựng theo định hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội: “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình này.

    Để phát triển nền giáo dục theo định hướng năng lực, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên Chương trình GDPT cho biết: Dự thảo Chương trình GDPT tổng thể đã thể hiện quan điểm trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ trên các bình diện mục tiêu: hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập và sáng tạo của người học.

    Nguyễn Trọng Hoàn (Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Nâng Cao Năng Lực Chuyên Môn Cho Giáo Viên, Chúng Ta Cần Phải Thực Hiện Các Nhiệm Vụ Cơ Bản Sau Đây:
  • Nền Giáo Dục Tiểu Học Ở Mỹ
  • Người Mỹ Dạy Gì Cho Trẻ Em Ở Bậc Tiểu Học
  • Đôi Nét Về Giáo Dục Tiểu Học Tại Mỹ
  • Danh Sách Các Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học Hiệu Quả
  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • 1. MỞ ĐẦU

    2.3. Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

    Liên kết hóa học là phần tương đối khó và hay trong chương trình môn hóa học ở trung học phổ thông, học sinh được nghiên cứu về quy tắc octet, ion, sự hình thành các loại liên kết, đặc biệt là ứng dụng của chúng vào thực tiễn.

    2.4. Cơ sở xây dựng nội dung dạy học

    Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ đến phương pháp giáo dục và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học.

    – Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất chủ yếu, giúp học sinh linh hoạt, độc lập, sáng tạo phát triển tư duy.

    – Lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù bộ môn để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

    – Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp…

    2.5. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

    – Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học bộ môn. Sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu phù hợp với nội dung học tập và đối tượng học sinh. Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học [5].

    – Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết, không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.

    – Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen,… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh.

    – Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.

    Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

    Hoạt động tìm hiểu ion đơn nguyên tử, ion đa nguyên tử

    Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 06 năm 2013 hướng dẫn triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông cho phép xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục định hướng phát triển NL HS, tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật… do nhà trường phổ thông ban hành.

    Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

    Công văn 3718/BGDĐT- GDTrH ngày 15 tháng 08 năm 2021 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học và tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

    Bảng 1. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

    Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Trước hết, giáo viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành thiết kế bài dạy lên lớp. Chẳng hạn như kỹ thuật mở bài hay hoạt động khởi động, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại,…. Cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn để tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

    Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Đây là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Hiện nay, học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

    1. Hoạt động cá nhân hoàn thành phiếu học tập. Hướng dẫn học sinh chốt kiến thức.

    3. KẾT LUẬN

    Việc đổi mới phương pháp dạy học giúp giáo viên thực sự đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập. Giáo viên phải có động lực đổi mới, nhiệt tình tâm huyết với nghề, tích cực học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn và phương pháp dạy học, thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin.

    Qua kết quả thực nghiệm ở một số trường THPT, chúng tôi đã xác định yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất nội dung của chương, đó là căn cứ để xây dựng kế hoạch dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Đây là “bước đệm” để giáo viên và học sinh có thể dạy và học tốt chương trình mới, giúp học sinh biết cách phối hợp vận dụng kiến thức từ đó phát triển được năng lực, phẩm chất theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học.

    • Phạm Thị Kim Anh (2015), Chương trình đào tạo giáo viên ở Việt nam- Một số bất cập và định hướng phát triển, Hội thảo khoa học Quốc tế: “Phát triển chương trình đào tạo GV-Cơ hội và thách thức”. ĐHSP Thái Nguyên.
    • Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn 5555 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.
    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường THPT môn Hóa học.
    • Trần Kiểm (2017), Phát triển năng lực người học – xu thế dạy học hiện đại, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp.153-159.
    • Nguyễn Thị Sửu, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Thị Phương Thúy, Lê Tùng (2015), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học hóa học hữu cơ ở trường trung học cơ sở tỉnh Điện biên, HNUE, Tạp chí Khoa học, Vol.60, No.8, pp. 67-75.
    • Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.
    • Võ Thị Thiều (2017), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp 483-488.
    • Đào Đình Thức (2010), Cấu tạo nguyên tử và Liên kết hóa học, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam.

    Title: APPLY POSITIVE TEACHING METHODS IN TEACHING CHAPTER “CHEMICAL BOND” – CHEMISTRY GRADE 10 – NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM

    Abstract: Positive teaching methods to develop competence for students are being concerned. From the aim of chapter “Chemical Bond”- Chemistry 10 th grade – and based on the new general education curriculum, content and teaching plan to apply positive teaching methods were built. Experimental results shown effectiveness, possibility of content and methods were applied.

    Keywords: Positive teaching methods, chemical bond. new general education.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5. Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác Trong Nhóm Nhỏ
  • Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác: Tăng Tính Chủ Động Tích Cực Của Người Học
  • Tập Huấn Phương Pháp Dạy Học Theo Hợp Đồng
  • Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Ở Tiểu Học Hiệu Quả Nhất
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2021 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữa Viêm Họng Bằng Phương Pháp Diện Chẩn
  • Chữa Suy Thận Bằng Diện Chẩn: Cách Điều Trị Mới Đem Lại Hiệu Quả Cao
  • 05 Cách Dạy Trẻ Lớp 1 Học Toán Đơn Giản
  • Phương Pháp Dạy Toán Lớp 1 Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Toán Tư Duy Lớp 1 Tốt Nhất Cho Trẻ
  • Chương trình tổng thể Ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ ” G iáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn” .

    Về phương pháp dạy học Toán : Thực hiện dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó); Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh; Tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạ o, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề; Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống; Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

    Về đánh giá kết quả giáo dục môn Toán: Mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của học sinh trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học để điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của giáo viên các môn học khác, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha mẹ học sinh, đi liền với tiến trình hoạt động học tập của học sinh, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh. Việc đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục sau một giai đoạn học tập. Kết quả đánh giá định kì được sử dụng để chứng nhận cấp độ học tập, công nhận thành tích cho người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khuyến khích vận dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn,…); đồng thời hướng dẫn giáo viên lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với từng thành phần năng lực toán học.

    Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán. Coi trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thống, tăng cường thiết bị dạy học tự làm đồng thời khuyến khích sử dụng các phương tiện nghe nhìn, phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học. Khi có điều kiện, giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách tìm kiếm thông tin, tư liệu trên Internet hoặc chương trình truyền hình có uy tín về giáo dục để mở rộng vốn hiểu biết và năng lực tự học.

    Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn Khoa học, Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học để thực hiện giáo dục STEM. Nội dung môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát. Do đó, để hiểu và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và “vận dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể. Trong quá trình học và áp dụng toán học, học sinh luôn có cơ hội sử dụng các phương tiện công nghệ, thiết bị dạy học hiện đại, đặc biệt là máy tính điện tử và máy tính cầm tay hỗ trợ quá trình biểu diễn, tìm tòi, khám phá kiến thức, giải quyết vấn đề toán học.

    II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN TOÁN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

    Để ” phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học“, ” bồi dưỡng PP tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập”, có thể góp phần ” phát triển toàn diện NL và PC” của HS tiểu học, định hướng dạy học toán ở tiểu học cần vận dụng một cách đa dạng các hình thức tổ chức với các phương pháp dạy học; chú trọng thực hành, ứng dụng, gắn kết kiến thức toán học với thực tế cuộc sống hằng ngày của các em, với các môn học khác và các hoạt động giáo dục trong hay ngoài nhà trường; chú trọng tổ chức hoạt động tự học (cá nhân, cặp, nhóm, cả lớp, ở nhà…) cho HS (với sự hướng dẫn, giám sát, đánh giá của GV, cha mẹ HS); GV cần đặc biệt chú ý, quan tâm đến việc dạy học phù hợp từng đối tượng HS; kết hợp việc giúp các em tự lĩnh hội được kiến thức toán học (thông qua hoạt động học) với việc hình thành, phát triển NL, PC của HS. GV cần chuyển quá trình thuyết giảng thành quá trình tổ chức hoạt động học cho HS, có thể thông qua các hoạt động: Gợi động cơ, tạo hứng thú; Trải nghiệm, khám phá; Phân tích, rút ra bài học; Thực hành; Ứng dụng. Qua quá trình thực hiện các hoạt động học toán (cá nhân, cặp, nhóm, cả lớp, ở nhà…), ngoài việc HS hình thành và phát triển NL tư duy, năng lực tính toán thì HS cũng có thể phát triển một số NLPC như tự học, hợp tác, giải quyết vấn đề.

    Để góp phần ” phát triển toàn diện NL và PC ” của HS tiểu học, trong quá trình dạy học Toán, GV cần phải tổ chức cho HS hoạt động học (theo cá nhân, cặp đôi, nhóm hay cả lớp) cùng với hoạt động tự nhận xét và nhận xét sản phẩm của bạn hay nhóm bạn, qua đó HS có thể tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức, rèn kĩ năng cần thiết.Khi HS thực hiện hoạt động học thì GV thực hiện các hoạt động ĐG (quan sát, tư vấn, hướng dẫn HS, nhận xét…). Để có thể tổ chức cho HS hoạt động học được hiệu quả, GV cần phải xác định rõ mục tiêu hay yêu cầu cần đạt và nội dung bài học, từ đó thiết kế thành các hoạt động học và hoạt động ĐG (nhận xét, tự nhận xét…) để HS thực hiện. GV tổ chức hoạt động dạy học Toán cùng với hoạt động ĐG để góp phần hình thành, phát triển NLPC HS. Trong quá trình tổ chức hoạt động học Toán và ĐGHS trong giờ học Toán, để thực hiện yêu cầu “vì sự tiến bộ của HS”, GV phải được chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong toàn bộ giờ học nói riêng và quá trình giảng dạy nói chung. Với trách nhiệm của mình, cùng với năng lực sẵn có và sự tâm huyết nghề nghiệp, yêu thương HS, việc đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong DH môn Toán ở tiểu học sẽ giúp HS tiến bộ trong học tập môn Toán, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nên Đặt Vòng Tránh Thai Hay Cấy Que Tránh Thai Tốt Hơn?
  • Những Điều Cần Biết Khi Cấy Que Tránh Thai
  • Cấy Que Tránh Thai Không Hề Đau Như Nhiều Chị Em Vẫn Nghĩ
  • Cấy Chỉ Là Gì? Cấy Chỉ Đông Y Mang Lại Hiệu Quả Tốt Không?
  • Cấy Chỉ Là Gì? Có Tốt Không Và Cấy Chỉ Ở Đâu Tốt Hà Nội?
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Giáo Dục Stem Là Gì? Giáo Dục Stem Ở Trường Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Cách Ăn Uống Để Giảm Cân Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Nên Biết
  • Thực Đơn Thực Dưỡng Ohsawa Dành Cho Những Người Ăn Chay Trường
  • Cách Bắt Lô Rơi Xổ Số Mb Hôm Nay Chuẩn Xác
  • Bạch Thủ Lô Miền Bắc Quá Dễ Bắt Với 8 Cách Này Không Đọc Phí Đời
  • THỨ NHẤT: Giáo dục STEM là phương pháp giáo dục tích hợp đa ngành kết hợp ứng dụng thực tế. Nhờ đó, học sinh có thể học kiến thức của 4 môn học cùng lúc và áp dụng ngay vào thực tế. Giáo dục STEM phá bỏ rào cản “nhàm chán” của người học, củng cố thêm những kiến thức thực tiễn cần thiết và trang bị cho người học khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức vào đời sống – kỹ năng cực kỳ cần thiết đối với những người trẻ thế kỷ số.

    THỨ BA: Giáo dục STEM đề cao tính sáng tạo trong mỗi giờ học. Ở mỗi tiết học, người học đóng vai trò chủ động, nắm bắt – nghiên cứu – áp dụng thậm chí phát minh ra cách mới để giải quyết vấn đề.

    2. Định hướng xây dựng phương pháp giáo dục STEM là gì?

    Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra 3 định hướng các hình thức có thể triển khai STEM ở trường phổ thông như sau:

    Dạy học theo định hướng giáo dục STEM:

    Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường. Theo phương pháp này, các bài học, hoạt động giáo dục STEM được triển khai ngay trong quá trình dạy học các môn học STEM theo tiếp cận liên môn.

    Phương pháp giáo dục STEM là gì?

    – Hoạt động trải nghiệm STEM:

    Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các thí nghiệm, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống. Qua đó, nhận biết được ý nghĩa của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đối với đời sống con người, nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM. Đây cũng là cách thức để thu hút sự quan tâm của xã hội tới giáo dục STEM.

    Trải nghiệm khi học phương pháp giáo dục STEM là gì? Trải nghiệm này còn có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác giữa trường phổ thông với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Theo cách này, sẽ kết hợp được thực tiễn phổ thông với ưu thế về cơ sở vật chất của giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

    Các trường phổ thông có thể triển khai giáo dục STEM thông qua hình thức câu lạc bộ stem robot. Tham gia câu lạc bộ STEM, học sinh được học tập nâng cao trình độ, triển khai các dự án nghiên cứu, tìm hiểu các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM. Đây là hoạt động theo sở thích, năng khiếu của học sinh, diễn ra định kỳ, trong cả năm học.

    Hoạt động này không mang tính đại trà mà dành cho những học sinh có năng lực, sở thích và hứng thú với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các vấn đề thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Cho Học Sinh
  • Phương Pháp Trò Chơi Học Tập
  • Phương Pháp Dạy Học “tổ Chức Trò Chơi” Trong Giờ Dạy Môn Lịch Sử Cho Học Sinh Lớp 10
  • Chuyên Để Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học
  • 10 Ý Tưởng Sử Dụng Trò Chơi Trong Lớp Học Của Bạn
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân
  • Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học “nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Và Tư Duy Học Sinh Trong Dạy Học Lịch Sử Thcs)
  • Một Số Phương Pháp Phát Huy Hứng Thú Của Học Sinh Trong Học Lịch Sử Ở Thcs
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Nào Để Dạy Tốt Môn Lịch Sử?
  • Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Lịch Sử Lớp 5
  • Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI- thế kỷ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa đã tạo ra cơ sở mới cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, nâng cao đời sống con người. Để theo được sự phát triển của khoa học công nghệ và tốc độ phát triển nhanh của các nước trên thế giới thì sự nghiệp giáo dục cũng phải được đổi mới nhằm đào tạo những con người có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ và chuyên môn cao, luôn năng động, sáng tạo, độc lập và tự chủ.

    Hiện nay vấn đề giáo dục đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, chính giáo dục có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển con người – nhân tố quyết định cuả sự phát triển xã hội và góp phần thúc đẩy quá trình CNH- HĐH đất nước.

    Ngày nay trước xu thế toàn cầu hoá, chất lượng giáo dục lại càng quan trọng và là điều kiện tiên quyết trong quá trình đấu tranh và hội nhập kinh tế giữa các nước trên thế giới. Vì vậy, các quốc gia, dân tộc đều quan tâm đến giáo dục.

    Nhận thức được việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng như Bộ GD & ĐT đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổi mới PPDH ở tất cả các cấp học, bậc học một cách mạnh mẽ và toàn diện.

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỷ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”

    Chính vì thế, mục tiêu của nhà trư¬ờng phổ thông Việt Nam hiện nay là đào tạo con người mới, phát triển toàn diện, phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước cũng như¬ phù hợp với sự phát triển của thời đại. Mục tiêu của giáo dục phổ thông nư¬ớc ta đã được cụ thể hoá trong luật giáo dục năm 2005 nh¬ư sau:

    “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Từ kết quả học tập của HS ở lớp ĐC và lớp TN của Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh thì ta thấy rằng việc GV tiến hành quá trình dạy học cùng một nội dung kiến thức, cùng tình độ nhận thức của HS đương tương nhau nhưng khi GV vận dụng các PPDH tích cực vào bài giảng ở những lớp thực nghiệm thì HS hiểu bài, hứng thú với môn học hơn và đặc biệt là qua bảng số liệu đã thống kế điểm của bài kiểm tra nhận thức của HS thì kết quả học tập ở những lớp TN cao hơn so với lớp ĐC. Cụ thể như sau: - Ở 2 lớp TN: + Tỉ lệ HS đạt điểm giỏi ( từ 9- 10 điểm ) là 23, 3 % + Tỉ lệ HS đạt điểm khá ( từ 7 - 8 điểm ) là 55,5 % + Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình ( từ 5- 6 điểm ) là 21, 1% + Tỉ lệ HS yếu, kém là 0% Vậy là chúng ta thấy ở những lớp thực nghiệm không có HS nào dưới điểm 5, tỉ lệ HS khá, giỏi tương đối cao. Ở 2 lớp đối chứng: + Tỉ lệ HS đạt điểm giỏi ( từ 9- 10 điểm ) là 7,8 % + Tỉ lệ HS đạt điểm khá ( từ 7 - 8 điểm ) là 37,0 % + Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình ( từ 5- 6 điểm ) là 50,5 % + Tỉ lệ HS yếu, kém ( < 5 điểm ) là 5,6 % Như vậy, từ kết qủa học tập và kết qủa điều tra lấy ý kiến của HS sau tiết dạy ở cả 2 lớp TN và 2 lớp ĐC của trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh thì chúng ta thấy rằng việc GV vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy môn GDCD là cần thiết và đúng đắn, phù hợp với xu hướng dạy học trong xã hội phát triển như hiện nay. Bảng 3. Tổng hợp kết qủa phiếu trưng cầu ý kiến HS của 2 lớp ĐC và 2 lớp TN tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh TT Nội dung câu hỏi và các phương án trả lời Tổng hợp ý kiến Lớp thực nghiệm ( 2 Lớp -90 HS ) Lớp đối chứng ( 2 Lớp - 89 HS ) Em có thích bài học hôm nay không ? a. Rất thích 53 7 b. Thích vừa phải 21 19 c. Bình thường 16 58 d. Không thích 0 6 2 Em có hiểu rõ nội dung bài học hôm nay không? a. Rất hiểu bài 60 3 b. Hiểu 17 11 c. Chưa hiểu lắm 13 76 d. Không hiểu 0 0 3 Em thấy thái độ của các bạn trong lớp đối với môn học này thế nào? a. Hăng say học tập và phát biểu 51 11 b. Có hứng thú 32 14 c. Học bình thường 7 63 d. Không quan tâm đến bài học 0 2 4 Em có thích môn GDCD không? a. Thích 57 6 b. Thích vừa phải 22 13 c. Bình thường 11 54 d. Không thích 0 17 5 Em có ý kiến gì về cách dạy của GV đối với giờ học này không? a. Luôn dạy như thế này 84 5 b. Giảng kỹ hơn 2 63 c. Đưa nhiều ví dụ thực tiễn hơn 4 15 d. Không có ý kiến gì? 0 7 [ Nguồn: Điều tra vào tháng 9/ 2011] Từ bảng điều tra trưng cầu ý kiến của HS, rút ra một số nhận xét như sau Nếu GV vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học thì HS sẽ thích thú và có tinh thần học bài hơn, tham gia phát biểu nhiều hơn, điều quan trọng là các em thấy hiểu bài hơn từ đó biết được giá trị của môn GDCD và thích thú hơn đối với môn học này. VI. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Từ kết quả sáng kiến kinh nghiệm, đưa ra một số kiến nghị sau: Thứ nhất: Cần xác định đúng vị trí, vai trò của môn GDCD ở trường THPT để tránh được nhận thức sai lầm cho rằng đây là môn học phụ, là môn mà GV nào cũng có thể dạy được, việc nhận thức sai lầm về vị trí, vai trò của môn GDCD dẫn đến những hạn chế nhất định trong thực tiễn dạy học bộ môn làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học môn GDCD. Thứ hai: Bộ giáo dục và Đào tạo, các Sở giáo dục và đào tạo cần đưa môn GDCD vào những môn thi tốt nghiệpTHP, thi vào Đại học các chuyên ngành Giáo dục chính trị ở các trường Đại học để vai trò và vị trí của môn GDCD được nhìn nhận đúng với bản chất của nó, đồng thời tạo cho HS động lực, cách nhìn lẫn thái độ tích cực hơn đối với môn GDCD. Thứ tư: Hiện nay ở các trường THPT phương tiện và thiết bị dạy học còn quá nghèo nàn nên đã hạn chế rất lớn đến kết quả dạy và học của GV và HS. Bộ giáo dục nên sớm cung cấp thiết bị dạy học môn GDCD đầy đủ hơn nhằm tạo điều kiện cho GV và HS đạt hiệu quả cao trong việc dạy và học. VII. KẾT LUẬN Trong giai đoạn hiện nay, xã hội đang dần phát triển, mọi mặt của đời sống xã hội của Đất nước đang dần thay đổi theo hướng phát triển chung của thời đại vì thế việc đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để những con người ở thế kỷ 21 năng động, sáng tạo, có phẩm chất tốt, năng lực cao đáp ứng cho sự nghiệp CNH- HĐH và phát triển Đất nước trong xu thế hội nhập. Vì lẽ đó nhu cầu học tập của người dân ngày càng cao, xã hội học tập đang hình thành và phát triển. Trong ngành giáo dục, mỗi GV cần phải năng động, sáng tạo, không ngừng tìm tòi để việc dạy học đạt hiệu quả cao. Ta đã biết, dạy học là một hoạt động đặc thù, một khoa học, một nghệ thuật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Vì vậy người GV có trình độ, năng lực và giỏi tay nghề phải là người có kiến thức chuyên môn sâu rộng về môn học mà mình đảm nhận đồng thời phải có năng lực, năng khiếu sư phạm, lòng nhiệt tình và sự trải nghiệm trong cuộc sống. Biết vận dụng PPDH tích cực vào bài giảng một cách khoa học và hợp lý và mỗi phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó, do vậy GV nên xây dựng cho mình một PPDH riêng, phù hợp với mục tiêu, nội dung của bài học, phù hợp với đối tượng HS, điều kiện dạy học sẵn có, cơ sở vật chất của nhà trường và cuối cùng là phải phù hợp với sở thích của mình, có như vậy mới góp phần nâng cao hiệu quả học tập của HS. PHỤ LỤC PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN HỌC SINH ( TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH) Em hãy vui lòng cho biết ý kiến về một số vấn đề sau bằng cách khoanh tròn vào các đáp án sau: 1. Em có thích bài học hôm nay không? a . Rất thích b. Thích vừa phải c. Bình thường d. Không thích 2. Em có hiểu rõ nội dung bài học hôm nay không? a. Rất hiểu bài b. Hiểu c. Chưa hiểu lắm d. Không hiểu 3. Em thấy thái độ của các bạn trong lớp đối với môn học này thế nào? a. Hăng say học tập và phát biểu b. Có hứng thú c. Học bình thường d. Không quan tâm đến bài học 4. Em có thích môn GDCD không? a. Thích b. Thích vừa phải c. Bình thường d. Không thích 5. Em có ý kiến gì về cách dạy của GV đối với giờ học này không? a. Luôn dạy như thế này b. Giảng kỹ hơn c. Đưa nhiều ví dụ thực tiễn hơn d. Không có ý kiến gì V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Giáo dục công dân, Nxb Giáo dục, Hà nội, 2007. 2. Luật Giáo dục (2005). 3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Điều lệ Đảng cộng sản Việt nam lần thứ XI, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 2011. 4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 THPT - NXB Giáo Dục. 5. Bộ Giáo dục và đào tạo Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDCD - NXB Giáo Dục Việt Nam, (2009) 6. Chỉ thị số 30/1998/CT- BGD& ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo ngày 20/5/ 1998 Hà Nội. 7. Chỉ thị 15/1999/CT - BGD&ĐT ngày 20/4 /19999 8. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) 9. Lí luận dạy học Địa lý nhằm phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm Địa Lý,Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng - TS. Đậu Thị Hòa, (2008) 10. Một vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông ở nước ta - Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 276 tháng 5 - Trần Kiều, (1995) 11. Dạy và học môn GDCD ở Trường THPT, những vấn đề lý luận và thực tiễn Nguyễn Văn Cư - Nguyễn Duy Nhiên - Chủ biên NXB Đại học Sư Phạm, (2007) 12. Giáo dục học tập 2- Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt - NXB Giáo dục, ( 1998) 13. Giáo dục học trong trường sư phạm - Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu Vân - NXB Giáo dục Hà Nội, ( 1993) 14. Lý luận dạy học đại học- GS.Đặng Vũ Hoạt- PTS. Hà Thị Đức, ( 1994) 15. Giáo dục học đại cương II- GS. Đặng Vũ Hoạt- PGS. Nguyễn Sinh Huy- PGS. Hà Thị Đức Hà Nội, (1995) 16. Nghị quyết trung ương 2 Đại hội Đảng lần thứ VII 17. Chuyên đề 2: Các phương pháp dạy học tích cực - PGS- TS. Vũ Hồng Tiến 18 . PPDH phát huy tính tích cực - một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục - số 271- Phạm Văn Đồng, (1994) 19. Bài tập GDCD 11- Vũ Đình Bảy (Chủ biên)- NXB Giáo Dục Việt Nam,(2010) 20. Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT - Vũ Đình Bảy - NXB Giáo Dục Việt Nam, (2010) 21. Phương pháp giáo dục tích cực- Nguyễn Kỳ - NXB Giáo Dục (1995) Người thực hiện Hà Thị Thanh HươngSỞ GD& ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Đơn vị:Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc Biên Hòa, ngày 20 tháng 5 năm 2012 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011- 2012 Tên sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn Giáo dục công dân bậc trung học phổ thông Họ và tên tác giả: Hà Thị Thanh Hương Đơn vị (Tổ): Khoa học xã hội Lĩnh vực: Quản lý giáo dục * Phương pháp dạy học bộ môn..GDCD... * Phương pháp giáo dục * Lĩnh vực khác..........................................* Tính mới - Có giải pháp hoàn toàn mới * - Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có * Hiệu quả: - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao * - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao * - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao * - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả * Khả năng áp dụng: - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Tốt * Khá * Đạt * - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt * Khá * Đạt * - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt * Khá * Đạt * XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn
  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Ở Thpt
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân
  • Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học “nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Và Tư Duy Học Sinh Trong Dạy Học Lịch Sử Thcs)
  • Một Số Phương Pháp Phát Huy Hứng Thú Của Học Sinh Trong Học Lịch Sử Ở Thcs
  • phổ thông Quan Sơn năm học 2010 - 2011 có 15 lớp, trong đó khối 10 có 05 lớp, các em ở lứa tuổi 16, 17 tuổi. Đây là lứa tuổi mà các kỹ năng vận động cơ bản tương đối hoàn thiện, khả năng tiếp thu kỹ năng vận động tương đối ổn định, khả năng hoạt động thể lực phối hợp vận động phức tạp, nhận thức và yêu cầu thiết thực, khả năng tự học tự tìm kiếm tri thức của các em là rất cao. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả dậy và học phải tạo động cơ học tập cho các em vì khi có hứng thú, tự giác, tích cực sẽ thúc đẩy động cơ học tập của học sinh và hiệu quả học tập sẽ được nâng cao. Bảng 01: Hệ thống cơ sở vật chất. Tên thiết bị Tổng số lượng Số lượng sử dụng Tên thiết bị Tổng số lượng Số lượng sử dụng Thước dây (cái) 02 02 Hố cát 01 01 Còi (cái) 05 05 Bóng chuyền (quả) 23 15 Đồng hồ TT (cái) 04 04 Bóng đá (quả) 18 10 Cầu chinh (hộp) 57 57 Bóng rổ (quả) 30 10 Vợt cầu lông (đôi) 24 24 Tạ (quả) 35 15 Cầu lông (hộp) 32 32 Sân bóng rổ 01 01 Xà nhảy cao (Cái) 10 05 Sân, lưới bóng chuyền 01 01 Cột đa năng (bộ) 04 02 Lưới cầu lông (cái) 08 02 Đệm nhảy cao (cái) 04 04 Sân tập 03 03 Tranh kỹ thuật (bộ) 02 02 Bàn đạp xuất phát (bộ) 16 04 Cột nhảy cao (bộ) 01 01 Dây đích (cái) 02 02 Qua bảng khảo sát trên thì việc phục vụ trang thiết bị cho học tập của nhà trường là tương đối đầy đủ, có khả năng đáp ứng được nhu cầu học tập và rèn luyện của học sinh. Tuy nhiên trên thực tế thì việc sử dụng cơ sở vật chất vào dạy học còn rất thấp hoặc khi sử dụng thì chất lượng thiết bị giảm sút nên chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh. Quá trình tâm lý như tri giác, tư duy, tưởng tượng theo một hướng đã xác định, do đó cần phải tìm hiểu hứng thú để tạo nên sự tự giác, tích cực của học sinh từ đó nâng cao chất lượng dạy và học của học sinh. 2. Tìm hiểu hứng thú, tính tự giác, tích cực học môn thể dục theo chương trình đổi mới chỉ tiêu và phương pháp dạy học của học sinh khối 10 trường trung học phổ thông Quan Sơn : Sử dụng phiếu điều tra hứng thú, tự giác, tích cực học tập của học sinh khối 10 trường trung học phổ thông Quan Sơn - huyện Quan Sơn - tỉnh thanh hoá năm học 2010 - 2011 Kết quả điều tra được phân tích và tổng hợp qua bảng sau: Bảng 02: Kết quả điều tra hứng thú, tự giác, tích cực học tập của học sinh. STT Câu hỏi Trả lời Nhóm nghiên cứu (n = 250 ) Số lượng (học sinh) Tỉ lệ (%) 1 ý kiến của em về sự cần thiết của giờ học thể dục? Rất quan trọng 87 38,8 Quan trọng 82 32,8 Bình thường 54 21,6 Không cần thiết 22 6,8 2 Động cơ tập luyện của em là gì? Ham thích 117 46,8 Có tác dụng rèn luyện thân thể 68 27,2 Để đối phó 21 8.4 Không có điều kiện 33 13,2 Không ham thích 11 4,4 3 Cảm nhận của em về giờ học thể dục? Hứng thú 143 57,2 Bình thường 73 29,2 Không hứng thú 34 13,6 4 ý kiến của em về chỉ tiêu giờ học thể dục? Trang bị kiến thức về TDTT 73 29,2 Nâng cao sức khoẻ 86 34,4 Cung cấp phương pháp tập luyện 35 14,0 Vui chơi giải trí 56 22.4 5 Em có thường xuyên hoạt động ngoại khoá không? Thường xuyên 123 49,2 Thỉnh thoảng 75 30,0 ít hoạt động 42 16,8 Không hoạt động 10 4,0 6 Đảm bảo cơ sở vật chất cho giờ học thể dục có ý nghĩ như thế nào? Tích cực 155 62,0 Bình thường 86 34,4 Không tích cực 9 3,6 Không cần thiết 0 00,0 7 Nguyên nhân làm giảm hứng thú học tập? Do sức khoẻ hạn chế 82 32,8 Do cơ sở vật chất chưa tốt 54 21,6 Do phương pháp của giáo viên 22 8,8 Do nội dung hịc đơn điệu 42 16,8 Thể dục là môn phụ 50 20,0 8 Lý do em thích học môn học thể dục? Yêu thích 127 50,8 Phù hợp với khả năng 42 16,8 Được vui chơi 40 16,0 Nâng cao sức khoẻ 41 16,4 Từ kết quả điều tra thu được cho thấy các em đã hiểu rõ vị trí, tác dụng của môn học thể dục, Có đến hơn 50,8 % ý kiến trả lời của các em là thích học môn thể dục; các em xác định được động cơ học tập của mình là sự ham thích chiếm tỉ lệ rất cao là 46,8 %. Tâm lý và thái độ học tập tích cực, học sinh háo hức chờ đợi tiết thể dục vì các em cho rằng: Nâng cao sức khoẻ, phù hợp với khả năng và được vui chơi giải trí. Kết quả biểu hiện hứng thú học thể dục chiếm tỉ lệ cao 57,2 %. Nhưng mức độ hứng thú của học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ thụ động chứ chưa có những biểu hiện của sự tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. Từ kết quả điều tra trên cho ta thấy yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến thực trạng này là do phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới chỉ tiêu và phương pháp của giáo viên là chưa tốt. Nhận thức về môn học của học sinh và sự đáp ứng cơ sở vật chất của nhà trường chưa tốt, Trên cơ sở đó tôi mạnh dạn đưa ra một số cách giải quyết vấn đề như sau. B. Giải quyết vấn đề: I. Các giải pháp thực hiện: Từ thực trạng nêu trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, tôi mạnh dạn đưa ra "Một số giải pháp giúp giáo viên giảng dạy môn thể dục đạt kết quả tốt theo chương trình đổi mới chỉ tiêu và phương pháp dạy học của học sinh khối 10 trường trung học phổ thông quan sơn ". 1. Không ngừng học hỏi, tìm tòi nâng cao năng lực chuyên môn. 2. Đảm bảo cơ sở vật chất cho công tác dậy và học. Sử dụng triệt để dụng cụ vào tiết học. 3. Đảm bảo đầy đủ, đúng các nguyên tắc, yêu cầu về giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao trong bài học. 4. Tổ chức giờ học một cách sinh động và hứng thú đồng thời tối ưu hoá mật độ bài học thể dục. 5. Cải tiến chương trình và sắp xếp môn học thể dục phù hợp với điều kiện nhà trường và đặc điểm hứng thú của học sinh. 6. Cải tiến phương pháp, lấy học sinh làm trung tâm phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, với học sinh và phù hợp với chương trình thay sách giáo khoa của ngành. 7. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao năng lực, nhận thức về bài học, môn học đến đồng nghiệp, học sinh và nhân dân. 8. Tăng cường hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho học sinh. 9. Tăng cường công tác hướng nghiệp về ngành thể dục thể thao cho học sinh. 10. Có kế hoạch phối hợp toàn diện lâu dài với gia đình - nhà trường - xã hội về công tác phát triển Thể dục tể thao. II. Các biện pháp để tổ chức thực hiện: Từ thực trạng nêu trên của nhà trường và căn cứ vào các giải pháp nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp giáo viên giảng dạy môn thể dục đạt kết quả tốt theo chương trình đổi mới chỉ tiêu và phương pháp dạy học của học sinh khối 10 trường trung học phổ thông quan sơn: * Biện pháp 1: Căn cứ vào kế hoạch của Bộ, Ngành, Nhà trường để lập kế hoạch giảng dạy và huấn luyện cụ thể, rõ ràng theo tuần, theo tháng, theo năm. Nhiều giáo viên hiện nay cho rằng việc lập kế hoạch là không cần thiết (bởi vì kế hoạch luôn luôn bị thay đổi theo kế hoạch của Nhà trường) mà chỉ cần căn cứ vào báo giảng và giáo án mà thôi. Đây là một quan điểm sai lệch bởi vì việc giáo viên lập được kế hoạch cụ thể và rõ ràng bám sát theo kế hoạch của Bộ, Nghành, Nhà trường mang ý nghĩa rất quan trọng trong công tác dạy và học, nó đem lại tính khoa học trong công việc và đạt hiệu quả cao trong công tác chuyên môm. Không có kế hoạch thì sẽ không thực hiện tốt được công việc của mình. * Biện pháp 2: Tích cực tham mưu cho nhà trường về công tác sửa chữa và bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho công tác dạy và học. * Biện pháp 3: . Tham mưu cho Nhà trường phối hợp với các đoàn thể tổ chức các hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá, các hoạt động hướng nghiệp, tuyên truyền về ngành thể dục thể thao như: Hàng năm tổ chức kỳ thi học sinh giỏi môn thể dục, phải khen thưởng như các môn văn hoá khác và để chọn đội tuyển tham dự các kỳ thi khác cấp cao hơn. Phối hợp với Đoàn trường tổ chức các ngày lễ lớn với các hoạt động vui chơi mang tính chất thi đấu(như các ngày lễ: 20 / 11; 22 / 12; 26, 27 / 03, 08/ 03) với các môn như: Bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền, kéo co, đẩy gậy, nhảy bì Thông qua đó giúp các em học sinh có ý thức và cảm nhận sâu sắc về các ngày lễ lớn của đất nước và ý nghĩa của các môm thể thao vui chơi lành mạnh. * Biện pháp 4: Tích cực tìm tòi, học hỏi, sưu tầm nghiên cứu các tài liệu, nắm bắt thực trạng của học sinh, nhà trường để đưa ra phương pháp giảng dạy phù hợp với từng bài dạy, từng lớp, từng đối tượng học sinh và đặc biệt phải chú trọng việc lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ thể của học sinh, đào tạo cán sự bộ môn để giúp mình quản lý lớp, nhóm và giúp đỡ hướng dẫn các bạn. * Biện pháp 5: Chuẩn bị tốt cho tiết dạy như: Giáo án, thục luyện giáo án, thục luyện các động tác làm mẫu (đặc biệt là những động tác khó), dụng cụ giảng dậyĐặc biệt có thể mạnh dạn sử dụng giáo án điện tử tuỳ theo nội dung, nhiệm vụ của tiết dạy(đặc biệt là khi học kỹ thuật mới với các hình ảnh động sẽ giúp học sinh nhanh chóng tư duy và hình thành kỹ thuật nhanh hơn). * Biện pháp 6: áp dụng các phương pháp cải tiến, đổi mới theo chương trình đổi mới chỉ tiêu và phương pháp dạy học dã được tập huấn vào dạy học sao cho phù hợp và hiệu quả. Tổ chức cho lớp tập luyện với nhiều hình thức sao cho vẫn đảm bảo lượng vận động, vẫn giúp cho học sinh hưng phấn tập luyện như: + Tổ chức các trò chơi vận động để bổ trợ kỹ thuật và thể lực. Ví dụ: "Lò cò tiếp sức", "Lò cò chọi gà" để bổ trợ thể lực và sức bật của chân; "Nhảy bước" để bổ trợ cho động tác chạy đạp sau + Chia nhóm cho học sinh tập luyện sau đó cho thi đua giữa các nhóm với nhau (có thể áp dụng thi đua rất hiệu quả vào phần củng cố bài) vừa thúc đẩy tính ghanh đua trong học tập vừa tối ưu hoá được thời gian tập luyện. * Biện pháp 7: Kiểm tra kết quả định kỳ (bao gồm đánh giá kết quả rèn luyện và sức khoẻ của học sinh) Đây là một công đoạn vô cùng quan trọng không thể thiếu được trong công tác dạy và học. Kiểm tra đánh giá kết quả định kỳ (bao gồm đánh giá kết quả rèn luyện và sức khoẻ) của học sinh giúp cho học sinh thấy được thành quả rèn luyện của của các em qua một thời gian tập luyện, trên cơ sở đó giáo viên nắm được tình hình cụ thể để đưa ra các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng... Hai giáo án mẫu thể hiện một trong số các biện pháp giúp giáo viên giảng dạy môn thể dục đạt kết quả tốt theo chương trình đổi mới chỉ tiêu và phương pháp dạy học của học sinh khối 10 trường trung học phổ thông quan sơn " Giáo án 1 Ngày soạn:............... Tuần : 03 PPCT: 06 Thể dục - chạy ngắn I. mục tiêu: * Nội dung: - TDND: + Ôn: Động tác 1 - 7 - Chạy ngắn: + Học: Bài tập 2,4 SGK - Tr 61. 1.kiến thức: + Thể dục NĐ:Biết cách thực hiện các động tác từ 1 - 7. + Chạy ngắn: Biết cách chạy có giới hạn độ dài bước, chạy lặp lại các đoạn ngắn (20- 30m). 2. Kỹ năng: + Chạy ngắn: Thực hiện cơ bản đúng chạy có giới hạn độ dài bước, chạy lặp lại các đoạn ngắn (20- 30m). 3. Yêu cầu: Học sinh nghiêm túc, tích cực, tự giác tập luyện theo yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên. II. Sân bãi, dụng cụ, thời gian: Sân bãi: Sân thể dục của nhà trường. Thời gian: 45 phút. III. nội dung phươnh pháp: Phần Nội dung lvđ Phương pháp SL TG Mở đầu 1. Nhận lớp: - ổn định lớp, kiểm tra sỉ số. - Phổ biến nội dung, mục đích, yêu cầu của bài. 2. Khởi động: a. Khởi động chung: - tập 06 động tác thể dục tay không: + Tay ngực. + Vặn mình. + Lườn. +Lưng bụng. + Chân. + Toàn thân. - Xoay các khớp: Cổ tay, cổ chân, khuỷu tay, bả vai, hông, gối. - ép dọc - ngang. b. Khởi động chuyên môn: - Thực hiện các động tác liên hoàn: chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, lăng chân phía sau, lăng chân phía trước. 3. Kiểm tra bài cũ: Thực hành: + Tập từ động tác 1- 4. + Tập từ động tác 5 - 7. 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 2x8 2x8 2x8 1,5p 04p 03p - Lớp trưởng tập trung lớp, báo cáo sỉ số. - Giáo viên nhận lớp, phổ biến nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ bài học. - Đội hình nhận lớp: x x x x x x xx x x x x x x xx x x x x x x xx X x x x x x x xx *GV - Đội hình khởi động: x x x x x x x x x x x x x x x x X *GV - GV hướng dẫn cho học sinh khởi động. - LT điều khiển lớp khởi động. - GV quan sát sửa sai cho học sinh. - 2 - 3 học sinh thực hiện. - GV nhận xét, đánh giá, cho đểm. Phần cơ bản 1. Thể dục nhịp điệu: - Ôn tập (từ động tác 1-7) + Động tác 1: Giậm chân tại chỗ. + Động tác 2: Di chuyển ngang kết hợp với cổ. + Động tác3: lườn. + Động tác 4: Tay Ngực. + động tác 5: Đẩy hông. + Động tác 6: vặn mình. + động tác7: Nhún, bật lên cao, xuống bằng một chân, một chân co. 2. Chạy ngắn: - Học mới: + Chạy có giới hạn độ dài bước. + Chạy lặp lại các đoạn ngắn (20- 30m). 3. Cũng cố bài: Thực hành: - Thực hiện 07 động tác TDND. - thực hiện Chạy có giới hạn độ dáI bước, chạy lặp kại các đoạn gắn (20 - 30m). 4. Thả lỏng: - Thả lỏng: Tay, chân, toàn thân. 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 03L 03L 2x8 30p 30p 03p 02p - GV chia lớp thành hai nhóm nam và nữ: Nhóm 1 (nữ): Tập TDND. Nhóm 2 (nam): Tập chạy ngắn. (sau đó GV đổi vị trí và nhiệm vụ của hai nhóm.Giáo viên đi từng nhóm để hướng dẫn học sinh tập luyện). - GV làm mẫu, phân tích động tác sau đó hướng dẫn cho học sinh tập luyện. - HS nghiêm túc thực hiện theo sự hướng dẫn của GV. - GV có thể chia cử động ra để luyện tập sau đó phối hợp lại toàn bộ động tác. - GV quan sát sửa sai cho HS. - đội hình tập luyện TDND: x x x x x x x x x x x x x x x x X *GV - GV quan sát sửa sai cho học sinh. - Đội hình học chạy ngắn: x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x *GV - 02 - 04 HS thực hiện, gọi 02 HS khác lên nhận xét sau đó GV nhận xét và cũng cố bài. - GV hướng dẫn và tổ cho cho HS thả lỏng. - đội hình thả lỏng: x x x x x x x x x x x x x x x x X *GV Phần Kết thúc 1. Nhận xét ưu - nhược điểm tiết học. 2. Bài tập về nhà: Học thuộc và tập luyện thành thạo 07 động tác TDND. Thực hiện tốt 02 bài học mới của chạy ngắn. 3. Xuống lớp. 0,5p 0,5p 0,5p - Đội hình xuống lớp: x x x x x x xx x x x x x x xx x x x x x x xx X x x x x x x xx *GV Giáo án 2 Ngày soạn:.................. Tuần : 10 PPCT: 19 cầu lông - bóng chuyền I. mục tiêu: * Nội dung: - cầu lông: + Ôn: Kỹ thuật di chuyển đơn bứơc (tiến lùi phải) kết hợp đánh cầu thấp thuận tay. - Bóng chuyền: + Học: Chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt . 1.kiến thức: + Cầu lông: Biết cách thực hiện kỹ thuật di chuyển đơn bước (Tiến, lùi phải) kết hợp đánh cầu thấp thuận tay . + Bóng chuyền: Biết cách thực hiện chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt . 2. Kỹ năng: + Cầu lông: Thực hiện được kỹ thuật di chuyển đơn bước (Tiến, lùi phải) kết hợp đánh cầu thấp thuận tay . + Bóng chuyền:Thực hiện được chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt 3. Yêu cầu: Học sinh nghiêm túc, tích cực, tự giác tập luyện theo yêu cầu và hớng dẫn của giáo viên. II. Sân bãi, dụng cụ, thời gian: Sân bãi: Sân thể dục của nhà trờng. Thời gian: 45 phút. III. nội dung phươnh pháp: Phần Nội dung lvđ Phương pháp SL TG Mở đầu 1. Nhận lớp: - ổn định lớp, kiểm tra sỉ số. - Phổ biến nội dung, mục đích, yêu cầu của bài. 2. Khởi động: a. Khởi động chung: - tập 06 động tác thể dục tay không: + Tay ngực. + Vặn mình. + Lườn. +Lưng bụng. + Chân. + Toàn thân. b. Khởi động chuyên môn: - Xoay các khớp: Cổ tay, cổ chân, khuỷu tay, bả vai, hông, gối. - ép dọc - ngang. - Thực hiện các động tác liên hoàn: chạy bước nhỏ, nơng cao đùi, lăng chân phía sau, lăng chân phía trước. 3. Kiểm tra bài cũ: Thực hành: Thực hiện kỹ thuật đánh cầu thuận tay. 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 4x8 2x8 2x8 2x8 1,5p 04p 03p - Lớp trưởng tập trung lớp, báo cáo sỉ số. - Giáo viên nhận lớp, phổ biến nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ bài học. - Đội hình nhận lớp: x x x x x x xx x x x x x x xx x x x x x x xx Xcs x x x x x x xx *GV - Đội hình khởi động: x x x x x x x x x x x x x x x x Xcs *GV - GV hướng dẫn cho học sinh khởi động. - LT điều khiển lớp khởi động. - GV quan sát sửa sai cho học sinh. - 2 - 3 học sinh thực hiện. - GV nhận xét, đánh giá, cho đểm. Phần cơ bản 1. cầu lông. kỹ thuật di chuyển đơn bước kết hợp với đánh cầu thấp thuận tay (tiến, lùi phải). - Tiến phải - đánh cầu thấp thuận tay. - Lùi phải - đánh cầu thấp thuận tay. 2. Bóng chuyền. a. Học: chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trứơc mặt). - Tư thế chuẩn bị: Đứng hai chân bằng nhau (chân trước chân sau). - Động tác: Hai tay tạo thành hình túi, hai ngón cái hướng vào nhau. Khi bóng đén, tay tiếp xúc bóng ở phía sau và chếch xuống bên dưới quả bóng, tầm tiếp xúc trên trán huặc ngang trán, cách trán15 - 20cm. Khi tay tiếp xúc bóng, lực chuyền bóngđược phối hợp từ lực đạp chân, lực vươn cao ra trước của thân người, lực đẩy của tay từ dưới - lên cao - ra trước (60 - 65 độ). b. Trò chơi "chuyền bóng nhanh". 3. Củng cố bài: Thực hành: - Kỹ thuật di chuyển đơn bước kết hợp với đánh cầu thấp thuận tay (tiến, lùi phải). - Chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trứơc mặt). 4. Thả lỏng: - Thả lỏng: Tay, chân, toàn thân. 5-7l 5-7 10L 2-3l 2-3l 2x8 24P 24P 5p 06P 03P 02P - GV chia lớp thành hai nhóm nam và nữ: Nhóm 1 (nữ): Cầu lông. Nhóm 2 (nam): Bóng chuyền. (sau đó GV đổi vị trí và nhiệm vụ của hai nhóm.Giáo viên đi từng nhóm để hướng dẫn học sinh ôn luyện). - Trước khi ôn luyện Giáo viên sử dụng giáo án điện tử trình chiếu lại kĩ thuật tiến phải, lùi phải, giúp học sinh quan sát qua hình động và thực hiện. - Cán sự bộ môn cùng với GV điều khiển lớp tập luyện. - HS nghiêm túc thực hiện theo sự hướng dẫn của GV. - GV có thể chia cử động ra để luyện tập sau đó phối hợp lại toàn bộ động tác. - Đội hình tập luyện cầu lông: x x x x x x x x Xcs *GV - GV quan sát sửa sai cho học sinh. * Lưu ý GV có thể phân thành hai nhóm thực hiện tốt và chưa tốt để tiện cho việc sửa sai cho học sinh. - Tiếp tục sử dụng Giáo án điện tử trình chiếu kĩ thuật truyền bóng cao taybằng hai tay trước mặt, học sinh quan sát qua hình động - GV làm mẫu, phân tích động tác sau đó hướng dẫn cho học sinh tập luyện. - Đội hình tập luyện bóng chuyền: x x x x x x x x Xcs *GV - GV quan sát sửa sai cho học sinh. - GV hướng dẫn và tổ chức trò chơi cho học sinh. - Đội hình trò chơi: x x x x x x x x *GV - Đội hình nhận lớp: x x x x x x xx x x x x x x xx x x x x x x xx Xcs x x x x x x xx *GV - GV hướng dẫn và tổ cho cho HS thả lỏng. - đội hình thả lỏng: x x x x x x x x x x x x x x x x X *GV Phần Kết thúc 1. Nhận xét ưu - nhược điểm tiết học. 2. Bài tập về nhà: - Kỹ thuật di chuyển đơn bước kết hợp với đánh cầu thấp thuận tay (tiến, lùi phải). - Chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trứơc mặt). 3. Xuống lớp. 0,5p 0,5p 0,5p - Đội hình x

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Ở Thpt
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Tiểu Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Theo Chương Trình Gdpt Mới
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm Sáng Tạo Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tập Trải Nghiệm Được Áp Dụng Như Thế Nào Trong Lớp Học?
  • Phương Pháp Dạy Học Nêu Vấn Đề
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì Và Có Đặc Trưng Như Thế Nào?
  • Dạy Học Bằng Thuyết Trình Và Thuyết Trình Có Minh Họa Như Thế Nào Để Tăng Hiệu Quả
  • Combo Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi (2 Cuốn)
  • Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh

    PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học. Để tham khảo chi tiết các phương pháp tổ chức hoạt động sáng tạo giáo dục Phổ thông mới các thầy cô tham khảo bài viết sau đây và tải về file chi tiết đầy đủ.

    Kế hoạch tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cấp Tiểu học

    1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam

    Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.

    a) Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp). Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ dạy học các môn học và được sử dụng cùng với khái niệm hoạt động dạy học các môn học. Như vậy, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).

    Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm:

    – Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh).

    – Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp.

    – Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và phát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để lảm ra sản phẩm đơn giản.

    b) Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    So sánh môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình mới được thể hiện trong bảng sau:

    Mục đích chính

    Hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực nhận thức và hành động của học sinh.

    Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại.

    – Kiến thức khoa học, nội dung gắn với các lĩnh vực chuyên môn.

    – Được thiết kế thành các phần chương, bài, có mối liên hệ logic chặt chẽ.

    – Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước, mang tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, nhiều môn học; dễ vận dụng vào thực tế.

    – Được thiết kế thành các chủ điểm mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm

    Hình thức tổ chức

    – Đa dạng, có quy trình chặt chẽ, hạn chế về không gian, thời gian, quy mô và đối tượng tham gia…

    – Học sinh ít cơ hội trải nghiệm.

    – Người chỉ đạo, tổ chức họat động học tập chủ yểu là giáo viên.

    – Đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng…

    – Học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm

    – Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các mức độ khác nhau (giáo viên, phụ huynh, nhà hoạt động xã hội, chính quyền, doanh nghiệp,…)

    Tương tác, phương pháp

    – Chủ yếu là thầy – trò.

    – Thầy chỉ đạo, hướng dẫn, trò hoạt động là chính

    – Đa chiều

    – Học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính

    Kiểm tra, đánh giá

    – Nhấn mạnh đến năng lực tư duy

    – Theo chuẩn chung

    – Thường đánh giá kết quả đạt được bằng điểm số

    – Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực thực hiện, tính trải nghiệm.

    – Theo những yêu cầu riêng, mang tính cá biệt hóa, phân hóa

    – Thường đánh giá kết quả đạt được bằng nhận xét

    2. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông của một số nước trên thế giới

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống….

    b) Netherlands: Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những học sinh có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp. Học sinh gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi học sinh nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình.

    c) Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho học sinh và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kĩ năng trong chương trình, cho phép học sinh sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề làm theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho học sinh các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm…

    d) Đức: Từ cấp Tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kĩ năng cá biệt, trong đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình.

    e) Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo.

    g) Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, cấp Trung học phổ thông phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo.

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm 4 nhóm hoạt động chính:

    – Hoạt động tự chủ (thích ứng, tự chủ, tổ chức sự kiện, sáng tạo độc lập…);

    – Hoạt động câu lạc bộ (hội thanh niên, văn hóa nghệ thuật, thể thao, thực tập siêng năng…);

    – Hoạt động tình nguyện (chia sẻ quan tâm tới hàng xóm láng giềng và những người xung quanh, bảo vệ môi trường);

    – Hoạt động định hướng (tìm hiểu thông tin về hướng phát triển tương lai, tìm hiểu bản thân… Có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh động sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện xã hội của địa phương.

    3.1. Hoạt động câu lạc bộ (CLB)

    Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những người lớn khác. Hoạt động của CLB tạo cơ hội để học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,… Thộng qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực tế; CLB trò chơi dân gian…

    Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”.

    Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTNST như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…

    Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em.

    Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTNST.

    Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho học sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổ chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động. Thông qua hoạt động tổ chức sự kiện học sinh được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê. Khi tham gia tổ chức sự kiện học sinh sẽ thể hiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình. Ngoài ra, các em còn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến. Các sự kiện học sinh có thể tổ chức trong nhà trường như: Lễ khai mạc, lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo khoa học, hội diễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể chất của học sinh; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu; Hoạt động học tập thực tế, du lịch khảo sát thực tế, điều tra học thuật; Hoạt động tìm hiểu về di sản văn hóa, về phong tục tập quán; Chuyến đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài…

    Tải và xem đầy đủ Tại đây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Thông Qua Trải Nghiệm Là Một Phương Pháp Kích Thích Được Các Tiềm Năng Trí Tuệ Của Trẻ
  • Bàn Về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Chuyên Đê: Một Số Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1
  • Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực
  • Phương Pháp Giáo Dục Dạy Con Thông Minh Kiểu Nhật

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Nuôi Dạy Con Kiểu Nhật Qua 7 Bài Dạy Đáng Ngưỡng Mộ
  • Phương Pháp Nuôi Dạy Con Của Người Nhật Bản
  • Khi Con Bắt Đầu Tuổi Dậy Thì Cách Ứng Xử Của Cha Mẹ Rất Quan Trọng
  • Những Điều Cần Dạy Khi Con Gái Bước Vào Tuổi Dậy Thì
  • Khi Con Gái Bước Vào Tuổi Dậy Thì, Cha Mẹ Cần Dạy Cho Con Những Điều Gì?
  • 1. Nuôi dưỡng năng lực quan sát thế giới tự nhiên

    Giai đoạn trẻ từ 0 đến 3 tuổi là giai đoạn mà trí não của bé có khả năng hấp thu nhiều nhất (đến 2 tuổi bộ não của bé đã nặng bằng 80% trọng lượng não người lớn).

    Năng lực cơ bản giúp bé học tập sau này đều hình thành từ chính những trải nghiệm mà bé được trải qua trong giai đoạn này. Một trong những năng lực mà những đứa trẻ đều vô cùng nhạy bén là “năng lực quan sát” thế giới tự nhiên xung quanh mình. Hầu hết các trường mẫu giáo hay nhà trẻ Nhật đều cho các bé đi dạo công viên vào mỗi sáng để các bé được tự do sưởi nắng, được tự mình khám phá thiên nhiên. Theo người Nhật Bản, trẻ em trong độ tuổi này cần phải được:

    * Hòa mình vào thiên nhiên, học cách quan sát những sự vật xung quanh.

    * Trải nghiệm hạnh phúc khi bé có thể tự bản thân suy nghĩ và làm đến cùng những gì bé muốn.

    * Được nuôi dưỡng năng lực cảm thụ khi được người lớn nói cho nghe những tính từ chỉ cảm xúc, để bày tỏ sự ngạc nhiên hay cảm thán trước một cảnh đẹp…

    * Trải nghiệm những bí ẩn của thiên nhiên và sự vật để kích thích trí tò mò : như vì sao chạm tay vào áo len thì bị giật, thổi hơi vào kính thì kính mờ… thời kỳ ấu thơ cũng là thời kỳ nuôi dưỡng cảm thụ khoa học.

    2. Vai trò của mẹ cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của bé

    * Nuôi bé bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu sẽ giúp bé giảm nguy cơ mắc chứng tự kỷ.

    * Bế bé ở đằng trước để tạo sự gần gũi và gắn kết.

    * Nghiêm khắc và rèn luyện cho bé tính kỷ luật ngay từ khi còn nhỏ.

    * Để bé bắt chước những việc làm mẹ và những lời mẹ nói: hãy dùng từ lặp lại nhiều lần khi nói chuyện với bé, hãy nói những từ hay câu ngắn để bé dễ bắt chước.

    * Khi bé được khoảng 2 tuổi, bắt đầu cho bé chơi với các bạn để giúp bé nuôi dưỡng tính xã hội, học cách điều khiển cảm xúc của bản thân và cách tồn tại trong tập thể.

    * Tạo thói quen sinh hoạt có quy tắc cho bé như ngủ sớm, dậy sớm, ăn đúng giấc.

    * Luôn nhớ rằng con cái không phải “vật sở hữu” của bố mẹ, hãy để bé phát triển tự nhiên, bố mẹ hướng dẫn nhưng đừng áp đặt.

    * Tạo cho bé một môi trường sống phong phú giúp bé có nhiều khả năng lựa chọn để phát hiện ra mình yêu thích và sẽ theo đuổi điều gì ngay từ khi còn nhỏ.

    3. Truyền cảm hứng, kích thích trí tò mò và khơi gợi niềm yêu thích của bé

    * Cách hiệu quả nhất khiến bé làm một điều gì đó là kích thích sự quan tâm của bé. Ép buộc bé học bài sẽ khiến bé cảm thấy ghét học, thay vào đó bố mẹ có thể kích thích lòng hiếu kỳ và sự thích thú của bé đối với việc học tập. Khi đó bé sẽ xem học tập là một niềm vui và chủ động học.

    * Bé còn nhỏ và không phân biệt được thế nào là tốt xấu. Điều tốt đơn giản là những thứ khiến bé thấy thú vị, là khi bé được yêu thương khen ngợi. Ngược lại, điều xấu là thứ khiến bé bị la mắng, bị trừng phạt. Trẻ nhỏ không hiểu được lý do chúng bị la mắng và việc la mắng chỉ mang lại cảm xúc tiêu cực cho các bé. Ba mẹ lúc này phải giúp trẻ phân biệt đâu là điều nên làm và không nên làm, việc khen ngợi và kỷ luật đúng cách, đúng lúc sẽ hình thành tính cách và nhận thức của bé.

    * Trí tò mò kích thích sự phát triển não bộ cho bé. Nếu mẹ kể một câu chuyện cho bé nhiều lần, bé sẽ muốn tự mình kể lại câu chuyện đó, trí tưởng tượng và sự sáng tạo của bé sẽ phát triển khi bé suy nghĩ để thực hiện. Bố mẹ phải tránh áp đặt những ý tưởng của bản thân cho bé, cứ để bé thỏa sức sáng tạo.

    * Phát triển trực giác cho bé nên là ưu tiên hàng đầu của bố mẹ.Trực giác là một khả năng rất quan trọng, mặc dù khoa học không thể giải thích được. Bé sẽ hành động và cảm nhận mọi thứ theo bản năng, bố mẹ đừng nên ép buộc, để sáu giác quan của bé được phát triển toàn diện nhất.

    4. Nuôi dưỡng tâm trạng cho bé từ giai đoạn trứng nước

    * Chơi nhạc cụ giúp phát triển khả năng tập trung. Những bé tham dự các lớp học về âm nhạc có khả năng tập trung và tính kỷ luật tốt hơn. Bố mẹ có thể khơi dậy sự hứng thú của bé, khiến bé thấy vui thích khi tham gia các lớp học về âm nhạc. Sự phát triển từ nhỏ sẽ giúp hình thành các phẩm chất lãnh đạo cho bé và khả năng tập trung cao cho bé trong tương lai. Nhiều bậc phụ huynh cho rằng những phẩm chất và kỹ năng này có thể được phát triển trong giai đoạn sau khi bé lớn lên, tuy nhiên điều đó không đúng, việc phát triển khả năng tập trung và phẩm chất lãnh đạo từ giai đoạn đầu sẽ có hiệu quả tốt hơn rất nhiều.

    * Bố mẹ có thể giúp đào tạo trí nhớ cho bé. Não bộ của trẻ dưới 3 tuổi có thể ghi nhớ tới 200 bài thơ ngắn, nếu bé không sử dụng khả năng ghi nhớ của mình, những tiềm năng của bé sẽ không được khai phá. Bé sẽ cảm thấy hứng thú học tập hơn nếu bố mẹ cùng học và ghi nhớ bài vở theo một cách thú vị.

    * Bé cần được tiếp xúc với những gì đẹp nhất vào lúc lọt lòng. Mẹ hãy cho bé nghe những bản nhạc hay, những tranh ảnh đẹp. Bằng cách nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật và thẩm mỹ cho bé, mẹ có thể giúp bé có khả năng nhận biết thế giới xung quanh tốt hơn.

    6. Những điều ba mẹ nên tránh

    * Sự phát triển từ những bước đầu tiên không nhắm vào việc chuẩn bị cho bé đến trường mẫu giáo. Hệ thống giáo dục hiện đại chỉ hướng vào điểm số và các kỳ thi, chứ không tập trung vào phát triển kiến thức cho bé. Sự phát triển tốt trí não từ sớm sẽ giúp bé tự tư duy tốt và tránh được những khó khăn tại trường học.

    * Bố mẹ là “giáo viên” day bé nhiều điều hơn hết. Sự phát triển của bé từ những năm tháng đầu đời phụ thuộc vào sự quan tâm và kiên trì tận tâm của bố mẹ.

    * Con cái không phải tài sản của bố mẹ. Bố mẹ thường có ý nghĩ rằng: “Tôi muốn con gái tôi trở thành một nhạc sĩ” hay “Tôi muốn con trai tôi trở thành một kỹ sư”. Nhưng đó là giấc mơ của ba mẹ, hãy để bé lựa chọn điều bé muốn làm. Bố mẹ chỉ nên giúp bé nỗ lực đạt được thành công trong tương lai.

    Một điều cần thiết nữa mà ba mẹ cần dạy cho các bé là học cách tin tưởng vào người khác, đức tính đó giúp bé có cái nhìn lạc quan và hướng thiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nuôi Dạy Con Kiểu Nhật Bản
  • Cùng Mẹ Việt Chia Sẻ Bí Quyết Nuôi Dạy Con Kiểu Nhật Toàn Diện Nhất
  • Cách Dạy Con Trai Tuổi Dậy Thì Đúng Chuẩn, Cho Con Lớn Khôn
  • 10 Cách Dạy Con Tuổi Dậy Và Hiểu Tâm Lý Con Trẻ Cho Ba Mẹ
  • Gỡ Rối Phương Pháp Dạy Con Tư Duy Độc Lập Và Sống Có Trách Nhiệm
  • Cách Dạy Trẻ Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Trẻ Thông Minh Sớm Với 5 Phương Pháp Giáo Dục Tiên Tiến
  • Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Theo Phương Pháp Montessori
  • Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Theo Phương Pháp Montessori Bố Mẹ Đã Biết Chưa?
  • Combo Khóa Học Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Theo Phương Pháp Montessori
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Bank Street: Trẻ Em Là Trung Tâm
  • Phương pháp giáo dục sớm là phương pháp được áp dụng cho trẻ từ 0- 6 tuổi. Đây là giai đoạn quan trọng để khai phá tiềm năng cùa trẻ

    Giáo dục sớm là gì? Phương pháp giáo dục sớm là phương pháp được áp dụng cho trẻ từ 0- 6 tuổi. Mục tiêu của giáo dục sớm là phát triển tư duy, rèn tính tự giác, kỹ năng hoà nhập, sự tôn trọng, đánh giá cao ưu điểm của bản thân trẻ. Trọng tâm của phương pháp giaó dục sớm là phát triển tư duy, làm phong phú đời sống tinh thần, xây dựng tính thẩm mỹ, môi trường vận động , … phù hợp cho trẻ.

    Dạy trẻ theo phương pháp giáo dục sớm

    Tại sao nói giai đoạn từ 0 -6 tuổi là “giai đoạn vàng ” để phát triển trí tuệ?

    Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng: từ bào thai cho tới 4 tuổi, não (trí thông minh) của trẻ phát triển 50%, từ 4 – 8 tuổi phát triển 30% nữa, tất cả các giai đoạn còn lại cho tới trưởng thành chỉ chiếm 20%. Chính vì thế mà người ta nói giai đoạn từ 0 -6 tuổi là “giai đoạn vàng ” để phát triển trí tuệ.Như vậy việc giáo dục sớm có vai trò quyết định đến cuộc đời của trẻ.

    0- 6 tuổi : GIAI ĐOẠN QUAN TRỌNG ĐỂ KHAI PHÁ TIỀM NĂNG CỦA TRẺ

    Một đứa trẻ khi mới ra đời, có số lượng các tế bào liên kết thần kinh trong não chỉ bằng một phần mười so vói người lớn, thông qua những trải nghiệm phong phú đa dạng trong cuộc sống sau này, các tế bào liên kết sẽ không ngừng gia tăng số lượng, khi trẻ khoảng 2, 3 tuổi, số lượng này đã tăng gấp 20 lần so vói khi mới sinh. Điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ trao đổi chất trong não bộ của trẻ vào lúc này rất cao, nên sự phát triển trí lực và khả năng học tập trong giai đoạn này cũng rất nhanh, thậm chí còn vượt xa cả người trưởng thành.

    Kết quả của một cuộc nghiên cứu kéo dài suốt 18 năm đã chỉ ra rằng, năng lực của những đứa trẻ đã từng tiếp xúc vói giáo dục sớm trước 6 tuổi trong lĩnh vực đọc sách và học toán, thậm chí trong cả thành tích học tập ở tiểu học, trung học đều cao hơn những đứa trẻ không được tiếp xúc với giáo dục sớm.

    Do đó, giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi của trẻ chính là quãng thời gian chính để phát triển trí thông minh. Sự phát triển của não bộ không giống vói sự phát triển của hệ miễn dịch hay phát triển xương, điều đó có nghĩa là phát triển não bộ chỉ có một giai đoạn, khi đã trải qua giai đoạn đỉnh cao này, sự phát triển của hệ thần kinh trung ương cơ bản đã hình thành, nên sau này có muốn bổ sung thêm cũng là điều rất khó khăn.

    Chính vì vậy bậc cha mẹ phải nắm bắt được giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi này: phải cung cấp chế độ bồi dưỡng đầy đủ nhất, phong phú nhất, đồng thời phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của não bộ cùng các bộ phận khác trên cơ thể; không chỉ vậy còn phải tạo ra sự kích thích từ môi trường bên ngoài một cách hoàn thiện nhất, để kết cấu và tổ chức bên trong não bộ phát triển nhanh và lành mạnh.

    Phương pháp 1: Thường xuyên trò chuyện với trẻ, đừng lo trẻ không hiểu gì

    Các nhà khoa học phát hiện ra rằng, khi mẹ dùng những từ ngữ càng phong phú để nói chuyện vói trẻ, sự kích thích lên các gân thần kinh ở não bộ đạt được càng nhiều. Vì vậy khả năng ngôn ngữ, khả năng tư duy logic và khả năng lập kế hoạch của trẻ cũng trở nên mạnh hơn.

    Mẹ hãy dùng sự cẩn thận, tỉ mỉ và lòng chuyên tâm để đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của trẻ, tạo ra một mối quan hệ đáng tin cậy cho trẻ. Dần dần trẻ sẽ có tình cảm yêu thương gắn bó vói mẹ, và có được cảm giác an toàn từ chính người mẹ của mình, điều này còn mang lại cho trẻ dũng khí rất lớn để chúng có thể tự tin khám phá thế giới xung quanh.

    Phương pháp 4: Cho trẻ được trải nghiệm tình cảm

    Thái độ lịch sự, có thiện ý và nhân văn của cha mẹ đối vói người khác sẽ được ghi lại trong não bộ của trẻ. Theo thời gian những phản ứng tình cảm sẽ tích tụ dần trong não trẻ, điều này không chỉ có lợi cho sự phát triển cảm xúc của trẻ, mà còn có lợi cho quá trình phát triển năng lực nhận thức và ngôn ngữ.

    Phần mềm dạy trẻ học tiếng anh, tiếng việt theo phương pháp giáo dục sớm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Nên Chọn Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Giáo Dục Reggio Emilia
  • Trường Mầm Non Quốc Tế Kindy Garden Montessori Có Tốt Không? Học Phí Bao Nhiêu?
  • Thực Hành Theo Phương Pháp Giáo Dục Sớm Shichida Nuôi Dạy Con Thành Thiên Tài
  • Giáo Dục Sớm I Nuôi Dạy Con Theo Phương Pháp Người Do Thái
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Từ 0
  • Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Sơ Sinh Đến 3 Tháng Tuổi Theo Phương Pháp Của Người Nhật Giúp Bé Thông Minh Khỏe Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Bé Sơ Sinh Sai Lầm Nên Tránh
  • Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Mẫu Giáo Dân Tộc Thiểu Số
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục An Toàn Giao Thông
  • Giáo Dục Ý Thức Về Atgt Cho Trẻ Mầm Non
  • Giáo sư Shichida là 1 giáo sư nổi tiếng người Nhật Bản về giáo dục sớm, ông đã nghiên cứu về giáo dục sớm cả cuộc đời và có nhiều thành tựu nổi bật. Theo giáo sư Shichida, chúng ta đừng bỏ lỡ giai đoạn vàng này của trẻ, mà hãy nghĩ cách kích hoạt khả năng tiếp thu trong giai đoạn này bằng cách kích hoạt các giác quan của trẻ, đó là 5 giác quan chính- thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác.

    Về Thị giác:

    Xung quanh giường của em bé mới sinh, phải có các bức tranh phong cảnh thế giới nổi tiếng. Phải để tâm tới việc bao bọc bé trong một môi trường đầy sắc thái phong phú. Trên kệ, giá sách, phải trưng bày những món đồ chơi có sắc màu tươi sáng, hay những khối hình gỗ xếp (tsumiki) màu sắc, chẳng hạn thế.

    Màu sắc mà em bé sơ sinh thích, không phải là hồng hay xanh lơ. Màu sắc mà em bé thích nhất là 2 tông màu rõ ràng sắc nét đen và trắng. Em bé thích cái bộ mobile (có 1 trục ở giữa, treo lơ lửng các hình thù thành 1 chùm, quay quay) màu đen trắng hơn là bộ mobile có màu cầu vồng nhàn nhạt pha trộn các màu.

    Chưa được 9 tháng tuổi thì hệ thần kinh thị giác chưa phát triển hoàn chỉnh, em bé chưa thể phân biệt các màu sắc đỏ, xanh, vàng. Nếu đến 6 tháng tuổi mà bé chán nhìn hình kẻ vằn ngang và ô kẻ ka-rô thì đổi sang mobile có ô kẻ ka-rô nhỏ hơn (từ ô cạnh 6cm xuống ô cạnh 2 cm) xem sao. Nếu làm vậy mà bé vẫn không thích thú lắm thì dừng việc cho bé nhìn ô trong một thời gian.

    Nên dán bảng chữ cái gần giường bé ngủ. Dán sẵn một bảng chữ cái với những chữ cái được in màu đỏ, to, rõ ràng. Em bé được làm quen với chữ cái từ lúc lọt lòng khi lớn lên, nhìn thấy chữ sẽ rất thích thú.

    Bế em bé tới gần bảng chữ cái, mỗi ngày 1 một lần, mỗi lần 2,3 giây thôi, lặp đi lặp lại như vậy, cũng khiến bé vui sướng vùng vẫy chân tay mỗi khi được bé tới gần bảng chữ cái đó.

    Về Thính giác:

    Tiếp theo, hàng ngày nên cho em bé nghe những bản nhạc có chọn lọc. Mỗi lần chỉ nghe khoảng 15 phút, mỗi ngày nghe khoảng 30 phút là được. Nên để bé nghe những bản nhạc nhẹ nhàng với âm lượng không quá lớn. Phải chú ý rằng, nếu để em bé nghe băng hay đĩa CD trong thời gian dài, em bé sẽ quen và thích tiếng máy, tiếng băng đĩa hơn và không có biểu hiện cảm xúc với tiếng nói thực của người mẹ.

    Khi cho em bé nghe nhạc, hãy cho em bé đứng trên đầu gối mẹ, cho em bé đu đưa từ sau ra trước theo nhịp nhạc xem sao. Tức là 2 tay mẹ giữ nách em bé, hơi nhấc em bé lên cho chân không chạm tới gối mẹ, rồi lại đặt xuống cho chân bé chạm tới gối mẹ. Cũng có thể cho em bé nghe nhạc múa ba lê.

    Điều quan trọng là phải nói chuyện nhiều với em bé từ khi lọt lòng. Khi cho em bé bú, khi thay tã lót, khi tắm cho bé, hãy nhẹ nhàng nói chuyện với bé.

    Bà Thompson người Anh (gốc Nhật, lấy chồng người Anh, đang làm việc cho tổ chức UNESCO) là người khai sáng ra phương pháp dạy ngôn ngữ cho em bé từ khi lọt lòng- phương pháp giáo dục Kal-bitte). Từ khi em bé được 2 tuần tuổi, ngày nào cũng đưa em bé tới công viên gần nhà, cho em bé cầm nắm bông hoa, cái lá và dạy “đây là bông hoa này, hoa, hoa”, cũng làm như vậy để dạy em bé từ “cái lá, lá”. Cứ làm vậy, khi em bé này được 8 tháng tuổi, đã biết phát âm chính xác từ “hoa” bằng tiếng Anh, và sau đó nói trơn tru như suối chảy.

    Em bé này, đã có thành tích vượt trội các bạn khi học mẫu giáo và tiểu học. Khi 10 tuổi em được đặc cách xếp vào lớp học có trình độ phù hợp với học sinh cấp 2, sau 1 tháng đi học, làm bài kiểm tra em đạt điểm cao nhất lớp.

    Khi 15 tuổi, em thi đậu vào trường đại học Cambridge, song vì tuổi còn quá nhỏ nên không được nhập trường. Cùng lúc đó, em lại được 6 trường đại học khác trong thủ đô London đón nhận, em đã chọn khoa y trường đại học London. Và em luôn có thành tích xuất sắc hơn cả các anh chị cùng lớp. Hiện nay em mới 18 tuổi đang theo học ở trường đại học này.

    Chúng ta hãy noi gương bà Thompson cách dạy con như vậy, hàng ngày đưa bé ra công viên, cho bé cầm hoa và dạy “đây là bông hoa, hoa, hoa”.

    Đọc thơ, hát cho em bé nghe bằng giọng thực của người mẹ. Tuyệt đối không được cho em bé xem TV. Chỉ cho em bé xem TV khi đã tròn 3 tuổi. Chúng ta nên nhớ kĩ điều này.

    Về Xúc giác:

    Từ lúc lọt lòng, em bé đã bắt đầu học rất nhiều điều và ghi nhớ rất kĩ lưỡng vào bộ nhớ của mình, những gì nhìn thấy, nghe thấy… hình thành nên nếp tư duy rõ nét trong não bộ.

    Bú sữa mẹ, đây là bài học đầu tiên bằng xúc giác của em bé. Chúng ta hãy quan sát kĩ một em bé bú mẹ, sẽ thấy, thao tác tìm ti mẹ, ngậm miệng vào ti, mút sữa tiến bộ rất nhanh. Lúc đầu còn bị đập mũi hay vập cằm khó khăn lắm mới tìm được đúng đầu ti mẹ để đúng vào miệng, nhiều người mẹ lấy tay giúp con, song tự em bé có thể điều chỉnh được rất nhanh.

    Người mẹ nên cố tình để đầu ti chạm vào những vị trí khác môi, miệng bé như hàm trên, hàm dưới, cằm, má phải, má trái. Làm vậy để em bé nhanh chóng học được cách điều chỉnh không gian, cảm nhận được vị trí trên- dưới, phải-trái. Không chỉ bằng đầu ti mẹ như trên, còn có thể dùng ngón tay, cái khăn xô, hay cái ống hút cọ nhè nhẹ hàm trên, hàm dưới của bé. Bé sẽ biết được cảm giác khi được liếm, cắn vào những vật này, và sẽ không cắn mút những thứ này như khi mút ti mẹ.

    Về Vị giác

    Dùng khăn xô thấm 1 ít nước nguội, nước lạnh, nước vị ngọt, nước vị mặn, nước vị chua, từng vị một cho bé nếm. Đây là cách kích hoạt vị giác rất tốt.

    Lực nắm

    Hãy cho em bé cầm nắm ngón tay của mẹ. Em bé khi mới lọt lòng được huấn luyện cầm nắm đồ vật ngay, sẽ rất nhanh khôn.

    Càng lúc mới sinh, em bé càng có khả năng nắm giữ đồ vật gì đó bên mình, song khả năng này lại biến mất rất nhanh.

    Để cho lực nắm này của em bé không mất đi, chúng ta nên luyện tập cho em bé cầm đồ vật từ khi mới chào đời.

    Phu nhân Stonar người Mỹ đã cho con mình tập cầm nắm cái que nhỏ từ khi nó được 15 ngày tuổi. Sau này đứa con đó của bà trở thành đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh. Mới có 1 tháng rưỡi tuổi đã biết ngồi, trông như một em bé bình thường 4 tháng tuổi.

    Tất nhiên phải lưu ý các bậc cha mẹ, khi luyện tập cho con cầm nắm, không được rời mắt nửa bước, kẻo bé va quệt đồ vật vào đầu, vào mặt, vào người, thành tai nạn.

    Về Khứu giác

    Hãy cho em bé ngửi hương thơm của hoa. Bé sẽ ngoái đầu về phía có hương thơm đó. Nếu cho em bé ngửi nhiều mùi khác nhau, khứu giác sẽ được kích thích phát triển tốt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Phương Pháp Và Giáo Sư Glenn Doman
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Glenn Doman
  • Phương Pháp Giáo Dục Dành Cho Trẻ Nhút Nhát (Tái Bản 2021)
  • Lời Khuyên Cho Các Bậc Phụ Huynh Có Trẻ Nhút Nhát
  • Phương Pháp Giáo Dục Dành Cho Trẻ Nhút Nhát
  • Tin tức online tv