Top 20 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Học Jello / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Trường Mầm Non Jello Academy / 2023

Trường mầm non Jello Academy là trường mầm non quốc tế tiên phong trong việc áp dụng phương pháp giáo dục đang phổ biến tại Hoa Kỳ là STEM+Arts Hoa Kỳ và các giáo cụ bổ trợ việc dạy và học sinh động trực quan.

Mang trong mình sứ mệnh tạo ra những trải nghiệm giáo dục vượt trội cho thế hệ tương lai của đất nước và theo định hướng Cách mạng 4.0, nhà trường luôn cố gắng xây dựng cho các bé nền tảng về các kỹ năng và kiến thức vững chắc để không chỉ dẫn đầu trong các cấp học cao hơn, mà còn có thể tạo ra những tiến bộ cho xã hội.

Định hướng giáo dục của Jello Academy tập trung khơi gợi trong các em tình yêu đối với khoa học, nghệ thuật và toán học. Trong tương lai, các nhà khoa học chính là động lực để thay đổi thế giới. Trong khi đó, nghệ thuật và toán học chính là chìa khóa mở cửa khả năng sáng tạo – kĩ năng quan trọng đối với các nhà khoa học.

Jello Academy có tổng diện tích lên đến 600m2, hệ thống cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, được trang bị những thiết bị tân tiến và phù hợp với những chương trình giáo dục mới, hỗ trợ tích cực cho các bé trong quá trình học và hoạt động phát triển tại trường.

Bên cạnh đó, nhà trường luôn quan tâm đến nguồn thực phẩm trong mỗi bữa ăn của trẻ và tình trạng thể lực của trẻ trong quá trình học tập tại trường. Nguồn thực phẩm luôn được chứng nhận có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo các tiêu chí về vệ sinh và chất lượng dinh dưỡng, thực đơn các bữa ăn của bé thay đổi theo mùa, giúp bé ăn ngon hơn và đầy đủ các chất cần thiết.

Toàn bộ đội ngũ điều hành và giáo viên giảng dạy tại Jello Academy đều tin tưởng những giá trị chung mà nhà trường mong muốn mang đến cho học sinh và các bậc phụ huynh: “Tại Jello Academy, chúng tôi gọi các em học sinh là “Những ngôi sao Jello” và mong muốn các em sẽ trở thành những công dân trẻ tuổi tài năng và sáng tạo.”

Trường mầm non Jello Academy là trường mầm non cao cấp với chương trình giáo dục hiện đại được chắt lọc tinh túy từ chương trình giáo dục Việt Nam và các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…Phương pháp giảng dạy tại Jello Academy giúp phát triển toàn diện cho trẻ theo định hướng STEM + Arts với bộ giáo cụ hấp dẫn và sáng tạo.

Trường mầm non Jello Academy mang trong mình sứ mệnh tạo ra những trải nghiệm giáo dục vượt trội cho thế hệ tương lai của đất nước.

Trường mầm non Jello Academy sẽ xây dựng cho các em học sinh nền tảng kĩ năng và kiến thức vững chắc để không chỉ dẫn đầu trong các cấp học cao hơn, mà còn có thể tạo ra những tiến bộ cho xã hội.

Định hướng giáo dục của Jello Academy tập trung khơi gợi trong các em tình yêu đối với khoa học, nghệ thuật và toán học. Trong tương lai, các nhà khoa học chính là động lực để thay đổi thế giới. Trong khi đó, nghệ thuật và toán học chính là chìa khóa mở cửa khả năng sáng tạo – kĩ năng quan trọng đối với các nhà khoa học.

Toàn bộ đội ngũ điều hành và giáo viên giảng dạy tại Jello Academy đều tin tưởng những giá trị chung mà chúng tôi mong muốn mang đến cho học sinh và các bậc phụ huynh, đó là:

NĂNG ĐỘNG – TỰ TIN – CHIA SẺ – YÊU THƯƠNG – TÔN TRỌNG – SÁNG TẠO – TỰ LẬP – THÔNG MINHNguồn: https://jelloacademy.comFace: https://www.facebook.com/JelloAcademyKindergarten/ ( Jello Academy Kindergarten )

Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Ký Hiệu Học / 2023

Trước khi làm quen với phương pháp ký hiệu học, chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là “ký hiệu” và thế nào là “ký hiệu học”?

Theo định nghĩa của từ điển bách khoa Larousse (Pháp) thì, một trong các nghĩa của “ký hiệu” là: “Đơn vị ngôn ngữ học được tạo thành bởi sự kết hợp giữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt.” Từ điển bách khoa Microsoft Encarta 99 Encyclopedia (Hoa Kỳ) cũng dành cho nó một nghĩa là: “Một dấu hiệu, một biểu trưng hay một biểu tượng được dùng để biểu thị một sự vật hay để phân biệt cái sự vật mà ký hiệu đó được gán cho nó. “Còn ký hiệu học thì được Encarta định nghĩa là “khoa học về ký hiệu”; và Larousse định nghĩa là “lý thuyết đại cương về ký hiệu”.

Có thể nói đây là một phong trào nghiên cứu có nhiều xu hướng khác nhau, có cái mang tính chủ quan (khía cạnh tâm lý), có cái lại thuần tuý khách quan. Nhà mỹ học Iuri Borey (Liên Xô cũ) đã chỉ ra rằng, trong lĩnh vực ký hiệu học có năm xu hướng cơ bản:

1) Lý thuyết khái niệm cho rằng ý nghĩa là hiện tượng bên trong của ý thức con người;

2) Lý thuyết hình thức quy ý nghĩa của một ký hiệu về quan hệ cú pháp của nó với các ký hiệu khác;

3) Lý thuyết hiện thực chủ nghĩa nhấn mạnh khía cạnh ngữ nghĩa;

4) Lý thuyết thực chứng tìm cội nguồn của ý nghĩa ở trong phản ứng của con người khi sử dụng ký hiệu hay ở hiệu quả thực tiễn của hành động;

5) Lý thuyết ngữ nghĩa khái quát đề xuất phương pháp phân tích ngữ nghĩa để giải quyết các nhiệm vụ của triết học và xã hội.

Gilbert và Kuhn cũng cho thấy rằng các nhà ngữ nghĩa học và ký hiệu học muốn xây dựng cho mình một khoa học thực chứng kết hợp với tâm lý học.

Do có sự tuyệt đối hoá phiến diện, lý thuyết ký hiệu học nghệ thuật xét về khả năng khái quát thì là một lý thuyết khiếm khuyết. Nhưng xét về từng khía cạnh cục bộ thì nó cũng có đóng góp nhất định. Một trong những nguyên nhân thực tế dẫn đến sự cần thiết phải tiến hành phân tích ký hiệu học ngữ nghĩa là tính mơ hồ và đa nghĩa của ngôn từ văn học. Sứ mạng của các nhà ngữ nghĩa học là xác định tính rõ nghĩa lôgic và xác định sự đồng tình của công chúng đối với những định nghĩa của các thuật ngữ lý luận – phê bình trong lĩnh vực nghệ thuật, đặt một định nghĩa vào trong mối quan hệ đúng đắn của nó với dụng ý và vốn từ của người định nghĩa. Họ cho rằng phân tích các yếu tố quy chiếu khác nhau sẽ làm chấm dứt cuộc “chiến tranh” liên miên và vô bổ giữa các từ ngữ.

Giống như phương pháp cấu trúc sau đó, phương pháp ký hiệu học cũng là một trong những phương pháp nghiên cứu cận cảnh đối với tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong tinh thần này, người ta có thể áp dụng phương pháp ký hiệu học để nghiên cứu những vấn đề rất đặc thù của văn học – nghệ thuật. Chẳng hạn Roland Barthes (Pháp 1915-1980), một trong những chủ soái của chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc sau này, ban đầu đã dùng phương pháp ký hiệu học để phê bình văn phong của tác phẩm văn học. Năm 1953, trong công trình Độ không của lối viết [t.Pháp: “Le Degré zero de l’écriture”], Barthes đã định nghĩa cấp độ cuối cùng của văn học là “lối viết trung tính”, một hình thức phủ nhận cái chức năng tu từ truyền thống của văn học. Và ông coi tác phẩm Kẻ xa lạ của nhà văn phi lý người Pháp Albert Camus là sự thể hiện đầu tiên của văn phong trung tính này. Theo Barthes, đây là kiểu mẫu của một lối văn phong cực kỳ đơn giản, nó làm cho văn học sáp gần với báo chí. Và đây cũng là văn phong chủ đạo của Camus trong toàn bộ sáng tác của ông, nó là kết quả của phương pháp sáng tác có chủ đích của ông là phương pháp hành vi luận (chính Camus, ngay từ dòng đầu của cuốn tiểu thuyết Dịch hạch, cũng đã gọi tác phẩm này là một “bản biên niên sử”).

Quả thực, chúng ta thấy rằng trong Kẻ xa lạ có vô vàn những ký hiệu bộc lộ cái văn phong trung tính nói trên. Đó là một văn phong thể hiện sự vô cảm của nhân vật, thể hiện bản tính “xa lạ” của nhân vật trước cuộc sống của xã hội tư sản “dối trá” theo như lời của Camus. Ở đây, phương pháp ký hiệu học sẽ tỏ ra rất có hiệu quả cho việc nghiên cứu Kẻ xa lạ. Nhân tiện, tôi muốn làm một cuộc khảo sát ký hiệu học nho nhỏ đối với đoạn mở đầu tác phẩm này để cho thấy thái độ dửng dưng, xa lạ của nhân vật cùng văn phong trung tính của tác giả.

Đoạn mở đầu tác phẩm L’étranger [Kẻ xa lạ], chúng tôi xin dịch như sau:

“Hôm nay mà chết. Hoặc có thể hôm qua, tôi không biết nữa. Tôi nhận được một bức điện của trại dưỡng lão: “Mẹ mất. An táng ngày mai. Chào Trân trọng”. Điều đó chẳng có nghĩa gì cả. Trai dưỡng lão nằm ở Marengo, cách Alger tám mươi cây. Tôi sẽ đáp xe buýt vào hai giờ và sẽ tới đó vào buổi chiều. Như vậy, tôi sẽ có thể trực bên linh cữu qua đêm và sẽ trở về vào tối mai. Tôi đã xin ông chủ cho nghỉ hai ngày, và, với một lý do như thế, ông không thể chối từ. Nhưng ông có vẻ không bằng lòng. Tôi đã nói với ông: “Đó không phải lỗi tại tôi”. Ông không trả lời. Tôi bèn nghĩ đáng ra mình không nên nói vậy. Tóm lại, lẽ ra tôi chẳng cần phải biện bạch. Chính ông phải ngỏ lời chia buồn với tôi mới đúng. Nhưng chắc ông sẽ làm thế vào ngày kia, khi thấy tôi để tang. Tạm thời, cứ xem như thể mà chưa chết. Trái lại, sau khi an táng xong thì đó sẽ là một việc đã rồi, và tất cả sẽ mang một dáng vẻ chính thức hơn.”

Đó chính là cách viết theo lối hành vi luận lạnh lùng và trung tính của Camus. Sự dồn nén tích luỹ các sự kiện bao giờ cũng dẫn đến sự bùng nổ và đột biến. Ngay cả trong Dịch hạch (viết sau ) cũng vậy, chúng ta cũng thấy có một giọng văn vô cảm chi phối suốt cả cuốn tiểu thuyết, cho đến trang cuối cùng nó mới đột biến để chuyển hoá thành dòng cảm xúc thống thiết nhưng vẫn tắc nghẹn của nhân vật chính là bác sĩ Rieux. Chúng ta hãy đọc đoạn kết của cuốn tiểu thuyết này: “Quả thực, khi nghe những tiếng reo vui từ trên phố vọng về, Rieux nhớ lại rằng niềm vui sướng này luôn luôn bị đe doạ. Bởi lẽ ông biết một điều mà đám đông đang vui sướng kia không biết và điều đó có thể được đọc thấy trong sách vở, rằng mầm bệnh dịch hạch không chết và không hề mất đi, rằng nó có thể ngủ im hàng chục năm trong những đống đồ đạc và quần áo, rằng nó kiên nhẫn nằm đợi trong các căn phòng, trong tầng ngầm, trong hòm riêng, trong những chiếc khăn tay và những đống giấy lộn, và rằng có thể đến một ngày kia, trong nỗi bất hạnh và là một bài học cho loài người, dịch hạch sẽ đánh thức đàn chuột cống của nó dậy rồi điều chúng đến chết ở một thành phố hạnh phúc.” Lối viết này đã trở thành phong cách riêng của Camus, và bằng phương pháp ký hiệu học, chúng ta có thể chứng minh được nó.

Cũng trong tinh thần của ký hiệu học, Roland Barthes đã tuyên bố trong tập Tiểu luận phê bình: “Văn học chỉ là một phương tiện, không nguyên nhân, không mục đích… Nhà văn cũng như một người thợ thủ công cố sức làm ra một cái đổ gì rất khó, mà không biết nên theo mẫu nào và cuối cùng rồi để làm gì… Bởi vì đặc thù của tác phẩm không phải là ở những cái được biểu đạt mà chỉ là ở hình thức tạo nghĩa [đáng ra người dịch câu này phải dịch là hình thức biểu đạt mới đúng – NVD].” Tức là tính đặc thù của tác phẩm là ở cái biểu đạt, ở cách thức dùng ngôn ngữ như thế nào để tạo ra nghĩa. Barthes luôn nhắc lại rằng “Văn học chỉ là ngôn ngữ, thực thể của nó là trong ngôn ngữ; mà ngôn ngữ là một hệ thống mang nghĩa tồn tại trước mọi công việc văn học. […] Nói một cách khác , so với bản thân những đối tượng phản ánh thì văn học về cơ bản và về cấu tạo mà nói là phi hiện thực; văn học chính là cái phi hiện thực.” Trong tinh thần đó, những người nào chỉ chăm lo cho cách viết như thế nào “mà không quan tâm đến việc viết về cái gì” thì được Barthes gọi là “nhà văn” [t.Pháp: écrivain”], còn những người nào dùng văn học để phản ánh hiện thực thì được ông gán cho một tên gọi mà ông tự đặt ra trong tiếng Pháp để chế giễu là “écrivaint” [“thợ viết”]. Quan điểm “duy hình thức” này cũng chính là quan điểm chung của các nhà ký hiệu học, của các nhà cấu trúc luận và hậu cấu – luận sau này.

Về phương pháp ký hiệu học, người ta còn có thể nghiên cứu các ký hiệu ngữ nghĩa của các nhà thơ để góp phần củng cố thêm cho một kết luận đã được rút ra bằng các phương pháp khác. Cụ thể, nhà nghiên cứu người Rumani Mihai Dinu đã thống kê tần suất các từ vần hiếm trong thơ của một số nhà thơ từ trình độ trung bình đến nổi tiếng để đi đến kết luận rằng những nhà thơ lớn thường sử dụng nhiều từ vần hiếm hơn so với những nhà thơ ít nổi tiếng. Đây là một kết luận khá lý thú đối với người Việt Nam ta. Từ đây liệu ta có thể suy ra rằng, việc sử dụng từ vần hiếm có phải là một trong những tiêu chuẩn làm nên giá trị của thơ ca? Và thế thì liệu những nhà thơ trước đây ta cho là “lớn” nhưng lại ít sử dụng từ vần hiếm thì có phải là những nhà thơ thật sự lớn không? Ở Việt Nam hiện chưa có ai quan tâm đến hướng nghiên cứu này.

Dù thế nào thì trong công việc thực hành nghiên cứu đối với hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học – nghệ thuật, đặc biệt là nghiên cứu thi pháp [hay thi pháp học, nhìn chung các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam không nhiều thì ít cũng đều phải tiến hành phân tích ý nghĩa của các từ ngữ, và như thế thì, một cách tự giác hay không tự giác, họ đều có dính dáng ít nhiều đến phương pháp ký hiệu học. Như chúng tôi đã nói, cũng giống như trong chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa cấu trúc, trong giới ký hiệu học đã có các xu hướng cực đoan thiên về nghiên cứu hình thức, và điều này cũng đã bị chính một số người trong giới ký hiệu học phản đối. Ví dụ như Robert Scholes đã cho rằng “những phẩm chất hình thức của văn học là kết quả của một quá trình làm gia tăng hoặc làm phức tạp thêm những đặc điểm thông thường của hoạt động giao tiếp của con người.” Và ông khẳng định: Không có một công trình nghiên cứu văn học nào lại có thể mang tính chất thuần tuý hình thức, và mọi nỗ lực nhằm quy giản việc nghiên cứu văn học về cấp độ này đều là sai lầm, nếu không nói là nguy hại. Trong chừng mực mà những công trình ký hiệu học nào cứ khăng khăng cho rằng hoạt động thông tin giao tiếp là một vấn đề của các hệ thống thuần tuý hình thức, thì chúng cũng có thể bị coi là sai lầm nếu không nói là nguy hại. Nhiều nhà ký hiệu học có thể cho rằng nghĩa của bất cứ một ký hiệu hoặc của một từ nào đều chỉ là một chức năng của vị trí của nó trong một hệ biến từ [“paradigmatic system”] và của việc sử dụng nó trong một tình huống ngữ đoạn [“syntagmatic situation”]. Nhưng tôi muốn nói rằng “nghĩa” cũng là một chức năng của kinh nghiệm con người.”

Quan điểm của Scholes là mọi ký hiệu đều có thể có những liên tưởng rất cụ thể đến kinh nghiệm sống của người tiếp nhận chứ không phải là một ký hiệu tự thân. Để minh hoạ cho điểm này, ông lấy ví dụ là khi gặp một biểu ngữ có ghi chữ “Hoà bình” và hình một con chim bồ câu, thì có người có liên tưởng đến sứ giả hoà bình; nhưng người Mỹ trong thời gian diễn ra chiến tranh Việt Nam sẽ liên tưởng đến một tình huống cụ thể hơn. Hay một biểu ngữ khác như “Hãy làm tình chứ không gây chiến” [“Make Love Not War”], sẽ gợi cho ta nghĩ đến “hoà bình” chứ không phải đến hành vi làm tình và gây chiến. Tương tự, biểu ngữ “Làm tình không sinh con” [“Make Love Not Babies”] cũng chỉ gợi cho chúng ta nghĩ đến chiến dịch vận động chống gia tăng dân số,… Ở Việt Nam, việc áp dụng ký hiệu học vào nghiên cứu văn học cũng đã bắt đầu được tiến hành. Ví dụ như GS Hoàng Trinh đã dùng phương pháp ký hiệu học kết hợp với lý thuyết thông tin để nghiên cứu độ dư của từ (còn gọi là nghiên cứu từ láy, từ lặp), từ đó rút ra các quy tắc vận dụng độ dư của từ để diễn tả tư tưởng và tình cảm, đặc biệt là trong thơ. Hoặc ông dùng phương pháp ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca mà ông gọi là nghiên cứu thi pháp thơ. Nói chung, nhiều nhà khoa học nước ta cũng đã ít nhiều áp dụng phương pháp lý hiệu học trong các công trình nghiên cứu của mình về ngôn ngữ nghệ thuật.

Phương pháp luận nghiên cứu Văn học.

Phương Pháp Dạy Học Hóa Học 2 / 2023

28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG1Trường ĐẠI HỌC SÀI GÒNKhoa SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊNBộ môn PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC(HỌC PHẦN II)28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG228-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG31. TÁC DỤNG CỦA BÀI TẬP HOÁ HỌCĐỐI VỚI GIÁO VIÊN– Đánh giá kiến thức của HS, giúp HS tự kiểm tra những lỗ hỏng kiến thức.– Rèn luyện cho HS tính kiên trì, cẩn thận và chiu khó, chính xác khoa học  làm cho HS yêu thích bộ môn.– …28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG4ĐỐI VỚI HỌC SINH– Phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS.(bài tập chuỗi phản ứng, bài tập nhận biết,…)– Giúp HS hiểu rõ và khắc sâu kiến thức.(bài tập nhận biết,…)– Hệ thống hoá kiến thức (bài tập chuỗi phản ứng, bài toán tổng hợp,…)1. TÁC DỤNG CỦA BÀI TẬP HOÁ HỌC28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG5– Cung cấp, mở rộng kiến thức và hiểu biết mới cho HS về thực tiễn và SXHH. (bài tập ứng dụng và bài tập lý thuyết mang tính ứng dụng).

– Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo bao gồm: sử dụng ngôn ngữ hoá học, lập CTHH, cân bằng PTPƯ, tính theo CTHH và PTHH; Các tính toán đại số: quy tắc tam suất, giải phương trình và hệ phương trình, kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau.1. TÁC DỤNG CỦA BÀI TẬP HOÁ HỌC28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG6Phát triển tư duy:1. TÁC DỤNG CỦA BÀI TẬP HOÁ HỌCTư duyTư duy tổng hợpTư duy so sánhTư duy suy diễnMinh hoạMinh hoạMinh hoạTư duy quy nạp28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG7Tư duy tổng hợpVí dụ 1. Hãy điều chế axit sunfuric bằng 2 phương pháp khác nhau.Ví dụ 2. Hãy viết phương trình phản ứng của chuỗi sau:Fe  Fe(OH)2  Fe(OH)3 FeO  FeCl2  FeCl3 Fe2(SO4)3 FeSO428-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG8Tư duy so sánhVí dụ 1. So sánh tính chất hoá học của axit sunfuric đặc và axit sunfuric loãng.Ví dụ 2. So sánh cấu tạo và tính chất hoá học của Metan và Axetilen.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG9Tư duy suy diễnVí dụ. Kim loại tác dụng với axit Sunfuric, HS suy ra Fe tác dụng với H2SO4 loãng tạo FeSO4. Nếu dư Fe thì sẽ tạo muối Fe2(SO4)3.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG102. PHÂN LOẠI BÀI TẬP HOÁ HỌC28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG11LÝ THUYẾT(mang tính lý thuyết bài học)THỰC NGHIỆM(giải thích các vấn đề trong đời sống dựa vào lý thuyết)MINH HỌAMINH HỌA28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG12BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNGTOÁN HOÁ HỌCBÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG THỰC NGHIỆMMINH HOẠMINH HOẠ28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG13BÀI TẬP TỔNG HỢPBÀI TẬP ĐỊNH TÍNHBÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNGMINH HOẠ28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG143. XÂY DỰNG ĐỀ BÀI TẬP HOÁ HỌC MỚI Xây dựng bài tập tương tự (chỉ cần thay đổi số liệu hoặc chất).

2. Lật ngược bài toán (lấy đáp số của bài toán thuận làm điều kiện cho bài toán nghịch).Minh họaMinh họa28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG153. Làm phức tạp bài toán theo chiều dọc

4. Làm phức tạp bài toàn theo chiều ngang.3. XÂY DỰNG ĐỀ BÀI TẬP HOÁ HỌC MỚIMinh họaMinh họa28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG161. Xây dựng bài tập tương tự (chỉ cần thay đổi số liệu hoặc chất)Bài tập cơ bản: cho 5,6g Fe tác dụng với dung dịch HCl, sau phản ứng thu được m (g) FeCl2 và V (lít) ở đktc khí Hiđro. Tính lượng muối FeCl2 và thể tích Hiđro sinh ra sau phản ứng.Bài tập mới: cho 13g Zn tác dụng với dung dịch H2SO4 thì thu được muối ZnSO4 và khí Hiđro. Tính lượng muối và khí sinh ra sau phản ứng trên28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG172. Lật ngược bài toán (lấy đáp số của bài toán thuận làm điều kiện cho bài toán nghịch)Bài toán thuận: tính % về khối lượng của các nguyên tố có trong hợp chất CuO.Bài toán ngược: trong thành phần của hợp chất X có 80% Cu, 20%O. Biết phân tử khối của X là 80. Lập công thức hoá học của X28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG183. Làm phức tạp bài toán theo chiều dọcBài toán sơ đẳng: tính thể tích khí oxi (ờ đktc) để cần đốt cháy hết 32g lưu huỳnh.Bài toán mới: tính thể tích oxi và không khí cần dùng để đốt hết 40g hỗn hợp chứa 80% lưu huỳnh. Biết rằng thể tích oxi bằng 1/5 thể tích không khí.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG194. Làm phức tạp bài toàn theo chiều ngangBài tập cơ bản: cho 8g NaOH phản ứng hết với dung dịch H2SO4. tính lượng muối tạo thành.Bài toán mới: cho 100ml dung dịch NaOH 2M vào 1 cốc có chứa 60ml dung dịch H2SO4 1M. Tính nồng độ mol của muối thu được.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG20Bài tập định tính1. Bài tập lý thuyết: Điền khuyết.– Viết PTPƯ, thực hiện các biến hoá.– Xét khả năng phản ứng có thể có. Nhận biết các chất. Tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp. Sửa chữa những sai sót.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG212. Các loại bài tập thực nghiệm: Tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp, nhận biết chất, điều chế các chất, …Ví dụ 1 (mang tính lý thuyết). điều chế muối CuCl2 bằng các phương pháp khác nhau. (Cu +Cl2; CuO + HCl; Cu(OH)2 + HCl; Cu + HgCl2; …)Ví dụ 2 (mang tính thực nghiệm). từ các chất Cu, O2, HCl, MnO2 hãy điều chế muối CuCl2 bằng các cách khác nhau.Bài tập định tính28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG22Bài tập định lượng1. Bài toán hoá học: gồm 2 tính chất: tính chất hoá học và tính chất toán học. Một số dạng thường gặp ở THCS– Từ 1 lượng chất, tính nhiều lượng chất khác nhau.– Biết đồng thời lượng của 2 chất tham gia, tính lượng sản phẩm thu được.– Bài toán hỗn hợp các chất.– Bài toán tính theo các PTHH xãy ra liên tiếp nhau.28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG23Các dạng toán khác:– Bài toán xác định nguyên tố hoá học.– Bài toán lập CTPT hợp chất (khi biết % khối lượng hoặc tỉ lệ khối lượng của các nguyên tố trong hợp chất).Bài tập định lượng28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG24 Là loại bài tập tương tự như bài tập thực nghiệm định tính nhưng kèm theo tính toán về lượng các chất (H%).Bài tập định lượng thực nghiệm28-03-2010NGUYỄN CÔNG CHUNG25Bài tập tổng hợp Nội dung của bài tập này phong phú, kết hợp rộng rãi 2 hoặc 3 nội dung các loại bài tập trên.Ví dụ. Viết PTHH thực hiện các biến hoá sau:C2H4 C2H5OH  CH3COOH  CH3COOC2H5 a. Gọi tên các sản phẩm. b. Tính thể tích C2H4 (đktc) dùng để điều chế được 33ml CH3COOC2H5 (d = 0,8). Biết rằng H% của phản ứng [1] là 50%, của phản ứng [2] là 80% và phản ứng [3] là 75%.

Phương Pháp Học Đại Học Hiệu Quả / 2023

Bài viết này tập trung vào vấn đề phương pháp học, bỏ qua ảnh hưởng suy nghĩ lên Đại học xả Stress sau thời gian dài áp lực và các yêu tố tác động khác do các bạn được tự do hơn khi xa nhà bước vào giảng đường

1. Thay đổi phương pháp giảng dậy

Môi trường giáo dục THPT là môi trường giáo dục theo hướng kèm cặp và thầy giảng trò nghe và ghi chép và phần lớn là học thuộc hoặc làm theo các phương pháp thầy cô đã dậy, đồng thời việc học tập THPT sẽ được thầy cô kiểm tra kỹ lưỡng sau mỗi buổi học vì vậy các trò nào cũng phải có gắng học tập. Đồng thời bố mẹ cũng kiểm soát thông tin của các học trò rất kỹ.

Kiểm tra bài cũ và được thầy cô kèm cặp khi học THPT

Lên môi trường giảng đường Đại học thầy cô không còn giảng theo kiểu đọc cho trò ghi ghi chép chép, lúc này là thầy cô chỉ chia sẻ kiến thức khung, cơ bản sinh viên tìm hiểu thêm thông qua sách vở và thông tin ngoài như mạng, báo chí. sau mỗi buổi giảng thì việc học hay không là tùy ở mỗi sinh viên, thầy cô chỉ dậy và chia sẻ kiến thức, tài liệu sách vở còn việc sinh viên có tiếp thu hay không thì chỉ đánh giá sau mỗi đợt thi kết thúc môn học, còn bố mẹ thì thường không còn kiểm soát được thông tin như học PTTH.

Như vậy đã có sự thay đổi rất lớn khi lên giảng đường.

– Người học chuyển tự phương pháp “Ép học” (Không học cũng phải học – ép học) sang phương pháp ” Học hay không thì tùy” (học hay không là tùy mỗi sinh viên)

– Chuyển từ việc thầy cô không đọc cho ghi chép như cấp 3, khi đi thi cũng không thi theo kiểu thầy dậy gì trò thi lấy mà thông thường là đề theo hướng mở bắt mỗi sinh viên phải hiểu bài giảng và nhiều khi mở rộng trên cơ sở thông tin sinh viên tự tìm hiểu thêm.

2. Thay đổi phương pháp học:

Như vậy để có kết quả học tập tốt trước hết các bạn phải thay đổi phương pháp học tập và cách suy nghĩ.

– Thay đổi phương pháp học: Tự học chính là phương pháp chính của học trên giảng đường, các bạn biết rằng từ student (SV) xuất phát gốc từ từ Study (tìm hiểu, nghiên cứu)

– Chuyển từ phương pháp học bị động sang chủ động: Khi bước vào các môn học các bạn phải tìm hiểu các tài liệu về môn học thông qua thầy cô và bạn bè và qua mạng để trước mỗi buổi học các đã có sử chuẩn bị bài và tìm hiểu trước như vậy có vấn đề gì các bạn có thể học thầy cô ngay tại giảng đường.

– Phải học theo tư duy phản biện: Khi học đại học các bạn phải thay đổi từ từ duy thầy cô giảng sao các bạn học vẹt như vậy mà các bạn phải luôn thắc mắc vì sao như thế?, tại sao như vậy? đồng thời phải nói lên quan điểm của mình về các vấn đề cho là chưa thầy phù hợp hoặc còn thắc mắc. Đồng thời có thể nghĩ mở rộng hướng giải quyết vấn đề theo những cách khác nhau.

– Lập nhóm học tập: Có một nhóm bạn cùng nhau học và hỗ trợ nhau trong học tập, sinh hoạt đời sống SV là điều nên và cũng có thể nói là cần thiết. Nhóm học tập sẽ giúp nhau cùng ôn bài khi thi, cùng nhau mua tài liệu. Học cùng nhau có thể tăng sự hứng thú khi lên lớp. Một thực tế là, cho dù bạn là SV siêng năng đến mấy, đời SV có những lúc bạn buộc phải vắng mặt trên lớp để làm thêm hay tham gia một hoạt động xã hội nào đó. Lúc này, bạn sẽ thấy sự hỗ trợ từ bạn bè là quan trọng như thế nào.

===========================================================

Theo Thethaohangngay