Phương Pháp Học Tập Môn Ngữ Văn

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả : Sơ Đồ Tư Duy
  • Lịch Sử Lớp 7 Su 7 Doc
  • Công Tác Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Thúc Đẩy Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs
  • Phương Pháp Học Tiếng Trung Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Dạy Học Bài Tập Thí Nghiệm Vật Lí
  • Để học tốt môn Văn lớp 6, học sinh cần ôn lại, nắm vững những kiến thức và kỹ năng sau đây: 1. Kiến thức: a. Truyện và kí, thơ, văn bản tự sự, văn bản nhật dụng, các tác phẩm văn học dân gian b. Từ loại, biện pháp tu từ, phân loại từ, phân loại câu, dấu câu, cách dùng từ, câu đúng ngữ pháp c. Phương pháp tạo lập kiểu văn bản tự sự, miêu tả. 2. Kỹ năng: a. Đọc – hiểu văn bản b. So sánh, phân tích, vận dụng kiến thức Tiếng Việt để thực hành đặt câu, tạo đoạn văn c. Kĩ năng tạo lập văn bản theo kiểu bài

    PHƯƠNG PHÁP HỌC TÂP MÔN NGỮ VĂN 6

    1. Trọng tâm kiến thức:

    Theo quy định của Bộ GD&ĐT; trọng tâm kiến thức bộ môn Văn lớp 6 gồm:

    a. Nắm vững kiến thức về thể loại, ý nghĩa nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

    b. Biết vận dụng kiến thức Tiếng Việt để vận dụng thực hành

    c. Nắm vững phương pháp làm của các kiểu văn bản để tạo lập văn bản đúng yêu cầu

    a. Kỹ năng thực hành:

    – Năng lực tự học

    – Năng lực cảm thụ văn học

    – Năng lực thẩm mĩ

    – Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

    – Năng lực giao tiếp

    – Năng lực hợp tác

    – Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông

    b. Năng lực ngôn ngữ:

    3. Rèn luyện phẩm chất

    a. Sống yêu thương, nhân ái

    b. Sống tự lập

    c. Sống trách nhiệm

    d. Sống tự trọng

    e. Sống có lòng biết ơn

    f. Sống hiếu thảo, lễ độ

    Để học tốt môn Văn lớp 6, học sinh cần ôn lại, nắm vững những kiến thức và kỹ năng sau đây:

    a. Văn bản: Văn học dân gian, văn học hiện đại (truyện, kí, thơ) và một số văn bản nhật dụng.

    b. Tiếng Việt: Từ loại, biện pháp tu từ, phân loại từ, phân loại câu, dấu câu, cách dùng từ, câu đúng ngữ pháp

    b. So sánh, phân tích, vận dụng kiến thức Tiếng Việt để thực hành đặt câu, tạo đoạn văn

    c. Kĩ năng tạo lập văn bản theo kiểu bài

    Để đạt kết qủa tốt trong việc học Văn lớp 6, học sinh sẽ được giáo viên hướng dẫn phương pháp học tập trong suốt quá trình giảng dạy. Học sinh sẽ rèn luyện để đạt kết quả tốt.

    1. Phương tiện học tập:

    + Truyện dân gian Việt Nam

    + Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài

    + Quê nội – Võ Quảng

    + Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

    + Tuổi thơ im lặng – Duy Khán

    + Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” – Trần Đăng Khoa

    + Đối với truyện: tóm tắt văn bản (có thể làm miệng), tìm bố cục, trả lời câu hỏi trong SGK (theo khả năng tìm hiểu của bản thân)

    + Đối với thơ: không soạn tóm tắt, chỉ tìm bố cục, trả lời câu hỏi SGK

    2. Sự chuẩn bị:

    Với Tiếng Việt:

    Với Tập làm văn:

    – Tập viết nhiều để rèn kĩ năng tạo lập văn bản (viết từng đoạn à viết thành bài).

    3. Hoạt động trong lớp:

    + Trình bày theo phương pháp truyền thống.

    + Trình bày theo sơ đồ tư duy

    4. Hoạt động ngoại khoá và ngoài giờ lên lớp:

    Với bộ môn Ngữ Văn có tổng cộng 9 cột điểm/ học kì.

    Kiểm tra miệng:

    có 2 cột điểm kiểm tra miệng trong 1 học kỳ. Điểm nhân hệ số 1

    Trả bài tại lớp:

    Kiểm tra tập bài soạn và tập bài tập: (Đột xuất)

    Kiểm tra 15 phút: có 2 cột điểm kiểm tra 15 phút trong 1 học kì. Điểm nhân hệ số 1.

    Kiểm tra 1 tiết: có 4 cột điểm trong một học kì. Điểm nhân hệ số 2

    – Giáo viên gửi đề cương, hướng dẫn nội dung ôn tập phần kiểm tra 1 tiết trước 1 tuần cho học sinh. (đồng thời đăng tãi đề cương ôn tập trên website trường THCS Nguyễn Du thcsnguyenduq1 )

    – Nếu học sinh vắng mặt trong ngày kiểm tra 1 tiết có phép, giáo viên sẽ cho kiểm tra lại với một đề khácsau khi học sinh đi học lại.

    Kiểm tra học kỳ:có 1 cột điểm thi học kì. Điểm nhân hệ số 3.

    – Giáo viên gửi đề cương, hướng dẫn nội dung ôn tập phần kiểm tra HK trước 1- 2 tuần cho học sinh. (đồng thời đăng tãi đề cương ôn tập trên website trường THCS Nguyễn Du thcsnguyenduq1 )

    Lưu ý: Tất cả nội dung bài học của bộ môn đều được GV đăng tải trên website trường ( thcsnguyenduq1 . Vì vậy, HS và PHHS có thể vào trang web để xem và giúp các em học, ôn lại bài, đồng thời giải quyết các bài tập hoặc chuẩn bị bài cho buổi học tiếp theo yêu cầu của GV.

    Tác giả: Lê Thị Huyền Phi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tập Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn Với Phương Pháp Quản Lý Thời Gian ‘đồng Hồ Cà Chua’
  • Phương Pháp Học Tập Và Nghiên Cứu Khoa Học Cho Sinh Viên
  • Học Tập Tích Cực Là Gì?
  • Phương Pháp Học Tốt Toán Lớp 6 Hay Nhất
  • Giáo Viên Chia Sẻ Phương Pháp Học Tốt Toán Lớp 6
  • Phương Pháp Học Tập Tốt Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Tốt Môn Ngữ Văn Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Học Anh Văn Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Anh Văn Giao Tiếp Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Anh Văn Let’s Go
  • Phương Pháp Cách Học Autocad Cực Hiệu Quả Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Văn học là một môn quan trọng đối với cấp THPT nói riêng và mỗi người học sinh nói chung. Nhưng làm thế nào để học văn thật tốt, đó lại là một câu hỏi cần được giải đáp.

    1. Đọc kỹ văn bản và phần chú thích

    – Đọc có suy nghĩ để chia bố cục bằng bút chì vào SGK.

    – Khi đọc có thể gạch dưới từ ngữ, câu trong văn bản (nếu thấy cần).

    – Nếu có điều kiện, các bạn nên tìm đọc trọn tác phẩm có đoạn trích học ở trên lớp.

    2. Tóm tắt truyện (nắm cốt truyện, nhớ tên nhân vật, địa danh…)

    3. Trả lời những câu hỏi phần “Đọc – hiểu văn bản” vào tập bài soạn theo khả năng của mình.

    4. Đối với thơ: nên thuộc bài thơ trước khi đến lớp thì mới có thể phân tích cảm thụ.

    1.Tập trung nghe giảng cùng các bạn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm dưới sự dẫn dắt của thầy cô. Cụ thể là:

    – Trước những câu hỏi, những vấn đề được đặt ra, phải chịu khó suy nghĩ, tìm câu trả lời.

    – Tích cực tham gia hoạt động nhóm phát biểu ý kiến. Điều đó không chỉ giúp các em trau dồi vốn ngôn ngữ mà còn rèn luyện kỹ năng nói và sự tự tin.

    – Mạnh dạn nêu những thắc mắc của bản thân.

    2. Ghi chép bài đầy đủ, chính xác

    – Ngoài phần thầy cô ghi bảng các em nên tập cho mình thói quen ghi chép thêm vào sổ tay những điều hay thấy cần chẳng hạn ý so sánh, đối chiếu, mở rộng nâng cao, lời bình của thầy cô…

    – Gạch dưới (kèm ghi chú ngắn) từ ngữ đặc sắc, phép tu từ… trong thơ, câu văn hay dẫn chứng trong truyện.

    3. Nắm được giá trị nghệ thuật nội dung của tác phẩm ngay trong giờ học.

    1. Học bài, học thuộc lòng thơ, dẫn chứng trong truyện.

    2. Viết các đoạn văn cảm nhận, làm các bài tập trong phần “Luyện tập” trong sách hoặc bài tập của thầy cô.

    3. Đọc tài liệu tham khảo để mở rộng, khắc sâu kiến thức.

    4. Các bạn giỏi môn văn nên tìm và học thuộc nhận định, đánh giá của những nhà nghiên cứu, phê bình văn học hoặc các tác phẩm, tác giả vừa học trên lớp.

    1. Đọc kỹ, tìm hiểu các ví dụ trong từng đề mục, có thể trả lời câu hỏi bằng bút chì vào sách giáo khoa theo cách hiểu của em (soạn bài ngắn gọn), không cần mở sách “Học tốt”.

    1. Tìm hiểu đề (để tránh lạc đề)

    – Đọc kỹ đề, gạch chân từ ngữ quan trọng.

    – Xác định thể loại (VD: kể chuyện, thuyết minh, nghị luận…)

    2. Tìm ý (đặt câu hỏi và trả lời)

    – Tìm ý chính, ý phụ, ý lớn, ý nhỏ.

    – Ý nào đứng trước, ý nào đứng sau.

    – Sắp xếp các ý theo trình tự trước sau hợp lý.

    – Xác định được phần trọng tâm (viết dài), phần không trọng tâm (viết ngắn).

    – Dàn ý đại cương (chỉ có các ý chính)

    – Dàn bài chi tiết (có cả ý lớn và ý nhỏ)

    Lưu ý: bài tập làm văn gồm nhiều đoạn

    – Mở bài ngắn gọn (từ 1đến 5 câu)

    – Thân bài gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn triển khai một ý chính.

    – Kết bài rút ra bài học, phát biểu cảm nghĩ cần tự nhiên chân thành, tránh hô khẩu hiệu, liên hệ gượng ép, khiên cưỡng.

    – Dùng từ ngữ khai triển các ý trong bài.

    – Dùng từ chính xác, viết câu đúng ngữ pháp.

    – Tách đoạn hợp lý, có liên kết câu và liên kết đoạn văn để bài văn rõ ràng chặt chẽ.

    – Sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi viết câu.

    – Nếu thiếu sót thì bổ sung ở lề trái.

    – Phải chú ý quan sát con người, sự vật, cảnh quan xung quanh mình. Cần viết nhiều, nhờ thầy cô sửa rồi viết lại. Cũng cần đọc nhiều, đi nhiều để có vốn từ, vốn sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Bản Đồ Quân Sự
  • Phép Chiếu Gauss Và Hệ Tọa Độ Ô Vuông Gauss
  • Bế Giảng Khóa Học Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Văn Học Nước Ngoài Ở Cấp Thcs
  • Về Phương Pháp Giảng Dạy Văn Học Pháp
  • Phương Pháp Học Tập Môn Ngữ Văn Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Combo Học Tập Hiệu Quả : Phương Pháp Học Tập Siêu Tốc
  • Bí Quyết Thành Công Trong Học Tập Chỉ Có 10 Bước
  • Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Hiệu Quả Ở Đại Học
  • Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học
  • Tạo sự hứng khởi khi học văn

    Để gắn bó với môn học dài lâu thì sự yêu thích và hứng khởi chính là yếu tố rất quan trọng. Khi học văn cũng như thế. Để mỗi tiết văn đế bạn sẽ thấy hứng thú hơn thì bạn hãy suy nghĩ tích cực về môn đó. Như bạn yêu thích môn toán, yêu thích công thức toán thì đối với môn văn thì bạn hãy nghĩ nó có những công thức văn học để bạn có thể yêu thích môn văn hơn.

    Tạo thói quen đọc sách

    Phương pháp học tập môn Ngữ văn hiệu quả?

    Đọc sách nhiều sẽ giúp bạn thay đổi suy nghĩ về môn văn, yêu thích môn văn hơn. Dù không phải là sách văn, bạn cũng có thể đọc, tuy nhiên bạn nên đọc sách có cách viết hành văn, lập luận, gợi ý vấn đề bởi những quyển sách này sẽ giúp bạn trau dồi được từ ngữ hay chọn lọc, nhớ vấn đề lâu hơn để từ đó bạn có cách viết, diễn đạt bài văn ấn tượng, có sức thuyết phục hơn.

    Chăm chỉ học tập

    Câu nói “chăm chỉ bù thông minh” rất đúng đối với mọi môn học. Khi chăm chỉ soạn bài, làm bài, chú ý lắng nghe bài giảng sẽ giúp bạn hiểu được bài học hơn. Chẳng hạn như bạn soạn văn lớp 9, làm bài tập về nhà thì trên lớp bạn chỉ cần lắng nghe giáo viên giảng bài, xây dựng bài để hiểu bài một cách nhanh chóng hơn. Dần dần sẽ giúp bạn học môn văn tốt hơn và làm bạn thêm yêu môn văn hơn.

    Học ghi nhớ kiến thức hiệu quả

    Để có thể nhớ bài học lâu thì bạn nên vẽ sơ đồ tư duy phù hợp với bạn. Ví dụ tên bài văn nằm ở trung tâm, phát triển thành các nhánh ra là những ý chính, nội dung chính của bài văn, nhánh nhỏ hơn nữa sẽ là chi tiết của ý chính. Và khi vẽ sơ đồ cũng là một cách để bạn nhớ bài hơn. Với sơ đồ tư duy này sẽ giúp bạn học văn hiệu quả hơn đấy.

    Hăng hái xây dựng bài

    Hăng hái phát biểu giúp bạn nhớ bài lâu hơn, không còn sợ môn học

    Soạn văn: Soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 9 là một cách giúp bạn nắm bắt bài nhanh chóng và hiệu quả hơn. Trong quá trình soạn văn, gặp nhiều chỗ không biết, bạn có thể hỏi giáo viên để giáo viên giải đáp các thắc mắc đó và tự tin xây dựng bài để bạn bổ sung, củng cố, nắm chắc nội dung của bài học hơn. Từ đó, bạn sẽ tự tin và hứng khởi khi mỗi tiết học văn đến.

    Như vậy, với phương pháp học trên sẽ giúp bạn học tập môn Ngữ văn hiệu quả hơn, trong đó yếu tố yêu thích và hứng khởi quan trọng nhất. Do đó, đối với môn học nào thì bạn cũng cần phải tạo ra niềm hứng thú và sự yêu thích môn học đó.

    http://topgia.vn/phuong-phap-hoc-tap-mon-ngu-van-hieu-qua-10811n

    • 03/06/2016

      20:45

    • 04/12/2017

      10:00

      Bài tập yoga giảm cân hiệu quả

      Tập yoga là một trong những phương pháp giảm cân an toàn, hiệu quả nhất được nhiều chị em lựa chọn, vì vậy, với tổng hợp các bài tập yoga giảm cân hiệu quả, các bạn sẽ có thể tự tập yoga tại nhà. Những bài tập yoga giảm cân nhanh nhất được giới thiệu rất dễ thực hiện, phù hợp với mọi đối tượng tập khác nhau.

    • 05/07/2016

      13:41

    • 04/12/2017

      19:00

      Bài tập Yoga giảm béo bụng hiệu quả

      Ngồi văn phòng nhiều, ít vận động, ăn nhiều chất béo chính là nguyên nhân gây ra tình trạng béo bụng, vì vậy, Topgia giới thiệu một số bài tập Yoga giảm béo bụng hiệu quả để các bạn có thể thực hiện tại nhà một cách đơn giản nhất.

    • 06/10/2018

      10:34

      Học môn Toán dễ dàng với cách sau

      Làm cách nào để học môn Toán dễ dàng và đạt hiệu quả cao? Là câu hỏi mà nhiều bạn đang học lớp 6 có kết quả học tập môn Toán kém, giải toán lớp 6 luôn gặp khó khăn. Với những bí quyết sau đây sẽ giúp bạn có động lực môn toán và cải thiện được trình độ học môn toán một cách dễ dàng hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Môn Văn Mà Team Lười Chắc Chắn Thích
  • 52 Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả (Dành Cho Học Sinh Tiểu Học)
  • 5 Phương Pháp “vàng” Giúp Học Sinh Thcs Tự Học Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Sẽ Giúp Các Em Học Giỏi
  • Nên Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Giáo Dục Montessori Hay Steiner ?
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Đổi Mới Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Các Trường Quân Đội Hiện Nay
  • Tiếp Tục Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Các Bước Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Một Giờ Vật Lý Có Thí Nghiệm
  • ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

    I/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỔI MỚI KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ, ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN.

    Từ xưa tới nay trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc hiệu, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội. Nếu nói người giáo viên là những “Kỹ sư tâm hồn” thì điều đó đúng nhất đối với các thầy cô giáo dạy văn vì Ngữ văn chính là bộ môn dễ gây xúc động vui, buồn tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người, giúp con người phát huy đầy đủ năng lực phẩm chất để xây dựng cuộc sống.

    Những năm gần đây việc dạy và học ngữ văn đã và đang trở thành một điểm “nóng” ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Dư luận (và cả thực tế) cho thấy rằng học sinh hiện nay không thích học văn. Trong trường THCS vẫn tồn tại tình trạng một số học sinh học theo kiểu đối phó, các em lười đọc, lười suy nghĩ về tác phẩm văn học, ngại viết, ngại luyện kỹ năng diễn đạt. TRong lớp 8B tôi đang dạy có 45 học sinh, khi điền vào phiếu trưng cầu ý kiến về thái độ của các em với môn văn như thế nào. Số trả lời “Thích học” là 15 em (33%) “Bình thường” là 22 em (48%), “Thờ ơ” là 08 em (19,0%), “Ghét” 0% (Số liệu này tôi nghĩ chưa sát lắm vì có thể học sinh còn “nể” cô). Tất nhiên việc học sinh ngại học ngữ văn do nhiều yếu tố chi phối (ví dụ sự tác động của xã hội là chọn ngành nghề sau này, song có lẽ phần lớn là do giáo viên chưa có sức lôi cuốn học sinh, phương pháp dạy còn cứng nhắc…). Vì vậy để học sinh thích học ngữ văn có lẽ giáo viên cần thực sự hiểu và thực hiện cuộc vận động “đổi mới phương pháp dạy văn, đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh”.

    Hiện nay, ngành giáo dục đang triển khai thực hiện đồng bộ đổi mới giữa “nội dung- phương pháp và việc kiểm tra đánh giá” nếu chỉ đổi mới về nội dung- phương pháp dạy mà không đổi mới kiểm tra đánh giá thì cũng vô nghĩa không thẩm định được thực chất kiến thực học sinh, học sinh không phát huy khả năng sáng tạo. Có một thời trước cải cách giáo dục, đề thi kiểm tra môn ngữ văn chủ yếu yêu cầu viết bài nghị luận xã hội, sau đó lại nghiêng hẳn về nghị luận văn học. Cách kiểm tra, đánh giá này dễ tạo ra một dạng “đường mòn” cho “văn mẫu” xuất hiện, học sinh tìm đọc thuộc lòng để sao chép làm mất đi tính sáng tạo. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chương trình cải cách giáo dục đã có nhiều khác biệt so với trước như kiểu kiểm tra trắc nghiệm khách quan và các bài kiểm tra kỹ năng thực hành vận dụng. Mỗi đề kiểm tra bao gồm những câu hỏi nhằm vào nhiều mảng kiến thức kỹ năng mà học sinh đã được học.

    Từ năm học 2008- 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục điều chỉnh tập huấn cho giáo viên nâng cao hơn nữa việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.

    Quá trình đổi mới này đã luyện cho học sinh bớt đi tính thụ động, khuyến khích sự sáng tạo của học sinh bởi việc đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay phải theo các tiêu chí: phạm vi kiến thức phải toàn diện, số câu hỏi cần phải bao quát được phạm vi kiểm tra. Mức độ kiểm tra phải theo chuẩn kiến thức và không nằm ngoài chương trình. Hình thức kiểm tra kết hợp cả trắc nghiệm và tự luận (trừ kiểm tra học kỳ) trong đó trắc nghiệm chiếm ≤ 30%. Với lớp 6, 7 mỗi câu trắc nghiệm từ 0,25 đ- 0,5 đ; với lớp 8, 9 thì khoảng 0,2- 0,25 đ/câu. Đề kiểm tra phải có tác dụng phân hoá, có tính phản hồi, vừa đề cao tính chính xác khoa học vừa có tình khả thi, phần từ luận cần cả đề nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Với đề kiểm tra như vậy sẽ là một trong những cách thức đo được đúng nhất những suy nghĩ của người viết. Và đó cũng là cách tốt nhất để chống việc học tủ, dạy tủ.

    Đổi mới kiểm tra đánh giá cũng cần đổi mới cả lời phê, cách phê của giáo viên. Điểm số của một bài kiểm tra ngữ văn rất quan trọng nhưng cái quan trọng hơn là thầy cô phải phát hiện những ưu khuyết điểm của bài viết nhằm động viên khuyến khích hoặc nhắc nhở học sinh để lần sau làm bài tốt hơn.

    Về đổi mới phương pháp dạy văn, Bộ Giáo dục đã đưa ra một số phương pháp đặc thù như đọc sáng tạo, đọc- hiểu, vấn đáp gợi tìm với các dạng cấu trúc câu hỏi như phát hiện, giảng, phân tích liên tưởng và bình… để giúp học sinh tiếp xúc văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn; cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết… dần dần học sinh sẽ tự đọc, hiểu tác phẩm văn học một cách đúng đắn, trách sự thẩm định lệch lạc.

    Bởi vậy đổi mới phương pháp dạy văn, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn là vô cùng cần thiết và phải làm đồng bộ.

    II/ THỰC TRẠNG VIỆC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN VIỆC ĐỔI MỚI, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS .

    1. Ưu điểm:

    a) Về công tác chỉ đạo của Ban giám hiệu:

    – Ngay từ những năm đầu thực hiện thay sách, Ban giám hiệu Trường THCS đã có kế hoạch cụ thể, phân công người dạy theo chương trình mới; cử giáo viên đi học tiếp thu phương pháp dạy học mới theo các đợt tập huấn do Sở Giáo dục và Phòng Giáo dục tổ chức. Trong suốt các năm học Ban Giám hiệu đều bố trí cử giáo viên đi dự đầy đủ các chuyên đề của Sở, của Phòng.

    – Trong các kế hoạch đầu năm, kế hoạch tháng, Ban giám hiệu đều đặt mục tiêu phải kiểm tra đánh giá học sinh một cách trung thực, khách quan toàn diện, tránh hiện tượng chạy theo thành tích.

    – Ban Giám hiệu cũng đã đầu tư, khuyến khích giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học, khuyến khích giáo viên sử dụng công nghệ trình chiếu trong giảng dạy. Lên kế hoạch cho phép các giáo viên bộ môn phôtô đề kiểm tra trắc nghiệm phát đến từng học sinh từ bài kiểm tra 15 phút trở lên.

    – Chỉ đạo các tổ chuyên môn lập kế hoạch tổ chức các buổi chuyên đề bàn về phương pháp giảng dạy, cách kiểm tra đánh giá học sinh.

    2. Tồn tại.

    a) Đối với Ban giám hiệu:

    Do phải quan tâm chỉ đạo nhiều công tác khác như làm phổ cập, các cuộc thi do Đảng, đoàn phát động nên có lúc sự kiểm tra của Ban giám hiệu bị ngắt quãng.

    b) Đối với giáo viên, học sinh:

    * Đối với giáo viên:

    Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhìn chung giáo viên vẫn còn tồn tại một số mặt sau:

    – Tinh thần “Đổi mới” rất tốt nhưng do tư duy cũ đã ăn sâu nên ở một vài giáo viên lối tư duy cũ ấy đã bám rễ nên rất khó thay đổi hoặc thay đổi chậm.

    VD: Thói quen áp đặt, giáo viên ép học sinh hiểu, cảm thụ tác phẩm văn chương, lý giải vấn đề theo cách hiểu, cảm thụ và lý giải của giáo viên. Trong bài kiểm tra nhất là phần tự luận, nếu học sinh cảm nhận, phân tích không theo ý cô thì bị phê phán, chê trách.

    – Giáo viên ngại ra đề trắc nghiệm, đề có độ mở vì đáp án cần phải tỉ mỉ, độ chính xác cao phải đưa ra nhiều phương án.

    – Đôi lúc giáo viên sao nhãng khi chấm bài, ngại chữa, ngại nhận xét, ngại phê trong mục “Lời phê”.

    – Ngại tìm tòi suy nghĩ: Một vài giáo viên soạn giảng y hệt sách “Thiết kế bài giảng ngữ văn”, không đọc kỹ, không chỉnh sửa… còn lúng túng khi dạy một văn bản dài với thời lượng ngắn (Ví dụ: Tác phẩm Lão Hạc (Ngữ văn 8- tập I), Lặng lẽ Sa Pa (Ngữ văn 9- tập I), phân phối chương trình chỉ có hai tiết mà giáo viên thường phải kéo sang ít phút của tiết ba).

    – Chưa chú ý rèn kỹ năng phân tích đề, kỹ năng làm bài cho học sinh đại trà nên khi gặp kiểu câu hỏi khác lạ là học sinh không biết vận dụng để làm, mặc dù hiểu khá kỹ về tác phẩm (VD: Bài kiểm định chất lượng Văn 9 của Phòng giáo dục ngày 12/01/2009).

    III/ KẾT QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN:

    1. Tác động của việc đổi mới kiểm tra đánh giá đối với người dạy:

    – Nếu thực hiện tốt đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh thì giáo viên sẽ có sự đổi mới về phương pháp dạy. Hiện nay giáo viên dạy ngữ văn Trường THCS đã hiểu rõ: Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện của thầy. Nếu không phấn đấu, tự vận động thì giáo viên sẽ không đáp ứng được yêu cầu của giáo dục.

    – Nếu giáo viên không nắm vững kiến thức, không hiểu kiến thức một cách hệ thống từ lớp 6 đến lớp 9 thì không thể ra đề hoặc giảng bài theo hướng tích hợp. Vì vậy tất cả giáo viên dạy ngữ văn của Trường THCS đều đã được lần lượt phân dạy cả bốn khối, do đó tay nghề giáo viên đã được nâng lên.

    – Tuy nhiên kiểm tra theo kiểu trắc nghiệm cũng gây khó khăn cho giáo viên trong việc luyện các em viết chữ, trình bày.

    IV/ NHỮNG KINH NGHIỆM TRONG VIỆC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH:

    * Đối với giáo viên:

    Để chất lượng dạy và học văn ngày một nâng cao, trong giờ lên lớn, người giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp để giúp học sinh phát huy đến mức cao nhất sự suy nghĩ độc lập, tìm tòi khám phá tác phẩm văn chương với sự hứng thú tích cực. Muốn thế người giáo viên cần:

    – Xuất phát từ “Mục đích, yêu cầu” của bài dạy để chọn cách dạy phù hợp. Dạy học sinh đọc hiểu văn bản là phân tích hình tượng và ý nghĩa ngôn từ của văn bản, thấy được sự thống nhất chặt chẽ giữa nghệ thuật và nội dung. Nội dung chỉ hay và sâu khi hình thức hoàn chỉnh có giá trị thẩm mỹ cao, ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ chắt lọc từ cuộc sống, có giá trị gợi ta, gợi cảm cao. Khi hướng dẫn học sinh phân tích, giáo viên không được áp đặt, không gò ép vào khuôn khổ chật hẹp cứng nhắc, giúp học sinh có thói quen độc lập suy nghĩ tránh sự vay mượn.

    – Rèn cho học sinh thói quen đọc kỹ tác phẩm, phải thuộc thơ, nhớ những chi tiết của truyện (thuộc trước tiết học thì càng tốt)

    + Chú ý phát huy tính tích hợp trong giảng dạy vì nó vừa mở rộng phạm vi tiếp xúc đời sống của văn học, vừa góp phần rèn luyện tính năng động của người học trò. Tuy nhiên dạy tích hợp phải nhuần nhuyễn, uyển chuyển, tránh máy mọc.

    + Dạy học theo tinh thần đổi mới là phải có khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại, tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều trình chiếu trong dạy văn.

    + Đề kiểm tra nếu là trắc nghiệm thì cũng chỉ dừng ở 20% số điểm là bài trắc nghiệm (khoảng 8 câu hỏi) còn lại là bài tự luận (có thể một câu tự luận ngắn, một câu tự luận dài hoặc bằng nhau).

    + Giáo viên cần quan tâm đến các dạng câu hỏi, dạng đề, thường xuyên rèn kỹ năng phân tích đề, rèn kỹ năng làm bài cho học sinh.

    * Đối với học sinh:

    V/ NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT:

    Đối với bài kiểm tra văn khối 9 hiện nay, thời gian dành cho bài kiểm tra là một tiết thì quá ít. Nên chăng cần tăng thêm thời gian để học sinh làm bài.

    Đinh Văn Tước @ 07:43 06/03/2009

    Số lượt xem: 8086

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Ở Trường Thpt
  • Đề Mở Và Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn
  • Phương Pháp Giảng Dạy Học 2022
  • Hội Thảo Khoa Học “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Hợp Cho Trẻ Mầm Non”
  • Linh Hoạt Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lớp 1
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Ngữ Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Học Giỏi Môn Văn 9 Để Thi Đỗ Vào Lớp 10 Dễ Dàng
  • Ứng Dụng Phương Pháp Học Vak Để Chọn Cách Học Và Cách Dạy Phù Hợp Cho Việc Phát Triển Năng Lực …
  • Học Tập Tiếng Anh Thông Minh Với Phương Pháp Vak
  • Phương Pháp Học Vật Lý Lớp 11 Hiệu Quả
  • Cách Học Giỏi Môn Lý
  • Nghe giảng và luyện tập thật nhiều là những phương pháp quan trọng nhất để học tốt môn Ngữ Văn lớp 9.

    Môn Ngữ Văn là một trong 3 môn quan trọng nhất ở bậc Trung học cơ sở, là môn học chắc chắn có trong kỳ thi vào lớp 10 ở các trường. Vì vậy,không ít người đặt mục tiêu điểm cao môn Văn. Nhiều bạn nghĩ môn này rất khó, song bạn vẫn có thể học tốt môn học này khi biết áp dụng các phương pháp sau:

    1. Tạo hứng thú cho môn học

    Môn Văn là một môn học phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc nên không thể học tốt được môn học này khi không có hứng thú. Có thể bạn vốn không yêu thích môn Văn nhưng khi đã muốn học tốt, hãy lấy đó làm động lực để bắt đầu với môn học thì sẽ dần yêu thích.

    2. Đọc bài trước khi đến lớp

    Thời lượng trên lớp của mỗi bài Đọc- hiểu có giới hạn, việc này đòi hỏi bạn phải tìm hiểu bài ở nhà trước khi đến lớp. Hãy dành thời gian để đọc bài và trả lời câu hỏi của bài đọc đó. Khi đến lớp, lời giảng của cô sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn, rõ hơn về bài đọc. Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu sẽ giúp bạn có tư duy về văn học tốt hơn.

    3. Chú ý nghe giảng

    Nghe cô giảng các bài đọc hiểu để biết cách cảm thụ về một tác phẩm văn học. Nghe cô giảng cách làm bài văn để nắm được phương pháp, cách làm, dàn bài cho từng dạng của phần tập làm văn. Có như vậy, bạn mới biết cần phải làm gì khi vào bài thi.

    4. Ghi nhớ cách phân tích các bài đọc

    Một số bài đọc quan trọng sẽ xuất hiện trong các đề thi, vì vậy cần phải nhớ hướng phân tích các bài này để có thể làm được bài tập làm văn. Chú ý nghe cô giảng bài trên lớp, về nhà tóm tắt lại các ý chính, đọc lại phân tích và thường xuyên ôn lại sẽ giúp ghi nhớ lâu hơn.

    5. Luyện tập làm văn

    Giỏi văn cũng cần một quá trình chứ không thể muốn giỏi có thể giỏi ngay được. Giỏi văn là khi bạn đã làm được một bài văn hoàn chỉnh và được đánh giá cao. Muốn vậy cần phải nắm chắc cách làm bài với từng dạng bài,tập viết nhiều lần để biết đặt câu trôi chảy, cách sắp xếp và triển khai ý.

    6. Tham khảo văn mẫu

    Tham khảo văn mẫu cũng đem lại nhiều lợi ích tích cực cho việc học văn của bạn nếu bạn biết tận dụng. Tham khảo không có nghĩa là việc copy một câu, một đoạn văn. Những bài văn mẫu đều là những bài văn làm đúng theo yêu cầu, bố cục của từng dạng văn. Hơn thế, các câu, từ sử dụng trong bài văn mẫu đều có tính chọn lọc cao và rất đáng tham khảo.

    7. Học từ thầy, từ bạn

    Nếu muốn giỏi Văn, hãy thân thiết với những bạn đã giỏi văn trong lớp. Cùng nhau trao đổi về các bài đọc hiểu về nhà, cách làm, bài làm cô cho về nhà để có phương pháp, cách tư duy khác hơn.

    Với những bài tập làm văn cô chấm hoặc những bài văn tự làm thêm ở nhà, hãy nhờ thầy cô xem và nhận xét thật chi tiết về các lỗi sai: bố cục, cách triển khai ý, tính mạch lạc, cách dùng từ, đặt câu,…để rút kinh nghiệm cho những bài làm sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Học Vật Lí 12 Hiệu Quả : Tổng Hợp Kiến Thức Vật Lí 12
  • Cách Học Vật Lí 12 Hiệu Quả: Bí Quyết Học Của Các Thủ Khoa
  • Phương Pháp Học Tập Môn Vật Lý 12 Nhanh Chóng, Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Giỏi Vật Lý Lớp 11
  • Sinh Viên Y Khoa Đọc Sách Như Thế Nào Cho Có Hiệu Quả?
  • Thuyết Minh Về Phương Pháp Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Một Phương Pháp Cách Làm Một Món Ăn
  • Thuyết Minh Về 1 Phương Pháp Cách Làm 1 Món Ăn
  • Thuyết Minh Về Cách Làm Một Món Ăn Mà Em Yêu Thích
  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh (Siêu Ngắn)
  • Đề bài: Thuyết minh về phương pháp học môn Ngữ văn – Bài tập làm văn số 5 lớp 10

    Ngữ Văn là một trong những môn học quan trọng nằm trong chương trình học của chúng ta. Môn Ngữ Văn tuy có vẻ đơn giản nhưng với người bạn thì đó lại là một môn học khó. Họ không biết phải học Văn như thế nào cho tốt. Trước mỗi một tác phẩm, họ không thể nào cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm đó. Chính vì vậy mà họ ngày càng ghét môn học này. Bạn biết không, học Ngữ Văn cũng cần phải có phương pháp. Vậy theo bạn phương pháp học môn Ngữ Văn là gì?

    Theo tôi, phương pháp học tuyệt vời nhất bao giờ cũng là tự học. Nói là tự học không có nghĩa là chúng ta không cần đến trường, không cần nghe cô giáo giảng nữa mà tự học là một bước đệm giúp chúng ta hiểu bài hơn sau khi có sự giảng dạy của thầy cô giáo. Vậy thì phương pháp tự học Ngữ Văn hiệu quả nhất là như thế nào?

    Môn Ngữ Văn có một điểm rất hay là chúng ta thường học theo các thời kì khác nhau của Văn học. Mỗi một thời kì chúng ta được tìm hiểu về các tác giả và tác phẩm tiêu biểu của thời kì đó. Vì vậy mà khi ta hiểu được tác phẩm này thì rất dễ để hiểu tác phẩm khác. Chẳng hạn các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà,… đều là những nhà thơ thuộc phòng trào Thơ Mới. Khi chúng ta hiểu được phong trào Thơ Mới với khuynh hướng và giọng điệu thơ như thế nào thì chúng ta sẽ dễ dàng tiếp cận hơn với thơ của các tác giả này.

    Tất nhiên, nếu chỉ đọc thôi thì chưa đủ. Chúng ta còn phải thực hành bằng cách viết. Cách viết đầu tiên và đơn giản nhất là trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa thông qua việc soạn bài. Một lần viết là một lần nhớ. Sau khi soạn bài, chúng ta cũng sẽ ghi nhớ sâu hơn về tác phẩm. Vì vậy mà khi lên lớp nghe cô giáo giảng bài sẽ tiếp thu rất nhanh. Rồi khi ôn bài cũng sẽ không mất quá nhiều thời gian.

    Sau đó là tập cách viết dàn ý. Mỗi một dàn ý chỉ lấy đi của chúng ta khoảng 5 đến 10 phút. Nhưng dựa vào dàn ý đó thì khi viết văn chúng ta sẽ làm rất nhanh. Cũng dựa vào dàn ý, khi làm bài sẽ không lo bỏ sót ý nào cả. Một bài văn muốn đạt điểm cao thì không chỉ hay mà còn cần phải đủ ý nữa. Nếu bài văn của bạn hay nhưng thiếu đi ý chính quan trọng nhất thì bài văn đó sẽ không đạt điểm cao.

    Bạn cũng nên tìm hiểu kỹ về các dạng về văn khác nhau. Chúng ta có văn thuyết minh, văn phân tích,… Mỗi một dạng văn sẽ có những cách viết khác nhau và bạn phải nắm vững kiến thức lý thuyết của từng dạng để không bao giờ sợ lạc đề.

    Nhã Đan

    Từ khóa tìm kiếm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Lớp 8 Ngắn Nhất
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 63 Làm Văn: Phương Pháp Thuyết Minh
  • Viết Bài Làm Văn Số 6 Lớp 10: Thuyết Minh Văn Học (Bài Làm Ở Nhà)
  • Giáo Án Văn 8 Bài Phương Pháp Thuyết Minh
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Phương Pháp Thuyết Minh
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Giáo Viên Tiếp Cận Với Phương Pháp Giáo Dục Theo Định Hướng Stem
  • Áp Dụng Phương Pháp Giáo Dục Theo Định Hướng Stem
  • Keto Giảm Cân Thần Tốc Có Thực Sự Tốt?
  • Phương Pháp Ăn Keto Là Gì?
  • Chế Độ Ăn Kiêng Ketogenic: Hướng Dẫn Chi Tiết Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Thứ tư – 05/10/2011 23:45

    CÁCH NHÌN MỚI VỀ TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỐI VỚI MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT

    1. Trên mục Trao đổi của báo Văn nghệ gần đây, xuất hiện một loạt ý kiến bàn về việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn – một vấn đề tuy đã được nói đến nhiều, song chưa bao giờ hết tính thời sự, nhất là hiện nay, khi những thông tin về việc dạy học, thi cử môn Văn ở nước ngoài không còn xa lạ, và khi bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Trong bài báo đăng trên Văn nghệ số 10, 7 – 3 – 2009, GS Trần Đình Sử nêu thẳng vấn đề: muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn, không có con đường nào khác là phải trở về với văn bản văn học. Tư tưởng ấy được hình thành từ nhận thức của ông về thực trạng dạy học văn trong nhà trường bấy lâu nay: ấy là kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản. Thế bản mà Trần Đình Sử nói đến ở đây gồm bài soạn của thầy và các tài liệu tham khảo đủ loại, đủ kiểu, chất lượng rất khác nhau, đầy rẫy trên thị trường sách hiện nay. Theo Trần Đình Sử, chính sự lệ thuộc quá mức của học sinh vào các thế bản đã đẩy các em vào tình trạng thụ động, luôn luôn chờ đợi những kết quả mà người khác cảm nghĩ hộ, mất khả năng tự mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương để nói lên những cảm nhận, những rung động của chính bộ óc, con tim của mình bằng chính lời lẽ của mình. Mọi sự bất ổn của tình trạng dạy học văn bấy lâu nay có nguồn gốc từ đó.

    Cách đặt vấn đề, cách mô tả thực trạng và đề xuất giải pháp của GS Trần Đình Sử khiến những ai quan tâm đến lĩnh vực này phải suy nghĩ. Loạt bài được công bố trên báo Văn nghệ tiếp sau đó, dù thuộc loại ý kiến phản đối hay tán đồng, hoặc nhân đó mà bàn sâu thêm về phương pháp dạy học văn, đều cho thấy vấn đề mà Trần Đình Sử đặt ra đã không rơi vào im lặng.

    2. Theo tôi, với tư tưởng cốt lõi được nêu trong bài báo, GS Trần Đình Sử đã chỉ rất trúng căn bệnh kinh niên trong dạy học văn ở nhà trường chúng ta.

    2.1. Không thể phủ nhận rằng, khoảng một thập niên trở lại đây, việc đổi mới cách dạy học văn đã được tiến hành rộng khắp trong cả nước. Vai trò và mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước. Sự chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy học phong phú hơn. Tuy nhiên, tất cả những gì diễn ra ở môn Văn như thế, chẳng qua cũng chỉ là sự khúc xạ những tiến bộ chung về quan niệm dạy học hiện đại. Cái gọi là “tư tưởng dạy học văn theo hướng coi trọng hoạt động của học sinh, giáo viên là người định hướng tổ chức, không phải là người truyền đạo, áp đặt” mà Nguyễn Minh Phương nêu lên (Văn nghệ số 13, 28 – 3 – 2009) như một bằng chứng về thành tựu đổi mới dạy học văn, thực chất vẫn nằm trong cái khuôn chung của giáo dục học. Hoàn toàn có thể dùng mệnh đề ấy cho việc đánh giá hiện trạng dạy học ở bất kì môn nào.

    Rõ ràng, trong thực tế, chưa có được sự đổi mới căn bản, triệt để dựa trên đặc thù môn Ngữ văn phản ánh trong mối quan hệ bộ ba hữu cơ: thầy giáo (người hướng dẫn, tổ chức) – học sinh (chủ thể tiếp nhận) – văn bản (đối tượng của sự tiếp nhận). Nêu vấn đề này, tôi hoàn toàn ý thức được đây là điểm nhạy cảm, dễ thu hút những ý kiến ngược chiều. Chẳng hạn, ai đó có thể chất vấn: chẳng lẽ việc dạy học văn như đã tiến hành ở ta bấy lâu mà vẫn chưa đúng đặc thù bộ môn hay sao ? Thế nào mới được xem là đổi mới triệt để? Trả lời cho những nghi vấn kia không hề đơn giản, không dễ gói gọn trong một vài câu. Theo tôi, mấu chốt của vấn đề chính là ở chỗ: dứt khoát không để thế bản thay cho văn bản như tình trạng dạy học văn lâu nay đã được GS Trần Đình Sử báo động. Phải nhận thức như thế, mới mong tìm ra con đường hữu hiệu, từ đó, mọi hoạt động đổi mới phương pháp mới có thể đúng hướng, thông suốt.

    2.2. Thế nhưng, ngay cả những giờ dạy được đánh giá cao về đổi mới phương pháp như vậy, học sinh vẫn chưa thực sự chủ động hoàn toàn trước văn bản. Dường như dưới sự dẫn dắt khôn khéo của thầy, các em đang cố gắng tiệm cận với một chân lí, một chuẩn mực tri thức văn cụ thể, chính xác nào đó, trong khi lẽ ra, đối diện với văn bản, nhất là văn bản nghệ thuật, là các em được đối diện với một khung trời rộng mở, mọi cá tính, sở thích, mọi hình dung, tưởng tượng của cá nhân đều có chỗ để phát huy. Đọc bài được gọi là “bài văn lạ” của một học sinh vốn là người Việt Nam, nhưng được học và thi ở nước ngoài, tôi nhận thấy có một khoảng cách vô cùng lớn giữa lối dạy của chúng ta và lối dạy của họ. Sự phóng khoáng trong tư tưởng, tư duy, sự tự do trong phát ngôn của các em chắc chắn là những điều khiến chúng ta cảm thấy hoàn toàn lạ lẫm. Giáo viên chúng ta hẳn vô cùng lúng túng khi gặp những bài văn kiểu đó. Cho nên, gọi là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh như cách làm của ta lâu nay, thực ra vẫn mang tính chất nửa vời. Những trường hợp được xem là thành công, vẫn vướng vất cái gì như là sự gò bó, áp đặt. Cả thầy và trò dù “diễn” một cách rất tự nhiên, cũng khó mà thoát li hẳn cái “kịch bản” tồn tại ngầm, có tác dụng mớm sẵn những “lời thoại”, tạo nên sự ăn ý giữa các “vai diễn”. Nghĩa là cả thầy và trò đều chưa thể thoát khỏi sự kiềm tỏa, chi phối của thế bản. Thậm chí, còn cảm thấy rất tiện khi có nó.

    Nói vậy, hẳn có người sẽ chất vấn: chẳng lẽ giáo viên văn hiện nay lại thụ động đến thế? Chẳng lẽ, với những văn bản trong chương trình, giáo viên vẫn không tự mình cảm thụ, chiếm lĩnh được mà phải trông cậy vào các nguồn tài liệu, cũng tức là sự cảm thụ người khác? Câu trả lời xin nhường cho những thầy cô đang trực tiếp dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Chỉ xin nói thêm rằng: trong bối cảnh hiện nay, giáo viên nào thực thi đầy đủ các bước nêu trên, nhất là tìm được nhiều bài viết về các tác phẩm trong SGK để tham khảo, soạn bài, hẳn sẽ được xem là người say mê chuyên môn, chịu khó làm việc. Nghĩa là việc sử dụng nhuần nhuyễn thế bản vẫn chưa bao giờ bị coi là nhược điểm. Biết thế để hình dung rõ hơn thực trạng, và cũng để hiểu thêm rằng, một sự đổi mới tận gốc là chuyện không dễ.

    2.4. Nhìn vào phía học sinh, ta thấy, thái độ đối với môn văn của các em có sự phân lập rất rõ. Số đông học sinh hiện nay có thiên hướng thi vào đại học các khối tự nhiên (do dễ kiếm việc làm sau khi ra trường). Với bộ phận này, môn Văn dĩ nhiên bị gạt ra rìa. Số còn lại, rất ít, dự thi vào hai khối C, D thì học văn với một động cơ rất thực dụng: để thi đại học, cao đẳng. Bây giờ, có ai đó nói đến học văn là để thưởng thức văn chương, để bồi đắp mĩ cảm, để hoàn thiện nhân cách… thì chắc chắn sẽ nhận được từ học sinh một nụ cười đầy hàm ý. Với những em học văn để đối phó cho xong một môn (cần có điểm để tổng kết, cần thi tốt nghiệp), thì tài liệu tham khảo là cẩm nang trong mọi tình huống. Với những học sinh xác định môn Văn là một cửa ải phải vượt qua để vào đại học, thì bài giảng của thầy, những tài liệu phân tích bình giảng tác phẩm, những sách văn mẫu, tài liệu luyện thi…sẽ là những vật bất li thân, là bùa hộ mệnh. Bao nhiêu năm nay, đề thi thường hướng tới trọng tâm kiểm tra kiến thức (cách hiểu, cách thẩm bình, đánh giá một đoạn văn, đoạn thơ, một vấn đề về tác gia, tác phẩm…). Vậy, con đường ngắn nhất để đáp ứng đòi hỏi của đáp án là nắm kiến thức văn qua bài dạy của thầy, qua tài liệu tham khảo. Mày mò đọc, tự phân tích văn bản làm gì cho mất thời gian, cho hao tâm tổn trí khi mà hiệu quả thiết thực (điểm thi) chắc chắn không sánh được với việc ghi chép đầy đủ bài học luyện thi, nắm vững các ý trong những tài liệu được viết kĩ, có chất lượng. Thử tìm đọc một đáp án đề thi môn Văn bất kì trong dăm bảy năm trở lại đây, sẽ thấy cách học của học sinh như tình trạng nêu trên là một sự lựa chọn khôn ngoan.

    Như vậy, trong quá trình dạy học văn, sự lép vế của văn bản trước thế bản là một thực tế tất yếu. Luật đời có cầu thì có cung. Một nhu cầu đã được hình thành và duy trì trong chừng ấy thời gian thì nguồn cung ứng đương nhiêu sẽ hết sức phong phú. Ai cấm được người viết bài phân tích, bình giảng tác phẩm trong nhà trường? Ai cấm được người viết sách tham khảo? Ai cấm được học sinh mua, đọc sách phục vụ cho việc học để thi?

    2.5. Trước tình trạng ấy, ý kiến của GS Trần Đình Sử có thể xem như tiếng chuông báo động. Tôi nghĩ, quan điểm cho rằng: học sinh phải là người đọc chủ động, tích cực, không bị nhiễu, không bị chi phối bởi một cách hiểu có sẵn nào, là một quan điểm đúng, cần được khẳng định. Xem đó là con đường đổi mới triệt để dạy học Ngữ văn cũng hoàn toàn thỏa đáng. Xin đừng nghĩ, trở về với văn bản là rơi vào khép kín, là tước bỏ mọi quan hệ giữa ngôn từ với đời sống. Chữ nghĩa nào cũng có “sinh mệnh”, có bề dày văn hóa, có hơi thở đời sống phả vào. Chỉ e người tiếp nhận (cả người dạy và người học) không nghe được cái phập phồng của ngôn từ trong văn bản mà thôi.

    3. Trở về với văn bản, đề cao sự cảm thụ hồn nhiên của học sinh là con đường đúng, nhưng không dễ thực thi trong điều kiện hiện nay. Rất nhiều lực cản từ nhiều phía, cả chủ quan lẫn khách quan cần vượt qua. Chẳng hạn, phải xác định lại mục tiêu của bộ môn, xác định rõ vai trò của người học và người dạy, xây dựng lại chương trình, phân bố thời lượng cho các văn bản…Trong hàng loạt vấn đề nan giải đó, tôi xin phân tích mấy yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới công việc đổi mới phương pháp theo định hướng nêu trên

    3.1. Trước hết, phải có được một môi trường xã hội, môi trường giáo dục tôn trọng chủ kiến của cá nhân. Chúng ta thường nói đến việc tạo ra không khí đối thoại trong giờ học, nhưng thực tế, đó mới chỉ là đàm thoại (hỏi đáp) chứ chưa phải là đối thoại đích thực, tức là sự thể hiện tiếng nói, sự cọ xát giữa các ý thức. Xét về đặc điểm tâm lí, trí tuệ, tình cảm lứa tuổi, học sinh THPT (sắp lấy bằng tú tài) dĩ nhiên đã có trình độ nhận thức xã hội, nhận thức thẩm mĩ đạt đến mức có thể đưa ra những cảm nhận độc lập trước một hiện tượng, một tác phẩm. Xem một bộ phim, nghe một ca khúc, ngắm một bức tượng…, các em có thể có nhận xét của riêng mình, vậy cớ gì trước một văn bản, lại không có phản ứng riêng mà phải dựa dẫm vào ý người khác? Tôi tin, nếu có được không khí thật cởi mở, nếu được khích lệ, học sinh sẽ hoàn toàn thoải mái trong việc phát biểu chủ kiến. Thiết nghĩ, ở đây cần phải tính đến sự nhạy cảm về tư tưởng, chính trị xã hội của nội dung môn học, nội dung một số văn bản có trong chương trình. Trước những văn bản như Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng), trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu…học sinh sẽ có thể bị xem là “phạm húy” khi đưa ra những cách nhìn, cách đánh giá về một số vấn đề, một số nhân vật nếu chúng ta vẫn giữ cách nhìn cũ. Chẳng phải từng xuất hiện không ít bài viết cứ lăm lăm đưa cái thước “yêu nước, nhân đạo” để đo giá trị của những tác phẩm viết trong giai đoạn đổi mới, đồng thời nhân đó cũng “đo” luôn tư tưởng của tác giả SGK đó sao?

    3.2. Với những yêu cầu cao trong công việc đổi mới phương pháp, người giáo viên phải nâng cao trình độ và bản lĩnh. Truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng đã khó, hướng dẫn cách cảm thụ, lối tư duy cho học sinh còn khó bội phần. Sự cập nhật tri thức phải luôn đi đôi với nâng cao trình độ sư phạm. Một khi đã quán triệt tinh thần coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng, phức tạp trong tư duy, trong cách phát ngôn của các em. Tinh thần “nhất nguyên” sẽ được thay thế bằng tình trạng phân lập trình độ cảm thụ, sự xung đột giữa các luồng ý kiến. Thực tế đó sẽ là những thách thức không nhỏ đối với bản lĩnh của người thầy.

    3.3. Thay đổi cách đánh giá đối với giờ dạy của giáo viên cũng là một khâu then chốt. Đây là khâu thuộc trách nhiệm của những người giữ cương vị quản lí từ cấp thấp nhất là tổ chuyên môn cho đến cấp cao nhất là chuyên viên môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chừng nào người quản lí chuyên môn chưa thấu triệt nhu cầu và cách thức đổi mới phương pháp dạy học môn Văn, chừng nào những tiêu chí đánh giá giờ dạy văn chưa có gì thay đổi, thì chừng đó, một áp lực vô hình vẫn cứ tồn tại, và giáo viên vẫn cứ loay hoay trong sự đổi mới nửa vời để khỏi chuốc sự rắc rối vào thân.

    3.4. Cuối cùng, phải thay đổi căn bản cách ra đề thi, cách kiểm tra, đánh giá đối với môn Văn. Như trên đã nói, học để thi là tình trạng phổ biến hiện nay. Đề ra kiểu gì, học sinh sẽ tìm cách học kiểu ấy. Khuyến khích học sinh phát biểu cảm nhận riêng của mình đối với văn bản thì phải tính đến sự đa dạng, phong phú của các ý kiến. Khó có thể khuôn sự phong phú của thực tế vào một hệ thống ý cứng nhắc, khép kín và một kiểu thang điểm yêu cầu chi li đến một phần tư điểm như hiện nay.

    VÀI VẤN ĐỀ VỀ SOẠN GIẢNG THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN

    Đổi mới PPDH là yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên giảng dạy THPT ở tất cả các môn học, trong đó có Ngữ văn.

    Đổi mới PPDH được cụ thể hóa như thế nào trong vấn đề soạn giảng Ngữ văn ?

    – Là vận dụng nhiều PPDH vào giảng dạy Ngữ văn.

    – Là kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong vận dụng các PPGD trong soạn giảng và lên lớp.

    – Là vận dụng công nghệ thông tin một cách hợp lí và có tác dụng vào giảng dạy.

    – Là vận dụng các phương tiện hiện đại vào giảng dạy…

    1. Ý tưởng:

    – GV phải có ý tưởng đổi mới PPDH, vận dụng ý tưởng đó vào thực tế giảng dạy một cách hợp lí và có hiệu quả.

    2. Thiết kế giáo án:

    – Soạn giáo án theo thống nhất chung của tổ chuyên môn, sở GD – ĐT.

    + Soạn Nội dung cần đạt.

    + Xác định các PPDH phù hợp để hướng dẫn HS tự học, tự tìm ra nội dung cần đạt đó.

    + Xác định các vấn đề cần vận dụng CNTT, phương tiện hiện đại cần thiết vận dụng và vận dụng có hiệu quả vào bài dạy.

    + Xác định các nội dung cần tích hợp, liên hệ mở rộng trong nội dung bài dạy.

    + Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề.

    + Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, bài tập mở cho phù hợp với đối tượng HS.

    3. Lên lớp:

    – Tùy thực tế dạy học mà tiến hành theo giáo án có linh hoạt.

    – Lưu ý các tình huống có vấn đề của từng lớp dạy.

    – Lưu ý các thông tin phản hồi từ HS.

    – Rút kinh nghiệm giảng dạy kịp thời…

    – Lưu ý kĩ năng đặt câu hỏi khi lên lớp:

    Ø Lời văn dễ hiểu.

    Ø Hỏi câu có hơn một câu trả lời đúng.

    Ø Tăng cường loại câu hỏi: vì sao? Như thế nào?

    Ø Khuyến khích HS chia sẻ câu trả lời với bạn theo hình thức cặp đôi.

    Ø Gọi HS ngẫu nhiên.

    Ø Chủ động lắng nghe.

    Ø Tránh ngắt lời và sửa lỗi ngay tức thì.

    Ø Hướng dẫn lại câu trả lời sai thật tế nhị….

    Đổi mới PPDH là yêu cầu bắt buộc, do đó, giáo viên phải thực sự không ngừng học hỏi, dám nghĩ dám làm, chấp nhận rủi ro và rút kinh nghiệm từ thất bại.

    Đổi mới cách dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường

    Theo thống kê kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng những năm gần đây bài thi môn Văn đạt điểm 8, 9, 10 là rất ít, bài thi có điểm dưới trung bình chiếm đa số, có rất nhiều bài thi đạt điểm 0. Trong đó, nhiều bài văn của học sinh khiến người chấm dở khóc dở cười vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, suy diễn theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết… Điều đó đã phần nào phản ánh thực trạng dạy – học Văn trong trường đang ở mức đáng báo động đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục cần đưa ra những giải pháp thích hợp để đổi mới quy trình dạy và học môn Văn hiện nay.

    Khảo sát bài thi của thí sinh cho thấy sai chính tả là lỗi phổ biến nhất. Những lỗi chính tả thường gặp là: tên riêng của nhà văn, nhà thơ không viết hoa, rất nhiều bài văn từ đầu đến cuối không có một dấu chấm câu nào, nhiều từ đơn giản cũng không viết đúng. Cùng với lỗi viết sai chính tả là lỗi dùng từ và đặt câu. Thí sinh rất hay nhầm lẫn những từ gần giống nhau, không có ý thức qua dòng, không biết tổ chức các đoạn văn và viết câu thì câu què, câu cụt, câu sai cấu trúc, sai lô gích. Nhiều câu văn của học sinh mà người chấm không thể hiểu nổi học sinh đó muốn viết gì. Điều đó cho thấy học sinh hết sức lơ mơ về kiến thức ngữ văn. Có một thực tế là hiện nay rất ít học sinh biết rung động trước những tác phẩm văn học hay. Do vậy khi làm bài, học sinh thường suy luận chủ quan, thô tục hoá văn chương. Ngoài những lỗi trên thì tình trạng học sinh làm bài sai kiến thức cơ bản vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Đó là tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, viết sai tên tác giả, tác phẩm, nhầm tác phẩm của nhà văn này với nhà văn khác…

    Sở dĩ chất lượng học văn của học sinh kém như vậy là do các nguyên nhân chủ yếu sau: Giáo viên mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Một số giáo viên vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã truyền đạt. Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho người học con đường tích cực chủ động để thu nhận kiến thức. Do đó, có những giờ dạy được giáo viên tiến hành như một giờ diễn thuyết, thậm chí giáo viên còn đọc chậm cho học sinh chép lại những gì có sẵn ở giáo án. Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người học. Một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn tỏ ra bàng quan, thờ ơ với văn chương.

    Hơn nữa, không ít giáo viên đứng lớp chưa được trang bị kỹ càng, đồng bộ về quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới. Vấn đề quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới chỉ đến với người dạy qua một số tài liệu có tầm vĩ mô, thiên về cung cấp lý thuyết hơn là hướng dẫn thực hành. Một số các giáo trình tài liệu về phương pháp dạy học Văn còn mang bệnh lý thuyết và sách vở hoặc chịu tác động từ các phương pháp dạy học của nước n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vận Dụng “phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Quá Trình Dạy Học Môn Tiếng Anh Ở Trung Tâm Gdtx Yên Lạc
  • Chuyên Đề: Vận Dụng Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Giảng Dạy Tiếng Anh 7
  • Một Số Vấn Đề Về Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Dạy Học Theo Phương Pháp Tích Cực Ung Dung Day Hoc Hh 11 Theo Pp Tich Cuc Doc
  • Phuong Phap Day Hoc Tich Cuc Chuyen De 2 Mot So Vde Doi Moi Ppdh Ppt
  • Báo Cáo Phương Pháp Học Tốt Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Phương Pháp Nhớ Lâu Hiệu Quả Nhất Bạn Cần Đọc Ngay
  • Cách Học Tích Phân Hiệu Quả
  • Cách Học Tốt Ở Đại Học
  • Cách Học Tốt Pascal 8 Chuẩn Nhất
  • Phương Pháp Học Tốt Sinh Lớp 9 Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Kính thưa BGH, kính thưa quí thầy cô cùng các bạn học sinh thân mến,

    Em tên Nguyễn Trường Mỹ Bình, học lớp 9A6, em xin đại diện cho các bạn học sinh trình bày một số phương pháp học tốt môn Ngữ văn.

    Có thể nói môn Ngữ văn là một môn học có vai trò rất quan trọng trong nhà trường từ bậc Tiểu học đến bậc Trung học. Nhưng để học tốt bộ môn này thì không phải là việc đơn giản, Chúng ta cần phải có một phương pháp, một cách học cho riêng mình phù hợp với khả năng và trình độ của bản thân.

    Để học tốt môn Ngữ văn thì điều quan trọng nhất là phải thực sự yêu thích môn nầy. Vì chỉ có yêu thích ta mới có thể ra sức tìm tòi, học hỏi kiến thức để phục vụ cho môn học được tốt. Nhiều bạn tỏ ra thờ ơ chán nản khi đến giờ học văn vì các bạn chưa thực sự chú tâm đến môn học này. Có những bài thơ, đoạn thơ mới đọc qua lần đầu có thể ta không thấy hay nhưng nếu ta chịu khó đọc lại nhiều lần, vừa đọc vừa nghiền ngẫm đến thuộc lòng ta mới nhận ra được bài thơ rất hay và ta say mê bài thơ đó lúc nào không rõ.

    Chúng ta đã biết môn Ngữ văn bao gồm Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn. Mỗi phân môn đều có chức năng riêng và luôn có mối quan hệ gắn bó. Văn học giúp ta phát triển năng lực tư duy, làm giàu tình cảm, cảm xúc cho ta. Văn học chính là cái gốc để nảy nở tình yêu thương, mối quan hệ giữa người với người tốt đẹp hơn….Vì vậy nên có người đã nói: ” văn học là nhân học”, học văn cũng như học đạo lí làm người. Nó là nguồn kiến thức cho ta vận dụng vào phân môn Tập làm văn. Bên cạnh đó, Tiếng Việt cũng góp phần không nhỏ trong quá trình viết bài Tập làm văn., nó là vốn ngôn ngữ giúp ta diễn đạt trong quá trình làm văn. Vì vậy để học tốt môn Ngữ văn, ta phải học đều cả ba phân môn.

    Để học tốt môn Ngữ văn, chúng ta chỉ yêu thích thôi cũng chưa đủ mà khâu soạn bài, làm bài ở nhà cũng rất quan trọng. Soạn bài để nắm được kiến thức cơ bản của bài học. Soạn bài bằng những hiểu biết của mình chứ không phải chép từ trong “sách giải”, “sách học tốt”,… như thế không khác nào tự ta biến mình thành cái “máy chép” mà không hiểu gì cả. Trong quá trình soạn, có những gì khó hiểu chúng ta cần đọc mục chú thích bên dưới. Nếu như phần chú thích không đáp ứng hết những thắc mắc của ta, ta có thể gạch dưới nội dung đó. Khi vào lớp, nghe thầy cô giảng thì ta sẽ hiểu rõ hơn.

    Làm bài tập ở nhà để củng cố kiến thức trên lớp. Nếu ta làm tốt phần này là ta đã hiểu bài. Về phần Tiếng Việt, có thể không cần phải soạn trước khi đến lớp nhưng ta cũng cần xem bài trước ở nhà, thậm chí có thể làm các bài tập trong sách giáo khoa, tuyệt đối không chép “sách giải” để xem mức hiểu biết của ta đến đâu. Có chuẩn bị bài tốt ở nhà vào lớp ta mới chủ động tiếp thu kiến thức.

    Phần trình bày của em đến đây đã hết. Xin cảm ơn quí thầy cô và các bạn đã theo dõi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhìn Và Học Môn Tin Học Như Thế Nào
  • Phương Pháp Học Giỏi Môn Tin Học Pascal Dành Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Phương Pháp Học Giỏi Môn Lập Trình Pascal Dành Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Vật Lý Lớp 9
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Toán Lớp 9
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn.doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn Ở Trường Thpt Ngô Sĩ Liên
  • Luận Văn Tiểu Luận Vận Dụng Mối Quan Hệ Vật Chất
  • Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs
  • Skkn Kinh Nghiệm Dạy Học Ngữ Văn Thcs Theo Phương Pháp Đổi Mới_2
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs
  • ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN I/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỔI MỚI KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ, ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN. Từ xưa tới nay trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc hiệu, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội. Nếu nói người giáo viên là những “Kỹ sư tâm hồn” thì điều đó đúng nhất đối với các thầy cô giáo dạy văn vì Ngữ văn chính là bộ môn dễ gây xúc động vui, buồn tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người, giúp con người phát huy đầy đủ năng lực phẩm chất để xây dựng cuộc sống. Những năm gần đây việc dạy và học ngữ văn đã và đang trở thành một điểm “nóng” ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Dư luận (và cả thực tế) cho thấy rằng học sinh hiện nay không thích học văn. Trong trường THCS vẫn tồn tại tình trạng một số học sinh học theo kiểu đối phó, các em lười đọc, lười suy nghĩ về tác phẩm văn học, ngại viết, ngại luyện kỹ năng diễn đạt. TRong lớp 8B tôi đang dạy có 45 học sinh, khi điền vào phiếu trưng cầu ý kiến về thái độ của các em với môn văn như thế nào. Số trả lời “Thích học” là 15 em (33%) “Bình thường” là 22 em (48%), “Thờ ơ” là 08 em (19,0%), “Ghét” 0% (Số liệu này tôi nghĩ chưa sát lắm vì có thể học sinh còn “nể” cô). Tất nhiên việc học sinh ngại học ngữ văn do nhiều yếu tố chi phối (ví dụ sự tác động của xã hội là chọn ngành nghề sau này, song có lẽ phần lớn là do giáo viên chưa có sức lôi cuốn học sinh, phương pháp dạy còn cứng nhắc…). Vì vậy để học sinh thích học ngữ văn có lẽ giáo viên cần thực sự hiểu và thực hiện cuộc vận động “đổi mới phương pháp dạy văn, đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh”. Hiện nay, ngành giáo dục đang triển khai thực hiện đồng bộ đổi mới giữa “nội dung- phương pháp và việc kiểm tra đánh giá” nếu chỉ đổi mới về nội dung- phương pháp dạy mà không đổi mới kiểm tra đánh giá thì cũng vô nghĩa không thẩm định được thực chất kiến thực học sinh, học sinh không phát huy khả năng sáng tạo. Có một thời trước cải cách giáo dục, đề thi kiểm tra môn ngữ văn chủ yếu yêu cầu viết bài nghị luận xã hội, sau đó lại nghiêng hẳn về nghị luận văn học. Cách kiểm tra, đánh giá này dễ tạo ra một dạng “đường mòn” cho “văn mẫu” xuất hiện, học sinh tìm đọc thuộc lòng để sao chép làm mất đi tính sáng tạo. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chương trình cải cách giáo dục đã có nhiều khác biệt so với trước như kiểu kiểm tra trắc nghiệm khách quan và các bài kiểm tra kỹ năng thực hành vận dụng. Mỗi đề kiểm tra bao gồm những câu hỏi nhằm vào nhiều mảng kiến thức kỹ năng mà học sinh đã được học. Từ năm học 2008- 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục điều chỉnh tập huấn cho giáo viên nâng cao hơn nữa việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn. Quá trình đổi mới này đã luyện cho học sinh bớt đi tính thụ động, khuyến khích sự sáng tạo của học sinh bởi việc đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay phải theo các tiêu chí: phạm vi kiến thức phải toàn diện, số câu hỏi cần phải bao quát được phạm vi kiểm tra. Mức độ kiểm tra phải theo chuẩn kiến thức và không nằm ngoài chương trình. Hình thức kiểm tra kết hợp cả trắc nghiệm và tự luận (trừ kiểm tra học kỳ) trong đó trắc nghiệm chiếm ≤ 30%. Với lớp 6, 7 mỗi câu trắc nghiệm từ 0,25 đ- 0,5 đ; với lớp 8, 9 thì khoảng 0,2- 0,25 đ/câu. Đề kiểm tra phải có tác dụng phân hoá, có tính phản hồi, vừa đề cao tính chính xác khoa học vừa có tình khả thi, phần từ luận cần cả đề nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Với đề kiểm tra như vậy sẽ là một trong những cách thức đo được đúng nhất những suy nghĩ của người viết. Và đó cũng là cách tốt nhất để chống việc học tủ, dạy tủ. Đổi mới kiểm tra đánh giá cũng cần đổi mới cả lời phê, cách phê của giáo viên. Điểm số của một bài kiểm tra ngữ văn rất quan trọng nhưng cái quan trọng hơn là thầy cô phải phát hiện những ưu khuyết điểm của bài viết nhằm động viên khuyến khích hoặc nhắc nhở học sinh để lần sau làm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Thcs: Hai Xu Hướng Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Đại Số Ở Trường Thcs
  • Luận Văn Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Đạo Đức Ở Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 2
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Âm Nhạc Thcs Chuyen De Am Nhac Thcs Doc
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100