Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • GD&TĐ – Cô Vũ Thị Thu Hương – giáo viên Trường THCS Giảng Võ (Hà Nội) – cho rằng: Kiểm tra, đánh giá bằng vấn đáp thông qua các bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhanh chóng củng cố khắc sâu kiến thức bài học, từ đó vận dụng kiến thức vào bài tập một cách tốt nhất.

    Những lưu ý khi thực hiện kiểm tra bằng vấn đáp

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho biết, mỗi học kì, mình tổ chức hai lần kiểm tra vấn đáp cho học sinh, vào giữa học kì và trước kì thi học kì hai tuần.

    Mục đích giúp học sinh tự hệ thống lại được toàn bộ kiến thức đã học để chuẩn bị cho các kì kiểm tra; thấy được những nhận thức của mình đúng hay chưa, từ đó tự điều chỉnh bản thân để đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra.

    Trước khi kiểm tra vấn đáp, theo cô Hương, giáo viên nên đưa ra yêu cầu học sinh ôn lại toàn bộ những kiến thức đã được học. Đặc biệt nhấn mạnh: Phải hiểu kiến thức chứ không phải học vẹt.

    Đồng thời bản thân giáo viên cũng phải chuẩn bị những bài tập lý thuyết sao cho phù hợp với những nội dung đã được học.

    Hình thức kiểm tra: Giáo viên lần lượt từng học sinh vào bốc thăm, mỗi em được chuẩn bị 5 phút (Trong lúc một học sinh trả lời, một học sinh khác chuẩn bị).

    Để khuyến khích học sinh, giáo viên có thể lấy làm điểm kiểm tra miệng. Những học sinh yếu kém không trả lời được câu hỏi, giáo viên cho bốc thăm câu hỏi phụ – chỉ là những bài toán lý thuyết đơn giản (như loại bài điền vào chỗ trống, trả lời những câu hỏi lý thuyết đơn giản).

    Từ kết quả của buổi kiểm tra, giáo viên sẽ điều chỉnh, uốn nắn học sinh những lỗi hay mắc. Cũng qua đó, giáo viên đồng thời đánh giá bản thân mình đã hoàn thành trách nhiệm hay chưa, để đưa ra các phương pháp điều chỉnh kịp thời.

    Hệ thống bài toán giúp kiểm tra kiến thức học sinh toàn diện

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho rằng, các bài toán trắc nghiệm sẽ giúp giáo viên kiểm tra kiến thức học sinh được rộng hơn, sâu hơn và nhanh hơn, đáp ứng mục đích của giáo dục là cung cấp cho học sinh kiến thức một cách đầy đủ và toàn diện.

    Chính vì vậy, cô Hương chia sẻ mình đã không ngừng học hỏi đồng nghiệp, tham khảo sách và đã tìm tòi được một số bài toán trắc nghiệm trong quá trình giảng dạy.

    Các đề bài toán cô Hương trình bày gồm 4 dạng: Các bài tập dạng trắc nghiệm đúng sai; Các bài tập dạng trắc nghiệm điền khuyết; Các bài tập dạng trắc nghiệm ghép đôi; Các bài tập dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn.

    Trắc nghiệm đúng sai là dạng bài toán về cả lý thuyết và bài tập. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải nắm chắc và hiểu sâu kiến thức từ đó tìm được cách lựa chọn của mình cho đúng và phù hợp.

    Các bài toán điền vào chỗ trống cho thích hợp: Đây là dạng bài toán về lý thuyết. Mục đích của bài toán giúp học sinh tiếp nhận và củng cố kiến thức một cách vững chắc. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải chăm học, học đều và tránh được tình trạng học vẹt.

    Bài toán dạng ghép nối là dạng toán giúp học sinh củng cố kiển thức đã học một cách chắc chắn. Học sinh cần phải học kỹ lý thuyết, nắm chắc kiến thức cơ bản mới không mắc phải các sai lầm khi làm bài.

    Bài toán lựa chọn kết quả: Đây là dạng bài toán yêu cầu học sinh phải nắm chắc kiến thức để vận dụng vào bài tập. Trong hàng loạt các đáp số, học sinh phải có sự kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và bài tập. Đôi khi học sinh phải dùng phương pháp suy luận (tính toán) để giải rồi lựa chọn kết quả.

    Đây là phương pháp giáo viên dùng để ôn tập sau bài học,cuối chương học hay kiểm tra học sinh trong các bài định kỳ.

    Những dạng bài tập nói trên, theo cô Hương, có thể giúp học sinh có thể tiếp nhận một cách thoải mái, dễ dàng kiến thức, từ đó vận dụng kiến thức đã học để giải ngay các bài tập trên lớp một cách thành thạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hướng Dẫn Học Toán Ucmas Dễ Học Và Dễ Cho Bé Và Mẹ
  • Lập Tiến Độ Dự Án Theo Phương Pháp Đường Găng (Cpm) Và Pert
  • Trung Tâm Dạy Toán Tính Nhẩm Nhanh Uy Tín, Chất Lượng
  • Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 9514:2012 Về Thực Phẩm
  • Đáp Án Kiểm Tra Hk 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Dữ Liệu Và Là Gì?
  • Chương 157: 156. Cơ Thể Nam Và Nữ Có Gì Khác Nhau?
  • Sự Khác Biệt Giữa Vẻ Đẹp Của Áo Dài Thêu Với Áo Dài Cách Tân
  • Cách Tìm Dữ Liệu Trùng Nhau Và Lọc Giá Trị Trùng Trong Excel 2003 2007 2010
  • Ứng Dụng Hàm Countifs: Xác Định Dữ Liệu Trùng Theo Nhiều Tiêu Chí
  • Câu 1: (2 điểm)

    1. Thế nào là vận động?
    2. Thế nào là phát triển?
    3. Nêu ví dụ về vận động và phát triển theo quan điểm Triết học.

    Câu 2: (1,5 điểm)

    Nêu ví dụ về:

    1. Chất của sự vật hiện tượng
    2. Lượng của sự vật hiện tượng
    3. Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.

    Câu 3: (3 điểm)

    1. So sánh điểm giống và khác nhau giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình.
    2. Em hãy nhận xét một vài hiện tượng biểu hiện sự phủ định biện chứng trong việc cưới xin ở nước ta hiện nay.

    Câu 4: (3,5 điểm)

    1. Thực tiễn là gì?
    2. Những hình thức cơ bản của thực tiễn?
    3. Tại sao nói thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí?

    HẾT HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I, NĂM HỌC 2022 – 2022 MÔN : GIÁO DỤC CÔNG DÂN – KHỐI 10 Câu 1: (2 điểm)

    – Vận động là mọi sự biến đổi (biến hóa) nói chung của các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và đời sống xã hội. (0,5 điểm)

    – Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu. (0,5 điểm)

    – Ví dụ: + Vận động: ví dụ đúng (0,5 điểm)

    + Phát triển: ví dụ đúng (0,5 điểm)

    Câu 2: (1,5 điểm)

    – Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất: ví dụ đúng (0,5 điểm)

    Câu 3: (3 điểm)

    – So sánh phủ định biện chứng và phủ định siêu hình

    + Giống nhau: đều xóa bỏ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng nào đó. (0,5 điểm)

    + Diễn ra do sự can thiệp, tác động từ bên ngoài.

    + Xóa bỏ sự tồn tại và phát triển tự nhiên của sự vật.

    + Diễn ra do sự phát triển bên trong bản thân sự vật, hiện tượng.

    + Không xóa bỏ sự tồn tại và phát triển tự nhiên của sự vật.

    + Sự vật sẽ không bị xóa bỏ hoàn toàn, là cơ sở cho sự xuất hiện sự vật mới và sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển trong sự vật mới.

    – Nhận xét một vài hiện tượng biểu hiện sự phủ định biện chứng trong việc cưới xin ở nước ta hiện nay: việc cưới xin hiện nay được diễn ra gọn nhẹ hơn, đã giảm bớt một số lễ, chỉ giữ lại những lễ quan trọng: lễ coi mắt, lễ dạm hỏi (đính hôn); lễ nạp tài; lễ cưới (tân hôn, vu quy, thành hôn)…; mâm quả ngày nay ngoài những sính lễ như trầu cau, rượu trà, tiền cưới thì đa dạng, phong phú, đẹp mắt hơn: trái cây, bánh gato…; tiệc cưới có thể được đặt tổ chức tại các nhà hàng với không gian rộng rãi, thoải mái hơn và hai họ đỡ mất thời gian hơn… (1 điểm)

    Câu 4: (3,5 điểm)

    – Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. (1 điểm)

    – Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động thực nghiệm khoa học; hoạt động chính trị – xã hội. (1 điểm)

    – Nói thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí vì: nhận thức ra đời từ thực tiễn, song nhận thức lại diễn ra ở từng người, từng thế hệ cụ thể với những điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau. Bởi vậy, tri thức của con người về sự vật và hiện tượng có thể là đúng đắn hoặc là sai lầm. Chỉ có đem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới đánh giá được tính đúng đắn hay sai lầm của chúng. Việc vận dụng tri thức vào thực tiễn còn có tác dụng bổ sung, hoàn thiện những nhận thức chưa đầy đủ. (1,5 điểm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Sỉ, Bán Buôn Và Bán Lẻ Là Gì? Sự Khác Biệt Trong Kinh Doanh Sỉ Lẻ
  • Giá Sỉ Là Gì? Và Những Điều Cần Cần Biết Về Giá Sỉ
  • Sự Khác Nhau Giữa Phát Âm Tiếng Việt Và Tiếng Anh
  • Trọng Âm Và Ngữ Điệu
  • Phân Biệt Những Từ Tiếng Anh Có Ý Nghĩa Gần Giống Nhau
  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  •  1.Phương pháp vấn đáp, đàm thoại trong giảng dạy là gì?

    2. Các loại vấn đáp

    Có 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi

    • Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do

      giáo viên

      đặt ra chỉ yêu cầu

      học sinh

      nhắc lại kiến thức

    • Vấn đáp giải thích minh họa được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra có kèm theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ
    • Vấn đáp tìm tòi ( hay vấn đáp phát hiện) là loại vấn đáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò

    3. Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp

    • Ưu điểm

    Rèn luyện tư duy cho học sinh qua các tài liệu có sẵn hoặc do học sinh tự tìm tòi

    Kích thích tính tích cực của học sinh trong học tập

    Bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời cho học sinh một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích

    Tạo tương tác hai chiều cho cả giáo viên và học sinh giúp giáo viên điều chỉnh bài giảng của mình cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

    Theo dõi sát quá trình học tập của học sinh

    • Nhược điểm

    Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt.

     

    CÁC DỊCH VỤ CỘNG THÊM NGOÀI DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÓ NHU CẦU

    • Dịch vụ cho thuê máy tính
    • Dịch vụ cho thuê biển thông báo sự kiện
    • Dịch vụ cho thuê wifi di động
    • Dịch vụ camera di động
    • Dịch vụ phòng chờ
    • Dịch vụ lễ tân
    • Dịch vụ văn phòng

    Liên hệ tư vấn và đặt phòng:

    HOTLINE: 0915.259.497

    TẦNG 7 – TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI VÂN HỒ – SỐ 51 LÊ ĐẠI HÀNH – HAI BÀ TRƯNG – HÀ NỘI

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • 5 Cách Uống Nước Giảm Cân Siêu Tốc Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Đây là phương pháp mà giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.

    Theo cô Lê Thị Hoa, phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh.

    Từ kinh nghiệm bản thân, cô Lê Thị Hoa chia sẻ các phương pháp vấn đáp hiệu quả trong dạy học Văn và những lưu ý với các phương pháp này.

    Vấn đáp tái hiện

    Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Vấn đáp tái hiện có thể xem là bước đầu khi đi sâu tìm hiểu, khám phá, phát hiện giá trị của văn bản văn học. Đây còn là cơ sở để giáo viên đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề nhằm hướng dẫn, giúp HS phát hiện giá trị, vẻ đẹp của văn bản văn học.

    Vấn đáp giải thích, chứng minh

    GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi yêu cầu HS phải tư duy, biết vận dụng các thao tác lập luận giải thích(dùng lí lẽ, lí giải nội dung, bản chất của vấn đề để mọi người cùng hiểu vấn đề ), phân tích, chứng minh ( chia tách đối tượng thành từng khía cạnh, từng phần xem xét đánh giá, kết hợp dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đối tượng ).

    Với phương pháp này, GV tổ chức hướng dẫn HS đi sâu khám phá các giá trị của tác phẩm văn học nay bản chất vấn đề của bài học.

    Tuy nhiên vấn đề đặt ra là GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp giải thích, chứng minh như thế nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt.

    Theo kinh nghiệm của cô hoa, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài học.

    Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ, vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt… Trên cơ sở đó GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp .

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: Có ý kiến nhận xét cho rằng : Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?

    Kết quả HS trả lời: Sông Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa…

    Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu… Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi…

    Vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    Đây là dạng câu hỏi vấn đáp đòi hỏi HS không chỉ biết giải thích, chứng minh mà hơn thế phải biết khái quát, phát hiện ra bản chất của vấn đề, tầng lớp nghĩa ẩn của văn bản văn học, hơn thế HS phát hiện ra những tầng nghĩa mới.

    Vận dụng những câu hỏi vấn đáp ở mức độ này, đòi hỏi GV phải lưu ý tới mục đích, hình thức hỏi tránh đưa ra những câu hỏi mang tính chất đánh đố HS, đặc biệt phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận (HS khả năng nhận thức, tư duy).

    Khi đặt ra câu hỏi này GV thường hướng tới đối tượng là HS khá, giỏi nhằm phát huy khả năng nhận thức, tư duy, sáng tạo của các em. Tuy nhiên GV có thể đưa ra câu hỏi dẫn dắt gợi mở nhằm giúp các em có sức học trung bình cũng có thể khám phá, phát hiện và trả lời.

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu mạch cảm xúc, bố cục của văn bản văn học GV nên đặt câu hỏi dạng này.

    Ví dụ khi tìm hiểu bố cục bài thơ Tây Tiến(Quang Dũng), GV nêu câu hỏi: Sau khi nghe xong bài thơ, em hãy căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ cho biết bài thơ chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của từng đoạn?

    Những bước cơ bản tổ chức dạy học vấn đáp

    Theo cô Lê Thị Hoa, để tổ chức một giờ học vấn đáp hoàn chỉnh trong dạy văn, GV có thể tiến hành theo một số bước cơ bản sau:

    Thứ nhất: Xác định vấn đề cần vấn đáp (đàm thoại). Thông qua việc hướng dẫn đọc, GV phải hướng dẫn hay gợi ý cho HS những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu chứa đựng nội dung bao quát cơ bản để trong quá trình đọc HS cảm nhận được vấn đề mình cần phải trả lời hay tìm hiểu trong giờ học đó.

    Vấn đề đưa ra vấn đáp với HS có khi chỉ là một hình ảnh, một chi tiết, một khía cạnh nội dung hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm. Nhưng chi tiết hoặc hình ảnh đó phải tiêu biểu, đóng vai trò then chốt mà qua đó giúp HS nắm được tư tưởng của đoạn trích hoặc tác phẩm.

    Thứ hai: Hướng dẫn học sinh vấn đáp. Đây là một việc làm quan trọng của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính.

    Trong thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.

    “Trong giờ học văn, giáo viên (GV) phải là người điều khiển, hướng dẫn để học sinh (HS) tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng… Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể. GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học”. Cô Lê Thị Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp
  • Phương Pháp Xét Nghiệm Máu Vdrl Dùng Kiểm Tra Bệnh Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Phương Pháp Xét Nghiệm Máu, Đàn Ông Cần Biết
  • 5 Phương Pháp Xoa Bóp Bấm Huyệt Chữa Đau Thần Kinh Tọa
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Xoa Bóp Bấm Huyệt Hỗ Trợ Chữa Cận Thị
  • Phương Pháp Chà Xát Của Cốc Đại Phong
  • 4 Bước Xoa Bóp Tim Ngoài Lồng Ngực Ai Cũng Phải Biết
  • Phương pháp xét nghiệm máu VDRL dùng kiểm tra bệnh gì là vấn đề được nhiều người bệnh thắc mắc khi được chuyên gia yêu cầu tiến hành xét nghiệm này. Xét nghiệm máu VDRL là xét nghiệm tìm kháng thể giang mai sàng lọc khi khám sức khỏe. Phản ứng dùng kháng nguyên chế từ tim bò, cho phản ứng với huyết thanh người bệnh.

    Tìm hiểu về xét nghiệm máu VDRL chẩn đoán giang mai

      Các chuyên gia chuyên khoa tại Phòng Khám Đa Khoa Hoàn Cầu cho biết, xét nghiệm máu VDRL (viết tắt của Veneral disease research laboratory test). Đây là một trong các phương pháp xét nghiệm căn bệnh truyền nhiễm giang mai.

      Giang mai là một trong những bệnh xã hội có thể gây ra nhiều tác hại vô cùng nghiêm trọng Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ để lại những hậu quả nặng nề thậm chí tử vong cho người bệnh. Chính vì vậy, việc sớm phát hiện các dấu hiệu nhận biết giang mai và điều trị bệnh nhanh chóng là điều vô cùng quan trọng, cần thiết.

    Tìm hiểu về xét nghiệm VDRL chẩn đoán giang mai

      Khi có những dấu hiệu chứng tỏ hoặc nghi ngờ bản thân đang mắc bệnh giang mai, bạn cần phải thăm khám càng sớm càng tốt. Thông thường khi đi khám bác sỹ sẽ yêu cầu lấy máu và tiến hành làm xét nghiệm giang mai VDRL. Trong trường hợp có bệnh thì việc điều trị càng nhanh chóng là điều hết sức cần thiết đối với người bệnh, tránh các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

      Trong quá trình xét nghiệm, nếu thấy kết tủa như bông là phản ứng dương tính (+). Nếu như kết quả cho là âm tính (-) thì tức là người bệnh không mắc bệnh giang mai. Huyết thanh pha nhiều độ loãng khác nhau nên mức dương tính được thể hiện bằng ít hay nhiều các dấu cộng như: +, ++, +++, v.v… Phản ứng nhậy, dễ làm, nhưng đặc hiệu không cao. Muốn có đặc hiệu cao phải dùng kháng nguyên là bản thân xoắn khuẩn treponema (như phản ứng TPI, TPHA).

      Dù bệnh nhân và người lớn hay trẻ em thì bác sỹ đều lấy máu tĩnh mạch, lấy máu ở cổ tay, khuỷu tay, bàn tay hay lấy máu ở tĩnh mạch bẹn.

    Xét nghiệm giang mai VDRL lấy máu tĩnh mạch ở khuỷu tay

      Bên cạnh dùng xét nghiệm máu VDRL để biết có đang mắc bệnh giang mai hay không thì các bác sỹ còn có thể chuẩn đoán tình trạng bệnh thông qua các vết loét giang mai, dịch âm đạo ở nữ giới và dịch niệu đạo ở nam giới để soi trên kính hiển vi tìm xoắn khuẩn gây bệnh giang mai.

      Giang mai là bệnh có thể dễ dàng chữa khỏi nếu được phát hiện và chữa sớm. Xét nghiệm VDRL dùng để tầm soát những người có giấy triệu chứng của bệnh giang mai hay những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, xét nghiệm tầm soát giang mai là một xét nghiệm thường qui khi mang thai.

    Khi có các dấu hiệu nhận biết giang mai nên tiến hành xét nghiệm để sớm phát hiện bệnh

      Xét nghiệm VDRL cũng được các chuyên gia dùng để theo dõi kết quả giang mai. Nếu điều trị đạt kết quả tốt, lượng kháng thể trong xét nghiệm này sẽ giảm xuống, nếu lượng kháng thể này không thuyên giảm hoặc gia tăng thì có nghĩa việc điều trị ngay không mang hiệu quả hoặc nhiễm trùng dai dẳng. Từ đó các chuyên gia mới có thể tìm ra nguyên nhân gây bệnh và xác định cách điều trị phù hợp, hiệu quả.

      Nếu vẫn còn có các thắc mắc gì về vấn đề phương pháp xét nghiệm máu VDRL dùng kiểm tra bệnh gì, địa chỉ chữa bệnh giang mai hãy nhấp ngay vào bảng chat bên dưới hoặc để lại số điện thoại để được các chuyên gia giàu kinh nghiệm liên hệ hỗ trợ tư vấn cụ thể.

      Khi có bất cứ thắc mắc nào cần giải đáp hoặc muốn chat đặt lịch hẹn khám hãy gọi ngay đến Hotline 028 3923 9999 hay đơn giản hơn là để lại số điện thoại vào BOX TƯ VẤN bên dưới, các chuyên gia sẽ gọi lại tư vấn miễn phí cho bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Có Thai Bằng Phương Pháp Xét Nghiệm Máu
  • Có Gì Đặc Biệt Ở Phương Pháp Xét Nghiệm Phát Hiện Sớm Virus Hiv Trong Máu?
  • Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Hiv Nhanh Hiện Nay
  • Kỹ Thuật Xét Nghiệm Mới Giúp Đảm Bảo An Toàn Truyền Máu
  • Xét Nghiệm Vi Khuẩn Hp Bằng Cách Nào? Ở Đâu?
  • Giải Đáp Thắc Mắc: Cách Kiểm Tra Màn Hình Iphone X Zin

    --- Bài mới hơn ---

  • Iphone Hàng Like New Là Gì? Những Lưu Ý Khi Mua Điện Thoại Like New
  • Iphone Like New Là Gì? Có Nên Mua Không, Lưu Ý Gì Khi Mua? Dưới 15 Triệu Thì Chọn Iphone Cũ, Like New Nào?
  • Giải Nghĩa Thuật Ngữ Iphone Lock, Like New, 99%, 95%….
  • Phân Biệt Các Loại Hàng Iphone ( Hàng Like New, Hàng Tray, Hàng Cpo, Hàng New Fullbox)
  • Phân Biệt Các Mã Iphone Đang Được Bán Tại Việt Nam (Ll/a, Zp/a, Vn/a…), Về Bảo Hành & Phần Cứng
  • Cách kiểm tra màn hình iPhone X Zin chính xác nhất

    Khi đi mua máy đã qua sử dụng, máy mới 99% tình trạng iPhone X dựng màn hình là rất nhiều. Có rất nhiều địa chỉ mua bán không uy tín, thay màn lô kém chất lượng nhưng lại bán cho khách. Cũng có rất nhiều loại màn hình khác nhau. Tuy nhiên giữa màn Zin và các loại màn hình khác vẫn có nhiều điểm khác biệt.

    2 chiếc iPhone X cùng chỉnh Max sáng nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa màn Zin (bên trái) và màn lô

    1. Test cảm ứng trên màn hình

    Khi đi mua máy 99%, bạn hãy kiểm tra thật kỹ cảm ứng trên màn hình xem màn có bị đơ, liệt cảm ứng không.

    Bước đầu tiên để kiểm tra màn hình iPhone X, bạn hãy test cảm ứng. Dùng 1 icon bất kì, di chuyển tới tất cả các điểm trên màn hình. Nếu icon này không thể di chuyển tới một điểm bất kì nào đó trên màn hình.

    Đây là cách kiểm tra cảm ứng được dùng cho tất cả các dòng iPhone

    2. Kiểm tra màn hình iPhone X có bị đốm sáng, sọc màn không

    Các bạn hãy chỉnh độ sáng màn hình iPhone X ở mức cao nhất. Bạn hãy mở ứng dụng tin nhắn hoặc ghi chú, dùng khăn giấy sạch lau màn hình. Quan sát kỹ xem màn hình có xuất hiện các điểm đốm sáng, vệt đen hay bị đổ mực không.

    Cách nhận biết màn hình iPhone X Zin

    3. Kiểm tra áp suất

    Để tiến hành kiểm tra áp suất, các bạn hãy rút khay sim, mút để kiểm tra. Nếu màn hình bị lõm xuống, máy vẫn còn áp suất.

    Máy vẫn còn áp suất

    Đồng thời, các bạn cũng hãy để ý đường chỉ đen chạy quanh viền màn hình xem có thẳng và đều hay không.

    4. Bung máy để kiểm tra

    Khi bạn đã khá ưng ý với chiếc iPhone đã qua sử dụng, iPhone 99%, bung máy là cách chính xác nhất để kiểm tra màn Zin hay bất kể linh kiện nào khác của máy. Có rất nhiều cửa hàng chấp nhận bung máy cho bạn kiểm tra nếu bạn cam kết lấy máy đó nếu nó là hàng Zin chính hãng.

    Thông tin này có hữu ích không?

    Không

    Rất tiếc về điều đó

    Chúng tôi có thể cái thiện trang bằng cách nào ?

    Gửi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Và Cách Phân Biệt Phụ Kiện Iphone Thật Và Giả
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Iphone 5
  • Cách Chọn Mua Điện Thoại Iphone 8 Plus Cũ Giá Rẻ Và Chất Lượng
  • 2 Cách Kiểm Tra Nếu Không Muốn Mua Nhầm Iphone 8 Lock
  • Iphone Hàn Quốc Có Tốt Không ? Có Ưu Nhược Điểm Gì ?
  • Dấu Hiệu Xe Oto Hết Bình Và Cách Kiểm Tra Vấn Đề

    --- Bài mới hơn ---

  • Dấu Hiệu Nhận Biết Bình Ắc Quy Cho Xe Máy Đang Yếu Hoặc Sắp Hỏng
  • Đi Bao Lâu Mới Phải Thay Dầu Xe Máy? :: Hoạt Động Sxkd :: Petrolimex (Plx)
  • Kiểm Tra Dầu Xe Máy Bằng Que Thăm Dầu
  • Hậu Quả Nếu Không Thay Nhớt Xe Máy Trong Thời Gian Dài
  • Cảnh Giác Với Dấu Hiệu Mẹ Ít Sữa, Thiếu Sữa Hay Mất Sữa Cho Con Bú
  • Các dấu hiệu xe oto hết bình cần lưu ý

    Động cơ khởi động yếu

    Nếu xoay chìa khóa để khởi động mà động cơ chỉ nhúc nhích nhẹ, không thể khởi động được nguyên nhân chủ yếu là do ắc quy bị yếu.

    Sau khi xe đã nổ được máy thì cứ để máy nổ khoảng 30 phút để máy phát sạc cho ắc quy. Sau đó tắt máy khởi động lại, nếu vẫn không khởi động được chứng tỏ ắc quy bị hỏng, hãy thay ắc quy mới.

    Động cơ yếu, khởi động không lên

    Đèn cảnh báo sáng

    Đây là dấu hiệu rõ ràng nhất để nhận biết đã đến lúc phải thay ắc quy, đèn cảnh báo trên đồng hồ taplo sẽ hiển thị cảnh báo khi ắc quy đang gặp vấn đề.

    Khó khởi động vào buổi sáng

    Nếu buổi sáng thỉnh thoảng thấy ô tô khó khởi động (khoảng 3 lần/tuần) cũng là dấu hiệu của bình ắc quy sắp bị hỏng. Tuy nhiên, cần phân biệt động cơ khó khởi động do quay yếu, hay động cơ quay khỏe vẫn khó khởi động… Bởi động cơ quay khỏe vẫn khó nổ thuộc vấn đề bên trong động cơ; còn động cơ quay yếu do ắc quy.

    Ắc quy để qua đêm, động cơ không làm việc nên máy phát sẽ không sạc điện cho bình. Mặt khác, khi động cơ nguội ma sát cũng lớn hơn nên cần ampe đủ lớn để quay máy khởi động. Nếu gặp tình trạng này chứng tỏ khả năng “cầm” điện của ắc quy đã kém, nên thay ắc quy sớm tránh gặp sự cố khi đi xa.

    Động cơ lúc khởi động được lúc không

    Trường hợp này có thể do cọc bình bị lỏng, bị sunfat hóa, bạn hãy làm sạch các cọc bình và siết lại. Nếu siết lại cọc bình hoặc câu thêm bình mà vẫn không khởi động được thì có thể máy khởi động bị hỏng.

    Động cơ không quay, không có đèn nào sáng trên bảng táp lô

    Nếu xoay chìa khóa để khởi động mà động cơ không nhúc nhích và các hệ thống khác cũng không hoạt động được như đèn, còi… thì có thể ắc quy bị hỏng hẳn, máy phát hỏng hoặc hệ thống điện gặp sự cố.

    Ắc quy bị phù, rò rỉ

    Do nhiệt độ quá cao trong khoang động cơ gây ra khiến vỏ ắc quy có hiện tượng bị phù, sưng nở, làm giảm tuổi thọ của ắc quy, hãy nên thay thế ắc quy ngay lập tức. Hiện tượng này xảy ra khi các cọc (nơi kết nối cáp + và cáp -) bị lỏng, ăn mòn, và bị oxy hóa, điện áp trong bình có thể dễ dàng bị rò rỉ ra bên ngoài thông qua các lớp ô xy hóa trên.

    Mức chất lỏng ắc quy thấp

    Ắc quy xe thường có cấu tạo trong suốt nên có thể luôn theo dõi mức chất lỏng của ắc quy. Nếu mức chất lỏng dưới mức quy định, hãy kiểm tra ắc quy và hệ thống máy phát điện.

    Một số cách kiểm tra khi xe ô tô hết bình

    Kiểm tra ắc quy ô tô bằng vôn kế

    Nên kiểm tra tình trạng của bình ắc quy

    • Bước 1: Tắt máy. Trước tiên bạn phải tắt máy xe để đảm bảo các dòng điện chạy bên trong đều được dừng hoạt động và đảm bảo an toàn cho việc kiểm tra.
    • Bước 2: Tháo nắp đậy cực dương bình ắc quy, sau đó vệ sinh sạch sẽ 2 cực bình.
    • Bước 3: Đấu cực dương của vôn kế với cực dương của bình (thông thường cực dương của vôn kế có dây màu đỏ).
    • Bước 4: Nối cực m của vôn kế với cực âm của bình.
    • Bước 5: Kiểm tra thông số trên vôn kế:

      + Nếu số đo điện áp trên vôn kế trong khoảng 12,4V – 12,7V thì tình trạng ắc quy còn tốt và sử dụng bình thường.

      + Nếu điện áp trên vôn kế thấp hơn 12,4V thì ắc quy ô tô cần được sạc điện.

      + Ngoài ra, nếu chỉ số sụt áp thấp hơn 9,6V có thể ắc quy đã bị yếu sắp hỏng cần thay mới.

    Kiểm tra ắc quy bằng đồng hồ đo điện đa năng

    Để kiểm tra rò điện ắc quy bằng đồng hồ đo điện đa năng thì bạn nên làm các bước sau:

    • Dùng đồng hồ đo điện (loại điện tử – DMM – có thể đo được đến mA) để tại chế độ đo AMP, đấu nối tiếp với ắc quy.
    • Tháo dây (-) ra khỏi ắc quy và đấu với đầu (+) của DMM.
    • Đầu (-) của DMM kẹp với cọc (-) của ắc quy.
    • Theo dõi và ghi lại Amp của DMM. Lưu ý: chờ 1 lúc vì cho 1 số thiết bị trên xe xả hết điện. Khi theo dõi nếu thấy dòng sụt khoảng 0.050A (50mA) – 0.100A (100mA) thì ắc quy vẫn ổn định, nếu hơn thì xe của bạn chắc chắn đã bị rò điện ở đâu đó, cần đưa đi kiểm tra kỹ để kịp thời phát hiện nguyên nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xuất Huyết Não Ở Vị Trí Nào Nguy Hiểm Nhất?
  • Xuất Huyết Não Là Bệnh Gì? Nguyên Nhân, Cách Trị
  • Khi Thấy Những Triệu Chứng Này, Bệnh Xơ Gan Đã Ở Giai Đoạn Cuối
  • Lược Dịch Wonder Week 5 Tuần Tuổi
  • Khái Niệm Hội Tụ Đều Và Hàm Weierstrass
  • So Sánh Các Phương Pháp Kiểm Tra Không Phá Hủy Khác Nhau

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Môn Học Thuộc Bộ Môn Kỹ Thuật Ô Tô
  • Nội Dung Chính Của Thông Tư 41/2017/tt
  • Xác Định Giá Trong Giao Dịch Liên Kết
  • Ví Dụ Về Phương Pháp So Sánh Trực Tiếp
  • Tổng Hợp 3 Phương Pháp Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học So Sánh Chuẩn Nhất
  • Kiểm tra những bất liên ở bề mặt : vết nứt, các rỗ khí , xỉ, sự lệch hàng, sự cong vênh, sai về kích thước và số lượng.

    Rẻ tiền, đơn giản, nhanh chóng, áp dụng ngay trong quá trình gia công, có thể giảm bớt yêu cầu đối với phương pháp khác.

    Chỉ kiểm tra trên bề mặt, khả năng phân biệt kém và biến động, mỏi mắt, có thể bị quáng, cần đủ sáng.

    Phương pháp kiểm tra bằng chất thấm lỏng

    Kiểm tra các bất liên tục trên bề mặt: Các vết nứt, rỗ khí, vết gấp mép, chồng mép, các lỗ rò rỉ.

    Rẻ tiền, dễ áp dụng có độ nhạy cao hơn phương pháp kiểm tra bằng mắt, kiểm tra nhanh, thiết bị gọn nhẹ.

    Chỉ kiểm tra bề mặt, không hữu dụng khi kiểm tra các bề mặt nóng bẩn, đã sơn phủ hoặc bề mặt rất thô nhám, yêu cầu người kiểm tra phải có một ít kinh nghiệm.

    Kiểm tra những bất liên tục trên bề mặt : Các vết nứt, các lỗ rỗng rỗ khí, các tạp chất, các vết gấp mép, chồng mép.

    Giá thành thấp, kiểm tra nhanh, đối với những vết nứt mảnh phương pháp này nhạy hơn phương pháp kiểm tra bằng chất thấm lỏng , có thể phát hiện được những khuyết tật gần bề mặt, thiết bị gọn nhẹ.

    Vật liệu kiểm tra phải là vật liệu sắt từ,bề mặt cần phải làm sạch và có thể tiếp xúc tốt, chi tiết sau khi kiểm tra cần phải khử từ, quang trọng là cần phải có sự sắp xếp của từ trường, yêu cầu người kiểm tra phải có kinh nghiệm.

    Phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy

    Kiểm tra khuyết tật những bát liên tục trên bề mặt và gần bề mặt: Các vết nứt, các vết gấp trên mặt, phân loại vật liệu, đo bề dày, đo sự lệch tâm, điều kiện bề mặt.

    Kiểm tra rất nhanh có thể tự động hóa, rất nhạy, không cần tiếp xúc bề mặt, kết quả ghi nhận giữ được lâu.

    Khả năng xuyên thấu thấp, chỉ kiểm tra được những vật liệu dẫn điện, có thể cần đến các thiết bị đặc biệt, nhạy cảm đối với thay đổi dạng hình học, khi khó giải đoán.

    Kiểm tra các bất liên tục gần bề mặt: vết nứt các lỗ rỗng, tạp chất, hàn không thấu, hàn không ngấu, sự rỉ mòn, chi tiết bị bỏ sót, sự pha trộn các vật liệu.

    Dễ hiểu, kết quả lưu trữ được lâu, giá thành vừa phải, thiết bị cơ động, áp dụng rộng rãi đối với các loại vật liệu.

    Không thể phát hiện được sự phân lớp , bức xạ rất nguy hiểm và phải tuân theo các quy định , phải tiếp xúc được cả hai phía, giá thành có thể cao, người kiểm tra phải được huấn luyện.

    Kiểm tra sự dò rỉ trong các hệ thống và các cụm lắp ráp.

    Rất nhạy đối với các lỗ hoặc sự phân cách mà cách phương pháp khác không phát hiện được, có thể kiểm tra nhanh, rẻ tiền.

    Giá thành biến đổi lớn theo từng kỹ thuật, không kiểm tra được các hệ thống hở, không xác định được loại và nguyên nhân tạo ra khuyết tật, cần vật liệu và thiết bị đặc biệt.

    Phương pháp kiểm tra thành phần và phân tích vật liệu

    Định danh hợp kim, xác định đồng bộ đồng nhất của lớp mạ và đo bề dày.

    Kiểm tra nhanh ngoài hiện trường, thường thực hiện không khó lắm.

    Cần phải có kỹ thuật cao và kinh nghiệm, thiết bị đắt tiền. Các hợp kim giống nhau rất khó định danh.

    Kiểm tra sự khác thường của hệ thống, sự sai lệch sắp xếp, không liên kết, các thành phần bị thiếu hoặc mòn, các chi tiết thất lạc.

    Rất hữu dụng trong việc dự đoán hoặc bảo dưỡng thiết bị, xác định được những vùng hoặc các chi tiết có vấn đề, kiểm tra được trong quá trình hoạt động, thiết bị cơ động.

    Thiếtt bị rất đặc biệt, cần nhânh viên có kinh nghiệm vận hành, một số hệ thống rất phức tạp.

    Kiểm tra các bất liên tục bề mặt và gần bề mặt: Các vết nứt mới xuất hiện và phát triển, các lỗ rò rỉ, sự thay đổi pha.

    Giám sát liên tục từ xa, xác định được vị trí khuyết tật, kết quả ghi nhận giữ được lâu, kiểm tra được toàn bộ các bình hoặc hệ thống.

    Cần phải tiếp xúc tốt với các thiết bị kiểm tra, cần nhiều điểm tiếp xúc, giải đoán phức tạp, hệ thống kiểm tra phải được tạo ứng suất, thường đắt tiền, một số thiết bị rất phức tạp.

    Kiểm tra các lỗ rỗng hoặc sự liên kết hoặc tính liên tục của vật liệu , đo các tiết diện dày và mỏng, đo sự cách ly, xác định các nguồn nhiệt.

    Phát hiện và xác định vị trí các điểm nóng và lạnh, những khuyết tật sinh ra do nhiệt , kết quả vĩnh cửu một cách định lượng , có thể kiểm tra từ xa , cơ động.

    Độ phan giải kém , những thiết bị chuyên dụng có thể đắt tiền , yêu cầu nhân viên kiểm tra phải được huấn luyện , cần có các tiêu chuẩn so sánh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồ Án Tốt Nghiệp Cơ Điện Tử Thiết Kế Chế Tạo Mô Hình Hệ Thống Lắp Ráp Tự Động
  • Sự Khác Biệt Chính Giữa Đúc Khuôn Và Rèn Khuôn
  • So Sánh Ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Niềng Răng Mắc Cài
  • Các Phương Pháp Niềng Răng Hiện Nay
  • So Sánh Mắc Cài Sứ Và Mắc Cài Kim Loại? Nên Chọn Phương Pháp Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100