Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

--- Bài mới hơn ---

  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận? Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì trước tiên ta phải hiểu và phát biểu được khái niệm về vật chất và ý thức *Vật chất: Theo LêNin ” Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” *Ý thức : Là một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ óc. Ý thức có 2 nguồn gốc chính: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội – Nguồn gốc tự nhiên: Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất. Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác nhau của vật chất. Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý thành phản ánh ý thức của con người. – Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội của loài người. * Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: – Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau :Vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức. Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu thì ý thức thay đổi đến đó. – Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật chất sinh ra nó theo 2 trường hợp: + Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển. + Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có tác dụng kìm hãm xã hội phát triển. – Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới trở thành hiện thực. * Ý nghĩa phương pháp luận: – Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thì trong hành động nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. – Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con người. – Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ. Câu 4: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận và rút ra ý nghĩa ? * Thực tiễn: Theo triết học DVBC thực tiễn là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất cảm tính có tính lịch sử xã hội của con người nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội. Theo triết học Mac – Lênin thì thực tiễn có 3 hình thức cơ bản sau: – Hoạt động sản xuất vật chất: đây là thực tiễn có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. – Hoạt động cải tạo chính trị xã hội, quan hệ xã hội: như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giải phóng giai cấp, xây dựng thiết chế dân chủ… – Những hoạt động thực nghiệm khoa học: đây là hình thức đặc biệt bởi lẽ nghiên cứu tự nhiên và xã hội trong điều kiện thí nghiệm cũng như việc thực nghiệm chuyển giao khoa học kỹ thuật hay vận dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất vật chất trên cơ sở cải tạo thế giới phục vụ con người. Ba hình thức trên có quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, 2 hình thức còn lại đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất vật chất. *Lý luận : Theo triết học DVBC lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn và cả những mối liên hệ bản chất mang tính quy luật của các sinh vật hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các nguyên lý, phạm trù, quy luật. Từ khái niệm trên cho ta thấy lý luận có những đặc trưng sau đây: – Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. – Lý luận có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao. – Lý luận có khả năng phản ánh bản chất sâu xa của sự vật hiện tượng. * Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận: Đây là mối quan hệ tác động qua lại 2 chiều, thực tiễn quyết định lý luận và lý luận tác động lên thực tiễn. – Thực tiễn quyết định lý luận: + Thể hiện ở chỗ quyết định cả về nội dung, nhiệm vụ, khuynh hướng phát triển lý luận. Hay nói cách khác, thực tiễn thế nào thì lý luận thế ấy, thực tiễn thay đổi thì sớm muộn gì lý luận cũng thay đổi bởi vì thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, là động lực, là mục đích của nhận thức. + Thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức: Theo triết học DVBC thì hoạt động thực tiễn là cơ sở động lực trực tiếp của nhận thức lý luận bởi lẽ: Bằng hoạt động thực tiễn, thông qua thực tiễn con người tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ bản chất, tính chất, trên cơ sở đó con người mới hiểu, biết được sự vật hiện tượng nghĩa là thực tiễn cung cấp tri thức, sự hiểu biết cho con người. Thực tiễn đã đề ra nhu cầu nhiệm vụ, phương hướng đòi hỏi lý luận phải trả lời trên cơ sở đó thúc đẩy lý luận phát triển. Thực tiễn là cơ sở để rèn luyện các giác quan của con người, trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức, thúc đẩy lý luận phát triển. Thực tiễn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện hỗ trợ cho con người nhận thức có hiệu quả hơn trên cơ sở đó thúc đẩy lý luận phát triển. Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Theo triết học MLN chính thực tiễn là mục đích nhận thức của lý luận, chỉ có lý luận phục vụ cho thực tiễn đích thực bởi lẽ: nhận thức của con người ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn. Hơn nữa những kết quả nhận thức của lý luận chỉ có giá trị đích thực khi đã vận dụng vào thực tiễn, nếu lý luận mà không vì thực tiễn thì lý luận sẽ mất phương hướng hay còn gọi là lý luận suông. Theo triết học MLN chỉ có thực tiễn mới khẳng định chân lý bác bỏ sai lầm nghĩa là thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng đắn về kết quả nhận thức của lý luận, bằng thực tiễn con người có thể vật chất hoá tri thức, hiện thực hoá lý luận, trên cơ sở đó khẳng định được sự đúng sai của lý luận. – Lý luận tác động trở lại thực tiễn: Mặc dù lý luận có bị quy định bởi thực tiễn nhưng nó có tính độc lập tương đối so với thực tiễn cho nên nó có thể tác động trở lại thực tiễn theo 2 hướng cơ bản sau: + Nếu lý luận ra đời mà phù hợp với thực tiễn thì sẽ thúc đẩy thực tiễn phát triển nhanh chóng. + Nếu lý luận ra đời mà không phù hợp với thực tiễn thì sẽ kìm hãm thực tiễn phát triển. Mức độ và hiệu quả của lý luận đối với thực tiễn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: + Tính đúng đắn khoa học của lý luận. + Phụ thuộc vào mức độ thâm nhập vào quần chúng cách mạng ở mức độ nào. + Phụ thuộc vào sự vận dụng đúng đắn sáng tạo hay không bởi chủ thể lãnh đạo. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn: lý luận có 1 vai trò to lớn đối với thực tiễn ở chỗ: + Soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn đi đúng hướng. + Giáo dục, động viên, thuyết phục tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn trên cơ sở đó cải tạo tự nhiên và xã hội. + Do sức mạnh nội tại của mình lý luận đóng vai trò là dự báo định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người. * Ý nghĩa phương pháp luận: – Phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn, không được tuyệt đối hoá thực tiễn, coi thường lý luận sẽ dẫn đến bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, ngược lại không được tuyệt đối hoá lý luận, coi thường thực tiễn sẽ dẫn đến bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc. – Quán triệt tốt nguyên tắc tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. – Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung hoàn thiện phát triển lý luận đồng thời trao dồi lý luận, nâng cao trình độ lý luận để chỉ đạo hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Câu 5 : Biện chứng giữa lực lượng sản xuất & quan hệ sản xuất và sự vận dụng của Đảng ta? Các khái niệm : * LLSX : LLSX là sự kết hợp hữu cơ giữa người lao động với TLSX trước hết là công cụ lao động tạo ra sức sản xuất nhất định. Trong LLSX gồm người lao động với những kỹ năng, kinh nghiệm, tri thức, sức khoẻ của họ và trong TLSX có công cụ lao động, đối tượng lao động. Trong LLSX thì người lao động với tư cách là chủ thể sản xuất vật chất tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, sáng tạo ra công cụ lao động. với ý nghĩa đó người lao động được coi là nhân tố chủ yếu hàng đầu của LLSX. Công cụ lao động là yếu tố quan trọng của LLSX chính là ý quan vật chất để nhân lên sức mạnh con người trong quá trình lao động, đó là yếu tố quyết định đối với TLSX. Trong thời đại ngày nay khoa học đang trở thành LLSX trực tiếp bởi lẽ những thành tựu khoa học hiện đại được vận dụng nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất, tri thức khoa học là một bộ phận quan trọng, kỹ năng người lao động khoa học đã được thẩm thấu vào trong tất cả các quá trình sản xuất từ việc tham gia vào cải tiến công cụ lao động, vào quá trình quản lý sản xuất cũng như hàm lượng giá trị sản xuất. Các yếu tố cấu thành LLSX có quan hệ tác động biện chứng qua lại lẫn nhau nhưng trong đó người lao động đóng vai trò quan trọng nhất. * QHSX: là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Trong QHSX bao gồm 3 yếu tố cơ bản : quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động. Trong 3 loại quan hệ trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong đó quan hệ sở hữu đối với TLSX luôn đóng vai trò quyết định, bởi lẽ ai nắm được TLSX trong tay người đó sẽ quyết định tổ chức quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm lao động, ngược lại quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm cũng rất quan trọng đối với TLSX ( sở hữu TLSX ). * Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX – QHSX: Sự tác động lẫn nhau giữa LLSX – QHSX được biểu hiện thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX. – LLSX quyết định QHSX: + LLSX là yếu tố độc nhất, CM nhất trong quá trình sản xuất, nó là nội dung của quá trình sản xuất. + QHSX là yếu tố tương đối ổn định, nó là hình thức xã hội của quá trình sản xuất. Trong mối quan hệ giữa LLSX và QHSX thì LLSX quyết định QHSX, điều này thể hiện ở chỗ: LLSX phát triển thì sớm hay muộn QHSX cũng biến đổi theo cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Khi LLSX phát triển đến 1 mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn đến QHSX lạc hậu, điều này đòi hỏi phải xoá QHSX cũ, xác lập QHSX mới phù hợp với trình độ của LLSX để thúc đẩy phương thức sản xuất mới ra đời. – QHSX tác động trở lại LLSX: mặc dù bị quy định bởi LLSX nhưng QHSX có vai trò tác động trở lại LLSX thể hiện ở chỗ: + Nếu QHSX phù hợp với trình độ của LLSX nó sẽ tạo ra địa bàn rộng lớn cho LLSX phát triển, thúc đẩy, tạo điều kiện, hậu thuẫn cho LLSX phát triển. + QHSX phù hợp với trình độ của LLSX, nó được biểu hiện: năng suất lao động tăng, đời sống công nhân tăng, cơ sở vật chất được tái đầu tư, môi trường làm việc được cải thiện, người lao động được đào tạo lại. + Nếu QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX biểu hiện ở chỗ: QHSX có thể lạc hậu lỗi thời hay vượt trước quá xa trình độ phát triển của LLSX thì khi ấy sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của LLSX. + Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX còn thể hiện ở chỗ nó quy định mục đích sản xuất ảnh hưởng đến thái độ lao động của người lao động, nó kích thích hoặc kìm hãm công cụ lao động cũng như việc vận dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất. Trong xã hội có giai cấp thì mâu thuẫn giữa LLSX & QHSX biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai cấp thì mới giải quyết được mâu thuẫn này. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX không chỉ biểu hiện tính biện chứng giữa LLSX & QHSX mà còn thể hiện là quy luật chung phổ biến trong mọi xã hội, làm cho xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao. * Sự vận dụng của Đảng ta: – Trước 1986 chúng ta có những biểu hiện vận dụng chưa đúng mối quan hệ biện chứng giữa LLSX & QHSX, điều này thể hiện ở việc do ta chủ quan, nóng vội trong xây dựng QHSX XHCN mà chưa tính tới trình độ LLSX ở nước ta thời điểm đó (LLSX còn thấp – QHSX quá cao). – Sau 1986 dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nước ta, nhân dân ta đã lựa chọn con đường phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, điều này hoàn toàn đúng với quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX bởi lẽ: trình độ phát triển LLSX ở nước ta vừa thấp vừa không đồng đều giữa các vùng, các ngành kinh tế,… Chính sự đồng đều về trình độ phát triển của LLSX ở nước ta đã quy định tính đa dạng phong phú của quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất & quan hệ phân phối sản phẩm lao động. Nói cách khác, tính không đồng đều về trình độ phát triển của LLSX đã quy định tính đa dạng của QHSX. Thực tiễn kinh tế xã hội ở Việt Nam đã chứng minh được điều này là hoàn toàn đúng đắn, nó thể hiện ở chỗ giải phóng được LLSX, năng suất lao động tăng lên, kinh tế xã hội phát triển, thu hút được nhiều nguồn lực. Câu 7 : Đấu tranh giai cấp là gì? Hãy trình bày tính phức tạp và nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay? * Đấu tranh giai cấp: – Theo triết học MLN đấu tranh giai cấp là đấu tranh giữa các giai cấp, những lực lượng xã hội, những tầng lớp xã hội có lợi ích cơ bản đối lập, đối kháng với nhau không thể điều hoà được. – Lênin định nghĩa về đấu tranh giai cấp như sau: ” Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống bộ phận nhân dân khác, là cuộc đấu tranh của những người bị tước hết quyền, bị áp bức bóc lột chống bọn có đặc quyền đặc lợi, cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê hay những người hữu sản hay giai cấp tư sản” * Tính phức tạp của đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay : – Trong bối cảnh Liên Xô Đông Âu sụp đổ, hệ thống XHCN đang bị thoái trào tạm thời, CNTB đang tạm thời khắc phục những hạn chế và đang chiếm uy thế trên nhiều mặt quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội. – Cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không còn trực diện như thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc mà nó ẩn giấu đằng sau qua các cuộc đấu tranh về kinh tế, văn hoá, tư tưởng. Cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không chỉ là đấu tranh bảo vệ chính quyền mà còn định hướng đi lên CNXH. – Một số cán bộ thoái hoá, biến chất vô tình hay hữu ý, trực tiếp hay gián tiếp đã tiếp tay cho những nhân tố gây mất ổn định xã hội đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. – Mặt khác còn do những vấn đề toàn cầu đang đặt ra một cách gay gắt, nó nhường như lấn áp vấn đề đấu tranh giai cấp như AIDS, dịch cúm gia cầm, ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số… – Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay đang diễn ra trong từng con người một giữa cái thiện và cái ác, giữa cái bảo thủ, lạc hậu & cái tiến bộ, giữa cái cũ & cái mới, giữa truyền thống và hiện đại,… * Nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta: – Cũng cố chính quyền về tay nhân dân để chính quyền thật sự là của dân, do dân & vì dân – Về kinh tế phải xây dựng thành công CNXH, trước hết phải thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước. – Xây dựng thành công nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. – Giải quyết vấn đề giai cấp, dân tộc, tôn giáo, thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc. – Phải sử dụng 1 cách có hiệu quả các thành phần kinh tế phi XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. – Chống lại các luận điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử, giữ vững định hướng phát triển XHCN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Web 5 Ngày: Nếu Muốn Thành Công, Hãy Xem 5 Video Này
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Khái quát nội dung ý nghĩa phương pháp luận:

    Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất, phổ biến đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn. Nguyên tắc đó là: trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời cần phải phát huy tính năng động chủ quan. Theo nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời giữa việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tính năng động chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan phải là trên cơ sở và trong phạm vi điều kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn.

    – Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của đời sông vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động.

    – Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần chúng để trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành động. Mặt khác phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.

    Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược, V.V.. Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động, v.v. trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Luận Văn Tiểu Luận Vận Dụng Mối Quan Hệ Vật Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs
  • Skkn Kinh Nghiệm Dạy Học Ngữ Văn Thcs Theo Phương Pháp Đổi Mới_2
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Dạy Học Ngữ Văn: Phác Thảo Chương Trình Ngữ Văn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực (Pgs.ts. Bùi Mạnh Hùng)
  • 1. Lý do chọn đề tài Xu thế của thời đại hiện nay là sự phát triển: phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học. Bước chuyển biến của thời đại “bùng bổ thông tin” đã tác động mạnh mẽ tới giáo dục. Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giai đoạn chuyển mình từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tri thức. Yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp ấy là con người, vì vậy phải chăm lo phát triển nguồn lực con người. Nhà trường phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo dục để chuẩn bị cho xã hội một lớp người lao động mới, có những năng lực và phẩm chất phù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới. Bên cạnh đó, xu thế phát triển, đổi mới phương pháp giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới buộc Việt Nam cũng phải đổi mới. Xu thế ấy đã được UNESCO đề xướng với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Ngữ văn là môn học đã được giảng dạy từ lâu ở trường phổ thông và có tác động mạnh trong việc hình thành nhân cách cho học sinh, cho nên không chỉ ở nước ta mà ở hầu hết các nước tiên tiến, vấn đề chất lượng dạy học Văn ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm cũng như các nhà quản lý giáo dục xã hội. Với cải cách giáo dục, môn Văn đã đạt được những bước tiến đáng kể. Thế nhưng, một vấn đề đang còn khó khăn và cần tìm hướng giải quyết hiện nay, đó là vấn đề phương pháp dạy học Văn trong trường phổ thông. Báo Nhân Dân có hai bài nêu vấn đề phương pháp dạy học với những nhận xét khá quan trọng: “Có thể nói phương pháp là vấn đề gay gắt cốt lõi nhất của chất lượng”; “Yếu nhất của đội ngũ này (giáo viên) là phương pháp giảng dạy”. Như vậy đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Văn nói riêng đang là một vấn đề bức xúc của nhà trường chúng ta. Mặc dù phát biểu cách đây đã khá lâu, nhưng có thể lấy câu nói của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng sau đây làm tư tưởng chỉ đạo việc đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông: “Ngày nay, sự hiểu biết của con người luôn luôn đổi mới. Cho nên dù học được trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng chỉ là rất hạn chế. Thế cái gì là quan trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình “. Người viết thật sự rất tâm đắc với điều này và tin rằng đó cũng là suy nghĩ chung của những người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và phát triển của đất nước. Càng nhìn ra thế giới, chúng ta càng mong muốn xúc tiến gấp việc đổi mới phương pháp khoa học và giáo dục. Cũng như các môn học nói chung, Ngữ văn không tách khỏi sự tác động của điều kiện, môi trường hoạt động giáo dục trong mối quan hệ với hoàn cảnh, tình hình chính trị – xã hội chung của đất nước. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chế độ nào, nhà trường ấy”. Thêm vào đó, trong quá trình học tập Triết học, chúng tôi càng nhận thấy rõ ràng mối quan hệ này. Vì vậy người viết đã chọn đề tài: “Vận dụng mối quan hệ vật chất – ý thức trong định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT hiện nay” để tiến hành nghiên cứu. Trong đề tài này, người viết đặc biệt tập trung nghiên cứu vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và sự ảnh hưởng của nó đến việc đổi mới mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn. 2. Lịch sử vấn đề Ngay từ thời cổ đại, Socrat đã đưa ra một phương pháp dạy học hướng tới sự nâng đỡ học sinh trong quá trình tự mình đi tìm kiến thức, gọi là phương pháp “bà đỡ”. Nhưng chỉ đến thời hiện đại thì tính tích cực của phương pháp này mới phát triển mạnh. Thế kỉ XVII, Komenxki, nhà giáo dục nổi tiếng đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách hãy tìm ra các phương pháp cho các giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Tư tưởng này ngày càng được hoàn thiện và bổ sung bởi những đóng góp của các nhà sư phạm, các nhà giáo dục. Quan điểm dạy học đã có hệ thống và cơ sở cho nên trong thời gian qua, các nhà trường trên thế giới đều thực hiện việc đổi mới. Ở Pháp, người ta đã tiến hành cải cách giáo dục (1935), chuyển sang cách dạy định hướng và quan sát. Ở Nhật đã sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực để đào tạo con người hiện đại của họ. Ở Mỹ, nhà sư phạm nổi tiếng J. Deway đã đưa ra một phương châm được xem là cách tân của khoa học sư phạm: “Học sinh là mặt trời xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Và ở nhà trường nước ta cũng đang tiếp cận xu hướng này, tuy vậy do mới vận dụng nên những chuyển biến về phương pháp chỉ là khởi đầu. Hơn 20 năm qua, gắn với những thành tựu chung của công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện trên đất nước ta, sự nghiệp giáo dục đào tạo đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, tạo nguồn động lực đưa nhà trường tiến kịp với yêu cầu của thời đại mới đặt ra. Sự chuyển biến của quá trình giáo dục – đào tạo đã làm thay đổi nhận thức về mục đích, nội dung và phương pháp dạy, đưa đến cuộc cách mạng thực sự về quan điểm giáo dục. Nguyên bộ trưởng Bộ Giáo dục Trần Hồng Quân đã từng nói: “Cuộc cách mạng về phương pháp đang diễn ra trên thế giới có phạm vi rất rộng bao gồm các phương pháp lựa chọn nội dung, các phương pháp dạy học, các phương pháp sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại và chính cuộc cách mạng về phương pháp này sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới”. Trong bối cảnh đó, các môn học ở nhà trường đều có sự điều chỉnh, bổ sung phù hợp với bước phát triển mới của chiến lược giáo dục, góp phần hoàn thiên mô hình nhân cách học sinh, người chủ nhân tương lai của đất nước. Môn Văn, môn học giữ vị trí quan trọng trong nhà trường lại càng phải nhanh chóng bước vào đổi mới, khắc phục sự trì trệ, xơ cứng kéo dài. Nhìn vào tiến trình học Văn, qua việc phê phán, xóa bỏ những cách thức dạy học cũ – được gọi là phương pháp truyền thống – và thay thế bằng một số phương pháp dạy học Văn mới, tình hình dạy học Văn có sự chuyển biến, ý định về cuộc canh tân phương pháp dạy học được khởi xướng. Tuy nhiên, việc đề xuất phương pháp dạy học Văn đó vẫn chưa hội tụ đủ điều kiện để tạo ra những chuyển biến thực sự sâu rộng, vững chắc làm cho việc đổi mới phương pháp dạy học có khả năng hiện thực. Thực tế dạy học Văn ở trường THPT vẫn còn đặt ra nhiều đòi hỏi cấp thiết, bởi vì các phương pháp dạy học Văn được lựa chọn chưa khẳng định rõ ưu thế của nó như chủ định. Vì thế, người giáo viên Văn gặp lúng túng, dễ bị níu kéo trở lại mối mòn của phương pháp dạy học cũ. Từ đó, vấn đề mấu chốt của phương pháp dạy Văn mới là ở sự thuyết phục của những cơ sở lý luận khoa học và tính khả thi của nó qua thực tế dạy học. Có như vậy phương pháp dạy học mới trở thành công cụ hiệu nghiệm giúp cho người dạy, người học vươn lên hoàn thành nhiệm vụ dạy học đặt ra. Việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học Văn đòi hỏi người giáo viên Văn phải bằng suy nghĩ mới, phải tìm ra những cách thức dạy học thích hợp, sáng tạo để làm cho việc cảm thụ tiếp nhận tác phẩm văn chương được tiến hành theo đúng đặc trưng, tính chất của môn học đặc thù. Bởi vậy việc thường xuyên quan tâm tìm tòi và lựa chọn những cách thức dạy học tích cực, hiệu quả cần được xem là mối quan tâm hàng đầu của người giáo viên trong hoạt động dạy học hiện nay. Muốn vậy, chúng ta phải tiến hành một cách xác lập toàn diện hệ thống cơ sở lý luận khoa học cũng như kiểm chứng qua thực tiễn dạy học để đề xuất phương pháp dạy học đạt kết quả tốt nhất. 3. Giới hạn đề tài Hiện nay các phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng xuất hiện khá nhiều và tập trung lại thành một hệ thống phương pháp giáo dục. Ở đây, người viết chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu thực tế khách quan và quy luật khách quan và việc vận dụng một số phương pháp dạy học nhất định dựa trên những điều kiện cụ thể (khảo sát thực tế tại một trường THPT ở Q 6, Tp.HCM). Trong quá trình tiến hành công việc, người viết gặp một số khó khăn về tài liệu, về kinh nghiệm thực tế nên việc áp dụng phương pháp mới vào bài giảng còn nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, với ý nghĩ muốn góp một phần nhỏ vào công việc đổi mới phương pháp đang rất cần thiết của ngành giáo dục hiện nay, người viết có thêm cơ sở để tự tin vào công việc mình thực hiện. 4. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành tiểu luận một cách hệ thống, hoàn chỉnh và chính xác người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu, tham khảo tài liệu; Phương pháp khảo sát, thực hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn Ở Trường Thpt Ngô Sĩ Liên
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn.doc
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Thcs: Hai Xu Hướng Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Đại Số Ở Trường Thcs
  • Luận Văn Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Đạo Đức Ở Lớp 2
  • Quan Hệ Giữa Sự Biến Đổi Về Lượng Và Sự Biến Đổi Về Chất Của Sự Vật Hiện Tượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Biết Sự Khác Nhau Giữa Cáp Mạng Chính Hãng Và Hàng Nhái Kém Chất Lượng
  • Nhận Biết Sự Khác Nhau Giữa Dây Cáp Mạng Chính Hãng Và Hàng Nhái, Sự Khác Nhau Giữa Cáp Mạng Chính Hãng Và Hàng Nhái Kém Chất Lượng
  • Serum Là Gì? Essence Là Gì? Sự Khác Nhau Cơ Bản Của 2 Loại
  • Galaxy Watch Active 2 Lte Và Galaxy Watch Active 2 Gps Có Gì Khác Nhau?
  • Tầu Bay Hay Tàu Bay
  • Quy luật lượng – chất hay còn gọi là quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin, chỉ cách thức của sự vận động, phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức thay đổi lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sự vật sang một trạng thái phát triển tiếp theo. Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật này:

    Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất“-  Ph.Ăng-ghen

    Nội dung quy luật

    Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm chất và lượng nhất định, trong đó chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi. Sự biến đổi này tạo ra mâu thuẫn giữa lượng và chất. Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì lượng phá vỡ chất cũ, mâu thuẫn giữa lượng và chất được giải quyết, chất mới được hình thành với lượng mới, nhưng lượng mới lại biến đổi và phá vỡ chất đang kìm hãm nó. Quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng tạo nên sự vận động liên tục, từ biến đổi dần dần đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bị cho bước nhảy vọt tiếp theo. Cứ căn cứ thế, quá trình động biện chứng giữa chất và lượng tạo nên cách thức vận động, phát triển của sự vật.

    Nói ngắn gọn hơn, bất cứ sự vật nào trong quá trình phát triển đều là quá trình biến đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất. Biến đổi về lượng đến một mức nhất định sẽ dẫn đến biến đổi về chất, sản sinh chất mới. Rồi trên nền tảng của chất mới lại bắt đầu biến đổi về lượng. Biến đổi về lượng là nền tảng và chuẩn bị tất yếu của biến đổi về chất. Biến đổi về chất là kết quả tất yếu của biến đổi về lượng. Quy luật biến đổi về chất và lượng cho thấy trạng thái và quá trình phát triển của sự vật.

    Tác động ngược

    Sự thay đổi về chất tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng. Lượng thay đổi luôn luôn trong mối quan hệ với chất, chịu sự tác động của chất. Song sự tác động của chất đối với lượng rõ nét nhất khi xảy ra bước nhảy về chất, chất mới thay thế chất cũ, nó quy định quy mô và tốc độ phát triển của lượng mới trong một độ mới. Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ: chất mới sẽ tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học 9
  • Sự Khác Nhau Giữa Hằng Và Biến
  • Ván Gỗ Mdf Và Hdf Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Gỗ Mdf Tại Hải Phòng
  • So Sánh Sự Khác Biệt Giữa Ván Mdf Và Hdf (Đặc Điểm Và Tính Chất)
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Agile Là Gì Và Các Phương Pháp Kiểm Thử Agile
  • Tổng Quan Về Nguyên Tắc Agile Và Cách Áp Dụng Agile Trong Quản Lý Dự Án
  • Agile Là Gì? Scrum Là Gì? Các Công Cụ Quản Lý Dự Án Theo Agile Mà Bạn Nên Biết
  • Phương Pháp Abc Activity Based Costing
  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc
  • BÀI 1: THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

    1. Thế giới quan và phương pháp luận

    a. Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học

    – Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    – Triết học có vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.

    b. Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm

    – Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    – Vấn đề cơ bản của triết học:

    • Khái niệm: Triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại.
    • Nội dung của triết học gồm hai mặt:
      • Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
      • Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: Con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan hay không?

    – Thế giới quan duy vật cho rằng, giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, không ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được.

    – Thế giới quan duy tâm cho rằng: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    c. Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình

    – Phương pháp luận biện chứng: xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng.

    – Phương pháp luận siêu hình: xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện, chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, không vận động, không phát triển, áp dụng một cách máy móc đặc tính của sự vật này vào sự vật khác.

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

    – Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng

    Hêghen có thế quan duy tâm khi khẳng định rằng, khởi nguyên của thế giới là một ” ý niệm tuyệt đối “, thần bí nào đó, thế giới tự nhiên là tư duy đã tha hóa. Nhưng, ông có phương pháp luận biện chứng vì đã trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình vận động, biến đổi, phát triển không ngừng và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển ấy.

    – Các nhà triết học duy vật trước Mác: có thế giới quan duy vật nhưng bị sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình.

    – Các nhà biện chứng trước Mác: có phương pháp nhận thức biện chứng nhưng lại có thế giới quan duy tâm.

    – Triết học Mác – Lênin đã khắc phục được những hạn chế về thế giới quan duy tâm và phương pháp luận siêu hình; đồng thời kế thừa, cải tạo, phát triển các yếu tố duy vật và biện chứng của các hệ thống triết học trước đó, thực hiện được sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hoặc Mất Gốc
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Cần Tham Khảo
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • Sự Khác Nhau Giữa Dữ Liệu (Data) Và (Information)?
  • Thế giới quan duy vật và

    Phương pháp luận biện chứng

    BÀI 1

    2016 – 2022

    GDCD 10

    NỘI DUNG

    1. Thế giới quan và phương pháp luận

    a) Vai trò TGQ & PPL của Triết học?

    THẾ GiỚI LÀ

    GÌ?

    Sóng thần

    Mưa bão

    Gió

    Đấu tranh giai cấp

    Hãy lấy ví dụ về đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học tự nhiên và

    khoa học xã hội?

    TRIẾT HỌC LÀ GÌ?

    Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    PLATON & ARISTOS

    TRIẾT HỌC

    ra đời từ

    thời cổ đại

    Đối tượng nghiên cứu của TRIẾT HỌC?

    Đối tượng nghiên cứu của Triết học: Là những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động và phát triển của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy.

    Vai trò của TRIẾT HỌC?

    Triết học có vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.

    Thế giới quan và phương pháp luận

    b) Thế giới quan duy vật & thế giới quan duy tâm?

    Trong cuộc sống người ta luôn đặt ra muôn vàn câu hỏi và tìm lời giải đáp cho mình. Từ đó hình thành nên thế giới quan. Vậy thế giới quan là gì?

    Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    Thế giới quan?

    Mẫu chuyện

    Nhìn thấy một cánh rừng bát ngát trên màn hình vô tuyến, kẻ lâm tặc ngay lập tức nảy sinh ý nghĩ làm thế nào để chặt trộm được gỗ quý trong rừng đem đi bán lấy tiền, còn người yêu thiên nhiên và quan tâm đến môi trường sinh thái lại lo lắng làm sao để bảo vệ được cánh rừng ấy.

    Khi nhìn thấy rừng tên lâm tặc đã nảy sinh ý nghĩ gì?

    Ý nghĩ ấy có thuộc ý thức hay không?

    Lâm tặc chặt phá rừng

    Ý nghĩ đó thuộc ý thức của hắn

    Bất kỳ một loại thế giới quan nào cũng đều tập trung giải quyết các vấn đề sau đây: thế giới này là gì? Thế giới này do đâu mà có? thế giới này rồi sẽ đi về đâu? Con người có nguồn gốc từ đâu? Con người rồi sẽ đi về đâu? …việc giải quyết những câu hỏi này đã hình thành nên vấn đề cơ bản của triết học

    Thế giới này từ đâu mà có?

    Con người có nguồn gốc từ đâu?

    Dựa vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của Triết học mà chia thành thế giới quan duy vật hay thế giới quan duy tâm

    Thế giới quan duy vật cho rằng: Giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, không do ai sáng tạo ra và không ai tiêu diệt được

    Thế giới quan duy tâm cho rằng: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên

    Thế giới quan

    duy vật

    Ví dụ:

    Thế giới quan duy tâm

    Ví dụ:

    Thế giới quan và phương pháp luận

    c) Phương pháp luận biện chứng & phương pháp luận siêu hình:

    Tại sao trong cùng một lớp học, cùng

    một môi trường học tập giống nhau,

    cùng một giáo viên giảng dạy có bạn

    học tốt, có bạn lại học không tốt?

    Bởi vì mỗi người đều có phương pháp học tập và sắp xếp thời gian hợp lý

    Để đạt được mục đích, mỗi người có một cách thức riêng

    Đó chính là phương pháp

    Phương pháp là cách thức, con đường

    để đạt được mục tiêu đề ra

    Phương pháp luận:

    là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới

    Trong lịch sử triết học

    phương pháp luận có mấy loại

    Phương pháp luận

    Phương pháp luận

    biện chứng

    Phương pháp luận

    siêu hình

    Phương pháp luận

    biện chứng

    PPL biện chứng

    Là PP xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau, giữa chúng có sự vận động và phát triển không ngừng

    VÍ DỤ VỀ PPL BIỆN CHỨNG

    “NƯỚC CHẢY ĐÁ MÒN”

    “TRỜI CÓ 4 MÙA: XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG”

    Hãy chỉ ra yếu tố phát triển của sự vật hiện tượng con gà sinh ra quả trứng?

    Trứng

    Gà con

    Gà trưởng thành

    Gà đẻ trứng

    PPL siêu hình

    Là PP xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện, chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, không vận động, không phát triển, áp dụng một cách máy móc đặc tính của sự vật này với sự vật khác

    VÍ DỤ VỀ PPL SIÊU HÌNH

    Chuyện “Thầy bói xem voi”

    Có thầy cho rằng con voi

    Sun sun như con đỉa

    Có thầy cho rằng con voi

    Chần chẫn như cái đòn càn

    Có thầy cho rằng con voi

    Bè bè như cái quạt thóc

    Có thầy cho rằng con voi

    Sừng sững như cái cột đình

    Có thầy cho rằng con voi

    Tun tủn như cái chổi sể cùn

    Qua câu chuyện này muốn khuyên chúng ta điều gì?

    Các thầy đã nhìn nhận sự vật một cách phiến diện, áp dụng một cách máy móc đặc trưng của sự vật này lên đặc trưng sự vật khác. Con voi cũng có giống con đỉa…và tạo nên đặc tính của con voi chứ không phải con voi là con đỉa.

    KẾT LUẬN: Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình?

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhất hữu cơ giữa

    TGQDV & PPLBC

    Sơ đồ so sánh thế giới quan và

    phương pháp luận theo thời gian

    Trong Triết học Mác, TGQ DV và PPL BC thống nhất hữu cơ với nhau. Thế giới vật chất là cái có trước, phép biện chứng là cái có sau.

    TGQ DV và PPL BC gắn bó với nhau, không tách rời nhau.

    KẾT LUẬN

    Củng cố bài

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN

    CỦA TRIẾT HỌC

    MẶT THỨ NHẤT:

    VC có trước

    hay YT có trước.

    VC quyết định YT

    Hay ngược lại

    MẶT THỨ HAI:

    Con người có

    nhận thức được

    thế giới không?

    YT có trước,

    VC có sau,

    YT q.định VC

    VC có trước,

    YT có sau,

    VC q.định YT

    Con người

    nhận thức được

    thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • 1. Khái lược về phép biện chứng và phép biện chứng duy vật

    Thuật ngữ biện chứng (Dialektika) theo tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa gốc là nghệ thuật tranh luận. Nói cách khác người Hy Lạp cổ đại hiểu phép biện chứng là nghệ thuật phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương để bắt đối phương phải chấp nhận lập luận của mình. Theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, đã là tri thức đúng, đã là chân lý thì không thể có mâu thuẫn. Nấu trong lập luận có mâu thuẫn thì không phải là chân lý. Do vậy quá trình giải quyết mâu thuẫn thông qua tranh luận chính là quá trình nhận thức vận động đến chân lý. Quan niệm này về sau đã được mở rộng thêm đem lại cho phép biện chứng một ý nghĩa mới, đó là sự nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau, hay sự phát hiện ra tính thống nhất của các mặt đôi lập – một phương pháp vận động của tư duy để đi đến chân lý.

    Sở dĩ nghệ thuật tranh luận ở thời kỳ cổ đại được gọi là phép biện chứng vì ở thời kỳ đó trình độ sản xuất và khoa học còn rất thấp kém, người ta chưa có điều kiện, phương tiện tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm để kiểm tra chân lý, mà chỉ có thể kiểm nghiệm chân lý qua tranh luận. Cũng vì thế mà ở Hy Lạp cổ đại khả năng tranh luận được coi là một năng lực cần thiết, không thể thiếu được của nhà triết học, một khoa học để phát triển nhận thức của mình. Mỗi nhà triết học Hy Lạp cổ đại thường là một nhà hùng biện, một nhà diễn thuyết tài năng. Neu thiếu khả năng tranh luận thì khó có thể trở thành nhà triết học được. Vì những lẽ đó người Hy Lạp cổ đại coi nghệ thuật tranh luận là phép biện chứng, hay nói khác đi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý.

    Hêraclit (540 – 475 TCN) là người nêu ra tư tưởng biện chứng sớm nhất ở Hy Lạp thời kỳ cổ đại. ông có quan niệm khá rõ về vận động và phát triển. Nhưng người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” theo nghĩa nghệ thuật tranh luận lại là Xôcrát (469 – 399 TCN). Ồng cũng là một nhà triết học của Hy Lạp cổ đại. về sau Platôn, học trò của Xôcrát coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dưới hình thức hỏi – đáp để phân biệt và liên kết các khái niệm nhằm đạt đến định nghĩa đúng đắn các khái niệm đó.

    Cùng với sự phát triển của nhận thức và thực tiễn, thuật ngữ phép biện chứng ngày càng được bổ sung nhiều nội dung mới. Đến thế kỷ XVIII, phép biện chứng đã được các nhà triết học cổ điển Đức tiêu biểu như: Kantơ, Phichtơ, Selinh và đặc biệt là Hêghen phát triển thành học thuyết về sự phát triển. Hêghen (1770 – 1834) – một nhà triết học duy tâm khách quan vĩ đại của Đức đã phát triển một cách toàn diện phép biện chứng. Ông đã nghiên cứu lịch sử phát triển triết học thế giới từ cổ đại đến thế kỷ XVIII, phê phán các quan điểm siêu hình và kế thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử, xây dựng phép biện chứng thành học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc và toàn diện nhẩt. Trong phép biện chứng của Hêghen đã có một hệ thống hoàn chỉnh những phạm trù, quy luật của phép biện chứng, phản ánh khái quát toàn diện quá trình vận động phát triển của thế giới. Nhưng vỉ thế giới quan của Hêghen là duy tâm, tức là ông không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với tư duy, ý thức, mà trái lại ông cho rằng chính tư duy, ý thức tự vận động là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất; các phạm trù, khái niệm nói về các sự vật được hình thành trong lĩnh vực tư duy thuần túy, có đời sống riêng, tồn tại trước khi các sự vật trong hiện thực khách quan tồn tại. Giới tự nhiên và lịch sử chỉ là tồn tại khác của tư duy, ý thức, chỉ là một giai đoạn phát triển của tư duy, ý thức. Do vậy phép biện chứng của Hêghen thực chất mới chỉ là phép biện chứng của quá trình vận động phát triển của tinh thần, của ý niệm (theo nhận xét của c. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin), chưa phải là phép biện chứng của chính quá trình vận động của tự nhiên và xã hội. Và cũng vì vậy phép biện chứng này, mặc dù nó đã nắm được những mối liên hệ cơ bản của thế giới (Lênin cho là Hêghen đã đoán được những mối liên hệ của thế giới), nhưng còn nhiều hạn chế, về cơ bản còn có tính chất gò ép, thần bí cần phải khắc phục.

    Mác và Ph. Ảngghen sau đó là V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo những giá trị của lịch sử triết học của nhân loại, đặc biệt là phép biện chứng – “hạt nhân họp lý” trong triết học của Hêghen, cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, làm cho nó trở thành phép biện chứng duy vật, thực sự là một học thuyết khoa học về những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng theo đúng nghĩa hiện đại của nó.

    Phép biện chứng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và trong sự vận động, phát triển. Lênin còn căn cứ vào những yếu tố đặc trưng của phép biện chứng để định nghĩa phép biện chứng, ông viết:

    “1) Định nghĩa của khái niệm từ bản thân khái niệm [bản thân sự vật phải được xem xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó];

    2) tính mâu thuẫn trong bản thân sự vật (cái khác của bản thân nó), những lực lượng và những khuynh hướng mâu thuẫn trong mọi hiện tượng;

    3) sự kết hợp phân tích và tổng hơp.

    Xem chừng, đó là những yếu tố của phép biện chứng”;.

    Lênin còn trình bày các yếu tố cơ bản trên thành 16 yếu tố cụ thể và sau đó ông viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình.

    Phép siêu hình hiện nay được hiểu là phương pháp xem xét các sự vật trong trạng thái đứng im và tách rời khỏi mối liên hệ chung với các sự vật và hiện tượng khác, nhưng thuật ngữ phép siêu hình có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ở thời kỳ cổ đại. Theo nghĩa gốc của tiếng Hy Lạp cổ đại, siêu hình (mêtaphizika – cái phía sau vật lý) là một môn triết học, nghiên cứu những hiện tượng siêu cảm giác, những cái thuộc về bản chất, đằng sau cái vật lý. Đến thế kỷ IV – III TCN người Hy Lạp đã tách riêng các hiện tượng tâm lý, cảm giác ra khỏi cái vật lý để nghiên cứu. Arixtốt quan niệm vật lý học nghiên cứu những vật thể hữu hình (có hình dạng, thể tích và có sức nặng) có thể cảm nhận được bằng cảm giác. Còn triết học nghiên cứu những hiện tượng mà con người không thể cảm nhận được bằng cảm giác mà phải bằng tư duy trừu tượng, đó là những hiện tượng “sau vật lý”, tức là những cái thuộc về bản chất của sự vật, những hiện tượng thuộc về tinh thần, ý thức. Vì vậy về sau, Ăng-đrô-nhich Rô-đô-xki (thế kỷ I TCN) đã gọi những tác phẩm triết học của Arixtốt chỉ nghiên cứu nhũng hiện tượng siêu cảm giác là siêu hình học. Quan niệm coi siêu hình học là triết học còn khá phổ biến trong các nhà khoa học thế kỷ XVII – XVIII. Tuy nhiên về sau trong quan niệm của các nhà triết học cận đại và hiện đại, như quan niệm của Hêghen, nhất là của Mác và Ảngghen, siêu hình được hiểu là một phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy đối lập với phương pháp biện chứng. Nếu phương pháp biện chúng xem xét các sự vật trong sự liên hệ, tác động qua lại nhau và trong sự vận động phát triển thì phương pháp siêu hình xem xét các sự vật trong sự tách rời nhau một cách hoàn toàn và không có sự vận động phát triển. Phép siêu hình không thừa nhận một sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại, vừa là bản thân nó, vừa là một sự vật khác. Đối với phép siêu hình, “một sự vật hoặc là tồn tại, hoặc là không tồn tại”, “cái khắng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau; nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn với nhau”.

    Tuy đối lập với phép biện chứng nhưng phép siêu hình cũng có ý nghĩa tích cực nhất định của nó trong lịch sử. Do đi sâu nghiên cứu từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ, nên trong lịch sử đã có thời kỳ phép siêu hình đóng vai trò quan trọng trong việc tích luỹ kiến thức, đem lại cho loài người nhiều tri thức mới, nhiều hiểu biết về thế giới hơn so với phép biện chứng cổ đại. Vì thế phép siêu hình đã đẩy lùi được phép biện chứng tự phát, đã trở thành một phương pháp nhận thức chủ yếu (chiếm ưu thế) ở thế kỷ XVII – XVIII so với phép biện chứng tự phát.

    Đến cuối thế kỷ XVIII, phép siêu hình lâm vào tình trạng khủng hoảng, không còn phù họp với tình hình phát triển khá mới mẻ và ở trình độ cao của khoa học tự nhiên lúc này. Phép siêu hình lchông cho phép khái quát được những quy luật vận động, phát triển chung của thế giới. Các khoa học cụ thể vẫn tồn tại tách rời nhau, cô lập nhau, chưa tìm thấy mối liên hệ thực sự giữa chúng. Các học thuyết giải thích về thế giới đều trở thành những học thuyết giáo điều. Đây là một trở ngại cho sự phát triển của nhận thức khoa học. Trở ngại này đã được phép biện chứng duy tâm Đức khắc phục, đẩy lùi được phép siêu hình một bước quan trọng. Hêghen là người đã đối lập phép biện chứng với phép siêu hình và phê phán quyết liệt phép siêu hình, chỉ ra những hạn chế khuyết điểm của nó, đồng thời ông đã khái quát được hệ thống phạm trù, quy luật của phép biện chứng. Tuy nhiên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, bản thân nó còn nhiều hạn chế, do vậy, sự phê phán đối với phép siêu hình cũng chưa triệt để. Chỉ đến khi phép biện chứng duy vật ra đời, khắc phục những hạn chế của phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen, mới phê phán một cách triệt để phép siêu hình.

    Hiện nay theo quan điếm macxit, phép siêu hình là một phương pháp nhận thức không khoa học, nó xem xét sự vật một cách phiến diện, một chiều, đối lập với phép biện chứng duy vật. Với sự phát triển của nhận thức khoa học yà thực tiễn xã hội hiện nay, chỉ có phép biện chứng duy vật mới là công cụ thích hợp để nhận thức và cải tạo thế giới. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XIX, khi đánh giá vai trò của phép biện chứng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên, Ph. Ăngghen đã viết: “Một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đầu óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi tiến bộ và sự biến đổi thụt lùi”.

    Sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình thể hiện trên các mặt sau:

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật là hoàn toàn đồng nhất, không có khác biệt, không có mâu thuẫn, trái lại phép biện chúng cho rằng sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm những khác biệt, bao gồm những mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng.

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật hoàn toàn tách rời nhau, các sự vật đơn giản chỉ nằm cạnh nhau, không có liên hệ với nhau, hoặc nếu có liên hệ thì liên hệ đó chỉ là bề ngoài và có tính chất ngẫu nhiên; trái lại phép biện chứng cho rằng các sự vật hiện tượng trong thế giới có liên hệ với nhau, phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau, không có sự vật nào tồn tại trong sự biệt lập. Các sự vật không phải chỉ đơn giản nằm cạnh nhau.

    Phép siêu hình chỉ thừa nhận hình thức vận động cơ học, nguyên nhân của sự vận động là do lực tác động từ bên ngoài, do sự xung đột của những lực lượng đổi lập ở bên ngoài sự vật quyết định. Trái lại phép biện chứng cho vận động là sự biến đổi nói chung của các sự vật, vận động cơ học chỉ là một trong những hình thức vận động của sự vật. Vận động là sự tự vận động của vật chất. Nguyên nhân của sự vận động là do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hoặc sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác quyết định. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, gắn liền với vật chất, không có vận động thuần tuý bên ngoài vật chất.

    Phép siêu hình phủ nhận sự phát triển, hoặc họ cho rằng phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về chất, nghĩa là không có sự ra đời cái mới về chất so với cái cũ. Trái lại phép biện chứng cho rằng phát triển là sự vận động theo xu hướng tiến bộ. Đây là quá trình tự phát triển của sự vật. Quá trình này rất phức tạp, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, bao hàm cả sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất, là quá trình cái mới về chất ra đời thay thế cho cái cũ.

    Phép siêu hình cho rằng trong sự vận động của sự vật, không có tính định hướng, do vậy không có cái mới, cái tiến bộ thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu. Vì vậy khi xem xét thế giới, quan điểm siêu hình cho rằng các loài động vật, thực vật từ xưa đến nay đều vẫn như vậy. số lượng các chủng loại không có gì thay đổi chỉ có số lượng cá thể trong từng loài là tăng lên hoặc giảm đi thôi. Trái lại phép biện chứng cho rằng trong sự vận động, phát triển của sự vật, sẽ xác định một xu hướng vận động, tiến từ thấp đến cao. Chẳng hạn quá trình tiến hoá của các loài động vật, thực vật chính là một xu hướng tiến bộ của các loài động vật, thực vật thông qua quá ừình vận động biến đổi của thế giới sinh vật.

    1.2. Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Những tài liệu lịch sử triết học cho thấy ngay từ thế kỷ thứ VI và V trước công nguyên, trong nền văn hoá cổ đại ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp đã xuất hiện tư tưởng biện chứng. Những nhà tư tưởng ở Hy Lạp cổ đại đã phát triển phép biện chứng cổ đại lên đỉnh cao. Chính thuật ngữ “phép biện chứng” đã được sáng tạo ra trong nền văn hoá Hy Lạp cổ đại. Từ khi ra đời đến nay trải qua hơn 2500 năm, phép biện chứng đã được phát triển, bổ sung nhiều nội dung mới và đã tồn tại dưới những hình thức khác nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong đó có ba hình thức lịch sử chủ yếu sau:

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai ở thời kỳ cổ đại.

    Phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen.

    Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin.

    a) Phép biện chứng tự phát, sơ khai

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai xuất hiện sớm trong triết học Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại.

    Trong thuyết Ngũ hành lại cho rằng sự tác động lẫn nhau của năm yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo hướng tương sinh (cái này sinh cái kia, cái này tạo điều kiện cho cái kia phát triển) và tương khắc (cái này chế ngự, kìm hãm cái kia) làm cho các sự vật trong thế giới sinh – diệt, biến hoá không ngừng theo nhũng chu trình nhất định. Thuyết Ngũ hành còn đưa ra những tính năng khác cho 5 yếu tố vật chất ban đầu để giải thích các hiện tượng tự nhiên như: Ngũ sắc (Vàng – Trắng – Đen – Xanh – Đỏ); Bốn mùa (Điều hoà bốn mùa – Thu – Đông – Xuân – Hạ); Bốn phương (Ở giữa – Tây – Bắc – Đông – Nam) v.v. Quan niệm trên đã giải thích nhiều hiện tượng, quá trình trong tự nhiên một cách biện chứng, thấy được tính chất đa chiều của quá trình biến đổi của các sự vật (có tương sinh và có tương khắc), nhưng giải thích còn mộc mạc và đơn giản, trong đó các yếu tố là nguyên nhân của sự vận động còn mang tính chất cảm tính, tưởng tượng và gán ghép cho sự vật, mà chưa được chứng minh một cách khoa học.

    Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng biện chứng tự phát được thế hiện trong quan điểm về thế giới của các nhà triết học tiêu biểu như: Hêraclit, Xôcrát, Platôn, Arixtốt V.V., trong đó đặc sắc nhất là quan điểm của Hêraclit. ông coi thế giới luôn vận động biến đổi phát triển không ngừng. Không có cái gì tồn tại mãi, mọi vật đều trôi đi, không có cái gì xảy ra lần thứ hai mặc dù có sự kế thừa nhất định, cho nên ông nói: Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông. Ảngghen cho rằng ở thời kỳ này “tư duy biện chứng xuất hiện với tính cách thuần phác, tự nhiên của nó” 7. Đây là phép biện chứng dựa trên sự cảm nhận trực tiếp của con người về thế giới xung quanh. Những kết luận rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp đó chưa có căn cứ khoa học, mới chỉ là những yếu tố biện chứng mộc mạc, thô sơ, mới chỉ là những quan niệm biện chứng tự phát, ngây thơ, chưa phải là một hệ thống quan điểm lý luận chặt chẽ của phép biện chứng. Tính chất tự phát ngây thơ là đặc điểm chủ yếu của phép biện chứng cổ đại.

    Tính chất tự phát thể hiện ở chỗ các nhà triết học thời cổ đại chưa có chủ định nghiên cứu phép biện chứng, chưa lấy chính phép biện chứng, (tức sự biến đổi của thế giới) làm đối tượng nghiên cứu của mình, mà chủ yếu họ nghiên cứu sự tồn tại của tự nhiên nhằm xây dựng bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó. Trong khi giải quyết nhiệm vụ đó thì nhân tiện họ nói đến phép biện chứng. Vì thế phép biện chứng cổ đại chỉ nêu lên được một số quan niệm biện chứng thô sơ, mộc mạc. Đó là những yếu tố biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, có tính chất ẩn dụ, chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh với những phạm trù, quy luật khái quát thống nhất với nhau. Do đó nó chưa đủ sức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người và chưa có cơ sở khoa học để hướng dẫn việc nghiên cứu bản thân phép biện chứng một cách tự giác.

    Tính ngây thơ thể hiện ở chỗ những kết luận của nó thường được rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp thế giới xung quanh con người cổ đại. Sự cảm nhận đó phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện và hoàn cảnh sống cụ thể của con người ở thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn Ta-lét khi cảm nhận được vai trò quan trọng của nước đối với cuộc sống của con người và thế giới sinh vật, đã cho rằng nước là cơ sở đầu tiên của thế giới. Mọi cái đều được sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại trở thành nước. Hê-ra-clít trong điều kiện sống của mình (như thế nào đó), đã nhận thấy vai trò to lớn của lửa, nên đã có quan niệm cho rằng lửa là bản nguyên đầu tiên của thế giới; hoặc do vai trò to lớn của các dòng sông đối với sản xuất nông nghiệp của người cổ đại, nên Hê-ra-clít đã chú ý nhiều đến dòng sông và có tư tưởng cho rằng sự vận động của thế giới khách quan giống như dòng sông, ông đã có những câu nói nổi tiếng, thế hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc như: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, (hoặc như quan niệm về sắc và Danh của Phật giáo, hay Âm – Dương của triết học Trung Quốc). Đây là những quan niệm rất biện chứng, tuy nhiên còn thô sơ, rời rạc, mói chỉ là những liên hệ bề ngoài, chưa phải là những hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật và hiện tượng. Vì vậy phép biện chứng thời kỳ này chưa có tính chất khoa học, còn đơn giản, rời rạc, chưa thành hệ thống lý luận. Mặc dù vậy phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại vẫn có giá trị trong việc bảo vệ quan niệm vô thần, chống lại những quan niệm tôn giáo và phép siêu hình cổ đại.

    b) Phép biện chứng duy tâm khách quan

    Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do yêu cầu của sản xuất’ trong xã hội tư bản nên khoa học tự nhiên có bước phát triển mới. Ở Đức thời kỳ này giai cấp tư sản cũng ra sức đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học tự nhiên phục vụ sự phát triển kinh tế nhằm thu lợi nhuận cao. Vì vậy nước Đức vào thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu khoa học. Những thành tựu khoa học này là cơ sở để đi đến những khái quát mới cả về nội dung và hình thức của phép biện chứng. Do những điều kiện lịch sử đặc biệt của nước Đức ở thế kỷ XVIII, phép biện chứng thời kỳ này mang một hình thức mới. Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức, bắt đầu từ Kantơ qua Phichtơ, Selinh và đạt đỉnh cao trong triết học của Hêghen.

    Đặc điểm của phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là:

    Thứ nhất, khác với phép biện chứng sơ khai thời kỳ cổ đại, phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen đã hướng vào nghiên cứu chính phép biện chứng, nghĩa là hướng vào việc xây dựng lý luận về chính quá trình vận động và phát triển. Do vậy nó không còn là những tư tưởng biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, mộc mạc như ở thời kỳ cổ đại, mà là một hệ thống quan điểm khá hoàn chỉnh về sự vận động và phát triển. Trong phép biện chứng của mình, Hêghen đã xây dựng được hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh khái quát quá trình phát triển. Trước hết là quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại và quy luật phủ định của phủ định, làm sâu sắc thêm quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay quy luật mâu thuẫn).

    Thứ hai, các phạm trù, quy luật trong phép biện chứng của Hêghen bao quát cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó là kết quả của quá trình phát triển tư duy duy lý, khái quát quá trình phát triển của nhận thức, khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên và lịch sử.

    Thứ ba, phép biện chứng của Hêghen dựa trên quan điểm duy tâm về thế giới, nghĩa là quan điểm cho rằng thế giới được sinh ra từ tinh thần. Theo đó, các quá trình tự nhiên và xã hội chỉ là biểu hiện của các quá trình tư duy. Những khái niệm, phạm trù, quy luật của phép biện chứng không phải là sự phản ánh khái quát các mối quan hệ của hiện thực khách quan, mà nó có đời sống riêng, tồn tại trước và độc lập với ‘thế giới vật chất. Do vậy về bản chất phép biện chứng này mới là phép biện chứng của ý niệm, nó còn nhiều nội dung có tính chất gò ép, thần bí, không phù họp với thực tiễn xã hội, với hiện thực khách quan và nhận thức khoa học hiện đại.

    Như vậy phép biện chứng dưới hình thức duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là một bước tiến lớn so với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại. Nhưng nó chưa thực sự khoa học, còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn xã hội, điều đó đòi hỏi phải phát triển hơn.

    c) Phép biện chứng duy vật (còn gọi là phép biện chứng mácxit)

    Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, kế thừa có phê phán chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật của Phơbách và phép biện chứng của Hêghen, khái quát những thành tựu của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội, Mác và Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cho phép biện chúng một hình thức mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật. Sau này, phép biện chứng duy vật được Lênin phát triển và hoàn thiện thêm. Đây là hình thức họp lý và hiện đại nhất của phép biện chúng.

    Phép biện chúng duy vật có những đặc điểm sau:

    Thứ nhất, về cơ sở thế giới quan, phép biện chứng duy vật dựa trên quan điểm duy vật về thế giới, thừa nhận thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tồn tại khách quan và vĩnh viễn, không do ai sáng tạo ra, không mất đi, các bộ phận của thế giới quan hệ chặt chẽ với nhau, vận động phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Phép biện chứng duy vật không những đối lập căn bản với phép biện chứng duy tâm mà còn đổi lập với phép siêu hình. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng khoa học.

    Thứ hai, về cấu trúc, phép biện chứng duy vật bao gồm một hệ thống những nguyên lý, phạm trù, quy luật chung nhất, phản ánh sự vận động phát triển của cả tự nhiên, xã hội và tư duy, khác với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại chưa xây dựng được bộ máy các phạm trù trừu tượng để phản ánh hiện thực khách quan một cách toàn diện và sâu sắc. Khác với các phạm trù của phép biện chứng duy tâm, các phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là những thực thể tinh thần tồn tại trước nhũng sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật của hiện thực khách quan, mà là kết quả của quá trình phản ánh khái quát, trừu tượng các mối liên hệ của hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Các phạm trù của phép biện chứng duy vật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chúng có nội dung khách quan và hình thức thể hiện có tính chất chủ quan. Các phạm trù được hình thành trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Thứ ba, những quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giới khách quan vừa là quy luật của nhận thức. Nó là sự thống nhất (trên cơ sở thừa nhận vật chất là tính thứ nhất) giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic biện chứng. Nghĩa là những quy luật của phép biện chứng không phải chỉ là những quy luật của riêng tư duy, riêng tồn tại, hay của riêng sự phản ánh tồn tại vào tư duy, mà là sự thống nhất của cả ba quá trình đó. 5

    Thứ tư, phép biện chứng duy vật không phải là những khẳng định có tính chất giáo điều, trừu tượng, mà là những khẳng định, những luận điểm luôn gắn với thực tiễn, luôn được bổ sung phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn. Do vậy phép biện chứng duy vật vừa có tính cách mạng vừa có tính khoa học, vừa có tính tự giác cao, nó có tác dụng quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.

    2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

    Chúng ta biết lý luận là tri thức được hình thành từ sự khái quát kinh nghiệm và thực tiễn, nhưng không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm, thực tiễn và không phải mọi lý ỉuận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn. Sự ra đời và phát triển của các hệ thống lý luận có tính độc lập tương đối so với sự phát triển kinh nghiệm và thực tiễn. Đặc trưng căn bản của lý luận so với kinh nghiệm là tính hệ thống, tính trừu tượng, tính đúng đắn, sâu sắc, khái quát cao của lý luận. Bất kỳ lý luận nào cũng là một hệ thống các quan điểm, các phạm trù, quy luật liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật và hiện tượng.

    2.1. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

    a) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến phản ánh khái quát một tính chất chung và cơ bản của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất. Sự phản ánh khái quát này được thể hiện dưới hình thức hệ thống các khái niệm và luận giải về tính chất của các khái niệm đó. Trước hết, đó là khái niệm liên hệ.

    Khái niệm liên hệ được định nghĩa là sự tác động qua lại, sự phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hoặc giữa các mặt, các yếu tổ cấu thành nên sự vật. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong thể giới mà không nằm trong sự phụ thuộc vào các sự vật khác, tức là nằm trong các mối liên hệ chung. Điều này được chứng minh không phải chỉ bằng sự quan sát thông thường, trực tiếp hàng ngày mà cả bằng những nghiên cứu khoa học, những khái quát của các hệ thống triết học trong lịch sử. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sống vào môi trường là mối liên hệ dễ nhận thấy nhất. Một cơ thể thực vật hoặc động vật, muốn sống, sinh trưởng cần phải có các yếu tố nước, các khoáng chất trong nước và đất, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ v.v. Thiếu các yếu tố của môi trường nêu trên các cơ thể sống không thể tồn tại và phát triển được. Một thí dụ khác, trong nền sản xuất hàng hoá, giữa những người sản xuất hàng hoá khác nhau có sự phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ. Người sản xuất sợi phụ thuộc rất nhiều vào người sản xuất bông và người dệt vải, người tiêu thụ vải.

    Tư tưởng về mối liên hệ giữa các sự vật được phản ánh trong các hệ thống triết học ở các giai đoạn lịch sử khác nhau với những hình thức diễn đạt khác nhau như: Ở Trung Quốc cổ đại, phái Âm – Dương nêu lên tư tưởng về sự tác động qua lại giữa hai lực lượng đối lập nhau Âm – Dương làm cho mọi vật biến đổi. Ở Ấn Độ, tư tưởng của đạo Phật về sự kết họp giữa sắc – Danh, Nhân – Duyên làm cho các vật ra đời, tồn tại và biến đi. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng của Hêraclit về sự chuyển hoá từ các mặt ẩm ướt sang khô ráo và ngược lại làm cho các vật chuyển hoá không ngừng từ vật này sang vật kia v.v. Tư tưởng về mối liên hệ trong các hệ thống triết học thời kỳ Phục hưng, Khai sáng và thời kỳ cận đại ở Tây Âu mà tiêu biểu nhất là trong triết học của Hêghen càng sâu sắc hơn. Hêghen không chỉ chú ý đến trạng thái tồn tại nhất thời của sự vật mà điều chủ yếu được ông chú ý đến là các mối liên hệ, sự chuyển hoá từ sự vật này sang sự vật kia. Theo ông, nhận thức về sự vật mà không nhận thức được các mối liên hệ của nó, những sự phụ thuộc của nó vào các sự vật khác thì chưa thế nhận thức được thực chất của sự vật. Như vậy khái niệm liên hệ trong phép biện chứng duy vật là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài của con người, là sự tổng kết kinh nghiệm lịch sử và nâng lên thành lý luận của con người, chứ không phải là sự sáng tạo có tính chất ngẫu nhiên, thuần túy chủ quan của ý thức con người.

    Tính chất của các mối liên hệ

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến còn khẳng định các tính chất của mối liên hệ, đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng của các mối liên hệ.

    Tính khách quan nghĩa là các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là cái vốn có của thế giới vật chất, do tính vật chất của thế giới quy định, không phụ thuộc vào ý thức của con người, không phải do lực lượng thần thánh nào đó sáng tạo ra. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì cơ thể sinh vật cũng phải thay đổi để thích ứng với môi trường. Mối liên hệ đó không phải do ai sáng tạo ra, mà là cái vốn có của thế giới vật chất. Khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ là nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật, đế phân biệt với phép biện chứng duy tâm. Trong phép biện chứng duy tâm, các sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật trong hiện thực khách quan được xem là do tinh thần sáng tạo ra. Thí dụ, trong phép biện chứng duy tâm người ta cho rằng khái niệm lực phải có trước rồi mới có các lực trên hiện thực như lực hút của trái đất, lực đẩy của lò xo. Lực hút của trái đất, lực đàn hồi của lò xo chỉ là biểu hiện của khái niệm lực do tư duy sáng tạo ra. Phép biện chứng duy vật cho rằng lực hút của trái đất và lực đàn hồi của lò xo là vốn có của thế giới vật chất. Đó là những mối liên hệ khách quan của các sự vật mà con người nhận thức được bằng tư duy của mình,

    Tính phổ biến của mối liên hệ có hai nghĩa: Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình hoặc mọi yếu tố cấu thành nên sự vật đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng, các yếu tố khác, không có sự vật, hiện tượng nào, yếu tố nào tồn tại trong sự biệt lập hoàn toàn. Hai là, có những mối liên hệ chung tồn tại trong thế giới vật chất, tác động lên mọi sự vật, mọi quá trình biến đổi của các sự vật. Thí dụ, theo mức độ hiểu biết của chúng ta hiện nay, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, nộỉ dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, lượng và chất, v.v. Đều là những mối liên hệ chung tồn tại trong mọi sự vật, mọi quá trình.

    Tính đa dạng của các mối liên hệ: Thể hiện ở chỗ sự vật khác nhau có các mối liên hệ khác nhau. Thí dụ, các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và thú. Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên cá không thể tồn tại được, nhưng các loài chim và thú lại không thể sống trong nước thường xuyên được. Có loài cá sống trong nước ngọt, có loài cá sống trong nước mặn. Tính đa dạng của các mối liên hệ còn thể hiện ở chỗ: một sự vật đồng thời tồn tại nhiều mối liên hệ, mỗi mối liên hệ của sự vật có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại của sự vật, chẳng hạn có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp, có mối liên hệ cơ bản quyết định sự tồn tại của sự vật, có mối liên hệ không cơ bản, không quyết định đến sự tồn tại của các sự vật, có mối liên hệ là nguyên nhân, có mối liên hệ là kết quả, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên v.v. Các mối liên hệ của sự vật quan hệ với nhau và có thể chuyến hoá cho nhau, lúc này, trong phạm vi này một mối quan hệ nào đấy đóng vai trò là nguyên nhân, hay là mối liên hệ bên trong, nhưng lúc khác, trong phạm vi khác chính mối quan hệ đó lại đóng vai trò là kết quả, hay là mọi liên hệ bên ngoài. Thí dụ, quan hệ giữa người chủ sở hữu với người công nhân xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp thuộc quyền người chủ, thì đó là quan hệ trong nội bộ của quá trình sản xuất của xí nghiệp. Nhưng xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp khác, hoặc trong phạm vi sản xuất và sinh hoạt của gia đình người công nhân, thì quan hệ giữa người chủ và người công nhân kia lại là mối liên hệ bên ngoài. Có thể chỉ ra nhiều thí dụ khác nữa về môi liên hệ và sự chuyển hoá giữa các mối liên hệ của các sự vật. Sự liên hệ-phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng rõ ràng là đặc trưng phổ biến nhất của thế giới vật chất.

    Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi: Một là, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của sự vật, không loại trừ một mối liên hệ nào. Yêu cầu này trễn thực tế khó thực hiện được, bởi vì sự vật có vô vàn các mối liên hệ. Trong khi đó nhận thức của con người tại một thời điểm nhất định nào đó bao giờ cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử cụ thể, không thể nhận thức được tất cả các mối liên hệ của sự vật. Muốn nhận thức đưọc tất cả các mối liên hệ của sự vật phải trải qua lịch sử lâu dài của nhận thức. Nhưng cần thiết đặt ra yêu cầu này để đòi hỏi chủ thể phải xem xét nhiều mặt của sự vật, tránh rơi vào sai lầm phiến diện. Hai là, phải phân loại được các mối liên hệ, nghĩa là trong tổng số các mối liên hệ của sự vật phải rút ra được đâu là các mối liên hệ bản chất, chủ yếu, đâu là nguyên nhân và đâu là kết quả. Yêu cầu này đòi hỏi con người phải tìm hiểu sâu sắc các mối liên hệ, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò các mối liên hệ của sự vật, từ đó giúp con người tránh rơi vào quan điểm dàn đều, liệt kê các sự kiện, các mối liên hệ, không đi sâu nhận thức được bản chất của sự vật. Ba là, từ việc rút ra các mối liên hệ bản chất của sự vật con người lại phải đặt mối liên hệ bản chất đó trong tổng thể các mối liên hệ của sự vật, xem xét sự vật một cách thực tế trong tiến trình vận động lịch sử cụ thể của sự vật, tức là phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi nhận thức và hoạt động thực tiễn. Yêu cầu này giúp con người tránh rơi vào sai lầm siêu hình, kinh nghiệm xa rời thực tế.

    b) Nguyên lý về sự phát triển

    Khái niệm phát triển: Nguyên lý về sự phát triển phản ánh một đặc tính chung, khách quan của thế giới vật chất, đó là: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng và thông qua sự vận động, biến đổi đó, sẽ xác định một xu hướng vận động đi lên nhất định, đó là sự phát triển.

    Vậy ta có thể định nghĩa phát triển là khái niệm phản ánh xu hướng vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, ở đây những từ: “thấp”, “cao”, “đơn giản”, “phức tạp”, “chưa hoàn thiện”, “hoàn thiện hơn” được hiểu theo nghĩa khái quát, không phải theo nghĩa đen của các từ này.

    Theo định nghĩa trên, khái niệm phát triển nằm trong khái niệm vận động, nói lên một xu hướng vận động nhất định của thế giới vật chất. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là một xu hướng biến đối của các loài động vật hình thành nhờ vô vàn nhũng sự biến đổi của các loài động vật dưới tác động qua lại giữa môi trường và cơ thể qua một thời gian rất lâu dài; sự thay thế các phương thức sản xuất và các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử cũng diễn ra theo xu hướng đi lên, hình thái kinh tế – xã hội sau hoàn thiện hơn hình thái kinh tế – xã hội trước, đó cũng là sự phát triển. Sự phát triển các môn khoa học và các lý thuyết khoa học trong lịch sử cũng là xu hướng vận động đi lên của nhận thức khoa học v.v. Đó là những quá trình phát triển cụ thể của thế giới vật chất. Nguyên lý về sự phát triển có quan hệ mật thiết với nguyên lý về mối liên liên hệ phổ biến. Không có liên hệ thì không có sự vận động, biến đổi, chuyển hoá từ sự vật này thành sự vật khác và không thể có phát triển. Phát triển là một hình thức của sự liên . hệ, đó là liên hệ giữa cái mới, cái tiến bộ với cái cũ.

    Tính chất của sự phát triển. Không phải chỉ có phép biện chứng duy vật mới đưa ra quan niệm về phát triển. Chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm cũng đưa ra quan niệm về phát triển, nhưng khác căn bản với quan niệm của phép biện chứng duy vật. Để phân biệt nội dung khái niệm phát triển trong phép biện chứng duy vật với phát triển trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm, nguyên lý về sự phát triển nêu lên các tính chất của sự phát triển đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính phức tạp của sự phát triển.

    Sự phát triển có tính khách quan nghĩa là xu hướng vận động đi lên của các sự vật trong thế giới vật chất là xu hướng chung, vốn có của thế giới vật chất, không do ai sáng tạo ra, không phải là sự sáng tạo của thần thánh, thượng đế như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, hay tôn giáo nêu ra. Nguyên nhân của xu hướng vận động đi lên là do sự tác động giữa các sự vật của thể giới vật chất quyết định. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là xu hướng khách quan của sự vận động của các loài động vật. Nguyên nhân của sự tiến hoá của thế giới động vật là do sự tác động giữa cơ thể động vật và môi trường. Điều này đã được những nghiên cứu của các nhà khoa học tự nhiên chứng minh. Sự tiến bộ của các phương thức sản xuất, của các hình thái kinh tế – xã hội là xu hướng vận động khách quan của xã hội loài người. Nguyên nhân của sự tiến bộ xã hội là do các hoạt động của con người, nghĩa ià do sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa con người với con người tuân theo những quy luật khách quan quyết định, không phải do thần thánh hay do ý muốn chủ quan thuần tuý của con người quyết định.

    Tính chất phổ biến của sự phát triển nghĩa là sự phát triển đi lên là xu hướng chung của thế giới vật chất. Điều này thể hiện ở chỗ: cả trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều tồn tại quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Những tài liệu của các ngành khoa học cụ thể trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy đều chứng minh điều này. Thí dụ, trong tự nhiên có quá trình tiến hoá của động vật; trong xã hội có quá trình tiến bộ của kỹ thuật sản xuất, tiến bộ của tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, tiến bộ của các chế độ chính trị; trong tư duy, ý thức có sự tiến bộ của nhận thức khoa học, của khả năng SU) luận, phán đoán, dự báo khoa học, y.v. Tuy nhiên sự phát triển không phải là một quá trình đơn giản mà là quá trình rất phức tạp.

    Tỉnh chất phức tạp của sự phát triển thể hiện ở chỗ mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác nhau. Thí dụ sự phát triển của các loài động vật được thực hiện thông qua sự sinh trưởng, sự di truyền và biến dị của các cá thể động vật trong quan hệ với môi trường, và thể hiện ra dưới hình thức tiến hoá của động vật. Quá trình đó làm cho cơ thể động vật có cấu trúc hoàn thiện hơn, thích ứng tốt hơn với môi trường xung quanh. Quá trình tiến hoá của động vật lại khác với quá trình phát triển của xã hội. Trong xã hội, xu hướng phát triển được xác định thông qua vô số các sự biến xã hội như đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh cải tạo tự nhiên, nghiên cứu khoa học, phát triển sản xuất v.v. làm cho xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, chuyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, xây dựng được các thiết chế xã hội đảm bảo cho con người có cơ hội tốt hon để phát huy năng lực hoạt động, sáng tạo của mình. Tính phức tạp của sự phát triển còn thể hiện ở chỗ, quá trình phát triển bao hàm cả sự thay đổi về chất và sự thay đổi về lượng, bao hàm cả sự thụt lùi tạm thời, cả sự kế thừa, lặp lại cái cũ. Quá trình phát triển không đơn giản diễn ra theo con đường thẳng, mà theo con đường quanh co, phức tạp, con đường xoáy ốc theo chiều hướng đi lên.

    Để phân biệt quan điểm của phép biện chứng duy vật với quan điểm duy tâm siêu hình về phát triển, V.I. Lênin viết: “Hai quan niệm cơ bản (hay là hai quan niệm có thể có? hay là hai quan niệm đã thấy trong lịch sử) về sự phát triển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tàng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)”. “Quan niệm thứ nhất là chết cứne, nehèo nàn. khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh cái mới’ w.

    Do quá trình phát triển rất phức tạp. Mỗi sự vật khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau quá trình phát triển (sự thay thế cái cũ bằng cái mới, cái tiến bộ) lại diễn ra dưới các hình thức cụ thể khác nhau. Do vậy phải có quan điểm lịch sử cụ thể, luôn xuất phát từ hiện thực khách quan, căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể để xác định các hình thức phát triển cho phù họp với từng sự vật trong những điều kiện ỊỊch sử khác nhau. Không được áp dụng một cách máy móc hình thức phát triển của sự vật này cho sự vật khác.

    Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật phản ánh những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới. Những tính chất chung này lại được bổ sung cụ thể hơn trong nội dung lý luận của các cặp phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật, từ đó lại có thể rút ra những ý nghĩa phương pháp luận mới, làm cho phép biện chứng duy vật càng có nội dung phong phú, sinh động, phù hợp với cuộc sống và có giá trị hơn đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.

    – Các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên phản ánh mối liên hệ giữa một bên là các mặt, các quá trình có đặc tính tương đối ổn định, không trực tiếp biểu hiện ra bên ngoài một cách đầy đủ với một bên là các mặt, các quá trình thưòng xuyên biến đổi, trực tiếp bộc lộ ra của các sự vật trong hiện thực khách quan. Những cặp phạm trù này đồng thời cũng thể hiện cấp độ nhận thức của con người ngày càng đi vào chiều sâu của thế giới vật chất, phản ánh được những mối liên hệ phức tạp và sâu sắc của các sự vật trong thế giới vật chất.

    Định nghĩa: Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình, một kết cấu vật chất nhất định nào đó. Thí dụ, một ngôi nhà cụ thể, một cái bàn cụ thể, một cái cây, một lóp học cụ thể v.v. đó là những cái riêng.

    Phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những quá trình được lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng riêng lẻ. Thí dụ, màu xanh là cái chung của những chiếc lá eây; sống dưới nước, thở bằng mang là cái chung của các loài cá; có tư duy, ý thức và lao động sáng tạo là cái chung của con người, v.v.

    Phạm trù cái đơn nhất dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính (trong một giới hạn nhất định), tồn tại chỉ ở một cái riêng nào đó, ngoài ra không tồn tại ở bất kỳ một cái riêng khác nào nữa. Thí dụ, trong phạm vi nhất định, vân tay của mỗi người có thể được xem là cái đon nhất của mỗi người. Nếu mở rộng phạm vi hơn nữa thì điều đó có thể không còn đúng. Cái đơn nhất ở phạm vi này (chẳng hạn trong phạm vi 1000 người), có thể trở thành cái chung ở phạm vi khác (chẳng hạn trong phạm vi 1001 người).

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng

    Trong lịch sử triết học đã có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Danh (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái riêng tồn tại thực tế, còn cái chung chỉ là những danh từ trống rỗng do con người đặt ra. Quan niệm này đã đi đến chỗ phủ nhận mọi nội dung khách quan của các khái niệm, phạm trù và quy luật. Bên cạnh đó lại có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Thực (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái chung tồn tại thực tế, còn cái riêng chỉ là biểu hiện nhất thời của cái chung, do cái chung quyết định. Quan điểm này đi đến chỗ phủ nhận mọi tính hiện thực của các sự vật hiện tượng thông thường mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Cả hai quan điểm trên đều không đúng, đều chưa thấy mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan và gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện ở chỗ:

    Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng. Cái chung phải tồn tại thông qua cái riêng. Thí dụ, sự thở bằng .mang là cái chung của loài cá, nhưng không có sự thở bằng mang bên ngoài con cá cụ thể. Ý thức là cái chung của con người, nhưng không có ý thức tồn tại bên ngoài hoạt động tinh thần của một người cụ thể.

    Cái riêng không tồn tại tách rời cải chung mà tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Bởi vì nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đó khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Khi liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác các sự vật sẽ chuyến hoá lẫn nhau và tất yếu sẽ tạo nên cái chung giữa chúng. Nếu cho rằng có một cái riêng nào đó không có cái chung với bất kỳ một cái riêng nào khác thì như vậy cái riêng đó không có mối liên hệ nào với cái khác. Điều đó là trái với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Do vậy, mọi cái riêng đều bao chứa cái chung. Thí dụ, mọi sinh vật sống đều phải có quá trình trao đổi chất với môi trường. Mọi người, muốn sổng đều phải ăn* mặc, đi lại, hoạt động, v.v.

    Cái riêng đa dạng hơn cái chung, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Xét về hình thức tồn tại cái riêng ià một kết cấu vật chất cụ thế có tính toàn vẹn, bao gồm nhiều mặt, phong phú hem cái chung và thường xuyên có những mặt, yếu tố biến đổi, còn cái chung là một bộ phận của cái riêng, nghèo nàn hơn cái riêng, ổn định hơn cái riêng bởi vì cái chung được lặp lại ở nhiều cái riêng, do đó cái chung có thể gần với cái bản chất. Với ý nghĩa đó, cái chung sâu sắc hơn cái riêng.

    Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyến hoá cho nhau trong quá trình vận động phát triển của các sự vật. Thí dụ, quá trình lai tạo giống lúa trong phòng thí nghiệm, tại một thời điểm nào đó, người ta tạo ra được một hạt gống có đặc tính cho năng suất cao, có chất dinh dưỡng tốt. Đặc tính đó là một cái đơn nhất trong một cái riêng. Người ta tiếp tục nhân rộng hạt giống đó để đặc tính cho năng suất cao tồn tại trong nhiều cá thể, khi đó cái đon nhất đó chuyển hoá thành cái chung.

    Cái chung không tồn tại bên ngoài cái riêng, mà tồn tại thông qua cái riêng, do vậy để nhận thức được cái chung, con người phải đi từ nhận thức cái riêng, qua nhiều cái riêng rồi mới đi đến nhận thức được cái chung.

    Tuy nhiên quá trình nhận thức không phải chỉ vận động một chiều từ cái riêng đến cái chung mà còn vận động từ cái chung đến cái riêng, dựa vào cái chung để đi đến nhận thức cái riêng. Khi đó phải căn cứ vào cái riêng để vận dụng cái chung cho thích họp, không thể áp đặt một cách máy móc cái chung cho mọi cái riêng mà không căn cứ vào đặc điểm cái riêng. Nguyên tắc phương pháp luận trên cũng khẳng định rằng quá trình nhận thức phải kết họp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp một cách chặt chẽ.

    Trong quá trình vận động của sự vật cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá cho nhau, nên con người có thể chủ động tạo ra điều kiện để biến cái đon nhất có lợi thành cái chung, và biến cái chung bất lợi thành cái đơn nhất.

    Định nghĩa. Hiện tượng và bản chất là hai mặt của sự vật. Nhận thức sự vật trước hết con người nhận thức được những biểu hiện, những đặc tính bề ngoài của sự vật khi sự vật tác động vào các giác quan của con người, đó là hiện tượng.

    Vậy, hiện tượng là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ bề ngoài của sự vật mà con người có thể nhận thức được bằng cảm giác. Bản chất là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ tương đổi ổn định, ẩn giấu bên trong, sau hiện tượng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Bằng cảm giác, con người chưa nhận thức được bản chất của sự vật. Thuật ngữ “bên trong, sau hiện tượng” không nên hiểu một cách cơ học, máy móc theo nghĩa đen của từ này như một vật được bao bọc bởi lóp vỏ bên ngoài, mà phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa khái quát, tức phải bằng tư duy trừu tượng mới có thể nhận thức được bản chất. Thí dụ, quan sát một bệnh nhân ta có thể thấy những biểu hiện bên ngoài như sốt, kèm theo ho và đau họng. Bản chất của những hiện tượng đó là gì? Phải qua nghiên cứu nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng họp rồi người ta mới nhận thức được bản chất của sốt, ho, đau họng của bệnh nhân là do một loại vi khuẩn nào đó xâm nhập vào cơ thể qua họng của bệnh nhân làm cho các tế bào họng bị tổn thương, tấy đỏ bệnh nhân cảm thấy đau họng và ho. Sự đề kháng của cơ thể chống sự xâm nhập của vi khuẩn một cách bất thường làm cho cơ thế có hiện tượng sốt.

    Mối quan hệ biện chứng giữa hiện tượng và bản chất

    Hiện tượng và bản chất là hai mặt vốn có của sự vật, quan hệ biện chứng với nhau, không tồn tại tách rời nhau.

    Bản chất hiện ra, hiện tượng thể hiện bản chất. Bản chất không phải là cái tách rời hiện tượng, bị hiện tượng che lấp, giống như cái hạt bị lóp vỏ bên ngoài che lấp. Bản chất bao giờ cũng được thể hiện ra ở hiện tượng, nhưng không hiện ra hoàn toàn ở một hiện tượng. Hiện tượng là sự thể hiện của bản chất, nhưng mỗi hiện tượng không thể hiện toàn bộ bản chất, thậm chí còn rất sai iệch với bản chất. Cho nên bản chất và hiện tượng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Hiện tượng và bản chất vừa đồng nhất, vừa khác biệt.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự vật. Hiện tượng là mặt thường xuyên biến đổi, đồng thời hiện tượng cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mác đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị và giá cả của hàng hoá. Giá cả hàng hoá lên xuống xoay quanh giá trị, đó là biểu hiện của sự hoạt động của quy luật giá trị. Lợi nhuận bình quân là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn quy luật lợi nhuận độc quyền cao là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn độc quyền.

    Nhận thức của con người không thể chỉ dừng lại ở việc phản ánh những biểu hiện bề ngoài của sự vật, mà phải tiến tới nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật.

    Không nên đồng nhất hiện tượng với bản chất, chỉ căn cứ vào một hiện tượng, hoặc một vài hiện tượng bề ngoài để đánh giá bản chất của một sự vật nào đó.

    Nhưng bản chất lại chỉ tồn tại thông qua hiện tượng. Do vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật, con người phải bắt đầu từ nhận thức các hiện tượng, nghiên cứu, phân tích, so sánh nhiều hiện tượng, rồi mới đi đến nhận thức được bản chất của sự vật, và từ bản chất cấp chưa sâu sắc tiến đến nhận thức bản chất cấp sâu sắc hơn.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Nhưng bản chất không phải là cái bất biến, mà vẫn có sự biến đổi ở một giới hạn nhất định do nhũng biến đổi của hiện tượng đưa đến. Do vậy trong thực tiễn, muốn biến đổi bản chất của sự vật có thể tạo ra nhũng điều kiện để biến đổi các hiện tượng, rồi từ hiện tượng biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi được bản chất. Chẳng hạn muốn cải tạo một tật xấu nào đấy của con người, cần tạo ra những điều kiện để những biểu hiện của tật xấu đó không được thực hiện, dần dần tật xấu đó có thể sẽ biến đổi.

    c) Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Định nghĩa: Tất nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do nhũng mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản, bên trong sự vật quy định và trong nhũng điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế này chứ không thể khác được. Thí dụ, tung một vật nặng lên cao trên bề mặt trái đất, nhất định nó sẽ rơi xuống bề mặt trái đất; nước nhất định ciịậy từ nơi cao xuống nơi thấp, trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh sản xuất, kinh doanh nhất định có người gặp nhiều thuận lợi, giàu lên, và có người chẳng may gặp rủi ro bị thua lỗ, phá sản v.v.

    Ngẫu nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định và trong điều kiện nhất định nó có thể xảy ra có thể không, có thể xảy ra thế này, có thể xảy ra thế khác. Thí dụ, tung con xúc xắc xuống đất có thể mặt 6 lỗ xấp xuống đất có thể mặt 1 lỗ, 2 lỗ v.v. xấp xuống. Điều đó do rất nhiều yếu tố khác nhau quyết định, đó là cái ngẫu nhiên; hay việc mua một chiếc vé xổ số có trúng thưởng hay không cũna là cái ngẫu nhiên, bởi vì số trúng thưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên ngoài.

    Tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân. Không phải chỉ có cái tất nhiên mới có nguyên nhân còn cái ngẫu nhiên không có nguyên nhân, và cũng không phải cái ngẫu nhiên là cái con người chưa nhận thức được nguyên nhân của nó, khi con người nhận thức được nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng nào đó thì lập tức sự vật, hiện tượng đó biến thành cái tất nhiên. Cái ngẫu nhiên tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc con người nhận thức được hay không nhận thức được nguyên nhân của nó.

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên

    Quan điểm siêu hình tách rời cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: tất nhiên và ngẫu nhiên có quan hệ biện chứng với nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ: Tất nhiên và ngẫu nhiên không thể tồn tại tách rời nhau. Không có cái tất nhiên thuần tuý tồn tại ngoài cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý tồn tại mà không bao chứa cái tất nhiên. Tất nhiên thể hiện sự tồn tại của mình, hay vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên. Thí dụ, mỗi lần quay xổ số sẽ có một con số trúng thưởng, đó là cái tất nhiên. Nhưng con số trúng thưởng đó cụ thể là con số nào, điều đó được thể hiện qua kết quả quay để có một số cụ thể xuất hiện, số cụ thể đó là cái ngẫu nhiên. Như vậy cái tất nhiên (ở đây là phải có một số trúng thưởng) không tồn tại bên ngoài cái ngẫu nhiên, mà phải thông qua cái ngẫu nhiên (ở đây là một số cụ thể nào đó) để thể hiện sự tồn tại của mình. Cái ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên.

    Phạm trù tất nhiên và phạm trù bản chất, phạm trù quy luật có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Chúng đều phản ánh những mối liên hệ chung có tính ổn định tương đối và có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển của sự vật. Tuy nhiên cấp độ chung và cấp độ sâu sắc, chi phối sự vận động biến đổi của sự vật thì khác nhau. Điều đó đòi hỏi tư duy con người phải có sự phát triển ở mức độ khác nhau mới nhận thức được.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chúng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên như vậy, có thể rút ra nguyên tắc phương pháp luận:

    Thứ nhất, muốn nhận thức được sự vật phải nhận thức được cả những mối liên hệ tất nhiên, cả những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật.

    Thứ hai, muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua việc nhận thức nhiều cái ngẫu nhiên, tiến từ nhận thức cái ngẫu nhiên đến nhận thức cái tất nhiên.

    Thứ ba, vì cái tất yếu là cái do những mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân bên trong quy định, còn cái ngẫu nhiên là cái do những yếu tố không bản chất chi phổi, nên khi xác định phương hướng hoạt động phải dựa vào cái tất yếu, không nên dựa vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến các yếu tố ngẫu nhiên để chuẩn bị nhiều phương án xử lý, tránh bị động trong hoạt động thực tiễn.

    Lý luận về các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hoá, trừu tượng hoá để con người phản ánh được một cách có hệ thống những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    – Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực phản ánh sự kế tiếp nhau về mặt thời gian, quá trình sản sinh ra nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.

    Định nghĩa: Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật này với sự vật khác để sinh ra một biến đổi nào đó. Thí dụ, sự tác động của từ trường vào khung dây dẫn là nguyên nhân sinh ra dòng điện trong dây dẫn. Sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn là nguyên nhân sinh ra ánh sáng của bóng đèn. Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguyên nhân làm cho các phương thức sản xuất thay đổi trong lịch sử, v.v.

    Kết quả là phạm trù chỉ sự biển đổi do sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác hoặc giữa các mặt trong cùng một sự vật gây ra. Thí dụ, bóng đèn phát sáng là kết quả của sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn; Sự thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời bằng quan hệ sản xuất mới là kết quả của sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất cũ, mà biểu hiện của nó là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp gắn với phương thức sản xuất đó, v.v.

    Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trước kết quả, không sinh ra kết quả, nhưng con người coi nó là nguyên nhân. Thí dụ, những lực lượng thù địch nước ngoài thường lợi dụng một số thông tin sai lầm, hoặc một số hành động quá khích gây mất trật tự trong nước ta. Họ coi đó là sự vi phạm nhân quyền, sự vi phạm dân chủ của Nhà nước ta để can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Thật ra, nguyên nhân đưa đến việc các thế lực thù địch muốn can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta là những lợi ích cục bộ của họ đối lập với lợi ích chung của cả dân tộc, đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ muốn chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lôi kéo một số người chưa hiểu biết, ngăn cản sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Điều kiện là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra đồng thời với nguyên nhân, nhưng không sinh ra kết quả mà chỉ tác động vào nguyên nhân để nguyên nhân phát huy tác dụng sinh ra kết quả. Thí dụ, chất xúc tác trong các phản ứng hoá học là điều kiện để các chất hoá học tác động với nhau tạo ra phản ứng hoá học. Nhiệt độ, áp suất, độ dưỡng khí trong lò ấp trứng gà không phải là nguyên nhân, mà là điều kiện để tế bào phôi trong quả trứng hoạt động tạo thành con gà. Môi trường tự nhiên thuận lợi là điều kiện để sản xuất của xã hội phát triển.

    Mối quan hệ biện chímg giữa nguyên nhân và kết quả

    Phép biện chứng duy vật cho rằng nguyên nhân và kết quả tồn tại khách quan, không phải do thói quen, cảm giác của con người quyết định, cũng không phải do tinh thần thế giới sáng tạo ra. Bởi vì mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều tồn tại trong mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau và sự vận động biến đổi. Như thế nghĩa là sự vật tồn tại luôn tạo ra nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân và kết quả là cái cố hữu của hiện thực khách quan, là một tính quy định vốn có của thế giới vật chất, gắn liền với mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    Nguyên nhân và kết quả quan hệ biện chứng với nhau không tách rời nhau. Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả về mặt thời gian và quyết định kết quả. Tuy nhiên không phải mọi sự vật xuất hiện trước đều là nguyên nhân của những sự vật xuất hiện sau, chỉ có sự vật xuất hiện trước nào sinh ra sự vật sau mới là nguyên nhân và kết quả của nhau. Thí dụ, hiện tượng gà gáy xuất hiện trước mặt trời mọc, nhưng gà gáy không phải là nguyên nhân của mặt trời mọc. Mùa xuân xuất hiện đầu tiên trong năm, nhưng không phải là nguyên nhân của mùa hè, mùa thu và mùa đông. Hiện tượng sốt của bệnh nhân có thể xuất hiện trước hiện tượng ho và đau họng, nhưng sốt không phải là nguyên nhân của ho và đau họng, mà chính viêm họng mới là nguyên nhân của cả ho, đau họng và sốt của bệnh nhân. Quan hệ hàm số không phải luôn luôn là quan hệ nguyên nhân và kết quả bởi vì các phần tử của hai tập hợp quan hệ với nhau qua một hàm số không phải lúc nào cũng là nguyên nhân và kết quả của nhau, v.v.

    Kết quả nào cũng do nguyên nhân nhất định sinh ra, kết quả phụ thuộc vào nguyên nhân. Tuy nhiên quá trình nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp. Một nguyên nhân không phải trong mọi hoàn cảnh đều sinh ra kết quả như nhau. Ngược lại, một kết quả không phải chỉ do một nguyên nhân duy nhất sinh ra. Trong cùng một lúc có thể có nhiều nguyên nhân cùng tác động. Neu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sự xuất hiện kết quả thuận lợi, càng đẩy nhanh sự xuất hiện kết quả. Ngược lại, nếu nguyên nhân tác động không cùng chiều thì việc xuất hiện kết quả sẽ gặp trở ngại và có thể tạo ra những kết quả trái ngược hẳn với trường hợp các nguyên nhân tác động cùng chiều.

    Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi. Như vậy, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá cho nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Đối với sự vận động của thế giới vật chất nói chung không có nguyên nhân và kết quả cuối cùng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận:

    Thứ nhất, kết quả do nguyên nhân quyết định, do vậy muốn tạo ra một sự vật hiện tượng nào đấy phải nhận thức được nguyên nhân của sự vật đó.

    Thứ hai, nguyên nhân xuất hiện trước kết quả, do vậy muốn nhận thức nguyên nhân của một sự vật nào đấy phải nghiên cúm sự tác động giữa những sự vật xuất hiện trước sự vật đang cần tìm nguyên nhân.

    Thứ ba, nguyên nhân sinh ra kết quả còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, do vậy trong hoạt động thực tiễn con ngưòi có thể chủ động tác động vào điều kiện để làm cho nguyên nhân phát huy tác dụng tạo ra kết quả theo nhu cầu của con người.

    Thứ tư, kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi, phát huy tác dụng, do vậy trong thực tế có thể lợi dụng kết quả đã đạt được để thúc đẩy quá trình hoạt động của nguyên nhân tạo ra kết quả mới theo yêu cầu của con người.

    Định nghĩa: Hiện thực là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, quá trình đang có trên thực tế. Còn khả năng là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, hiện chưa có, chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng hay mầm mống, nhưng sẽ trở thành hiện thực (tức tồn tại trên thực tế) trong tương lai với những điều kiện nhất định.

    Thí dụ, hôm nay, trong lúc này “mỗi chúng ta” với tư cách là một người bình thường đang sống, đang hoạt động, có thể đi lại, ăn uống, suy nghĩ v.v. đó là hiện thực. Nhưng ngày mai, lúc khác “mỗi chúng ta” có thể biến đổi thành một con người khác, già, yếu, bệnh tật v.v. nhưng hiện tại “cái con người khác đó” chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng, hay mới có những yếu tố của cái sự vật thực tế. Chỉ trong tương lai, với những điều kiện nhất định “cái con người khác đó” mới tồn tại thực tế, đó là khả năng. Với nghĩa đó, phạm trù khả năng chỉ sự vật chưa tồn tại trên thực tế, hay chưa có thực, mà chỉ là những yếu tố, những mầm mống của “sự vật trong tương lai” nằm trong cái hiện thực. Các yếu tố đó khác với sự vật hiện thực được phản ánh trong phạm trù hiện thực.

    Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

    Hiện thực bao hàm trong mình những yếu tố, những mầm mong để thay thế nó bằng cái khác, tức hiện thực là cơ sở của khả năng. Khả năng có nguồn gốc, mầm mống từ hiện thực. Sự vật nào cũng là một cái hiện thực tại thời điểm này, đồng thời bao hàm trong nó các yếu tố làm cơ sở để chuyển hoá thành sự vật khác, nghĩa là sự vật nào cũng chứa đựng khả năng. Thí dụ, đứa trẻ mới sinh với các cơ quan thính giác, thị giác v.v. bình thường, nhưng chưa biết nói, đó là hiện thực. Đứa trẻ biết nói khi đó chưa tồn tại trên thực tế, mà chỉ có các yếu tố để có thể hình thành nên đứa trẻ biết nói trong tương lai. Đứa trẻ biết nói trong tương lai đó là khả năng. Như vậy, khả năng có mầm mong trong hiện thực. Hiện thực chứa đụng khả năng.

    Quá trình vận động của sự vật làm cho khả năng chuyến hoá thành hiện thực, làm cho những yếu tố, mầm mống của cái mới nằm trong hiện thực biến thành “hiện thực mới”. Trong cái “hiện thực mới” lại xuất hiện khả năng mới. Vì vậy có thể nói sự vận động phát triến của sự vật bao hàm trong nó sự chuyển hoá khả năng thành hiện thực và sự nảy sinh khả năng mới từ hiện thực mới.

    Thứ nhất, để chủ động cải biến một sự vật nào đó phải nhận thức được những khả năng biến đổi của sự vật, nhưng muốn nhận thức được khả năng biến đổi của sự vật, nhất thiết phải dựa vào hiện thực, nghiên cứu những sự vật tồn tại hiện thực, không thể dựa vào cái chưa có, chưa xuất hiện.

    Thứ hai, quá trình khả năng biến thành hiện thực rất phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, do vậy muốn biến khả năng thành hiện thực phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thế đế tác động vào những yếu tố hiện thực.

    Cặp phạm trù nội dung và hình thức phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố cẩu thành nên sự vật và phương thức kết họp các yếu tố đó thành một cơ cấu, hay một hệ thống tương đối hoàn chỉnh và ổn định nhất định.

    Định nghĩa: Nội dung là phạm trù chỉ tổng số các yếu tố, các mặt, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phạm trù chỉ phương thức kết hợp các yếu tố của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối ổn định giữa các mặt, các yếu tố của sự vật. Thí dụ, trong một tác phẩm văn học những sự kiện, những con người hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là nội dung của tác phẩm, còn phương thức phản ánh các sự kiện, phương thức thể hiện tính cách các nhân vật trong tác phẩm là hình thức. Hoặc một ví dụ đơn giản khác:

    Trong mâm cơm bao gồm các món ăn như rau, đậu, thịt, cá, cơm, canh, đó là nội dung của mâm cơm. Sự bày biện, kết hợp các món theo những tỷ lệ nhất định, đó là hình thức của mâm cơm. Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa mặt nội dung và mặt hình thức.

    Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

    Nội dung và hình thức tồn tại khách quan, nhưng không tách ròi nhau. Không có nội dung thuần tày và hình thức thuần túy tồn tại tách rời nhau trên thực tế. Nội dung và hình thức là hai mặt của sự vật gắn bó chặt chẽ với nhau. Bất kỳ nội dung nào cũng tồn tại trong một hình thức nhất định và bất kỳ hình thức nào cũng là hình thức của một nội dung nhất định. Một nội dung có thể được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau và một hình thức cũng có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau.

    Tuy nhiên giữa nội dung và hình thức có sự khác biệt nhau ở chỗ: Hình thức là mặt ổn định hơn nội dung, ít biến đổi hon nội dung. Nội dung là mặt không ổn định, mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Sự biến đổi của hình thức do sự biến đổi của nội dung quyết định. Ngược lại hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung và tác động đến sự biến đổi của nội dung. Hình thức không phù họp với nội dung sẽ ngăn cản nội dung phát triển, ngược lại nếu hình thức phù họp với nội dung sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nội dung phát triển. Nội dung và hình thức quan hệ biện chứng với nhau trong suốt quá trình vận động và phát triển của sự vật. Thí dụ, các yếu tố con người, đối tượng lao động, công cụ lao động, con người dùng công cụ để tác động vào đối tượng lao động, đó là nội dung của quá trình lao động sản xuất. Cách thức (hay hình thức) con ngưòi sử dụng công cụ để tác động vào đối tượng lao động như thế nào, đó là hình thức của quá trình lao động. Nếu hình thức kết họp không thích họp sẽ không phát huy được năng lực của các yếu tố con người, công cụ lao động và đối tượng lao động. Neu cách thức kết hợp thích họp sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình lao động, tức làm cho nội dung phát triển.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

    Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động tích cực đến sự biến đổi của nội dung, nên để thúc đẩy sự vật phát triển phải biết tạo ra hình thức kết hợp các yếu tố của bản thân sự vật một cách phù hợp.

    Nhưng muốn xác định được hình thức thích hợp vói nội dung phải căn cứ vào ciiính nội dung, phải tìm hiểu rõ những yểu tồ cấu thành nên sự vật, vị trí, vai trò của các yếu tố đó, từ đó mói tìm ra hình thức thích họp với nội dung.

    Đây chính là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc xác định hình thức xuất phát từ nội dung, xác định phương pháp hoạt động xuất phát từ bản thân nội dung đối tượng, tránh chủ nghĩa hình thức trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, tách rời hình thức khỏi nội dung, tuyệt đối hoá vai trò của hình thức, không thấy vai trò của nội dung đối với hình thức.

    2.3. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    Nội dung lý luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự phát triển sâu sắc hơn nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, chỉ ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó làm phong phú hơn nguyên tắc phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.

    a) Quy luật chuyến hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

    Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ ra mối quan hệ, sự chuyển hoá giữa hai mặt, hai tính quy định vốn có của sự vật là chất và lượng. Từ đó nói lên phương thức biến đổi, phát triển từ sự vật này sang sự vật khác của hiện thực khách quan.

    Định nghĩa chất và lượng

    Từ lâu, khi nhận thức và cải tạo thế giới con người đó nhận thấy: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định, có những đặc điểm nhất định để phân biệt nó với cái khác, người ta gọi đó là tính quy định về chất của sự vật. Đồng thời mọi sự vật không tồn tại mói mà sẽ mất đi để sự vật mới ra đời. Sự vật mới và sự vật cũ khác nhau về chất. Sự mất đi của sự vật cũ có nguồn gốc từ sự thay đổi dần dần những yếu tố nào đó trong chính nó mà chúng ta không nhận ra được ngay. Chỉ đến mức độ nào đó sự biến đổi của những yếu tố đó mới được bộc lộ. Cái mặt thay đổi âm thầm, không nhận ra đó người ta gọi là lượng của sự vật. Vậy mọi sự vật đồng thời tồn tại hai mặt, hay hai tính quy định là chất và lượng. Sự thay đổi về chất của sự vật bắt nguồn từ sự thay đổi dần dần về lượng. Bằng kinh nghiệm con người đó nhận ra mối quan hệ giữa hai mặt chất và lượng của sự vật và diễn đạt mối quan hệ đó bằng nhiều cách khác nhau. Thí dụ, ông cha ta thường nói: có công mài sắt, có ngày nên kim; một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao; tích gió thành bão v.v. Tuy nhiên chất và lượng là gì, quan hệ với sự vật như thế nào và cơ cấu tác động giữa chất và lượng như thế nào để quy định sự vận động biến đổi của sự vật, cần luận giải một cách có hệ thống mới đảm bảo tính khái quát khoa học của quy luật. Để thực hiện điều đó trước hết cần định nghĩa khái quát về chất và lượng.

    Chất là một tính quy định vốn có của sự vật, là tổng họp hữu cơ các thuộc tính của sự vật nói lên sự vật là gì, để phân biệt sự vật này với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất có những tính chất sau:

    Chất là tính quy định khách quan, gắn liền với sự vật, là mặt tương đối ổn định, đặc trưng cho sự vật trong một quan hệ nhất định. Không có chất thuần túy tồn tại bên ngoài sự vật. Chất không phải do tư duy con người sáng tạo ra rồi gán cho sự vật.

    Chất và thuộc tính của sự vật có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi sự vật đều là tổng họp của rất nhiều thuộc tính, đó là những đặc tính vốn có của sự vật được bộc lộ ra thông qua sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác. Thí dụ, nước có các thuộc tính như: chất lỏng, lthông màu, không mùi, không vị, đóng băng ở 0°c, hoá hơi ở 100°c, công thức hoá học H 20, hoà tan được đường, muối, rượu v.v. Chất không đồng nhất với thuộc tính của sự vật, nhưng chất phụ thuộc vào thuộc tính, là tổng hợp các thuộc tính nói lên sự vật là gì, phân biệt với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Cácli thức kết hợp các thuộc tính, các yếu tố của sự vật khác nhau cũng làm cho sự vật có chất khác nhau. Sự vật có nhiều thuộc tính và có nhiều mối quan hệ. Có thể trong mối quan hệ này, thuộc tính này giữ vai trò căn bản, quy định chất của sự vật, nhưng trong mối quan hệ khác, thì thuộc tính khác lại giữ vai trò quyết định. Thí dụ, để phân biệt nước với rượu, hoặc giấm, các thuộc tính không mùi, không vị, công thức phân tử H 2 0 v.v. là thuộc tính căn bản quy định chất của nước trong quan hệ với rượu, giấm. Nhung trong quan hệ giữa nước ở trạng thái lỏng với nước đá và hơi nước, thì thuộc tính lỏng của nước là thuộc tính căn bản quy định chất của nước ở trạng thái lỏng, phân biệt với nước ở trạng thái hơi (hơi nước) và trạng thái rắn (nước đá). Như vậy, sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối.

    Sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể là chất của sự vật trong một mối quan hệ nhất định. Do vậy sự vật không phải chỉ có một tính quy định về chất mà có nhiều tính quy định về chất. Ăngghen nói: không có chất thuần túy tồn tại, chỉ có sự vật có chất, hon nữa sự vật có vô vàn chất mới tồn tại. Tương ứng với tính quy định về chất của sự vật có tính quy định về lượng.

    Lượng là một tính quy định vốn có của sự vật về phương diện: quy mô, trình độ phát triển của sự vật, số lượng các yếu tố, các thuộc tính cẩu thành nên sự vật, tốc độ, nhịp điệu phát triển của sự vật, mức độ cao thấp, đậm nhạt, to nhỏ của nhiệt độ, màu sắc và kích thước của sự vật v.v. và thường được biểu thị bằng con số và đại lượng. Thí dụ, nhiệt độ của nước ở trạng thái lỏng có thể là l°c, có thể 20°c, 30°c v.v. Trọng lượng riêng của nước là lkg/dm 3, tốc độ của một đoàn tàu là 100 km/giờ v.v. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng tính quy định về lượng có những tính chất sau:

    Tính quy định về lượng là cái vốn có của sự vật, tồn tại khách quan ừong sự vật, được tư duy của con người nhận thức, phản ánh, chứ không phải được tư duy của con người sáng tạo ra rồi đưa vào sự vật.

    Tính quy định về lượng không ổn định và không đặc trưng cho sự vật như tính quy định về chất. Tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong mối quan hệ này một thuộc tính nào đấy của sự vật có thể giữ vai trò là chất, đặc trung cho sự vật, nhưng chuyển sang mối quan hệ khác thì thuộc tính đó lại chỉ là một yếu tố quy định mức độ phát triển của sự vật, như là mặt lượng của sự vật. Thí dụ, trong quan hệ giữa các trạng thái nước đá, nước lỏng, hơi nước thì tính lỏng của nước là một tính quy định về chất, đặc trưng cho nước ở trạng thái lỏng. Nhung trong mối quan hệ giữa nước với rượu, hay với giấm thì tính lỏng không đặc trưng cho nước mà chỉ là một trong những thuộc tính của nước. Xét về số lượng các thuộc tính thì đó là một một yếu tố của lượng.

    Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

    Tính quy định về chất phản ánh mặt tương đối ổn định của sự vật. Tính quy định về lượng phản ánh mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Hai mặt chất và lượng có tính chất trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Sự tác động giữa chất và lượng làm cho lượng biến đổi trướCj vì lượng là mặt không ổn định như tỉnh quy định về chất. Sự thay đổi của lượng bằng cách tăng hoặc giảm dần và trong một giới hạn nhất định chưa làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật vẫn là nó, chưa chuyển nhất định nào đó mới làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật cũ chuyển sang sự vật mới.

    Giới hạn trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm cho chất của sự vật biến đổi được gọi là “độ”. Mỗi sự vật trong một quan hệ nhất định nào đó có một “độ nhất định”. Chỉ khi sự biến đổi của lượng đạt đến giới hạn của “độ” mới xảy ra sự biến đổi về chất của sự vật.

    Thời điểm ở đó sự biến đổi về lượng chuyển hoá thành sự biến đổi về chất của sự vật được gọi là điểm nút. Sự biến đổi về chất tại điểm nút được gọi là bước nhảy.

    Có nhiều hình thức bước nhảy khác nhau như: bước nhảy nhanh, bước nhảy chậm, bước nhảy bộ phận, bước nhảy toàn bộ, bước nhảy lớn, bước nhảy nhỏ. Mỗi sự vật có các hình thức bước nhảy khác nhau. Thông qua bước nhảy sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Trong sự vật mới lại có tính quy định về chất và lượng mới. Quá trình tác động giữa chất và lượng mới lại diễn ra theo cách thức nói trên làm cho sự vật vận động biến đổi không ngừng trong đó có sự xen kẽ giữa quá trình thay đổi dần dần về lượng và bước nhảy vọt về chất.

    Sự biến đổi của chất là do sự biến đổi của lượng quyết định. Nhưng khi chất mới ra đời sẽ tác động đến sự thay đổi về lượng, làm cho quy mô, nhịp độ biến đổi của lượng thay đổi. Thí dụ, trong phương thức sản xuất phong kiến cũ, do quan hệ sản xuất lạc hậu, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên đó không tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phù họp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên đó làm cho lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất nhanh với quy mô rất lớn.

    * Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

    Thứ nhất, phải tôn trọng tính tất yếu của sự tích luỹ thường xuyên về ỉượng, tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất của sự vật. Không được phủ nhận vai trò của sự thay đổi về lượng đối với sự vận động phát triển của sự vật. Trong hoạt động thực tiễn, cần phải tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, muốn thay đối về chất mà không tính đến sự thay đổi về lượng như thế nào.

    Thứ hai, phải thấy vai trò của sự thay đổi về chất đối với sự phát triển của sự vật khi sự thay đổi về lượng đạt đến giới hạn. Không có sự thay đổi về chất thì không thể thay thế sự vật cũ bằng sự vật mới và không thể thúc đẩy sự vật tiếp tục phát triển được. Do vậy trong hoạt động thực tiễn phải chống thái độ bảo thủ, trì trệ, không muốn thay đổi về chất khi điều kiện khách quan cho phép để thúc đẩy sự vật mới ra đời đó đầy đủ.

    Thứ ba, sự thay đổi về chất được thực hiện dưới các hình thức khác nhau tuỳ theo từng sự vật và điều kiện cụ thể khác nhau. Vì vậy phải vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy để đẩy nhanh quá trình phát triển của sự vật, hoặc có thể chủ động giữ cho sự vật tồn tại nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người. Thí dụ, để duy trì sức khỏe phải có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi điều độ. Ản uống thiếu hoặc thừa chất đạm sẽ gây bệnh, hại cho sức khỏe. Để chữa khỏi một bệnh nào đấy phải dùng thuốc đủ liều, nếu dùng không đủ liều hoặc dùng quá liều đều không tốt, có thể không khỏi bệnh, hoặc có thể lại đưa đến hậu quả có hại mới. Trong lĩnh vực xã hội hình thức bước nhảy về chất rất phức tạp, bởi vì mọi sự biến đổi xã hội đều phải thông qua hoạt động của con người. Do những lực lượng xã hội có những lợi ích khác nhau, trong xã hội có giai cấp đối kháng có thể có những lợi ích đối lập nhau, nên hoạt động của họ có xu hướng trái ngược nhau, tạo ra những yếu tố làm cho bước nhảy về chất không diễn ra một cách tự phát như trong tự nhiên.

    b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nói lên nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển. V.I. Lênin còn cho rằng quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, óng viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chúng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Khái niệm mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức đó cho thấy: Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong hiện thực khách quan đều bao chứa những mặt, những yếu tố, những thuộc tính có đặc điểm trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau. Những mặt, những yếu tố có đặc điểm trái ngược nhau đó được gọi là mặt đối lập. Thí dụ, một nguyên tử có điện tử mang điện tích âm và hạt nhân mang điện tích dương. Điện tử và hạt nhân là hai mặt đối lập kết hợp với nhau tạo thành nguyên tử. Một vật chuyển động luôn có lực đẩy và lực cản tác động trái chiều nhau. Một cơ thể sống luôn phải thực hiện hai quá trình trái ngược nhau: hấp thụ các chất dinh dưỡng từ môi trường vào cơ thế và đào thải ra môi trường những chất từ cơ thể. Hai quá trình trái ngược nhau đó cũng là hai mặt đối lập của một cơ thể sống. Di truyền và biến dị cũng là hai quá trình đối lập nhau của sự phát triển của thế giới sinh vật. Các mặt đối lập của sự vật tồn tại khách quan. Hai mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Mâu thuẫn biện chứng là một hiện tượng khách quan và phổ biến của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy).

    Mâu thuẫn tồn tại khách quan vì nó được tạo ra từ sự kết họp các mặt đối lập vốn có của sự vật, không do ai sáng tạo ra và không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người có nhận thức được hay không thì mâu thuẫn vẫn tồn tại. Thí dụ, sự thống nhất và đấu tranh giữa di truyền và biến dị trong quá trình phát triển của động, thực vật là quá trình khách quan, vốn có của thế giới sinh vật đó tồn tại rất lâu trước khi con người xuất hiện.

    Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến vì không có sự vật, hiện tượng, quá trình nào không chứa đựng mâu thuẫn. Ăngghen nói, ngay sự vận động đơn giản nhất là sự thay đổi vị trí của sự vật trong không gian cũng là một mâu thuẫn, bởi vì trong cùng một lúc sự vật vừa ở một vị trí vừa không ở vị trí đó, vừa ở vị trí kề bên, đó là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó luôn được giải quyết, nhưng đồng thời lại luôn xuất hiện đã đẩy sự vật vận động từ vị trí này sang vị trí khác. Những hình thức vận động phức tạp hơn như sự sống, hay như vận động xã hội thì lại càng phải có mâu thuẫn.

    Sự vật là một kết cấu phức tạp, không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn có hình thức thể hiện, có quá trình biến đổi và có vai trò khác nhau đối với sự vận động phát triển của sự vật.

    Sự vận động của mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động phát triển của sự vật

    Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập của một mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau. Thống nhất của hai mặt đổi lập có ba nghĩa: một là, sự nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, sự cùng tồn tại của hai mặt đối lập, mặt này làm tiền đề tồn tại cho mặt kia; hai là, sự đồng nhất giữa hai mặt đối lập, nhờ sự đồng nhất mà hai mặt có thể chuyển hoá cho nhau; ba là, sự dung hoà giữa hai mặt đối lập, hai mặt đối lập có sự tác động ngang nhau. Thống nhất của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là giữ cho hai mặt đối lập tạm thời ổn định. Điều đó làm cho sự vật tạm thời tồn tại và tạm thời đứng im.

    Đồng thời với sự thống nhất, hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng còn thường xuyên đấu tranh với nhau. Đấu tranh của hai mặt đối lập là sự tác động qua lại giữa chúng theo xu hướng bài trừ, phủ định nhau, sự thúc đẩy nhau biến đổi.

    Đấu tranh của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là làm cho các mặt đổi lập biển đổi. Nhưng sự biến đổi của hai mặt đổi lập trong phạm vi nhất định chưa phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, nên mâu thuẫn của sự vật vẫn tồn tại và sự vật vẫn chưa biến thành sự vật khác. Trong phạm vi sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, đấu tranh của hai mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho hai mặt đối lập biến đổi theo chiều hướng trái ngược nhau, điều đó dẫn đến sự thay đổi trạng thái của mâu thuẫn. Ở trạng thái đầu tiên của mâu thuẫn, hai mặt đối lập chủ yếu còn thống nhất với nhau, mâu thuẫn biểu hiện ra chỉ như là sự khác biệt giữa hai mặt đối lập. Sự khác biệt của hai mặt đối lập ngày một tăng do sự đấu tranh của hai mặt đối lập vẫn tiếp diễn, làm cho mâu thuẫn chuyển từ trạng thái khác biệt sang trạng thái đối lập. Ớ trạng thái đối lập sự thống nhất của hai mặt đối lập vẫn được duy trì, nhưng sự đấu tranh của hai mặt đối lập trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn trở nên căng thẳng hơn. Sự đấu tranh của hai mặt đối lập tiếp tục tăng cao đến mức hai mặt đối lập không còn có thể nương tựa vào nhau được nữa, đòi hỏi phải phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Khi đó mâu thuẫn chuyển sang trạng thái chuyển hoá. Trong trạng thái chuyến hoá, hai mặt đối lập không còn nương tựa vào nhau mà đều chuyển hoá thành các mặt đối lập mới.

    Tùy theo mỗi sự vật và tùy điều kiện hoàn cảnh khác nhau, hình thức chuyển hoá của các mặt đối lập có sự khác nhau. Thông qua bước chuyến hoá, sự thống nhất giữa hai mặt đối lập cũ mất đi để hình thành nên sự thống nhất mới. Tương ứng với điều đó là sự vật cũ mất đi và hình thành sự vật mới. Trong sự vật mới lại có những mặt đối lập để tạo thành mâu thuẫn mới. Quá trình thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập trong mâu thuẫn mới tiếp tục diễn ra để đẩy mâu thuẫn phát triển đến mức độ nhất định, ở đó lại xảy ra sự chuyển hoá làm cho sự vật mới đó chuyển sang sự vật mới khác. Đó là quy luật vận động của mâu thuẫn. Rõ ràng là sự vận động của mâu thuẫn (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của sự vật.

    Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra thường xuyên, quy định sư vận động thường xuyên của sự vật. Thống nhất của các mặt đối lập nhất định của sự vật tồn tại trong những điều kiện nhất định, tức sự thống nhất của các mặt đối lập là có tính chất tương đối. Thống nhất của các mặt đối lập của sự vật quy định đến sự đứng im tương đối của sự vật.

    Lý luận về quy luật mâu thuẫn còn chỉ ra rằng: sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn. Mồi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động, biến đổi của sự vật. Do vậy cần phân biệt một số loại mâu thủẫn như: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu; trong xã hội có giai cấp thì có mâu thuẫn đổi kháng và không đối kháng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ nhất, phải xuất phát từ bản thân sự vật, phân tích mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố cấu thành nên sự vật để tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật. Không có sự vật hiện tượng nào là hoàn toàn thuần nhất, không có mâu thuẫn. Vì vậy Lênin nói: Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đổi lập của nó, đó là thực chất phép biện chứng.

    Thứ hai, sự vật có nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Do vậy phải phân tích quá trình tác động giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa sự tác động đó với sự vận động của sự vật để xác định được mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của sự vật.

    Thứ ba, mâu thuẫn chỉ được giải quyết ở giai đoạn các mặt đổi lập xung đột gay gắt với nhau và phương thức giải quyết mâu thuẫn là các mặt đối lập phải tác động qua lại với nhau để tự chuyển hoá. Không được dùng ý chí chủ quan để thủ tiêu mâu thuẫn, điều hoà giữa các mặt đối lập, hoặc tuyệt đối hoá mặt này, gạt bỏ mặt kia.

    c) Quy luật phủ định của phủ định

    Quy luật phủ định của phủ định phản ánh khuynh hướng phát triển theo con đường xoáy ốc, phản ánh tính kế thừa, tính chu kỳ của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.

    Định nghĩa phủ định và phủ định biện chứng

    Nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, chúng ta thấy không có sự vật hiện tượng nào trong thế giới tồn tại mãi. Sự vật nào cũng có quá trình ra đời, tồn tại, vận động, biến đổi và chuyển hoá sang sự vật hiện tượng khác. Triết học gọi sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác là sự phủ định. Trên thực tế có sự phủ định tự thân, có sự phủ định do các yếu tố bên ngoài quyết định. Sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác một cách tự thân được gọi là phủ định biện chứng. Thí dụ, có hàng trăm nghìn hạt thóc được nghiền nát thành bột, nấu chín và được tiêu hoá đi, đó không phải là phủ định biện chứng, nhưng có một hạt thóc rơi xuống đất, gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, nó tự nảy mầm và chuyển hoá thành cây lúa. Đây là sự tự phủ định của hạt thóc, sự phủ định này được gọi là phủ định biện chứng.

    Tính chất của phủ định biện chứng

    Phủ định biện chứng có tính khách quan và tính kế thừa.

    Tính khách quan của phủ định biện chứng nghĩa là sự phủ định không do ai sáng tạo ra, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Nguyên nhân của sự phủ định là do mâu thuẫn của bản thân sự vật quyết định, nghĩa là do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập bên trong sự vật hoặc sự tác động lân nhau giữa sự vật này với sự vật khác quy định sự phủ định.

    Tính kế thừa nghĩa là sự phủ định biện chứng không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ. Cái mới ra đời luôn giữ lại những yếu tố nhất định của cái cũ dưới hình thức mới. Nhờ tính kế thừa mà phủ định biện chứng liên kết cái mới với cái cũ. Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, cái cũ là tiền đề cho sự ra đời cái mới.

    Phủ định của phủ định và sự phát triển theo con đưòng xoáy ốc

    Sự phát triển của các sự vật phải thông qua những lần phủ định biện chứng. Phủ định lần thứ nhất sự vật từ điểm xuất phát ban đầu chuyển sang cái mới đối lập với cái ban đầu. Cái mới, đối ỉập với cái ban đầu này không hoàn toàn loại bỏ cái xuất phát ban đầu, mà giữ lại những yếu tố nhất định của cái ban đầu dưới hình thức mới. Vì vậy cái đối lập (cái phủ định lần thứ nhất) với cái xuất phát ban đầu có quan hệ kế thừa nhau. Cái đối lập, đến lượt nó lại bị phủ định để sự vật chuyển sang cái mới khác. Quá trình phủ định biện chứng, tất yếu dẫn đến một sự phủ định mà qua đó đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Đó là phủ định của phủ định.

    Tính chất phủ định của phủ định. Phủ định của phủ định cũng có tính khách quan và tính kế thừa vì nó được thiết lập từ sự phủ định biện chúng. Ngoài ra phủ định của phủ định còn có tính chất lặp lại cái ban đầu trên cơ mới, hay nói khác đi: đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn về chất. Có tính chất này vì sự vật do phủ định của phủ định đưa đến là cái đã qua một số lần lọc bỏ. Sự phát triển hơn về chất đó phản ánh tính chất chu kỳ và xu hướng đi lên của sự phát triển.

    Phủ định của phủ định là sự kết thúc một chu kỳ phát triển của sự vật, đồng thời mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới. Sự phát triến của sự vật thông qua những vòng khâu phủ định của phủ đinh như vậy sẽ tạo nên một con đường xoáy ổc theo chiều hướng đi lên. Con đường xoáy ốc là sự phản ánh khái quát quá trình phát triến đi lên của các sự vật, hiện tượng.

    Tuy nhiên trên thực tế quá trình phủ định của phủ định của mỗi sự vật diễn ra rất phức tạp và có các hình thức khác nhau: có thê một chu kỳ phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, có thể trải qua số lần phủ định biện chứng khác nhau để đi đến phủ định của phủ định v.v. Đó là nội dung quy luật phủ định của phủ định.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ hai, phải tôn trọng tính kế thừa của sự phát triển, từ đó phải có thái độ đúng đắn đối với cái cũ, không được phủ định sạch trơn, đồng thời cũng không được kế thừa nguyên xi cái cũ. Chẳng hạn, để xây dựng xã hội mới ở nước ta, phải biết kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc đã hình thành trong lịch sử, đồng thời phải biết loại bỏ những truyền thống không còn phù hợp và thay đổi những truyền thống cũ cho phù hợp với yêu cầu mới.

    Thứ ba, phải tôn trọng tính chu kỳ, tính lặp lại của sự phát triển. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu lịch sử để có thể dự kiến, tiên đoán những hình thức cơ bản của tương lại.

    Thứ tư, quy luật phủ định của phủ định diễn ra dưới hình thức rất khác nhau ở các sự vật khác nhau. Quá trình phủ định của phủ định trong tự nhiên khác quá trình phủ định của phủ định trong xã hội. Trong tự nhiên quy luật diễn ra một cách tự phát, không phụ thuộc vào hoạt động của con người, nhưng phủ định của phủ định trong xã hội lại thông qua hoạt động có ý thức của con người, phụ thuộc vào hoạt động của con người. Nếu nhận thức được quy luật, con người có thể chủ động lợi dụng quy luật, phục vụ cho nhu cầu của con người. Do vậy phải căn cứ vào từng sự vật để vận dụng quy luật thích họp, có hình thức kế thừa, cải tạo cái cũ cho thích hợp, tạo điều kiện cho cái mới ra đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Web 5 Ngày: Nếu Muốn Thành Công, Hãy Xem 5 Video Này
  • Cảm Nhận Về Phương Pháp Học Tiếng Anh Của Trường Saint Thomas More
  • Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Với Việc Nhận Thức Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ, Công Bằng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Phân Tích Nội Dung Qui Luật Phủ Định Của Phủ Định. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quy Luật Này?
  • Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định: Phân Tích Nội Dung Và Ý Nghĩa
  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây
  • Thứ sáu, 25 Tháng 10 2022 11:56

    (LLCT) – Phương pháp luận biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả. Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong quán triệt và xử lý mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là góp phần định hướng phát triển đất nước theo hướng bền vững.

    Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một bước ngoặt trong triết học, một trong những biểu hiện nổi bật của cuộc cách mạng này là sự thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật trở thành cơ sở của thế giới quan và phương pháp luận khoa học, vì nó là một hệ thống lý luận phản ánh những mối liên hệ, những quá trình biến đổi của bản thân thế giới hiện thực, căn cứ vào những kết quả khoa học đã được đúc kết, kết hợp với sự tổng kết, khái quát thực tiễn hoạt động của con người. Phương pháp luận của phép biện chứng là những kết luận được rút ra từ việc khảo sát các mối liên hệ của các sự vật, từ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của nó, “từ các mặt liên hệ, liên kết, vận động, sinh ra và mất đi của các sự vật”. Vì vậy, phương pháp luận của phép biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả. Các nguyên tắc cơ bản có thể kể đến, như: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử – cụ thể…

    Nguyên tắc khách quan đòi hỏi, chủ thể khi nhận thức sự vật, hình tượng cần phải nắm bắt nó như nó vốn có trong hiện thực, không vì ý muốn chủ quan mà “tô hồng” hay “bôi đen”, tránh tùy tiện áp đặt cho nó cái xa lạ với nó. Nhận thức về sự vật phải xuất phát từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó. Vì vậy, nhận thức cần đạt tới cái bản chất, cái quy luật chi phối sự vật. Đây là quá trình khó khăn và phải trải qua nhiều giai đoạn, bởi lẽ cái bản chất thể hiện qua vô vàn các hiện tượng phong phú, đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi. Bằng thực tiễn, thông qua thực tiễn, kết quả của hoạt động thực tiễn cho phép đánh giá tri thức ấy có khách quan, đúng đắn hay không. V.I.Lênin viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”(1). Vì vậy, trong nhận thức cần tránh thái độ thụ động, chủ quan, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo, mà cần chủ động, tích cực, thông qua hoạt động thực tiễn của con người để nhận biết đúng các thuộc tính, các cấp độ bản chất, các hệ thống quy luật chi phối sự vật. Như vậy, nguyên tắc khách quan là điều kiện cần thiết cho mọi nhận thức khoa học. Nếu nhận thức và phương pháp hoạt động của chủ thể không tôn trọng quy luật khách quan, nếu hoạt động thực tiễn không tuân theo quy luật khách quan, chúng ta sẽ phải gánh những kết quả không như mong muốn.

    V.I.Lênin viết: “Muốn thực sự thấu hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”(2). Những chỉ dẫn trên của V.I.Lênin nhắc nhở con người trong nhận thức, muốn biết chân tướng của sự vật cần phải xem xét sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của nó; phải xem xét sự vật, hiện tượng này trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác kể cả khâu trung gian của nó, phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn để từ đó thấy được vị trí, vai trò của các mối liên hệ giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Qua đó, xác định được những quan hệ trọng tâm trọng điểm cần được giải quyết trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nguyên tắc toàn diện này cũng chỉ ra rằng, một luận điểm là đúng đắn trong những quan hệ này lại trở thành sai lầm trong những quan hệ khác, một luận điểm, một hướng đi, một cách làm là đúng đắn, hữu ích trong điều kiện này lại có thể là không phù hợp, có hại trong điều kiện khác.

    Phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng, liên hệ là quá trình tác động qua lại – cái tạo thành “nguyên nhân cuối cùng của mọi sự vận động và biến đổi của sự vật”. Cho nên, mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng là nguyên nhân tạo nên sự vận động của chúng. Cũng chính do có mối liên hệ phổ biến mà trong thế giới khách quan luôn tồn tại xu hướng phát triển không ngừng. Vật chất không vận động đi tới tiêu vong mà tạo ra sự chuyển hóa (biến đổi) theo những hướng khác nhau, trong đó có khuynh hướng vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn (gọi là phát triển). Các chủ thể cần nhận thức và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, các phương pháp hành động cho phù hợp để có được những biến đổi theo chiều hướng phát triển. Đây là quá trình phức tạp, bởi lẽ, sự biến đổi theo chiều hướng phát triển của hiện thực là quá trình vận động có tính quy luật nội tại, diễn ra trong nó, là quá trình phủ định biện chứng, phủ định có kế thừa. Xem xét hiện tượng xã hội, V.I. Lênin chỉ dẫn rằng, cần phải “xem xét vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào?”(3).

    Phép biện chứng duy vật không chỉ là một lý luận khoa học cho phép phản ánh đúng đắn các sự vật, hiện tượng, nó còn là một công cụ sắc bén để mổ xẻ, phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra các giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể. Chính nhờ công cụ sắc bén này, chủ nghĩa Mác đã tìm ra các quy luật vận động của xã hội, đã nhìn xã hội như một cơ thể sống luôn vận động, biến đổi do những mối liên hệ nội tại của nó tạo ra; thấy được vai trò quyết định của điều kiện vật chất, của cơ sở kinh tế nhưng cũng thấy vai trò hết sức to lớn của kiến trúc thượng tầng chính trị, của tư tưởng, văn hóa… Điều đó đã khắc phục được tư tưởng duy tâm, siêu hình, lối nhìn nhận phản biện chứng trước đây. Khái lược điều đó cho thấy các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật là những nguyên tắc cơ bản để nhận thức về các mối quan hệ lớn ở nước ta hiện nay.

    Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;… Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”(4). Việc nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn là những khía cạnh cụ thể để thực hiện mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc(5).

    Đại hội XII của Đảng xác định, một trong các nhiệm vụ tổng quát là: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;…”(6)

    Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một trong những mối quan hệ lớn cần được quán triệt trong nhận thức cũng như giải quyết có hiệu quả trong thực tiễn. Việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này cần bảo đảm nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển và lịch sử – cụ thể.

    Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là những bộ phận quan trọng không thể thiếu, có quan hệ thống nhất, cùng tồn tại, có ảnh hưởng qua lại, vừa làm tiền đề vừa làm điều kiện cho nhau. Trong đó, xã hội muốn phát triển phải có tăng trưởng kinh tế để giải quyết các nhu cầu vật chất không thể thiếu của con người, mặt khác, tăng trưởng kinh tế thì mới có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế không thể có một nền văn hóa phát triển lành mạnh, phong phú và một xã hội tiến bộ, công bằng trên cơ sở một nền kinh tế yếu kém, suy thoái hay một nền kinh tế tăng trưởng nóng lấy số lượng tăng trưởng là thước đo duy nhất. Ngược lại, trong một xã hội mà đạo đức xuống cấp, tham nhũng, lãng phí cao, nhiều lao động có trình độ học vấn và tay nghề thấp, bị lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói…thì cũng không thể có kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững. Từ lâu, chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) đã cảnh báo về 5 kiểu tăng trưởng kinh tế cần tránh, đó là:

    1. Tăng trưởng không việc làm: tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng những cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp.

    2. Tăng trưởng không có lương tâm: tăng trưởng nhưng thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu – nghèo gia tăng.

    3. Tăng trưởng không có tiếng nói: tăng trưởng kinh tế không kèm theo sự mở rộng nền dân chủ hay là việc tạo thêm quyền lực, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn về xã hội và kinh tế.

    4. Tăng trưởng không gốc rễ: sự tăng trưởng đã khiến cho nền văn hóa của con người trở nên nghèo nàn.

    5. Tăng trưởng không tương lai: tăng trưởng mà thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến.

    Nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ cơ bản trên là điều cần thiết để tránh những điều đã được cảnh báo. Thực tế cho thấy, việc quán triệt và thực hiện những chủ trương trên của Đảng, đời sống kinh tế – xã hội của đất nước có bước chuyển biến cơ bản.

    Về kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liền. Về văn hóa – xã hội, những giá trị và sắc thái văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin – truyền thông… từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ dần được đẩy mạnh. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng gia tăng.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội của nước ta còn nhiều bất cập:

    Một là, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào những yếu tố như: vốn, lao động giá rẻ, đất đai, tài nguyên khoáng sản. Hệ quả là khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế không cao, thu nhập của một bộ phận đáng kể người lao động thấp, việc khai thác yếu tố văn hóa trong phát triển kinh tế không nhiều.

    Hai là, văn hóa – đạo đức phát triển chưa tương xứng với kinh tế thể hiện qua nhiều biểu hiện, nhiều cấp độ như: buôn bán và sử dụng ma túy diễn biến phức tạp; bạo lực đang có xu hướng gia tăng, trên diện rộng, ở cả không gian gia đình, học đường, xã hội; văn hóa chính trị có nhiều tiêu cực, tồn tại tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả cán bộ cấp cao, nhưng chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Việc đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Tại thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo thành phố thừa nhận: “Đầu tư cho thiết chế văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, vai trò quản lý nhà nước chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, việc quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội chưa gắn bó chặt chẽ với văn hóa. Nhiều chương trình, dự án còn nặng về lợi ích kinh tế, xem nhẹ yếu tố văn hóa, môi trường”(7).

    Ba là, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nhất là tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao; xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo còn nhiều, khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi có xu hướng ngày càng giãn ra. Báo cáo của Oxfam năm 2022 cho biết, năm 2014, Việt Nam có 210 người siêu giàu (tài sản ròng trên 30 triệu đô la Mỹ), chiếm 12% GDP cả nước, con số này sẽ tăng lên 403 vào năm 2025. Người giàu nhất Việt Nam có thu nhập một ngày bằng 10 năm thu nhập của người nghèo nhất, và với tài sản này, có thể đưa toàn bộ 13 triệu người nghèo thoát nghèo ngay tức khắc(8).

    Trước những bất cập nêu trên, việc nhận thức và giải quyết về mối quan hệ này trong điều kiện cụ thể hiện nay cần:

    Thứ nhất, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Muốn vậy, mỗi chính sách phát triển kinh tế không thuần túy chỉ vì kinh tế mà phải bao hàm trong đó mục tiêu thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội, phát triển con người. Mặt khác, mỗi chính sách phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội không thuần túy vì mục tiêu nhân văn, văn hóa mà cũng bao hàm trong đó mục tiêu kinh tế. Ví như, định hướng việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là việc bảo tồn, bảo tàng, lưu giữ, phát triển mà cần gắn các hoạt động đó với các hoạt động kinh tế du lịch, quảng bá sức mạnh mềm Việt Nam. Qua đó, không chỉ kinh tế tăng trưởng còn gia tăng cơ hội việc làm, thu nhập cho người dân sở tại, hạn chế bất công bằng vùng miền, hạn chế tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, chuyển dịch tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ theo hướng bền vững. Cách mạng công nghiệp 4.0 khiến xu hướng phát triển kinh tế thế giới có những chuyển dịch cơ bản về công nghệ, đổi mới và sáng tạo. Xu hướng này đòi hỏi người lao động có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng với dây chuyền công nghệ hiện đại và từng bước đi vào lĩnh vực thiết kế, chế tạo, làm ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Mặt khác, cần đẩy mạnh khai thác các yếu tố văn hóa – xã hội, như: sức mạnh mềm Việt Nam, những giá trị văn hóa con người Việt Nam theo hướng xây dựng nền kinh tế xanh. Theo đó, kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng cao hơn và người lao động cũng có thu nhập xứng đáng để cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của mình. Về thực chất, đây là giải pháp đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần nhân văn, cùng các tiêu chí tiến bộ và công bằng xã hội chuyển nhập vào bên trong mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế.

    Thứ ba, kiên quyết đấu tranh chống lại xu hướng tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, tách rời mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế thời gian qua, không ít địa phương chỉ chú trọng việc thu hút đầu tư, mở dự án mà không chú trọng đến vấn đề việc làm của nông dân sau thu hồi đất, vấn đề môi trường,… đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, tệ nạn xã hội. Cần đấu tranh không khoan nhượng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn tham nhũng, làm ăn phi pháp, tệ nạn xã hội (như: buôn gian, bán lận, lừa đảo,…). Bởi lẽ, hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà còn làm gia tăng bất công trong xã hội, băng hoại văn hóa và các chuẩn mực đạo đức xã hội.

    Thứ tư, tiếp tục phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội cả trong phân phối và cơ hội, người dân được tiếp cận công bằng với các nguồn lực phát triển và các dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm, thông tin; tư vấn pháp luật… Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2019

    (1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.167.

    (2) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.364.

    (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr.78.

    (4), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2011, tr.72-73, 71.

    (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr.24.

    (7) Theo https://www.cpv.org.vn.

    (8) https://baovanhoa.vn.

    (9) https://thesaigontimes.vn.

    PGS, TS Nguyễn Thị Nga

    Viện Triết học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Vật Chất Và Ý Thức: Phân Tích Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận.
  • Hướng Dẫn Dạy Tiếng Anh Cho Bé Từ 0
  • Cách Dạy Bé Học Tiếng Anh 3, 4, 5 Tuổi Tại Nhà Hiệu Quả Nhất!
  • Unit 1: Phương Pháp Tự Luyện Phát Âm Tiếng Anh Chuẩn
  • 22 Khoá Học Luyện Viết Tiếng Anh Miễn Phí Trên Internet
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Hãy phân tích sự khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu giữa Triết học với các môn khoa học cụ thể, cho ví dụ.

    Đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học cụ thể: Mỗi môn khoa học cụ thể đi sâu nghiên cứu một bộ phận, một lĩnh vực riêng biệt nào đó có thế giới.

    Ví dụ: Hóa học nghiên cứu sự cấu tạo, tính chất, sự biến đổi của các chất.

    Sử học nghiên cứu lịch sử của xã hội loài người nói chung hoặc nghiên cứu lịch sử của một quốc gia, một dân tộc nói riêng.

    Đối tượng nghiên cứu của triết học: Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất, phổ biến nhất của thế giới, là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    Ví dụ: Triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa lí luận và thực tiễn, nghiên cứu các quy luật chung nhất về sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng.

    Ở các ví dụ sau, ví dụ nào thuộc kiến thức khoa học cụ thể, ví dụ nào thuộc kiến thức triết học? Vì sao?

    • Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông.
    • Mọi sự vật và hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.
    • Ngày 3/2/1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
    • Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

    Những ví dụ thuộc kiến thức khoa học cụ thể bao gồm:

    • Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của 2 cạnh góc vuông.
    • Ngày 3-2-1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Những ví dụ thuộc kiến thức triết học bao gồm:

    • Mọi sự vậtvà hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.
    • Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

    Cơ sở để giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học là dựa trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại, xem cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào và con người có nhận thức được thế giới hay không để phân chia các hệ thống thế giới quan: Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.

    • Thế giới quan duy vật khẳng định: Vật chất là bản chất của thế giới. Vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức. Thế giới vật chất là tự có không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi.
    • Thế giới quan duy tâm cho rằng: Ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    Phân tích các yếu tố duy vật, duy âm về thế giới trong truyện và câu dẫn sau:

    • Truyện thần thoại Thần Trụ trời.
    • “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời”. (Khổng tử)
    • Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu chuyện thần thoại trụ trời là:
      • Yếu tố duy vật bao gồm: đất đá, cột chống trời…
      • Yếu tố duy tâm: Thần linh
    • Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” của Khổng Tử là:
      • Yếu tố duy vật: sống, chết, giàu , sang
      • Yếu tố duy tâm: Mệnh, trời.

    Hãy nêu ý kiến của mình về các yếu tố biện chứng, siêu hình về phương pháp luận trong truyện, các câu tục ngữ và thành ngữ sau:

    • Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi.
    • Tục ngữ, thành ngữ: Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn.

    Trả lời:

    Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi thuộc phương pháp luận siêu hình. Sở dĩ như vậy là vì các nhân vật trong truyện nhìn nhận sự vật phiến diện chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, máy móc, áp đặt, không nhìn một cách tổng thể.

    Các câu tục ngữ thành ngữ : Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn thuộc phương pháp luận biện chứng. Bởi vì các sự vật trong câu có sự ràng buộc với nhau trong sự phát triển và vận động không ngừng của chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Trường THPT Tràm Chim

    Ngày dạy:…./…../2010

    Người soạn: Phạm Văn Mi

    Phần thứ nhất:

    III. Phương pháp giảng dạy:

    – Các em học những môn học nào? Các khoa học đó nghiên cứu vấn đề gì?

    + Toán: nghiên cứu số, đại lượng…

    → mỗi ngành KH đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

    – Gv hỏi: V ậy đối tượng nghiên cứu của triết học là gì?

    – Điểm giống và khác nhau về đối tượng nghiên cứu giữa triết học và các môn khoa học cụ thể?

    Lưu ý: Triết học và các môn khoa học cụ thể:

    – Giống: đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

    Gv hỏi: Triết học có vai trò như thế nào?

    – Triết học có m ấy vấn đề cơ bản?

    Vậy thì vấn đề cơ bản của TH có mấy mặt?

    → Từ việc giải quyết vấn đề thứ nhất người ta chia thành hai loại thế giới quan: duy vật và duy tâm.

    a/ Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học:

    – Triết học là hệ thống các quan điểm, lý luận chung nhất về thế giới , v ề vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó.

    – Triết học đóng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn của con người.

    b/ Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm:

    – Thế giới quan: toàn bộ quan điểm, niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    + mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

    + Khả năng nhận thức TGKQ của con người.

    – Thế giới quan duy tâm: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    Trường THPT Tràm Chim

    Ngày dạy:…./…../2010

    Người soạn: Phạm Văn Mi

    III. Phương pháp giảng dạy.

    – Thế nào là phương pháp? Ví dụ.

    – Thế nào là phương pháp luận? ví dụ.

    ” Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”

    Phương pháp luận biện chứng : xem xét SVHT trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng.

    – Đọc câu chuyện ” Thầy bói xem voi” và cho biết: 5 ông thầy bói cảm nhận con voi bằng cách nào? Kết quả ra sao? Nó thể hiện phương pháp luận nào?

    Gv phát vấn học sinh: phương pháp luận nào là khoa học? rút ra bài học trong việc xem xét các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

    Gv: N êu sự hạn chế của các nhà triết học trước Mác?

    (làm rõ các hệ thống triết học trước Mác chưa triệt để vì chưa đạt được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng).

    – Sự thống nhất giữa phương pháp luận biện chứng và thế giới quan duy vật thể hiện ở những quan điểm nào?

    Hs: phát biểu ý kiến.

    – Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

    – Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

    – Hs trình bài suy nghĩ của mình

    Hs: phát biểu ý kiến

    Hs: đọc kỹ về Phoi-ơ-bắc và Hêghen để điền vào bảng so sánh:

    c. Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình:

    – Phương pháp là cách thức đạt tới mục đích đặt ra.

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhât hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng:

    – Về thế giới quan: phải xem xét chúng với quan điểm duy vật biện chứng.

    a/ Rút dây động rừng

    b/ Tre già măng mọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100