Số Nguyên Tố Là Gì? Hợp Số Là Gì? Cho Ví Dụ

--- Bài mới hơn ---

  • Số Nguyên Tố Là Gì ?
  • Cách Phân Biệt Một Số Loại Gỗ Tự Nhiên Phổ Biến
  • Từ Đơn Là Gì, Từ Phức Là Gì? Ví Dụ Và Phân Biệt
  • Phân Biệt Và Cách Sử Dụng 3 Từ De 的, 地, 得
  • : Vọng Tưởng, Phân Biệt, Chấp Trước
  • Bắt đầu bước vào cấp trung học cơ sở, các bạn học sinh sẽ có cơ hội được tiếp xúc với nhiều khái niệm toán học mới. Trong đó số nguyên tố, hợp số. Vậy Số nguyên tố là gì? hợp số là gì? Những lý thuyết này được ứng dụng ra sao trong toán học. Để tìm ra đáp án cho câu hỏi đó, bạn hãy theo dõi những thông tin được chia sẻ ngay sau đây.

    Định nghĩa về số nguyên tố vô cùng đơn giản và dễ hiểu. Cụ thể, số nguyên tố là tập hợp những số tự nhiên chỉ có thể chia hết cho 1 và chính nó.

    Theo đó, nếu một số tự nhiên chỉ chia hết cho 1 và chính nó thì đó là số nguyên tố. Đặc biệt, bạn cần lưu ý rằng có hai trường hợp không được xếp là số nguyên tố, đấy chính là số 0 và số 1.

    • Số 2 là số nguyên tố nhỏ nhất có 1 chữ số
    • Số 11 là số nguyên tố nhỏ nhất có 2 chữ số
    • Số 101 là số nguyên tố nhỏ nhất có 3 chữ số
    • Số 97 là số nguyên tố lớn nhất có 2 chữ số
    • Số 997 là số nguyên tố lớn nhất có 3 chữ số

    Hợp số được định nghĩa là số chia hết cho các số khác ngoài 1 và chính nó. Ngoài ra, còn có một định nghĩa tương đương để chỉ hợp số, đó là hợp đó là một số tự nhiên có thể biểu diễn thành tích của hai số tự nhiên khác nhỏ hơn nó.

    Để lấy ví dụ về hợp số, bạn có thể lựa chọn các số tự nhiên như 4, 6, 8 để chứng minh. Những số này ngoài chia hết cho 1 và chính nó thì còn chia hết được cho các số khác nữa.

    Ý tưởng kiểm tra số nguyên tố

    Khi kiểm tra số nguyên tố, nếu số đó nhỏ hơn 2 thì kết luận đó không phải số nguyên tố. Khi đếm số ước của n trong đoạn từ 2 đến căn bậc hai của n.

    Nếu số đó không có ước nào trong đoạn từ 2 đến căn bậc hai của n thì nó là số nguyên tố. Kết quả ngược lại thì đó không phải là số nguyên tố.

    Cách tìm số nguyên tố đơn giản

    Có một phương pháp đơn giản để tìm số nguyên tố là chia thử nghiệm. Với cách này, bạn chỉ cần chia số cần kiểm ta theo lý thuyết số nguyên tố là được. Tuy nhiên, đây được đánh giá là phương pháp chậm, gây mất nhiều thời gian và có thể kéo theo nhiều sai số trong quá trình thực hiện.

    Cách tìm số nguyên tố bằng thao tác lặp trừng phần tử với bước nhảy 1

    Với cách này, giả sử bạn cần kiểm tra số n có phải là số nguyên tố hay không thì bạn chỉ cần áp dụng các bước thực hiện như sau:

    • Bước 1: Nhập vào n
    • Bước 2: Kiểm tra nếu n < 2 thì đưa ra kết luận n không phải là số nguyên tố
    • Bước 3: Lặp từ 2 tới (n-1), nếu bạn trong khoảng này tồn tại số mà n chia hết thì đưa ra kết luận n không phải là số nguyên tố. Nếu kết quả ngược lại n là số nguyên tố.

    Theo định nghĩa về số nguyên tố thì số 2 là số nguyên tố chẵn duy nhất. Do đó, ta sẽ dễ dàng loại được 2 ra khỏi vòng lặp, khi đó trong thân vòng lặp bạn chỉ cần kiểm tra các số lẻ. Đây là cách được đánh giá là tối ưu hơn cách 1 đáng kể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Và Doanh Nghiệp Thương Mại
  • Phân Biệt Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Và Hiệu Quả Kinh Tế
  • Chống Kỳ Thị, Định Kiến Và Phân Biệt Đối Xử: Câu Chuyện Không Của Riêng Ai
  • Sản Phẩm Số Là Gì? Sản Phẩm Số Có Hoa Hồng Đến 300% Có Thật Không?
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Các Yếu Tố Cấu Thành Sản Phẩm Du Lịch Là Gì?
  • Mong Các Anh Cho Em Bít Quan Điểm Siêu Hình Và Các Phương Pháp Luận Của Chúng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giaoanlop10 Giao An Lop 10 Minhlesua Doc
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Hiện Tượng Học
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vượng
  • Bài Giảng Về Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Song qua các cuộc trao đổi đó cũng như qua các tài liệu khoa học ở nước ngoài, sự thiếu nhất trí trong cách hiểu bản thân khái niệm phương pháp luận nổi lên rất rõ. Chẳng hạn, trong các tài liệu của Liên Xô và một phần nào của Bungari mà chúng tôi được biết, khái niệm này thường được dùng:

    Như vậy, hiện nay khái niệm phương pháp luận còn đang được dùng theo nhiều nghĩa rất khác nhau. Các nhà triết học cũng như các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học cụ thể đã viết rất nhiều về phương pháp luận và những vấn đề phương pháp luận, song bản thân phương pháp luận là gì thì lại chưa được xác định thật rõ ràng. Phương pháp luận là mọi học thuyết về phương pháp hay chỉ là học thuyết triết học về phương pháp? Nó là hệ thống các nguyên lý thế giới quan hay chỉ là sự vận dụng các nguyên lý này vào trong hoạt động nhận thức và thực tiễn? Nó là phương pháp duy vật biện chứng hay là tập hợp các phương pháp được dùng trong một ngành khoa học nào đó? Nó là một chức năng của triết học hay là một khoa học riêng biệt?

    Để giải quyết được những vấn đề này ta cần lưu ý rằng, bất cứ một bộ môn khoa học nào cũng phải có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu riêng và có hệ thống tri thức riêng. Không có đối tượng thì không có và không thể có bất cứ bộ môn khoa học nào vì không có đối tượng thì không xác định được phải nghiên cứu cái gì? Nhưng sau khi xác định được đối tượng nghiên cứu rồi, mỗi khoa học còn cần phải tìm ra được những phương pháp nghiên cứu thích ứng. Các phương pháp đó không thể là tuỳ tiện. Các phương pháp của vật lý học được xác định bởi những đặc điểm của hình thức vận động vật lý của vật chất, bởi các quy luật và bản chất của nó. Tương tự như vậy, các phương pháp của một bộ môn khoa học này không thể dùng hoàn toàn để nghiên cứu một đối tượng khác của một bộ môn khoa học khác. Tuy nhiên, có thể có một số phương pháp nào đó của một bộ môn khoa học này được áp dụng để nghiên cứu rộng rãi trong một số lĩnh vực khác, chẳng hạn, một số phương pháp của vật lý học có thể được dùng để nghiên cứu trong hoá học, sinh vật học, khảo cổ học v.v.. Đó là do các đối tượng nghiên cứu của hoá học, sinh vật họe, khảo cổ học… bao gồm dưới dạng này hay dạng khác các hình thức vận động vật lý của vật chất. Như vậy, tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của mình mà mỗi khoa học có các phương pháp nghiên cứu riêng của mình. Việc tìm tòi những phương pháp nghiên cứu thích ứng với mỗi bộ môn khoa học nhất định, xác định xem những phương pháp đó là những phương pháp nào, nội dung của mỗi phương pháp là gì, cách áp dụng nó ra sao, phạm vi áp đụng của nó đến đâu v.v. do lý luận về phương pháp của môn khoa họe này giải quyết. Lý luận về phương pháp đó chính là phương pháp luận.

    Do chỗ phương pháp nghiên cứu của mỗi bộ môn khoa học đều phụ thuộc vào bản chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học đó nên muốn tìm ra được các phương pháp nghiên cứu thích ứng cần phải xuất phát từ bản thân đối tượng. Nhưng đối tượng nghiên cứu của mỗi bộ môn khoa học cụ thể chỉ là một bộ phận nhỏ, một “mảnh” nhỏ của thế giới hiện thực. Bộ phận nhỏ ấy, “mảnh” nhỏ ấy nằm trong một mối liên hệ qua lại chằng chịt hết sức phức tạp với các bộ phận khác, với các “mảnh” khác. Vì vậy, để xác định được hướng đi và cách đi thích ứng, để khỏi bị lạc trong mớ quan hệ chằng chịt các hiện tượng ấy, để luôn luôn nhắm trúng được đối tượng của mình, trước hết cần dựa vào các nguyên lý thế giới quan.

    Là những quan điểm khái quát của con người về thế giới nói chung và về vị trí của con người trong thế giới ấy, các nguyên lý thế giới quan có tác dụng định hướng cho người nghiên cứu, không những định hướng trong quá trình tìm ra phương pháp mà còn định hướng ngay cả trong quá trình vận dụng phương pháp. Xuất phát từ những nguyên lý thế giới quan nhất định, những nguyên lý gắn liền với bản chất của đối tượng cần nghiên cứu, người nghiên cứu xác định được những phương pháp nghiên cứu thích hợp. Vì vậy, các nguyên lý thế giới quan chính là cơ sở của các phương pháp, có tác dụng soi sáng cho các phương pháp, đóng vai trò chỉ dẫn các hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn.

    Thế giới quan đúng sẽ đảm bảo tìm ra các phương pháp nghiên cứu đúng. Ngược lại, nếu thế giới quan sai lầm thì các phương pháp nghiên cứu tìm được để nghiên cứu đối tượng đó cũng sẽ sai lầm. Chẳng hạn, xuất phát từ luận điểm cho rằng, lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp, những người mác xít đòi hỏi khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội cần áp dụng phương pháp phân tích giai cấp, cần đứng vững trên quan điểm giai cấp. Ngược lại những người theo trường. phái tâm lý trong xã hội học lại xuất phát từ chỗ cho rằng, kinh nghiệm tâm lý và những xúc cảm của con người tạo nên bản chất của các hiện tượng và các quá trình xã hội, vì vậy, họ đòi hỏi phải nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng các phương pháp của tâm lý học và việc nghiên cứu phải được bắt đầu từ tâm lý cá thể là những đơn vị quan sát cơ bản. Rõ ràng là xuất phát từ những nguyên lý thế giới quan khác nhau, người ta đã đi đến khẳng định những phương pháp nghiên cứu khác nhau và tính chất đúng đắn hay sai lầm của thế giới quan có ảnh hưởng quyết định đến thành công hay thất bại của việc tìm tòi và vận đụng các phương pháp. Vì vậy, các nguyên lý thế giới quan tạo nên bộ phận quan trọng nhất trong nội dung của phương pháp luận.

    Ngoài các nguyên lý thế giới quan, trong nội dung phương pháp luận của mỗi bộ môn khoa học còn có một loạt nguyên lý khác. Đó là các nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, là các nguyên tắc chung về sự vận dụng các phương pháp, về việc sử dụng các tài liệu, sự kiện v.v. trong một ngành khoa học nhất định. Những nguyên lý và nguyên tắc chung này xuất phát từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Chúng không phải là những nguyên lý thế giới quan nhưng cũng không trực tiếp nằm trong nội đung của các phương pháp. Chẳng hạn, đối tượng nghiên cứu của kibécnêtic là các hệ thống tự điều khiển với bất kỳ cấu trúc nào với bất kỳ nguyên tắc hoạt động nào và với bất kỳ thực thể vật chất nào (có thể đó là cơ thể sống, là các máy tính tự động, là các hệ thống điều khiển các quá trình kỹ thuật…)

    Do những đặc điểm đó nên ngoài các nguyên lý thế giới quan, nội dung phương pháp luận của kibécnêtic còn bao gồm những nguyên lý quan trọng khác đặc trưng riêng cho kibécnêtic: nguyên lý trừu tượng hoá khỏi những đặc điểm chất lượng tập trung sự chú ý vào việc tìm những đặc điểm chung trong hoạt động của các hệ thống tự điều khiển, nguyên lý chung về sự sử dụng như nhau của tất cả các công thức và lý thuyết toán học, không tuỳ thuộc vào loại hình hay sự phức tạp của các hệ thống tự điều khiển mà nó nghiên cứu v.v.. Rõ ràng các nguyên lý này không phải là các nguyên lý thế giới quan, tuy chúng gắn bó mật thiết với các nguyên lý thế giới quan, cụ thể ở đây với nguyên lý phản ánh; đồng thời chúng cũng không trực tiếp nằm trong nội dung của các phương pháp nghiên cứu của kibécnêtic, cụ thể là không trực tiếp tạo nên nội dung của các phương pháp mô hình hoá, phương pháp thuật toán hoá và phương pháp “hộp đen” là những phương pháp nghiên cứu cơ bản của kibécnêtic. Tuy vậy, chúng là cơ sở của các phương pháp này, là những nguyên lý chỉ đạo và có tác đụng định hướng rất lớn đối với người nghiên cứu trong lĩnh vực kibécnêtic khi thu thập, sử dụng các tài liệu cũng như khi vận dụng các phương pháp. Vì vậy, chúng cũng tạo nên một bộ phận rất quan trọng trong nội dung của phương pháp luận.

    Như vậy, khi nói rằng phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là học thuyết về các phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực, là nói tới bản chất của nó. Nhưng bản chất chưa phải là toàn bộ nội dung, mặc dầu bản chất là những cái cơ bản nhất, chung nhất trong nội dung. Đứng về không phải đơn thuần chỉ là một hệ thống trình tự các quy trình và các biện pháp nghiên cứu, cũng không phải là một tập hợp tuỳ tiện các nguyên lý nào đó mà là một hệ thống lý luận chặt chẽ với những loại nguyên lý nhất định gắn bó hữu cơ với nhau: Thứ nhất, đó là các nguyên lý thế giới quan gắn liền với bản chất của đối tượng nghiên cứu. Thứ hai, đó là các nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, các nguyên tắc chung về việc vận dụng các phương pháp, về sự sử đụng tài liệu, sự kiện… trong một ngành khoa học nhất định; các nguyên lý và nguyên tắc chung này gắn liền với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Cuối cùng, đó là lý luận về bản thân các phương pháp (về nội dung, phạm vi và mối quan hệ qua lại giữa các phương pháp) của ngành khoa học ấy. Tất cả các bộ phận này gắn bó mật thiết với nhau tạo nên một hệ thống lý luận chặt chẽ, thống nhất và là một thành phần không thể thiếu được của bất cứ bộ môn khoa học nào.

    Vì vậy, phương pháp luận không phải là một tập hợp lý luận tuỳ tiện, càng không phải chỉ là một tập hợp đơn thuần các phương pháp được dùng trong một ngành khoa học nào đấy, nhưng đồng thời nó cũng không phải là một khoa học riêng biệt đứng độc lập như các khoa học khác. Phương pháp luận là một bộ phận không thể thiếu được của mỗi bộ môn khoa học, là học thuyết về các phương pháp. Chính vì thế, phương pháp luận không phải chỉ là một học thuyết triết học về các phương pháp như một số tác giả khẳng định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Thuế Xuất Nhập Khẩu Có Lời Giải
  • Tài Liệu Học Kế Toán Thuế Phần Xuất Nhập Khẩu
  • Cách Hạch Toán Kế Toán Xuất Khẩu Ủy Thác
  • Kế Toán Ủy Thác Xuất Khẩu Tại Bên Giao Và Bên Nhận Ủy Thác
  • Kế Toán Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông
  • Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates
  • Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

    Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

    Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

    Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

    Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

    Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

    Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Câu Đặc Biệt Là Gì? Câu Rút Gọn Là Gì? Cho Ví Dụ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa “Interpreter” – “Compiler” Và “Code” – “Script” – “Program”
  • Difference Between Operating System And Application Software
  • Ôn Tập Hệ Điều Hành – Câu Hỏi Lý Thuyết – Chientx
  • Vốn Oda Và Fdi Là Gì? Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?
  • Thiết Kế Web Đà Nẵng
  • Câu đặc biệt là gì? Câu rút gọn là gì? Cho ví dụ?

    Khái niệm câu đặc biệt là gì?

    Theo định nghĩa, câu đặc biệt là câu không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ vị ngữ và thường chỉ có một từ hoặc một cụm từ tạo nên. Loại câu này được sử dụng linh hoạt trong nhiều trường hợp với các mục đích khác nhau như sau:

    Ví dụ về câu đặc biệt:

    • Cô giáo ơi! : Câu được sử dụng với chức năng gọi đáp
    • Một đêm mùa hạ: Câu đặc biệt nêu rõ thời gian, nơi chốn.

    Khái niệm về câu rút gọn là gì?

    Câu rút gọn là câu khi người nói hoặc viết có thể lược bỏ một số thành phần trong câu. Tùy theo hoàn cảnh, mục đích nhắc đến trong câu mà ta có thể lược bỏ các thành phần như chủ ngữ, vị ngữ hoặc cả chủ ngữ & vị ngữ sao cho phù hợp. 

    Ví dụ câu rút gọn:

    • Linh: Bao giờ lớp cậu đi du lịch
    • Trang: Thứ sáu

    Câu trả lời của Trang “Thứ sáu” chính là câu rút gọn. Câu đầy đủ có thể được khôi phục lại như sau: Thứ sáu, lớp tớ đi du lịch. 

    Mục đích của câu rút gọn là gì

    Tương tự như câu đặc biệt, câu rút gọn cũng được sử dụng linh hoạt trong nhiều trường hợp với các mục đích khác nhau như sau:

    • Giúp cho câu văn được trở nên ngắn gọn hơn, giúp người nghe, đọc tiếp nhận thông tin súc tích, đủ ý một cách nhanh chóng. 
    • Hạn chế, tránh việc sử dụng các từ lặp đã dùng trong những câu trước đó.

    Cách dùng câu rút gọn

    Đặc điểm chính của loại câu này chính là có thể lược bỏ các thành phần trong câu. Vậy nên, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà các bạn cũng cần chú ý khi dùng câu rút gọn như sau:

    Ví dụ:

    • Sáng mai, con có đi học không?  (Mẹ hỏi con gái)
    • Không. Câu nói này đã bị lược bỏ chữ ngữ khiến câu trở nên bị cộc lốc. 

    Phân biệt câu đặc biệt & câu rút gọn

    Câu đầy đủ là câu có đủ các bộ phận chính chủ ngữ, vị ngữ và bộ phận phụ (nếu có). Đối với câu đặc biệt và câu rút gọn đều không là câu đầy đủ. Giữa chúng có khá nhiều điểm giống & khác nhau mà các bạn sinh hay nhầm lẫn như sau: 

    • Điểm giống nhau: Hình thức đều có cấu tạo từ một từ hoặc một cụm từ
    • Điểm khác nhau được thể hiện trong bảng sau:

    Câu rút gọnCâu đặc biệtVề bản chất là câu đầy đủ được lược bớt các thành phần trong quá trình sử dụngLà câu không có cấu tạo theo câu đầy đủ mô hình chủ-vị. Dựa vào hoàn cảnh sử dụng sẽ xác định được từ (hoặc cụm từ) bị rút gọn thuộc thành phần nào trong câuTừ (hoặc cụm từ)là trung tâm chính không thể xác định rõ đó là thành phần nào của câuCó thể khôi phục thành câu đầy đủKhông thể khôi phục thành câu đầy đủ.

    5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xx 2 Tay P Phải A Dung Ôm Định Luật…
  • So Sánh Hôn Nhân Xưa Và Nay
  • So Sánh Đám Cưới Việt Xưa Và Nay
  • 1️⃣so Sánh Hôn Nhân Xưa Và Nay ® Blog Cưới
  • Phân Biệt Bệnh Viêm Phổi Và Viêm Phế Quản: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Số Nguyên Tố Là Gì? Hợp Số Là Gì? Cho Ví Dụ Minh Họa

    --- Bài mới hơn ---

  • Số Nguyên Tố Là Gì? Những Khái Niệm Liên Quan Tới Số Nguyên Tố.
  • Chính Sách Giá Trong Marketing Và 6 Chiến Lược Định Giá Quan Trọng
  • Tập 65 Phật Thuyết Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh
  • Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 2
  • Rối Loạn Phân Liệt Cảm Xúc
  • Bắt đầu bước vào cấp trung học cơ sở, các bạn học sinh sẽ có cơ hội được tiếp xúc với nhiều khái niệm toán học mới. Trong đó số nguyên tố, hợp số. Vậy Số nguyên tố là gì? hợp số là gì? Những lý thuyết này được ứng dụng ra sao trong toán học. Để tìm ra đáp án cho câu hỏi đó, bạn hãy theo dõi những thông tin được chia sẻ ngay sau đây.

    Số nguyên tố là gì?

    Định nghĩa về số nguyên tố vô cùng đơn giản và dễ hiểu. Cụ thể, số nguyên tố là tập hợp những số tự nhiên chỉ có thể chia hết cho 1 và chính nó.

    Theo đó, nếu một số tự nhiên chỉ chia hết cho 1 và chính nó thì đó là số nguyên tố. Đặc biệt, bạn cần lưu ý rằng có hai trường hợp không được xếp là số nguyên tố, đấy chính là số 0 và số 1.

    Ví dụ về số nguyên tố

    • 2 là số nguyên tố nhỏ nhất có 1 chữ số
    • 11 là số nguyên tố nhỏ nhất có 2 chữ số
    • 101 là số nguyên tố nhỏ nhất có 3 chữ số
    • 97 là số nguyên tố lớn nhất có 2 chữ số
    • 997 là số nguyên tố lớn nhất có 3 chữ số

    Hợp số là gì?

    Hợp số được định nghĩa là số chia hết cho các số khác ngoài 1 và chính nó. Ngoài ra, còn có một định nghĩa tương đương để chỉ hợp số, đó là hợp đó là một số tự nhiên có thể biểu diễn thành tích của hai số tự nhiên khác nhỏ hơn nó.

    Để lấy ví dụ về hợp số, bạn có thể lựa chọn các số tự nhiên như 4, 6, 8 để chứng minh. Những số này ngoài chia hết cho 1 và chính nó thì còn chia hết được cho các số khác nữa.

    Cách tìm số nguyên tố

    Ý tưởng kiểm tra số nguyên tố

    Khi kiểm tra số nguyên tố, nếu số đó nhỏ hơn 2 thì kết luận đó không phải số nguyên tố. Khi đếm số ước của n trong đoạn từ 2 đến căn bậc hai của n.

    Nếu số đó không có ước nào trong đoạn từ 2 đến căn bậc hai của n thì nó là số nguyên tố. Kết quả ngược lại thì đó không phải là số nguyên tố.

    Cách tìm số nguyên tố đơn giản

    Có một phương pháp đơn giản để tìm số nguyên tố là chia thử nghiệm. Với cách này, bạn chỉ cần chia số cần kiểm ta theo lý thuyết số nguyên tố là được. Tuy nhiên, đây được đánh giá là phương pháp chậm, gây mất nhiều thời gian và có thể kéo theo nhiều sai số trong quá trình thực hiện.

    Cách tìm số nguyên tố bằng thao tác lặp trừng phần tử với bước nhảy 1

    Với cách này, giả sử bạn cần kiểm tra số n có phải là số nguyên tố hay không thì bạn chỉ cần áp dụng các bước thực hiện như sau:

    • Bước 1: Nhập vào n
    • B2: Kiểm tra nếu n < 2 thì đưa ra kết luận n không phải là số nguyên tố
    • Bước 3: Lặp từ 2 tới (n-1), nếu bạn trong khoảng này tồn tại số mà n chia hết thì đưa ra kết luận n không phải là số nguyên tố. Nếu kết quả ngược lại n là số nguyên tố.

    Cách tìm số nguyên tố bằng thao tác lặp từng phần tử với bước nhảy 2

    Theo định nghĩa về số nguyên tố thì số 2 là số nguyên tố chẵn duy nhất. Do đó, ta sẽ dễ dàng loại được 2 ra khỏi vòng lặp, khi đó trong thân vòng lặp bạn chỉ cần kiểm tra các số lẻ. Đây là cách được đánh giá là tối ưu hơn cách 1 đáng kể.

    Kết bài

    Vẫn còn rất nhiều các cách khác nhau giúp bạn kiểm tra một số có phải là số nguyên tố hay không. Tuy nhiên chung quy lại, bạn vẫn cần nắm vững kiến thức và định nghĩa số nguyên tố là gì.

    5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Doanh Nghiệp Sản Xuất
  • Sản Xuất Là Gì? Các Yếu Tố Sản Xuất
  • Định Lý Viet Và Ứng Dụng Trong Phương Trình.
  • Đối Tác Trong Kinh Doanh Là Gì? Khác Biệt Giữa Đối Tác Và Khách Hàng
  • Sản Phẩm/dịch Vụ Là Gì? Phân Loại Sản Phẩm/dịch Vụ
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    *. Ph­ương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    *. Ph­ương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch (Extra Surplus Value) Là Gì? Nguồn Gốc, Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Web So Sánh Giá Trực Tuyến ~ Reviews Mua Sắm Online Uy Tín, Tối Ưu Chi Phí
  • Bài Toán So Sánh Giá Trị Biểu Thức Ở Tiểu Học
  • So Sánh Giá Trị Của Một Biểu Thức Với Một Số
  • So Sánh Đánh Giá Uber Và Grab Nên Đi Xe Nào Rẻ Hơn 2022
  • Uber, Grab Và “cuộc Chiến” Với Taxi Truyền Thống
  • Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì

    Giá trị thặng dư siêu ngạch có lẽ là thuật ngữ không còn xa lạ với những ai làm kinh doanh, đặc biệt là các bạn sinh viên ngành kinh tế.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch tiếng Anh là Extra surplus value là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng khoa học công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của sản phẩm hàng hóa công ty này thấp hơn giá trị thị trường.

    Ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là tạo ra giá trị thặng dư một cách hợp lý và hiệu quả hơn, việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất hàng hóa cũ giúp cho doanh nghiệp đó ngày vàng tiến bộ hơn, phát triển hơn, sản xuất được nhiều hàng hóa hơn, đem lại các giá trị mới cho hàng hóa cũ của mình. Như vậy ý nghĩa đầu tiên đó chính là đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp.

    Một vấn đề nữa đó là khi công nghệ xem vào quá nhiều thì doanh nghiệp chỉ cần đội ngũ nhân công có chất lượng tốt chủ chốt còn lại không cần thiết, như vậy công nhân đối mặt với tình trạng mất việc.

    Nguồn gốc giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch mục đích cũng cùng cũng là đem lên lợi nhuận cho các nhà tư bản mà thôi. Nguồn gốc của giá trị này đó là do:

    Sự cạnh tranh, các nhà tư bản có doanh nghiệp sản xuất cùng sản phẩm cùng thị trường ra vậy nên để có nên sự khác biệt, để cạnh trang với đối thủ của mình buộc các nhà tư bản phải tìm đến phương pháp mới và phương pháp đó chính xác là công nghệ mới mà các doanh nghiệp kia chưa có.

    Căn bản của giá trị thặng dư chính là tạo ra sản phẩm có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội. Mà để giá trị cá biệt là giá trị riêng do 1 người tạo ra còn giá trị xã hội là giá trị do nhiều người cùng tạo ra, và để làm được điều đó thì đồng nghĩa bạn phải khiến cho 1 người lao động làm sao đó có thể tự tạo ra được 1 hàng hóa và đó chính là thông quá sự hỗ trợ của công nghệ mới/

    Ví dụ:

    Để làm 1 cái áo sơ mi thì thường các doanh nghiệp sẽ có nhiều khâu do nhiều người đảm nhận như cổ áo do 1 người làm, tay áo do 1 người làm và vạt áo do 1 người làm, rồi ráp lại các bộ phận khác thì của 1 người khác. Vậy thì nhà tư bản sẽ đưa công nghệ mới vào đó, giờ đây công nghệ mới sẽ chỉ cần 2 người để hoàn thiện chiếc áo mà không cần đến 5 người như trước đây. Như vậy là họ đã tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch cho doanh nghiệp của mình.

    Đặc điểm giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời

    Chắc rất nhiều người thắc mắc tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời ?

    Thì đây sẽ là giải đáp chính xác nhất cho mọi người, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ xuất hiện nhanh chóng và cũng nhanh chóng mất bị hay nói cụ thể hơn là thay thế. Bởi thị trường kinh tế hiện nay là cạnh tranh, nếu như doanh nghiệp của bản áp dụng dây chuyển sản xuất như vậy đem lại lợi nhuận cao thì ngay sau đó các doanh nghiệp khác cũng sẽ áp dụng cho mình để tạo ra giá trị riêng cho hàng hóa của mình.

    Với thị trường luôn luôn thay đổi như vậy thì hàng hóa phải có sự khác biệt, sự khác biệt đó sẽ đưa đến lợi nhuận khủng hơn những sản phẩm khác. Nên sớm muộn gì cũng phải áp dụng giá phương pháp công nghệ khác để tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của GTTD tương đối

    Giá trị thặng du tương đối – GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.

    So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch với GTTD tương đối

    Với giá trị thặng dư siêu ngạch:

    • Được tạo ra hay nói rõ nguồn gốc là do tăng năng suất lao động cá biệt
    • Do nhà tư bán cá biệt thu được
    • Là phần giá trị thặng dư dôi thêm do doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất, hỗ trợ người lao động giúp cho người lao động tạo ra năng suất lao động
    • Tuy là hiện tượng tạm thời nhưng lại xuất hiện nhiều trong xã hội

    Còn đối với giá trị thặng dư tương đối thì

    • Do doanh nghiệp do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện thời gian lao động của ngày lao động không đổi, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư.
    • Để tạo ra giá trị thặng dư tương đối thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động.

    Như vậy thì giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối bởi có nguồn gốc đều như nhau và giá trị thặng dư siêu ngạch là do áp dụng công nghệ mà áp dụng công nghệ cũng chỉ để rút ngắn thời gian lao động của công nhân nhưng vẫn tạo ra nhiều sản phẩm mà thôi. Hay nói cách khác là giá trị thặng dự siêu ngạch chính là 1 biện pháp để tạo ra giá trị thăng dư tương đối.

    Biện pháp để có giá trị thặng dư siêu ngạch

    Như đã đề cập ở trên rất nhiều là giá trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra là do áp dụng công nghệ mới vào sản xuất mới hơn các doanh nghiệp khác. Vậy nên cốt lõi ở đây chính là công nghê, biện pháp tạo ra giá trị chính là sử dụng công nghệ, tuy nhiên không phải công nghệ nào áp dụng cũng tạo ra được gúa trị thặng dư siêu ngạch.

    Để ứng dụng được công nghệ vào tạo giá trị thặng dư thì chủ doanh nghiệp nên tính toán kỹ, nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này.

    • Liệu rằng công nghệ mới được áp dụng vào thì tạo giá trị như thế nào so với hình thức công nghệ cũ trước đây.
    • Tính toán chính xác là việc áp dụng công nghệ mới vào có đem lại hiệu quả kinh tế/ lợi nhuận cao hơn so với hình thức sử dụng hiện tại hay không
    • Lựa chọn công nghệ mới nên nắm bắt nên chọn loại nào, phục vụ mục đích nào lưu ý chỉ dùng công nghệ ở khâu nào nhiều việc nhất, công nhân làm mất nhiều thời gian nhất là được.
    • Đừng nên áp dụng công nghệ như một con nghiện, cứ thấy công nghệ mới là áp dụng ngay mà không biết liệu có phù hợp hay không

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Samsung A11: Smartphone Sở Hữu Thiết Kế Vẻ Ngoài Cao Cấp
  • Đánh Giá Điện Thoại Samsung Galaxy A7 (2018)
  • Điện Thoại Di Động Samsung Galaxy A31
  • So Sánh Điện Thoại Samsung A51 Với Redmi Note 8
  • So Sánh Samsung Galaxy A51 Và Galaxy A50
  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?
  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản
  • Đừng Tự Hại Mình Với Phương Pháp Vi Kim Tảo Biển
  • Vi Kim Tảo Biển Là Gì? Có An Toàn Không? Quy Trình Thực Hiện?
  • Lịch Sử Phương Pháp Wyckoff
  • Khái niệm

    Phương pháp vốn cổ phần trong tiếng Anh là Equity Method.

    Phương pháp vốn cổ phần là một kĩ thuật kế toán được sử dụng bởi một công ty để ghi lại lợi nhuận kiếm được thông qua khoản đầu tư vào một công ty khác. Với phương pháp kế toán vốn chủ sở hữu, công ty đầu tư báo cáo doanh thu mà công ty nhận đầu tư kiếm được trên báo cáo thu nhập của mình, theo tỉ lệ tương ứng với khoản đầu tư vốn vào công ty nhận đầu tư.

    Hiểu về phương pháp vốn cổ phần

    Phương pháp vốn cổ phần là kĩ thuật tiêu chuẩn được sử dụng khi công ty đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến công ty nhận đầu tư. Khi một công ty nắm giữ khoảng 20% đến 50% cổ phiếu của công ty khác, nó được coi là có ảnh hưởng đáng kể. Các công ty có cổ phần dưới 20% trong một công ty khác cũng có thể có ảnh hưởng đáng kể, trong trường hợp đó họ cũng cần sử dụng phương pháp vốn cổ phần.

    Ảnh hưởng đáng kể được định nghĩa là quyền tham gia của công ty đầu tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và chính sách hoạt động của bên được đầu tư nhưng không kiểm soát hoặc đồng kiểm soát các chính sách đó. Quyền lực này bao gồm đại diện trong ban giám đốc, tham gia xây dựng chính sách và trao đổi nhân sự quản lí.

    Cách ghi doanh thu và thay đổi tài sản theo phương pháp vốn cổ phần

    Phương pháp vốn cổ phần thừa nhận mối quan hệ kinh tế tồn tại giữa hai chủ thể. Công ty đầu tư ghi lại phần thu nhập của công ty nhận đầu tư dưới dạng doanh thu từ đầu tư trên báo cáo thu nhập. Ví dụ: nếu một công ty sở hữu 25% công ty khác có thu nhập ròng 1 triệu đô la, công ty báo cáo thu nhập từ đầu tư 250.000 đô la theo phương pháp vốn cổ phần.

    Khi công ty đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động và tài chính của công ty nhận đầu tư, nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đầu tư của công ty đầu tư. Công ty đầu tư ghi nhận khoản đầu tư ban đầu vào cổ phiếu của công ty thứ hai như một tài sản với giá gốc. Theo phương pháp vốn cổ phần, giá trị của khoản đầu tư được điều chỉnh định kì để phản ánh các thay đổi về giá trị. Điều chỉnh cũng được thực hiện khi cổ tức được chi trả cho các cổ đông.

    Sử dụng phương pháp vốn cổ phần, một công ty báo cáo giá trị sổ sách của khoản đầu tư độc lập với bất kì thay đổi giá trị nào trên thị trường. Với ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách điều hành và tài chính của một công ty khác, công ty đầu tư đang đặt cơ sở giá trị đầu tư của mình vào những thay đổi về giá trị tài sản ròng của công ty đó từ hoạt động kinh doanh, tài chính và kết quả hoạt động. Ví dụ, khi công ty được đầu tư báo cáo lỗ ròng, công ty đầu tư ghi lại phần lỗ của họ là “khoản lỗ đầu tư” trên báo cáo thu nhập, điều này cũng làm giảm giá trị đầu tư trên bảng cân đối kế toán.

    Khi công ty được đầu tư trả cổ tức bằng tiền mặt, giá trị tài sản ròng của nó sẽ giảm. Sử dụng phương pháp vốn cổ phần, công ty đầu tư nhận cổ tức ghi nhận sự gia tăng số dư tiền mặt của mình, nhưng trong khi đó, báo cáo giảm giá trị sổ sách của khoản đầu tư. Các hoạt động tài chính khác ảnh hưởng đến giá trị tài sản ròng của công ty nhận đầu tư sẽ có tác động tương tự đến giá trị cổ phần đầu tư của công ty đầu tư.

    Ví dụ về Phương pháp vốn cổ phần

    Ví dụ: giả sử công ty ABC mua 25% của công ty XYZ với giá 200.000 đô la. Vào cuối năm đầu tiên, XYZ Corp báo cáo thu nhập ròng 50.000 đô la và trả cổ tức 10.000 đô la cho các cổ đông. Tại thời điểm mua, công ty ABC ghi nợ với số tiền 200.000 đô la vào khoản “Đầu tư vào XYZ” trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản tiền mặt.

    Cuối năm, công ty ABC ghi nợ với số tiền 12.500 đô la (25% của khoản thu nhập ròng 50.000 đô la) vào khoản “Đầu tư vào XYZ” trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản doanh thu đầu tư. Ngoài ra, công ty ABC ghi nợ số tiền 2.500 đô la (25% từ khoản chia cổ tức 10.000 đô la) vào khoản tiền mặt trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản “Đầu tư vào XYZ”. Ghi nợ cho khoản đầu tư làm tăng giá trị tài sản, trong khi ghi có cho khoản đầu tư làm giảm nó.

    Số dư mới trong tài khoản “Đầu tư vào XYZ” là 210.000 đô la. Doanh thu đầu tư 12.500 đô la sẽ xuất hiện trên báo cáo thu nhập của ABC. Số dư 210.000 đô la mới trong tài khoản đầu tư sẽ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán của ABC. Khoản tiền mặt 197.500 đô la được thanh toán trong năm (mua 200.000 đô la – nhận cổ tức 2.500 đô la) sẽ xuất hiện trong dòng tiền từ phần hoạt động đầu tư của báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    (Theo Investopedia)

    Lê Huy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học
  • Tính Điện Trở Qua Phương Pháp Vẽ Lại Mạch Điện Cực Hay
  • Cách Uốn Ống Đồng Không Bị Bẹp
  • Phương Pháp Qui Nạp Ngược (Backward Induction) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Qui Nạp Ngược

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 11 Bài 1: Phương Pháp Quy Nạp Toán Học (Nâng Cao)
  • Phương Pháp Cm Quy Nạp Cực Kỳ Dễ Chungmingquynap08 Doc
  • Cm Quy Nạp Toán Học Phuong Phap Cm Quy Nap Doc
  • Chuyên Đề Quy Nạp Toán Học
  • Phương Pháp Quy Nạp Toán Học
  • Khái niệm

    Phương pháp qui nạp ngược trong tiếng Anh là Backward Induction.

    Phương pháp qui nạp ngược trong lí thuyết trò chơi là một quá trình lặp đi lặp lại của lí luận ngược thời gian từ khi kết thúc một vấn đề hoặc tình huống để giải quyết các khuôn mẫu phổ thông hữu hạn và những trò chơi tuần tự để đưa ra một chuỗi các hành động tối ưu.

    Ở mỗi giai đoạn của trò chơi, phương pháp qui nạp ngược quyết định chiến lược tối ưu của người chơi thực hiện bước cuối cùng trong trò chơi. Sau đó, hành động tối ưu của người chơi tiếp theo được xác định, thực hiện hành động của người chơi cuối cùng như đã đưa ra.

    Quá trình này tiếp tục về phía sau cho đến khi hành động tốt nhất cho mọi thời điểm đã được xác định. Thực tế, người ta xác định trạng thái cân bằng Nash của mỗi trò chơi con trong trò chơi gốc.

    Tuy nhiên, kết quả suy ra từ phương pháp qui nạp ngược thường không dự đoán được lối chơi thực tế của con người. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng hành vi “hợp lí” (theo dự đoán của lí thuyết trò chơi) hiếm khi được thể hiện trong cuộc sống thực. Người chơi phi lí thực sự có thể kết thúc việc nhận thưởng phạt cao hơn so với dự đoán của phương pháp qui nạp ngược, như minh họa trong Trò chơi con rết.

    Ví dụ về phương pháp qui nạp ngược

    Ví dụ, giả sử người chơi A đi trước và phải quyết định xem anh ta có nên “lấy” hay “bỏ qua” thứ được cất giấu, số tiền hiện tại là 2 đô la. Nếu anh ta lấy, thì A và B nhận được 1 đô la cho mỗi người, nhưng nếu A bỏ qua, quyết định lấy hay bỏ qua bây giờ được đưa ra bởi người chơi B.

    Nếu B lấy, cô ấy nhận được 3 đô la (nghĩa là, trước đó là 2 đô la + 1 đô la) và A được 0 đô la. Nhưng nếu B bỏ qua, A sẽ quyết định lấy hay bỏ qua, và cứ thế. Nếu cả hai người chơi luôn chọn bỏ qua thì mỗi người sẽ nhận được số tiền thưởng là 100 đô la vào cuối trò chơi.

    Điểm hay của trò chơi là nếu cả A và B cùng hợp tác và tiếp tục bỏ qua cho đến khi kết thúc trò chơi thì họ sẽ nhận được khoản tiền thưởng tối đa 100 đô la mỗi người. Nhưng nếu họ không tin tưởng nhau và mong họ chọn “lấy” ngay tại cơ hội đầu tiên thì trạng thái cân bằng Nash dự đoán người chơi sẽ nhận được món tiền thấp nhất có thể (1 đô la trong trường hợp này).

    Điểm cân bằng Nash trong trò chơi này là nơi không có người chơi nào có động cơ đi chệch khỏi chiến lược đã chọn của mình sau khi xem xét lựa chọn của đối thủ, cho thấy người chơi đầu tiên sẽ tham gia vào vòng đầu tiên của trò chơi. Tuy nhiên, trong thực tế, tương đối ít người chơi làm như vậy. Kết quả là, họ nhận được lượng tiền cao hơn lượng tiền dự đoán theo phân tích cân bằng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thức Trình Bày Đoạn Văn: Diễn Dịch
  • Phương Pháp Chứng Minh Quy Nạp
  • Một Số Biện Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ 3 Tuổi
  • Tiêm Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu Prp Có Tác Dụng Gì? Chi Phí Giá Tiêm Khoảng Bao Nhiêu?
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Tiêm Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu (Prp) Điều Trị Thoái Hóa Khớp Gối Tại Vinmec
  • Nói Quá Là Gì, Ví Dụ Biện Pháp Nói Quá Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Tự Tìm Hiểu Về Pháp Luân Công
  • Giáo Sư Nguyễn Lân Dũng Nói Gì Về Pháp Luân Công
  • Tìm Hiểu Nhanh Pháp Luân Công Qua 10 Câu Hỏi
  • Pháp Luân Công Ninh Bình, Hỗ Trợ Học Pháp Luân Công
  • Tìm Hiểu Pháp Lý Dự Án Kiến Thức Được Tổng Hợp Chi Tiết 2022
  • Trong các tác phẩm văn học hoặc trong đời sống ngày chắc chắn chúng ta thường bắt gặp việc sử dụng nói quá. Vậy nói quá là gì? tác dụng của biện pháp nói và các ví dụ về biện pháp tu từ này. Thông tin bài học hôm nay sẽ được chuyển tải ngay bên dưới.

    Nói quá là gì?

    Trên mạng có rất nhiều khái niệm về nói quá, về cơ bản tất cả đều đúng nhưng nên dựa vào SGK có tính chuẩn xác cao nhất. Theo SGK Văn 8 nói quá là một biện pháp tu từ nhằm phóng đại mức độ, quy mô, tính chất sự việc, hiện thường với mục đích chính là tạo ấn tượng, tạo điểm nhấn, tăng sức biểu cảm cho diễn đạt.

    Tác dụng của biện pháp nói quá

    Nói quá là phép tu từ thường dùng nhằm tạo ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    Nói quá sử dụng trong khẩu ngữ hàng ngày như lo sốt vó, buồn nẫu ruột, tức sôi máu, vắt chân lên cổ, mệt đứt hơi…

    Không chỉ vậy phép tu từ nói quá còn dùng trong các tác phẩm văn học cụ thể như các bài ca dao, châm biếm, anh hùng ca.

    Bài toán khó quá nghĩ nát óc mà không ra.

    Tây Thi có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

    Gần tới kì thi cuối kỳ, Nam lo sốt vó.

    Bị điểm kém, Hà khóc như mưa.

    “khóc như mưa” phép nói quá diễn tả khóc nhiều.

    Phân biệt nói quá và nói khoác

    Học sinh cần phân biệt rõ ràng giữa nói quá và nói khoác tránh nhầm lẫn khi sử dụng trong đời sống cũng như khi diễn đạt trong các bài tập làm văn.

    Nói quá: nói đúng sự thật (tích cực), là biện pháp cường điệu tạo ấn tượng, tăng biểu cảm.

    Nói khoác: nói sai sự thật (tiêu cực), mục đích khoe khoang là chính. Không những không có giá trị biểu cảm mà còn khiến người khác có thể hiểu nhầm, sai ý nghĩa.

    Như vậy, sau bài này học các em cần phải hiểu nói quá là gì? tác dụng và đưa ra được các ví dụ minh họa. Có như vậy mới sử dụng đúng cách và chuẩn xác nhằm tăng biểu cảm cho diễn đạt.

    Hướng dẫn soạn bài Nói quá

    I. Nói quá và tác dụng

    1. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối

    Với câu “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.

    2. Khi nói như vậy sẽ diễn tả cường điệu sự vật quá mức bình thường mục đích sẽ nhấn mạnh sự việc, hiện tượng đó. Như vậy sự vật hiện tượng không bị phóng đại quá mức nhưng vẫn có mục đích nhấn mạnh.

    II. Luyện tập

    1. a. Nói quá về sức người, nhưng rất đúng : bàn tay con người có thể biến sỏi đá thành cơm.

    b. Nhấn mạnh dù vết thương có đau vẫn có thể đi bất cứ đâu – đi lên đến tận chân trời.

    c. Nói quá về lời nói của con người của con người có quyền hành, sức mạnh mỗi lời nói ra là người khác phải nghe theo. “Thét ra lửa” nói về nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo.

    2. a. Ở nơi mà chó ăn đá gà ăn sỏi đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b. Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.

    c. Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.

    d, e Các em tự làm.

    3. Đặt câu có sẵn về nói quá:

    – Thúy Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.

    – Sơn Tinh thưở xưa dời non lấp biển.

    – Những chiến sĩ mình đồng da sắt.

    – Nghĩ đã nát óc mà vẫn chưa hiểu bài toán này.

    4. Tìm ra 5 thành ngữ có sử dụng biện pháp nói quá trong câu.

    – Khỏe như voi.

    – Nhanh như cắt.

    – Ngủ như heo

    – Hiền như đất.

    – Chậm như rùa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Thể Lực Nhanh Nhất Với 7 Bài Tập Đơn Giản Tại Nhà!
  • Chia Sẻ Bài Tập Tăng Cường Thể Lực Tại Nhà
  • Kế Hoạch Hưởng Ứng, Tham Gia Cuộc Thi “tìm Hiểu Pháp Luật Trực Tuyến” Năm 2022
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Pháp Luật Trên Internet “cùng Chung Tay Đẩy Lùi Dịch Covid
  • 10 Kênh Bán Hàng Online Uy Tín & Hiệu Quả Nhất 2022 (Miễn Phí)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100