Top 9 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Nghiên Cứu Chuyên Gia Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học

Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Xứu Khoa Học Trong Y Học, Phương Pháp Thống Kê Trong Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Đề Tài Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Câu Hỏi ôn Thi Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Thi Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, ôn Tập Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Một Số Vấn Đề Và Phương Pháp Học Tập Và Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương ôn Tập Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Mẫu, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Tmu, Đề Tài Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục, Đề Tài Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thu Hoạch Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Du Lịch, Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Học, Bài Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Thi Trắc Nghiệm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pdf, Trac Nghiem Phuong Phap Nghien Cuu Khoa Hoc, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản Dành Cho Bác Sĩ Lâm Sàng, Bài Thảo Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thuyết Trình Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Trắc Nghiệm Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thảo Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc, Báo Cáo Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Filetype Pdf, Tài Liệu Tham Khảo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, Tài Liệu Tham Khảo Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Trắc Nghiệm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học Ngành May, Phương Pháp Ngang Trong Nghiên Cứu Nhân Trắc Học May Mặc, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vượng, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Uu Nhuoc Diem Cua Phuong Phap Nghiên Cuu Trong Nhan Trac Hoc May Mac, ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vuọng, ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học Nghành May, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc May Mặc, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc May Mặc, Phân Tích Uwu Nhược Điểm Của Các Phuong Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học, Phân Tích ưu,nhược Điểm Của Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc , Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học N Gành May, Chuyên Đề 8 Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm ứng Dụng Trong Giáo Dục Mầm Non, Phân Tích ưu, Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học, Phương Pháp Chuyên Gia Trong Dạy Học, ưu Điểm, Nhược Điểm Của Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc , Chuyên Đề Phương Pháp Tọa Độ Trong Không Gian, Chuyên Đề 7 Phương Pháp Tọa Độ Trong Không Gian, Nghiên Cứu ứng Dụng Các Phương Pháp Oxy Hóa Tiên Tiến Trong Xử Lý Nước Thải Chứa Các Hợp Chất Hữu Cơ, Nghiên Cứu ứng Dụng Các Phương Pháp Oxy Hóa Tiên Tiến Trong Xử Lý Nước Thải Có Chứa Các Hợp Chất Hữu, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học Pdf, Tài Liệu Học Tập, Nghiên Cứu Chuyên Đề Của Sĩ Quan, Chuyên Đề Pháp Luật Năm 2020, Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý Học Hoàng Mộc Lan, Đề Thi Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Các Phương Pháp Nghiên Cuwud Tâm Lý Học – Hoàng Mộc Lan, Các Phương Pháp Nghiên Cứu Nhân Trắc Học May Mặc, Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Phương Pháp Nghiên Cứu, Phương Pháp Nghiên Cứu Năng Lực Cạnh Tranh, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Nghiên Cứu Và Bào Chế Liposome Bằng Phương Pháp Pha Loãng Ethanol, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Dược Liệu, Nghiên Cứu, ứng Dụng Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn Vào Kiểm Tra Độ Bền Của Dàn Boong Chính Tàu, Phân Tích Phương Pháp Nghiên Cưu Nhân Trắc Học Ngành May, Mẫu Chuyên Đề Nghiên Cứu Khoa Học, Phương án Điều Tra Nghiên Cứu Khoa Học Và Phát Triển Công Nghệ, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong , Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Khoa Học, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Y Học, Phương Pháp Tự Nghiên Cứu Học Tập Để Không Ngừng Nâng Cao Trình Độ Kiến Thức Cho Cán Bộ Đảng Viên, Trích Dẫn Trong Nghiên Cứu Khoa Học,

Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Xứu Khoa Học Trong Y Học, Phương Pháp Thống Kê Trong Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Đề Tài Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Câu Hỏi ôn Thi Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Thi Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, ôn Tập Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Một Số Vấn Đề Và Phương Pháp Học Tập Và Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương ôn Tập Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Mẫu, Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Tmu, Đề Tài Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục, Đề Tài Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thu Hoạch Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Du Lịch, Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Học, Bài Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Thi Trắc Nghiệm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pdf, Trac Nghiem Phuong Phap Nghien Cuu Khoa Hoc, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản Dành Cho Bác Sĩ Lâm Sàng, Bài Thảo Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thuyết Trình Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Trắc Nghiệm Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thảo Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Trắc Học May Mặc, Báo Cáo Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Filetype Pdf, Tài Liệu Tham Khảo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học,

Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính

Phương Nguyễn, ĐH Kinh Tế tp.HCM (7/2011)

NGUỒN: http://sotaynghiencuusinhvien.blogspot.com Khi phối hợp giữa hai phương pháp, nghiên cứu định tính cung cấp thông tin chỉ trên những trường hợp nghiên cứu cụ thể, và bất kỳ những kết luận tổng quát nào rút ra chỉ là các giả thuyết và nghiên cứu định lượng có thể được sử dụng để kiểm tra lại, những giả thuyết kia cái nào là đúng.

Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Phương pháp định lượng là phương pháp sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu để thu thập dữ liệu định lượng – thông tin có thể biểu hiện bằng các con số và bất cứ gì có thể đo lường được. Thống kê, bảng biểu và sơ đồ, thường được sử dụng để trình bày kết quả của phương pháp này.

Trong khoa học xã hội, nghiên cứu định lượng chỉ sự điều tra nghiên cứu theo lối kinh nghiệm có phương pháp của các đặc tính số lượng và các hiện tượng, mối quan hệ giữa chúng. Mục tiêu của nghiên cứu định lượng là phát triển và sử dụng các mô hình toán học, lý thuyết và/hoặc các giả thuyết gắn liền với hiện tượng. Cách thức tiến hành đo lường là trung tâm của nghiên cứu định lượng bởi vì nó cung cấp sự liên kết quan trọng giữa quan sát theo lối kinh nghiệm và biểu thức toán học của các mối quan hệ theo định lượng.

Những mối quan hệ và những tập hợp theo lối kinh nghiệm cũng thường được nghiên cứu bằng cách sử dụng một số loại hình thức của mô hình tuyến tính tổng quát, mô hình phi tuyến, hoặc sử dụng phân tích nhân tố. Một nguyên tắc nền tảng trong nghiên cứu định lượng là sự tương quan không ám chỉ đến nguyên nhân. Vì luôn có khả năng một mối quan hệ giả tạo tồn tại đối với các biến khi hiệp phương sai được tìm thấy ở mức độ nào đó.

    Phương pháp nghiên cứu định tính:

    Nghiên cứu định tính là phương pháp sử dụng các câu hỏi, hướng mục đích vào tập hợp sự hiểu biết sâu về hành vi con người và lý do chi phối hành vi đó. Phương pháp định tính thường hướng vào câu hỏi tại sao đưa ra quyết định và đưa ra bằng cách nào, chứ không chỉ là cái gì, khi nào và ở đâu. Do đó, mẫu nhỏ nhưng tập trung thì thường cần thiết hơn là mẫu lớn.

    Phương pháp định tính mang lại thông tin tập trung vào những trường hợp nghiên cứu cụ thể, và bất kỳ kết luận chung nào thì cũng là những thành phần chứ không phải toàn bộ. Phương pháp định tính có thể sử dụng để tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía kinh nghiệm cho giả thuyết nghiên cứu.

    Cách tiếp cận định tính có lợi thế là cho phép sự đa dạng hơn trong trả lời cũng như khả năng đáp ứng với những phát triển hoặc vấn đề mới trong quá trình nghiên cứu. Nghiên cứu định tính có thể tốn kém chi phí và thời gian, nhiều lĩnh vực nghiên cứu sử dụng kỹ thuật định tính được phát triển riêng biệt nhằm cung cấp kết quả cô đọng, hiệu quả về chi phí và thời gian hơn.

      Đánh giá hai phương pháp

      Trước tiên, trong nghiên cứu định tính, các trường hợp được lựa chọn có mục đích – chúng có điển hình cho các tính chất nào đó hoặc vị trí cụ thể nào đó hay không.

      Thứ hai, vai trò của nhà nghiên cứu định tính nhận nhiều chú ý, phê bình hơn. Đó là do vấn đề đạo đức, nhà nghiên cứu trong nghiên cứu định tính phải giữ vai trò trung lập. Do đó họ cần nêu rõ vai trò của mình trong quá trình nghiên cứu và trong phân tích.

      Thứ ba, trong khi phân tích dữ liệu định tính có thể bằng rất nhiều dạng, khác với nghiên cứu định lượng ở chỗ nó tập trung vào ngôn ngữ, dấu hiệu và ý nghĩa. Thêm vào đó, cách tiếp cận nghiên cứu định tính theo cách nhìn toàn cảnh và theo ngữ cảnh, hơn là thu nhỏ và tách biệt. Nhiều phương pháp định tính yêu cầu nhà nghiên cứu mã hóa dữ liệu cẩn thận, phân biệt và lưu trữ hồ sơ một cách nhất quán và đáng tin cậy.

      Thứ tư, nghiên cứu định tính cung cấp thông tin chỉ trên những trường hợp nghiên cứu cụ thể, và bất kỳ những kết luận tổng quát nào rút ra chỉ là các giả thuyết. Nghiên cứu định lượng có thể được sử dụng để kiểm tra lại, những giả thuyết kia cái nào là đúng.

        Nghiên cứu hỗn hợp

        Phương pháp nghiên cứu định tính xen lẫn định lượng được Đặng Phong sử dụng cho tác phẩm “Tư duy Kinh tế Việt Nam 1975 – 1989”.

        Ví dụ 1: Để chứng minh nhận định “Ngay từ năm 1977, đặc biệt là năm 1978, hàng loạt các sự kiện quốc tế, rồi thiên tai, địch họa… đã làm đảo lộn rất nhiều những dự kiến ban đầu của kế hoạch”, Đặng Phong đã sử dụng cách mô tả thực tế tình hình kinh tế những năm 1979-1980 với các sự kiện

         Chiến tranh biên giới Tây Nam

         Hai trận lũ lớn ở đồng bằng Nam Bộ

         Đầu vào từ các nước xã hôi chủ nghĩa giảm sút đột ngột

        Và dùng số liệu khối lượng nhập khẩu 1976-1980 bằng hiện vật, GDP 1977-1980, tổng sản phẩm trong nước 1975-1985, tranh ảnh biếm họa, số liệu từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản… để minh họa mức độ của các sự kiện đã ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội thời kỳ đó như thế nào.

        Thêm vào đó, phương pháp định tính thường hướng vào câu hỏi tại sao đưa ra quyết định và đưa ra bằng cách nào, chứ không chỉ là cái gì, khi nào và ở đâu, nghĩa là hiểu biết sâu về hành vi con người và lý do chi phối hành vi đó.

        Ví dụ 2: Với nhận định “cả phong cách sống, làm việc và tư duy của Lê Duẩn đã in dấu ấn đậm nét lên đường lối kinh tế, chính sách kinh tế và thực tiễn kinh tế của Việt Nam trong suốt một phần tư thế kỷ”, Đặng Phong đã:

         Hỏi người trong gia đình về thuở thiếu thời, Lê Duẩn như thế nào.

         Trong những năm tù ở Côn Đảo, ông đã thể hiện như một nhà lãnh tụ về tư tưởng ra sao thông qua lời kể của các bạn tù (Trần Văn Giàu, Bùi Công Trừng).

         Thời kỳ kháng chiến, các quyết định nào của ông thể hiện phong cách tư duy độc lập, sáng tạo.

         ….

Đtm Phương Pháp Chuyên Gia

Lời nói đầu 1 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường 3 I.1 Khái niệm 3 I.2 Cấu trúc báo cáo đánh giá tác động môi trường 3 I.3 Các phương pháp sử dụng 4 II. Phương pháp ý kiến chuyên gia 4 II.1 Định nghĩa 4 II.2 Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia 5 II.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 7 II.4 Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến 8 II.5 Ưu , nhược điểm 13 III. Kết luận chung 14 IV. Phương pháp Delphi 14 Tài liệu tham khảo 16

VIỆN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG ———————————– TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Đề Tài: PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đinh Bách Khoa Sinh viên thực hiện : Bùi Ngọc Hoàng – QLMT – K50 Vũ Văn Hùng – QLMT – K50 Nguyễn Đức Quang – CNMT – K50 Nguyễn Văn Chính – CNMT – K50 Hà Nội – 10 / 2008 Lời mở đầu Trong những năm gần đây, công chúng ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, đến phát triển bền vững và cải tiến phương thức quản lý phát triển sao cho hài hòa với lợi ích môi trường. Cùng với sự quan tâm đó là sự ra đời của các quy định luật pháp mới bao gồm các quy định của quốc gia và quốc tế nhằm cố gắng làm thay đổi mối quan hệ giữa môi trường và phát triển. Ðánh giá tác động môi trường là một ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó Đánh giá tác động môi trường (ĐTM ) ( Tiếng anh là : Environmental Impact Assessment (EIA) ) là căn cứ mang tính chất pháp lý bắt buộc của dự án phát triển . Theo quy định của luật bảo vệ môi trường thì ĐTM phải được thông qua thì dự án mới được cấp phép đầu tư. Đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích cân nhắc giữa môi trường và phát triển nhằm hạn chế tối đa các tác động có hại cho môi trường. Việc thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường sử dụng nhiều phương pháp khoa học kỹ thuật , kinh tế , kinh nghiêm v.v. Và phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để đánh giá , dự báo các vấn đề trong báo cáo là một trong các phương pháp được áp dụng. Do nguồn tài liệu hạn chế nên bài tiểu luận không tránh khỏi sự thiếu sót rất mong được sự đóng góp của thầy và các bạn . Xin chân thành cám ơn! Tiểu luận được hoàn thành với sự đóng góp của cả nhóm . Lời nói đầu 1 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường 3 I.1 Khái niệm 3 I.2 Cấu trúc báo cáo đánh giá tác động môi trường 3 I.3 Các phương pháp sử dụng 4 II. Phương pháp ý kiến chuyên gia 4 II.1 Định nghĩa 4 II.2 Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia 5 II.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 7 II.4 Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến 8 II.5 Ưu , nhược điểm 13 III. Kết luận chung 14 IV. Phương pháp Delphi 14 Tài liệu tham khảo 16 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường I.1 Khái niệm Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường. Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội ở đây có loại mang tính kinh tế – xã hội của quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương trình quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế – xã hội vi mô như đề án xây dựng công trình xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô. Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nào. ( I.2 Cấu trúc của báo cáo đánh giá tác động môi trường Tuy luật các nước có những đòi hỏi chi tiết hơi khác nhau về ĐTM , nhưng những điểm chính thì không có gì khác biệt và đều có những phần sau đây:    – Dự án và những lựa chọn: Mục đích, các chi tiết kỹ thuật cụ thể của công trình (chẳng hạn nếu là nhà máy thì sẽ có những bộ phận gì, dùng vật liệu gì, tiêu bao nhiêu năng lượng, dùng bao nhiêu công nhân, mặt bàn ra sao, v.v.). Ngoài ra, cần cho biết những lựa chọn khác (alternatives) và so sánh chúng với dự án hiện tại. Những so sánh này cần phải khách quan và khoa học chứ không được “một chiều” theo kiểu luật sư bào chữa cho thân chủ.   – Khung cảnh môi trường nền của dự án: tả rõ môi trường có thể bị ảnh hưởng. Đây không phải chỉ là môi trường thiên nhiên mà còn cả môi trường con người: cảnh quan, văn hóa, di tích lịch sử, xã hội (đời sống xã hội của dân chúng, giải trí), kinh tế (công ăn việc làm, lợi tức cho địa phương và toàn quốc).   - Những biện pháp chủ dự án sẽ dùng để khắc phục hay giảm tới mức tối thiểu những tác động xấu của dự án.     - Kết luận – tóm tắt các điểm chính để chứng minh rằng tác động lợi nhiều hơn là hại. I.3 Các phương pháp thường sử dụng trong lập báo cáo ĐTM Hiện nay có rất nhiều phương pháp sử dụng rong đánh giá tác động môi trường , nhưng người ta sử dụng các phương pháp sau : Phương pháp liệt kê Phương pháp ma trận Phương pháp chập bản đồ Phương pháp sơ đồ mạng Phương pháp mô hình hoá Phương pháp chuyên gia Phươnh pháp sử dụng hệ thống thong tin địa lý II. Phương pháp ý kiến chuyên gia đánh giá tác động môi trường II.1 Định nghĩa Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa học – kỹ thuật hoặc sản xuất. Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành ba giai đoạn lớn: Lựa chọn chuyên gia; Trưng cầu ý kiến chuyên gia; Thu thập và xử lý các đánh giá dự báo. Chuyên gia giỏi là người thấy rõ nhất những mâu thuẫn và những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời về mặt tâm lý họ luôn luôn hướng về tương lai để giải quyết những vấn đề đó dựa trên những hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm sản xuất phong phú và linh cảm nghề nghiệp nhạy bén. Phương pháp chuyên gia dựa trên cơ sở đánh giá tổng kết kinh nghiệm, khả năng phản ánh tương lai một cách tự nhiên của các chuyên gia giỏi và xử lý thống kê các câu trả lời một cách khoa học. Nhiệm vụ của phương pháp là đưa ra những dự báo khách quan về tương lai phát triển của khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất dựa trên việc xử lý có hệ thống các đánh giá dự báo của các chuyên gia. ( ThS. Nguyễn Quốc Tòng. ( ) Phương pháp chuyên gia là phương pháp tổng hợp nhiều phương pháp mang tính kinh nghiệm cao của các chuyên gia II.2. Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia, kết hợp: II.2.1. Cơ cấu nhóm chuyên gia: Khi đánh giá ,dự báo bằng phương pháp chuyên gia, chúng ta cần thành lập nhóm chuyên gia, chủ yếu có 2 nhóm sau đây: a) Nhóm chuyên gia thường trực: Thành phần nhóm này, thực chất là chủ nhiệm đề tài (hoặc chuyên đề đang nghiên cứu) gồm từ nhóm người cùng phối hợp tham gia, trong đó có 1 chuyên gia chủ trí xây dựng đề cương nghiên cứu và phương pháp luận của đề tài về các vấn đề về môi trường và phát triển mà chủ đầu tư đã vạch ra trong dự án phát triển , quy hoạch , dự luật v.v.. Như vậy phải hình thành nhóm thường trực. b) Lập danh sách mời chuyên gia: Dựa trên các vấn đề chính của đối tượng của dự án nhóm chuyên gia thường trực đề xuất mời các chuyên gia tham gia đánh giá ,dự báo. Một vấn đề vô cùng quan trọng ở khâu này là xác định cho được vấn đề trong số chuyên gia trong tất cả các lĩnh vực cần tham khảo ý kiến chuyên gia là tỷ lệ số chuyên gia cũng như số lượng chuyên gia là bao nhiêu. Nếu chúng ta không có cách tiếp cận đúng về vấn đề này thì khi mời chuyên gia và xử lý kết quả sẽ cho ta một kết quả “hội làng” và phản ánh không đúng xu hướng đánh giá của dự án . Nguồn lao động (nhu cầu) Môi trường tự nhiên , môi trường vật lý , môi trường xã hội Vị trí địa lý , địa hình , khí hậu. Tài nguyên , hệ sinh thái Lịch sử phát triển các vấn đề tương tự .v.v. II.2.3. Xây dựng biểu câu hỏi lấy ý kiến chuyên gia: Khi ta có được các phương án, xác định được các vấn đề của đối tượng đánh giá , dự báo, chúng ta có cơ sở đưa ra những câu hỏi về mặt số lượng, đồng thời căn cứ vào yêu cầu đề ra cần soạn thảo thêm các câu hỏi nhằm thu được các thông tin đánh giá về mặt chất lượng và quan hệ. Các câu hỏi luôn phải xoay quanh trọng tâm để có sự thống nhất và toàn diện. II.2.4. Cung cấp thông tin cần thiết cho các chuyên gia: II.2.5 Đánh giá năng lực chuyên gia: Điều rõ ràng là chất lượng đánh giá , dự báo phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên gia. Do đó có thể thông qua việc chuyên gia tự đánh giá mình để lựa chọn chuyên gia hoặc dùng bản tự khai, chúng ta đều có thể chọn lựa được chuyên gia. a) Phương pháp tự đánh giá mình (cho điểm): Ta lập thang điểm từ 0-1 và ghi sẵn các câu hỏi và để chuyên gia tự đánh giá vào các ô. Nhóm chuyên gia thường trực sẽ thu hồi phiếu và xử lý theo nguyên tắc 0 ≤ Ti ≤ 1 (Ti: trình độ chuyên gia). b) Phương pháp điền bản tự khai: Phương pháp này khác phương pháp cho điểm là xây dựng các tiêu chí đánh giá trình độ chuyên gia, dựa vào các câu hỏi để kiểm tra trình độ chuyên gia. Các câu hỏi của bản tự khai gồm các nhóm như sau: Nhóm thông tin về tuổi tác, nghề nghiệp, chuyên môn, kinh nghiệm công tác, sở trường sở đoán, v.v… Nhóm thông tin có tính phương án mà các chuyên gia phải lựa chọn trả lời. Nhóm thông tin nêu bật bản chất của vấn đề nghiên cứu. Hình thức câu hỏi bản tự khai, chúng ta có thể dùng các loại câu hỏi đóng, mở, trực tiếp hoặc gián tiếp… nhằm đa dạng thu thập thông tin và tìm giải pháp tối ưu để có số liệu xử lý theo ý muốn. II.2.6. Thành lập nhóm chuyên gia: Trong quá trình chọn chuyên gia, vấn đề xác định nhóm chuyên gia cần thiết của nhóm là vấn đề đóng vai trò quan trọng trong quá trình lựa chọn chuyên gia. Vì đánh giá của mỗi nhóm chuyên gia của mỗi nhóm vấn đề đều ảnh hưởng đến kết quả chung. Ngược lại khi tăng số lượng chuyên gia trong một nhóm có thể làm kết quả sai lệch. Ở đây chúng ta dùng phương pháp tính điểm Ti (trình độ trung bình của chuyên gia) để sắp xếp các danh sách chuyên gia theo thang điểm giảm dần. Như vậy, việc loại bỏ chuyên gia nào đều phụ thuộc vào hai yếu tố: Chi phí và mức độ tin cậy của vấn đề đánh giá ,dự báo. II.3. Phương pháp trưng cầu lấy ý kiến chuyên gia: II.3.1. Phương pháp trưng cầu: Đây là giai đoạn quan trọng của phương pháp. Chúng ta có 2 cách tiếp cận để trưng cầu chuyên gia: Trưng cầu theo nhóm và cá nhân. Trưng cầu có mặt và vắng mặt. SƠ ĐỒ TRƯNG CẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA II.3.2. Các hình thức tổ chức trưng cầu lấy ý kiến chuyên gia: Ta có các cách để áp dụng sau đây: a) Phương pháp não công: Dựa trên nguyên tắc là thu được các ý tưởng mới, một quyết định về vấn đề nào đó mang tính sáng tạo của tập thể hoặc một nhóm người. Nhiệm vụ chính của phương pháp tấn công não là: Đề xuất tư tưởng mới. Phân tích và đánh giá tư tưởng đã nêu. b) Phỏng vấn: là hình thức trưng cầu mà các nhà phân tích đặt ra các câu hỏi cho các chuyên gia đánh giá theo một chương trình đã định trước. c) Hội thảo. d) Hội nghị. II.4. Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến chuyên gia: Đây là giai đoạn cuối và rất quan trọng trong quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia. Chúng ta phải giải quyết 2 vấn đề khi xử lý ý kiến chuyên gia: Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện ,thời gian xuất hiện sự kiện mới. Đánh giá tâm quan trọng tương đối giữa các sự kiện. II.4.1. Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện, thời gian xuất hiện sự kiện mới. Phân tích xử lý các ý kiến chuyên gia phải xác định được đại lượng đặc trưng cho ý kiến của nhóm, của tập thể chuyên gia và độ thống nhất ý kiến của họ. Để đánh giá được thời gian xuất hiện các sự kiện và quá trình kinh tế mới ta dùng trung bị và khoảng tứ phân vị. + Trung vị: Trong dự báo trung vị được xem như là giá trị của ý kiến đánh giá dự báo có tổng số những ý kiến đánh giá trước giá trị đó bằng tổng số những ý kiến đánh giá sau giá trị đó. + Khoảng tứ phân vị: Là khoảng chứa chừng 50% những đánh giá dự báo của tập thể chuyên gia nằm giữa khoảng 25% những đánh giá cao nhất và 25% những ý kiến đánh giá thấp nhất. Giá trị giới hạn trên (dưới) của khoảng tứ phân vị được gọi là số tứ phân vị trên (dưới) được minh họa như sau : 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 110 t0,25 t0,50 t0,75 Khoảng tứ phân vị – Cách tính trung vị: Trong đó: XMemin: Giá trị dưới của tổ chứa số trung vị dMe: Khoảng cách của tổ chứa số trung vị n: Tổng số chuyên giá chứa số trung vị F(Me-1): Tần số tích luỹ của tổ đứng trước tổ chứa số trung vị Ta có: F(Me-1) = ∑f(Me-1) fMe: Tần số của tổ chứa số trung vị + Công thức tính khoảng tứ phân vị: Trong đó: XMe’min, XMe”min: Giới hạn dưới của tổ chứa số tứ phân vị dưới và tứ phân vị trên. dMe’, dMe”: Khoảng cách của tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. (Me’-1), F(Me”-1): Tần số tích luỹ của tổ đứng trước tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. fMe’, fMe”: Tần số của tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. Ví dụ : Tham khảo ý kiến chuyên gia về sự xuất hiện vấn đề môi trường của dự án . Có 50 chuyên gia được hỏi. Kết quả như sau: Bảng 1. Kết quả ý kiến của các chuyên gia về thời gian xuất vấn đề môi trường Thời gian xuất hiện vấn đề môi trường Số chuyên gia đồng ý (Tần số) Tần số tích luỹ 1 – 2 năm 2 2 2 – 4 năm 4 6 4 – 6 năm 20 36 6-8 năm 17 43 8-10 năm 7 50 > 10 năm 0 50 – Xử lý ý kiến chuyên gia + Tính số trung vị để biết được số chuyên gia đồng ý và không đồng ý với năm sẽ xuất hiện vấn đề môi trường Số trung vị Thay số vào công thức trên ta có: Me = 4 + 2*(50/2 – 6)/20 = 5,9 năm Kết luận: Như vậy một nửa số chuyên gia được hỏi ý kiến cho rằng khoảng gần 6 năm nữa (5,9 năm) sẽ có vấn đề môi trường xảy ra từ khi dự án đựợc phê duyệt II.4.2. Đánh giá tầm quan trọng tương đối giữa các sự kiện: Để thực hiện mục tiêu tổng quát, phải thực hiện được mục tiêu con. Trong trường hợp cần phải đánh giá mục tiêu nào quan trọng hơn mục tiêu nào, ta phải tập trung vào mục tiêu ưu tiên, mũi nhọn. Ví dụ: Các mục tiêu kinh tế – xã hội gồm: Tốc độ tăng trưởng GDP; Công ăn việc làm; Nhu cầu tiêu dùng; Phân phối thu nhập; Đầu tư phát triển; V.v…. Khi sử dụng phương pháp chuyên gia để giải quyết vấn đề này, người ta thường dùng các chỉ tiêu: Giá trị điểm trung bình của từng mục tiêu (Cj); Hệ số nhất trí riêng (Wj); Hệ số nhất trí chung (W). Ta có công thức: Xác định điểm trung bình của các mục tiêu: (n: chuyên gia) (m: mục tiêu) Hệ số nhất trí riêng được xác định theo công thức: Hệ số nhất trí chung: (0 ≤ W ≤ 1) Trong đó: S: là tổng hạng của mục tiêu Ti: Hệ số năng lực Ví dụ : đánh giá của các chuyên gia về hoạt động phát triển như sau: . Bảng xếp hạng các yếu tố của các chuyên gia Chuyên gia Vốn Công nghệ Quản lý Lao động Tăng trưởng C1 3 1 2 4 5 C2 4,5 2 1 3 4,5 C3 1 2,5 2,5 4 5 C4 2 1 3 4,5 4,5 C5 1 2 3 4 5 C6 1 3,5 2 3,5 5 Tổng Sj 12,5 12 13,5 23 29 j 2,1 2 2,3 3,8 4,8 Để tính hệ số nhất trí chung ta lần lượt tiến hành các bước như sau: – Bước 1. Tính Tổng các hạng của mục tiêu (Sj), ghi ở cuối bảng – Bước 2. Tính hạng trung bình    – Bước 3. Tính tổng bình phương các độ lệch   S = (12,5-18)2 + (12-18)2 + (13,5-18)2 + (23-18)2 + (29-18)2 = 232,5 – Bước 4. Tính ΣTj = 138. L – Là số các nhóm có hạng bằng nhau; te – Là số lượng bằng nhau các hạng trong nhóm e T1 = (33 – 3) = 24; T2 = (23 – 2) + (23 – 2) = 12; T3 = (23 – 2) + (23 – 2) = 12; T4 = (33 – 3) = 24; T5 = (43 – 4) + (23 – 2) = 66 Bước 5. Tính hệ số nhất trí chung W = 1 : Hoàn toàn nhất trí với nhau về tất cả các mục tiêu. Nếu W< 0,75 phải điều chỉnh và đánh giá lại các ý kiến của chuyên gia. Thay số vào công thức trên, ta có: Tóm lại tổ chức dự báo bằng phương pháp chuyên gia tiến hành ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Dự báo các nhân tố theo phương pháp phỏng vấn cá nhân chuyên gia để hình thành các phương án dự báo theo các nhân tố. Giai đoạn 2: Tổ chức tấn công trí tuệ có thể theo phương pháp Delphi để hoàn chỉnh và lựa chọn các phương án dự báo nhân tố, các kịch bản xảy ra , lập phiếu lấy ý kiến tập thể chuyên gia. Giai đoạn 3: Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của tập thể chuyên gia về khả năng, mức độ hiện thực của từng phương án dự báo. II.5. Ưu nhược điểm của phương pháp chuyên gia II.5.1 Ưu điểm Thực ra, không có một phương pháp dự báo nào lại đóng vai trò “kép” như phương pháp chuyên gia. Có thể coi đây là phương pháp mang ½ là khoa học và ½ là nghệ thuật và là phương pháp ra đời sớm nhất và lâu đời nhất. Phương pháp chuyên gia đặc biệt thích hợp để dự báo trong trường hợp sau đây: Đối tượng dự báo thiếu thông tin, thiếu thống kê đầy đủ toàn diện và đáng tin cậy về hình thức biểu hiện trong thực tế của quy luật vận động của đối tượng đánh giá , dự báo trong quá khứ và hiện tại. Đối tượng dự báo thiếu hoặc không có cơ sở lý luận thực tiễn chắc chắn bảo đảm cho việc mô tả quy luật vận động của đối tượng bằng cách sử dụng các phương pháp giải thích thực nghiệm và mô hình toán học nói chung. Đối tượng dự báo có độ bất định lớn, độ tin cậy thấp về hình thức thể hiện, về chiều hướng biến thiên về phạm vi bao hàm cũng như quy mô và cơ cấu. Đối tượng dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, phần lớn là các nhân tố rất khó lượng hoá (như ví dụ trên) đặc biệt là các nhân tố thuộc về tâm lý xã hội (thị hiếu, thói quen, lối sống, đặc điểm dân cư…) hoặc tiến bộ kỹ thuật (phát minh và ứng dụng, “mốt” mới xuất hiện…). Vì vậy trong quá trình phát triển của mình đối tượng tự báo có nhiều đột biến về quy mô và cơ cấu mà nếu không nhờ đến tài nghệ của chuyên gia thì mọi sự mô phỏng trở nên vô nghĩa. Khi dự báo dài hạn và siêu dài hạn thì phương pháp chuyên gia đặc biệt phát huy ưu điểm của mình (các phương pháp khác không tính đến sự thay đổi lớn của phát minh, ứng dụng khoa học kỹ thuật). Phương pháp chuyên gia áp dụng tốt trong trường hợp xác định vấn đề xuất phát và các mục tiêu cơ bản của một chương trình nghiên cứu hoặc của đề tài lớn. Trong hoàn cảnh cấp bách với khoảng thời gian ngắn mà phải lựa chọn một phương án quan trọng, người ta cũng sử dụng phương pháp chuyên gia. Áp dụng đối tượng dự báo là hoàn toàn mới mẻ (ngành mới), không chịu ảnh hưởng của chuỗi số liệu lịch sử, mà chịu ảnh hưởng của phát minh khoa học. II.5.2. Nhược điểm Phương pháp chuyên gia khi sử dụng cần phải kết hợp với các phương pháp dự báo khác, để có thể lựa chọn phương án tối ưu làm kết quả. Mặt khác trong nhiều trường hợp người ta dùng phương pháp chuyên gia để biện luận – hiệu chỉnh kết quả các phương pháp dự báo khác. Nhược điểm vốn có của phương pháp chuyên gia là tính khách quan bị hạn chế. Các đánh giá thường bị các yếu tố tâm lý, bản lĩnh chuyên gia chi phối. Do đó một nguyên tắc bất di bất dịch trong quá trình trưng cầu phải dấu tên chuyên gia. Phương pháp chuyên gia đòi hỏi phải xây dựng cho kỳ được nhóm chuyên gia theo từng vấn đề của đối tượng dự báo (thoả mãn về cả yêu cầu số lượng, chất lượng, cơ cấu), thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cấp và từng địa bàn. III. Kết luận chung IV . Phương pháp Delphi 1. Định nghĩa Phương pháp Delphi là một trong các phương pháp chuyên gia . Phương pháp Delphi là phương pháp dự báo định tính theo đó ý kiến của các chuyên gia được kết hợp trong một loạt số lần lặp lại. Kết quả của mỗi lần lặp lại được sử dụng cho lần lặp tiếp theo để thu thập được ý kiến chung của các chuyên gia. Phương pháp này có thể áp dụng cho bất kỳ lĩnh vực nghề nghiệp nào. Nó là một kỹ thuật hỗ trợ nhóm đơn giản và “linh hoạt” dựa trên một “quy trình tương tác nhiều giai đoạn, thiết kế nhằm biến ý kiến thành sự đồng thuận nhóm” (Hasson, Keeney và McKenna, 2000). Trong tình huống quản lý nguồn lợi tự nhiên, nó cho phép nhiều yêu cầu cùng được cân nhắc như nhau và đưa ra ý kiến của nhà chuyên môn trong khi tiến tới sự thống nhất hơn (Taylor và Ryder, 2003). Trong trường hợp nghiên cứu về tương lai, nó được sử dụng như một công cụ để dự báo sự phát xuất hiện nhân tố mới . *. Cơ sở của phương pháp Delphi Phương pháp này là một sự áp dụng có hiệu quả sự giao thiệp theo nhóm giữa các chuyên gia ở khắp các nơi có sự khác nhau về mặt địa lý (Adler và Ziglio, 1996) . Kỹ thuật này cho phép các chuyên gia giải quyết được các vấn đề khó khăn hay những nhiệm vụ phức tạp một cách có hệ thống công bằng mà nói thì về cơ bản của phương pháp này là dễ hiểu. phương pháp này bao gồm một chuỗi nối tiếp các bản câu hỏi hoặc được gửi qua mail hoặc thông qua các hệ thống mà đã được máy tính hóa cho một nhóm mà các chuyên gia đã lựa chọn trước. Các bài toán được thiết kế để có thể suy luận ra và xây dựng các câu trả lời của từng cá nhân đối với các vấn đề đã được đặt ra và làm cho các chuyên gia có khả năng đánh giá sự giám sát của họ đối với tiến độ thực hiện công việc của nhóm phù hợp với nhiệm vụ được giao. Điểm chủ yếu của phương pháp ngày nó sẽ khắc phục được những khuyết điểm trong việc hoạt động của các ủy ban quy đưa ra các tiêu chuẩn. theo ông Fowles (1978), các thông tin phản hồi được kiểm soát, và câu trả lời được trình bày theo phương pháp thống kê là đặc điểm tiêu biểu của phương pháp delphi. Sự tương tác theo nhóm trong delphi là ẩn danh. Trong trường hợp đối với những lời bình, những lời dự đoán, và những đại thứ đại loại như vậy không xác nhận những người tạo ra chúng tuy nhiên chúng cũng được giải thích cho nhóm này theo một cách thức như thế này để giữ bí mật cho họ. 2. Các bước thực hiện Fowles (1978) mô tả mười bước sau cho phương pháp Delphi: “ Selection of one or more panels to participate in the exercise. Customarily, the panelists are experts in the area to be investigated.” ( Lựa chọn 1 hay nhiều nhóm chuyên gia tham gia vào việc đánh giá , dự báo . Thông thường các chuyên gia có mặt trong khu vực sẽ được mời tham gia) “Development of the first round Delphi questionnaire “:( xây dựng bản câu hỏi delphi tại vòng đầu tiên) Testing the questionnaire for proper wording (e.g., ambiguities, vagueness)”.( kiểm tra độ chính xác của từ trong câu hỏi (sự tối nghĩa, sự ang áng …)). Transmission of the first questionnaires to the panelists.( chuyển bản câu hỏi đầu tiên cho các thành viên Analysis of the first round responses (phân tích các câu trả lời của vòng đầu tiên) Preparation of the second round questionnaires (and possible testing) 🙁 . chuẩn bị các bản câu hỏi của vòng thứ hai( và kiểm tra các khả năng có thể xẩy ra)). Transmission of the second round questionnaires to the panelists (chuyển câu hỏi của vòng hai này cho các thành viên) . Analysis of the second round responses (Steps 7 to 9 are reiterated as long as desired or necessary to achieve stability in the results.) (phân tích các câu trả lời của vòng hai này ( bước 7 và bước 9 được lập lại cho đến khi có thể đạt được một sự ổn định trong các kết quả này) 10 .Preparation of a report by the analysis team to present the conclusions of the exercise(chuẩn bị một báo cáo được viết bởi đội phân tích này để đưa ra những kết luận của bài tập này.) Tài liệu tham khảo 1. 2. » 3. 4. www.moitruongxanh.info/diendan 5 www.monre.gov.vn/monreNet/Default.aspx?tabid=222&ItemID 6.Lê T hạc Cán và tập thể tác giả – Đánh giá tác động môi trường phương pháp luận và thực tiễn – NXB KHKT 1994 7. The Delphi Method: A qualitative means to a better future by Jared Bourgeois, Laura Pugmire, Keara Stevenson, Nathan Swanson, and Benjamin Swanson.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

ĐTM_Phương pháp chuyên gia.doc

Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học.

Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học MỤC LỤC Lời nói đầu 2 I. Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học 3 1. Phương pháp nghiên cứu khoa học 3 a. Khái niệm 3 b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học 4 2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học 6 3. Phân loại phương pháp 7 a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 7 b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 9 II. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể 10 1. Phương pháp phân tích và tổng hợp 10 2. Phương pháp quy nạp và diễn giải 12 3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 13 a. Phương pháp lịch sử 13 b. Phương pháp lôgíc 15 c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 17 Kế luận 19 Tài liệu tham khảo 20 LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà mọi thành tựu khoa học và công nghệ đều xuất hiện một cách hết sức mau lẹ và cũng được đổi mới một cách cực kỳ nhanh chóng. Ngày nay nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất thời đại. Bộ máy nghiên cứu khoa học đã trở thành khổng lồ, nó đang nghiên cứu tất cả các góc cạnh của thế giới. Các thành tựu nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khoa học đã làm đảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, nó làm cho sức sản xuất xã hội tăng lên hàng trăm lần so với vài thập niên gần đây. Về phần mình, bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa học. Một mặt, phải tổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý thuyết về quá trình sáng tạo khoa học; mặt khác, phải tìm ra được các biện pháp tổ chức, quản lý và nghiên cứu khoa học tốt hơn làm cho bộ máy khoa học vốn đã mạnh, lại phát triển mạnh hơn và đi đúng quỹ đạo hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên, nhà tương lai học Thierry Gaudin đã đưa ra một thông điệp khẩn thiết: “ Hãy học phương pháp chứ đừng học dữ liệu!”. Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người cả những hiểu biết về phương pháp nhận thức thế giới. Chính vì vậy mà phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới.Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên cần thiết nhằm giúp cho công tác nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả hơn, phát triển mạnh mẽ hơn. Đó cũng chính là vấn đề tôi xin được trình bày trong bài viết này: “Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học.” I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Phương pháp nghiên cứu khoa học a. Khái niệm Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì? Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học.Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp. Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo. b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng. ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng. ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới. Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu. Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng. Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức. Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao. 2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới. Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới. Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng. Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp. 3. Phân loại phương pháp Căn cứ vào mức độ cụ thể của phương pháp, các phương pháp nghiên cứu chung trước hết được phân chia thành hai loại: Các phương pháp tổng quát và các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Có nhiều phương pháp nghiên cứu tổng quát ( khái quát, trừu tượng) khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm của quá trình tư duy, phương pháp tổng quát được chia thành các phương pháp như : phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, lôgic-lịch sử, hệ thống-cấu trúc… Nếu căn cứ vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, sự khác nhau của những lao động cụ thể trong nghiên cứu khoa học, phương pháp tổng quát được chia thành loại phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết. a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Loại phương pháp này bao gồm các phương pháp quan sát, thí nghiệm thực nghiệm. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ của sự vật, hiện tượng riêng lẻ xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó nhờ khả năng thụ cảm của các giác quan, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát trìu tượng hoá. Thực nghiệm, thí nghiệm là việc người nghiên cứu khoa học sử dụng các phương tiện vật chất tác động lên đối tượng nghiên cứu nhằm kiểm chứng các giả thiết, lý thuyết khoa học, chính xác hoá, bổ sung chỉnh lý các phỏng đoán giả thiết ban đầu tức là để xây dựng các giả thiết, lý thuyết khoa học mới. Thí nghiệm, thực nghiệm bao giờ cũng được tiến hành theo sự chỉ đạo của một ý tưởng khoa học nào đấy. Như vậy để tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm phải có tri thức khoa học và điều kiện vật chất. Phương pháp thực nghiệm được áp dụng khá phổ biến trong các ngành khoa học tự nhiên kỹ thuật-công nghệ- là những ngành khoa học có khả năng định lượng chính xác. Trong những lĩnh vực này, sự phát triển của khoa học kỹ thuật còn cho phép tạo ra những môi trường nhân tạo, khác với môi trường bình thường để nghiên cứu sự vận động biến đổi của đối tượng. Các ngành khoa học xã hội là lĩnh vực khó có khả năng tiến hành các thí nghiệm khoa học, áp dụng phương pháp thử nghiệm. Song thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Mọi khái quát, trìu tượng, mọi lý thuyết nếu không được thực tiễn chấp nhận đều không có chỗ đứng trong khoa học. Ở đây quan sát, tổng kết thực tiễn người nghiên cứu khoa học có khả năng nhận thức nhanh hơn con đường do lịch sử tự vạch ra. Trong những phạm vi nhất định, người ta cũng có thể tiến hành các thí nghiệm xã hội học. Ở đây cần lưu ý rằng tính toán xã hội của khoa học xã hội đòi hỏi những phương tiện, điều kiện vật chất, môi trường thử nghiệm phải là những điều kiện phổ biến ( đã có trong toàn xã hội, hoặc chắc chắn được tạo ra trong toàn xã hội). Trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, nhiều trường hợp người ta còn sử dung phương pháp mô hình hoá mà đối tượng nghiên cứu không cho phép quan sát thực nghiệm trực tiếp. Cơ sở để áp dụng phương pháp mô hình hoá là sự giống nhau về các đặc điểm, chức năng, tính chất đã được xác lập vững chắc giữa các sự vật hiện tượng, quá trình xảy ra trong tự nhiên xã hội, tư duy. Dựa trên cơ sở này, từ những kết quả nghiên cứu đối với mô hình người ta rút ra những kết luận khoa học về đối tượng cần nghiên cứu. Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta cũng còn vận dụng cả các phương pháp phân tích tổng hợp, quy nạp-diễn giải và lôgíc-lịch sử. b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp khái quát, trìu tượng hoá, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, v.v… Loại phương pháp lý thuyết được dùng cho tất cả các ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực nghiệm phải sử dụng các yếu tố, điều kiện vật chất tác động vào đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu lý thuyết quá trình tìm kiếm phát hiện diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, chữ viết, v.v…Do vậy loại phương pháp này giữ một vị trí rất cơ bản trong nghiên cứu khoa học xã hội- nhân văn. Điểm xuất phát của nghiên cứu thực nghiệm là quan sát thực tiễn, quan sát sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu lý thuyết, nền tảng và điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận( các quan điểm, các lý thuyết). Do vậy việc nắm vững hệ thống lý luận nền tảng đóng vai trò rất quyết định trong loại phương pháp này. Nắm vững lý thuyết nền là cơ sở hình thành định hướng trong nghiên cứu hình thành các trường phái khoa học. Học thuyết Mác-Lênin là hệ thống lý luận nền tảng đối với toàn bộ khoa học xã hội ở nước ta. Người nghiên cứu khoa học xã hội do vậy phải được trang bị vững chắc lý luận Mác-Lênin là cơ sở cho toàn bộ quá trình sáng tạo phát triển tiếp theo. Tri thức khoa học là tri thức chung, tài sản chung của nhân loại. Bất cứ lý thuyết nào nếu được thực tiễn chấp nhận, đều có hạt nhân khoa học, hợp lý của nó. Bên cạnh việc nắm vững học thuyết Mác-Lênin làm điểm xuất phát, nền tảng, người nghiên cứu khoa học xã hội ở ta còn phải tiếp thu được các lý luận, học thuyết khác. Tiếp thu các lý luận, học thuyết khác vừa để tiếp thu được những khía cạnh hợp lý, khoa học, tức là những tinh hoa trong kho tàng tri thức nhân loại, giúp cho mình tiếp tục phát triển lý luận Mác-Lênin, vừa để nhìn thấy những khiếm khuyết bất cập của các lý luận ấy, góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin. Cần lưu ý rằng nếu không nắm vững lý luận nền tảng là học thuyết Mác-Lênin, người nghiên cứu khoa học rất khó khăn trong việc tìm ra cái đúng, cái sai của các lý luận khác. Đó là một nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn trong lĩnh vực tư tưởng lý luận khi chuyển sang kinh tế thị trường mở cửa ở nước ta hiện nay. Nếu như các quy luật tự nhiên tồn tại một cách lâu dài, thì các quy luật xã hội tồn tại, vận động trên những điều kiện xã hội nhất định. Thoát ly tính lịch sử cụ thể luôn là một nguy cơ dẫn phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội rơi vào tình trạng duy tâm, siêu hình, bám giữ lấy những nguyên lý, công thức lỗi thời lạc hậu trở thành giáo điều kinh viện, kìm hãm khoa học. Trong phương pháp lý thuyết do đặc tính của quá trình sáng tạo khoa học diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, suy luận, khái quát hoá, lại không được thực tiễn kiểm chứng ngay, mà phải trải qua một thời gian khá dài đúng sai mới sáng tỏ. Điều đó dễ dẫn người làm khoa học phạm vào sai lầm chủ quan duy ý chí, tự biện. Coi trọng phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội, người làm khoa học cần chú ý kết hợp phương pháp này với phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn.Sự kết hợp này là yếu tố bổ sung, giúp người nghiên cứu khoa học tránh được những hạn chế do phương pháp lý thuyết đưa lại. II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỤ THỂ 1. Phương pháp phân tích và tổng hợp Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy. Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia nó theo cấp bậc. Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến. Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải: + Xác định tiêu thức để phân chia. + Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu. + Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung. Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát. Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu. Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng. Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể( có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau. Với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật do tính chính xác quy định, mặt phân tích định lượng có vai trò khá quyết định kết quả nghiên cứu. Quá trình tổng hợp, định tính ở đây hoặc giả là những phán đoán, dự báo thiên tai, chỉ đạo cả quá trình nghiên cứu, hoặc giả là những kết luận rút ra từ phân tích định lượng.Trong các ngành khoa học xã hội- nhân văn, sự hạn chế độ chính xác trong phân tích định lượng làm cho kết quả nghiên cứu lệ thuộc rất nhiều vào tổng hợp, định tính. Song chính đặc điểm này dễ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch do những sai lầm chủ quan duy ý chí. 2. Phương pháp quy nạp và diễn giải Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó. Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất. Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp. Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết. Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu. Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp. Đó là phương pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng. Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, định lý, công thức. Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việc nghiên cứu đối tượng. 3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai mặt biểu hiện của phương pháp biện chứng mácxít . Tính thống nhất và tính khác biệt của nó cũng bắt nguồn từ tính thống nhất và tính khác biệt của hai phạm trù lịch sử và lôgíc. a. Phương pháp lịch sử Các đối tượng nghiên cứu( sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển theo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiện ra trong sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ có cả tất nhiên và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, lộn xộn, bề ngoài của các yếu tố, sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự phát triển. Hay nói cách khác,phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hoá của đối tượng, để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng. Do đó phương pháp lịch sử có những đặc điểm sau: ¨ Nó phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến. Và trên cơ sở nắm được những đặc thù cá biệt đó mà trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử. Phương pháp lịch sử còn yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu cái không lặp lại bên cái lặp lại. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ diễn lại hoàn toàn như cũ. Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm ra cái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử. Thí dụ, cũng là khởi nghĩa nông dân, nhưng khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu có khác khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám về đối tượng, quy mô và hình thức đấu tranh… Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh co, thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử. Bởi vì lịch sử phát triển muôn màu muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh. Hoặc khi cái mới đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một chừng mực nhất định. Phương pháp lịch sử phải đi sâu vào những uẩn khúc đó. Phương pháp lịch sử yêu cầu chúng ta đi sâu vào ngõ ngách của lịch sử, đi sâu vào tâm lý, tình cảm của quần chúng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn về diện, hiểu từ cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn bộ xã hội. Chẳng hạn như nói về cách mạng Tháng Tám, nếu chỉ nêu lên những đặc điểm, quy luật và sự kiện điển hình thì chưa đủ để thấy được sắc thái đặc biệt của nó khác với các cuộc cách mạng khác. Tâm lý của quần chúng trước ngày khởi nghĩa, tình cảm đối với Đảng, với cách mạng, những hành vi biểu lộ tâm lý, tình cảm đó lại là những nét mà lịch sử phải chú ý để cho sự miêu tả được sinh động, tránh khô khan, công thức, gò bó. Phương pháp lịch sử phải chú ý những tên người, tên đất, không gian, thời gian, thời gian cụ thể, nhằm dựng lại quá trình lịch sử đúng như nó diễn biến. Tóm lại, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có lịch sử của mình, tức là có nguồn gốc phát sinh, có quá trình vận động phát triển và tiêu vong. Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình muôn vẻ, trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử chúng ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng nghiên cứu. Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ cái lịch sử chúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cái lôgíc của lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học. b. Phương pháp lôgíc Nếu phương pháp lịch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử thì phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng. Do đó phương pháp lôgíc có những đặc điểm sau: Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng. Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng hợp…để tìm ra bản chất của hiện tượng. Nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đường đó, mà chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của nó, tức là nắm lấy quy luật của nó. Như Anghen đã nói: lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử một cách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại. Khác với phương pháp lịch sử là phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, nắm lấy không gian, thời gian, tên người, tên đất…cụ thể, phương pháp lôgíc lại chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hình và nắm qua những phạm trù quy luật nhất định. Thí dụ, trong khi viết Tư bản luận, Mác có thể đi ngay vào giai đoạn phát triển điển hình cao nhất của lịch sử lúc đó là xã hội tư bản. Khi phát hiện ra được quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật thặng dư giá trị, tức là nắm được sâu sắc các giai đoạn điển hình, thì từ đó có thể dễ dàng tìm ra các quy luật phát triển của các xã hội trước tư bản chủ nghĩa, mà không nhất thiết phải đi từ giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người. Nhờ những đặc điểm đó mà phương pháp lôgíc có những khả năng riêng là: Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra cái mới. Bởi vì, lôgíc là sự phản ánh của thế giới khách quan vào ý thức con người, mà thế giới khách quan thì không ngừng phát triển, cái mới luôn luôn nảy sinh. Do luôn luôn chú ý đến cái phổ biến, cái bản chất mà tư duy lôgíc dễ nhìn thấy những bước phát triển nhảy vọt và thấy cái mới đang nảy sinh và phát triển như thế nào. Đặc điểm của cái mới là nó khác về chất với cái cũ. Mặc dù là hình thức thì chưa thay đổi, nhưng chất mới đã nảy sinh. Do thấy được mầm mống của cái mới mà phương pháp lôgíc có thể giúp ta thấy được hướng đi của lịch sử,nhằm chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới. Phương pháp lôgíc còn có ưu điểm là giúp chúng ta tác động tích cực vào hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lịch sử ở một trình độ cao hơn, nghĩa là chủ động cải tạo, cải biến lịch sử, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó. Cụ thể hiện nay, một số xí nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá đã giúp công nhân có thể trở thành người vừa sản xuất, vừa làm chủ xí nghiệp, lại cải thiện nhanh chóng được đời sống. Nhà nước đã chủ động tác động tới quá trình đó, đưa lịch sử tiến lên. c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Trên thực tế công tác nghiên cứu theo phương pháp biện chứng mácxít, không bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc thuần tuý tách rời nhau, mà là trong cái này có cái kia, hai cái thâm nhập vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Giới hạn giữa chúng chỉ là tương đối. Cụ thể, phương pháp lịch sử tuy phải theo sát tiến trình phát triển của lịch sử của sự vật hiện tượng, diễn lại những bước quanh co, ngẫu nhiên, thụt lùi tạm thời của quá trình phát triển hiện thực, nhưng không phải là miêu tả lịch sử đó một cách kinh nghiệm chủ nghĩa, mà là miêu tả theo một sợi dây lôgíc nhất định của sự phát triển lịch sử; không phải miêu tả lịch sử một cách mù quáng, mà là phát triển một cách có quy luật. Cũng vậy, phương pháp lôgíc tuy không nói đến những chi tiết lịch sử, những bước đường quanh co, ngẫu nhiên của lịch sử đối tượng, nhưng không phải vì thế mà nó bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử cụ thể của đối tượng. Phương pháp lôgíc là sự phản ánh cái chủ yếu được rút ra từ trong lịch sử sự vật, và làm cho cái chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trình lịch sử. Tóm lại, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc có tính thống nhất và cũng có mục đích thống nhất là cùng nhằm phơi bày rõ chân lý khách quan của sự phát triển lịch sử, nên trong công tác nghiên cứu, tổng kết khoa học, chúng ta không chỉ vận dụng một phương pháp riêng rẽ nào, vì thực ra chúng chỉ là hai mặt biểu hiện khác nhau của phương pháp biện chứng mácxít mà thôi. Tuy vậy, trong công tác nghiên cứu chúng ta vẫn cần chú ý đến tính độc lập tương đối của hai phương pháp này như đã nói ở trên. KẾT LUẬN Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học. Chúng ta đã biết khoa học càng phát triển bao nhiêu thì phương pháp, cách thức nghiên cứu càng đa dạng phong phú bấy nhiêu. Càng có nhiều phương pháp càng tăng khả năng lựa chọn phương pháp của người nghiên cứu, càng làm cho việc lựa chọn phương pháp có ý nghĩa quan trọng hơn cả về mặt nhận thức khoa học lẫn hiệu quả kinh tế. Phương pháp nói chung đóng vai trò chủ đạo trong nghiên cứu khoa học công nghệ. Phương pháp cụ thể gắn với các môn, lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Chính sự phát triển của khoa học, kỹ thuật ngày càng nảy sinh nhiều phương pháp cụ thể khác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng. Do vậy sẽ là sai lầm nếu quá nhấn mạnh một phương pháp đặc thù, cụ thể nào đó trong nghiên cứu.Vì vậy chúng ta phải có một cái nhìn khách quan về các phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như phải có một phương pháp luận đúng đắn, để từ đó biết áp dụng một cách khoa học và chính xác các phương pháp nghiên cứu khoa học vào mỗi đối tượng khác nhau và để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau. TÀI LIỆU THAM KHẢO Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật,2003). Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh- Bộ môn khoa học luận, Đề cương bài giảng môn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Phạm Viết Vượng, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục( Nhà xuất bản giáo dục, 1997). Văn Tạo, Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc( Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia- Viện Sử học, 1995).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

da282_0257_4613.doc