Nghiên Cứu Mô Tả Cắt Ngang Tiếng Anh Là Gì? Ứng Dụng Trong Đời Sống

--- Bài mới hơn ---

  • Thiết Kế Nghiên Cứu Mô Tả
  • Cách Viết Bài Tiểu Luận Đường Lối Cách Mạng Của Đảng
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Ngữ Âm Học
  • Những Vấn Đề Khoa Học Và Ứng Dụng Của Dấu Vân Tay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Soi Odds Dụ Kèo Gài
  • Thiết kế nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào bản chất của câu hỏi nghiên cứu. Nói cách khác, biết loại thông tin mà nghiên cứu nên thu thập là bước đầu tiên để xác định cách thức nghiên cứu sẽ được thực hiện.

    Định nghĩa nghiên cứu mô tả cắt ngang trong tiếng Việt

    Nghiên cứu cắt ngang mô tả chỉ đơn giản là mô tả sự phổ biến của một kết quả sức khỏe trong một dân số. Mức độ phổ biến có thể được đánh giá tại một trong hai thời điểm (điểm phổ biến) hoặc trên một khoảng thời gian (thời kỳ phổ biến). Thời kỳ phổ biến là bắt buộc khi nó cần thời gian để tích lũy đủ thông tin về một căn bệnh trong một dân số, ví dụ tỷ lệ bao nhiêu những người được phục vụ bởi sức khỏe cộng đồng phòng khám hơn một năm có tăng huyết áp. Các biện pháp phổ biến này là thường được sử dụng trong y tế công cộng; thường thì khía cạnh điểm hoặc thời kỳ không được chỉ định.

    Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiếng Anh là cross-sectional descriptive study

    • We employed a cross-sectional descriptive study with purposive sampling.
    • Chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang với việc lấy mẫu có chủ đích.

    Ứng dụng của nghiên cứu mô tả cắt ngang trong đời sống

    Nghiên cứu mô tả cắt ngang là một phương pháp quan trọng để đánh giá tỷ lệ dân số mắc bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh chẳng hạn như tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ em hoặc tỷ lệ nhiễm chì trong máu cao đối với trẻ em đang trong độ tuổi tập đi.

    Các nghiên cứu mô tả cắt ngang được sử dụng rộng rãi để ước tính sự xuất hiện của các yếu tố rủi ro trong các phân đoạn của dân số được đặc trưng bởi tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng kinh tế xã hội (SES).

    Mô tả các nghiên cứu cắt ngang rất hữu ích cho việc lập kế hoạch hoặc quản lý các dịch vụ phòng ngừa hoặc chăm sóc sức khỏe, các chương trình giám sát, và các cuộc điều tra và thăm dò ý kiến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mấy Vấn Đề Về Nghiên Cứu Liên Ngành Trong Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hiện Nay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tổng Hợp Lý Luận (Literature Review)
  • Nhận Thức Về Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Của Kiểm Sát Viên
  • Thiết Kế Nghiên Cứu Mô Tả

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Bài Tiểu Luận Đường Lối Cách Mạng Của Đảng
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Ngữ Âm Học
  • Những Vấn Đề Khoa Học Và Ứng Dụng Của Dấu Vân Tay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Soi Odds Dụ Kèo Gài
  • Phân Biệt Odds Ratio & Relative Risk Trong Nghiên Cứu Y Học
  • Nghiên cứu khoa học THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU MÔ TẢ

    Nghiên cứu mô tả là nghiên cứu chỉ quan sát mà không tác động vào đối tượng nghiên cứu, mục đích:

    • Mô tả hiện trạng sức khỏe cộng đồng hoặc một chương trình y tế, lĩnh vực y tế.
    • Cung cấp cơ sở để xây dựng kế hoạch y tế để giải quyết các vấn đề được xác định từ các nghiên cứu mô tả.
    • Xác định các vấn đề, hình thành giả thiết, gợi ý thực hiện các nghiên cứu phân tích tiếp theo .

    Nghiên cứu tương quan:

    Nghiên cứu tương quan mô tả mối tương quan của bệnh với một yếu tố mà người nghiên cứu quan tâm, không nhằm mục đích xác định mối quan hệ nhân-quả. Để tiến hành nghiên cứu tương quan nhà nghiên cứu đo lường các biến số lựa chọn trong quần thể và sử dụng phương pháp thống kê tương quan để xác định mức độ tương quan giữa các biến số nghiên cứu.

    Hệ số tương quan kí hiệu là r, chạy từ -1 đến +1, nếu r=0 nghĩa là không có sự tương quan, nếu r=-1 nghĩa là tương quan tỷ lệ nghịch, nếu r=+1 nghĩa là tương quan tỷ lệ thuận. Nghiên cứu tương quan giúp giải thích mối quan hệ giữa 2 hay nhiều biến số từ đó gợi ý thực hiện nghiên cứu thực nghiệm để xác định mối quan hệ nhân quả.

    Nghiên cứu cắt ngang:

    Là nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh trong toàn bộ quần thể, trong đó tình trạng bệnh và yếu tố phơi nhiễm được nghiên cứu đồng thời, tại một thời điểm xác định. Nghiên cứu này cung cấp hình ảnh về hiện trạng sức khỏe của cộng đồng ở một thời điểm. Có 2 loại nghiên cứu cắt ngang: nghiên cứu tại 1 thời điểm ( thường được tiến hành trên 1 mẫu đại diện cho quần thể hoặc toàn bộ quần thể nghiên cứu) và nghiên cứu cắt ngang giai đoạn. Kết quả nghiên cứu cắt ngang là tỷ lệ hiện mắc, đưa ra các giả thiết về mối tương quan giữa bệnh và yếu tố nguy cơ.

    – Research process: research design , Burapha Univerity

    – Phạm Đức Mục (2016). Nghiên cứu điều dưỡng. Trung tâm tư vấn và dịch vụ Điều dưỡng hỗ trợ cộng đồng.

    Người viết: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Mô Tả Cắt Ngang Tiếng Anh Là Gì? Ứng Dụng Trong Đời Sống
  • Mấy Vấn Đề Về Nghiên Cứu Liên Ngành Trong Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hiện Nay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tổng Hợp Lý Luận (Literature Review)
  • Nhận Thức Về Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Nghiên Cứu Website Và Mô Tả Mô Hình Kinh Doanh B2B Màáp Dụng.

    --- Bài mới hơn ---

  • Micheal Dell Và Chiến Lược Kinh Doanh Độc Đáo
  • Tìm Hiểu Về Thị Trường Quần Áo Trẻ Em Việt Nam Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Mở Shop Quần Áo Trẻ Em Từ A Đến Z Đầy Đủ Nhất
  • Kinh Nghiệm Xương Máu Khi Mở Shop Quần Áo Trẻ Em
  • Ý Tưởng Kinh Doanh Đồ Chơi Thông Minh
  • Họ tên: Trần Tú Anh

    Lớp: K45I6

    Mã SV: 09D140402

    Đề bài: Nghiên cứu website và mô tả mô hình kinh doanh B2B mà chúng tôi áp

    dụng.

    Bài làm

    I. Cơ sở lí thuyết

    Các loại hình giao dịch B2B cơ bản:

    1.1. Loại hình giao dịch bên mua chủ đạo

    Là loại giao dịch một người bán cho nhiều người mua ( một đến nhiều). Mô hình

    này thường được gọi là chợ điện tử bên bán. Đó là một chợ dựa trên một website,

    trong đó một doanh nghiệp sẽ bán cho nhiều người mua thông qua cataloge điện

    tử, thông qua sàn đấu giá trên mạng. Có 3 phương pháp bán trực tiếp :bán từ

    cataloge điện tử, bán thông qua đấu giá thuận , bán trực tiếp.Những người bán

    trong chợ điện tử thường là các nhà chế tạo hoặc các nhà trung gian phân phối hay

    bán buôn.

    1.2. Loại hình giao dịch bên bán chủ đạo

    Là loại giao dịch một người mua từ nhiều người bán(nhiều đến một). Chợ điện tử

    bên mua là một web của một DN sử dụng đấu giá ngược,đàm phán ,mua hàng theo

    nhóm hoặc bất cứ một phương pháp mua sắm nào khác.đây chính là quá trình mua

    sắm của DN.

    1.3. Loại hình giao dịch qua trung gian

    Là loại giao dịch nhiều người bán cho nhiều người mua (nhiều đến nhiều). Một

    sàn giao dịch TMDT là một chợ điện tử trong đó nhiều DN mua và bán gặp nhau

    để trao đổi ,đàm phán và mua bán hàng hóa trên mạng.Sàn giao dịch chuyên

    nghành là sàn giao dịch ở đó người mua và người bán chỉ trao đổi với nhau hàng

    hóa và dịch vụ của một ngành công nghiệp nào đó như sắt thép,quần áo… sàn giao

    dịch đa nghành là sàn giao dịch mà trong đó người mua và người bán trao đổi với

    nhau nhiều loại hàng hóa khác nhau.

    1.4. Loại hình thương mại hợp tác

    Là truyền thông và chia sẻ thông tin thiết kế và lập kế hoạch giữa các đối tác kinh

    doanh. Sử dụng cộng nghệ số cho phép các cộng tác trong việc lập kế hoạch ,thiết

    kế,phát triển, quản lí,nghiên cứu sản phẩm, dịch vụ và các ứng dụng mới của

    TMĐT. Công cụ tiến hành thương mại cộng tác là các phần mềm phục vụ làm việc

    theo nhóm và các công cụ hợp tác được thiết kế đặc biệt khác.Cộng tác được thực

    hiện trong và giữa các tổ chức các công cụ hỗ trợ thuong mại cộng tác :Email,phòng chát ,bảng thông báo, truy cập dữ liệu chung trực tuyến.

    II. Nội dung

    1. Giới thiệu về Dell

    Dell Inc.

    Loại hình kinh doanh :

    Công ty đại chúng

    Bản mẫu:NASDAQ

    Bản mẫu:Sehk2

    S&P 500 Component

    Ngành nghề :

    Công nghiệp máy tính

    Thiết bị ngoại vi

    Phần mềm máy tính

    Tư vấn công nghệ thông tin

    Dịch vụ công nghệ thông tin

    Thành lập tại Austin, Texas vào ngày 4 tháng 11, 1984

    Nhà sáng lậpMichael Dell

    Trụ sở chính tại Dell Way, Round Rock, Texas,Hoa Kỳ

    Khu vực hoạt động : Toàn cầu

    Sản phẩm kinh doanh

    – Máy tính để bàn

    – Máy chủ

    – Máy tính xách tay

    – Netbook

    – Thiết bị ngoại vi

    – Máy in

    – Ti vi

    – Máy quét

    – Thiết bị lưu trữ

    – Điện thoại thông minh

     Doanh thu $52.902 tỷ USD( năm 2010)

     Lợi nhuận kinh doanh 2.172 tỷ USD(2010)

     Nhân viên 96,000 (năm 2010)

     Công ty con Dell Services, Alienware

     Website: Dell.com

     Lịch sử hình thành

    Michael Dell sinh năm 1965, thành lập Dell năm 1984 với số vốn ban đầu 1.000

    USD và một ý tưởng chưa từng có: bán các chương trình trực tiếp cho người tiêu

    dùng. Với ý tưởng này, Dell đã bỏ qua khâu bán hàng trung gian, giảm bớt thời

    gian và chi phí phát sinh không cần thiết, giúp khách hàng có thể tiếp cận được

    sản phẩm nhanh nhất với giá cả thấp và chất lượng cao.

    Khi Internet ra đời, Dell cũng nhanh nhạy đưa công ty lên mạng để quảng bá.

    Trang web www. dell. com ra đời năm 1994, và năm 1996 hệ thống dịch vụ bán

    hàng điện tử của Dell chính thức đi vào hoạt động. Một năm sau đó, Dell trở thành

    công ty đầu tiên đạt 1 triệu USD doanh thu bán hàng qua Internet. Hiện nay, mỗi

    quí trang web chính thức của công ty nhận được trên 1 tỉ lượt truy cập trên khắp

    86 quốc gia có trụ sở của Dell, sử dụng 28 ngôn ngữ, phương ngữ và chấp nhận 29

    loại tiền tệ khác nhau. Cho tới nay sau hơn 20 năm hoạt động, công ty đã có xấp xỉ

    96.000 nhân viên trên khắp thế giới.

    2

    Mô hình kinh doanh B2B chúng tôi áp dụng.

    Mô hình kinh doanh trực tiếp

    Internet được thương mại hóa vào năm 1990 và web trở nên phổ biến từ năm 1993

    đem lại cho Dell cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Với ý tưởng

    ‘bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng”, Dell đã sử dụng loại hình giao dịch

    bên bán chủ đạo ( một người bán cho nhiều người mua)

    Với loại hình giao dịch bên bán chủ đạo này, có 3 phương thức bán chính đó là:

    Bán qua catalog điện tử, Bán qua đấu giá thuận và Bán hàng trực tiếp (bên mua

    thoả thuận với bên bán về các điều kiện, giá cả, số lưuợng, phương thức thanh

    toán, vận chuyển và chất lượng). Dell đã lựa chọn phương thức bán hàng trực tiếp

    tới người tiêu dùng, bằng cách triển khai hệ thống đặt hàng trực tuyến (onlineorder-taking) và mở các chi nhánh tại Châu Âu và Châu Á. Dell bắt đầu chào bán

    các sản phẩm của mình qua website chúng tôi Cách thức này đã đưa tập đoàn máy

    tính Dell trở thành nhà sản xuất và phân phối trực tiếp các hệ thống máy tính lớn

    nhất thế giới.

    Một khách hàng có thể gọi điện thoại tới chi nhánh Dell hay truy cập tới

    www.dell.com để đặt hàng chiếc máy tính với cấu hình mà mình mong muốn.

    Trong vòng 5 ngày chiếc máy sẽ được giao tận tay khách hàng và cùng một cấu

    hình đó, mức giá Dell đưa ra thấp hơn 10-15% giá của các đối thủ cạnh tranh. Bên

    cạnh đó, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng của Dell được đánh giá là rất hoàn hảo. Kết

    quả là Dell có thứ hạng vững chắc trong những công ty hàng đầu với sản phẩm tin

    cậy và dịch vụ hoàn hảo.

    Hiện nay, các nhóm khách hàng chính của Dell gồm có:

    – Cá nhân sử dụng cho gia đình và văn phòng

    – Các doanh nghiệp nhỏ, dưới 200 nhân viên

    – Các doanh nghiệp vừa và lớn, trên 200 nhân viên

    – Các tổ chức chính phủ, giáo dục, y tế

    Cả hai nhóm khách hàng B2B và B2C đều thực hiện các giao dịch qua mạng tại

    dell.com thông qua hệ thống catalogue điện tử và xử lý đơn hàng tự động. Phần

    lớn doanh thu của Dell từ B2B, trong khi B2C được thực hiện qua quy trình tương

    đối chuẩn hóa (catalogue, giỏ mua hàng, thanh toán bằng thẻ tín dụng…) các giao

    dịch B2B được hỗ trợ nhiều dịch vụ hơn. Dell cung cấp cho hơn 100.000 khách

    hàng doanh nghiệp dịch vụ hỗ trợ khách hàng đặc biệt.

    Dell cũng triển khai hệ thống đấu giá điện tử tại chúng tôi để thu hút thêm

    khách hàng và củng cố thương hiệu.

    Đối tác chiến lược của Dell

    British Airways (BA) sử dụng Dell như đối tác chiến lược. Dell cung cấp khoảng

    25.000 máy tính xách tay và để bàn cho nhân viên của BA. Dell cung cấp hai hệ

    thông mua sắm trực tuyến cho BA, qua đócho phép BA theo dõi, mua và kiểm tra

    các đơn hàng qua website đã được Dell customize phù hợp với BA. Tại website,

    BA có thể lựa chọn và cấu hình máy tính khác nhau sao cho phù hợp với từng bộ

    phận kinh doanh của mình. Nhân viên của BA thông qua hệ thống Intranet được

    kết nối với hệ thống của Dell cũng được phép lựa chọn và đặt mua máy tính phù

    hợp với nhu cầu sử dụng của mình.

    Ngoài ra, với mô hình kinh doanh trực tiếp của mình, Dell cần liên hệ với rất

    nhiều nhà cung cấp do đó nhu cầu liên lạc và phối hợp giữa các đối tác rất lớn. Ví

    dụ, để phân phối sản phẩm, Dell sử dụng dịch vụ của FedEx và UPS. Dell cũng sử

    dụng của các công ty logistics để nhận, lưu kho và vận chuyển linh kiện, thiết bị từ

    các nhà cung cấp khác nhau. Dell sử dụng lợi thế của công nghệ thông tin và web

    để chia xẻ thông tin giữa các đối tác nhằm giảm thiểu hàng hóa lưu kho.

    Các nỗ lực integration (B2Bi) của Dell bắt đầu từ năm 2000, khi đó Dell sử dụng

    PowerEdge servers dựa trên kiến trúc của Intel và hệ thống giải pháp phần mềm

    webMethods B2B integration để kết nối các hệ thống quản trị nguồn lực doanh

    nghiệp (ERP-enterprise resource planning) của khách hàng, hệ thống mua hàng

    trực tuyến của Dell với các đối tác sản xuất và thương mại . Dell đã xây dựng

    được hệ thống thông tin với 15.000 nhà cung cấp dịch vụ trên khắp thế giới.

    Dịch vụ khách hàng điện tử

    Thành tựu đạt được khi áp dụng mô hình kinh doanh này.

    Nhờ bán hàng trực tiếp nên Dell không phải trả tiền cho các nhà phân phối trung

    gian. Do đó giá thấp hơn mức bình quân tới 12% so với các đối thủ. Dell có phần

    lớn khách hàng đặt trên mạng nên Dell có thể kiểm tra được nhu cầu của thị trường

    và vì vậy Dell có thể giảm số lượng hàng dự trữ trong kho xuống chỉ còn độ 65%

    so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Riêng khoản này đã giúp Dell tiết kiệm

    được tới $50 triêu trong một năm.

    Gần 2/3 lượng sản phẩm của Dell được bán cho các chính phủ, các tập đoàn lớn và

    các tổ chức giáo dục. Dell đã bán được hơn 43 triệu USD giá trị máy tính mỗi ngày

    từ hơn 80 quốc gia qua những website, mang lại hơn 50% doanh thu trong tổng

    doanh thu của tập đoàn..

    Hiện nay, theo báo cáo năm 2010, chỉ riêng quý 4, lợi nhuận của toàn ngành đã

    được tới 15.7 tỉ USD, tăng 2% nhờ kinh doanh dịch vụ và giải pháp doanh nghiệp

    cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ ở lĩnh vực doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa

    và nhỏ. Ngoài ra, Dell đạt mức lợi nhuận gộp 21.5% nhờ vào vận hành chuỗi cung

    ứng hợp lý, chính sách giá bán, giảm nhiều chi phí bán hàng và chi phí linh kiện.

    Mô hình kinh doanh trực tiếp của Dell kết hợp nhiều yếu tố nhằm cung cấp những

    sản phẩm có giá trị tốt nhất cho khách hàng. Đó là những sản phẩm được tùy biến

    với mức giá thấp, thêm vào đó là hình thức giao hàng nhanh và dịch vụ khách

    hàng hoàn hảo. Với phương thức hoạt động theo mô hình kinh doanh trực tiếp, tất

    cả các sản phẩm của Dell cung cấp cho khách hàng đều được sản xuất theo đơn

    đặt hàng. Cách thức này đã đưa tập đoàn máy tính Dell trở thành nhà sản xuất và

    phân phối trực tiếp các hệ thống máy tính lớn nhất thế giới.

    III. Kết luận

    Những thành công mà Dell đạt được hiện nay là nhờ Dell có một chiến lược kinh

    doanh hiệu quả, liên tục đổi mới và luôn lắng nghe những phản hồi cũng như

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1 Tuoitre.vn

    2 http://vi.wikipedia.org/wiki/Dell

    3 http://vietbao.vn

    4 www.doanhnhan.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Điều Bạn Phải Biết Nếu Muốn Kinh Doanh Xăng Dầu Thành Công
  • Điều Kiện Kinh Doanh Xăng Dầu Và Những Nguyên Tắc Vàng
  • Điều Kiện Kinh Doanh Xăng Dầu Theo Quy Định Năm 2022
  • Tìm Hiểu Về Tổng Quan Về Ngành Du Lịch Của Việt Nam Hiện Nay
  • Ngành Du Lịch Làm Những Công Việc Gì
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật
  • Nghiên Cứu Khoa Học Trong Sinh Viên Khoa Tài Chính – Kế Toán
  • Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết – Kipkis
  • Bạn là sinh viên. Bạn rất đam mê nghiên cứu khoa học. Bạn muốn làm một đề tài nghiên cứu khoa học nhưng bạn chưa biết bắt đầu từ đâu! Bài viết này sẽ giúp bạn hình dung cách thức làm một đề tài nghiên cứu khoa học và 5 bước đơn giản để bạn thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học mà bạn thích.

    Đầu tiên chúng ta nên cùng nhìn lại ở khái niệm khoa học là gì?

    Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latinh  “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.

  • Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua những hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau.
  • Tri thức khoa học là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên cứu khoa học qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm… các sự kiện, hoạt động sảy ra trong hoạt động xã hội và trong tự nhiên.
  • Khoa học nói một cách đơn giản bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giả thuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thể ứng dụng.

    Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm… dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn.

    Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp. Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càng phải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựa chọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình.

    5 bước để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học

    Nếu thực sự bạn có niềm đam mê nghiên cứu khoa học, bạn đừng ngần ngại mà hãy bắt tay ngay để thực hiện một công trình khoa học về bất cứ một vấn đề nào đó mà bạn thích! Nếu bạn chưa biết bắt đầu từ đâu, xin hãy làm theo 5 bước sau đây:

    1. Tìm ý tưởng

    Bạn có thể tìm ý tưởng từ việc đọc sách, báo, Internet, nghe đài.. hoặc qua quan sát thực tế. Khi bạn phát hiện ra vấn đề, hẫy chọn cho mình một hướng nghiên cứu phù hợp.

    2. Xác định hướng nghiên cứu

    3. Chọn tên đề tài nghiên cứu khoa học

    Sau khi đã có trong tay nhiều tài liệu bạn hãy đặt cho mình tên của đề tài. Lưu ý, tên đề tài phải ngắn gọn và phải thể hiện được vấn đề bạn đang định nghiên cứu. tên đề tài phải thể hiện đầy đủ đối tượng, phạm vi, chủ thể, khách thể, thời gian, không gian nghiên cứu.

    Bạn hãy thể hiện ý tưởng của mình thành một đè cương sơ khởi bao gồm những nội dung sau đây:

    • Đặt vấn đề
    • Mục đích nghiên cứu
    • Phạm vi nghiên cứu
    • Phương pháp nghiên cứu khoa học
    • Câu hỏi nghiên cứu
    • Các giả thuyết
    • Kết cấu đề tài
    • Nguồn số liệu, tài liệu tham khảo

    5. Tham khảo ý kiến của giảng viên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo
  • Hệ Thống Danh Bạ Trường Học Việt Nam
  • Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Du Lịch
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Phương pháp Nghiên cứu khoa học là gì?

    Phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung là một trình tự gồm sáu bước sau. Các bước cơ bản là:

    1. Đặt vấn đề, mục đích, hoặc câu hỏi nghiên cứu:

    vấn đề ” hoặc “Báo cáo vấn đề.” mục tiêu hay những ý tưởng mà bạn đang cố gắng để kiểm chứng là gì? câu hỏi khoa học mà bạn đang cố gắng trả lời là gì?

    2. Những giả định:

    Giả định là một dạng dự báo, được hình thành như một tuyên bố mà bạn đề nghị để dẫn tới câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Giải thích một cách thuyết phục các dự án mà bạn sử dụng để chứng minh cho mục đích của mình. Bạn nên cố gắng trình bày kỹ về các kết luận có được thông qua đo lường. Không phải lúc nào kết luận của bạn cũng phù hợp với giả thuyết của bạn.

    4. Trình tự:

    Là mô tả chi tiết, từng bước về cách bạn thực hiện thử nghiệm. Hãy mô tả rõ ràng cách mà bạn khống chế các biến số cũng như từng bước làm thế nào bạn lấy được kết quả cuối cùng thông qua đo lường để chứng minh hay bác bỏ giả thuyết của mình. Các tiến trình mà bạn thực hiện nên được đúc kết theo một phương pháp mà theo đó một người khác dễ dàng nên có thể thực hiện lại. Hình ảnh mô tả các thao tác được hiện rõ trên bảng hiển thị của bạn.

    5. Tầm quan sát, dữ liệu, Kết quả:

    Các kết quả thường là dưới hình thức một tuyên bố để giải thích hoặc diễn giải dữ liệu. Kết quả thu được ở dạng dữ liệu thô, đồ thị, kết luận rút ra từ những dữ liệu bạn có. Hình ảnh cũng có thể được sử dụng ở đây. Ví dụ: ” Kiểm tra cây 3 cho thấy sự khác biệt nhỏ trong tốc độ tăng trưởng so với thông thường“.

    6. Kết luận:

    Kết luận là một bản tóm tắt các nghiên cứu và các kết quả của thử nghiệm. Đây là nơi bạn trả lời các vấn đề của bạn hay câu hỏi nghiên cứu. Bạn đưa ra một tuyên bố cho dù dữ liệu của bạn có hỗ trợ giả thuyết của bạn hay không. Bạn phải có đủ dữ liệu để chứng minh một phần hoặc phản bác toàn bộ giả thuyết của mình. Trong trường hợp này, bạn có thể giải thích tại sao có các kết quả khác nhau.Các phương pháp khoa học không phải là đúc bằng bê tông mà nó là một hệ thống, minh bạch và khá dễ để học hỏi và sử dụng mà không nhà khoa học nào có thể sử dụng nó cho lợi ích riêng của họ.

    Và thật thú vị, có những khám phá khoa học một cách tình cờ, bởi nhận nhận được kết quả tình cờ do nhà khoa học vô tình đặt câu hỏi ngoài lề. Một ngày nào đó bạn sẽ thực hiện được những khám phá lịch sử. Hãy thử nghiệm bản thân và gặt hái thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Khái Niệm Địa Lý Lớp 6 Ở Trường Thcs Ngọc Sơn
  • Chuyên Đề: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Trong Giảng Dạy Địa Lý 6
  • Phương Pháp Sử Dụng Kênh Hình Trong Dạy Học Địa Lý 6
  • Đổi Mới Ppdh Toán 6 Thuc Trang Va Giai Phap Phttc Mon Toan 6 Ppt
  • Những Phương Thức Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ 6 Tuổi
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Cần Tham Khảo
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hoặc Mất Gốc
  • Việc làm Giáo dục – Đào tạo

    1. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

    1.1. Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học hay tiếng Anh gọi là Scientific Research là quá trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu từ những người nghiên cứu có trình độ chuyên môn nhằm tìm ra kiến thức mới, những ứng dụng kỹ thuật có hiệu quả và những mô hình mới có ý nghĩa với thực tiễn. Hoạt động trong nghiên cứu khoa học là đi tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm và đôi khi phải trải nghiệm thử,… dựa trên cơ sở những già đã thu thập được về số liệu, tài liệu,…

    Từ đó có thể rút ra khái niệm cụ thể của nghiên cứu khoa học chính là việc thực hiện tổng hợp hợp một chuỗi các phương pháp để nghiên cứu tìm ra quy luật mới, khái niệm mới, hiện tượng mới,… đã được chứng minh trong quá trình nghiên cứu thông qua khảo sát thực tế hay qua những số liệu, tài liệu đã được thu thập.

    Việc tiến hành nghiên cứu những công trình khoa học lớn cần nhiều thời gian công sức về cả người và của nhưng một khi đã thành công, kết quả từ quá trình nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong thực tiễn phục vụ nhu cầu cho chính con người hay còn là yếu tố tác động chính tới sự phát triển của xã hội.

    1.2. Nghiên cứu khoa học cần tới con người sở hữu tố chất nào?

    Nằm trong vấn đề cần nghiên cứu – công việc cần tới sự sáng tạo và có hệ thống được thực hiện để tăng kho kiến thức, bao gồm kiến thức về con người, văn hóa – xã hội và việc sử dụng kho kiến thức này để đưa ra ứng dụng mới. Vì vậy những người đạt trình độ nghiên cứu cần có:

    – Kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu: Đây sẽ là yêu cầu trước tiên để có đạt điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học. Chỉ khi am hiểu về lĩnh vực trong đề tài nghiên cứu các hoạt động đem tới kết quả mới đi đúng hướng.

    – Có tình thần đam mê, nhiệt huyết, thích khám phá tìm kiếm cái mới trong cuộc sống

    – Nhận định về khoa học khách quan và trung thực nhất

    – Có kỹ năng làm việc tập thể hoặc độc lập có phương pháp cụ thể: Nghiên cứu khoa học cần nghiên cứu rất nhiều vấn đề xung quanh một đề tài chính vì vậy hoạt động này thường sẽ được triển khai theo nhóm hoặc nếu có năng lực cao vẫn có thể làm việc cá nhân. Tuy nhiên dù là làm cá nhân hay làm theo nhóm thì công việc nghiên cứu vẫn cần được triển khai theo đúng phương pháp.

    – Liên tục rèn luyện năng lực nghiên cứu từ lúc là sinh viên: Nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với nghiên cứu khoa học nhiều trường đại học đã phát động cuộc thi nghiên cứu khoa học với đề tài chuyên môn tự chọn thu hút sự tham gia của không ít nhóm sinh viên. Họ đều là những người có niềm đam mê nghiên cứu, tinh thần ham học hỏi, thích khám phá những điều mới mẻ. Đặc biệt với nhiệt huyết của tuổi trẻ, đối tượng nghiên cứu này luôn hy vọng đem đến những điều mới mẻ chứng minh năng lực sau quá trình nghiên cứu với nhà trường tạo tiền đề cho nhiều công trình nghiên cứu lớn sau này cống hiến cho nền khoa học nước nhà.

    1.3. Ai là người nghiên cứu khoa học?

    – Các chuyên gia nghiên cứu ở mọi lĩnh vực làm việc trong Viện, Trung tâm nghiên cứu

    – Các giáo sư, giảng viên ở các trường Đại học – Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp

    – Các chuyên gia trong cơ quan quản lý Nhà nước

    – Các Công ty, Viện nghiên cứu tư nhân

    – Sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học trong các trường Đại học có tổ chức nghiên cứu hoặc tham gia nhóm nghiên cứu bên ngoài trường được tổ chức bởi một trung tâm,…

    1.4. Các hình thức tổ chức nghiên cứu

    – Đề tài nghiên cứu: Là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học chứa đựng nhiệm vụ nghiên cứu cho một cá nhân hay một nhóm người thực hiện. Đây mà một nghiên cứu có mục tiêu cụ thể, phương pháp rõ ràng nội dung hướng tới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất hoặc dùng kết quả để xây dựng chính sách, là cơ sở nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo.

    – Dự án khoa học nghiên cứu: Thường có vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, nhằm mục đích ứng dụng tăng hiệu quả kinh tế – xã hội. Trước tiên kết quả sẽ được sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất với quy mô lớn và đời sống

    – Chương trình khoa học nghiên cứu: Là tập hợp các đề tài/ dự án có cùng mục đích nghiên cứu cho ra kết quả áp dụng cùng cho một vấn đề. Các dự án/ đề tài được quản lý một các phối hợp nhằm hướng tới một số mục tiêu chung đã định ra từ trước.

    Việc làm Công chức – Viên chức

    2. Môn phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

    2.1. Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp nghiên cứu khoa học là những công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu khoa học giúp thu thập số liệu, dữ liệu, thông tin, kiến thức để phục vụ cho việc tìm ra điều mới mẻ,… Các phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống tức là phương pháp này phải đi liền với phương pháp khác theo một chuỗi nhất định đảm bảo tính thống nhất và khá dễ sử dụng.

    2.2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

    Một đề tài, dự án, chương trình hay một đề án được hoàn thành với rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau được phân thành:

    – Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là các phương pháp áp dụng trực tiếp vào vấn đề nghiên cứu trong thực tế để hiểu rõ bản chất và các quy luật của những vấn đề đó.

    + Phương pháp quan sát khoa học: Có hai loại quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và gián tiếp hoặc phân thành quan sát theo thời gian và không gian. Đối với những nghiên cứu quy mô lớn nên chia thời gian nghiên cứu theo từng giai đoạn để thu thập được nguồn thông tin chính xác nhất, xác thực nhất với vấn đề nghiên cứu.

    + Phương pháp thực nghiệm khoa học: Áp dụng đối với một số vấn đề nghiên cứu cần tác động vào đối tượng để điều hướng chúng phát triển hay hoạt động theo mục tiêu dự kiến đã đặt ra

    + Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.

    + Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ phù hợp với chuyên môn nghiên cứu sâu rộng nhằm thu thập thông tin khoa học, ghi chép các nhận định đánh giá một sản phẩm khoa học làm cơ sở để bổ sung, chỉnh sửa cho vấn đề nghiên cứu. Với mỗi lĩnh vực cần nghiên cứu bạn phải chọn đúng chuyên gia có năng lực chuyên môn đó, có phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.

    – Các phương nghiên cứu lý thuyết: Trên cơ sở dữ liệu, thông tin có sẵn tại các văn bản, tài liệu bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết cho vấn đề nghiên cứu thông qua các phương pháp sau:

    + Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích thành từng bộ phận các tài liệu đề tìm hiểu sâu sắc về đối tượng rồi tổng hợp những thông tin đã được phân tích thành một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và bám sát hơn vào đối tượng nghiên cứu.

    + Phương pháp giả thuyết: Trước tiên nghiên cứu hay đưa ra quan điểm, giả thuyết về đặc điểm định nghĩa của vấn đề rồi sau đó đi chứng minh điều mình đưa ra là đúng, có cơ sở khoa học để minh chứng

    + Phương pháp lịch sử: Là phương pháp áp dụng để đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển, hình thành đối tượng nghiên cứu dựa trên tài liệu đã được ghi chép rồi từ đó rút ra mấu chốt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Phương Pháp Là Gì? Vai Trò? Có Những Loại Phương Pháp Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Thành Thị Và Nông Thôn
  • Các Hàm, Công Thức Và Những Hằng Số Mảng Trong Excel, Ví Dụ Và Hướng Dẫn Sử Dụng
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Miễn Phí Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Các Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm 2022
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay Là Gì?
  • Phương Pháp Dùng “các Mảnh Ghép” Là Cách Dạy Học Tốt
  • Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy. Vậy khái niệm phương pháp luận là gì, ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì? Bạn cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây.

    + Tổng hợp mẫu lời mở đầu bài tiểu luận các ngành mới nhất

    + Tổng hợp các đề tài luận văn thương mại điện tử hay nhất

    1. Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.

    Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận (Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên ly có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.

    Phương pháp là phạm trù rất rộng, cho liên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

    + Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận.

    + Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.

    + Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.

    Tóm lại phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy.

    – Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ 4 phận chủ yếu và quan trọng sau đây:

    + Hệ thống những khái niệm phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học thuyết khoa học.

    + Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và quản lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn.

    + Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu, về các con đường tìm tòi, sáng tạo khoa học.

    Vậy vị trí của phương pháp luận là gì? Phương pháp luận chính là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa học.

    – Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con đường mới để ứng dụng khoa học vào thực tiễn. Có thể nói: Hoàn thiện về phương pháp luận là sự đòi hỏi thường xuyên của sự phát triển khoa học hiện đại.

    – Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và nó trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn tất cả các nhà khoa học và các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành sáng tạo khoa học.

    – Ngày nay trong thế giới hiện đại, để hoàn thành có chất lượng bất cứ một loại công việc nào, nhà chuyên môn cũng phải là người sáng tạo, có ý thức tìm tòi các con đường, các phương pháp tạo động mới. Thiếu tinh thần sáng tạo không có chỗ đứng trong cuộc sống đầy sôi động. Cải tiến chuyên môn thông qua con đường hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ phận quan trọng của khoa học. Hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự tự ý thức về sự phát triển của bản thân khoa học. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tham khảo tại nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản
  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Dân Tộc Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Của Menđen
  • Cách Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Kinh Tế Hay
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Tiểu Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Giáo Dục Học Mầm Non
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022
  • Mỗi trường phái dân tộc học có phương pháp luận khác nhau. Phương pháp luận của nền dân tộc học mácxít là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.

    là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của dân tộc học, tức là phương pháp nghiên cứu bằng quan sát trực tiếp, tham gia vào chính đời sống sinh hoạt của tộc người để tìm hiểu từ bên trong nội bộ cộng đồng. Phương pháp này cho nguồn tài liệu cơ bản, quan trọng từ chính các nền văn hóa sống động đang được lưu giữ trong đời sống hàng ngày của cư dân. Điền dã dân tộc học thường được thực hiện theo Điền dã dân tộc học hai hình thức:

    Nghiên cứu diện là cách nghiên cứu nhiều điểm trong cùng một thời gian, nghiên cứu và thu thập tư liệu về một vấn đề nào đó ở các địa bàn khác nhau của không gian tộc người giúp so sánh, đối chiếu vấn đề nghiên cứu ở nhiều nơi. Nó có hạn chế khi phải triển khai những nội dung chuyên sâu.

    Nghiên cứu điểm là cách nghiên cứu trong cùng một thời gian tiến hành nghiên cứu một vấn đề ở một địa bàn cụ thể có tính điển hình; tạo điều kiện nghiên cứu tập trung sâu, song lại thiếu tư liệu trong phạm vi rộng để so sánh.

    Thông thường, người ta hay kết hợp cả hai cách trên để bổ sung những ưu điểm phương pháp và khắc phục hạn chế, thiếu sót của nhau. Các công cụ, kỹ thuật chủ yếu để điền dã là: Thu thập tư liệu thông qua quan sát tham gia, phỏng vấn mở, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu nguồn tài liệu cá nhân, đo vẽ, chụp ảnh, ghi chép, miêu tả…

    Hiện nay, trong các nghiên cứu dân tộc học, người ta thường kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu khách quan và khoa học hơn.

    Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu liên ngành được ứng dụng rộng rãi trong dân tộc học – một xu hướng được đánh giá cao trên thế giới hiện nay khi vấn đề nghiên cứu được tiếp cận xem xét từ nhiều lý thuyết và phương pháp của nhiều ngành khoa học. Dân tộc học còn sử dụng phương pháp của Sử học, Khảo cổ học, Nhân chủng học, Ngôn ngữ học, Văn hóa dân gian, Địa lý học, Xã hội học, Môi trường, Nông nghiệp, Dân số học…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Dược Liệu Việt Nam
  • Một Số Nghiên Cứu Về Dược Liệu Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Di Truyền Học Của Menđen
  • 5 Phương Pháp Điều Tra Bằng Bảng Hỏi Trong Nghiên Cứu Tâm Lý Học
  • Các Phương Pháp Phân Tích Báo Cáo Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Phương Pháp Gì?
  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Gì, Điều Trị Bao Lâu Thì Khỏi
  • Mô Hình Dcf Và Những Kiến Thức Đầu Tư
  • Định Giá Cổ Phiếu Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền Dcf
  • Dòng Tiền Chiết Khấu (Discounted Cash Flow
  • Bất cứ một nhà khoa học nào cũng không thể không biết đến thuật ngữ “phương pháp luận”. Bất cứ một ngành hay một bộ môn khoa học nào cũng đều không thể không có phương pháp luận của riêng mình. Sự phát triển của một ngành khoa học phụ thuộc một phần quan trọng vào sự đóng góp của phương pháp luận nghiên cứu khoa học nói chung và của phương pháp luận nghiên cứu của ngành khoa học đó nói riêng.

    Trong ngành nghiên cứu văn học cũng vậy, phương pháp luận có một vai trò rất to lớn. Nó xứng đáng có được một vị trí thoả đáng trong sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thế nhưng ở nước ta, cho đến nay phương pháp luận nghiên cứu văn học mới chỉ được bàn đến như là một phần trong các công trình lý luận văn học của các nhà nghiên cứu; và tính đến năm 2004, là thời điểm xuất bản lần đầu tiên cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi, vẫn chưa có một công trình chuyên luận nào bàn riêng về phương pháp luận nghiên cứu văn học. Đó là vì từ trước đến nay, người ta thường quan niệm rằng, ngành nghiên cứu văn học bao gồm ba bộ môn: lý luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học. Còn lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học vẫn được xếp vào một bộ môn của nghiên cứu văn học có tên là Lý luận văn học.

    Tuy nhiên, trong mấy chục năm trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện nhiều ý kiến muốn phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học. Có nhiều người cho rằng lý luận văn học trả lời câu hỏi: “Văn học là gì?”. Còn phương pháp luận trả lời câu hỏi: “Phải nghiên cứu văn học như thế nào?”. Cụ thể là từ năm 1969, A. Bushmin, nhà nghiên cứu văn học của Liên Xô cũ, đã cho xuất bản một công trình nhan đề Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học. Trong công trình này ông cũng phân biệt lý luận văn học với phương pháp luận. Có thể nói, ý nghĩa công cụ của phương pháp luận đối với lý luận văn học hay với nghiên cứu văn học nói chung là điều không phải bàn cãi nữa, nhưng còn về ý nghĩa lý luận của nó thì hiện nay các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới đang có xu hướng muốn coi nó như là một bộ phận nghiên cứu riêng biệt, có vị trí độc lập tương đối của nó

    Ở Việt Nam, phương pháp luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học cũng đã được quan tâm từ lâu. Bộ sách Lý luận văn học (xuất bản từ những năm 1980, nhiều tác giả, GS Phương Lựu chủ biên) đã bàn đến “phương pháp luận nghiên cứu văn học” trong phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” do GS Phương Lựu viết. Sau khi cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi ra đời lần đầu vào năm 2004 (Nxb. KHXH), đến năm 2005, GS Phương Lựu đã tách phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” trong bộ sách Lý luận văn học ra thành một cuốn sách riêng đứng tên ông và cũng lấy nhan đề Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb. Đại học Sư phạm). Như vậy, có lẽ Phương Lựu cũng cho rằng cần phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học để gán cho nó một vị trí độc lập. Có một điều chắc chắn rằng, dù nó được coi là một bộ phận độc lập hay phụ thuộc vào lý luận văn học, thì vai trò của nó cũng không bị xem nhẹ. Bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào, cũng giống như bất cứ một nhà nghiên cứu khoa học nào khác, đều phải được trang bị một phương pháp luận có hiệu quả, dù người đó làm việc ở lĩnh vực lý luận, lịch sử hay phê bình văn học.

    * * *

    Bây giờ chúng ta hãy xem xét những vấn đề trọng tâm: Phương pháp luận là gì? Bản chất của phương pháp luận nghiên cứu văn học là như thế nào? Quan hệ giữa phương pháp luận nghiên cứu văn học với các phương pháp luận khác thể hiện ra sao? Quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp nghiên cứu cụ thể là như thế nào?

    Hiện nay trên thế giới, những vấn đề nói trên là vô cùng phức tạp. Điểm qua ý kiến của các nhà lý luận nổi tiếng viết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta sẽ có cảm giác như đang lạc vào một mê cung của các khái niệm. Có người cho rằng “Phương pháp luận là lý luận về phương pháp”, có ý kiến cho rằng phương pháp luận bao gồm nhiệm vụ, mục đích và các nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu Averzhanov (cũng Liên Xô cũ) thì tuyên bố: “Phương pháp luận – đó là thế giới quan trong hành động.”, có người coi chúng là những thủ pháp, phương thức, kỹ thuật phân tích, có người hiểu phương pháp theo từng trường hợp cụ thể: khi thì là thủ pháp, khi là kỹ thuật, khi là một thái độ cảm quan. Nhưng ngược lại có người lại cho rằng thuyết cấu trúc không phải là một thế giới quan như kiểu chủ nghĩa Marx , theo nghĩa là một thái độ cảm quan và một sự cảm nhận trực giác đối với cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật – tức họ hiểu từ “phương pháp luận” ở đây chỉ có nghĩa như là “phương pháp”. Còn đối với chính những đại biểu của thuyết cấu trúc thì tình trạng cũng không khá hơn. Claude Lévi-Strauss coi thuyết cấu trúc là thái độ tri thức luận; A. J. Greimas cho nó là một phương pháp luận; Michel Foucault quan niệm nó là hệ tư tưởng; T. Todorov gọi nó là phép phân tích khoa học; và đến lượt Julia Kristeva thì nó chỉ còn là một sự bày đặt của các nhà báo! Hiệu quả của công việc nghiên cứu cụ thể sẽ là một yếu tố cơ bản để biện hộ cho lý luận (tuy rằng không phải lúc nào cũng như vậy). Đây có thể gọi là lối tiếp cận chuyên sâu. Ngày nay xu hướng chuyên sâu là một xu hướng hợp lý, nó phù hợp với tình hình phát triển mạnh mẽ của tri thức loài người, có sự phân công lao động ngày càng sâu rộng.

    Tuy nhiên, quy luật biện chứng của sự phát triển cũng giống như biện chứng của tự nhiên, cái chuyên sâu sẽ kéo theo cái tổng hợp. Có điều, xu hướng tổng hợp ngày nay khác xu hướng tổng hợp thời Phục hưng. Nó diễn ra đồng thời trên cả bình diện đối tượng nhận thức lẫn chủ thể nhận thức. Tức là sự tổng hợp không phải chỉ tiến hành hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một chủ thể duy nhất, mà còn hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một tập hợp các chủ thể. Cái chuyên của mỗi người vì thế luôn nằm dưới bóng của cái tổng hợp, theo sự phân công của cái tổng hợp. Do đó, việc tìm hiểu các công thức đại cương của một lý thuyết nào đó cũng không phải là vô ích đối với những ai thích bàn đến những công việc cụ thể. Đứng trên quan điểm này để suy xét lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta sẽ có thể chắt lọc được những suy nghĩ bổ ích từ cái “mê cung” choáng ngợp đó.

    Nhưng trước khi đi sâu tìm hiểu phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta cần phải thống nhất quan niệm thế nào là phương pháp luận? Không phải vô cớ mà chúng tôi đặt ra câu hỏi này. Vì trên thực tế có rất nhiều người vẫn không phân biệt rạch ròi “phương pháp luận” với “phương pháp”. Có người dùng từ “phương pháp” cho một đối tượng đáng ra phải được gọi là “phương pháp luận”; có người thì làm ngược lại. Có người coi phương pháp là cái bao trùm cả phương pháp luận, nhưng có người lại gạt phương pháp ra khỏi phạm vi bao quát của phương pháp luận.

    Về mặt thuật ngữ, “phương pháp luận” là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Căn cứ vào cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1931) thì trước đây từ “phương pháp luận” là từ Hán – Việt được các học giả Việt Nam dùng để dịch tên cuốn sách của nhà triết học duy lý người Pháp René Descartes, tên ông này được họ phiên âm theo âm Hán – Việt là “Địch-cáp-nhi”. Tên tiếng Pháp cuốn sách của nhà triết học này là: Discours de la méthode (xuất bản năm 1637) .

    Còn việc ghi xuất xứ của trích dẫn cũng là một trong những quy cách phương pháp luận quan trọng cần phải tuân thủ, không phải chỉ là do yêu cầu về luật bản quyền, mà còn để giúp cho người đọc có thể kiểm tra xem người trích có trích đúng không. Tôi nói như thế là vì chuyện trích dẫn sai không phải là chuyện hiếm trong giới khoa học, cả trong và ngoài nước. Ví dụ từ điển Microsoft Encarta 99 Encyclopedia của Mỹ đã trích sai câu ” ngôn ngữ là hình thức chứ không phải chất liệu” của Ferdinand de Saussure thành ” ngôn ngữ không phải là hình thức cũng không phải là chất liệu. ” Hay có người, cả trong nước lẫn ngoài nước, dẫn một luận điểm được một tác giả dẫn ra để phê phán mà lại bảo là của chính tác giả đó! Đây là hậu quả của một tình trạng “đọc lười nhác, đọc cẩu thả”, nói theo đúng ngôn từ của nhà ngữ nghĩa học thực chứng người Anh I. A. Richards. Ở một số người, tình trạng đọc cẩu thả còn thể hiện ở việc đọc nhảy cóc, nối nửa đầu của một đoạn vào nửa sau của một đoạn khác, làm sai lệch hẳn ý của nguyên bản, cho dù có thể người đọc không chủ tâm. Tiếc thay ở nước ta, tình trạng đọc cẩu thả cũng không phải là không xảy ra. Có người đọc một văn bản nước ngoài mà không hiểu ý nên trích sai đã đành, nhưng ngay cả đối với văn bản tiếng Việt mà cũng có nhiều người trích sai, điều này chỉ có thể giải thích bằng tình trạng đọc cẩu thả, đọc nhảy cóc. Việc trích sai như thế rất nguy hiểm, bởi vì khi người khác trích lại một lời trích sai thì cái sai cứ thế lây lan và không thể cứu vãn được nữa. Tất nhiên việc trích lại là điều hoàn toàn hợp pháp. Khi người ta không có khả năng tiếp cận với bản gốc thì người ta có quyền trích lại. Tuy nhiên, nếu có ai đó trích lại một ý kiến sai mà cứ “vô tâm” không nói rõ mình trích theo ai, thì người đó sẽ vô tình “lãnh đủ” lỗi của người đi trước. Chuyện này tôi đã có lần nói rõ trên báo chí, và trong một khoa cũng được chua bằng tiếng Anh là ” The Brothers Karamazov“. Ở đây, các quy chuẩn về ngôn ngữ khoa học đang bị phá huỷ, một phần do bị lây nhiễm bởi hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh trong đời sống xã hội và thương mại. Hơn nữa, càng ngày ta càng thấy ảnh hưởng của hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh từ phía đời sống xã hội và thương mại sang các lĩnh vực khác đang tỏ ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    Tóm lại, ở đây có hai câu hỏi đặt ra là: 1. Tại sao phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ; và 2. Tại sao lại phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ trong tiếng nước ngoài? Rõ ràng nếu không trả lời được hai câu hỏi này thì việc giải nghĩa sẽ là một việc làm vô nghĩa: nó không đem lại ý nghĩa gì cho nội dung khoa học của công trình, cũng như không đóng góp gì cho lĩnh vực ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Quả thực, hiện tượng chua và giải nghĩa từ nước ngoài một cách vô cớ như thế này sẽ gây một cảm giác rất khó chịu.

    Trong các văn bản nước ngoài, nhìn chung không có hiện tượng nói trên. Chỉ khi đang nói đến một tác giả hay một tác phẩm thuộc một ngôn ngữ đã được xác định, thì người ta mới chua thêm những từ thuộc ngôn ngữ đó mà không cần ghi thêm danh tính ngôn ngữ của những từ đó. Ví dụ, khi đang nói đến đại triết gia người Đức Hegel, thì khi chua nguyên văn từ dùng của Hegel, người ta sẽ không phải chú thích thêm là “bằng tiếng Đức” nữa. Cũng như khi nói đến nhà triết học người Pháp Descartes, người ta sẽ không phải chua thêm là “bằng tiếng Pháp”. Còn khi trình bày quan điểm của chính mình, thì người ta rất ít khi phải chua thêm tiếng nước ngoài, bởi vì giữa các nước phương Tây có một sự tương đương về thuật ngữ khoa học khá phổ biến. Đặc biệt người ta không bao giờ dùng một thứ tiếng nước ngoài để chua cho tất cả mọi văn bản, giống như ở ta nhiều người vẫn dùng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để chua. Duy nhất có lẽ chỉ có tiếng Latin là được dùng để chua mà người ta không cần phải nói rõ đó là tiếng Latin, vì đó là tiếng cổ phổ thông của các nước châu Âu.

    Song, có lẽ vì thấy quy cách chua tiếng nước ngoài là một chuyện mà ai cũng hiểu, cho nên các cuốn sách về phương pháp luận của nước ngoài đã không liệt kê nó vào trong số những quy cách trình bày công trình khoa học bắt buộc phải tuân theo. Thế nhưng ở Việt Nam, do có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá, do chưa dám chắc về chữ dùng của mình cũng như chưa dám chắc về trình độ hiểu của người đọc, cho nên ban đầu các nhà khoa học đã phải chua thêm tiếng nước ngoài, mà thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, đối với một số thuật ngữ mới. Việc làm đó là hoàn toàn chính đáng. Sau đó có nhiều người bắt chước theo và thế là nó trở thành một hiện tượng lạm dụng mà không cần có nguyên tắc hoặc quy cách. Nhưng nếu đứng từ góc độ phương pháp luận mà nhận xét thì chúng ta sẽ thấy việc làm thiếu nguyên tắc này rất mâu thuẫn và phi lý. Còn nếu đứng từ góc độ tâm lý người tiếp nhận thì những hiện tượng như vậy sẽ gây cho người đọc một cảm giác khó chịu. Vậy tại sao những tác giả rất cẩn trọng về quy cách phương pháp luận nói trên đã không nhận ra điều ấy. Đó là vì họ đã máy móc tiếp nhận các cuốn sách giáo trình của nước ngoài mà không quan sát các hiện tượng thực tế ở Việt Nam và không dựa vào điều kiện và đặc điểm ngôn ngữ – văn hoá của Việt Nam để điều chỉnh và bổ sung thêm các nguyên tắc và quy cách mới. Đáng ra họ phải bổ sung thêm ” quy cách về việc chua thêm từ nước ngoài” và ” nguyên tắc về việc chua bản gốc “. Phải chăng đây là biểu hiện của một căn bệnh tiếp thu thụ động cố hữu?

    Tóm lại theo tôi, về nguyên tắc, việc chua từ bằng tiếng nước ngoài chỉ được phép thực hiện trong hai trường hợp sau: 1. Khi từ được chua là một thuật ngữ mới và đang có nhiều cách hiểu và cách dịch khác nhau; hoặc khi gặp phải một thuật ngữ khoa học quan trọng thì ta có thể chua thêm thuật ngữ tương đương của ngôn ngữ nước ngoài để người đọc tham khảo nhằm xác định rõ hơn nghĩa nội hàm của thuật ngữ đó. Và tất nhiên, khi chua phải ghi rõ từ được chua là từ thuộc ngôn ngữ nào, trừ trường hợp đang nói đến tác giả thuộc một ngôn ngữ đã được xác định. 2. Khi ta đang đề cập đến quan điểm của một tác giả nghiên cứu người nước ngoài, thì ta có thể chua thêm chữ dùng nguyên văn của tác giả đó; và thông thường, tác giả là người nước nào thì ngôn ngữ viết của người đó sẽ là ngôn ngữ của nước đó. Trong trường hợp này, ta sẽ không cần chua thêm danh tính của ngôn ngữ dùng để chua, ngoại trừ trường hợp tác giả đó viết bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ thuộc quốc tịch của anh ta thì ta phải chú thích thêm. Thông thường, khi chua một từ mà người chua không ghi rõ là ngôn ngữ nào, thì người đọc hoàn toàn có quyền hiểu ngôn ngữ dùng để chua là ngôn ngữ của nguyên tác. Ví dụ, nếu nói đến nhà nghiên cứu hình thức chủ nghĩa người Nga Shklovskij mà không ghi rõ là “bản dịch tiếng Anh”, thì người đọc có quyền hiểu rằng ông này viết công trình của mình bằng tiếng Anh, trong khi đó trên thực tế Shklovskij lại viết bằng tiếng Nga, và tên nguyên tác công trình của ông phải là tên tiếng Nga: Iskusstvo kak prijom. Hay nếu ta chua tác phẩm Nghệ thuật thơ ca của Aristote là Poetics, thì người đọc cũng hoàn toàn có quyền hiểu rằng nhà triết học Hy Lạp cổ đại này cách đây hơn 2.300 năm đã biết viết văn bằng tiếng Anh, một điều không có gì phi lý hơn!

    * * *

    Như vậy, những điều phân tích trên cho chúng ta thấy rằng khái niệm ” phương pháp luận” có một trường bao quát rất rộng: nó đi từ thế giới quan qua các phương pháp suy lý lôgic chung, các phương pháp riêng, các thủ pháp, kỹ thuật thao tác, đến các quy cách trình bày kết quả khoa học. Tức là nó mang một ý nghĩa bao quát rộng hơn so với nghĩa được gán cho cuốn chuyên luận triết học của Descartes. Thực chất, nó cũng có nghĩa là “phương pháp học” và được dùng để chỉ một lĩnh vực khoa học cụ thể. Tuy nhiên, không nên đồng nhất nó với “khoa học luận”. Đây là nói về trường bao quát của phương pháp luận, nhưng còn về nghĩa nội hàm của nó thì ta phải định nghĩa như thế nào?

    Theo định nghĩa của cuốn từ điển bách khoa vào loại mới nhất của Pháp, Le petit Larousse illustré năm 2000, thì từ méthodologie trong tiếng Pháp có nghĩa là ” Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, thông qua quan sát, đối với công việc thực hành khoa học, đối với các nguyên tắc làm thành cơ sở cho việc thực hành công việc khoa học đó cũng như đối với các phương pháp nghiên cứu mà nó sử dụng.” Theo nghĩa này thì ta có thể dịch từ méthodologie là ” phương pháp luận/học“. Ngoài ra, từ méthodologie còn có một nghĩa thứ hai là ” Tập hợp các phương pháp và các kỹ thuật của một lĩnh vực riêng biệt.” Theo nghĩa này thì từ méthodologie trong tiếng Pháp còn có nghĩa là ” tập hợp phương pháp“. Theo định nghĩa của từ điển bách khoa Microsoft Encarta 99 Encyclopedia, từ methodology trong tiếng Anh cũng có nghĩa là: ” 1. Khoa học về phương pháp; 2. Một tập hợp các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động riêng biệt.” ở nước ta, “phương pháp luận” là một thuật ngữ ngoại nhập mới, cho nên nó cũng có hai nghĩa. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “phương pháp luận” là: “1. Học thuyết về phương pháp nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội ngành khoa học đó.

    Ví dụ, cái “phương pháp phân tích” theo cách gọi của nhiều người và được coi là một phương pháp chung, khi áp dụng cho nghiên cứu văn học thì nó sẽ không thể được gọi là “phương pháp phân tích” chung chung, mà nó phải được áp dụng để phân tích một khía cạnh cụ thể của đối tượng, chẳng hạn như để phân tích cấu trúc tác phẩm, phân tích tâm lý nhân vật… Như vậy thì khi đó nó sẽ phải được gọi là “phương pháp phân tích cấu trúc” hay “phương pháp phân tích tâm lý”, và như thế cái “từ khoá” của hai phương pháp này phải là ” cấu trúc” và ” tâm lý ” chứ không phải là “phân tích”, đến nỗi người ta có thể quên cái vế chữ “phân tích” đó đi để chỉ nói một cách đơn giản là “phương pháp cấu trúc” và “phương pháp tâm lý”. Tương tự, những phương pháp chung khác như “phương pháp tổng hợp”, “phương pháp điều tra”… cũng phải chịu một số phận như vậy.

    Những điều nói trên cho thấy rằng, khi nghiên cứu về phương pháp của một lĩnh vực cụ thể thì ta phải gắn liền phương pháp với các đối tượng cụ thể của ngành khoa học đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các phương pháp cụ thể cũng không thể được tiến hành một cách biệt lập, tách rời khỏi phương pháp luận chung. Ở nước ta hiện nay, các công trình về phương pháp luận nghiên cứu khoa học mới chỉ quan tâm một phần đến khâu phương pháp luận chung, trong khi đó lại quá chú trọng đến các quy cách thực hiện công trình nghiên cứu mà chưa đề cập đến phương pháp luận chuyên ngành. Còn các bài viết về phương pháp luận chuyên ngành lại chưa làm rõ được mối quan hệ giữa nó với phương pháp luận chung, cũng như chưa làm rõ được mối quan hệ giữa phương pháp luận với phương pháp. Như vậy là tình hình nghiên cứu phương pháp luận ở nước ta vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì có nhiều công trình chỉ quá chú trọng đến những lĩnh vực mà thực ra chúng có thể được gọi là phần phụ lục của phương pháp luận, ví dụ như lĩnh vực quy cách trình bày một công trình khoa học. Thiếu vì chúng chưa quan tâm thoả đáng đến các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và đến mối quan hệ giữa các phương pháp chung. Do đó ở đây, đối với lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, tôi sẽ tập trung sự quan tâm vào hai khâu: các nguyên tắc phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Theo tôi, đây là hai khâu vẫn chưa được bàn đến một cách thấu đáo và biện chứng. Nhưng trước khi rút ra các nguyên tắc phương pháp luận và tìm hiểu các nguyên tắc, tôi muốn chúng ta cùng xét xem các phương pháp luận có tính hệ thống hay không.

    CHÚ THÍCH:

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, tạp chí Khoa học xã hội (tiếng Nga), số 3, 1981, tr. 88-103 (bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1982).

    ), tập I, Nxb. Giáo dục, H., 1985, tr. 26.

    G. Kosikov, ” ‘Phê bình mới’ của Pháp và đối tượng nghiên cứu văn học”, trong sách Lý thuyết, trường phái, quan niệm (tiếng Nga), Nxb. Khoa học, Moskva, 1977, tr. 37-65 (bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    Trích theo Phương Lựu, như trên, tr. 650.

    Xem Ion Pascadi, Nivele estetice Ju. Barabash, “Nghệ thuật với tư cách là một đối tượng của sự nghiên cứu tổng hợp” (t. Nga, bản dịch t. Việt của Viện Thông tin KHXH, 1975).

    Ju. Borev, “Phê phán chủ nghĩa cấu trúc tư sản và địa vị khoa học của phương pháp cấu trúc” (tiếng Nga, bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, nguồn đã dẫn.

    Xem Nguyễn Văn Dân, “Để có một nền lý luận phê bình văn học chất lượng cao”, tạp chí Nhà văn, số 7 – 2001.

    Nguồn: Trích Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2012, (in lần thứ ba).Copyright © 2012-2014 – Phê bình văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiropractic Là Gì? Hiệu Quả Của Phương Pháp Này Ra Sao?
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Hướng Dẫn Thiết Kế Website Bằng Bootstrap Từ A
  • Hướng Dẫn Đăng Nhập 12Bet Chính Chủ 2022 Trong 1 Giây
  • 789Bet Là Gì ? Giới Thiệu Roulette (Rou Lắc) Trên Nhà Cái 789
  • Mô Hình Nghiên Cứu Thực Nghiệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Skkn Vật Lí 6: Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Dạy Học Vật Lí Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Phương Pháp Giáo Dục Thực Nghiệm
  • Giáo Dục Trải Nghiệm Là Gì?
  • Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm
  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Nghiên cứu thực nghiệm là phương pháp được sử dụng từ lâu trong nhiều môn khoa học như Vật Lý, Hóa học, Sinh học…Phương pháp này cũng được sử dụng nhiều trong các khoa học xã hội, kinh doanh…

    Trong nghiên cứu marketing, mô hình thực nghiệm được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu nhân quả để đánh giá tác động của một yếu tố đến một yếu tố khác.

    Thử xem xét tình huống ở đầu bài:

    Một số mô hình thực nghiệm có thể thực hiện để giải quyết vấn đề trên.

    1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐO LƯỜNG TRƯỚC SAU VỚI NHÓM KIỂM SOÁT

    Để giải quyết vẫn đề trên, người ta thêm vào mô hình nhóm kiểm soát.

    Như vậy, ta có thể đánh giá “nhiễu” bằng O4 – O3.

    Mô hình được ký hiệu:

    EG: R O1 X O2

    CG: R O3 O4

    Trong đó

    • EG là experient group – nhóm thực nghiệm
    • CG là control group – nhóm kiểm soát
    • R là random – lựa chọn phần tử trong nhóm một cách ngẫu nhiên
    • O là observation – quan sát, trong nghiên cứu, tùy tình huống có thể hiểu khái niệm này cụ thể hơn (trong tình huống trên, quan sát là mức doanh thu đo được).

    2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU BỐN NHÓM SOLOMON

    Mô hình Solomon được thể hiện như sơ đồ sau:

    EG1: R O1 X O2

    CG1: R O3 O4

    EG2: R X O5

    CG2: R O6

    Trong mô hình thực nghiệm trước-sau trên, ta không tính đến 2 loại hiệu ứng

    • Hiệu ứng thử chính: là hiệu ứng khiến lần đo trước ảnh hưởng đến lần đo sau
    • Hiệu ứng hỗ tương: là hiệu ứng ảnh hưởng đến cách phần tử thực nghiệm phản ứng lại tác động (X)

    Trong mô hình Solomon:

    • HIệu ứng thực nghiệm TE = O6 – O5
    • Hiệu ứng thử chính: ME = (O4 – O6) – 1/2 (O3 – O1)
    • Hiệu ứng hỗ tương: IE = (O2 – O1) – (O4 – O3) – (O5 – O6)

    Xem: Các bài khác về phương pháp nghiên cứu

    3. CÁC MÔ HÌNH KHÁC

    Ngoài ra, còn có các mô hình thực nghiệm khác.

    Lưu ý, trong thực nghiệm, giá trị của nghiên cứu có 2 loại là giá trị nội và giá trị ngoại:

    • Giá trị nội đặc trưng cho độ lý giải của các biến độc lập lên thực nghiệm khi có các biến ngoại lai
    • Giá trị ngoại đặc trung cho khả năng tổng quá hóa kết quả thực nghiệm ra môi trường.

    Với các nghiên cứu thực nghiệm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Chủ :: I. Sách Tiếng Việt :: Giáo Trình
  • Trẻ Mầm Non Với Hoạt Động Trải Nghiệm
  • Hoạt Động Trải Nghiệm Cho Trẻ Mầm Non
  • Hoạt Động Trải Nghiệm Trong Giáo Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Tìm Hiểu Về Tiếng Anh Thực Nghiệm Khoa Học Là Gì ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100