Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Oxy Hóa Nâng Cao Trên Cơ S

--- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Nước Thải Bằng Công Nghệ Hấp Phụ
  • Phương Pháp Hấp Phụ Trong Xử Lý Nước Thải Là Gì?
  • Hấp Phụ Trong Xử Lý Nước Và Nước Thải
  • ♻️♻️ Các Phương Pháp Xử Lý Nước Thải
  • Quy Trình Xử Lý Nước Thải Sơn
  • Hiện nay, phương pháp đốt dịch đen để tái sinh kiềm được áp dụng khá phổ biến để xử lý nước thải công đoạn nấu giấy. Tuy nhiên, thực chất phương pháp này là chuyển các chất ô nhiễm từ dạng này (lỏng) sang dạng khác (khí) mà không làm giảm tác động xấu đối với môi trường. Hơn thế nữa, phương pháp đốt chỉ mang lại hiệu quả kinh tế khi lưu lượng nước thải lớn (nhà máy giấy Bãi Bằng công suất 2000 m Để xử lý nước thải này đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý bằng phương pháp keo tụ, oxi hoá bằng Fenton…Nhiệm vụ đặt ra là tìm phương pháp nghiên cứu mới vì Fenton cần pH thấp. 3/ngày đêm). Với quy mô nhỏ của nhà máy, lượng dịch đen thải ra là 1,7 m

    Công nghệ xử lý nước thải bằng ozon hiện nay đang được nghiên cứu và từng bước áp dụng để xử lý các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học, trong đó có dịch thải công đoạn nấu giấy. Ngoài ra, do nước thải công đoạn này có độ màu và hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, hơn nữa nhược điểm của quá trình ozon là chi phí đầu tư cao, tiêu dùng nhiều năng lượng nên ta tiến hành đông keo tụ để giảm một phần chất ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng khi xử lý bằng ozon. Phương pháp đông keo tụ có ưu điểm là có thể xử lý được một số hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học có phân tử lượng lớn, các kim loại nặng và đặc biệt là các chất ô nhiễm ở dạng chất rắn lơ lửng làm giảm đáng kể độ màu của nước thải cần xử lý. Do hàm lượng các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học trong nước thải cao, nên sau khi giảm được độ màu cần thiết ta thực hiện quá trình oxi hóa hóa học có thể loại bỏ được một phần COD và cắt mạch rất hiệu quả đối với các chất ô nhiễm dạng này. Với những ưu điểm đáng kể của ozon như: khử màu, tăng oxy hoà tan, giảm chất rắn lơ lửng và đặc biệt là tạo ra các sản phẩm phụ có độ độc không đáng kể…, phương pháp oxy hoá nâng cao trên cơ sở ozon được áp dụng để nghiên cứu xử lý nước thải nấu giấy. Trên cơ sở những lợi ích đó của ozone trong xử lý nước và nước thải và đặc trưng của nước thải công đoạn nấu giấy, ta nghiên cứu kĩ hơn về quá trình oxy hoá nâng cao trên cơ sở ozone để xem xét khả năng ứng dụng phương pháp này trong xử lý nước thải. 3/ngày, thì phương pháp đốt không thích hợp.

    (O 3) là một dạng thù hình của ôxy, trong phân tử của nó chứa ba nguyên tử ôxy thay vì hai như thông thường.

    Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn ôzôn là một chất khí có màu xanh nhạt. Ôzôn hóa lỏng màu xanh thẫm ở -112°C, và hóa rắn có màu xanh thẫm ở -193°C.

    Ozone là sản phẩm tạo ra do sự phóng điện trong một khí chứa oxy, xảy ra theo phản ứng:

    Theo lý thuyết, cần có 2960 kJ để sản xuất 1 kg ozone, nhưng trong thực tế, hiệu suất không vượt quá 5% và sự tiêu tốn năng lượng thực tế từ 60.000 đến 70.000 kJ. Năng lượng bị mất mát dưới dạng nhiệt. Nhiệt cần thiết để tạo ra một hệ thống làm lạnh khí đã được ozone hoá, nếu không sẽ bị phân huỷ rất nhanh do chất oxy hoá :

    O 3 có thể oxi hóa các chất hữu cơ, đặc biệt các hợp chất có liên kết đôi, liên kết ba, tạo thành các ozonua và cuối cùng đi đến đứt liên kết tạo ra các hợp chất có mạch cacbon ngắn hơn.

    H = 1,4649; điểm đông – 0,89 2O 0C; điểm sôi gần 151,4 0C. Trên điểm sôi và ở điều kiện áp suất thường H 2O 2 bắt đầu phân ly chậm và sau đó thì phân huỷ mãnh liệt. Nó hoà tan vô hạn trong nước và cho một dung dịch điện ly yếu :

    – Oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon hoà tan trong nước O 3.

    Hai con đường oxi hoá nói trên của ozon xảy ra cạnh nhau. Quá trình oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon xảy ra tương đối chậm (10-5 – 10 7 M-1sec-1) so với oxi hoá gián tiếp thông qua gốc hydroxyl do sự phân huỷ ozon tạo ra (10 12 – 10 14 M-1sec-1). Tuy vậy, nồng độ ozon trong nước khi ozon hoá tương đối cao, trong khi đó, nồng độ gốc hydroxyl trong điều kiện ozon hoá thông thường lại tương đối nhỏ, vì thời gian sống của gốc hydroxyl ngắn (thời gian bán huỷ tính bằng phần nghìn giây – microsecond), nên nồng độ gốc hydroxyl *OH khi oxi hoá bằng ozon không bao giờ vượt quá 10-12 M , trong điều kiện axit, con đường oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon là chủ yếu, trong khi đó, trong điều kiện pH cao, hoặc trong những điều kiện có các tác nhân khác như H 2O 2, UV, chất xúc tác,… tạo thuận lợi cho quá trình tạo gốc *OH, con đường oxi hoá gián tiếp thông qua gốc hydroxyl sẽ là chủ yếu và hiệu quả oxi hoá được nâng cao. Do đó, thay vì sử dụng ozon một mình, nhiều công trình nghiên cứu đã theo hướng tìm kiếm các tác nhân phối hợp với ozon hoặc chất xúc tác nhằm tạo ra gốc *OH để nâng cao hiệu quả oxi hoá của ozon khi cần xử lí những hợp chất bền vững, khó phân huỷ trong nước và nước thải. Đó chính là quá trình oxi hoá nâng cao trên cơ sở ozon. Những tác nhân đưa thêm vào được nghiên cứu nhiều nhất là H 2O 2 được gọi là quá trình peoxon (O 3/H 2O 2 ), hoặc các chất đồng thể như chất xúc tác kiềm (O 3/pH), chất xúc tác các muối Fe(II), Mn(II), Ni(II), Co(II), các chất xúc tác dị thể như oxid các kim loại TiO 2, MnO 2 được gọi chung là quá trình catazon (O 3/Cat). Trong chiều hướng đó, sự phân huỷ của ozon để tạo ra gốc hydroxyl cũng sẽ dễ dàng khi có bức xạ tử ngoại UV.

    Hai đường đi phản ứng oxi hoá của ozon trong dung dịch nước

    Quá trình oxi hoá của ozon với sự có mặt của hydrogen peroxit (O 3/H 2O 2 ) được gọi là quá trình peroxon hoặc perozon. Sự khác nhau cơ bản giữa quá trình ozon và peroxon là ở chỗ, quá trình ozon thực hiện sự oxi hoá các chất ô nhiễm chủ yếu trực tiếp bằng phân tử ozon trong nước trong khi đó quá trình Peroxon thực hiện sự oxi hoá chất ô nhiễm chủ yếu là gián tiếp thông qua gốc hydroxyl được tạo ra từ ozon [17].

    Khi ozon hoá để thực hiện quá trình oxi hoá, lượng ozon không hoà tan hết còn dư thoát ra ở dạng khí, trong khi đó, ở quá trình Peroxon, do sự có mặt hydroxyl peroxit đã gia tăng đáng kể quá trình tiêu thụ và phân huỷ ozon làm cho sự chuyển ozon từ pha khí sang pha lỏng được tăng cường. Vì quá trình oxi hoá thông qua gốc hydroxyl hiệu quả hơn quá trình oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon nên quá trình peroxon được sử dụng rất phổ biến và phát triển mạnh nhiều năm gần đây để xử lí những chất hữu cơ khó bị oxi hoá trong nước uống và nước thải. Đối với nước uống, quá trình Peroxon được áp dụng để xử lí các chất gây mùi, vị khó chịu như geosmin, 2-metyliosboeneol (MIB), các hợp chất hữu cơ chứa clo, đồng thời còn sử dụng như một tác nhân khử trùng mạnh, tiêu diệt được những loại vi khuẩn hoặc các loại kém bền vững với clo như Giardia và Crytosporidium. Đối với nước thải, quá trình peroxon sử dụng để xử lí các chất mang màu hoặc các chất hữu cơ chứa halogen như tricloetylen (TCE), percloetylen (PCE), diclopropen (DCPE), clopentan (CPA), dicloetan (DCA),… các hợp chất của phenol, các alcohol và axit dây ngắn đến mức độ khoáng hoá nhất định. Tuy vậy, quá trình Peroxon thường được dừng lại ở mức độ phân huỷ nào đó, nhằm chuyển hoá các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học thành những chất hữu cơ có khả năng dễ bị phân huỷ sinh học, làm cải thiện tỷ số BOD/COD trong nước thải theo chiều thuận lợi để thực hiện các quá trình xử lí sinh học tiếp sau.

    Các phản ứng tiếp theo tạo thành gốc hydroxyl xảy ra như sau:

    Một số anion vô cơ thường có trong nước ngầm và nước thải cũng có thể làm giảm hiệu quả của quá trình Peroxon do chúng tìm diệt gốc *OH vừa được tạo ra. Những chất tìm diệt gốc hydroxyl làm mất gốc *OH theo phản ứng sau:

    H 2O 2 bản thân phản ứng chậm với ozon, nhưng sản phẩm phân huỷ của H 2O 2 là ion HO 2 lại phản ứng rất mạnh với ozon theo phương trình (II.2). Vì vậy, trong môi trường pH cao rất thuận lợi cho phản ứng (II.1) xảy ra, do đó làm tăng tốc độ quá trình phân huỷ ozon và tạo ra gốc *OH. Nếu tăng pH lên một đơn vị có thể tăng tốc độ tạo thành gốc *OH lên 10 lần. Trị số pH tối ưu của quá trình peroxon thường nằm trong khoảng 7 – 8.

    Phương trình (II.9) cho thấy 1 mol H 2O 2 tác dụng với 2 mol O 3 sẽ tạo ra 2 gốc tự do *OH. Tuy nhiên, nhu cầu H 2O 2 còn phụ thuộc vào sự có mặt của những chất tìm diệt gốc *OH trong hệ. Nếu H 2O 2 quá dư thì sẽ có tác dụng ngược lại, làm giảm hiệu quả của quá trình O 3/H 2O 2 vì H 2O 2 cũng có tác dụng như chất tìm diệt gốc *OH.

    · Chất xúc tác kiềm: Thực hiện phản ứng ozon hoá với môi trường pH cao có tác dụng nâng cao đáng kể năng lực oxi hoá của ozone. Nguyên nhân là trong môi trường pH cao phản ứng giữa ion hydroxit và ozone dẫn đến sự hình thành gốc anion superoxit O 2 và gốc *HO 2:

    Bằng phản ứng giữa ozone và gốc anion superoxit, gốc anion ozonit được hình thành, sau đó lập tức phân huỷ khi có mặt ozone và tạo ra gốc *OH. Kết quả là ba phân tử ozone tạo ra được 2 gốc hydroxyl như sau:

    3O 3 + OH + H + → 2HO + 4O 2

    Xử lí nước thải bằng ozone với các chất xúc tác đồng thể sunfat Fe (II), Mn (II), Ni (II) hoặc Co (II) có tác dụng loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ cao hơn so với khi sử dụng ozone đơn thuần.

    Cơ chế có thể xảy ra theo hai khả năng đề xuất như sau:

    Khả năng thứ nhất: Chất xúc tác chỉ đóng vai trò như một chất hấp phụ Me – OH, ozone và gốc hydroxyl tạo ra từ sự phân huỷ ozone sẽ là tác nhân oxi hoá.

    Khả năng thứ hai: Chất xúc tác có thể tác dụng với cả ozone và chất hữu cơ hấp phụ trên bề mặt, đúng nghĩa với bản chất của quá trình xúc tác.

    Độ hòa tan của O 3 trong nước phụ thuộc vào pH và hàm lượng các chất hòa tan. Với môi trường axit có muối trung tính sẽ làm tăng độ hòa tan của O 3 ngược lại trong môi trường kiềm làm giảm độ hòa tan của O 3. Nhìn chung, ozon hoà tan kém trong nước và là hợp chất không bền, thời gian sống chỉ vài phút. Vì vậy, để có thể đạt được số lượng ozon hoà tan trong nước đủ lớn cho quá trình oxi hoá, phải đưa vào hệ một lượng O 3 lớn. Ngoài nhược điểm nói trên, khi sử dụng O 3 làm chất oxi hoá trong xử lý nước và nước thải là phải sản xuất O 3 tại chỗ, ngay trong dây chuyền xử lý. Ở áp lực cao O 3 bị phân hủy rất nhanh, do đó việc sản xuất và hòa tan vào nước phải tiến hành ở áp lực thấp.

    Công nghệ dựa vào các quá trình oxi hoá nâng cao là công nghệ được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất trong những năm gần đây. Có thể nói, thành tựu quan trọng có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực xử lí nước và nước thải trong vòng hơn hai thập kỉ qua chính là sự phát triển mạnh mẽ các công trình nghiên cứu và ứng dụng những quá trình oxi hoá nâng cao trong đó có ozone.

    Email: [email protected]

    Tư vấn miễn phí:

    CÔNG TY TNHH MÔI TRƯỜNG XUYÊN VIỆT

    Địa chỉ: 537/18/4 Nguyễn Oanh, Phường 17, Quận Gò Vấp, TP.HCM

    (Địa chỉ cũ: B30 Khu Chung Cư An Lộc, Phường 17, Quận Gò Vấp, TPHCM)

    Điện thoại: (+84) 028 3895 3166

    Hotline: 0903.018.135 – 0918.280.905

    Email: [email protected][email protected]

    Fax: (+84) 028 3895 3188

    Chúng tôi rất vui được giải đáp những thắc mắc của bạn. Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Lược Về 3 Phương Pháp Xử Lý Nước Thải Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Đánh Giá Hiệu Quả Của Các Phương Pháp Xử Lý Nước Thải
  • Xử Lý Nước Thải Mía Đường Bằng Phương Pháp Sinh Học
  • Hệ Thống Xử Lý Nước Thải Nhà Máy Mía Đường
  • Xử Lý Nước Thải Sinh Hoạt Bằng Phương Pháp Hóa Lý
  • Một Số Kết Quả Nghiên Cứu Y Học Cổ Truyền Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm (1971

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Số Liệu Thực Nghiệm Trong Kỹ Thuật
  • Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Chức Năng
  • Bảng Giá Kiểm Nghiệm Thực Phẩm
  • Phương Pháp Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Quan Trọng Như Thế Nào Đối Với Công Tác Hậu Kiểm?
  • Kiểm Nghiệm Chất Lượng Lương Thực, Thực Phẩm
  • Tên tạp chí:Y học thực hành

    Năm xuất bản:1980Số:6Tập:228Trang:1-6

    Tìm hiểu nguyên lí các phương pháp (PP) điều trị có nghiên cứu cơ chế tác dụng của cốm bổ tỳ do Viện Đông y sản xuất, tác dụng (TD) dược lí của bài thuốc ỉa chảy B do Viện đông y sản xuất điều trị (ĐT) ỉa chảy cấp ở trẻ em, TD dược lí của chế phẩm rau dừa nước của BV Y học Dân tộc Hà Nội để chữa viêm bàng quang mạn tính và đái dưỡng chấp, cơ chế TD của nước vôi trong BV Đông y Vĩnh Phúc để ĐT giun chui ống mật, TD dược lí của cây xấu hổ chữa nhiều bệnh. Tìm hiểu các PP bào chế cổ truyền có nghiên cứu so sánh một số tính chất của 2 dạng thạch tín dùng trong ĐT của đông y và tây y, so sánh một số tính chất của 4 loại mã tiền chế theo PP bào chế khác nhau, sự khác biệt về TD dược lí của các dạng bào chế phụ tử trong y học cổ truyền, khảo sát độc tính cấp diễn của một số dạng bào chế bồ kết, khảo sát một số mẫu chu sa dùng trong ngành y tế. Tìm hiểu độc tính và TD phụ để tăng hiệu lực và độ an toàn có nghiên cứu TD dược lí của vỏ lụa rễ xoan và viên giun melia của Trường ĐH Dược Hà Nội, độc và giảm độc thuốc có asen trong đông y, độc tính của hoàng nàn, TD dược lí của 2 chế phẩm chữa thấp khớp ở BV Đông y Thái Bình, TD dược lí của các chế phẩm dùng bột hoài sơn làm tá dược. Tìm hiểu y lí và dược lí có nhận xét sơ bộ về TD dược lí của thuốc nam ĐT thấp khớp theo kinh nghiệm dân gian và y học cổ truyền, nhân xét về đông dược lợi tiểu, TD dược lí của quế Việt Nam, TD dược lí của các chế phẩm lợi mật ĐT hen phế quản của Viện Đông y, TD dược lí của lá hồng bì được chiết qua dung môi metanol.

    Tags: bào chế thuốc từ đông dược, d3350

    Thuộc loại:

    Bài Báo Khoa Học ” Y Dược Học Cổ Truyền

    Loại tài liệu:

    Portable Document Format (.pdf)

    Gửi bởi:

    Guest

    Kích cỡ:

    *******

    Mức phí:

    10.000 vnd

    Lần tải:

    *******

    Mã tài liệu:

    TLD3350

    Ngày gửi:

    25-09-2014

    Hỗ trợ qua Email và Yahoo Chát

    THÔNG BÁO: từ tháng 04/2018 vì một số lý do bất khả kháng hệ thống nạp điểm bằng thẻ cào của chúng tôi sẽ buộc phải tạm dừng. Trong thời gian này quý khách nạp điểm vào hệ thống thực hiện bằng cách chuyển Khoản qua tài khoản Ngân hàng hoặc ví điện tử MOMO. HỖ TRỢ 0915.558.890

    Thông tin tài khoản Ngân hàng của Chúng tôi:

    Tên tài khoản: BÙI QUANG THỤ : Số tài khoản: 0451000273276

    Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thành Công-Hà Nội

    Chuyển tiền qua ví điện tử MOMO

    ví điện tử MOMO bạn có thể chuyển điểm qua số điện thoại 0915558890

    --- Bài cũ hơn ---

  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm
  • Giáo Dục Trải Nghiệm Là Gì?
  • Phương Pháp Giáo Dục Thực Nghiệm
  • Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Skkn Vật Lí 6: Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Dạy Học Vật Lí Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Suy Là Gì? Hàm Nội Suy Tuyến Tính Trong Excel
  • Áp Dụng Nội Suy Newton Để Tạo Hàm Cho Các Bảng Tra
  • Chọn Nội Suy Idw Vs Kriging Để Tạo Dem?
  • Cách Nội Suy 2 Chiều Bang Fx570Es
  • Dim: Hai Phương Pháp Nội Suy
  • Ngược với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính thường không dựa theo các kết quả thống kê. Nghiên cứu định tính theo chiều sâu và tìm kiếm những câu trả lời không có cấu trúc phản ánh suy nghĩ, tình cảm đối với vấn đề của một con người. Mục đích của nghiên cứu định tính là tìm lời giải “Những người được hỏi là như thế nào, tầm nhìn của họ, tình cảm và động lực, ý kiến, quan điểm và nguyên nhân của những hành động.”. Các loại câu hỏi chủ yếu và thường thấy nhất chính là việc phỏng vấn theo nhóm.

    1.1. Cách lấy mẫu

    Hầu như trong nghiên cứu thị trường người tiêu dùng, việc người tiến hành nghiên cứu tiếp xúc với tất cả mọi thành viên trong xã hội vừa không mang tính khả thi vừa không thực tế. Cách thường dùng là tiếp xúc với một nhóm khách hàng được chọn làm đại diện cho tất cả mọi người. Cách làm này gọi là ” phương pháp lấy mẫu”.

    Có hai phương pháp lấy mẫu là lấy mẫu ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên.

    Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên có thể thấy trước sự có mặt của mỗi thành viên trong xã hội có trong mẫu đó, mặc dù không nhất thiết phải cần khả năng xảy ra như nhau đối với tất cả mọi người.

    Nhưng phương pháp lấy mẫu không ngẫu nhiên không thể quyết định khả năng xảy ra như nhau đối với tất cả mọi người hay ước tính được sai số của việc chọn mẫu.

    Nhược điểm của phương pháp chọn mẫu là không thể kiểm soát được. Ví dụ, cách chọn mẫu lý tưởng có thể không thực tế khi được sử dụng đối với nghiên cứu thị trường thế giới do nhiều lý do như sự biến động của trường, số lượng mẫu quá lớn…

    Về lý thuyết , các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên khó có thể được làm và xu hướng sử dụng phương pháp không ngẫu nhiên lại lớn hơn vì nhiều lý do. Trước hết là bản đồ một nước thường không cập nhật hay lỗi thời. Ví dụ như một số thành phố ở ả Rập sau-di không có tên phố, và không có số nhà. Hay ở Hông kong, một số lượng lớn người sống trên thuyền. Vì vậy, bảng điều khảo sát của công ty có thể không chính xác như thực tế.

    Theo Brislin và Baumgardner thì nghiên cứu chọn mẫu không ngẫu nhiên nên sủ dụng khi mô tả vì những mẫu như vậy sẽ hướng dẫn những người tiến hành nghiên cứu khác nhau chọn được mẫu có mục đích hơn. Bằng cách cho phép kết hợp các bản số liệu khác nhau đó, phương pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên làm cho bảng số liệu có thể đánh giá được tình hình hiện tại. Vì vậy, nên xem xét thích hợp đối với vấn đề chọn mẫu để xoá bỏ những số liệu không chính đáng.

    Hệ thống đường giao thông tồi sẽ tạo ra vấn đề mới là ngăn cản việc sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tán. Thậm chí khi địa điểm thích hợp đó được xác định thì việc xác định yếu tố lựa chọn mẫu vẫn rất khó khăn. Ví dụ, nếu yếu tố chọn mẫu là người nội trợ của một gia đình thông thường, thì người nghiên cứu sẽ rất ngạc nhiên khi một số hộ gia đình đó có nhiều hơn một bà nội trợ. Đây là điều hết sức bình thường ở một số nơi trên thế giới, nơi mà người chồng có thể có nhiều vợ và tất cả các bà vợ lại sống chung trong một nhà.

    Nếu nghiên cứu trên toàn quốc, qui trình chọn mẫu thậm chí cũng phức tạp hơn. Người tiến hành cuộc khảo sát luôn mong muốn sử dụng phương pháp chọn mẫu giống nhau cho tất cả các nước để duy trì tính bất định của phương pháp này. Nhưng mong muốn theo lý thuyết thường đưa ra cách áp dụng cho thực tế và sự linh hoạt. Những qui trình chọn mẫu có lẽ phải thay đổi theo các quốc gia để đảm bảo đúng sự khác nhau giữa các nước. Đối với những sản phẩm lâu bền , chọn mẫu ngẫu nhiên rất thích hợp ở Mỹ, nhưng chọn mẫu đánh giá dựa trên cơ sở phân đoạn thị trường có phân cấp xã hội lại thích hợp hơn ở các nước kém phát triển, vì những khách hàng khá giả một chút dường như mới mua và sử dụng sản phẩm này.

    Phương pháp chọn mẫu có thể không đạt kết quả là do hai nguyên nhân chính : (1) bỏ qua kết quả thu được (2) không có mặt để trả lời phỏng vấn. ở một số nước, nam giới là lực lượng lao động chính thì việc tiếp xúc với người chủ gia đình trong thời gian làm việc rất khó. Thường thì chỉ có vợ anh ta hoặc người giúp việc ở nhà cả ngày. Đối với những trường hợp vắng mặt, quay trở lại đó là cần thiết. Nhưng điều đó rất khó khăn vì hệ thống giao thông, đèn điện nghèo nàn và tỷ lệ trộm cắp rất cao, tất cả đầu làm nhân viên điều tra chán nản. ở một số nước nghèo, những khó khăn đó càng lớn, thậm chí không thể gọi điện thoại được vì không có điện thoại hoặc chất lượng dịch vụ điện thoại thấp

    Thậm chí nếu có những người ở nhà hoặc có thể gặp được họ nhưng họ lại từ chối trả lời phỏng vấn. Phụ nữ ở Trung Đông thì không trả lời phỏng vấn khi chồng họ không có nhà. Một số nước, người ta cũng nghi ngờ nhân viên điều tra là người giám sát thuế, doanh nhân hay thậm chí là người ăn cắp. Nếu những đối tượng này giàu có, nhân viên điều tra phải qua một giai đoạn phỏng vấn khó khăn thông qua những người làm trong nhà. ở Thái Lan thì việc điều tra lịa dễ dàng hơn người dân có thể tiếp bất cứ nhân viên điều tra nào đi qua cửa chính: vì người Thái Lan rất lịch sự và sẵn sàng trả lời nhiệt tình trong suốt thời gian phỏng vấn . Họ muốn làm khách hài lòng bằng cách tiếp nước và luôn hỏi xem còn câu hỏi nào thêm mà họ có thể trả lời được không? Trong những trường hợp như vậy cuộc phỏng vấn kéo dài trong 5 phút dễ dàng trở thành một tiếng sau đó .

    1.2. Lấy mẫu trong điều tra nghiên cứu

    Vấn đề lớn nhất của việc lấy mẫu bắt nguồn từ các số liệu điều tra dân số không đầy đủ và danh sách thích hợp để có thể đưa ra các mẫu thích hợp. Nếu các danh sách hiện tại đáng tin cậy không thể dùng được thì việc lấy mẫu sẽ trở nên phức tạp và kém hiệu quả. ở nhiều nước, danh bạ điện thoại, sách hướng dẫn chỉ đường, những đặc trưng kinh tế xã hội của dân số đang được nghiên cứu không có giá trị hiện hành. Nhà nghiên cứu cần ước lượng các yếu tố và các tham số về dân số, thỉnh thoảng với một số số liệu cơ bản để có thể đưa ra được các ước lượng chính xác.

    ảnh hưởng của các phương tiện thông tin liên lạc (thư, điện thoại và các phỏng vấn cá nhân) khi điều tra là điều đáng nói. ở nhiều nước, số lượng điện thoại trong các gia đình là rất thấp vì vậy việc điều tra qua điện thoại sẽ trở nên vô nghĩa, trừ phi việc điều tra này chỉ hướng tới những người giàu. ở Srilanka, gần 3% dân số – những người giàu- mới có điện thoại. Thậm chí nếu những người được hỏi có điện thoại, thì người nghiên cứu vẫn khó có thể hoàn hành một cuộc phỏng vấn qua điện thoại.

    Tính đầy đủ của kỹ thuật lấy mẫu cũng bị hạn chế bởi sự thiếu hụt các thông tin chi tiết về thị trường và kinh tế. Ví dụ như nếu không có sự phân chia lứa tuổi thì nhà nghiên cứu khó có thể đưa ra mẫu đặc trưng tiêu chuẩn về tuổi bởi vì sẽ không có sự so sánh cơ bản nào với sự phân chia lứa tuổi trong mẫu. Việc thiếu các thông tin chi tiết có thể cũng làm cho việc lấy mẫu trở nên khó khăn hơn. Trong những trường hợp này thay vì áp dụng kỹ thuật, nhiều nhà nghiên cứu dựa trên các mẫu thuận lợi hơn lấy từ thị trường hoặc những nơi công cộng khác.

    Dịch vụ chuyển phát thư chậm chạp và dịch vụ bưu điện nghèo nàn là vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu thị trường trong việc sử dụng thư để thực hiện việc nghiên cứu. ở Nicaragoa, sự chậm trễ hàng tuần trong việc phát thư là thường xuyên và những kết quả mong đợi thường rất thấp vì thư chỉ có thể gửi tại bưu điện.

    Nhìn chung, phương pháp khuyến khích người trả lời phỏng vấn cần được chú trọng để tăng hiệu quả của cuộc khảo sát. Những phương pháp này giảm thiểu vấn đề không thu thập được thông tin từ những đối tượng không nhiệt tình trả lời phỏng vấn. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp khích lệ người được phỏng vấn có thể khác nhau giữa các nước. Theo một cuộc khảo sát do KEOWN tiến hành đã cho thấy với một USD bỏ ra, tỷ lệ người trả lời phỏng vấn là thương nhân Nhật Bản tăng nhưng tỷ lệ trả lời phỏng vấn ở Hồng Kong lại giảm.

    Nghiên cứu định tính cũng có thể được sử dụng một cách riêng lẻ khi mẫu điều tra về khách hàng không đòi hỏi lớn. Ví dụ, những khách hàng được phỏng vấn thường không biết trả lời liệu sản phẩm, hương vị, ý tưởng, hoặc những ý kiến khác mới thực sự lôi cuốn vì họ không có kinh nghiệm trong việc trả lời các câu hỏi điều tra. Đơn giản là việc phỏng vấn trực tiếp có thể sẽ không đạt kết quả hoặc kết quả rất tồi nếu người trả lời đã chán với việc thường xuyên bị phỏng vấn.

    Công ty của Anh Cadbury đang tìm kiếm công thức làm cho sản phẩm sôcôla rượu của mình một mùi vị độc nhất. ý tưởng đưa ra là thêm vào sản phẩm hương vị hạt dẻ. Tuy nhiên, khi công ty này mới chỉ gợi ý với người tiêu dùng rằng rượu nên có mùi thơm nhẹ thì họ đã phản ứng gay gắt vì họ không quen với việc trộn hai vị này với nhau. Thế nhưng khi được nếm thử sản phẩm mới mà không biết rằng sô cô la có trộn với vị của quả hạt dẻ thì khách hàng đã rất thích sản phẩm có hương vị mới mẻ này.

    Chúng ta có thể thấy trong phần cuối chương này, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu nào khi nghiên cứu thị trường quốc tế là vấn đề rất khó bởi sự đa dạng về văn hoá và ngôn ngữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Sinh Khóa Học “phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Trong Kinh Tế”
  • Phương Pháp Định Lượng Trong Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Và Những Nghiên Cứu Thực Tiễn Trong Kinh Tế Phát Triển
  • Khóa Học Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Trong Kinh Tế
  • Giới Thiệu Các Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính
  • Phương Pháp Định Lượng Trong Nghiên Cứu Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Sinh Khóa Học “phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Trong Kinh Tế”
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính
  • Nội Suy Là Gì? Hàm Nội Suy Tuyến Tính Trong Excel
  • Áp Dụng Nội Suy Newton Để Tạo Hàm Cho Các Bảng Tra
  • Chọn Nội Suy Idw Vs Kriging Để Tạo Dem?
  • PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu một trong những phương pháp nghiên cứu quan trọng được áp dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu lịch sử, đó là phương pháp định lượng. Bài viết này sẽ không đi vào các khía cạnh của kỹ thuật tính toán vì đã có nhiều tài liệu hướng dẫn cụ thể về vấn đề này mà nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu, chẳng hạn như: của Konrad H. Jarausch và Kenneth A. Hardy (1991); An Introduction to Quantitative Methods for Historians của Roderick Floud (1973); Quantitative Methods for Historians: A Guide to Research, Data, and Statistics History by the Numbers: An Introduction to Quantitative Approaches của Pat Hudson (2000); Making History Count: A Primer in Quantitative methods for Historians của Charles H. Feinstein và Mark Thomas (2002). Đây là những quyển sách được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian phù hợp với sử luận hiện đại, trình bày cụ thể về kỹ thuật tính toán và phân tích khi áp dụng vào lĩnh vực nghiên cứu lịch sử. Chúng ta chỉ nói ở khía cạnh nhận thức đối với phương pháp định lượng nhằm đưa ra những thông tin hữu ích để hiểu và vận dụng nó vào công việc nghiên cứu lịch sử.

    Khi mô tả và phân tích xã hội loài người tồn tại trong quá khứ, chúng ta không tránh khỏi việc sử dụng các chữ số. Tu ổ i tác, ngày sinh, số con cái, số vợ, số tài sản… là những đặc tính về mặt lượng của một con người cần phải được chỉ ra nếu muốn làm một mô tả đầy đủ về anh ta. Chúng ta sẽ phải đo lường, so sánh anh ta với những người khác xem anh ta giàu hơn, hay nghèo hơn, trẻ hơn hay già hơn, học vấn cao hơn hay thấp hơn, thu nhập cao hơn hay thấp hơn… rồi đặt anh ta vào xã hội mà anh ta đã sống, phân loại nhóm xã hội mà anh ta thuộc về chẳng hạn như nông dân hay công nhân, trung lưu hay thượng lưu… Nếu chúng ta sử dụng những phương pháp đo lường như thế để mô tả những con người sống ở quá khứ, nghĩa là chúng ta đang sử dụng các phương pháp định lượng (Roderrick Floud, 2013, tr.1).

    Trong thế kỷ XX, sử học đã chứng kiến một sự thay đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu, từ mối quan tâm về lịch sử chính trị, ngoại giao, chiến tranh sang mối quan tâm về lịch sử xã hội, kinh tế và văn hóa, từ các nhân vật chính trị, những người hùng, giới tinh hoa của xã hội chuyển sang những con người bình thường trong xã hội với những kinh nghiệm và đời sống hằng ngày của họ. Sự thay đổi này làm cho nguồn sử liệu được khai thác triệt để và hiệu quả hơn. Có thể chia sử liệu – là mọi chứng liệu được tìm thấy trong quá khứ – thành dữ liệu thành văndữ liệu không thành văn hay dữ liệu định tínhdữ liệu định lượng. Trong đó, những dữ liệu định tính cho biết về các đặc tính của các hiện tượng xã hội hay cảm xúc, suy nghĩ, kinh nghiệm, ký ức của con người trong quá khứ còn những dữ liệu định lượng chứa đựng chữ số, những con số ngẫu nghiên về mặt lượng của các hiện tượng xã hội. Khi làm việc với sử liệu, sử gia luôn gặp những loại dữ liệu có chứa chữ số, đối với loại dữ liệu này đòi hỏi các sử gia phải sử dụng đến các phương pháp toán học thống kê để tính toán các con số (mặt lượng) của các hiện tượng nhằm tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể (I. D. Kovanchenko, 1969, tr.14). Phương pháp định lượng trong sử học tức là “tìm cách lượng hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử (trong trường hợp có thể) dưới dạng các con số, và trên cơ sở đó, “cân, đong, đo, đếm” so sánh để làm nổi bật những đặc điểm của chúng” (Phan Phương Thảo, 2012, tr. 355).

    Bessmertnyj (1972) cho rằng nếu thiếu phương pháp định lượng thì kết quả nghiên cứu khó có thể làm sáng tỏ được một quá trình lịch sử hoặc chỉ đưa ra những kết luận, nhận định thiếu cơ sở vững chắc và các sự kiện, hiện tượng chỉ được đánh giá bằng những khái niệm không xác định như “cao trào”, “suy thoái”, “sự mở rộng”, “sự thụ hẹp” , “sự gia tăng”, “phần lớn”… làm cho các công trình lịch sử mang nặng tính ghi chép và chủ quan (Lu. I. Bessmertnyj, 1972, tr.9; Ju Kakhk và I. D. Kovanchenko, 1974, tr.22; I. D. Kovanchenko, 1969, tr.14). Vì vậy, việc đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp định lượng trong sử học không phải là một xu hướng “chạy theo thời trang” mà xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân ngành khoa học lịch sử.

    Sự khác nhau giữa phương pháp định lượng trong sử học và các ngành khoa học khác như xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, chính trị học nằm ở nguồn dữ liệu. Nguồn dữ liệu để lượng hóa, phân tích trong nghiên cứu lịch sử “đã chuẩn bị xong và không thể thay đổi và phải tự thích nghi với thống kê” (G. Y. Ember, 1970, tr.76 ), “được tìm thấy hơn là tạo ra” (John Modell, 1994, tr.795). Sử gia chỉ được đặt ra những câu hỏi mà có thể nhận được câu trả lời từ nguồn sử liệu được tìm thấy, cho dù không hài lòng với các câu trả lời đã có sẵn. Bởi vì, chúng ta không thể quay lại để hỏi người đã chết những câu hỏi mới (Gary J. Kornblith, 2002). Như vậy, việc cung cấp số liệu cho phân tích thống kê sử học phụ thuộc vào nguồn sử liệu được tìm thấy, nói cụ thể hơn là nguồn sử liệu này phải tự thích ứng với thống kê. Trong khi đó, nguồn dữ liệu phục vụ cho các ngành khoa học khác được thu thập và tập hợp lại theo những vấn đề, những câu hỏi mà nhà nghiên cứu quan tâm và có thể được thay đổi sao cho phù hợp với mục đích nghiên cứu. Từ sự khác biệt cơ bản về nguồn dữ liệu, thống kê sử học chỉ giới hạn trong một phạm vị hẹp so với thống kê tổng quát (G. Y. Ember, 1970; K. V. Khvostova, 1975; Lu. I. Bessmertnyj, 1972; I. D. Kovanchenko, 1969) .

    Đề cập đến vấn đề mẫu và tính đại diện của mẫu trong các nguồn sử liệu, Kovanchenko (1969) cho rằng trong giai đoạn thu thập sử liệu để giải quyết vấn đề nghiên cứu cần chú ý đến tính đại diện của mẫu. Có hai trường hợp xảy ra trong nguồn sử liệu được tìm thấy:

    + Trường hợp tổng mẫu lớn, không thể phân tích hết. Ví dụ như trong công trình nghiên cứu về sự tiến triển của tầng lớp quý tộc miền Bắc nước Pháp từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIV, Bessmertnyj không thể phân tích toàn bộ chứng liệu của 8.000 trang trại, quý tộc, tác giả phải dùng phương pháp chọn lọc mẫu để phân tích một khối lượng chứng liệu nhỏ hơn mà vẫn giải quyết được nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Tác giả chỉ chọn khối lượng mẫu khoảng 10% hay 20% trong tổng thể mẫu có thể cho những biểu hiện đầy đủ, chính xác và tin cậy về những quá trình xã hội. Trên cơ sở mẫu này, tác giả cũng cần một số thời gian ít hơn song vẫn làm sáng tỏ được cơ cấu kinh tế và mức độ đồng nhất về mặt xã hội của tầng lớp quý tộc Bắc Pháp (I. D. Kovanchenko, 1969, tr.16)

    + Trường hợp “mẫu thuận tiện” (một bộ phận còn sót lại) thì phải kiểm chứng lại tính đại diện của các chứng liệu do bộ phận mẫu này cung cấp. Việc kiểm chứng có thể thực hiện bằng cách dẫn giải về nguồn gốc xuất xứ của bộ phận mẫu này, tính chính xác và tin cậy, tính rõ ràng và đầy đủ của các đơn vị hợp thành mẫu (Ju Kakhk và I. D. Kovanchenko, 1974, tr.24; G. Y. Ember, 1970, tr.77). Ví dụ, để nghiên cứu tình trạng kinh tế và tình cảnh của nông nô Nga đầu thế kỷ XIX, Kovanchenko đã phân tích một bộ phận chứng liệu được tìm thấy gồm 300 bản kê khai kinh tế gia đình của 200 trang trại khác nhau được lưu ở ngân hàng nông nghiệp (I. D. Kovanchenko. 1969, tr.15).

    Trong hai thập niên 1950 và 1960, ngành khoa học thống kê phát triển ở Mỹ đã thúc đẩy việc sử dụng phương pháp định lượng trong nghiên cứu các ngành khoa học xã hội. Frederick Jackson Turner được xem là sử gia tiên phong trong việc sử dụng phương pháp định lượng. Tiểu luận ” The Significance of the Frontier in American History” nhất trí rằng phương pháp toán học trong khoa học lịch sử chỉ là “phương tiện bổ sung”, phương pháp này phải kết hợp chặt chẽ với các phương pháp truyền thống và các công trình nghiên cứu lịch sử chỉ có kết quả tốt đẹp khi nó dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp nhận thức biện chứng (O. Jakhot, 1970; Lu. I. Bessmertnyj, 1972; K. V. Khvostova, 1975; Ju Kakhk và I. D. Kovanchenko,1974; I. D. Kovanchenko, 1978) .

    Nguyễn Thị Bình. 2012. “Ứng dụng phương pháp dân số học lịch sử trong xử lý nguồn tư liệu gia phả Việt Nam” trong Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa . Hà Nội: Nxb. Thế giới.

    Phan Phương Thảo. 2012. “Phương pháp định lượng và những ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử” trong quyển sách Sửhọc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Hà Nội: Nxb. Thế Giới.

    Selunskaja, N. B. 1997. “Từ sự định lượng tới tin học lịch sử – phải chăng là từ hiện thực lịch sử đi tới hiện thực tiềm ẩn” (Bảo Ngân dịch), trong quyển Sử học – Những tiếp cận thời mở cửa. Hà Nội. Viện Thông tin Khoa học xã hội, tr.257-268.

    Nguồn: “Phương pháp định lượng trong nghiên cứu lịch sử”. Tạp chí Khoa học xã hội, số 9/2014, tr.89-98.

    [*] Selunskaja là tiến sĩ sử học, giảng dạy bộ môn “Sử liệu học lịch sử đất nước” thuộc Khoa sử Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva. Quan điểm của ông về sử học định lượng đối lập với các nhà sử học Nga khác như Kovanchenko, Bessmertnyj.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Và Những Nghiên Cứu Thực Tiễn Trong Kinh Tế Phát Triển
  • Khóa Học Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Trong Kinh Tế
  • Giới Thiệu Các Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính
  • Thiết Kế Và Triển Khai Nghiên Cứu Định Tính Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Top Phương Pháp Phân Tích Định Tính Trong Data Analytics
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Tiểu Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Giáo Dục Học Mầm Non
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Trong Giai Đoạn Xét Xử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Của Kiểm Sát Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Nằm kế cận và có phần nào cùng loại với các phương pháp xã hội học sáng tác là phương pháp tìm hiểu và nghiên cứu tiểu sử nhà văn để hiểu và lý giải tác phẩm văn học, được gọi ngắn gọn là phương pháp tiểu sử. Tuy nhiên, trong khi các phương pháp xã hội học sáng tác nghiên cứu nhà văn chủ yếu từ góc độ xã hội và trên bình diện xã hội, chẳng hạn như chúng tập trung chú ý đến thành phần xã hội, nghề nghiệp, nơi sinh, môi trường sinh sống và làm việc,… của nhà văn, thì phương pháp tiểu sử lại quan tâm cả cuộc sống và những mối quan hệ riêng tư của nhà văn.

    Đến năm 1753, nhà tự nhiên học người Pháp là bá tước Buffon . Câu nói này đã trở thành ngạn ngữ và không loại trừ khả năng là nó đã trở thành một động cơ kích thích việc tìm hiểu con người tác giả thông qua tác phẩm văn học của anh ta và ngược lại.

    Đến năm 1791, cuốn sách Cuộc đời của Samuel Johnson (Nhà văn Anh thế kỉ XVIII) của James Boswell, được coi là tác phẩm đưa Boswell trở thành người viết tiểu sử văn học hiện đại lớn nhất, mở đầu cho thời hoàng kim của thể tài tiểu sử văn học. Chính nhà văn S.Johnson cũng đã phát biểu một câu nói nổi tiếng để cổ vũ cho thể tài này: “Thể văn tiểu sử trong văn học là cái mà tôi yêu thích nhất”.

    Sang thế kỉ XIX, nhiều công trình tiểu sử văn học đã xuất hiện với dung lượng lớn. Đặc biệt chúng ta phải kể đến công trình Biographia Literaria (Biographical Sketches of My Literary Life and Opinions) .

    Không rõ thấu hết những cái vặt vãnh thắc mắc trong đời sống nhà thi sĩ thì không sao hiểu hết được thơ của người ấy .

    Ấy là mới nói về ảnh hưởng của những sự tình cờ nho nhỏ đối với một đời người. Y học Âu Tây còn đề xướng lên một lý thuyết quan trọng hơn nữa. Theo thuyết lý thì phần đông trong số vĩ nhân hoàn cầu, sở dĩ làm nên sự nghiệp, vì do ảnh hưởng của những chứng bệnh của họ .

    Thế nhưng cái gì đã xảy đến, biến đổi anh trở thành khó hiểu như vậy trở thành một ám ảnh, một thói quen trong thơ Hàn Mặc Tử, không thể thiếu được cho thơ Anh”. “Và tiếc thay – ông Tín viết – ông Mại đã để mất đi cái vòng xích của sợi dây chuyền vặt vãnh, như ông đã nói, nên ông không thể hiểu biết cội rễ con trăng đã ảnh hưởng đến văn thơ Hàn Mặc Tử như thế nào”.

    Về cuốn sách của Trần Thanh Mại, nhà thơ Quách Tấn bạn thân của Hàn Mặc Tử, cũng đã phản đối kịch liệt, đặc biệt là về chi tiết mẹ Hàn Mặc Tử vì uống rượu bắt lậu say mà sinh ra Tử thiếu tháng, và chi tiết nữ sĩ Mai Đình nuôi Hàn Mặc Tử; về hai chi tiết này, ông Quách Tấn đã kết tội Trần Thanh Mại là bịa đặt.

    Sự việc trên cho thấy phương pháp tiểu sử không phải là một phương pháp đơn giản, bởi vì nó đụng đến người thật việc thật, trong đó có những chi tiết rất tế nhị mà người ta khó có thể biết được đúng sai khi có những ý kiến trái ngược về chúng.

    Dù sao ông Nguyễn Bá Tín cũng vẫn khẳng định rằng, nhờ có cuốn Hàn Mặc Tử của Trần Thanh Mại mà “thơ anh Trí” được người đời rộng rãi biết đến. Và giới phê bình cũng coi đó là cuốn sách thành công nhất của Trần Thanh Mại trước Cách mạng. Nhà phê bình Thanh Lãng sau này còn nói rõ hơn: “… nếu ta đã nói Trông dòng sông Vị (1935) là một thí nghiệm thất bại, thì Hàn Mặc Tử (1941) là một nỗ lực đã đi đến thành công. Về phần ông Nguyễn Bá Tín, ta có thể nói cuốn sách của ông cũng là một cuốn sách thuộc thể tài phê bình tiểu sử văn học, mặc dù chỉ coi đây là một cuốn hồi ký.

    Như vậy luôn luôn có hai vấn đề đặt ra đối với phương pháp tiểu sử:

    1. Đối với những tác gia đã qua đời, những chi tiết tiểu sử cần phải được khảo cứu một cách khách quan, chính xác, phải được xem xét từ nhiều nguồn để đảm bảo tính xác tín của chúng; thậm chí nếu cần có thể còn phải sử dụng đến cả các phương pháp và biện pháp khoa học chính xác để kiểm chứng.

    2. Việc áp dụng phương pháp tiểu sử cần tránh lệ thuộc vào nó, tránh những định kiến, tránh những gò ép áp đặt một cách máy móc, thô thiển. Nếu áp dụng nó một cách máy móc thì rất dễ dẫn đến những nhận định thiếu chính xác.

    Về điều nói trên, chính là nghiên cứu Trần Thanh Mại cũng đã tự rút ra được một bài học cho bản thân khi nghiên cứu Tú Xương. Năm 1935, Trần Thanh Mại đã viết công trình Trông dòng sông Vị (phê bình văn chương và thân thế Trần Tế Xương), khảo cứu về nhà thơ Trần Tú Xương. Đến năm 1961, khi viết lại cùng với Trần Tuấn Lộ một công trình khảo cứu mới về Tú Xương mang tên: Tú Xương, con người và nhà thơ, ông đã vạch ra một số nguyên nhân dẫn đến những cách hiểu lệch lạc đối với Tú Xương. Trong những cách hiểu lệch lạc có hai quan niệm sai lầm chính là:

    1. Cho rằng Tú Xương chỉ vì hỏng thi mà bất mãn, làm thơ để chửi đổng cho hả mối căm tức.

    2. Cho rằng nhà thơ chỉ là một thứ triết gia hành lạc, một kẻ ăn chơi liều lĩnh, sinh sống bên tha, chẳng có tâm tư gì thanh cao, chẳng có tư tưởng gì đáng trọng.

    Trong số các nguyên nhân dẫn đến những quan niệm sai lầm nói trên, Trần Thanh Mại đã chỉ ra một nguyên nhân khách quan là “nhiều người chưa hiểu rõ con người thật của Tú Xương, chưa có dịp đi sâu nghiên cứu đời sống của nhà thơ, rồi vô tình để cho một vài cảm tưởng đầu tiên đối với một số thơ văn ông đưa đến nhiều nhận định không chính xác”. Rồi Trần Thanh Mại đã “tự kiểm điểm bản thân” như sau: “Xin thú nhận rằng cách đây hai mươi lăm năm, chúng tôi cũng đã mắc phải sai lầm này khi viết cuốn Trông dòng sông Vị”. (Chính vì thế mà nhà phê bình Thanh Lãng đã kết luận cuốn sách này là một thí nghiệm thất bại). Trong lời nói đầu của cuốn Tú Xương…, Trần Thanh Mại đã nói rõ về cái sai lầm của ông trước đây là: “… tôi – Trần Thanh Mại – […] đã bị rơi vào cái quan điểm lệch lạc chung cho rằng Tú Xương là một người ăn chơi truỵ lạc”. Và ông nói rõ thêm: “Về sau, thứ nhất là từ thời kỳ kháng chiến trở về đây, nhờ được học tập thêm và học tập đúng đường lối khoa học, tôi bắt đầu thấy, và càng ngày càng rõ hơn, những cái sai đúng lúc trước của mình”. Tức là về sau Trần Thanh Mại đã biết kết hợp phương pháp tiểu sử với phương pháp xã hội học để nghiên cứu đối tượng. Xem thế thì đủ thấy phương pháp tiểu sử đòi hỏi một sự thận trọng như thế nào.

    Ở Việt Nam hiện nay, ngoài những công trình văn học sử có đề cập đến tiểu sử của nhà văn, thì những công trình được gọi là phê bình tiểu sử văn học thường là xoay quanh việc phác hoạ chân dung văn học của nhà văn, thậm chí có công trình còn được gọi đích danh là “chân dung văn học”; và có nhà phê bình còn dành cả đời mình cho thể tài “chân dung” này. Đó là công việc nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của các nhà văn. Tuy nhiên, khi làm cái việc được nhiều người gọi là “vẽ chân dung văn học” ấy, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã rất có ý thức sử dụng phương pháp tiểu sử một cách khoa học, có kết hợp nó một cách biện chứng với phương pháp nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử – xã hội nhằm tránh dẫn đến những kết luận phiến diện, chủ quan. Chính vì thế mà chúng tôi muốn lưu ý một điều quan trọng cuối cùng là: phương pháp tiểu sử chỉ là một phương pháp bổ sung, dứt khoát nó phải được kết hợp với các phương pháp phân tích văn bản cận cảnh và với các phương pháp tổng quan thì ta mới có thể thu được kết quả như mong muốn. Bởi vì, tác phẩm văn học không phải chỉ được hình thành bởi các sự kiện tiểu sử của nhà văn, mà còn là kết quả của cảm xúc và trí tưởng tượng của nhà văn, cũng như là kết quả tác động của hoàn cảnh lịch sử, của hoàn cảnh xã hội, và của hoàn cảnh văn hoá – văn học của thời đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Kinh Tế Hay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Của Menđen
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Dân Tộc Học Là Gì?
  • Những Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Dược Liệu Việt Nam
  • Một Số Nghiên Cứu Về Dược Liệu Ở Việt Nam
  • Hướng Dẫn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cho Sinh Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Nckh Của Sinh Viên Ueh Đạt Giải Xuất Sắc Tại Hội Nghị Sinh Viên Nghiên Cứu Khoa Học Các Trường Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh Toàn Quốc Lần Thứ Iii
  • Bàn Về Phương Pháp Giảng Dạy Và Nghiên Cứu Thạc Sĩ Luật
  • Phương Pháp Giáo Dục Montessori Có Từ Hơn 100 Năm Qua Đã Tới Việt Nam
  • Áp Dụng Phương Pháp Montessori Tại Nhà Như Thế Nào?
  • Phương Pháp Montessori Tại Nhà
  • Để phục vụ công tác NCKH cho sinh viên năm học này, chúng tôi xin nêu một số phương pháp NCKH sau đây làm cơ sở tham khảo. Các quan điểm trình bày dựa trên kinh nghiệm của người viết, vì thực sự chưa có qui định chính thức về phương pháp NCKH. Các sinh viên có thể chọn phương pháp khác, sao cho phù hợp với mình, miễn là đề tài giải quyết được mục tiêu đề ra và được nghiệm thu.

    Tài liệu nghiên cứu có thể đa dạng, để đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện. Thông thường, thực tiễn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tài liệu có được do khảo sát tình hình thực tế được đánh giá cao hơn tài liệu do đọc lại những tài liệu của người khác đã viết; và trong số đó thì các tài liệu có số liệu thống kê có giá trị cao hơn các tài liệu nặng về lý luận. Tuy vậy, do đặc thù nghiên cứu ngành luật thiên về định tính hơn định lượng, số liệu thực tế của ngành luật thường là những vụ việc hơn là những số liệu thống kê. Các tài liệu này có thể thu thập tại toà án, tại các sở ban ngành, hay trong quá trình khảo sát, phỏng vấn các đối tượng quan tâm. Nếu được phân tích kỹ lưỡng và có phương pháp, các tài liệu như vậy thường được đáng giá cao hơn là các trích dẫn của các tác giả lý luận trong và ngoài nước. Nhược điểm của các số liệu này là thường vụn vặt, xử lý rất khó khăn. Vì thế, người làm NCKH muốn tìm các tài liệu dạng này cần học qua một lớp về lập, phân tích và đánh giá khảo sát. Như vậy, trước khi tìm tài liệu, nên đánh giá đúng khả năng của mình, sở thích của mình để chọn cách tìm tài liệu thích hợp nhất.

    Về phương pháp nghiên cứu, có ba phương pháp thông dụng nhất: phân tích (còn gọi là diễn dịch), tổng hợp (còn gọi là qui nạp) và so sánh. Các phương pháp này có thể kết hợp, tuy nhiên để có câu trả lời tập trung và có quan điểm dứt khoát, nên chọn một phương pháp chủ đạo, và giải thích tại sao lại chọn phương pháp này mà không phải là phương pháp khác. Nhìn chung, phương pháp NCKH phụ thuộc vào mục tiêu NCKH và nguyên nhân các vướng mắc.

    Thời gian nghiên cứu phụ thuộc vào khả năng người viết NCKH. Karl Marx có thể viết bộ “Tư bản” toàn tâm toàn ý trong hơn 30 năm, nhưng một đề tài cấp bộ chỉ tối đa 2 năm, cấp trường là 6 tháng. Vì thế, nếu thời gian nghiên cứu không cho phép, nên thu hẹp phạm vi đề tài. Bắt đầu nghiên cứu bằng các nguồn của luật (văn bản pháp luật, điều ước quốc tế), các quyết định của toà án, các số liệu thống kê, sau đó mới đọc các bài báo hay quan điểm của các học giả. Điều này cho phép người đọc có cái nhìn khách quan về vấn đề, không bị ảnh hưởng bởi trường phái chủ đạo nào. Kết thúc nghiên cứu khi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu mình đọc bắt đầu có nội dung như nhau, có thể dự đoán được. Đó là lúc bắt đầu viết NCKH. Điều cần tránh trong NCKH là thu thập tài liệu thiếu chiều sâu (quá ít tài liệu từ một nguồn) hay thiếu chiều rộng (sử dụng quá ít nguồn tài liệu). Không ai phê phán một người sử dụng “quá nhiều” tài liệu tham khảo.

    Thông thường, đề cương NCKH có thể bắt đầu bằng “cơ sở lý luận”, chương tiếp theo là “thực trạng”, chương cuối cùng là “giải pháp”. Cách trình bày như vậy giúp người đọc nắm vấn đề một cách có hệ thống. Tuy nhiên, điểm yếu của cách trình bày này là phần “cơ sở lý luận” dễ trở nên quá dài và quá mỏng (nói quá ít thì thiếu hệ thống, nói quá nhiều thì xa mục tiêu). Chương 1 của đề tài NCKH giống giáo trình hay bách khoa toàn thư hơn là công trình chuyên khảo. Trong chương 2, phần thực trạng chỉ nêu được 1 vài vương mắc trong số các lý luận đã trình bày ở chương 1 (như vậy một số cơ sở lý luận đã nêu trở nên thừa). Vì thời gian và số chữ trong đề tài NCKH bị giới hạn, chương 3 (giải pháp) được trình bày sơ sài, không đủ chỗ để chứng minh tại sao giải pháp nêu ra lại giải quyết được vấn đề.

    Vì thế, gần đây ở các nước như Anh, Mỹ đã xuất hiện phương pháp soạn đề cương mới – đó là nêu thực trạng trước, lý luận sau. Do mục tiêu của báo cáo NCKH không phải là để trình bày kiến thức, mà để giải quyết một vấn đề đang tranh cãi, điều đầu tiên người đọc quan tâm sẽ là “cho tôi biết vấn đề ở đâu?”

    Sau khi nhìn thấy vấn đề (thực trạng, chương 1), thì chương 2 mới bắt đầu phân tích các qui định của pháp luật về vấn đề đang tranh cãi. Quá trình phân tích không thể chỉ mô tả luật, mà phải giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu điểm và khuyết điểm của các điều luật đó. Sau đó, tìm nguyên nhân tại sao các qui định hiện hành không giải quyết được vấn đề đang tranh cãi.

    Chương 3 đề ra giải pháp để khắc phục, giải thích tại sao chọn giải pháp này mà không phải giải pháp khác, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp này, thu hẹp phạm vi áp dụng của giải pháp và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài NCKH tiếp theo. Cách trình bày này khiến người đọc đi ngay vào vấn đề và lôi cuốn ngay từ đầu. Nó cũng tiết kiệm thời gian cho người làm đề tài.

    Viết đề cương theo trình tự như thế nào cũng đều chấp nhận được, miễn là trả lời được câu hỏi chính của đề tài. Tuy nhiên người viết nên lưu ý đến ưu điểm và khuyết điểm của mỗi cách viết. Điều cần tránh là đi lòng vòng quá lâu trước khi đi thẳng vào vấn đề chính; và việc đưa ra kết luận mà không phân tích một cách khách quan, toàn diện.

    Thông thường, viết mở đầu sẽ là phần khó nhất, vì thế không nên bắt đầu viết bằng phần mở đầu (chờ làm xong đề tài mới quay lại viết phần mở đầu). Khi viết đề tài NCKH nên đọc đề cương xem phần nào mình thấy dễ viết thì viết trước. Nếu cảm thấy khó viết quá thì hãy trao đổi với đồng nghiệp, sinh viên, diễn đạt ý tưởng của mình, sau đó viết lại thành đoạn văn. Việc trao đổi ý kiến và tham gia hội thảo cũng giúp cho người viết tìm ý tưởng dễ hơn. Việc khó viết trong NCKH là do tư tưởng bị bế tắc. Trao đổi sẽ giúp khai thông tư tưởng và viết trôi chảy hơn.

    Sau khi viết bản thảo đầu tiên, người viết có thể sẽ không hài lòng với bố cục; đừng ngần ngại sắp xếp lại, cho dù đề cương mới có khác với đề cương đề ra. Đề cương là để giải quyết mục tiêu của đề tài, chứ không phải đề tài phải viết cho đúng với đề cương ghi trong bản đăng ký NCKH.

    VIẾT

    Có rất nhiều cách viết báo cáo NCKH, vì thế người làm NCKH không nên ép buộc vào một cách viết “tốt nhất” (thí dụ: cơ sở lý luận – thực trạng – giải pháp). Ơ đây chỉ xin đề cập đến hai yêu cầu: (i) tập trung; và (ii) thuyết phục.

    Cách viết tập trung yêu cầu người viết NCKH phải nêu câu hỏi chính và đề xuất được hướng giải quyết ngay trong phần mở đầu, sau đó mới phân tích tại sao hướng giải quyết như vậy là cần thiết. Cần tránh trường hợp đọc đến trang 20 mà vẫn chưa hiểu người viết muốn gì. Sau khi làm người đọc tập trung vào vấn đề, từng chương cần nêu các vấn đề nhỏ. Các vấn đề nhỏ nhằm mục đích giải quyết vấn đề chính, và nên có liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Giải quyết dứt điểm từng vấn đề, tránh tình trạng nhắc đi nhắc lại một vấn đề đã nói từ trước. Đưa ra giải pháp cho những trường hợp đơn giản trước, sau đó phát triển để đưa ra giải pháp cho trường hợp phức tạp.

    Cách viết thuyết phục yêu cầu người viết phải (i) giới hạn điểm tranh luận, và (ii) sử dụng phép biện chứng. Để giới hạn điểm tranh luận, nên tìm nguyên nhân sâu xa của vấn đề và đề ra giải pháp, chứ không thể chỉ dừng ở nguyên nhân trực tiếp. Để sử dụng phép biện chứng, cần đặt nghi vấn cho giải pháp mình đưa ra, tự mình phản biện mình, sau đó tự mình bảo vệ giải pháp của mình chống lại những ý kiến phản biện. Vì bảo vệ một giải pháp không hề đơn giản, nên không nên nêu quá ba giải pháp cho một đề tài NCKH (các giải pháp khác nên dành cho người khác phân tích). Người đọc khó nhớ nổi nhiều hơn ba vấn đề trong một đề tài.

    Cách hành văn cần dùng ngôn ngữ viết trong luật, tránh dùng từ quá nặng như “lừa đảo, kẻ, tên, bọn …” cho dù đó là ngôn ngữ dùng trên báo chí. Hạn chế sử dụng những ngôn từ quá trang trọng hay nặng về tình cảm hơn lý trí như “nâng cao hiểu biết”, “đẩy mạnh công tác”, “quán triệt”, “cực kỳ quan trọng”. Cách viết như vậy làm người đọc cảm thấy bài NCKH không thuyết phục bằng lập luận mà bằng cảm tính. Làm NCKH khác với hô khẩu hiệu. Tránh dùng những từ không rõ ràng như “có ý kiến cho rằng …” (phải nói ý kiến của ai v.v.), hay thiếu tự tin: “có lẽ”, “có khả năng là” (trừ trường hợp thích hợp). Khi trích dẫn phải đầy đủ theo thứ tự: tên, năm xuất bản, tên bài báo, số phát hành, số trang. Việc chú thích tuỳ tiện dễ làm người đọc có cảm giác người viết NCKH không nghiêm túc với đề tài.

    Câu văn nên càng đơn giản, ngắn gọn càng tốt. Vì người đọc là hội đồng phản biện, họ không cần phải chứng minh lại các quan điểm phổ biến. Tuy nhiên, các vấn đề khó hiểu cần có dẫn chứng và phân tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 23: Vấn Đề Của Phép Quy Nạp
  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Phương Pháp Phi Thực Nghiệm By Openstax (Page 7/14)
  • Khoa Học Luật Hành Chính: Khái Niệm Và Đối Tượng Nghiên Cứu?
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Và Sự Phát Triển Của Khoa Học Nghiên Cứu Về Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm Trong Tâm Lý Học: Phân Loại, Lựa Chọn Phương Pháp Và Xử Lý Kết Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm
  • Thực Nghiệm Điều Tra Là Hoạt Động Như Thế Nào
  • Phương Pháp Dạy Thực Hành
  • Về Hội Thảo Các Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên 2013
  • Tổ Chức Cho Trẻ Mầm Non Hoạt Động Giáo Dục Theo Hướng Thực Hành, Trải Nghiệm
  • Khoa học trẻ, tâm lý học, đã bị đàn áp trong nhiều thập kỷ và không được cộng đồng khoa học chấp nhận. Cô đã xoay sở để nổi bật với triết học chỉ vào cuối thế kỷ XIX, nhưng ngay cả sau khi cô phải chứng minh giá trị của mình. Điều này đã được thực hiện, trước hết, thông qua các kỹ thuật tâm lý thực nghiệm. Họ đã làm cho nó có thể tìm thấy một sự biện minh cho nhiều lý thuyết khoa học và thực hiện một số khám phá có ý nghĩa đối với cộng đồng thế giới.

    Cần lưu ý rằng trong thời gian này, các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm là chính và duy nhất. Các nhà khoa học chỉ tích lũy kiến ​​thức trong lĩnh vực này, vì vậy họ cần khẩn trương tìm ra phương pháp tiếp cận mới cho các đối tượng nghiên cứu của họ. Theo thời gian, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chỉ trở thành một phần của phương pháp và hiện được sử dụng cùng với các phương pháp khác để chứng minh tính hợp lệ của một lý thuyết cụ thể.

    Tuy nhiên, đến nay, tâm lý thực nghiệm gây ra rất nhiều tranh cãi. Các nhà khoa học không thể xác định ranh giới cho phép của nó và nơi có thể được gán cho nó trong hệ thống kiến ​​thức. Mặc dù có những khó khăn này, các phương pháp tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đang được quan tâm hàng năm giữa các chuyên gia trong lĩnh vực này và những người muốn áp dụng kiến ​​thức tâm lý vào thực tế.

    Phương pháp nghiên cứu: Mô tả ngắn gọn

    Trước khi bạn hoàn toàn đi sâu vào việc phân loại các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cần phải đưa ra một ý tưởng chung về phương pháp nghiên cứu, mà không khó để tưởng tượng các hoạt động của các nhà khoa học.

    Nói một cách đơn giản, chúng có thể được mô tả như một sự kết hợp của các kỹ thuật và phương pháp cho phép các chuyên gia có được thông tin đáng tin cậy về đối tượng nghiên cứu. Điều này cho phép bạn xây dựng một lý thuyết khoa học khác, cũng như phát triển một số khuyến nghị thực tế sẽ được sử dụng tích cực trong các công trình tiếp theo của các nhà khoa học khác.

    Vì tâm lý học rất khó tưởng tượng nếu không có phương pháp nghiên cứu, nên dễ dàng nhất để tháo rời chúng bằng cách sử dụng ví dụ của khoa học này. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học là vô cùng hạn chế, chúng rất dễ hiểu ngay cả đối với người ngoài cuộc. Và kết quả của ứng dụng của họ có thể rất ấn tượng.

    Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học: Các loại

    Các phương thức chính được chia thành hai nhóm:

    Phương pháp đầu tiên có thể được mô tả là thu thập dữ liệu có mục đích về đối tượng nghiên cứu và phân tích thông tin nhận được. Do đó, anh ta nên đưa ra lời giải thích về một hoặc một yếu tố tâm lý khác điều chỉnh hành vi của cá nhân.

    Phương pháp quan sát có một số yêu cầu mà chúng tôi tập trung vào một thời gian ngắn:

    • điều kiện tự nhiên;
    • tập trung rõ ràng;
    • đăng ký tất cả các kết quả nhận được.

    Thí nghiệm: Mô tả ngắn gọn và Đặc điểm nổi bật

    Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm có thể được mô tả như một toàn bộ chiến lược và một tập hợp các hành động. Nó bao gồm theo dõi một quá trình cụ thể, cũng như ảnh hưởng đến nó bằng cách thay đổi một số điều kiện nhất định.Do điều này, giả thuyết này hoặc giả thuyết được kiểm tra, nó có thể được xác nhận hoặc bác bỏ. Hơn nữa, khả năng ảnh hưởng đến quá trình và thay đổi các điều kiện ban đầu cung cấp thông tin đầy đủ hơn về đối tượng nghiên cứu.

    Sự khác biệt chính giữa phương pháp nghiên cứu và quan sát thực nghiệm là tình huống mà đối tượng nghiên cứu sẽ được mô hình hóa một cách giả tạo. Hơn nữa, nhà tổ chức chủ động can thiệp vào nó. Tùy thuộc vào mục tiêu của thử nghiệm, nó có thể thay đổi một hoặc một số biến, khắc phục các thay đổi đang diễn ra. Chúng ta có thể nói rằng nhà nghiên cứu không chỉ nghiên cứu chính đối tượng và các phản ứng của nó, mà còn cả cách các biến tương tác giữa bản thân và đối tượng.

    Tôi cũng muốn làm rõ rằng kỹ thuật thử nghiệm ngụ ý toàn quyền kiểm soát các nghiên cứu và các biến được giới thiệu để theo dõi các phản ứng. Đây là một sự khác biệt khác giữa hai phương pháp. Nếu quan sát làm cho không thể thấy trước bất kỳ quy trình nào, thì thử nghiệm cho phép chúng được dự đoán và mô hình hóa. Ngoài ra, thường các nhà nghiên cứu cố tình kích hoạt các phản ứng nhất định bằng cách thao tác các biến. Điều này cho phép bạn khám phá đầy đủ các đối tượng. Người ta tin rằng kỹ thuật này là kỹ thuật duy nhất có thể chứng minh đầy đủ khả năng tồn tại của một lý thuyết hoặc giả thuyết cụ thể.

    Các chi tiết cụ thể của kỹ thuật và lợi thế của nó

    Tính đặc hiệu chính của thí nghiệm là cực kỳ đơn giản – đó là sự can thiệp vào quá trình nghiên cứu để thay đổi các điều kiện cho đến khi tất cả dữ liệu được nhận. Đây chính xác là mục tiêu chính của các phương pháp ứng dụng nghiên cứu thực nghiệm.

    • khả năng có ý thức gây ra một số hiện tượng tinh thần;
    • khả năng ảnh hưởng đến các điều kiện của thí nghiệm;
    • xác định mối quan hệ nhân quả.

    Thực nghiệm, bạn có thể nhận được rất nhiều sự thật, bởi vì nó cho phép bạn thiết lập rõ ràng mối quan hệ giữa các điều kiện thay đổi và quá trình tâm lý.

    Hạn chế trong việc sử dụng thí nghiệm

    Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu thực nghiệm không phù hợp với mọi tình huống. Rốt cuộc, việc tổ chức một thí nghiệm có thẩm quyền là khá khó khăn. Các chuyên gia cho rằng nó nên được mô hình hóa theo cách mà đối tượng nghiên cứu thậm chí không nghi ngờ sự tham gia của nó vào các quy trình nhất định.

    Thật không may, điều này không phải lúc nào cũng có thể, và sau đó có một mối nguy hiểm là chính đối tượng nghiên cứu sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến kết quả của quá trình. Đối tượng có thể cảm thấy sợ hãi, mong muốn thể hiện bản thân trong một ánh sáng thuận lợi hơn, điều này sẽ không cho phép anh ta có được thông tin về các phản ứng tâm lý thực sự của mình.

    Một khó khăn khác là trong một số thí nghiệm, nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu phải liên lạc chặt chẽ với nhau. Trong trường hợp này, một kết nối cảm xúc được thiết lập giữa chúng, có thể ảnh hưởng đến hành vi của đối tượng. Trong trường hợp này, kết quả không thể được coi là hoàn toàn thuần túy và cần nghiên cứu bổ sung. Có lẽ trong trường hợp này nên sử dụng các phương pháp khác.

    Các loại thí nghiệm

    Trong thế giới khoa học, người ta thường phân biệt hai loại thí nghiệm:

    • phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm;
    • thí nghiệm tự nhiên.

    Mô tả ngắn gọn, thí nghiệm trong phòng thí nghiệm bao gồm chuẩn bị kỹ lưỡng. Nó diễn ra trong các phòng đặc biệt với số lượng lớn thiết bị, trong khi tất cả các đối tượng đều biết rằng họ đang tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên, mục tiêu thực sự của những gì đang xảy ra có thể bị ẩn khỏi chúng.

    Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm

    Xem xét các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rộng hơn, chúng ta có thể trình bày chúng như mô hình hóa hoạt động của một đối tượng trong một không gian hạn chế. Trong trường hợp này, tất cả các phương pháp nghiên cứu có thể được sử dụng, một sắc thái rất quan trọng là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại và phát triển các hướng dẫn đặc biệt. Nó phải được tuân thủ bởi cá nhân tham gia thí nghiệm và tất cả những người tham gia.

    Thí nghiệm tự nhiên

    Phương pháp nghiên cứu lý thuyết thực nghiệm, sau này được gọi là Hy tự nhiên, lần đầu tiên được đưa vào thực hành vào đầu thế kỷ XX. Bản chất của nó nằm ở sự thiếu hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về thí nghiệm và các điều kiện càng gần với môi trường sống thông thường của nó.

    Ưu điểm chính của kỹ thuật này là khả năng của nhà nghiên cứu ảnh hưởng tích cực đến đối tượng và quá trình, nhưng đồng thời vẫn không tham gia vào tất cả các hành động. Điều này mang lại độ tinh khiết đáng kinh ngạc của dữ liệu thu được, nhưng đồng thời khiến nó không thể lặp lại thí nghiệm. Khi ở trong điều kiện tương tự, đối tượng bắt đầu nhận ra rằng chúng được tạo ra một cách có chủ đích.

    Trong những năm gần đây, thế giới khoa học thường xuyên tranh luận về đạo đức của một kỹ thuật như vậy. Thực tế là trong quá trình thí nghiệm, một kỹ thuật ẩn được sử dụng. Cuộc sống của một cá nhân trở thành một nguồn chú ý chặt chẽ, trong khi các nhà nghiên cứu không nhận được sự đồng ý của anh ta để tham gia vào quá trình này. Một thí nghiệm có thể trở thành một chấn thương tâm lý thực sự nếu điều kiện của nó được tiết lộ.

    Các giai đoạn thử nghiệm

    Cần lưu ý rằng mỗi thí nghiệm bao gồm các giai đoạn nhất định. Sắc thái này rất quan trọng đối với độ tinh khiết của quy trình:

    • Trong giai đoạn thứ hai, thí nghiệm diễn ra trực tiếp. Nó bao gồm trong tác động của các nhà nghiên cứu ra thế giới bên ngoài. Trong trường hợp này, một kỹ thuật đặc biệt được phát triển. Nó trực tiếp phụ thuộc vào các nhiệm vụ và vấn đề đang được nghiên cứu. Hơn nữa, nó có thể trở nên phổ biến, tất cả phụ thuộc vào mức độ các vấn đề của thí nghiệm đang có nhu cầu.

    Hơn nữa, các phương pháp xử lý các nghiên cứu thực nghiệm, tùy thuộc vào các nhiệm vụ, vẫn không thay đổi. Điều chính trong quy trình này vẫn còn, chúng tôi nhắc lại, độ tinh khiết của dữ liệu thu được.

    Phân loại thí nghiệm

    Vấn đề này đòi hỏi phải xem xét chi tiết, vì ngày nay việc phân loại phụ thuộc trực tiếp vào nhiều yếu tố. Thông thường nó được thực hiện phụ thuộc vào hai đặc điểm. Đó là giá trị nói về họ một cách chi tiết.

    Theo kết quả tiếp xúc, ba loại thí nghiệm được phân biệt:

    • Làm sáng tỏ. Trong quá trình nghiên cứu, đối tượng không hình thành bất kỳ cài đặt mới nào, các thuộc tính mới không xuất hiện và các thuộc tính hiện tại không nhận được sự phát triển phù hợp. Theo cách phân loại này, người thí nghiệm có một vị trí tương tự như hành vi của người quan sát bên ngoài.
    • Hình thành. Ở đây, sự tham gia của người tổ chức thí nghiệm là tích cực nhất.Trong nhiều trường hợp, đối tượng hoàn toàn thay đổi, thường thì những thay đổi này là không thể đảo ngược. Đồng thời, bản thân tổ chức thí nghiệm không chỉ cho phép đăng ký dữ liệu thu được mà còn tiết lộ động lực, cơ chế ảnh hưởng, các giai đoạn hình thành các quá trình tâm lý nhất định, v.v.

    Các chuyên gia phân loại thí nghiệm theo mức độ nhận thức:

    • nhận thức đầy đủ về đối tượng về tất cả các sắc thái của thí nghiệm trong tương lai;
    • nhận thức một phần của cá nhân, trong đó, ngoài các sự kiện cụ thể, các giả thuyết sai lầm có thể cung cấp cho anh ta;
    • che giấu các nhiệm vụ, mục tiêu và điều khoản của thí nghiệm (thường thì đối tượng thậm chí không có ý tưởng rằng mình đã trở thành một đối tượng quan sát).

    Ngoài các loại trên, các thí nghiệm kiểm soát và nhào lộn trên không cũng có thể được gọi.

    Đối tượng nghiên cứu và bản thân người thí nghiệm phải ở một dạng tương tác nào đó. Thời điểm này là khó khăn nhất, vì vậy kỹ thuật không thể hoạt động mà không phát triển một hướng dẫn.

    Cần lưu ý rằng nhiệm vụ chính không phải là sự phát triển của một văn bản như vậy, mà là sự hiểu biết về nó bởi những người tham gia thí nghiệm. Đó là vì điều này mà nhà tâm lý học chịu trách nhiệm chính, bởi vì thường trong cùng điều kiện mọi người nhận thức thông tin theo những cách hoàn toàn khác nhau. Một số ngay lập tức hiểu tất cả các yêu cầu được chỉ định trong hướng dẫn, nhưng những người khác mất một thời gian. Một thử nghiệm không thể được bắt đầu cho đến khi tất cả những người tham gia đã sẵn sàng.

    Một vấn đề khác là việc lựa chọn đối tượng. Dựa trên các kết quả được hiển thị bởi một hoặc một loại đối tượng khác, các kết luận sẽ được rút ra trên một nhóm xã hội học khá rộng lớn. Do đó, các nhà nghiên cứu thường chọn các đối tượng đầu tiên một cách sai lầm, và chỉ sau đó các nhóm cá nhân phù hợp hơn mới được hình thành. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, chúng được chia thành hai nhóm.

    Một lệnh được ban hành cho các đối tượng được tạo ra theo các quy tắc chung. Nó sẽ phản ánh các điểm sau:

    • mục đích và mục tiêu;
    • các khóa học và tính năng của những gì đang xảy ra.

    Ngoài ra, văn bản nên càng nhiều thông tin và súc tích càng tốt.

    Xử lý kết quả mất nhiều thời gian. Điều quan trọng là phải xem xét họ đã bị biến dạng như thế nào trong thí nghiệm. Tâm lý học biết các trường hợp mà một nhà nghiên cứu, bị thuyết phục sâu sắc về tính nhất quán của lý thuyết của mình, đã ảnh hưởng đến hành vi của các đối tượng. Ngoài ra, những người tham gia thử nghiệm có thể trong quá trình đoán các nhiệm vụ và mục tiêu của mọi thứ xảy ra, vô tình điều chỉnh theo kết quả mong đợi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Bài 12. Phương Pháp Thuyết Minh
  • Phương Pháp Thuyết Minh Trang 48 Sgk Ngữ Văn 10
  • Soạn Phương Pháp Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Soạn Văn 10: Phương Pháp Thuyết Minh
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Tốt Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Loại Ngôn Ngữ Theo Quan Hệ Cội Nguồn
  • So Sánh Trong Tiếng Anh
  • Các Phương Pháp So Sánh 2 Lũy Thừa
  • Phương Pháp Đồng Đại Và Phương Pháp Lịch Đại Trong Nghiên Cứu, Biên Soạn Lịch Sử Đảng
  • Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Ngôn Ngữ Học
  • Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp và bạn thực sự hoang mang, không biết nên sử những gì để khiến cho tác phẩm của mình trở nên hấp dẫn, sinh động hơn?

    Thấu hiểu điều đó, trong bài viết này, Wiki Luận Văn sẽ chỉ ra cho bạn tất cả những phương pháp nghiên cứu trong luận văn, đồng thời, chúng tôi sẽ cung cấp tường tận về bản chất và cách áp dụng các phương pháp nghiên cứu đó.

    1. Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp

    Trong một bài luận văn, nhất định phải sử dụng những phương pháp nghiên cứu bởi nó giúp người đọc nhận ra định hướng và cách triển khai bài luận của bạn. Hơn nữa, sử dụng phương pháp nghiên cứu sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát về đề tài luận văn.

    Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp nhưng điển hình nhất vẫn là những phương pháp sau: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp dùng số liệu và phương pháp liệt kê

    1.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

    Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất khi tiến hành thực hiện một bài luận văn tốt nghiệp.

    Trước hết phân tích là phân tách những vấn đề nhỏ, những yếu tố cấu thành trong một đề tài, vấn đề và bàn luận về nó. Từ đó, chúng ta có thể hiểu được một cách sâu sắc, chi tiết và cụ thể nhất trong từng khía cạnh khác nhau.

    Sau khi phân tích từng khía cạnh một cách tách bạch, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát vào vấn đề, đề tài. Chính lúc ấy, chúng ta sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm gọn lại những nội dung chính, những vấn đề cần lưu ý và thông điệp của đề tài.

    Phương pháp phân tích – tổng hợp thường được sử dụng nhiều nhất trong phần bàn luận vấn đề, mở đầu và kết thúc vấn đề.

    1.2 Phương pháp so sánh

    Phương pháp so sánh như một phương thức để giúp cho bài luận của bạn trở nên hấp dẫn hơn, có tính đối chiếu thực tế và tính cạnh tranh. Từ đó, tạo sức hút cho vấn đề được bàn luận.

    Thông thường, khi sử dụng phương pháp so sánh, người ta thường áp dụng vào phần nêu ra dẫn chứng, thực trạng. Trong lúc so sánh, người ta có thể linh động kết hợp nhiều cách so sánh khác nhau như: so sánh tuyệt đối, so sánh tương đối, so sánh bình quân, Bên cạnh đó, cũng có thể sử dụng kiểu so sánh như so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều

    1.3 Phương pháp dùng số liệu

    Nhắc đến số liệu, chúng ta sẽ nhắc đến sự chính xác. Việc sử dụng phương pháp dùng số liệu sẽ khiến cho bài luận văn của bạn trở nên khách quan, xác thực. Đồng thời, hội đồng thầy cô sẽ thấy bạn là một người chịu tìm tòi và ham học hỏi.

    Những số liệu cần được lấy từ những kênh thông tin nổi bật, có nguồn gốc rõ ràng và thêm vào đó là những thông tin đó cần được xác minh từ những cơ quan chức năng có thẩm quyền.

    Đây là phương pháp có tính thực tế cao nhưng cũng rất dễ gây khó khăn cho người thực hiện bởi chỉ cần “sai một ly”, tác phẩm của bạn sẽ “đi một dặm”

    1.4 Phương pháp liệt kê

    Trong phương pháp này, bạn có thể sử dụng những thông tin mang tính tương đồng với vấn đề bạn đang nghiên cứu hoặc liệt kê những điều tương phản để làm nổi bật lên đề tài của mình.

    Mỗi một phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp lại đem đến cho bài luận văn những nét đặc sắc khác nhau

    Như vậy, có thể khẳng định rằng phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp hay còn gọi là các phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn. Bởi trong luận văn, chúng ta đặt ra đề tài, phân tích đề tài và có những kết luận cho đề tài ấy. Việc áp dụng những phương pháp cần đảm bảo được tính khách quan, tính hấp dẫn, tính rõ ràng.

    2. Một số kỹ năng Wiki Luận Văn mách bạn

    Chúng ta có thể kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cùng một lúc trong một bài luận văn nói chung và luận văn tốt nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, sự kết hợp ấy cần đảm bảo độ hợp lý và mức độ thông tin phải đảm bảo tính chính xác.

    Khi sử dụng những phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp, bạn cũng cần chú ý về chính tả, lời dẫn cũng như lời kết lại mỗi khi thực hiện xong một phương pháp nào đó.

    Việc áp dụng các phương pháp phải tương hợp với đề tài mà bạn nghiên cứu. Không thể thể thực hiện bàn luận về vấn đề kinh tế mà không sử dụng phương pháp so sánh hay sử dụng số liệu.

    Như vậy, khi sử dụng những phương pháp nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp, chúng ta cần chú ý tới những kỹ năng cần thiết để khai thác đề tài một cách trọn vẹn nhất.

    Wiki Luận Văn tin rằng, với những thông tin trên, bạn sẽ hoàn thành tốt tác phẩm của mình một cách trau chuốt nhất, chi tiết nhất và logic hơn cả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 4 Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Tốt Nghiệp
  • Các Phương Pháp So Sánh Trong Công Tác Đánh Giá Thành Tích Cho Nhân Viên
  • Tập Huấn Phương Pháp Giáo Dục Stem
  • Dạy Học Theo Định Hướng Stem
  • Đào Tạo Tại Hcm: Ứng Dụng Phương Pháp Stem+Arts Trong Giáo Dục Mầm Non
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Y Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Mẹ Mít Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Để Bé Khỏe Mẹ Nhàn Tênh
  • Nuôi Con Bằng Phương Pháp Easy Là Như Thế Nào?
  • Các Phương Pháp Xác Định Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho
  • Bài Tập Tính Giá Thành Sản Phẩm Có Đáp Án
  • PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC Một trong những mục tiêu cơ bản của di truyền y học là hiểu biết cơ sở di truyền. Trên cơ sở những hiểu biết đó, tìm ra các phương pháp nghiên cứu, phương pháp thăm dò, chẩn đoán, điều trị bệnh một các có hiệu quả hơn. Trong tiểu luận, chúng tôi sẽ trình bày một số phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu, chẩn đoán và trị liệu di truyền. Một trong những thành tựu nổi bật của sự phát triển khoa học kỹ thuật ngày nay là kỹ thuật phân tử. Kỹ thuật phân tử phát triển và nó được ứng dụng mạnh mẽ trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt nó giúp cho ngành Nông nghiệp, Y học có những bước phát triển vượt bậc. Trong tiểu luận, chúng tôi cũng đi sâu trình bày những kỹ thuật phân tử cơ bản, mới, được ứng dụng nhiều trong y học giúp cho việc chẩn đoán, phòng, chữa bệnh di truyền và trong sản xuất tạo nhiều chế phẩm có chất lượng cao. 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC 1.1. Những khó khăn Khi tiến hành nghiên cứu di truyền y học người ta gặp phải những khó khăn chủ yếu như sau: Rụng trứng sinh dục muộn, sinh sản chậm Tổ chức cấu trúc di truyền của con người rất phức tạp Không thể áp dụng các thí nghiệm lai ở sinh vật đối với con người Số lượng con cháu trong các gia đình ngày càng ít Thời gian sống và thời gian sinh trưởng của con người đều rất dài so với các động vật thí nghiệm. 1.2. Những thuận lợi Các đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nên dễ quản lý, theo dõi. Ngày nay con người đã hiểu biết rất rõ về các đặc tính, hình thái, giải phẫu, sinh lý, sinh hoá của mình. Ngày càng có nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại giúp cho việc nghiên cứu các tính trạng ở người được thuận tiện nhanh chóng và chính xác. 2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC 2.1. Phương pháp nghiên cứu phả hệ 2.1.1.Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu sự di truyền 1 tính trạng nào đó ở nhiều người trọng cùng 1 dòng họ qua nhiều thế hệ đề xem xét: – Tính trạng trội hay lăn – Tính trạng này do một gen hay nhiều gen quay định – Tính trạng này có di truyền liên kết với giới tính hay không – Khả năng mắc bệnh của các thế hệ tiếp theo Trong một số trường hợp còn xác định được người dị hợp tử mang gen bệnh. Phương pháp này kết hợp với các xét nghiệm khác cho phép có thể rút ra những lời khuyên về di truyền chính xác và hữu ích cho các gia đình về việc sinh con hoặc kết hôn. 2.1.2. Các bước tiến hành 2.1.2.1. Lập sơ đồ phả hệ Để lập sơ đồ phả hệ (phả hệ đồ) người ta sử dụng hệ thống ký hiệu quốc tế để biểu diễn với số lượng các thế hệ gia đình bệnh nhân ít nhất là từ 3 đến 4 thế hệ theo những nguyên tắc cơ bản sau: Các cá thể thuộc cùng một thế hệ được xếp cùng trên một hàng ngang theo thứ tự ngày sinh từ trái sang phải và được đánh dấu bằng chứ số Ả rập (1,2,3,4…). Các thế hệ được xếp theo chiều dọc theo thứ tự từ trên xuống dưới và được đánh dấu bằng chữ số La mã (I, II, III, IV…) ở phần đầu bên trái mỗi hàng. Thế hệ này được nối với thế hệ kia bằng đoạn thẳng vuông góc từ giữa vạch kết hôn của thế hệ trước xuống thế hệ sau. Ngoài ra trong khi tiếp xúc với người bệnh phải tránh yếu tố tâm lý bất lợi của họ khiến cho thông tin cung cấp cho bác sỹ bị sai lệch. Một số ký hiệu thường dùng trong lập phả hệ. 1. Nam giới; 2. Nữ giới; 3. Không biết giới; 4. Có thai; 5. Người lành; 6. Người bệnh; 7. Người có hội chứng bệnh hoặc dấu hiệu bệnh lý không đầy đủ/ dị hợp tử mang gen lặn bệnh lý; 8. Người lành mang gen lặn bệnh lý liên kết-X; 9. Người chưa có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ; 10. Người không được kiểm tra kỹ cũng bị bệnh như người bệnh; 11. Đương sự; 12. Chết; 13. Chết non ( ở tuổi thiếu nhi); 14. Chết thai và dưới 1 năm; 15. Sẩy thai; 16. Vợ chồng; 17. Hai vợ (hai chồng); 18. Vợ chồng ngoài giá thú; 19. Hôn nhân cùng huyết thống; 20. Hôn nhân không có con; 21. Anh chị em cùng bố mẹ; 22. Hai hôn nhân với các con của mỗi hôn nhân; 23. Số con không biết; 24. Không rõ là con để hay không; 25. Con nuôi (không cùng huyết thống); 26. Con sinh đôi một hợp tử; 27. Con sinh đôi hai hợp tử; 28. Không rõ kiểu sinh đôi một hợp tử hay hai hợp tử; 29. Con ngoài hôn nhân; 30. các thế hệ; 31. Anh chị em trong cùng một thế hệ. 2.1.2.2. Phân tích phả hệ Đây là bước quan trọng để xác định tính chất di truyền và cách thức di truyền của tính trạng bệnh lý. Để làm công việc này phải hiểu và biết vận dụng các qui luật di truyền cơ bản kết hợp với việc tính toán thống kê để sử lý các dữ liệu từ phả hệ. Hình 3.2: Một số sơ đồ phả hệ điển hình. (A) Trội autosome; (B) Lặn autosome; (C) Lặn liên kết-X; (D) Trội liên kết-X; (E) Liên kết-Y Ví dụ: Nếu như trong một phả hệ, ở các thế hệ đều thấy có người bị bệnh, khả năng mắc bệnh ở cả giới nam và giới nữ đều như nhau, trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh mà tỷ lệ các con bị bệnh là 50%, thì có thể nghĩ rằng bệnh là bệnh di truyền do gen trội nằm trên nhiễm sắc thể thường gây ra. Còn nếu như trong phả hệ thấy bệnh được di truyền có tính chất cách quãng, con trai bị bệnh nhiều hơn con gái, ông ngoại truyền bệnh cho cháu trai thì có thể cho rằng bệnh là bệnh di truyền do gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X gây ra. 2.1.3. Kết quả nghiên cứu: -Đã xác định được nhiều gen quy định tính trạng ở người là gen trội hay lặn. Ví dụ + Da đen, tóc quăn, môi dày, mũi cong, long mi cong là các tính trạng trội + Da trắng, tóc thẳng, môi mỏng, mũi cao, long mi ngắn là các tính trạng lăn. – Xác định được một số gen gây bệnh nằm trên NST giới tính. Ví dụ: + Bệnh mù màu, máu khó đông, tật dính ngón tay… là do gen lặn nằm trên X. + Tật dính ngón tay 2-3, túm lông ở tai do gen trên NST giới tính Y qui định. – Xác định được một số tính trạng do nhiều gen quy định. Ví dụ: + Năng khiếu toán, âm nhạc, hội họa,… là di truyền đa gen, song chịu ảnh hưởng của môi trường và xã hội. 2.2. Phương pháp trẻ sinh đôi (đồng sinh) 2.2.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Phương pháp trẻ sinh đôi là phương pháp dựa vào các trẻ sinh đôi. Đây là một trong những phương pháp có hiệu quả nhất để đánh giá vai trò của yếu tố di truyền và môi trừơng đối với sự phát triển một tính trạng nào đó ở người. Phương pháp trẻ sinh đôi cũng thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp nuôi dạy trẻ, đánh giá chất lượng các loại thực phẩm, các loại thuốc… 2.2.2. Các bước tiến hành 2.2.2.1. Chọn các mẫu sinh đôi Các mẫu sinh đôi có thể được lựa chọn bằng 2 cách. Một là trong dân cư lựa ra các trẻ sinh đôi rồi trong các trẻ sinh đôi ấy chọn lấy các cặp có tính trạng cần nghiên cứu. Hai là từ các nhóm dân cư lựa ra những trẻ có tính trạng cần nghiên cứu sau đó chọn ra các cặp sinh đôi. Cần chú ý thêm là chỉ tiến hành nghiên cứu khi có đủ cả 2 người trong mỗi cặp. Còn nếu chỉ có một người thì loại bỏ cả hai. 2.2.2.2. Chẩn đoán kiểu sinh đôi Đây là bước quan trọng đòi hỏi sự chính xác cao. Để chẩn đoán chính xác phải sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu so sánh về hình thái, sinh lý, sinh hóa như giới tính, màu tóc, màu mắt, màu da, dạng tóc và kiểu phủ tóc, lông trên đầu và thân, hình dạng miệng, mũi, tai, vân da bàn tay, các hệ thống nhóm máu, các protein huyết thanh v.v.. Hình 3.3: Rau thai và các màng ở trẻ sinh đôi. A. Rau thai, màng nuôi và màng đệm đều riêng; B. Rau thai chung, màng đệm chung, màng ối riêng; C. Rau thai và màng đệm chung, màng ối dính Nếu như tất cả các chỉ tiêu so sánh ở 2 người trong cặp sinh đôi đều giống nhau thì chứng tỏ đó là các trẻ sinh đôi có nguồn gốc một hợp tử (cùng trứng). Còn nếu chúng không giống nhau hoặc có giống nhau nhưng mức độ giống cũng không khác biệt gì nhiều so với các anh chị em ruột khác trong gia đình thì điều đó chứng tỏ rằng đó là các trẻ sinh dôi có nguồn gốc 2 hợp tử (khác trứng). Mức độ giống, khác nhau giúp chẩn đoán kiểu sinh đôi có thể được thực hiện bằng các phiếu điều tra bằng câu hỏi đối với chính đối tượng, bố mẹ, người thân trong gia đình như bố mẹ có hay nhầm lẫn không, thầy giáo, các bạn trong lớp có hay lẫn giữa hai người hay không v.v.. Đối với các trẻ sơ sinh, có thể chẩn đoán kiểu sinh đôi qua tính chất của các màng quanh thai: màng ối (trong), màng đệm (ngoài). Ở trẻ sinh đôi hai hợp tử luôn có màng đệ riêng, màng ối và nhau thai riêng. Tuy nhiên có trường hợp các thai khác hợp tử làm tổ ở tử cung thành hàng, cái này cạnh cái kia thì nhau thai có thể chung. Trường hợp có màng ối riêng nhưng có màng đệm chung ở sinh đôi hai hợp tử là rất hiếm. Nếu có màng đệm riêng, màng ối riêng, rau thai chung thì cũng có thể là sinh đôi một hợp tử nhưng rất hiếm gặp (chiếm 25% số sinh đôi một hợp tử và 50% sinh đôi hai hợp tử). 2.2.2.3. Đối chiếu so sánh các chỉ tiêu, rút ra kết luận đánh giá Đánh giá mức độ tương đồng: để đánh giá mức độ tương đồng của một tính trạng nào đấy ở các cặp sinh đôi người ta sử dụng một công thức tính gọi là công thức Alen- Smith: Kp = Ở đây C là số cặp tương đồng; D là số cặp không tương đồng theo tính trạng so sánh Thí dụ: Khi nghiên cứu tính trạng là bệnh tâm thần phân liệt ở 50 cặp sinh đôi một hợp tử (MZ) người ta thấy có 43 cặp, trong đó cả 2 trẻ đều bị bệnh (tương đồng) còn 7 cặp thì chỉ có một trẻ trong mỗi cặp bị bệnh (không tương đồng). Theo công thức Alen- Smith ta có thể tính được mức độ tương đồng trong trường hợp này là: KpMZ = = = 86 (%) Còn khi nghiên cứu tính trạng này ở 50 cặp sinh đôi hai hợp tử ( DZ ), nếu người ta thấy số cặp tương đồng là 8, số cặp không tương đồng là 42 thì ta sẽ có mức độ tương đồng trong trường hợp này là: KpDZ = = 16 (%) Đánh giá vai trò của yếu tố di truyền và yếu tố môi trường: để xác định vai trò của yếu tố di truyền đối với sự phát triển của một tính trạng nào đó, người ta áp dụng một công thức tính khác gọi là công thức Holzinger: H= (%) Theo công thức này ta có thể tính được vai trò của yếu tố di truyền đối với bệnh tâm thần phân liệt theo các số liệu ở trên: H = = = 83 (%) Vì mỗi tính trạng ở con người đều là kết quả của sự tương tác giữa yếu tố di truyền (H) và yếu tố môi trường (C) ở những mức độ khác nhau. Bởi vậy để xác định vai trò của yếu tố môi trường trong trường hợp này đối với bệnh tâm thần phân liệt, ta có: H + C = 100% ; C = 100% – H = 100% – 83% =17%. 2.3. Phương pháp vân da 2.3.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Phương pháp nghiên cứu vân da là phương pháp nghiên cứu di truyền y học dựa trên những đặc tính của các đường nét, hình thù của bề mặt da ở các đầu ngón tay và lòng bàn tay. Phương pháp này có giá trị trong việc góp phần chẩn đoán sớm một số bệnh lý ở người, trong lĩnh vực khoa học hình sự và trong việc xác định trẻ sinh đôi. Cơ sở khoa học của phương pháp vân da là ở chỗ hình thù và đường nét vân da mang tính cá thể nghiêm ngặt do chúng được kiểm soát bởi nhiều gen. Trong quá trình phát triển cá thể, các hoa vân trên tay được hình thành từ tháng thứ sáu và hầu như không bị biến đổi trong suốt cuộc đời. Hình 3.4: Các delta đáy ngón a,b,c,d; Hình 3.5. Các đường vân chính A,B,C,D các vùng trong lòng bàn tay (Th, Hy, và kiểu vân trong lòng bàn tay. I1,I2,I3,I4) và gã ba trục t. 2.3.2. Các bước tiến hành 2.3.2.1. Lấy mẫu in vân da trên giấy trắng 2.3.2.2. Phân tích mẫu in theo các chỉ tiêu Tổng số các đường vân đầu ngón. Công thức vân đầu ngón. Cường độ vân đầu ngón. Tần số mỗi loại vân. Chỉ số Cummins. Các kiểu vân trên vùng mô cái và mô út. Góc ngã ba trục atd. Số lượng và hình dạng các rãnh lòng bàn Rút ra các kết luận nhận xét so sánh kết quả nghiên cứu ở các nhóm đối tượng khác nhau. Các kiểu vân đầu ngón: 1: vân cung Các miền quanh gan bàn tay (1-13) đơn giản; 2: vân cung lều; 3; vân và chỉ số Cummins. móc/búi/nút; 4,5,6: kiểu vân vòng đối xứng, vòng xoáy và vòng móc kép. Mức độ giống nhau về nếp vân da và quan hệ huyết thống. Quan hệ Mức độ giống nhau Thực tế Lý thuyết Sinh đôi một hợp tử 0,95 1,00 Sinh đôi hai hợp tử 0,49 0,50 Anh chị em ruột 0,5 0,50 Bố mẹ- con 0,48 0,50 0,05 0,00 Không quan hệ huyết thống 2.4. Phương pháp nghiên cứu di truyền phân tử. Các thành tựu to lớn trong những năm gần đây về lĩnh vực Di truyền học người, đặc biệt là thành tựu giải mã bộ gene người đạt được là nhờ sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử như tách chiết, phân tích định tính và định lượng nucleic acid; các phương pháp lai phân tử: Southern blot, Northern blot, lai tại chỗ (in situ hybridization),… ; các phương pháp xác định trình tự nucleic acid; tạo dòng (cloning); xây dựng thư viện bộ gene, thư viện cDNA; phương pháp PCR (polymerase chain reaction); Sinh tin (Bioinfomatics),… 2.4.1.Các phương pháp tách chiết acid nucleic, các phương pháp định tính và định lượng cơ bản. 2.4.1.1.Các phương pháp tách chiết acid nucleic: 2.4.1.1.1.Phương pháp tách chiết DNA. + Bước 1: phá màng tế bào, màng nhân: nghiền tế bào, mô trong hỗn hợp, chất tẩy (SDS) và proteinase để phá vỡ màng tế bào, màng nhân, giải phóng DNA ra môi trường đồng thời phân hủy các protein liên kết với DNA. Chất tẩy là các phân tử lưỡng cực, sẻ kết hợp với protein màng và các phân tử phospholipid làm phá vỡ cầu trúc màng. Chất tẩy ion hóa có tác dụng phá màng mạnh, chất tẩy không ion hóa có tác dụng phá màng nhẹ hơn. + Bước 2: loại protein: lắc mẫu trong dung dịch phenol: chloroform để biến tính protein đồng thời không hòa tan acid nucleic. Protein bị biến tính sẻ không hòa tan trong pha nước có chứa acid nucleic và sau khi li tâm sẻ tủa thành một lớp nằm giữa pha nước và pha phenol : chloroform. Thu hồi acid nucleic trong pha nước. + Bước 3: thu hồi acid nucleic : thu hồi dưới dạng tủa acid nucleic nhằm thu nhận acid nucleic dưới dạng cô đặc để bảo vệ chúng khỏi sự phân li của các enzyme và khi cần có thể hòa tan lại trong nước theo nồng độ mong muốn. Có thể tủa trong ethanol hoặc trong isopropan ol. 2.4.1.1.2.Tách chiết ARN. Phương pháp tách chiết ARN toàn phần cũng bao gồm các bước cơ bản như tách chiết ADN: – Giải phóng ADN và ARN ra khỏi màng tế bào. – Tách bỏ phần protein. – Tủa acid nucleic Bước tiếp theo: dịch chiết chứa acid nucleic được ủ với ADN polimerase để phân hủy ADN. Sau đó phân hủy dịch chiết chứa ARN trong nước; tủa bằng ethanol, để thu được ARN toàn phần. mARN có thể tách riêng. Dựa vào cấu trúc phân tử có đuôi mARN có đuôi poly A có thể tách mARN bằng sắc ký ái lực trên cột oligo T -cellulose. Hiện nay đã sử dụng bộ kit ( bộ mẫu thử chuyên dụng) sử dụng các viên bi từ có mang oligo T trên bề mặt. Thông qua liên kết bổ sung A=T các mARN bám lên bề mặt các viên bi từ. Sau đó bằng kỹ thuật li tâm thu lại các viên bi và tách mARN. Kỹ thuật này cho phép tách giữ lại mARN với khối lượng rất nhỏ. Chú ý trong quá trình thao tác, tránh lẫn ADN và ARN, ARN của đối tượng khác vào dụng cụ. Tránh các enzym phá hủy ADN hoặc ARN cần nghiên cứu. Đặc biệt ARN không bền dễ bị phân li bởi ARN polimerase. Sau khi tách chiết ADN kiểm tra độ tinh khiết của ADN bằng xác định tỉ lệ OD260/OD280 và OD260/OD 230 = 1,7 – 2 được coi là sạch hoặc bằng phương pháp điện di ADN. 2.4.1.1.3.Phương pháp sắc ký + Sắc ký ái lực: trên poly U-Sepharose hay oligodTcellulose, dùng để tinh sạch mARN. + Sắc ký lọc gel dùng trong phân tách các acid nucleic và nucleotic tự do sau quá trình tạo mẫu dò (probe) đánh dấu. + Sắc ký trong hiệu suất cao: có độ phân giải rất cao dùng trong tinh sạch các oligonucleotide tổng hợp, plasmid, phân tách các đoạn DNA. + Sắc ký trao đổi ion trên vi cột để thu hồi một lượng rất nhỏ DNA. 2.4.1.2.Các phương pháp định tính và định lượng thô acid nucleic. 2.4.1.2.1.Phương pháp định lượng bằng quang phổ kế. Cho phép định lượng tương đối nồng độ acid nucleic có trong mẫu. Nguyên tắc là dựa vào sự hấp thụ mạnh ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 260 nm của các base. Giá trị mật độ quang ở bước sóng 260 nm của các mẫu đo cho phép xác định nồng độ acid nucleic trong mẫu dựa vào mối tương quan một đơn vi OD260nm tương ứng với nồng độ: + 50µg/ml cho một dung dịch DNA sợi dôi. + 40µg/ml cho một dung dịch DNA hay RNA sợi đơn. Định tính: độ sạch dựa trên tỉ số OD260/OD280, tính chất của các acid nucleic (mạch đôi/đơn) (280nm là bước sóng ở đó các protein có mức độ hấp thụ cao nhất. 2.4.1.2.2.Phương pháp điện di. Mục tiêu: + Định tính: sự hiện diện, cấu hình phân tử, kích thước. + Định lượng: hàm lượng tương đối so với thang hàm lượng. + chuẩn bị: thu hồi đoạn DNA (dùng trong tạo dòng) Nguyên tắc: dựa vào đặc tính, cấu trúc của acid nucleic: tích điện âm đồng đều trên khắp bề mặt của điện trường nên sẻ di chuyển về cực dương của điện trường. Tính linh động của phân tử khi di chuyển trong điện trường phụ thuộc vào khối lượng phân tử và nồng độ các chất cấu thành gel. Kiểu điện di: Agarose, Polyacylamide, điện li trong trường xung (PDGE – Pulse Field Gel Electrophoresis). a.Điện di trên gel polyacrylamide. Được dùng để tách các đoạn có kích thước nhỏ, dưới 1000 cặp base. Điện di theo phương thẳng đứng. Độ phân giải cao, phân biệt được những trình tự chỉ cách nhau 1 nucleotide. Phương pháp phát hiện: DNA phóng xạ tự gỉ, xanh methylene, ethidium bromide, protein – xanh coomassie nhuộm nitracte bạc. ứng dụng: tinh sạch các oligonucleotic tổng hợp, xác định trình tự DNA, tách các trình tự DNA có khoảng cách gần bằng nhau, SDS – PAGE (phân tích protein). b. Điện di trên gel agarose. Gel agarose là loại gel thông dụng nhất, thường dùng để phân tách những đoạn có kích thước 0,5 – 20 kb. Điện di theo phương nằm ngang. Độ phân giải thay đổi khi nồng độ agarose hay loại agarose thay đổi. Phát hiện bằng phóng xạ tự ghi, nhuộm ethidium bromicde. Chất này có khả năng gắn xen vào giữa các base của acid nucleic và sẻ phát huỳnh quang dưới tia tử ngoại. Ứng dụng: phát hiện một trình tự DNA, phân tích trình tự các hỗn hợp DNA (Southern blot), chuẩn bị nguyên liệu. 2.4.2.Các phương pháp lai phân tử. 2.4.2.1.Cơ sở của lai phân tử. Khái niệm về lai phân tử: + Khi một phân tử DNA mạch đôi được đun lên một nhiệt độ vượt quá nhiệt độ nóng chảy Tm thì hai mạch sẻ tách rời nhau do sự phá vỡ các liên kết H ở hai mạch. + Sau khi hai mạch tách rời nếu nhiệt độ phản ứng được làm giảm từ từ cộng với điều kiện thí nghiệm thích hợp, chúng sẻ bắt cặp trở lại, hiện tượng này gọi là sự lai phân tử. Đặc điểm của sự lai phân tử: + Đặc hiệu tuyệt đối: sự tái bắt cặp chỉ xảy ra giữa hai trình tự hoàn toàn bổ sung với nhau. + Các trình tự bổ sung có thể là DNA, RNA dẫn đến sự hình thành các phân tử DNA – RNA, RNA – RNA hay các phân tử lai DNA – DNA. 2.4.2.2.Các kiểu lai phân tử. chúng tôi trên pha lỏng. Các trình tự cần lai nằm trong pha lỏng, là một dung dịch đệm. Sự lai phân tử xảy ra khi các trình tự này gặp nhau do chuyển động nhiệt và khi nhiệt độ môi trường thấp hơn Tm. Phương pháp này sử dụng để phát hiện các trình tự tương đồng giữa các loài hay một cá thể. chúng tôi tại chổ: trình tư acid nucleic cần tìm không được tách chiết ra khỏi mô hay tế bào. Quá trình lai với mẫu dò đã được đánh dấu và phát hiện các phân tử lai được thực hiện ngay trên NST, tế bào hay lát cắt mô. chúng tôi trong pha rắn. Một tron hai trình tự cần lai là cố định trên giá thể rắn ( màng lai). Phát hiện phân tử lai thông qua mẫu dò (probe) có đánh dấu đồng vị phóng xạ. Ba kỹ thuật lai trên pha rắn thông dụng là Southern blot, Nothern blot và Dot blot. a.Southern blot. Nguyên tắt của Southern blot là màng lai nitrocellulose có khả năng tiếp nhận DNA đã được biết từ lâu và được sử dụng trong nghiên cứu lai acid nucleic khác nhau vào những thập niên 1950 và 1960. Đầu thập niên 1970, sự ra đời của phương pháp điện di trên gel đã cho phép các đoạn DNA được cắt bởi enzyme hạn chế có thể được phân tách dựa trên cơ sở kích thước của chúng. Từ đó nước phát triển tiếp theo của phương pháp chuyển các đoạn DNA phân tách từ gel lên lai màng lai nitrocellulose. Phương pháp này được Southern mô tả tại đại học Edingburgh vào năm 1975. Southern Blot bao gồm các bước cơ bản sau: – Cắt DNA bằng enzym hạn chế thích hợp. – Điện di sản phẩm cắt trên gel agarose. – Làm biến tính DNA ngay trên gel, DNA sợ kép sẻ được tách thành DNA sợ đơn. Chỉ DNA sợi đơn mới có thể chuyển lên màng lai. – Chuyển DNA đã biến tính lên màng lai ( màng nitrocellulose hay màng nylon). Việc chuyển DNA thường được tiến hành bằng hoạt tính mao dẫn trong khoảng vài tiếng hoặc có thể dùng một thiết bị thấm chân không. Trong quá trình chuyển, vị trí các đoạn DNA vẫn được giữ nguyên không thay đổi. – Lai DNA đã được cố định trên màng với mẫu dò (probe) DNA có đánh dấu. – Quá trình này dựa trên nguyên tắc bổ sung giữa DNA trên màng lai với mẫu dò. Để đánh giá người ta thường sử dụng P32, biotin/streptavidin hoặc một vài mẫu dò phát quang sinh học. – Định vi các phân tử DNA – mẫu dò. Nếu sử dụng các mẫu dò đánh dấu phóng xạ thì dùng phương pháp phóng xạ tự ghi (autoradiograph) để xác định. Nếu sử dụng biotin/ streptavidin thì dùng phương pháp so màu hoặc nếu sử dụng mẫu dò phát quang sinh học thì thì phát hiện bằng sự phát quang. b.Northern blot. Sau khi Southern mô tả phương pháp Southern blot năm 1975, người ta dung một phương pháp tương tự để xác định các đoạn RNA đặc biệt gọi là Northern blot. Northern blot bao gồm các bước sau: + RNA (RNA tổng số hoặc chỉ mRNA) bằng phân tách bằng điện di trên gel agarose. + RNA sau khi đã được phân tách chuyển lên màng lai (các phân tử RNA giữ nguyên vị trí như ở trên gel) + RNA cố định trên màng lai với mẫu dò DNA sợi đơn ( hoặc RNA ) có đánh dấu phóng xạ hoặc được gắn với một enzyme tạo thành phân tử lai RNA – DNA hoặc RNA – RNA sợi kép. + Vị trí của mẫu dò được xác định bằng phương pháp phóng xạ tự ghi nếu nó được đánh dấu phóng xạ. Trong trường hợp mẫu dò được gắn với enzyme thì đem ủ với một cơ chất không màu. Enyme liên kết với nó sẻ biến đổi thành một sản phẩm màu có thể nhìn thấy hoặc phát ra ánh sáng mà có thể phát hiện bằng phim X quang một cách trực tiếp. c.Phương pháp Dot blot – Slot blot Lai theo phương pháp Dot blo là phương pháp sàng lọc nhanh thường thực hiện với những mẫu dò ASO để phân biệt sự khác nhau giữa các alen ở vị trí một nu. Phương pháp này không cần điện di trên thạch mà bằng thấm trực tiếp từ đó để xác định những đoạn nu khác nhau. Quy trình thực hiện của kỹ thuật qua các bước sau: + Bước 1: dung dịch ADN được biến tính bằng nhiệt độ hay bằng dung dịch Kali để tách ADN sợi kép thành ADN sợi đ. + Bước 2: Gắn ADN đích đã được biến tính lên màng lai. + Bước 3: đưa màng lai chứa ADN đích vào dung dịch chứa ADN dò. + Bước 4: sau khoảng 20 – 24h ADN dò sẻ gắn vào ADN đích tạo thành chuổi kép. + Bước 5: Rửa màng lai. Để khô tự nhiên sau đó phân tích bằng tự chụp phóng xạ. Ngoài ra còn có thể gắn ADN dò lên màng lai, ADN đích được để ở trong dung dịch và các bước tương tự như trên.  Phương pháp lai tại chổ (In Situ Hybridization) Phương pháp lai tại chổ vừa là phương pháp di truyền tế bào vừa là phương pháp di truyền phân tử. Phương pháp thường được dùng là lai NST ở kì giữa hoặc NST trong nhân tế bào gian kỳ với ADN dò đã được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ hoặc bằng phóng xạ huỳnh quang. Quang sát sự có mặt của đoạn ADN đích trong đoạn ADN lai bằng tự chụp hình phóng xạ hoặc bằng kính hiễn vi huỳnh quang. Bằng phương pháp này chuỗi nhẹ kappa của globulin miễn dịch đã được xác định có locus trên nhánh ngắn của NST số 2.  Phương pháp lập bản đồ mất đoạn. Phương pháp này dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của một số vùng đặc biệt nào đó hoặc của một locus trong ADN lấy từ bệnh nhân có bất thường NST hay từ mẫu lai các tế bào sô ma của người và gậm nhấm, trong mẫu có chứa đoạn ADN đã biết trước của NST người. Lập bản đồ mất đoạn đặc biệt có ích cho lập bản đồ NST X vì một số lượng lớn các bất thường trên NST X đã được xác định.  Thông tin về khoảng cách hình thể. Các đoạn ADN giới hạn là các đoạn ADN sau khi được cắt bởi enzim giới hạn được lai với các mâu đánh dấu ngoài tế bào bằng phương pháp Southern blotting, bao gồm các giai đoạn cắt ADN, tách ADN bằng điện li, thấm ADN từ gel agarose điện li lên màng nitrocellulose hoặc nylon và sau đó lai ADN và đọc bằng chụp hình phóng xạ nếu đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ hoặc đọc theo phương pháp huỳnh quang nếu đánh dấu bằng nhuộm màu huỳnh quang. Ngoài các phương pháp trên người ta còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu mô phỏng học, phương pháp điều tra dịch tễ học và phương pháp di truyền lâm sàng… trong nghiên cứu Di truyền học người. 2.5. Phương pháp di truyền tế bào 2.4.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Đây là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay để phát hiện và quan sát nhiễm sắc thể, qua đó xác định các dị dạng nhiễm sắc thể, các hiện tượng lệch bội, hiện tượng cấu trúc lại nhiễm sắc thể dẫn đến nhiều bệnh di truyền hiểm nghèo ở người. Dùng mô gồm nhiều tế bào đang phân chia mạnh như mô tuỷ xương , mô bào thai, mô tinh hoàn, khối u ác tính…làm tiêu bản để phân tích, đánh giá nhiễm sắc thể. Là phương pháp bắt buộc trong chẩn đoán phân biệt các bệnh nhiễm sắc thể. Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu các tác nhân gây đột biến nhiễm sắc thể ở người. Kỹ thuật lai tế bào soma và kỹ thuật hiện băng nhiễm sắc thể ra đời đã cho phép nghiên cứu cơ chế ung thư, hoạt động của gene trong quá trình phát triển cá thể và góp phần tích cực vào việc lập bản đồ di truyền người. 2.4.2. Các bước tiến hành Thu nhận các mẫu nghiên cứu trực tiếp từ các tổ chức trong cơ thể hay nuôi cấy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lí Y Học
  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Lớp Phương Pháp Nghiên Cứu Y Học Lâm Sàng
  • Sốc: Đã Tìm Ra Cách Dự Đoán Trúng Giải Jackpot Của Vietlott?
  • Bài 3: Nhiệm Vụ, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học Pdf
  • Tổng Quan Về Xu Hướng Thời Trang
  • Sốc: Đã Tìm Ra Cách Dự Đoán Trúng Giải Jackpot Của Vietlott?
  • Lớp Phương Pháp Nghiên Cứu Y Học Lâm Sàng
  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Tóm tắt lý thuyết

    1. Nhiệm vụ của xã hội học

    • Nghiên cứu các hình thái biểu hiện và các cơ chế hoạt động của các quy luật hoạt động của xã hội.
    • Phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý xã hội một cách trực tiếp và gián tiếp.
    • Tri thức của xã hội học đại cương được xem như là một bộ phận, cơ sở phương pháp luận của xã hội học chuyên ngành và kể cả các khoa học khác trong hệ thống khoa học xã hội.
    • Việc vận dụng tổng hợp các kiến thức và kĩ năng nghiên cứu xã hội học phục vụ cho công tác quản lý xã hội và công tác
    • xã hội nói chung càng nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ của xã hội học đối với đời sống thực tiễn.

    Phương pháp nghiên cứu xã hội học là phân ngành nổi bật của khoa học xã hội học. Nhờ có nó mà ngành xã hội học ngày càng đóng góp đáng kể vào việc hoạch định các chính sách từ vi mô đến vĩ mô cũng như nâng cao năng lực quản lý xã hội.

    2.1 Phân loại nghiên cứu

      Nghiên cứu xã hội học có thể được phân loại dựa trên tích chất của nghiên cứu. Ví dụ như:

      • Nghiên cứu khám phá (exploratory) được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực.
      • Nghiên cứu qui mô nhỏ (small-scale) là nghiên cứu thường được sử dụng trong kinh doanh.
      • Nghiên cứu qui mô lớn có tính chuyên nghiệp cao (large- scale professional) là loại nghiên cứu phức tạp và tốn kém.

    Ngoài ra, người ta cũng phân loại nghiên cứu xã hội học dựa trên phạm vi nghiên cứu như nghiên cứu thống kê (statistical studies) và nghiên cứu trường hợp (case studies).

    Nghiên cứu xã hội học có the xuất phát từ điều tra thực tế để khẳng định hay bác bỏ giả thuyết hoặc xuất phát từ điều tra thực trạng để đưa ra một lý thuyết mới. Điều tra thực tế là quá trình thu thập dữ kiện hoặc thông tin. Việc thu thập dữ kiện có thể được coi là thành phần khách quan của khoa học. Các kĩ thuật thu thập dữ kiện cho phép chúng ta tìm ra cái gì xảy ra chung quanh ta.

    2.2 Quy trình nghiên cứu xã hội học

    Thực hiện một nghiên cứu xã hội học cần tuân thủ một qui trình nhất định. Trước tiên nhà nghiên cứu cần phải đưa ra vấn đề nghiên cứu, sau đó đề ra phương pháp nghiên cứu vấn đề ấy bao gồm các phương pháp thu thập thông tin cụ thể. Những thông tin thu thập được sẽ được xử lý và phân tích về mặt định tính và định lượng để rút ra được kết luận cuối cùng của nghiên cứu.

    • Vấn đề nghiên cứu:
        Vấn đề nghiên cứu là nhận định về cái mà nhà điều tra muốn tìm ra. Nếu đó là việc kiểm tra một lý thuyết, thì có thể đây là một nhận định tiên đoán với các kết quả. Một lời tiên đoán như thế được gọi là một giả thuyết. Mặt khác, những cuộc khảo cứu thăm dò lại có thể chứa đựng một nhận định về vấn đề.
    • Các phương pháp:
      • Phương pháp quan sát: là phương pháp mà nhà nghiên cứu sử dụng các tri giác của mình để thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu.
      • Phương pháp phỏng vấn: là cách thu thập thông tin thông qua việc hỏi và trả lời giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, bằng các hình thức như mặt đối mặt, gọi điện thoại…
      • Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi: là phương pháp sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu.
      • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: là cách mà nhà nghiên cứu tiếp cận các chuyên gia đầu ngành, để tham khảo ý kiến của họ.
    • Các kết quả:
      • Kết quả là sản phẩm của các phương pháp.
      • Chỉ có các dữ kiện (các sự kiện được quan sát) và các kết quả của mọi trắc nghiệm thống kê mới được đưa vào phân kết quả.
      • Thông tin có thể được trình dưới hình thức nhận định mô tả mà không lý giải, hoặc dưới hình thức biểu bảng và biểu đồ.
      • Phần kết quả chỉ bao gồm những tư liệu thuộc về sự kiện.
    • Các kết luận:
        Phần kết luận giải thích các kết quả, chính điều này mà cuộc nghiên cứu đưa ra:

        • Những vấn đề có thể có, do phương pháp cụ thể gợi lên.
        • Việc lý giải và khái quát hóa, nếu có thể được đưa ra.
        • Về căn bản các kết luận trả lời cho câu hỏi “như vậy thì sao?”.

    2.3 Cách thức tiến hành một nghiên cứu xã hội học

    Trong khi tiến hành nghiên cứu xã hội học, chúng ta phải thực hiện rất nhiều các thao tác khác nhau.

    Từ những thao tác đó, có thể tạm chia tiến trình điều tra thành 3 giai đoạn:

    • Giai đoạn 1: Chuẩn bị.
    • Giai đoạn 2: Tiến hành điều tra.
    • Giai đoạn 3: Xử lý và giải thích thông tin.
    • Giai đoạn chuẩn bị:

        Nhà nghiên cứu cần làm rõ nhưng vấn đề sau đây:

        • Vấn đề điều tra hay là đối tượng điều tra, ví dụ: vấn đề cần nghiên cứu như lối sống, định hướng giá trị, nhu cầu tiêu dùng, v.v…
        • Địa bàn nghiên cứu.
        • Giả thuyết nghiên cứu: Giả thuyết là giả định chủ quan của người điều tra. Giả thuyết là cơ sở để cho biết chúng ta cần phải thu được những thông tin gì trong cuộc điều tra. Vì vậy, khâu xây dựng giả thuyết cực kì quan trọng. Giả thuyết đúng hay sai sẽ do chính số liệu của nghiên cứu chứng minh. Sau cuộc điều tra giả thuyết sẽ được thừa nhận hay bác bỏ.
        • Mô hình lý luận: Mô hình này giúp chúng ta khái quát hóa vấn đề đưa ra các lý giải có tính khoa học. Mô hình lí luận chính là khuôn mẫu, là cái khung để chúng ta có thể sắp xếp các số liệu rời rạc thành hệ thống thống nhất.
        • Thao tác hóa các khái niệm: Trong khi xây dựng giả thuyết và xây dựng mô hình lí luận các nhà xã hội học phải trình bày một loạt các khái niệm và phải “thao tác hóa các khái niệm” tức là làm đơn giản hóa các khái niệm và làm cho chúng trở thành tiêu chí, những chỉ báo có thề đo lường dược.
        • Các phương pháp thu thập thông tin. Trong đó xây dựng bảng câu hỏi, danh sách các câu hỏi phỏng vấn, mục tiêu quan sát, v.v… cần tuân thủ chặt chẽ những tiêu chí hay chỉ báo nghiên cứu.

    Trước khi tiến hành điều tra thật nhà nghiên cứu cần tiến hành điều tra thử với mục đích chuẩn hóa bảng câu hỏi và đồng thời tiến hành huấn luyện điều tra viên.

    • Giai đoạn tiến hành điều tra:

      • Bắt đầu cuộc điều tra thật. Các điều tra viên tiến hành tiếp xúc với người được hỏi. Điều tra viên trước phải đáp ứng được tiêu chuẩn cụ thể về trình độ học vấn và phải có khả năng giao tiếp trung thực.
      • Việc điều tra hay thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu phải đúng danh sách mẫu hay là người được hỏi đã được chọn. Trong khi điều tra, nhà nghiên cứu đồng thời giám sát quá trình thực hiện và tiến hành rà soát phiếu hỏi để kịp thời bổ sung.
    • Giai đoạn xử lý thông tin

      • Những số liệu thu thập được sẽ được nhà nghiên cứu dựa trên mô hình lý luận xử lý theo các biến số độc lập hay phụ thuộc và những mối liên hệ giữa những biến số đó.
      • Kết quả xử lý sẽ được phân tích và lý giải. Từ đó nhà nghiên cứu có thể đưa ra những kết luận hay những khuyến nghị cụ thể trong báo cáo tổng kết nghiên cứu.
      • Báo cáo này nhằm giúp các nhà quản trị xã hội có thể nhìn ra những vấn đề cần giải quyết hoặc điều chỉnh chính sách ổn định và phát triển xã hội.

    Quy trình này cần phải tách riêng và tiến hành một cách khoa học nhằm đem lại tính khách quan của nghiên cứu xã hội học.

    2.4.1 Các loại mẫu xác xuất

    Các yếu tố trong khung mẫu sẽ được đánh số, sau đó viết những con số lên mẩu giấy rồi cho vào một chiếc hộp sóc lên, rồi lần lượt bốc từ trong hộp ra những mẩu giấy bất kì. Những con số trong mẩu giấy nào được chọn cùng chính là những con số thứ tự của những người trong danh sách đã được chọn. Hiện nay phần mềm SPSS của máy tính có thể giúp chúng ta lấy ra một tập hợp những số ngẫu nhiên.

    • Mẫu hệ thống qui định rằng chúng ta chọn mẫu những người thứ n khi đã chọn một số đầu tiên ngẫu nhiên. Ví dụ: chúng ta có danh sách các chủ hộ do các tổ trưởng cung cấp, tổng số là 5.000 người, chúng ta muốn chọn mẫu có dung lượng là 100 người. Như vậy cứ 50 người trong tổng thể, chúng ta có thể chọn 1 và nếu muốn người thứ 1/50 xuất hiện trong mẫu thì chúng ta sẽ cần lấy người đầu tiên bất kỳ trong số 50 người đầu tiên của tổng thể và sau đó cứ 50 người, chúng ta sẽ lại chọn một người đưa vào danh sách mẫu, cứ làm như vậy cho đến cuối danh sách, nếu hết danh sách ta vẫn chưa chọn xong thì cũng có thể quay trở lại từ đầu bằng cách đó, mỗi người trong danh sách sẽ đều có cơ hội được chọn như nhau.
    • Chọn mẫu phân tầng, người chọn mẫu cần phải nắm được một số đặc điểm của khung mẫu, rồi chia khung mẫu đã có theo những đặc điểm mà họ quan tâm thành những “tầng”‘ khác nhau. Ví dụ: đặc điểm về giới tính, trình độ học vấn hay lứa tuổi, vv… Sau đó chọn mẫu trên cơ sở các tầng. Các nhà xã hội học cho rằng những yếu tố kể trên có khả năng ảnh hưởng đến câu trả lời vì vậy nếu chọn được các mẫu xác xuất dựa trên cơ sở các tầng, khi xử lý kết quả theo các phân tổ như giới tính, nghề nghiệp, học vấn… thì khả năng đại diện cho mỗi tầng sẽ lớn hơn.

    2.4.2 Mẫu phi xác suất

    Những nghiên cứu định tính, nghiên cứu trường hợp trong một khu vực hẹp không đòi hỏi phải chọn mẫu xác suất.

    Mẫu thuận tiện bao gồm những người sẵn lòng trả lời cho người thu thập thông tin mà không cần phải thuộc về một danh sách nào và việc chọn họ làm đơn vị mẫu cũng không cần tuân theo nguyên tắc nào. Cần phải lưu ý rằng, không phải ai cũng sẵn sàng trả lời cho những câu hỏi về những vấn đề quá tế nhị, ví dụ như quan hệ tình dục tiền hôn nhân, quan điểm về tình hình mại dâm, v.v… Vì vậy phải cân nhắc xem ai là người có thể sẵn lòng bày tỏ quan điểm của họ trước những yêu cầu của người điều tra.

    • Mẫu phán đoán là hình thức chọn mẫu trong đó các đối tượng được chọn được kỳ vọng đáp ứng được những yêu cầu của cuộc nghiên cứu. Tức là người nghiên cứu dự đoán về những nhóm người có thể phù hợp với yêu cầu cung cấp tin của anh ta.
    • Mầu chỉ tiêu thoạt nhìn hơi giống mẫu phân tầng. Tuy nhiên, đây là cách chọn mẫu phi xác suất, tuy nó được chọn trên cơ sở những nhóm đã được xác định rõ ràng nhưng nếu như mẫu phân tầng phái có được một khung mẫu thì mẫu này lại không cần.
    • Mẫu tăng nhanh trước hết chúng ta cần chọn một số người có những tiêu chuẩn mà ta mong muốn, phỏng vấn họ rồi hỏi xem họ có thề giới thiệu cho chúng ta vài người tương tự. Theo cách này, số lượng đơn vị sẽ tăng lên nhanh chóng. Như vậy, người trả lời đồng thời là người cung cấp mẫu cho nhà nghiên cứu. Cách chọn mẫu này rất phù hợp với những cuộc nghiên cứu về những vấn đề tế nhị hay đặc biệt của xã hội như tìm hiểu về những khách làng chơi, về những người đồng tính luyến ái, những đối tượng sử dụng ma tuý…

    Không có cách chọn mẫu nào được coi là tối ưu cho mọi cuộc nghiên cứu. Mẫu tốt là mẫu được chọn phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp, qui mô và tài chính của cuộc nghiên cứu. Trong các báo cáo phúc trình kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu phải trình bày rõ ràng cách thức chọn mẫu của mình cũng như hạn chế của việc chọn mẫu đó để bản thân họ và những người khác có thể rút kinh nghiệm. Điều qui định này được coi như một trong những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Việt Đang Dùng Ví Điện Tử Để Thanh Toán Gì?
  • Thực Trạng Sử Dụng Dịch Vụ Ví Điện Tử Tại Tp. Huế
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Bản
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Hoá Học
  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lý Học Tư Pháp
  • Tin tức online tv