Lớp Phương Pháp Nghiên Cứu Y Học Lâm Sàng

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lí Y Học
  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Y Học
  • Học Mẹ Mít Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Để Bé Khỏe Mẹ Nhàn Tênh
  • Cập nhật: 05/09/2011 – 12:00 am

    I. Giới thiệu Trong những năm vừa qua, công tác nghiên cứu y học của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị tiên tiến của thế giới đã nhanh chóng được áp dụng vào Việt Nam, góp phần hạ thấp tỉ lệ […]

    I. Giới thiệu

    Trong những năm vừa qua, công tác nghiên cứu y học của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị tiên tiến của thế giới đã nhanh chóng được áp dụng vào Việt Nam, góp phần hạ thấp tỉ lệ tử vong, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Hàng năm, có hàng ngàn công trình nghiên cứu cấp cơ sở, cấp Bộ, cấp Nhà nước được thực hiện. Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu Y học được xuất bản quốc tế còn ít. Một trong những nguyên nhân của hạn chế này là nhiều công trình nghiên cứu của chúng ta còn chưa đạt được những chuẩn mực quốc tế, từ các khâu xác định câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn và thiết kế phương pháp nghiên cứu, đến viết và trình bày báo cáo nghiên cứu, cũng như việc lựa chọn nhà xuất bản.

    Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ nhằm thúc đẩy công tác nghiên cứu y học ở nước ta, với đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm trong nghiên cứu và giảng dạy, Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em đã tổ chức thành công nhiều khóa đào tạo “Phương pháp Nghiên cứu Y học lâm sàng”. Rất mong đây là một khóa học hữu ích cho các đồng nghiệp, nhất là các đồng nghiệp trẻ, những người ham muốn làm công tác nghiên cứu khoa học.

    III. Đội ngũ giảng viên

    1. chúng tôi Nguyễn Thanh Liêm

    chúng tôi Nguyễn Thanh Liêm hiện là giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em, Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lao động, Chủ tịch hội phẫu thuật nhi khoa Việt Nam (VAPS), ủy viên thường vụ Hiệp hội Ngoại nhi Châu Á (AAPS), Giảng viên trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân Y, giảng viên chính thức của Hội phẫu thuật nội soi nhi quốc tế (IPEG), Giáo sư danh dự trường Đại học Sydney.

    Giáo sư đã tham gia giảng dạy đại học từ năm 1979 và sau đại học từ năm 2001, có 06 cuốn sách được xuất bản và 185 công trình khoa học đã được công bố trong nước và 32 công trình khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế. Ông là giảng viên của nhiều hội nghị, nhiều lớp tập huấn và hội nghị khoa học quốc tế.

    Ông là người đầu tiên trên thế giới phẫu thuật nội soi điều trị teo trực tràng, điều trị thoát vị hoành ở trẻ sơ sinh bằng phương pháp nội soi lồng ngực dưới máy thở cao tần tại khoa hồi sức tích cực, cắt màng ngoài tim qua nội soi lồng ngực trong điều trị viêm mủ màng ngoài tim, cắt gần hết tuỵ bằng nội soi ổ bụng để điều trị tăng insulin, cắt thận với 1 trocar, nối niệu quản – niệu quản bằng 1 trocar

    Ông là chuyên gia hàng đầu trên thế giới trong phẫu thuật nội soi điều trị u nang ống mật chủ và thoát vị hoành bẩm sinh.

    Ông là chủ nhiệm của 3 đề tài cấp Nhà nước, nhiều đề tài cấp Bộ. Ông đã và đang hướng dẫn 10 luận án tiến sĩ, 20 luận văn thạc sĩ và nhiều luận văn bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa I, II khác.

    2. TS. BS. Trần Thanh Tú

    TS Trần Thanh Tú hiện là trưởng khoa Điều trị tự nguyện A, Bệnh viện Nhi Trung ương, Phó trưởng phòng Nghiên cứu Dịch tễ và Sức khỏe cộng đồng – Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em. Chị tốt nghiệp thạc sỹ khóa 1- năm 1995, trường ĐHYHN, BS điều trị tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi trung ương liên tục từ 1997-2007, được đào tạo tại Cộng hòa Pháp năm 2004-2005. Bác sĩ nội trú trường Đại học Y khoa Hà Nội, trường Đại học Strasbourg, cộng hòa Pháp

    Tiến sĩ Trần Thanh Tú là giảng viên chính thức của chương trình APLS – chương trình cấp cứu được chuẩn hóa chung trong hệ thống cấp cứu Anh – Mỹ – Úc.

    Từ năm 2006 chị tham gia nghiên cứu, phân tích sử lý số liệu các đề tài nghiên cứu khoa cấp nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở do Bệnh viện Nhi Trung ương chủ trì.

    Chị đã tham dự nhiều khóa đào tạo về phương pháp nghiên cứu, phương pháp giảng dạy, phương pháp xử lý số liệu, dịch tễ học lâm sàng tại các cơ sở đào tạo Y khoa có uy tín, Chương trình đào tạo về thống kê, dịch tễ học lâm sàng được kết hợp giữa trường ĐHYHN và Chính phủ Hà Lan (2007), của tổ chức y tế thế giới WHO (2009), tham gia hội nghị Nhi khoa thế giới năm 2007 tại Hy Lạp, tham gia và báo cáo khoa học tại hội nghị Nhi khoa châu Âu tại Nice năm 2008, tham gia báo cáo tại hội nghi Nhi khoa Châu Á Thái Bình Dương tại Singapore (2011).

    Chị tham gia biên dịch cuốn “Thống kê Y học – phương pháp tiêp cận dễ dàng” do Nhà xuất bản Y học xuất bản năm 2010

    3. TS. BS. Nguyễn Thị Diệu Thúy

    TS. BS. Nguyễn Thị Diệu Thúy hiện là phó trưởng phòng Đào tạo – Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em, Giảng viên Bộ môn Nhi – Đại học Y Hà Nội.

    TS. BS. Nguyễn Thị Diệu Thuý tốt nghiệp đại học Y Hà nội năm 1992, là cán bộ giảng dạy của Bộ môn Nhi- Trường Đại học Y Hà Nội, tham gia giảng dạy đại học từ năm 1997 và sau đại học từ năm 2007. Chị làm nghiên cứu sinh tại đại học Newcastle- Australia từ năm 2003 đến 2007.

    Chị đã tham dự nhiều hội nghị trong nước và quốc tế về lĩnh vực Hô hấp, Hen và Dị ứng trong Nhi khoa. Tham gia báo cáo tại các hội nghị quốc tế về Hô hấp tại Australia, Newzeland và Canada. Chị là cộng tác viên của tạp chí Hô hấp châu Âu (Chest), có trên 11 công trình trong nước và quốc tế đã được công bố, tham gia biên soạn các giáo trình đại học và sau đại học của bộ môn Nhi- Trường Đại học Y- Hà Nội, tham gia hướng dẫn luận văn cho học viên sau đại học.

    4. ThS. BS. Vũ Chí Dũng

    Trưởng khoa Nội tiết – Chuyển hóa Di truyền Bệnh viện Nhi Trung ương, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu lâm sàng, Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em.

    ThS. BS. Dũng đã tham gia giảng dạy lâm sàng từ năm 2000, giảng dạy lý thuyết từ 2009 và có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu: là tác giả chính và đồng tác giả của 15 bài báo quốc tế, 40 bài báo cáo tại các hội nghị quốc tế, 60 bài báo trong nước. Tham gia giảng dạy cho các bác sỹ sau đại học, sinh viên đại học Y Hà Nội; sinh viên Pháp, Thụy Điển tại Việt Nam và sinh viên Y của Mỹ tại Đại học Y, đại học St. Louis. Missouri, Hoa Kỳ năm 2006 – 2009. Bác sỹ được đào tạo tại các trung tâm y học nổi tiếng trên thế giới như: đại học tổng hợp, Đại học Y khoa Catholique của Lille, Cộng hòa Pháp 2001-2002, Trung tâm y học thuộc trường Y, Đại học tổng hợp St. Louis. MO, Hoa kì 2006-2009; Bệnh viện Nhi Hoàng gia Melbourne, Australia các năm 2001, 2005 và năm 2010. Anh hiện là trợ giảng danh dự trường đào tạo lâm sàng, đại học Sydney 2010 – 2013.

    5. ThS. BS. Phạm Hồng Sơn

    ThS. BS Phạm Hồng Sơn hiện đang công tác tại Khoa Hồi sức ngoại – Bệnh viện Nhi Trung ương, Nghiên cứu viên phòng Nghiên cứu Dịch tễ và Sức khỏe cộng đồng thuộc Viện Nghiên cứu SKTE

    Thạc sĩ đã tham gia khóa đào tạo về phương pháp nghiên cứu lâm sàng tại trường Đại học California-San Francisco (UCSF), tham gia khóa học về dịch tễ và thống kê tại trường đại học Melbourne, Đơn vị Dịch tễ học lâm sàng và thống kê (CEBU) – Viện Nghiên cứu Nhi khoa Murdoch, Australia và nhiều khóa học về phương pháp nghiên cứu khoa học khác. Phụ trách giảng dạy phần thống kê Y học cho nhiều khóa học về Phương pháp Nghiên cứu Y học do Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em tổ chức.

    IV. Tài liệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sốc: Đã Tìm Ra Cách Dự Đoán Trúng Giải Jackpot Của Vietlott?
  • Tổng Quan Về Xu Hướng Thời Trang
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học Pdf
  • Bài 3: Nhiệm Vụ, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Người Việt Đang Dùng Ví Điện Tử Để Thanh Toán Gì?
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Y Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Mẹ Mít Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Để Bé Khỏe Mẹ Nhàn Tênh
  • Nuôi Con Bằng Phương Pháp Easy Là Như Thế Nào?
  • Các Phương Pháp Xác Định Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho
  • Bài Tập Tính Giá Thành Sản Phẩm Có Đáp Án
  • PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC Một trong những mục tiêu cơ bản của di truyền y học là hiểu biết cơ sở di truyền. Trên cơ sở những hiểu biết đó, tìm ra các phương pháp nghiên cứu, phương pháp thăm dò, chẩn đoán, điều trị bệnh một các có hiệu quả hơn. Trong tiểu luận, chúng tôi sẽ trình bày một số phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu, chẩn đoán và trị liệu di truyền. Một trong những thành tựu nổi bật của sự phát triển khoa học kỹ thuật ngày nay là kỹ thuật phân tử. Kỹ thuật phân tử phát triển và nó được ứng dụng mạnh mẽ trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt nó giúp cho ngành Nông nghiệp, Y học có những bước phát triển vượt bậc. Trong tiểu luận, chúng tôi cũng đi sâu trình bày những kỹ thuật phân tử cơ bản, mới, được ứng dụng nhiều trong y học giúp cho việc chẩn đoán, phòng, chữa bệnh di truyền và trong sản xuất tạo nhiều chế phẩm có chất lượng cao. 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC 1.1. Những khó khăn Khi tiến hành nghiên cứu di truyền y học người ta gặp phải những khó khăn chủ yếu như sau: Rụng trứng sinh dục muộn, sinh sản chậm Tổ chức cấu trúc di truyền của con người rất phức tạp Không thể áp dụng các thí nghiệm lai ở sinh vật đối với con người Số lượng con cháu trong các gia đình ngày càng ít Thời gian sống và thời gian sinh trưởng của con người đều rất dài so với các động vật thí nghiệm. 1.2. Những thuận lợi Các đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nên dễ quản lý, theo dõi. Ngày nay con người đã hiểu biết rất rõ về các đặc tính, hình thái, giải phẫu, sinh lý, sinh hoá của mình. Ngày càng có nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại giúp cho việc nghiên cứu các tính trạng ở người được thuận tiện nhanh chóng và chính xác. 2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN Y HỌC 2.1. Phương pháp nghiên cứu phả hệ 2.1.1.Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu sự di truyền 1 tính trạng nào đó ở nhiều người trọng cùng 1 dòng họ qua nhiều thế hệ đề xem xét: – Tính trạng trội hay lăn – Tính trạng này do một gen hay nhiều gen quay định – Tính trạng này có di truyền liên kết với giới tính hay không – Khả năng mắc bệnh của các thế hệ tiếp theo Trong một số trường hợp còn xác định được người dị hợp tử mang gen bệnh. Phương pháp này kết hợp với các xét nghiệm khác cho phép có thể rút ra những lời khuyên về di truyền chính xác và hữu ích cho các gia đình về việc sinh con hoặc kết hôn. 2.1.2. Các bước tiến hành 2.1.2.1. Lập sơ đồ phả hệ Để lập sơ đồ phả hệ (phả hệ đồ) người ta sử dụng hệ thống ký hiệu quốc tế để biểu diễn với số lượng các thế hệ gia đình bệnh nhân ít nhất là từ 3 đến 4 thế hệ theo những nguyên tắc cơ bản sau: Các cá thể thuộc cùng một thế hệ được xếp cùng trên một hàng ngang theo thứ tự ngày sinh từ trái sang phải và được đánh dấu bằng chứ số Ả rập (1,2,3,4…). Các thế hệ được xếp theo chiều dọc theo thứ tự từ trên xuống dưới và được đánh dấu bằng chữ số La mã (I, II, III, IV…) ở phần đầu bên trái mỗi hàng. Thế hệ này được nối với thế hệ kia bằng đoạn thẳng vuông góc từ giữa vạch kết hôn của thế hệ trước xuống thế hệ sau. Ngoài ra trong khi tiếp xúc với người bệnh phải tránh yếu tố tâm lý bất lợi của họ khiến cho thông tin cung cấp cho bác sỹ bị sai lệch. Một số ký hiệu thường dùng trong lập phả hệ. 1. Nam giới; 2. Nữ giới; 3. Không biết giới; 4. Có thai; 5. Người lành; 6. Người bệnh; 7. Người có hội chứng bệnh hoặc dấu hiệu bệnh lý không đầy đủ/ dị hợp tử mang gen lặn bệnh lý; 8. Người lành mang gen lặn bệnh lý liên kết-X; 9. Người chưa có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ; 10. Người không được kiểm tra kỹ cũng bị bệnh như người bệnh; 11. Đương sự; 12. Chết; 13. Chết non ( ở tuổi thiếu nhi); 14. Chết thai và dưới 1 năm; 15. Sẩy thai; 16. Vợ chồng; 17. Hai vợ (hai chồng); 18. Vợ chồng ngoài giá thú; 19. Hôn nhân cùng huyết thống; 20. Hôn nhân không có con; 21. Anh chị em cùng bố mẹ; 22. Hai hôn nhân với các con của mỗi hôn nhân; 23. Số con không biết; 24. Không rõ là con để hay không; 25. Con nuôi (không cùng huyết thống); 26. Con sinh đôi một hợp tử; 27. Con sinh đôi hai hợp tử; 28. Không rõ kiểu sinh đôi một hợp tử hay hai hợp tử; 29. Con ngoài hôn nhân; 30. các thế hệ; 31. Anh chị em trong cùng một thế hệ. 2.1.2.2. Phân tích phả hệ Đây là bước quan trọng để xác định tính chất di truyền và cách thức di truyền của tính trạng bệnh lý. Để làm công việc này phải hiểu và biết vận dụng các qui luật di truyền cơ bản kết hợp với việc tính toán thống kê để sử lý các dữ liệu từ phả hệ. Hình 3.2: Một số sơ đồ phả hệ điển hình. (A) Trội autosome; (B) Lặn autosome; (C) Lặn liên kết-X; (D) Trội liên kết-X; (E) Liên kết-Y Ví dụ: Nếu như trong một phả hệ, ở các thế hệ đều thấy có người bị bệnh, khả năng mắc bệnh ở cả giới nam và giới nữ đều như nhau, trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh mà tỷ lệ các con bị bệnh là 50%, thì có thể nghĩ rằng bệnh là bệnh di truyền do gen trội nằm trên nhiễm sắc thể thường gây ra. Còn nếu như trong phả hệ thấy bệnh được di truyền có tính chất cách quãng, con trai bị bệnh nhiều hơn con gái, ông ngoại truyền bệnh cho cháu trai thì có thể cho rằng bệnh là bệnh di truyền do gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X gây ra. 2.1.3. Kết quả nghiên cứu: -Đã xác định được nhiều gen quy định tính trạng ở người là gen trội hay lặn. Ví dụ + Da đen, tóc quăn, môi dày, mũi cong, long mi cong là các tính trạng trội + Da trắng, tóc thẳng, môi mỏng, mũi cao, long mi ngắn là các tính trạng lăn. – Xác định được một số gen gây bệnh nằm trên NST giới tính. Ví dụ: + Bệnh mù màu, máu khó đông, tật dính ngón tay… là do gen lặn nằm trên X. + Tật dính ngón tay 2-3, túm lông ở tai do gen trên NST giới tính Y qui định. – Xác định được một số tính trạng do nhiều gen quy định. Ví dụ: + Năng khiếu toán, âm nhạc, hội họa,… là di truyền đa gen, song chịu ảnh hưởng của môi trường và xã hội. 2.2. Phương pháp trẻ sinh đôi (đồng sinh) 2.2.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Phương pháp trẻ sinh đôi là phương pháp dựa vào các trẻ sinh đôi. Đây là một trong những phương pháp có hiệu quả nhất để đánh giá vai trò của yếu tố di truyền và môi trừơng đối với sự phát triển một tính trạng nào đó ở người. Phương pháp trẻ sinh đôi cũng thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp nuôi dạy trẻ, đánh giá chất lượng các loại thực phẩm, các loại thuốc… 2.2.2. Các bước tiến hành 2.2.2.1. Chọn các mẫu sinh đôi Các mẫu sinh đôi có thể được lựa chọn bằng 2 cách. Một là trong dân cư lựa ra các trẻ sinh đôi rồi trong các trẻ sinh đôi ấy chọn lấy các cặp có tính trạng cần nghiên cứu. Hai là từ các nhóm dân cư lựa ra những trẻ có tính trạng cần nghiên cứu sau đó chọn ra các cặp sinh đôi. Cần chú ý thêm là chỉ tiến hành nghiên cứu khi có đủ cả 2 người trong mỗi cặp. Còn nếu chỉ có một người thì loại bỏ cả hai. 2.2.2.2. Chẩn đoán kiểu sinh đôi Đây là bước quan trọng đòi hỏi sự chính xác cao. Để chẩn đoán chính xác phải sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu so sánh về hình thái, sinh lý, sinh hóa như giới tính, màu tóc, màu mắt, màu da, dạng tóc và kiểu phủ tóc, lông trên đầu và thân, hình dạng miệng, mũi, tai, vân da bàn tay, các hệ thống nhóm máu, các protein huyết thanh v.v.. Hình 3.3: Rau thai và các màng ở trẻ sinh đôi. A. Rau thai, màng nuôi và màng đệm đều riêng; B. Rau thai chung, màng đệm chung, màng ối riêng; C. Rau thai và màng đệm chung, màng ối dính Nếu như tất cả các chỉ tiêu so sánh ở 2 người trong cặp sinh đôi đều giống nhau thì chứng tỏ đó là các trẻ sinh đôi có nguồn gốc một hợp tử (cùng trứng). Còn nếu chúng không giống nhau hoặc có giống nhau nhưng mức độ giống cũng không khác biệt gì nhiều so với các anh chị em ruột khác trong gia đình thì điều đó chứng tỏ rằng đó là các trẻ sinh dôi có nguồn gốc 2 hợp tử (khác trứng). Mức độ giống, khác nhau giúp chẩn đoán kiểu sinh đôi có thể được thực hiện bằng các phiếu điều tra bằng câu hỏi đối với chính đối tượng, bố mẹ, người thân trong gia đình như bố mẹ có hay nhầm lẫn không, thầy giáo, các bạn trong lớp có hay lẫn giữa hai người hay không v.v.. Đối với các trẻ sơ sinh, có thể chẩn đoán kiểu sinh đôi qua tính chất của các màng quanh thai: màng ối (trong), màng đệm (ngoài). Ở trẻ sinh đôi hai hợp tử luôn có màng đệ riêng, màng ối và nhau thai riêng. Tuy nhiên có trường hợp các thai khác hợp tử làm tổ ở tử cung thành hàng, cái này cạnh cái kia thì nhau thai có thể chung. Trường hợp có màng ối riêng nhưng có màng đệm chung ở sinh đôi hai hợp tử là rất hiếm. Nếu có màng đệm riêng, màng ối riêng, rau thai chung thì cũng có thể là sinh đôi một hợp tử nhưng rất hiếm gặp (chiếm 25% số sinh đôi một hợp tử và 50% sinh đôi hai hợp tử). 2.2.2.3. Đối chiếu so sánh các chỉ tiêu, rút ra kết luận đánh giá Đánh giá mức độ tương đồng: để đánh giá mức độ tương đồng của một tính trạng nào đấy ở các cặp sinh đôi người ta sử dụng một công thức tính gọi là công thức Alen- Smith: Kp = Ở đây C là số cặp tương đồng; D là số cặp không tương đồng theo tính trạng so sánh Thí dụ: Khi nghiên cứu tính trạng là bệnh tâm thần phân liệt ở 50 cặp sinh đôi một hợp tử (MZ) người ta thấy có 43 cặp, trong đó cả 2 trẻ đều bị bệnh (tương đồng) còn 7 cặp thì chỉ có một trẻ trong mỗi cặp bị bệnh (không tương đồng). Theo công thức Alen- Smith ta có thể tính được mức độ tương đồng trong trường hợp này là: KpMZ = = = 86 (%) Còn khi nghiên cứu tính trạng này ở 50 cặp sinh đôi hai hợp tử ( DZ ), nếu người ta thấy số cặp tương đồng là 8, số cặp không tương đồng là 42 thì ta sẽ có mức độ tương đồng trong trường hợp này là: KpDZ = = 16 (%) Đánh giá vai trò của yếu tố di truyền và yếu tố môi trường: để xác định vai trò của yếu tố di truyền đối với sự phát triển của một tính trạng nào đó, người ta áp dụng một công thức tính khác gọi là công thức Holzinger: H= (%) Theo công thức này ta có thể tính được vai trò của yếu tố di truyền đối với bệnh tâm thần phân liệt theo các số liệu ở trên: H = = = 83 (%) Vì mỗi tính trạng ở con người đều là kết quả của sự tương tác giữa yếu tố di truyền (H) và yếu tố môi trường (C) ở những mức độ khác nhau. Bởi vậy để xác định vai trò của yếu tố môi trường trong trường hợp này đối với bệnh tâm thần phân liệt, ta có: H + C = 100% ; C = 100% – H = 100% – 83% =17%. 2.3. Phương pháp vân da 2.3.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Phương pháp nghiên cứu vân da là phương pháp nghiên cứu di truyền y học dựa trên những đặc tính của các đường nét, hình thù của bề mặt da ở các đầu ngón tay và lòng bàn tay. Phương pháp này có giá trị trong việc góp phần chẩn đoán sớm một số bệnh lý ở người, trong lĩnh vực khoa học hình sự và trong việc xác định trẻ sinh đôi. Cơ sở khoa học của phương pháp vân da là ở chỗ hình thù và đường nét vân da mang tính cá thể nghiêm ngặt do chúng được kiểm soát bởi nhiều gen. Trong quá trình phát triển cá thể, các hoa vân trên tay được hình thành từ tháng thứ sáu và hầu như không bị biến đổi trong suốt cuộc đời. Hình 3.4: Các delta đáy ngón a,b,c,d; Hình 3.5. Các đường vân chính A,B,C,D các vùng trong lòng bàn tay (Th, Hy, và kiểu vân trong lòng bàn tay. I1,I2,I3,I4) và gã ba trục t. 2.3.2. Các bước tiến hành 2.3.2.1. Lấy mẫu in vân da trên giấy trắng 2.3.2.2. Phân tích mẫu in theo các chỉ tiêu Tổng số các đường vân đầu ngón. Công thức vân đầu ngón. Cường độ vân đầu ngón. Tần số mỗi loại vân. Chỉ số Cummins. Các kiểu vân trên vùng mô cái và mô út. Góc ngã ba trục atd. Số lượng và hình dạng các rãnh lòng bàn Rút ra các kết luận nhận xét so sánh kết quả nghiên cứu ở các nhóm đối tượng khác nhau. Các kiểu vân đầu ngón: 1: vân cung Các miền quanh gan bàn tay (1-13) đơn giản; 2: vân cung lều; 3; vân và chỉ số Cummins. móc/búi/nút; 4,5,6: kiểu vân vòng đối xứng, vòng xoáy và vòng móc kép. Mức độ giống nhau về nếp vân da và quan hệ huyết thống. Quan hệ Mức độ giống nhau Thực tế Lý thuyết Sinh đôi một hợp tử 0,95 1,00 Sinh đôi hai hợp tử 0,49 0,50 Anh chị em ruột 0,5 0,50 Bố mẹ- con 0,48 0,50 0,05 0,00 Không quan hệ huyết thống 2.4. Phương pháp nghiên cứu di truyền phân tử. Các thành tựu to lớn trong những năm gần đây về lĩnh vực Di truyền học người, đặc biệt là thành tựu giải mã bộ gene người đạt được là nhờ sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử như tách chiết, phân tích định tính và định lượng nucleic acid; các phương pháp lai phân tử: Southern blot, Northern blot, lai tại chỗ (in situ hybridization),… ; các phương pháp xác định trình tự nucleic acid; tạo dòng (cloning); xây dựng thư viện bộ gene, thư viện cDNA; phương pháp PCR (polymerase chain reaction); Sinh tin (Bioinfomatics),… 2.4.1.Các phương pháp tách chiết acid nucleic, các phương pháp định tính và định lượng cơ bản. 2.4.1.1.Các phương pháp tách chiết acid nucleic: 2.4.1.1.1.Phương pháp tách chiết DNA. + Bước 1: phá màng tế bào, màng nhân: nghiền tế bào, mô trong hỗn hợp, chất tẩy (SDS) và proteinase để phá vỡ màng tế bào, màng nhân, giải phóng DNA ra môi trường đồng thời phân hủy các protein liên kết với DNA. Chất tẩy là các phân tử lưỡng cực, sẻ kết hợp với protein màng và các phân tử phospholipid làm phá vỡ cầu trúc màng. Chất tẩy ion hóa có tác dụng phá màng mạnh, chất tẩy không ion hóa có tác dụng phá màng nhẹ hơn. + Bước 2: loại protein: lắc mẫu trong dung dịch phenol: chloroform để biến tính protein đồng thời không hòa tan acid nucleic. Protein bị biến tính sẻ không hòa tan trong pha nước có chứa acid nucleic và sau khi li tâm sẻ tủa thành một lớp nằm giữa pha nước và pha phenol : chloroform. Thu hồi acid nucleic trong pha nước. + Bước 3: thu hồi acid nucleic : thu hồi dưới dạng tủa acid nucleic nhằm thu nhận acid nucleic dưới dạng cô đặc để bảo vệ chúng khỏi sự phân li của các enzyme và khi cần có thể hòa tan lại trong nước theo nồng độ mong muốn. Có thể tủa trong ethanol hoặc trong isopropan ol. 2.4.1.1.2.Tách chiết ARN. Phương pháp tách chiết ARN toàn phần cũng bao gồm các bước cơ bản như tách chiết ADN: – Giải phóng ADN và ARN ra khỏi màng tế bào. – Tách bỏ phần protein. – Tủa acid nucleic Bước tiếp theo: dịch chiết chứa acid nucleic được ủ với ADN polimerase để phân hủy ADN. Sau đó phân hủy dịch chiết chứa ARN trong nước; tủa bằng ethanol, để thu được ARN toàn phần. mARN có thể tách riêng. Dựa vào cấu trúc phân tử có đuôi mARN có đuôi poly A có thể tách mARN bằng sắc ký ái lực trên cột oligo T -cellulose. Hiện nay đã sử dụng bộ kit ( bộ mẫu thử chuyên dụng) sử dụng các viên bi từ có mang oligo T trên bề mặt. Thông qua liên kết bổ sung A=T các mARN bám lên bề mặt các viên bi từ. Sau đó bằng kỹ thuật li tâm thu lại các viên bi và tách mARN. Kỹ thuật này cho phép tách giữ lại mARN với khối lượng rất nhỏ. Chú ý trong quá trình thao tác, tránh lẫn ADN và ARN, ARN của đối tượng khác vào dụng cụ. Tránh các enzym phá hủy ADN hoặc ARN cần nghiên cứu. Đặc biệt ARN không bền dễ bị phân li bởi ARN polimerase. Sau khi tách chiết ADN kiểm tra độ tinh khiết của ADN bằng xác định tỉ lệ OD260/OD280 và OD260/OD 230 = 1,7 – 2 được coi là sạch hoặc bằng phương pháp điện di ADN. 2.4.1.1.3.Phương pháp sắc ký + Sắc ký ái lực: trên poly U-Sepharose hay oligodTcellulose, dùng để tinh sạch mARN. + Sắc ký lọc gel dùng trong phân tách các acid nucleic và nucleotic tự do sau quá trình tạo mẫu dò (probe) đánh dấu. + Sắc ký trong hiệu suất cao: có độ phân giải rất cao dùng trong tinh sạch các oligonucleotide tổng hợp, plasmid, phân tách các đoạn DNA. + Sắc ký trao đổi ion trên vi cột để thu hồi một lượng rất nhỏ DNA. 2.4.1.2.Các phương pháp định tính và định lượng thô acid nucleic. 2.4.1.2.1.Phương pháp định lượng bằng quang phổ kế. Cho phép định lượng tương đối nồng độ acid nucleic có trong mẫu. Nguyên tắc là dựa vào sự hấp thụ mạnh ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 260 nm của các base. Giá trị mật độ quang ở bước sóng 260 nm của các mẫu đo cho phép xác định nồng độ acid nucleic trong mẫu dựa vào mối tương quan một đơn vi OD260nm tương ứng với nồng độ: + 50µg/ml cho một dung dịch DNA sợi dôi. + 40µg/ml cho một dung dịch DNA hay RNA sợi đơn. Định tính: độ sạch dựa trên tỉ số OD260/OD280, tính chất của các acid nucleic (mạch đôi/đơn) (280nm là bước sóng ở đó các protein có mức độ hấp thụ cao nhất. 2.4.1.2.2.Phương pháp điện di. Mục tiêu: + Định tính: sự hiện diện, cấu hình phân tử, kích thước. + Định lượng: hàm lượng tương đối so với thang hàm lượng. + chuẩn bị: thu hồi đoạn DNA (dùng trong tạo dòng) Nguyên tắc: dựa vào đặc tính, cấu trúc của acid nucleic: tích điện âm đồng đều trên khắp bề mặt của điện trường nên sẻ di chuyển về cực dương của điện trường. Tính linh động của phân tử khi di chuyển trong điện trường phụ thuộc vào khối lượng phân tử và nồng độ các chất cấu thành gel. Kiểu điện di: Agarose, Polyacylamide, điện li trong trường xung (PDGE – Pulse Field Gel Electrophoresis). a.Điện di trên gel polyacrylamide. Được dùng để tách các đoạn có kích thước nhỏ, dưới 1000 cặp base. Điện di theo phương thẳng đứng. Độ phân giải cao, phân biệt được những trình tự chỉ cách nhau 1 nucleotide. Phương pháp phát hiện: DNA phóng xạ tự gỉ, xanh methylene, ethidium bromide, protein – xanh coomassie nhuộm nitracte bạc. ứng dụng: tinh sạch các oligonucleotic tổng hợp, xác định trình tự DNA, tách các trình tự DNA có khoảng cách gần bằng nhau, SDS – PAGE (phân tích protein). b. Điện di trên gel agarose. Gel agarose là loại gel thông dụng nhất, thường dùng để phân tách những đoạn có kích thước 0,5 – 20 kb. Điện di theo phương nằm ngang. Độ phân giải thay đổi khi nồng độ agarose hay loại agarose thay đổi. Phát hiện bằng phóng xạ tự ghi, nhuộm ethidium bromicde. Chất này có khả năng gắn xen vào giữa các base của acid nucleic và sẻ phát huỳnh quang dưới tia tử ngoại. Ứng dụng: phát hiện một trình tự DNA, phân tích trình tự các hỗn hợp DNA (Southern blot), chuẩn bị nguyên liệu. 2.4.2.Các phương pháp lai phân tử. 2.4.2.1.Cơ sở của lai phân tử. Khái niệm về lai phân tử: + Khi một phân tử DNA mạch đôi được đun lên một nhiệt độ vượt quá nhiệt độ nóng chảy Tm thì hai mạch sẻ tách rời nhau do sự phá vỡ các liên kết H ở hai mạch. + Sau khi hai mạch tách rời nếu nhiệt độ phản ứng được làm giảm từ từ cộng với điều kiện thí nghiệm thích hợp, chúng sẻ bắt cặp trở lại, hiện tượng này gọi là sự lai phân tử. Đặc điểm của sự lai phân tử: + Đặc hiệu tuyệt đối: sự tái bắt cặp chỉ xảy ra giữa hai trình tự hoàn toàn bổ sung với nhau. + Các trình tự bổ sung có thể là DNA, RNA dẫn đến sự hình thành các phân tử DNA – RNA, RNA – RNA hay các phân tử lai DNA – DNA. 2.4.2.2.Các kiểu lai phân tử. chúng tôi trên pha lỏng. Các trình tự cần lai nằm trong pha lỏng, là một dung dịch đệm. Sự lai phân tử xảy ra khi các trình tự này gặp nhau do chuyển động nhiệt và khi nhiệt độ môi trường thấp hơn Tm. Phương pháp này sử dụng để phát hiện các trình tự tương đồng giữa các loài hay một cá thể. chúng tôi tại chổ: trình tư acid nucleic cần tìm không được tách chiết ra khỏi mô hay tế bào. Quá trình lai với mẫu dò đã được đánh dấu và phát hiện các phân tử lai được thực hiện ngay trên NST, tế bào hay lát cắt mô. chúng tôi trong pha rắn. Một tron hai trình tự cần lai là cố định trên giá thể rắn ( màng lai). Phát hiện phân tử lai thông qua mẫu dò (probe) có đánh dấu đồng vị phóng xạ. Ba kỹ thuật lai trên pha rắn thông dụng là Southern blot, Nothern blot và Dot blot. a.Southern blot. Nguyên tắt của Southern blot là màng lai nitrocellulose có khả năng tiếp nhận DNA đã được biết từ lâu và được sử dụng trong nghiên cứu lai acid nucleic khác nhau vào những thập niên 1950 và 1960. Đầu thập niên 1970, sự ra đời của phương pháp điện di trên gel đã cho phép các đoạn DNA được cắt bởi enzyme hạn chế có thể được phân tách dựa trên cơ sở kích thước của chúng. Từ đó nước phát triển tiếp theo của phương pháp chuyển các đoạn DNA phân tách từ gel lên lai màng lai nitrocellulose. Phương pháp này được Southern mô tả tại đại học Edingburgh vào năm 1975. Southern Blot bao gồm các bước cơ bản sau: – Cắt DNA bằng enzym hạn chế thích hợp. – Điện di sản phẩm cắt trên gel agarose. – Làm biến tính DNA ngay trên gel, DNA sợ kép sẻ được tách thành DNA sợ đơn. Chỉ DNA sợi đơn mới có thể chuyển lên màng lai. – Chuyển DNA đã biến tính lên màng lai ( màng nitrocellulose hay màng nylon). Việc chuyển DNA thường được tiến hành bằng hoạt tính mao dẫn trong khoảng vài tiếng hoặc có thể dùng một thiết bị thấm chân không. Trong quá trình chuyển, vị trí các đoạn DNA vẫn được giữ nguyên không thay đổi. – Lai DNA đã được cố định trên màng với mẫu dò (probe) DNA có đánh dấu. – Quá trình này dựa trên nguyên tắc bổ sung giữa DNA trên màng lai với mẫu dò. Để đánh giá người ta thường sử dụng P32, biotin/streptavidin hoặc một vài mẫu dò phát quang sinh học. – Định vi các phân tử DNA – mẫu dò. Nếu sử dụng các mẫu dò đánh dấu phóng xạ thì dùng phương pháp phóng xạ tự ghi (autoradiograph) để xác định. Nếu sử dụng biotin/ streptavidin thì dùng phương pháp so màu hoặc nếu sử dụng mẫu dò phát quang sinh học thì thì phát hiện bằng sự phát quang. b.Northern blot. Sau khi Southern mô tả phương pháp Southern blot năm 1975, người ta dung một phương pháp tương tự để xác định các đoạn RNA đặc biệt gọi là Northern blot. Northern blot bao gồm các bước sau: + RNA (RNA tổng số hoặc chỉ mRNA) bằng phân tách bằng điện di trên gel agarose. + RNA sau khi đã được phân tách chuyển lên màng lai (các phân tử RNA giữ nguyên vị trí như ở trên gel) + RNA cố định trên màng lai với mẫu dò DNA sợi đơn ( hoặc RNA ) có đánh dấu phóng xạ hoặc được gắn với một enzyme tạo thành phân tử lai RNA – DNA hoặc RNA – RNA sợi kép. + Vị trí của mẫu dò được xác định bằng phương pháp phóng xạ tự ghi nếu nó được đánh dấu phóng xạ. Trong trường hợp mẫu dò được gắn với enzyme thì đem ủ với một cơ chất không màu. Enyme liên kết với nó sẻ biến đổi thành một sản phẩm màu có thể nhìn thấy hoặc phát ra ánh sáng mà có thể phát hiện bằng phim X quang một cách trực tiếp. c.Phương pháp Dot blot – Slot blot Lai theo phương pháp Dot blo là phương pháp sàng lọc nhanh thường thực hiện với những mẫu dò ASO để phân biệt sự khác nhau giữa các alen ở vị trí một nu. Phương pháp này không cần điện di trên thạch mà bằng thấm trực tiếp từ đó để xác định những đoạn nu khác nhau. Quy trình thực hiện của kỹ thuật qua các bước sau: + Bước 1: dung dịch ADN được biến tính bằng nhiệt độ hay bằng dung dịch Kali để tách ADN sợi kép thành ADN sợi đ. + Bước 2: Gắn ADN đích đã được biến tính lên màng lai. + Bước 3: đưa màng lai chứa ADN đích vào dung dịch chứa ADN dò. + Bước 4: sau khoảng 20 – 24h ADN dò sẻ gắn vào ADN đích tạo thành chuổi kép. + Bước 5: Rửa màng lai. Để khô tự nhiên sau đó phân tích bằng tự chụp phóng xạ. Ngoài ra còn có thể gắn ADN dò lên màng lai, ADN đích được để ở trong dung dịch và các bước tương tự như trên.  Phương pháp lai tại chổ (In Situ Hybridization) Phương pháp lai tại chổ vừa là phương pháp di truyền tế bào vừa là phương pháp di truyền phân tử. Phương pháp thường được dùng là lai NST ở kì giữa hoặc NST trong nhân tế bào gian kỳ với ADN dò đã được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ hoặc bằng phóng xạ huỳnh quang. Quang sát sự có mặt của đoạn ADN đích trong đoạn ADN lai bằng tự chụp hình phóng xạ hoặc bằng kính hiễn vi huỳnh quang. Bằng phương pháp này chuỗi nhẹ kappa của globulin miễn dịch đã được xác định có locus trên nhánh ngắn của NST số 2.  Phương pháp lập bản đồ mất đoạn. Phương pháp này dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của một số vùng đặc biệt nào đó hoặc của một locus trong ADN lấy từ bệnh nhân có bất thường NST hay từ mẫu lai các tế bào sô ma của người và gậm nhấm, trong mẫu có chứa đoạn ADN đã biết trước của NST người. Lập bản đồ mất đoạn đặc biệt có ích cho lập bản đồ NST X vì một số lượng lớn các bất thường trên NST X đã được xác định.  Thông tin về khoảng cách hình thể. Các đoạn ADN giới hạn là các đoạn ADN sau khi được cắt bởi enzim giới hạn được lai với các mâu đánh dấu ngoài tế bào bằng phương pháp Southern blotting, bao gồm các giai đoạn cắt ADN, tách ADN bằng điện li, thấm ADN từ gel agarose điện li lên màng nitrocellulose hoặc nylon và sau đó lai ADN và đọc bằng chụp hình phóng xạ nếu đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ hoặc đọc theo phương pháp huỳnh quang nếu đánh dấu bằng nhuộm màu huỳnh quang. Ngoài các phương pháp trên người ta còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu mô phỏng học, phương pháp điều tra dịch tễ học và phương pháp di truyền lâm sàng… trong nghiên cứu Di truyền học người. 2.5. Phương pháp di truyền tế bào 2.4.1. Những đặc điểm và giá trị của phương pháp Đây là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay để phát hiện và quan sát nhiễm sắc thể, qua đó xác định các dị dạng nhiễm sắc thể, các hiện tượng lệch bội, hiện tượng cấu trúc lại nhiễm sắc thể dẫn đến nhiều bệnh di truyền hiểm nghèo ở người. Dùng mô gồm nhiều tế bào đang phân chia mạnh như mô tuỷ xương , mô bào thai, mô tinh hoàn, khối u ác tính…làm tiêu bản để phân tích, đánh giá nhiễm sắc thể. Là phương pháp bắt buộc trong chẩn đoán phân biệt các bệnh nhiễm sắc thể. Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu các tác nhân gây đột biến nhiễm sắc thể ở người. Kỹ thuật lai tế bào soma và kỹ thuật hiện băng nhiễm sắc thể ra đời đã cho phép nghiên cứu cơ chế ung thư, hoạt động của gene trong quá trình phát triển cá thể và góp phần tích cực vào việc lập bản đồ di truyền người. 2.4.2. Các bước tiến hành Thu nhận các mẫu nghiên cứu trực tiếp từ các tổ chức trong cơ thể hay nuôi cấy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lí Y Học
  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Lớp Phương Pháp Nghiên Cứu Y Học Lâm Sàng
  • Sốc: Đã Tìm Ra Cách Dự Đoán Trúng Giải Jackpot Của Vietlott?
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lí Y Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Y Học
  • Học Mẹ Mít Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Để Bé Khỏe Mẹ Nhàn Tênh
  • Nuôi Con Bằng Phương Pháp Easy Là Như Thế Nào?
  • Các Phương Pháp Xác Định Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÍ Y HỌC

    Những phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu tâm lí y học là: quan sát, hỏi chuyện, phân tích sản phẩm, trắc nghiệm, thực nghiệm…

    Có thể chia các phương pháp của Tâm lí Y học thành 2 nhóm chính: các phương pháp bổ trợ và các phương pháp chủ đạo. Phương pháp chủ đạo là phương pháp được dùng chính trong một nghiên cứu. Thông thường kết quả của các phương pháp chủ đạo được bổ sung, làm sáng tỏ thêm bằng kết quả của các phương pháp bổ trợ. Lẽ đương nhiên sự phân chia như vậy cũng chỉ mang tính tương đối.

    Các phương pháp bổ trợ.

    Hỏi chuyện lâm sàng:

    Hỏi chuyện lâm sàng cũng là phương pháp được các thầy thuốc thường xuyên sử dụng. Tương tự như vậy, trong tâm lí lâm sàng, hỏi chuyện được dùng nhằm: thu thập thông tin về hiện trạng, nguyên nhân của các biến đổi tâm lí; thông tin về quá trình phát triển cơ thể; phát triển tâm lí – nhân cách và các mối quan hệ xã hội của người bệnh. Bên cạnh đó hỏi chuyện còn được sử dụng nhằm tạo dựng sự tiếp xúc tâm lí cũng như làm liệu pháp tâm lí.

    Dựa vào cấu trúc, nội dung hỏi chuyện lâm sàng, có thể chia thành 3 mức độ:

    Mức I: hầu như không có cấu trúc.

    Ở mức độ này, nhà tâm lí thường đặt ra những câu hỏi mở để bệnh nhân có thể kể về những vấn đề của mình. Thông thường dạng hỏi chuyện này được thực hiện dưới dạng một buổi trò chuyện tự do và thường là ở buổi đầu tiếp xúc với bệnh nhân khi chúng ta chưa rõ vấn đề chính của họ. Nhược điểm là dễ lan man, mất nhiều thời gian.

    Mức II: chỉ có hướng chính của hỏi chuyện.

    Hình thức hỏi chuyện này được thực hiện, ví dụ sau khi chúng ta đã tham khảo các tư liệu trong bệnh án, qua lời kể của người nhà, bạn bè, đồng nghiệp hoặc sau trò chuyện ban đầu và chúng ta đã xác định hướng vấn đề cần làm sáng tỏ thêm.

    Mức III: hệ thống câu hỏi chặt chẽ.

    Đây còn gọi là hỏi chuyện (hoặc phỏng vấn) có cấu trúc. Với dạng hỏi chuyện/phỏng vấn này, các hệ thống câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn để giúp chúng ta thu được thông tin đầy đủ về vấn đề cần nghiên cứu. Thang trầm cảm Hamilton là một ví dụ thuộc dạng này. Đây là thang mà các hướng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn, giúp cho người phỏng vấn đánh giá các dấu hiệu khác nhau của trầm cảm và mức độ nặng của các triệu chứng này.

    Hỏi chuyện là một quá trình giao tiếp. Do vậy ngoài kênh ngôn ngữ còn có kênh phi ngôn ngữ. Chính kênh này đã truyền tải nhiều thông tin về cảm xúc, ví dụ như lo âu hoặc căng thẳng mà thông qua quan sát chúng ta có thể ghi nhận được:

    Các dấu hiệu cận ngôn ngữ của lo âu: nói nhanh, một số lỗi ngôn ngữ, nói không hết câu…

    Ở mức độ phi ngôn ngữ, lo âu thể hiện qua: tư thế cứng nhắc, tăng động chân, tay. Trầm cảm thường gắn với giảm ngôn ngữ, giảm trương lực cơ, sự phục tùng hoặc thụ động thể hiện ở giảm tiếp xúc bằng ánh mắt… Trong quá trình hỏi chuyện, cảm xúc của bệnh nhân thường cũng bị thay đổi khi chủ đề của hỏi chuyện thay đổi. Những trạng thái cảm giác như vậy thường là trung tâm của các khó khăn về tâm lí. Tuy nhiên nếu ở bệnh nhân không có sự thay đổi cảm xúc như vậy thì cần phải lưu ý đến sự nghèo nàn cảm xúc.

    Ngoài ra cách ăn mặc, xưng hô, bộ điệu… cũng cho chúng ta những thông tin nhất định về đặc điểm tâm lí của bệnh nhân.

    Quan sát:

    Quan sát được sử dụng nhằm theo dõi, nhận xét đánh giá về hành vi của người bệnh. Trong tâm lí lâm sàng, quan sát thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác như: trắc nghiệm, thực nghiệm và đặc biệt là hỏi chuyện. Bên cạnh đó, cũng có những thang đo được thiết kế trên cơ sở quan sát, ví dụ như một số thang đo về tăng động, giảm chú ý ở trẻ em.

    Phân tích sản phẩm hoạt động:

    Mọi sản phẩm hoạt động của con người đều mang dấu ấn nhất định về những đặc điểm tâm lí – nhân cách của chủ thể. Thông qua việc phân tích các sản phẩm hoạt động, chúng ta có thể có những nhận xét nhất định về những đặc điểm đó.

    Một trong những sản phẩm hoạt động được quan tâm nhiều trong thăm khám tâm lí lâm sàng là các ghi chép, nhật kí, thư từ của bệnh nhân. Trong những sản phẩm này, thông thường bệnh nhân ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình về một vấn đề nào đó hoặc về ai đó.

    Trong nhiều trường hợp giám định tâm thần, nhật kí, thư từ… là những tư liệu rất quan trọng trong việc xác định và lí giải nguyên nhân cũng như quá trình dẫn đến hành vi cực đoan.

    Phân tích tiểu sử:

    Phân tích tiểu sử cũng là một trong những phương pháp cung cấp nhiều tư liệu về sự phát triển tâm lí – nhân cách của chủ thể qua từng thời kì. Trong phân tích tiểu sử cần lưu ý đến những biến cố mang tính quy luật và những biến cố mang tính bất ngờ.

    Những biến cố mang tính quy luật (hầu như ai cũng phải trải qua) như: bắt đầu đi học, xa gia đình đi học hoặc đi công tác, lấy vợ hoặc lấy chồng, khi đứa con đầu tiên ra đời…

    Những biến cố mang tính bất ngờ như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn giao thông, cha mẹ hoặc chính bệnh nhân li dị…

    Lẽ đương nhiên trong khi phân tích tiểu sử cũng phải luôn lưu ý đến sự phát triển về sức khoẻ của bệnh nhân qua từng thời kì và những đặc điểm xã hội của họ như: đặc điểm các mối quan hệ gia đình, đồng nghiệp, đặc điểm về kinh tế…

    Các phương pháp chủ đạo.

    Về mặt thuật ngữ, phương pháp có thể được hiểu ở 3 cấp độ: phương pháp luận, phương pháp tiếp cận và phương pháp cụ thể (kĩ thuật cụ thể).

    Ngoại trừ cấp độ phương pháp luận, trong thực hành tâm lí nói chung, tâm lí lâm sàng nói riêng, các phương pháp nghiên cứu (chủ đạo) thường được dùng với cả 2 cấp độ: các tiếp cận và phương pháp cụ thể. Có 2 cách tiếp cận được bàn nhiều trong thực hành tâm lí lâm sàng, đó là thực nghiệm và trắc nghiệm.

    Thực nghiệm tâm lí:

    Thực nghiệm tâm lí là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động, trong những điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan hệ nhân – quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và đo đạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu.

    Đặc điểm nổi bật của thực nghiệm là vai trò chủ động, tích cực của nhà nghiên cứu. Đây cũng chính là nét khác biệt cơ bản giữa tiếp cận thực nghiệm với trắc nghiệm.

    Đặc điểm khác nữa của thực nghiệm chính là phân tích định tính. Đặc điểm này không loại trừ tính định lượng mà ngược lại, chúng quan hệ rất mật thiết với nhau.

    Theo hình thức thực hiện có thể có: thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng.

    Theo mục đích: thực nghiệm phát hiện/xác định và thực nghiệm hình thành.

    Trong thực hành tâm lí lâm sàng, thực nghiệm được sử dụng chủ yếu là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thực nghiệm xác định. Ví dụ, dùng thực nghiệm để phát hiện các biểu hiện và mức độ của rối loạn tư duy hoặc nhằm đánh giá chung những chức năng tâm lí còn được bảo toàn và những chức năng tâm lí bị biến đổi/rối loạn cùng với mức độ rối loạn của chúng.

    Trắc nghiệm tâm lí:

    Cùng với việc xuất hiện các cuộc cách mạng trong Tâm lí học (như đã đề cập trong bài trước), một trong những yêu cầu để xây dựng Tâm lí học thành một ngành khoa học thực sự là đối tượng nghiên cứu của nó phải định lượng được. Trước thế kỉ XX, trắc nghiệm tâm lí cũng đã có những bước đi ban đầu. Tuy nhiên nó chỉ thực sự phát triển kể từ sau năm 1905, năm xuất hiện thang đo trí tuệ Binet-Simon. Càng ngày càng có nhiều trắc nghiệm tâm lí được xây dựng và phạm vi ứng dụng cũng được mở rộng ra rất nhiều: giáo dục, y tế, tuyển chọn nghề, quân sự (ví dụ: tại Mĩ, trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã có hơn 20 triệu quân nhân và nhân viên quân sự được “đo” trí tuệ).

    Trắc nghiệm tâm lí là một phép đo nên trắc nghiệm đòi hỏi phải được thực hiện theo các yêu cầu:

    Tính chuẩn: trắc nghiệm phải được thực hiện trong điều kiện chuẩn, có những điểm chuẩn trên cơ sở kết quả của các nhóm đại diện cho một quần thể (lứa tuổi, văn hoá, chủng tộc, nghề nghiệp…).

    Thích ứng hoá test trải qua các bước:

    Tính hiệu lực: trắc nghiệm phải đo được chính cái mà nó cần đo.

    Độ tin cậy: thể hiện ở chỗ trên cùng một đối tượng, trong các lần đo khác nhau; hoặc trên cùng những đối tượng tương đồng; hoặc các phiên bản khác nhau của cùng một trắc nghiệm phải cho kết quả giống nhau.

    Cũng như các lĩnh vực Tâm lí học ứng dụng khác, trong thực tiễn tâm lí lâm sàng, một trắc nghiệm tâm lí được xây dựng ở một nước nào đó và sau được sử dụng ở nước khác. Trước khi ứng dụng, thông thường các trắc nghiệm được thích ứng hoá. Đây là các biện pháp nhằm đảm bảo cho test được sử dụng có hiệu quả trong điều kiện mới.

    Phân tích cơ sở lí luận của test.

    Chuyển ngữ test và các hướng dẫn, kiểm định lại bằng ý kiến chuyên gia.

    Kiểm tra độ hiệu lực và độ tin cậy của test.

    Các phương pháp cụ thể:

    Chuẩn hoá test.

    Điều này cho thấy không nên tùy tiện sử dụng một trắc nghiệm/test bất kì nào của nước ngoài.

    Sự phân chia ra các phương pháp thực nghiệm và trắc nghiệm cũng chỉ mang tính tương đối. Trong nhiều trường hợp, một phương pháp nào đó có thể được sử dụng để đo, ví dụ: dùng test Raven để đo chỉ số trí tuệ. Tuy nhiên người ta cũng có thể sử dụng chúng dưới góc độ thực nghiệm. Cũng với test Raven, người ta có thể dùng nó là chất liệu để làm thực nghiệm về tư duy hoặc khả năng phê phán của cá nhân.

    Hiện nay có hàng nghìn phương pháp phương pháp khác nhau. Phần lớn các phương pháp này được sử dụng dưới dạng trắc nghiệm:

    Các phương pháp khảo sát trí nhớ.

    Các phương pháp khảo sát chú ý.

    Các trắc nghiệm trí tuệ.

    Các phương pháp khảo sát cảm xúc.

    Các phương pháp khảo sát nhân cách.

    Trong số những phương pháp này, các trắc nghiệm trí tuệ và nhân cách chiếm phần lớn.

    Đánh giá hành vi:

    Theo các nhà tâm lí học hành vi, cái gọi là tâm lí – nhân cách bên trong của con người là những cái không thể quan sát được cũng như không thể “đo đạc” được một cách trực tiếp. Do vậy thay vì dùng các phương pháp đo gián tiếp, các nhà tâm lí học hành vi xây dựng các quy trình đánh giá hành vi, những cái có thể trực tiếp quan sát được.

    Phỏng vấn:

    Mục đích chính của phỏng vấn trong đánh giá hành vi là nhằm xác định hành vi có vấn đề, các yếu tố hoàn cảnh gây râ các hành vi đó và hậu quả của chúng. Những thông số chính về hành vi có vấn đề mà nhà quan sát cần quan tâm:

    Tần xuất.

    Cường độ.

    Độ dài.

    Nhằm tăng độ tin cậy của đánh giá, xu hướng chung hiện nay là sử dụng những phỏng vấn có cấu trúc.

    Quan sát:

    Quan sát là kĩ thuật chủ yếu của đánh giá hành vi. Đối với một số trường hợp, ví dụ như bệnh nhân loạn thần hoặc trẻ nhỏ thì quan sát là kĩ thuật chủ đạo. Quan sát có thể do một chuyên gia hoặc là người đã được hướng dẫn, luyện tập. Đây thường là những người tiếp xúc trực tiếp với đối tượng quan sát, ví dụ như: cô giáo, cha mẹ. Cũng có thể do chính đối tượng thực hiện (tự quan sát).

    Có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật trợ giúp: đồng hồ, camera và các thiết bị điện tử hoặc đơn giản là giấy bút.

    Nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu dịch tễ:

    Nghiên cứu trường hợp:

    Nghiên cứu trường hợp cũng là một phương pháp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong Y học và Tâm lí Lâm sàng.

    Có một số quan niệm khác nhau về nghiên cứu trường hợp. Tuy nhiên từ góc độ tâm lí lâm sàng, nghiên cứu trường hợp thường được hiểu là nghiên cứu một cách tích cực, toàn diện của một trường hợp cụ thể. Nội dung của nghiên cứu trường hợp bao gồm:

    Các tư liệu: tiểu sử, nhật kí, tiền sử bệnh lí.

    Hỏi chuyện, phỏng vấn.

    Kết quả của các lần thực nghiệm tâm lí.

    Kết quả trị liệu.

    Giá trị lớn nhất của nghiên cứu trường hợp là ở chỗ nó có thể thu thập phong phú các tư liệu của một cá nhân, chính những kết quả của nó dẫn đến việc hình thành các giả thuyết khoa học.

    Nghiên cứu dịch tễ:

    Nghiên cứu dịch tễ là phương pháp nghiên cứu của Y học. Trong Tâm lí Lâm sàng, nghiên cứu dịch tễ thường được sử dụng để xác định các chỉ số về dịch tễ của một hoặc một số rối loạn tâm lí nào đó, ví dụ: nghiên cứu về stress ở sinh viên.

    Phần lớn các nghiên cứu dịch tễ đều dựa trên phương pháp điều tra khảo sát và phỏng vấn. Do vậy nghiên cứu dịch tễ cần phải được thực hiện trên cơ sở một thiết kế tốt bởi nếu không chúng ta sẽ bỏ qua những yếu tố quan trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Lớp Phương Pháp Nghiên Cứu Y Học Lâm Sàng
  • Sốc: Đã Tìm Ra Cách Dự Đoán Trúng Giải Jackpot Của Vietlott?
  • Tổng Quan Về Xu Hướng Thời Trang
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học Pdf
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • Miễn Phí Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Các Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm 2021
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay Là Gì?
  • Khái niệm

    Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nhưmột phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

    Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

    Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.

    Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luậnchung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

    Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.

    Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản
  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép
  • Hướng Dẫn Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • . Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Hướng Dẫn Làm Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Chất Lượng
  • Các Bước Làm Bài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Mở trang này để lưu lại những tài liệu tham khảo tớ tìm được về môn học Phương pháp Nghiên cứu Khoa học, lớp mình được hướng dẫn bởi PGS. TS. Trịnh Khắc Thẩm & Ths. Nguyễn Xuân Hướng ^^

    1. Nguyễn Thanh Phương: Bài giảng PPNCKH – 4 Chương – – 2000, ĐH Cần Thơ, 19 trang

    1. Baigiang_PPNCKH_4Chuong_DHCanTho_NguyenThanhPhuong_19p

    Chương 1: Mở đầu

    Chương 2: Phương pháp viết đề cương nghiên cứu

    Chương 3: Phương pháp viết Báo cáo khoa học

    Chương 4: Phương pháp mô thức luận (LFA)

    Bài tập & Báo cáo

    2. Nguyễn Văn Tuấn: PPNCKHGD, ĐHSPKT.TP. HCM, 2007, 6 chương, 76 trang:

    2. PPNCKHGD_6Chuong_DHSPKT.Tp.HCM_NguyenVanTuan_76p

    – Chương 1: Những cơ sở chung về Khoa học giáo dục & Nghiên cứu Khoa học

    – Chương 2: Logic tiến hành 1 chương trình nghiên cứu khoa học

    – Chương 3: Đề tài nghiên cứu & Soạn đề cương nghiên cứu

    – Chương 4: PPNCKH Giáo dục

    – Chương 5: Xử lý thông tin

    – Chương 6: Công bố và trình bày các kết quả NCKHGD

    3. PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ & Ths. Nguyễn Huy Tài: PPNCKH, ĐH Cần Thơ. 2005, 70trang, 6 chương:

    3. PPNCKH_NguyenBaoVe&NguyenHuyTai_DHCanTho_6Chuong_70p

    – Chương 1: Khái niệm Khoa học & Nghiên cứu khoa học

    – Chương 2: Phương pháp khoa học

    – Chương 3: Vấn đề Nghiên cứu khoa học

    – Chương 4: Thu thập & đặt giả thuyết

    – Chương 5: Phương pháp thu thập số liệu

    – Chương 6: Cách trình bày kết quả số liệu nghiên cứu

    4. Slide Bài 1: Giới thiêu về PPNCKH

    5. Slide của PGS. TS. Vũ Cao Đàm – PPNCKH – 200 Slides. http://www.mediafire.com/file/i5qzitu85i37cvy/5. PPNCKH_VuCaoDam_200Slide.ppt

    6. Slide của TS. Lê Viết Dũng – Trao đổi với SV về PPNCKH, 8 Slides http://www.mediafire.com/file/6am88j8afvvhlgz/6. Trao doi voi SV ve chúng tôi Le Viet chúng tôi

    7. PGS. TS. Dương Văn Tiến, Giáo trình PPLNCKH, NXB Giao thông Vận Tải – ĐH Thủy Lợi, 158 Trang, 16 Chương, 7 bước http://www.mediafire.com/file/fsx056dawfbhye2/7.PGS.TS.Duong Van Tien_PPLNCKH_7buoc_158p.PDF

    Chương 1: Nghiên cứu: Phương pháp suy nghĩ

    Chương 2: Tổng quan về quá trình nghiên cứu

    Bước 1: Thiết lập bài toán nghiên cứu

    Chương 3: Xem xét tài liệu

    Chương 4: Xác lập đề tài nghiên cứu

    Chương 5: Nhận diện các biến số

    Chương 6: Thiết lập giả thuyết

    Buớc2: Quan niện hoá thiết kế nghiên cứu

    Chương 7: Chọn thiết kế nghiên cứu

    Bước 3: Xây dựng thiết bị để thu thập dữ liệu

    Chương 8: Lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu

    Chương 9: Thu thập dữ liệu bằng cách dùng thang thái độ

    Chương 10: Thiết lập tính xác thực và độ tin cậy của thiết bị nghiên cứu

    Bước 4: Chọn mẩu thử

    Chương 11: Lấy mẫu

    Bước 5: Viết đề xuất nghiên cứu

    Chương 12: Viết đề xuất nghiên cứu

    Bước 6: Thu thập dữ liệu

    Chương 13: Xem xét vấn đề đạo đức trong thu thập dữ liệu

    Bước 7: Xử lý dữ liệu

    Chương 14: Xử lý dữ liệu

    Chương 15: Trình bày dữ liệu

    Bước 8: Viết báo cáo nghiên cứu

    Chương 16: Viết báo cáo nghiên cứu

    Tài liệu tham khảo

    9. PGS. TS. Phạm Văn Hiền: PPL NCKH, 10 Chương, 90trang http://www.mediafire.com/file/u7km67144311h3a/9.PGS.TS.PhamVanHien_PPLNCKH_10Chuong_90p.pdf

    C1: Khoa học và Phân loại Khoa học

    C2: Đại cương về nghiên cứu khoa học

    C3: Vấn đề Khoa học

    C4. Giả thuyết khoa học

    C6: PP Thu thập thông tin

    C7: Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu

    C8: Các hình thức công bố kết quả nghiên cứu

    C9: Tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học

    C10: Luận văn khoa học

    10. Phương pháp trình bày bài Luận văn trên pp:

    http://www.mediafire.com/file/u7km67144311h3a/9.PGS.TS.PhamVanHien_PPLNCKH_10Chuong_90p.pdf

    http://www.mediafire.com/file/xgkbczqp35w03jz/11. PGS.TS.PhamVanHien.Thuyet trinh luan chúng tôi

    12. Định dạng các phần trong luận văn

    http://www.mediafire.com/file/rikxhwsbvd36ld8/12. DHNongLamTpHCM_Dinh dang cac phan trong chúng tôi

    2. Lê Tử Thành, Tìm hiểu về Logic học, NXB Trẻ, TP. HCM

    3. Vũ Cao Đàm, PP Luận NCKH, NXB Khoa học & Kỹ thuật, 2005 (XB lần thứ 11)

    4. Vũ Cao Đàm, NCKH, lý luận & Thực tiễn, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1999

    5. Vũ Cao Đàm, Đánh giá NCKH, NXB Khoa học & Kỹ thuật, 2004

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Lược Về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Cách Tiếp Cận
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Kém Môn Vật Lí Thpt
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 5
  • Góc Nhìn Giáo Dục: Cách Dạy Học Ngày Xưa
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Webquest
  • Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Việc Đặt Lưỡi Chuẩn
  • Các Phương Pháp Điều Trị Thoát Vị Đĩa Đệm
  • Bản Đồ Tư Duy (Mind Map) Là Gì?
  • Sơ Đồ Tư Duy Mindmap Là Gì? Sử Dụng Thế Nào Cho Hiệu Quả?
  • Lợi Ích Và Trình Tự Các Bước Để Lập Ra Một Sơ Đồ Tư Duy Hoàn Hảo
  • Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học

    MỤC LỤC

    Lời nói đầu 2

    I. Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học 3

    1. Phương pháp nghiên cứu khoa học 3

    a. Khái niệm 3

    b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học 4

    2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học 6

    3. Phân loại phương pháp 7

    a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 7

    b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 9

    II. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể 10

    1. Phương pháp phân tích và tổng hợp 10

    2. Phương pháp quy nạp và diễn giải 12

    3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 13

    a. Phương pháp lịch sử 13

    b. Phương pháp lôgíc 15

    c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 17

    Kế luận 19

    Tài liệu tham khảo 20

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà mọi thành tựu khoa học và công nghệ đều xuất hiện một cách hết sức mau lẹ và cũng được đổi mới một cách cực kỳ nhanh chóng. Ngày nay nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất thời đại. Bộ máy nghiên cứu khoa học đã trở thành khổng lồ, nó đang nghiên cứu tất cả các góc cạnh của thế giới. Các thành tựu nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khoa học đã làm đảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, nó làm cho sức sản xuất xã hội tăng lên hàng trăm lần so với vài thập niên gần đây.

    Về phần mình, bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa học. Một mặt, phải tổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý thuyết về quá trình sáng tạo khoa học; mặt khác, phải tìm ra được các biện pháp tổ chức, quản lý và nghiên cứu khoa học tốt hơn làm cho bộ máy khoa học vốn đã mạnh, lại phát triển mạnh hơn và đi đúng quỹ đạo hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên, nhà tương lai học Thierry Gaudin đã đưa ra một thông điệp khẩn thiết: “ Hãy học phương pháp chứ đừng học dữ liệu!”.

    Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người cả những hiểu biết về phương pháp nhận thức thế giới. Chính vì vậy mà phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới.Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên cần thiết nhằm giúp cho công tác nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả hơn, phát triển mạnh mẽ hơn. Đó cũng chính là vấn đề tôi xin được trình bày trong bài viết này: “Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học.”

    I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    1. Phương pháp nghiên cứu khoa học

    a. Khái niệm

    Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học.Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

    ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

    ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

    Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

    Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

    Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.

    Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

    Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.

    Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

    3. Phân loại phương pháp

    Căn cứ vào mức độ cụ thể của phương pháp, các phương pháp nghiên cứu chung trước hết được phân chia thành hai loại: Các phương pháp tổng quát và các phương pháp nghiên cứu cụ thể.

    Có nhiều phương pháp nghiên cứu tổng quát ( khái quát, trừu tượng) khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm của quá trình tư duy, phương pháp tổng quát được chia thành các phương pháp như : phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, lôgic-lịch sử, hệ thống-cấu trúc…

    Nếu căn cứ vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, sự khác nhau của những lao động cụ thể trong nghiên cứu khoa học, phương pháp tổng quát được chia thành loại phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

    a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

    Loại phương pháp này bao gồm các phương pháp quan sát, thí nghiệm thực nghiệm. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ của sự vật, hiện tượng riêng lẻ xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó nhờ khả năng thụ cảm của các giác quan, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát trìu tượng hoá.

    Thực nghiệm, thí nghiệm là việc người nghiên cứu khoa học sử dụng các phương tiện vật chất tác động lên đối tượng nghiên cứu nhằm kiểm chứng các giả thiết, lý thuyết khoa học, chính xác hoá, bổ sung chỉnh lý các phỏng đoán giả thiết ban đầu tức là để xây dựng các giả thiết, lý thuyết khoa học mới.

    Thí nghiệm, thực nghiệm bao giờ cũng được tiến hành theo sự chỉ đạo của một ý tưởng khoa học nào đấy. Như vậy để tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm phải có tri thức khoa học và điều kiện vật chất.

    Phương pháp thực nghiệm được áp dụng khá phổ biến trong các ngành khoa học tự nhiên kỹ thuật-công nghệ- là những ngành khoa học có khả năng định lượng chính xác. Trong những lĩnh vực này, sự phát triển của khoa học kỹ thuật còn cho phép tạo ra những môi trường nhân tạo, khác với môi trường bình thường để nghiên cứu sự vận động biến đổi của đối tượng.

    Các ngành khoa học xã hội là lĩnh vực khó có khả năng tiến hành các thí nghiệm khoa học, áp dụng phương pháp thử nghiệm. Song thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Mọi khái quát, trìu tượng, mọi lý thuyết nếu không được thực tiễn chấp nhận đều không có chỗ đứng trong khoa học. Ở đây quan sát, tổng kết thực tiễn người nghiên cứu khoa học có khả năng nhận thức nhanh hơn con đường do lịch sử tự vạch ra.

    Trong những phạm vi nhất định, người ta cũng có thể tiến hành các thí nghiệm xã hội học. Ở đây cần lưu ý rằng tính toán xã hội của khoa học xã hội đòi hỏi những phương tiện, điều kiện vật chất, môi trường thử nghiệm phải là những điều kiện phổ biến ( đã có trong toàn xã hội, hoặc chắc chắn được tạo ra trong toàn xã hội).

    Trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, nhiều trường hợp người ta còn sử dung phương pháp mô hình hoá mà đối tượng nghiên cứu không cho phép quan sát thực nghiệm trực tiếp. Cơ sở để áp dụng phương pháp mô hình hoá là sự giống nhau về các đặc điểm, chức năng, tính chất đã được xác lập vững chắc giữa các sự vật hiện tượng, quá trình xảy ra trong tự nhiên xã hội, tư duy. Dựa trên cơ sở này, từ những kết quả nghiên cứu đối với mô hình người ta rút ra những kết luận khoa học về đối tượng cần nghiên cứu.

    Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta cũng còn vận dụng cả các phương pháp phân tích tổng hợp, quy nạp-diễn giải và lôgíc-lịch sử.

    b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

    Loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp khái quát, trìu tượng hoá, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, v.v…

    Loại phương pháp lý thuyết được dùng cho tất cả các ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực nghiệm phải sử dụng các yếu tố, điều kiện vật chất tác động vào đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu lý thuyết quá trình tìm kiếm phát hiện diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, chữ viết, v.v…Do vậy loại phương pháp này giữ một vị trí rất cơ bản trong nghiên cứu khoa học xã hội- nhân văn.

    Điểm xuất phát của nghiên cứu thực nghiệm là quan sát thực tiễn, quan sát sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu lý thuyết, nền tảng và điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận( các quan điểm, các lý thuyết). Do vậy việc nắm vững hệ thống lý luận nền tảng đóng vai trò rất quyết định trong loại phương pháp này. Nắm vững lý thuyết nền là cơ sở hình thành định hướng trong nghiên cứu hình thành các trường phái khoa học.

    Học thuyết Mác-Lênin là hệ thống lý luận nền tảng đối với toàn bộ khoa học xã hội ở nước ta. Người nghiên cứu khoa học xã hội do vậy phải được trang bị vững chắc lý luận Mác-Lênin là cơ sở cho toàn bộ quá trình sáng tạo phát triển tiếp theo.

    Tri thức khoa học là tri thức chung, tài sản chung của nhân loại. Bất cứ lý thuyết nào nếu được thực tiễn chấp nhận, đều có hạt nhân khoa học, hợp lý của nó. Bên cạnh việc nắm vững học thuyết Mác-Lênin làm điểm xuất phát, nền tảng, người nghiên cứu khoa học xã hội ở ta còn phải tiếp thu được các lý luận, học thuyết khác. Tiếp thu các lý luận, học thuyết khác vừa để tiếp thu được những khía cạnh hợp lý, khoa học, tức là những tinh hoa trong kho tàng tri thức nhân loại, giúp cho mình tiếp tục phát triển lý luận Mác-Lênin, vừa để nhìn thấy những khiếm khuyết bất cập của các lý luận ấy, góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin. Cần lưu ý rằng nếu không nắm vững lý luận nền tảng là học thuyết Mác-Lênin, người nghiên cứu khoa học rất khó khăn trong việc tìm ra cái đúng, cái sai của các lý luận khác. Đó là một nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn trong lĩnh vực tư tưởng lý luận khi chuyển sang kinh tế thị trường mở cửa ở nước ta hiện nay.

    Nếu như các quy luật tự nhiên tồn tại một cách lâu dài, thì các quy luật xã hội tồn tại, vận động trên những điều kiện xã hội nhất định. Thoát ly tính lịch sử cụ thể luôn là một nguy cơ dẫn phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội rơi vào tình trạng duy tâm, siêu hình, bám giữ lấy những nguyên lý, công thức lỗi thời lạc hậu trở thành giáo điều kinh viện, kìm hãm khoa học.

    Trong phương pháp lý thuyết do đặc tính của quá trình sáng tạo khoa học diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, suy luận, khái quát hoá, lại không được thực tiễn kiểm chứng ngay, mà phải trải qua một thời gian khá dài đúng sai mới sáng tỏ. Điều đó dễ dẫn người làm khoa học phạm vào sai lầm chủ quan duy ý chí, tự biện.

    Coi trọng phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội, người làm khoa học cần chú ý kết hợp phương pháp này với phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn.Sự kết hợp này là yếu tố bổ sung, giúp người nghiên cứu khoa học tránh được những hạn chế do phương pháp lý thuyết đưa lại.

    II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỤ THỂ

    1. Phương pháp phân tích và tổng hợp

    Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy.

    Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia nó theo cấp bậc.

    Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến.

    Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải:

    + Xác định tiêu thức để phân chia.

    + Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu.

    + Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung.

    Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát.

    Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.

    Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng. Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể( có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau.

    Với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật do tính chính xác quy định, mặt phân tích định lượng có vai trò khá quyết định kết quả nghiên cứu. Quá trình tổng hợp, định tính ở đây hoặc giả là những phán đoán, dự báo thiên tai, chỉ đạo cả quá trình nghiên cứu, hoặc giả là những kết luận rút ra từ phân tích định lượng.Trong các ngành khoa học xã hội- nhân văn, sự hạn chế độ chính xác trong phân tích định lượng làm cho kết quả nghiên cứu lệ thuộc rất nhiều vào tổng hợp, định tính. Song chính đặc điểm này dễ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch do những sai lầm chủ quan duy ý chí.

    2. Phương pháp quy nạp và diễn giải

    Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó.

    Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất. Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp. Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết.

    Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu.

    Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp. Đó là phương pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.

    Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, định lý, công thức.

    Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việc nghiên cứu đối tượng.

    3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai mặt biểu hiện của phương pháp biện chứng mácxít . Tính thống nhất và tính khác biệt của nó cũng bắt nguồn từ tính thống nhất và tính khác biệt của hai phạm trù lịch sử và lôgíc.

    a. Phương pháp lịch sử

    Các đối tượng nghiên cứu( sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển theo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiện ra trong sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ có cả tất nhiên và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, lộn xộn, bề ngoài của các yếu tố, sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự phát triển.

    Hay nói cách khác,phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hoá của đối tượng, để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng.

    Do đó phương pháp lịch sử có những đặc điểm sau:

    ¨ Nó phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến. Và trên cơ sở nắm được những đặc thù cá biệt đó mà trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử.

    Phương pháp lịch sử còn yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu cái không lặp lại bên cái lặp lại. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ diễn lại hoàn toàn như cũ. Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm ra cái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử. Thí dụ, cũng là khởi nghĩa nông dân, nhưng khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu có khác khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám về đối tượng, quy mô và hình thức đấu tranh…

    Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh co, thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử. Bởi vì lịch sử phát triển muôn màu muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh. Hoặc khi cái mới đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một chừng mực nhất định. Phương pháp lịch sử phải đi sâu vào những uẩn khúc đó.

    Phương pháp lịch sử yêu cầu chúng ta đi sâu vào ngõ ngách của lịch sử, đi sâu vào tâm lý, tình cảm của quần chúng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn về diện, hiểu từ cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn bộ xã hội. Chẳng hạn như nói về cách mạng Tháng Tám, nếu chỉ nêu lên những đặc điểm, quy luật và sự kiện điển hình thì chưa đủ để thấy được sắc thái đặc biệt của nó khác với các cuộc cách mạng khác. Tâm lý của quần chúng trước ngày khởi nghĩa, tình cảm đối với Đảng, với cách mạng, những hành vi biểu lộ tâm lý, tình cảm đó lại là những nét mà lịch sử phải chú ý để cho sự miêu tả được sinh động, tránh khô khan, công thức, gò bó.

    Phương pháp lịch sử phải chú ý những tên người, tên đất, không gian, thời gian, thời gian cụ thể, nhằm dựng lại quá trình lịch sử đúng như nó diễn biến.

    Tóm lại, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có lịch sử của mình, tức là có nguồn gốc phát sinh, có quá trình vận động phát triển và tiêu vong. Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình muôn vẻ, trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử chúng ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng nghiên cứu.

    Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ cái lịch sử chúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cái lôgíc của lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.

    b. Phương pháp lôgíc

    Nếu phương pháp lịch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử thì phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng.

    Do đó phương pháp lôgíc có những đặc điểm sau:

    Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng. Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng hợp…để tìm ra bản chất của hiện tượng.

    Nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đường đó, mà chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của nó, tức là nắm lấy quy luật của nó. Như Anghen đã nói: lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử một cách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại.

    Khác với phương pháp lịch sử là phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, nắm lấy không gian, thời gian, tên người, tên đất…cụ thể, phương pháp lôgíc lại chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hình và nắm qua những phạm trù quy luật nhất định. Thí dụ, trong khi viết Tư bản luận, Mác có thể đi ngay vào giai đoạn phát triển điển hình cao nhất của lịch sử lúc đó là xã hội tư bản. Khi phát hiện ra được quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật thặng dư giá trị, tức là nắm được sâu sắc các giai đoạn điển hình, thì từ đó có thể dễ dàng tìm ra các quy luật phát triển của các xã hội trước tư bản chủ nghĩa, mà không nhất thiết phải đi từ giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người.

    Nhờ những đặc điểm đó mà phương pháp lôgíc có những khả năng riêng là:

    Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra cái mới. Bởi vì, lôgíc là sự phản ánh của thế giới khách quan vào ý thức con người, mà thế giới khách quan thì không ngừng phát triển, cái mới luôn luôn nảy sinh. Do luôn luôn chú ý đến cái phổ biến, cái bản chất mà tư duy lôgíc dễ nhìn thấy những bước phát triển nhảy vọt và thấy cái mới đang nảy sinh và phát triển như thế nào. Đặc điểm của cái mới là nó khác về chất với cái cũ. Mặc dù là hình thức thì chưa thay đổi, nhưng chất mới đã nảy sinh.

    Do thấy được mầm mống của cái mới mà phương pháp lôgíc có thể giúp ta thấy được hướng đi của lịch sử,nhằm chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới.

    Phương pháp lôgíc còn có ưu điểm là giúp chúng ta tác động tích cực vào hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lịch sử ở một trình độ cao hơn, nghĩa là chủ động cải tạo, cải biến lịch sử, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó. Cụ thể hiện nay, một số xí nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá đã giúp công nhân có thể trở thành người vừa sản xuất, vừa làm chủ xí nghiệp, lại cải thiện nhanh chóng được đời sống. Nhà nước đã chủ động tác động tới quá trình đó, đưa lịch sử tiến lên.

    c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc

    Trên thực tế công tác nghiên cứu theo phương pháp biện chứng mácxít, không bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc thuần tuý tách rời nhau, mà là trong cái này có cái kia, hai cái thâm nhập vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Giới hạn giữa chúng chỉ là tương đối. Cụ thể, phương pháp lịch sử tuy phải theo sát tiến trình phát triển của lịch sử của sự vật hiện tượng, diễn lại những bước quanh co, ngẫu nhiên, thụt lùi tạm thời của quá trình phát triển hiện thực, nhưng không phải là miêu tả lịch sử đó một cách kinh nghiệm chủ nghĩa, mà là miêu tả theo một sợi dây lôgíc nhất định của sự phát triển lịch sử; không phải miêu tả lịch sử một cách mù quáng, mà là phát triển một cách có quy luật.

    Cũng vậy, phương pháp lôgíc tuy không nói đến những chi tiết lịch sử, những bước đường quanh co, ngẫu nhiên của lịch sử đối tượng, nhưng không phải vì thế mà nó bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử cụ thể của đối tượng. Phương pháp lôgíc là sự phản ánh cái chủ yếu được rút ra từ trong lịch sử sự vật, và làm cho cái chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trình lịch sử.

    Tóm lại, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc có tính thống nhất và cũng có mục đích thống nhất là cùng nhằm phơi bày rõ chân lý khách quan của sự phát triển lịch sử, nên trong công tác nghiên cứu, tổng kết khoa học, chúng ta không chỉ vận dụng một phương pháp riêng rẽ nào, vì thực ra chúng chỉ là hai mặt biểu hiện khác nhau của phương pháp biện chứng mácxít mà thôi. Tuy vậy, trong công tác nghiên cứu chúng ta vẫn cần chú ý đến tính độc lập tương đối của hai phương pháp này như đã nói ở trên.

    KẾT LUẬN

    Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học.

    Chúng ta đã biết khoa học càng phát triển bao nhiêu thì phương pháp, cách thức nghiên cứu càng đa dạng phong phú bấy nhiêu. Càng có nhiều phương pháp càng tăng khả năng lựa chọn phương pháp của người nghiên cứu, càng làm cho việc lựa chọn phương pháp có ý nghĩa quan trọng hơn cả về mặt nhận thức khoa học lẫn hiệu quả kinh tế.

    Phương pháp nói chung đóng vai trò chủ đạo trong nghiên cứu khoa học công nghệ. Phương pháp cụ thể gắn với các môn, lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Chính sự phát triển của khoa học, kỹ thuật ngày càng nảy sinh nhiều phương pháp cụ thể khác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng. Do vậy sẽ là sai lầm nếu quá nhấn mạnh một phương pháp đặc thù, cụ thể nào đó trong nghiên cứu.Vì vậy chúng ta phải có một cái nhìn khách quan về các phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như phải có một phương pháp luận đúng đắn, để từ đó biết áp dụng một cách khoa học và chính xác các phương pháp nghiên cứu khoa học vào mỗi đối tượng khác nhau và để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật,2003).

    Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh- Bộ môn khoa học luận, Đề cương bài giảng môn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.

    Phạm Viết Vượng, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục( Nhà xuất bản giáo dục, 1997).

    Văn Tạo, Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc( Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia- Viện Sử học, 1995).

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    • da282_0257_4613.doc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Quản Lí Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Cách Hạch Toán Thuế Xuất Khẩu (Tài Khoản 3333) Theo Thông Tư 200
  • Cách Hạch Toán Thuế Xuất, Nhập Khẩu – Tk 3333 ( 29
  • Tài Khoản 411: Nguồn Vốn Kinh Doanh
  • Cách Tính Và Hạch Toán Thuế Nt Nước Ngoài Theo Từng Đk Hợp Đồng Thầu
  • Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Sách Khó Hơn Bài Báo Quốc Tế: Quan Trọng Sách Nào?
  • Các Phương Pháp Dự Báo
  • Chương 3: Các Phương Pháp Dự Báo Định Tính
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học? Ý Nghĩa?
  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Published on

    Các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học

    1. 1. NHÓM 5 I. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG. III. PHƯƠNG PHÁP HỎI Ý KIẾN CHUYÊN GIA.
    2. 3. -Trong thực tiễn, người ta thường dùng các loại thực nghiệm: 2. CÁC LOẠI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM *Thực nghiệm thăm dò (phát hiện bản chất sự vật để xây dựng giả thuyết) *Thực nghiệm tác động *Thực nghiệm kiểm tra (kiểm chứng các giả thuyết khoa học) *Thực nghiệm ứng dụng *Thực nghiệm triển khai
    3. 4. Thực nghiệm thăm dò Xác định bản chất: không gian học tập, điều kiện học tập quyết định đến chất lượng dạy và học Dựa vào điều kiện thực tế để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
    4. 5. Kiểm tra lại tính xác thực của các giả thiết khoa học Thự c nghiệm kiểm tra Xác định, đánh giá tính hiệu quả của việc sự dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy
    5. 6. Thực nghiệm tác động Phương pháp dạy
    6. 7. Thực nghiệm ứng dụng-triển khai Thực hiện thí điểm Ứng dụng rộng rãi
    7. 8. -Từ mâu thuẫn giáo dục đề ra các giả thuyết khoa học và các biện pháp khắc phục. -Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về phương diện và tiến hành thực nghiệm trong điều kiện giống nhau. -Tiến hành thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và quan sát tỉ mỉ diễn biến kết quả của hai nhóm một cách khách quan. -Xử lí tài liệu thực nghiệm. -Kết quả xử lý tài liệu cho chúng ta những cơ sở khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế. 3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
    8. 9. -Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm điều cần chú ý là phải chọn đối tượng tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một đối tượng ở các thời điểm. Kết quả thực nghiệm sư phạm là kết quả khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu khoa học bằng các phương pháp khác .
    9. 10. a. Ưu điểm. -Thực nghiệm sư phạm là chiếc kính hiển vi giúp ta đi sâu vào bản chất của hiện tượng giáo dục, tìm ra mối quan hệ nhân quả của nhiều sự kiện giáo dục. 4. ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
    10. 11. -Thực nghiệm sư phạm tìm ra những cái mới trong hoạt động giáo dục.
    11. 13. -Thực nghiệm sư phạm tuy là kính hiển vi, nhưng không phải lúc nào cũng đeo kính vào mắt để đi đường mà ngắm cảnh được. Mặt khác, do nhiều điều kiện khó khăn, nên thông thường số lượng đơn vị trong tập mẫu không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu. Trong những hoàn cảnh như vậy, phải thận trọng phát biểu kết luận sư phạm thực nghiệm sư phạm cho phổ biến và đại trà. VD: Trong quá trình thực nghiệm chọn một số nơi thực nghiệm thích hợp với thực nghiệm nhưng những nơi khác thì không chắc sẽ làm được như vậy.
    12. 14. – Một là, xây dựng giả thuyết thực nghiệm trên cơ sở phân tích kĩ các biến số độc lập. – Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ và mọi điều kiện tương đương nhau về mọi phương diện, nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thực nghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm. -Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp, đo đầu vào và đầu ra sao cho khách quan. -Bốn là, xử lí kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng lẫn mặt định tính, đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận. 5. YÊU CẦU
    13. 15. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM: -Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà nhà nghiên cứu sẽ thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục, ..v.vv.) tạo ra như bài làm, bài chấm vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập, v.v.. để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tao ra các sản phẩm đó.
    14. 16. *Về nguyên tắc, thông qua những sản phẩm của con người tạo ra mà chúng ta có thể nhận ra tư tưởng tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng một sản phẩm hoạt động cũng có thể có hai cách sử dụng khó khăn. -Nếu sử dụng các sản phẩm hoạt động đó làm tài liệu để phân tích những đặc điểm tâm lý của những người được nghiên cứu, của hoạt động tạo ra những sản phẩm đó thì việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là đúng đắn. Nhưng nếu dùng những nhận xét vủa người khác làm cứ liệu về nhân cách của đối tượng được nghiên cứu qua sản phẩm qua hoạt động của mình, lúc này tính khách quan đã mất đi rất nhiều. Trong trường hợp này, đó là ý thức chủ quan của người ghi nhật kí chứ không còn là sự kiện khách quan nữa. Đó không phải là phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động mà chính là phương pháp trò chuyện gián tiếp (được viết ra).
    15. 17. a. Ưu điểm : -Giúp người nghiên cứu có thể khách quan hóa (trực quan hóa) nhưng đặc điểm tâm lí, sinh lí thông qua sản phẩm hoạt động của họ. -Sản phẩm hoạt động còn là một phương tiện thổ lộ tâm lí và tình cảm của người tạo ra nó. 2. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM:
    16. 18. b. Nhược điểm: -Người nghiên cứu chỉ biết kết quả cuối cùng, chứ không biết quá trình tạo ra sản phẩm đó như thế nào. -Đôi khi qua sản phẩm chúng ta không xác định một cách chính xác chiều hướng phát triển của người tạo ra sản phẩm như thế nào.
    17. 19. + Đầu tiên tìm cách xây dựng lại đầy đủ quá trình hoạt động để tạo nên sản phẩm mà ta nghiên cứu. Ví dụ, đối với, bài làm, bài soạn, bài giảng, sáng tác… có thể sử dụng những bản nháp, dự thảo được sắp đặt theo thời gian. Bằng cách đó nhiều khi sẽ giúp phát hiện những điểm quan trọng và tinh tế mà chỉ tìm hiểu sản phẩm cuối cùng thì không thể nhận thấy được. + Dựng lại hoàn cảnh thực tế mà sản phẩm tạo ra, đặc biệt khi tình trạng hoạt động mới bắt đầu. Làm được điều đó giúp ta hiểu về con người và hoạt động tạo ra sản phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc hơn nhiều, khác về chất. +Nên tìm hiểu đầy đủ về các mặt khác nhau của con người tạo ra sản phẩm. Làm được điều này sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về sản phẩm và quá trình tạo ra nó. 3. YÊU CẦU
    18. 20. *Để thực hiện các yêu cầu này cần sử dụng tài liệu thu được bằng những phương pháp khác nhau như trò chuyện, quan sát, điều tra, tự thuật, tiểu sử, tất nhiên cũng cần nắm vững lí luận tâm lí học về tâm lí học của con người.
    19. 21. Ví dụ: Khi tiến hành nghiên cứu khả năng đọc hiểu của học sinh trong môn tiếng Anh bằng cách cho học sinh làm một bài test hay tập hợp những bài tập trước để đánh giá mức độ của học sinh, nhưng nhận thấy kết quả không khả quan. Giáo viên nên điều chỉnh hay đưa ra phương án dạy học hiệu quả như khi đọc một đoạn văn, học sinh không nên dịch từng từ một, vì như vậy sẽ rất mất thì giờ, dẫn đến kết quả kém.
    20. 22. 2. PP LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA 1. KHÁI NIỆM: – Là phương pháp thu thập thông tin khoa học , nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa họ, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định.Ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau, cho ta một ý kiến tối ưu, khách quan về một vấn đề khoa học .
    21. 23. 2. MỤC ĐÍCH: Là phương pháp khai thác và vận dụng “chất xám” của các chuyên gia, nhằm mục đích : + Thu thập thông tin khoa học +Thu lượm những ý kiến đánh giá về tình hình giáo dục,về những sản phẩm giáo dục,về những sản phẩm khoa học ….. +Thu lượm những ý kiến về giải pháp giáo dục cho vấn đề muốn khai thác,không những vậy, mà còn có tính trung thực khoa học…
    22. 25. CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Tiêu Chuẩn 5S Trong Quản Lý Chất Lượng Nhân Sự
  • Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Chuyên Gia (Delphi) Xây Dựng Chỉ Số
  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Dạy Học
  • Các Phương Pháp Dạy Học, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Cần Tham Khảo
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hoặc Mất Gốc
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Agile Là Gì Và Các Phương Pháp Kiểm Thử Agile
  • Phương pháp thu thập số liệu

    1. Xác định ranh giới nghiên cứu: Bằng cách tự hỏi quần thể cộng đồng nào hay quần chúng nào trong cộng đồng để nắm bắt được các kiến thức, ý kiến và thông tin từ họ?
    2. Chọn mẫu hay chọn đối tượng phỏng vấn: Theo nguyên tắc, chọn mẫu ngẫu nhiên là tốt nhất. Nhưng thực tế cho thấy khó đạt được và khó thuyết phục được người được chọn ngẫu nhiên để tham dự. Vì vậy, thường có nhiều cách khác nhau trong việc lấy mẫu (xem phần phương pháp chọn mẫu trong phương pháp thực nghiệm).

    Phương pháp phỏng vấn – trả lời

    Phỏng vấn là một loạt các câu hỏi mà người nghiên cứu đưa ra để phỏng vấn người trả lời. Phỏng vấn có thể được tổ chức có cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu hỏi các câu hỏi được xác định rõ ràng; và phỏng vấn không theo cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu cho phép một số các câu hỏi của họ được trả lời (hay dẫn dắt) theo ý muốn của người trả lời. Đặc biệt, khi áp dụng cuộc phỏng vấn không cấu trúc, người nghiên cứu thường sử dụng băng ghi chép thì tốt hơn nếu không muốn ảnh hưởng đến người được phỏng vấn.

    Phương pháp phỏng vấn được áp dụng tốt trong trường hợp:

    • Mục tiêu nghiên cứu chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu có thể sửa hoặc xem lại trong quá trình nghiên cứu.
    • Một loạt các câu trả lời có khả năng chưa được biết trước. Một số người trả lời có thể trình bày các quan điểm mới mà người nghiên cứu chưa biết tới.
    • Người nghiên cứu cần có sự lựa chọn đề xuất hay trình bày thêm những câu hỏi dựa trên thông tin từ người trả lời.
    • Một số người trả lời có thể có thông tin chất lượng cao và người nghiên cứu mong muốn tìm hiểu sâu hơn với họ về đề tài nghiên cứu.
    • Người nghiên cứu có thể cung cấp thêm thời gian và chi phí cho phỏng vấn và đi lại.
    • Một số người trả lời có những khó khăn trong cách diễn đạt bằng cách viết.

    Phỏng vấn là phương pháp đặc biệt thích hợp khi người nghiên cứu không có cơ sở lý thuyết, lý luận hay suy nghĩ xác thực về vấn đề, trái lại mong muốn để học và biết về quan điểm mới mà không nhìn thấy trước được. Nếu chọn phương pháp nầy, ngưởi trả lời phỏng vấn thường sẽ đưa ra nhiều quan điểm mới hơn.

    * Phỏng vấn cá nhân

    Đây là phương pháp trao đổi thông tin giữa người trả lời phỏng vấn và người phỏng vấn. Phương pháp này có những thuận lợi và không thuận lợi sau:

    Thuận lợi:

    • Người trả lời cho các thông tin tốt hơn so với các điều tra gởi qua bưu điện
    • Trao đổi thông tin giữa 2 người nhanh hơn
    • Dễ khai thác các câu trả lời cho các câu hỏi chuyên sâu hơn
    • Người phỏng vấn dễ điều khiển, kiểm soát nếu có vấn đề
    • Tạo động cơ và cảm hứng
    • Có thể sử dụng một số cách để ghi chép dễ dàng
    • Đánh giá được tính cách, hành động … của người trả lời phỏng vấn
    • Có thể sử dụng các sản phẩm hay đồ vật để minh họa
    • Thường để làm thử nghiệm trước cho các phương pháp khác

    Không thuận lợi:

    • Mất thời gian hơn so với các điều tra gởi qua bưu điện
    • Cần thiết để sắp đặt ra cuộc phỏng vấn
    • Thông thường cần phải đặt ra một bộ câu hỏi trước
    • Có thể sai số ở người trả lời phỏng vấn khi họ muốn làm hài lòng hoặc gây ấn tượng, hoặc muốn trả lời nhanh, suông sẽ
    • Phải phỏng vấn nhiều người ở nhiều nơi khác nhau
    • Một số câu hỏi cá nhân, riêng tư có thể làm bối rối cho người trả lời
    • Việc ghi chép và phân tích có thể gây ra vấn đề – nếu chủ quan

    * Phỏng vấn nhóm

    * Phỏng vấn nhóm trung tâm

    Tiến trình phỏng vấn nhóm trung tâm có định hướng mạnh mẽ về mục đích mà có thể chuẩn bị trước tài liệu, vật liệu cho công việc được thuận lợi qua cuộc nói chuyện về mục đích và các công việc chương trình cần thực hiện trong cuộc họp, mẫu mã của các kiểu sản phẩm, và sự mô tả kết quả hay sản phẩm qua tranh ảnh, đồ vật, hay bắt chước.

    * Sắp xếp, chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn ngoài thực tế

    – Cách bố trí cuộc phỏng vấn

    Phỏng vấn cũng giống các nghiên cứu khác, tất cả sự chuẩn bị là nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và điều kiện nơi phỏng vấn có thể ảnh hưởng đến người trả lời phỏng vấn. Để giảm tối đa ảnh hưởng này thì người nghiên cứu nên chọn một nơi quen thuộc với người trả lời phỏng vấn, thí dụ như phỏng vấn tại nhà, phòng họp, quán cafe hoặc nơi yên tĩnh để có thể trò chuyện một cách thoải mái, không bị quấy rầy và không hấp tấp, vội vã.

    Cách ăn mặc, cư xử và hành động của người phỏng vấn cũng có ảnh hưởng đến người trả lời phỏng vấn. Sự trả lời của người phỏng vấn có thể được ghi chép bởi người trợ lý, thu băng hoặc video.

    – Tài liệu, đồ vật, hình ảnh để minh họa

    – Chương trình làm việc

    Người phỏng vấn thường bắt đầu cuộc phỏng vấn bằng cách trình bày tổ chức, mục đích nghiên cứu và làm thế nào để sử dụng các kết quả. Các mẫu thông tin nhỏ hầu như có thể ít ảnh hưởng đến quan điểm của người trả lời phỏng vấn. Thường cần thiết phải giải thích mức độ nào mà sự thể hiện của người trả lời có thể được giữ kín đáo.

    Khi người trả lời phỏng vấn trình bày vấn đề một cách kỹ lưỡng, họ không biết khái niệm mới nào làm cho người nghiên cứu quan tâm. Vì vậy, người phỏng vấn phải dẫn dắt người trả lời tới vấn đề. Nếu ngắt câu trả lời lệch lạc của người trả lời thì bất lịch sự, vì vậy phải đợi cho người trả lời kết thúc. Người nghiên cứu phải tìm cách kích thích và gợi ý tích cực tới người trả lời phỏng vấn hướng vào mục tiêu câu hỏi và gợi ý, gây cảm hứng cho họ. Thí dụ, một số câu hỏi gợi ý:

    • Anh có thể kể cho tôi nghe về điều đó không?
    • Tại sao anh nghĩ điều đó xảy ra?
    • Người ta có suy nghĩ và cảm nhận như thế nào khi nghe về điều đó không?

    Một kiểu gợi ý gây cảm hứng khác là khi người trả lời phỏng vấn nói điều gì cường điệu quá (nói phóng đại) mà người nghiên cứu còn nghi ngờ, thì trong tình huống như vậy nên hỏi một cách đơn giản: Anh muốn nói về điều đó … phải không?, anh thực sự muốn nói về điều đó … phải không? và nói lại điều đó bằng cách khác hơn để làm rõ hơn.

    Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi – trả lời bằng viết

    Bảng câu hỏi là một loạt các câu hỏi được viết hay thiết kế bởi người nghiên cứu để gởi cho người trả lời phỏng vấn trả lời và gởi lại bảng trả lời câu hỏi qua thư bưu điện cho người nghiên cứu.

    Sử dụng bảng câu hỏi là phương pháp phổ biến để thu thập các thông tin từ người trả lời các câu hỏi đơn giản. Các thông tin trả lời được gởi bằng thư từ giữa người trả lời phỏng vấn ở xa với người nghiên cứu. Để thu thập các thông tin chính xác qua phương pháp này, cần nêu ra các câu hỏi và suy nghĩ chính xác về vấn đề muốn nghiên cứu trước khi hoàn thành thiết kế bảng câu hỏi. Thường thì người nghiên cứu có các giả thuyết định lượng với các biến số.

    Bảng câu hỏi là phương pháp thu thập thông tin được sử dụng tốt nếu:

    • Vấn đề được xác định rõ (giả thuyết tốt) và không thay đổi trong suốt quá trình nghiên cứu.
    • Tất cả các câu hỏi có câu trả lời được đoán biết trước.
    • Một loạt các câu trả lời có thể được biết trước.
    • Có nhiều câu hỏi mà một số người trả lời phỏng vấn thích để trả lời một cách ẩn danh hơn.
    • Người nghiên cứu thích phân tích các con số.

    Chú ý: khi sử dụng bảng câu hỏi, người nghiên cứu thu thập được những câu trả lời trong bảng thiết kế mà không có những thông tin thêm vào như phương pháp phỏng vấn. Vì vậy việc thiết kế xây dựng bảng câu hỏi cần phải xác định đầy đủ tất cả các câu hỏi trước khi bắt đầu gởi và thu nhận thông tin.

    Khi thiết kế bảng câu hỏi, phải tôn trọng quyền của người trả lời phỏng vấn. Vì vậy bắt đầu của bảng câu hỏi, nên đặt lời giới thiệu và giải thích cách làm như thế nào cho người trả lời câu hỏi biết. Cũng nên đưa ra thời gian giới hạn để nhận lại bảng câu hỏi, địa chỉ kèm theo phong bì đã được trả cước hoặc tem. Không nên yêu cầu người trả lời ký tên vào bảng câu hỏi. Tuy nhiên, có thể cho ký hiệu trên bao thư để có thể nhận ra có phải là người trả lời phỏng vấn hay không.

    * Cách thiết kế câu hỏi:

    – Đặt câu hỏi về các sự kiện

    Tình trạng hôn nhân:

    độc thân

    có gia đình

    ly dị

    quả phụ

    Khi trình bày các câu hỏi chọn lựa theo thiết kế, phải bảo đảm là tất cả sự lựa chọn có thể được bao gồm. Để bảo đảm an toàn có thể thêm các hộp chọn:

    Sau khi thiết kế xong bảng câu hỏi, nên làm cuộc thử nghiệm trước khi có cuộc điều tra chính thức ngoài thực tế. Tốt nhất nên đưa cho một vài người nào đó điền vào bảng câu hỏi và quan sát người trả lời viết ra hay phản ứng của người trả lời nhanh hay chậm, các hành động, cử chỉ trong khi trả lời như thế nào (thể hiện khó khăn, suy nghĩ như thế nào,…).

    – Đặt câu hỏi về ý kiến và quan điểm

    Khi hỏi về quan điểm, câu hỏi nên được trình bày trong các nguyên tắc sau đây:

    • Câu hỏi, cách trình bày phải thu hút, lý thú và gây cho người trả lời thoải mái, dễ chịu.
    • Câu hỏi, cách trình bày phải ngắn gọn, đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. Tránh các mệnh đề phụ thuộc.
    • Các từ như “tất cả”, “luôn luôn”, “không ai” và “không bao giờ” nên tránh sử dụng trong câu ở quá khứ.

    Các mẫu câu hỏi cho người trả lời phỏng vấn trong phương pháp sử dụng bảng câu hỏi gồm:

    a/Mẫu câu hỏi sắp xếp theo sự chia độ. Còn gọi là sự chênh lệch hay vi sai có ý nghĩa được sử dụng trong bảng câu hỏi.

    Làm thế nào đánh giá mẫu thiết kế điện thoại? (Vui lòng đánh dấu x vào hộp ô lựa chọn trên mỗi dòng)

    b/ Mẫu câu hỏi mở

    Cấu trúc theo dạng này có một số các đường gạch (hoặc không gian trống) cho người trả lời viết câu trả lời câu hỏi. Thí dụ sau:

    1.

    Nguyên nhân nào bạn nghĩ là quan trọng về việc bùng nổ dân số ở Việt Nam trong 5 năm tới?

    c/ Mẫu câu hỏi kín

    Tôi hoàn toàn không đồng ý

    Tôi khá không đồng ý

    Tôi hơi không đồng ý

    Tôi hơi đồng ý

    Tôi khá đồng ý

    Tôi hoàn toàn đồng ý

    Một cấu trúc giống như trên, nhưng có sự lựa chọn khác nữa mà không tìm thấy trong hộp lựa chọn thì chúng ta có thể thiết kế sau:

    4.

    Vấn đề nào bạn nghĩ là quan trọng về quan cảnh chính trị ở nước Úc trong 5 năm tới? (vui lòng đánh dấu x vào 1 hộp ô hoặc hơn nếu chọn)

    Ô nhiễm

    Kiểm soát dân số

    Tôn giáo

    Sự nhập cư

    Thu nhập người dân

    Khác (vui lòng cho ý kiến):

    c/ Các mẫu câu hỏi có cấu trúc khác

      Mẫu đánh dấu hộp lựa chọn

    Đúng

    Sai

    Không chắc

    Đời sống của nông dân ngày càng ổn định hơn

    Rất đồng ý

    Hoàn toàn không đồng ý

      Mẫu bảng hệ thống chia mức độ

    Dạng bảng này chứa các hạng mục có cấu trúc được sắp xếp theo hàng và cột trong bảng.

    Mức giáo dục

    Nhóm tuổi

    Cấp II

    Cấp III

    Sau cấp III

    – Phương pháp đóng vai trò

    Phương pháp này đôi khi được sử dụng để nghiên cứu các chỉ tiêu quan điểm và hành vi. Người nghiên cứu trình bày câu chuyện dưới các sự kiện bằng cách vẽ ra các hình tượng, tranh ảnh để hư cấu tình huống xã hội, sau đó tiếp tục hỏi người trả lời phỏng vấn để tìm ra câu trả lời thích hợp. Người trả lời được hỏi sao cho họ tưởng tượng ra câu hỏi và chọn lựa các sự kiện trong tranh ảnh đưa ra. Người nghiên cứu thường đưa ra câu chuyện có các sự kiện dưới hai hay nhiều cách khác nhau và cơ bản hình thành khái niệm cho người trả lời để trả lời đầy đủ. Điều cần thiết là đặt câu chuyện trong bảng câu hỏi làm sao gây kích thích cho người trả lời.

    Chú ý : không nên gởi loại bảng câu hỏi này qua thư bởi vì khó lòng kích thích người trả lời để hoàn thành việc trả lời câu hỏi.

    Phương pháp sử dụng nhật ký ghi chép

    Vấn đề chính của việc sử dụng phương pháp này là rất khó đạt được bất kỳ xác nhận hay bằng chứng độc lập được ghi chép trong nhật ký và chỉ có người trả lời biết chính xác hay là không. Một số người ghi nhật ký cho các câu trả lời mà họ nghĩ muốn làm hài lòng hoặc do họ sợ hoặc tôn trọng người hoặc tổ chức nghiên cứu. Trong khi đó, những người khác cho thông tin không chính xác, đặc biệt khi họ không thích người hoặc tổ chức nghiên cứu. Khi áp dụng phương pháp này, người nghiên cứu nên làm động cơ thúc đẩy người trả lời để họ cung cấp các thông tin chính xác hơn.

    Thu thập mẫu từ cuộc nói chuyện ở những nơi công cộng

    Thu thập mẫu phỏng vấn qua tường thuật

    Phỏng vấn tường thuật thường phức tạp, thậm chí khi câu trả lời được ghi băng. Đôi khi cần phải nghe một vài lần và cố gắng hiểu nghĩa trả lời nói gì, sau đó mới ghi chép ra ngoài. Đôi khi một số câu hỏi quan trọng cần được giải thích rõ thì có thể làm lại cuộc phỏng vấn. Làm sao các ý kiến, suy nghĩ của người trả lời phỏng vấn được ghi chép một cách càng trung thực càng tốt, nhưng thực sự đôi khi sự trả lời là một điều khác hơn. Các sự kiện được trình bày từ người trả lời nên nhớ có thể xảy ra như:

    • Sự sai lệch đích thực của người trả lời phỏng vấn: có thể là họ có lý do để “thêm thắt” các sự kiện.
    • Khả năng thực sự của người trả lời phỏng vấn để kể toàn bộ sự thật: họ nằm trong vị trí để trả lời chỉ một mặt hay toàn bộ?

    Một số biện pháp để kích thích người trả lời phỏng vấn

    Động cơ thúc đẩy sự tích cực của người trả lời phỏng vấn là cách hiệu quả nhất để hoàn thành mục đích và rất quan trọng trong nghiên cứu trước khi đưa ra các câu hỏi nghiên cứu chính thức. Người nghiên cứu có lẽ cũng nhấn mạnh sự kiện mà cuộc phỏng vấn đem lại thông tin giá trị mình đạt được mà bất kỳ chỗ khác không có như vậy.

    Cách khác trong việc thúc đẩy người khác là làm sao gây ra càng ít phiền toái càng tốt cho người trả lời phỏng vấn trong bảng câu hỏi. Vì vậy, bảng câu hỏi và các câu hỏi không nên thiết kế quá dài dòng, làm cho người trả lời sợ và cảm thấy không thỏa mái để trả lời hay các câu hỏi nên cần trình bày ngắn gọn, rõ ý.

    Một số cách để cải tiến mức độ trả lời câu hỏi qua nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi được tóm tắt như sau:

    Cách thực hiện

    Ảnh hưởng mức độ trả lời

    Thông báo trước qua thư

    Tăng nghiên cứu khách hàng (người tiêu dùng).

    Thông báo trước qua điện thoại

    Tăng mức độ trả lời

    Kích thích bằng tiền, quà

    Tăng mức độ trả lời

    Bao thư gởi được dán tem sẵn

    Tăng mức độ trả lời

    Riêng tư cá nhân

    Ảnh hưởng thay đổi

    Bảng câu hỏi dài

    Ảnh hưởng ít trên mức độ trả lời

    Bảng câu hỏi màu

    Không ảnh hưởng mức độ trả lời

    Sự gia hạn

    Không ảnh hưởng mức độ trả lời

    Dạng câu hỏi

    Dạng câu hỏi kết thúc kín (Closed-ended) có mức độ trả lời cao hơn dạng câu hỏi mở (open-ended)

    Tiếp diễn tiếp theo

    Thư từ và điện thoại sau đó làm tăng mức độ trả lời

    Chú ý: nếu một số người trả lời phỏng vấn không gởi lại bảng trả lời câu hỏi, người nghiên cứu không nên tự động thay thế các câu hỏi đã đưa ra trong bảng câu hỏi bằng các câu hỏi khác. Nếu làm như vậy sẽ dễ dàng làm lệch kết quả, bởi vì người không gởi lại bảng trả lời có thể có những suy nghĩ khác với người gởi bảng trả lời câu hỏi. Patrick W. Jordan đưa ra thí dụ một về sự kiện xem xét như sau: Thí dụ, nhà sản xuất software muốn nghiên cứu khách hàng của họ về mức độ mong muốn sử dụng sản phẩm của mình. Một số người gặp trở ngại để trả lời (không gởi lại bảng trả lời hay vắng mặt) và một số người cho ý kiến mạnh về việc này (gởi bảng câu hỏi lại), do đó kết quả số liệu có thể bị sai lệch. Điều này cho thấy, khách hàng chia làm hai phe – phe người thích sử dụng software và phe người không thích software.

    Để chỉnh lại sự sai lệch do những người vắng mặt trả lời câu hỏi. Thực hiện các bước sau đây :

    1. Đầu tiên, người nghiên cứu tách riêng các câu trả lời gởi lại mà không có bất kỳ yêu cầu trả lời nào (nhóm A, có tỷ lệ 50% trả lời trong thí dụ này), và các câu trả lời gởi lại sau khi có yêu cầu trả lời (nhóm B, trả lời 30%). Nhóm không gởi lại bảng trả lời (nhóm C chiếm 20%).
    2. Sau đó, người nghiên cứu xem xét nhóm B có khác với nhóm A hay không tương ứng với các biến, bằng phép thử thống kê t-test.
    3. Nếu có sự khác biệt giữa nhóm A và B. Chúng ta thừa nhận nhóm không trả lời, nhóm C sẽ có sự khác biệt với nhóm A và nhóm B. Từ đó các câu trả lời được đưa ra ở nhóm B sẽ được tính bao gồm cho những người không trả lời ở nhóm C hay gia tăng tỷ trọng của nhóm B để bằng với tổng số của nhóm B và C cộng lại là 50% trong thí dụ này.
    4. Nếu nhóm A và B được xem là không khác biệt nhau, chúng ta có thể mong muốn rằng sự vắng mặt của nhóm C sẽ không ảnh hưởng lớn đến kết quả, và vì vậy không cần thiết điều chỉnh lại. Nhóm A và B được kết hợp nhau, tổng kết quả được thừa nhận là đúng cho toàn quần thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Phương Pháp Là Gì? Vai Trò? Có Những Loại Phương Pháp Nào?
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật
  • Nghiên Cứu Khoa Học Trong Sinh Viên Khoa Tài Chính – Kế Toán
  • Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết – Kipkis
  • Bạn là sinh viên. Bạn rất đam mê nghiên cứu khoa học. Bạn muốn làm một đề tài nghiên cứu khoa học nhưng bạn chưa biết bắt đầu từ đâu! Bài viết này sẽ giúp bạn hình dung cách thức làm một đề tài nghiên cứu khoa học và 5 bước đơn giản để bạn thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học mà bạn thích.

    Đầu tiên chúng ta nên cùng nhìn lại ở khái niệm khoa học là gì?

    Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latinh  “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.

  • Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua những hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau.
  • Tri thức khoa học là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên cứu khoa học qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm… các sự kiện, hoạt động sảy ra trong hoạt động xã hội và trong tự nhiên.
  • Khoa học nói một cách đơn giản bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giả thuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thể ứng dụng.

    Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm… dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn.

    Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp. Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càng phải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựa chọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình.

    5 bước để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học

    Nếu thực sự bạn có niềm đam mê nghiên cứu khoa học, bạn đừng ngần ngại mà hãy bắt tay ngay để thực hiện một công trình khoa học về bất cứ một vấn đề nào đó mà bạn thích! Nếu bạn chưa biết bắt đầu từ đâu, xin hãy làm theo 5 bước sau đây:

    1. Tìm ý tưởng

    Bạn có thể tìm ý tưởng từ việc đọc sách, báo, Internet, nghe đài.. hoặc qua quan sát thực tế. Khi bạn phát hiện ra vấn đề, hẫy chọn cho mình một hướng nghiên cứu phù hợp.

    2. Xác định hướng nghiên cứu

    3. Chọn tên đề tài nghiên cứu khoa học

    Sau khi đã có trong tay nhiều tài liệu bạn hãy đặt cho mình tên của đề tài. Lưu ý, tên đề tài phải ngắn gọn và phải thể hiện được vấn đề bạn đang định nghiên cứu. tên đề tài phải thể hiện đầy đủ đối tượng, phạm vi, chủ thể, khách thể, thời gian, không gian nghiên cứu.

    Bạn hãy thể hiện ý tưởng của mình thành một đè cương sơ khởi bao gồm những nội dung sau đây:

    • Đặt vấn đề
    • Mục đích nghiên cứu
    • Phạm vi nghiên cứu
    • Phương pháp nghiên cứu khoa học
    • Câu hỏi nghiên cứu
    • Các giả thuyết
    • Kết cấu đề tài
    • Nguồn số liệu, tài liệu tham khảo

    5. Tham khảo ý kiến của giảng viên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo
  • Hệ Thống Danh Bạ Trường Học Việt Nam
  • Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Du Lịch
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Nghiên Cứu Khoa Học: Phương Pháp Tự Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng Trong Giáo Dục
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng
  • Viết Phần Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Cho Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Y Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Filetype Pdf
  • Đề Cương Chi Tiết Học Phần: Logic Học Và Phương Pháp Học Tập, Nghiên Cứu Khoa Học Năm 2021
  • NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

    DIỆP THỊ THANH

    Self-study is a way of learning which is very neccessary for college students. It is the responsibility of not only learners but also teachers to organize qualified, scientific and effective self-study activities. This paper writes about the self-study method as a link between learning and doing scientific research of students so as to improve the training quality of the college.

    Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”. Như vậy, phương pháp dạy và học

      các trường đại học, cần thực hiện theo ba định hướng: – Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu; – Tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo; – Rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng.

    1. Đặc trưng của hoạt động học ở các trường đại học

    1.1. Quá trình học tập của sinh viên ở các trường đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu

    Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra. Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức…

    Mặt khác, trong quá trình học tập, sinh viên đã bắt đầu thực sự tham gia hoạt động tìm kiếm chân lý mới. Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo yêu cầu của chương trình. Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.

    1.2. Tự học và nghiên cứu khoa học

    1.2.2. Nghiên cứu khoa học

    Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.

    Việc nghiên cứu khoa học dĩ nhiên tác động trở lại việc học và có phát triển tự học lên đến nghiên cứu khoa học thì mới có thực tiễn để hiểu sâu mối quan hệ giữa tư duy độc lập và tư duy sáng tạo.

    2. Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

    Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại hình hoạt động rất cơ bản do tính chất đặc thù của quá trình ở trường đại học… Khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên phải chứa đựng cả mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, tri thức về phương pháp và đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kỹ thuật khác của hoạt động nghiên cứu. Theo chúng tôi, khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên là năng lực thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trên cơ sở lựa chọn, tiến hành hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành nghiên cứu khoa học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định nhằm đạt mục đích nghiên cứu khoa học đề ra.

    Khi coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình hoạt động học tập đặc trưng ở đại học, hoạt động này có thể diễn ra theo các giai đoạn sau:

    • Định hướng nghiên cứu;
    • Xây dựng kế hoạch nghiên cứu;
    • Thực hiện kế hoạch nghiên cứu;
    • Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu;
    • Báo cáo kết quả nghiên cứu.

    Khả năng nghiên cứu khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả nghiên cứu và xa hơn nữa, đến kết quả học tập và khả năng tự học của sinh viên đại học. Do vậy, khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ năng học tập rất cơ bản mà sinh viên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện.

    3. Biện pháp thực hiện

    3.1. Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

    Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh viên, bởi lẽ muốn có kỹ năng nghề nghiệp trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức. Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và có tay nghề thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

    Như vậy, để hoạt động học tập của sinh viên đạt chất lượng và hiệu quả, sinh viên phải có tri thức và kỹ năng tự học. Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho sinh viên tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.

    3.2. Vận dụng hệ các phương pháp tự học nêu trên vào chu trình tự học của sinh

    Đó là một chu trình ba giai đoạn:

    Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.

    Tự nghiên cứu (1)

    Tự kiểm tra

    điều chỉnh (3)

    Tự thể hiện (2)

    Giai đoạn 2 – Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.

    Giai đoạn 3 – Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học.

    Chu trình tự nghiên cứu ® tự thể hiện® tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.

    3.3. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của sinh

    Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của sinh viên. Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên.

    Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập. Có như vậy thì phương pháp tự học mới thực sự là cầu nối

    giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, của những tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng tạo công nghệ và kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… đòi hỏi con người phải có năng lực tự học, tự đào tạo để thích ứng.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trong quá trình học tập ở trường đại học của sinh viên thì tự học, tự nghiên cứu là rất quan trọng và cái ranh giới học tập – nghiên cứu khoa học là gần gũi, khó phân định. Nhưng để học tốt, nghiên cứu khoa học có hiệu quả thì sinh viên cần khai thác và quan tâm đúng mức về vai trò “cầu nối” của phương pháp tự học.

      Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
      Nguyễn Nghĩa Dán, Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1998.
      Đặng Vũ Hoạt, Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 1/ 1994.
      Phạm Trọng Luận, Về khái niệm “Học sinh là trung tâm”, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1995.
      Thái Duy Tuyên, Giáo dục học hiện đại – Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Nhằm Hình Thành Những Biểu Tượng Về Hình Khối Cho Trẻ 5 6 Tuổi
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản Dành Cho Bác Sĩ Lâm Sàng
  • Các Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Và Phát Triển Công Nghệ
  • Tài Liệu Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Bài Giảng Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100