Phương Pháp Điều Trị Cận Thị Bằng Kính Áp Tròng Ortho K

--- Bài mới hơn ---

  • 7 Điều Cần Biết Về Ortho
  • Phương Pháp Oxygen (O3) (Viêm Phụ Khoa)
  • Cách Học Văn Của Một Người Giỏi Văn
  • Phương Pháp O3 Oxygen Giải Pháp Tuyệt Vời Cho Chứng Viêm Phụ Khoa
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Âm Đạo Ở Hải Phòng Chị Em Nên Biết
  • Sử dụng kính áp tròng cận thị được xem là một trong những phương pháp giúp mỗi người nhìn rõ và tốt hơn khi bị cận thị. Ngày nay, việc sử dụng kính áp tròng chữa cận thị Ortho-K được đông đảo mọi người quan tâm và lựa chọn.

    Ortho-K là một loại kính áp tròng cứng, được thiết kế đặc biệt để sử dụng vào ban đêm. Đây được xem là hình thức tác động nhẹ để thay đổi hình dáng của phần giác mạc, không gây ra những tổn thương và ảnh hưởng trên giác mạc.

    Do đó, khi đã sử dụng kính áp tròng Ortho – K, người cận thị sẽ cảm thấy cực kỳ thoải mái và muốn “gắn bó” với cặp kính đặc biệt này hơn so với gọng kính khó chịu.

    Kính áp tròng Ortho – K, một loại kính áp tròng được gọi là kính áp tròng chữa cận thị hay kính áp tròng ban đêm. Đây là phương pháp an toàn được nhiều người sử dụng trong cuộc sống hiện đại.

    2. Ưu điểm khi chữa cận thị bằng Ortho-K

    Có nhiều những ưu điểm khác nhau khi thực hiện sử dụng kính áp tròng Othor-K. Theo đó, chúng ta có thể lựa chọn và sử dụng loại này vì những tác dụng vượt trội như:

    • Thị lực được cải thiện rõ rệt, không cần phải mang kính gọng hay phải tiếp xúc suốt ngày
    • Thị lực cải thiện rõ ràng sau vài tuần sử dụng kính áp tròng Ortho – K

    – Sử dụng nhanh chóng, dễ dàng và đem đến hiệu quả cực kỳ cao.

    – Tạo cảm giác thuận tiện và thoải mái, có thể ngưng sử dụng bất cứ khi nào bạn muốn.

    – Người lớn lẫn trẻ em đều có thể sử dụng được.

    – Đáp ứng hiệu quả và tối ưu cho nhu cầu công việc đòi hỏi không mang kính như phi công, cảnh sát, diễn viên.

    – Đây là lựa chọn tốt cho những ai không muốn mang kính gọng, không muốn phẫu thuật.

    – Hiệu quả tối ưu, thời gian sử dụng lâu dài, thuận tiện.

    3. Sử dụng phương pháp Ortho-K có an toàn?

    Rất nhiều người trong quá trình áp dụng chữa cận thị bằng kính áp tròng đều thắc mắc phương pháp này có thực sự an toàn và hiệu quả hay không.

    Thực tế, đây là phương pháp an toàn cao, thực hiện không cần phẫu thuật, không có sự xâm lấn đến bên trong. Phương pháp này đã được tổ chức FDA chứng nhận cho phép sử dụng ở mọi lứa tuổi.

    Được biết, chất liệu của Ortho-K chính là Hydrogel, loại này có tính thấm khí cao, đảm bảo cung cấp đủ oxy, đây chính là yếu tố quyết định sự khỏe mạnh của giác mạc.

    Tuy nhiên, Ortho-K cũng có xuất hiện một vài nguy cơ nhỏ giống như kính tiếp xúc truyền thống. Do vậy, các bạn nên thăm khám bác sĩ để theo dõi và kiểm tra chặt chẽ để hạn chế các vấn đề xuất hiện, đảm bảo việc cung cấp đủ oxy cho giác mạc.

    4. Ai nên sử dụng phương pháp Ortho-K

    • Những trường hợp bị tật khúc xạ và không kèm dấu hiệu loạn thị từ 3 độ trở xuống.
    • Những người bị loạn thị ở mức độ cao sẽ được Ortho-K thiết kế đặc biệt.
    • Trường hợp những trẻ em đang tăng độ trong quá trình phát triển.
    • Những trẻ em bị tật khúc xạ có thị lực chỉnh kính thấp.
    • Những trường hợp bị bất đồng khúc xạ và khó đeo kính gọng đúng độ.
    • Trường hợp chưa đủ tuổi, không phẫu thuật khúc xạ.
    • Những người gặp vấn đề khó khăn hoặc không thực sự thoải mái với việc đeo kính gọng.
    • Thường xuyên chơi thể thao hoặc làm việc trong môi trường bụi bẩn.

    Với 2 trường hợp cuối, các bạn có thể lựa chọn kính áp tròng vừa cận vừa loạn thời trang tại Caras Lens nếu muốn đẹp hơn, thẩm mỹ hơn.

    5. Đeo kính bao lâu để đạt hiệu quả

    Được biết, phương pháp chữa cận bằng kính áp tròng không thể có hiệu quả trong 1 đến hai ngày mà nó cần một khoảng thời gian nhất định. Được biết, tùy theo độ khúc xạ ban đầu và những đặc điểm riêng của từng bệnh nhân sẽ cần từ 1 đến 4 tuần để đạt được hiệu quả thị lực cao nhất.

    Tuy nhiên, trong một số trường hợp thị lực vẫn có thể cải thiện ngay sau khi sử dụng. Để đạt được kết quả tốt nhất, mỗi người cần tuân thủ đúng những hướng dẫn của bác sĩ.

    6. Cách sử dụng kính áp tròng cứng

    Hiện nay, việc sử dụng kính áp tròng điều trị cận thị được rất nhiều người quan tâm. Để có hiệu quả cao, bác sĩ sẽ đo đường cong của giác mạc bằng các thiết bị chuyên dụng, còn được gọi là thiết bị đo giác mạc.

    Thông thường, quy trình này diễn ra khoảng 1 phút và hoàn toàn dễ dàng, không có cảm giác đau, hình ảnh chính xác bản đồ cấu tạo bề mặt độ cong của giác mạc.

    Bác sĩ sẽ dùng kính Ortho-K có sẵn để nhanh chóng thực hiện thao tác này, sau đó có thể yêu cầu đặt một kính Ortho-K phù hợp cho mắt của bạn và áp dụng ngay sau ngày hôm sau.

    7. Kính áp tròng cứng giá bao nhiêu?

    Để biết chính xác kính áp tròng Ortho-K giá bao nhiêu, chúng ta cần dựa vào từng địa điểm cụ thể. Tùy thuộc vào thời gian thăm khám của bác sĩ cũng như trình độ tay nghề, ứng dụng các phương pháp khác nhau của mỗi người mà sẽ đưa ra mức chi phí phù hợp nhất.

    Giá của kính áp tròng cứng bao gồm thời gian đến và thử kính, tùy thuộc lớn vào mẫu mã và tật khúc xạ mắt của mỗi người. Theo đó, những địa điểm khác nhau sẽ có sự chênh lệch về giá cả.

    8. Điều trị cận thị bằng kính áp tròng ở đâu tốt?

    Nhưng nếu bạn chỉ cận hoặc loạn ở mức vừa phải, các bạn vẫn có thể đến Caras Lens để được đo mắt, tư vấn cách đeo và cách lấy kính áp tròng ra khỏi mắt miễn phí, chọn lựa loại kính áp tròng mềm để tiết kiệm, đẹp và thoải mái hơn cho đôi mắt.

    Nếu như bạn không muốn kiên trì sử dụng Ortho K (bị tăng độ nếu ngưng sử dụng), bạn có thể sử dụng kính áp tròng để thay thế. Bạn nên chọn loại kính áp tròng sử dụng trong 3 tháng với mức giá 400.000đ tại Caras. Lúc này bạn chỉ mất khoảng 4.500đ mỗi ngày để quên đi sự khó chịu mà gọng kính mang lại.

    [/vc_row]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Cận Thị Bằng Kính Tiếp Xúc Ortho
  • Phân Tích Định Tính Là Gì? Các Phương Pháp Phân Tích Định Tính
  • Top 20 Phần Mềm Vẽ Mindmap (Sơ Đồ Tư Duy) Tốt Nhất Hiện Nay
  • Bản Đồ Tư Duy Mind Map
  • Xác Định Nồng Độ Ion Cl
  • Phương Pháp Điều Trị Cận Thị Bằng Kính Áp Tròng Ortho

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Trị Cận Thị Không Phẫu Thuật Bằng Kính Tiếp Xúc Ortho
  • Tính Ngày Rụng Trứng: Dễ Hay Khó?
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Odc Khắc Phục Xuất Tinh Sớm Như Thế Nào?
  • Cách Luyện Tập Chống Xuất Tinh Sớm Bằng Phương Pháp Odc
  • Vấn Đề Onan (Giao Hợp Ngưng Ngang) Và Phương Pháp Billings (Coi Chất Nhờn)
  • Sử dụng được xem là một trong những phương pháp giúp mỗi người nhìn rõ và tốt hơn khi bị cận thị. Ngày nay, việc sử dụng kính áp tròng Ortho-K được đông đảo mọi người quan tâm và lựa chọn.

    Ortho-K là một loại kính áp tròng cứng, được thiết kế đặc biệt để sử dụng vào ban đêm. Đây được xem là hình thức tác động nhẹ để thay đổi hình dáng của phần giác mạc, không gây ra những tổn thương và ảnh hưởng trên giác mạc.

    Do đó, khi đã sử dụng kính áp tròng Ortho – K, người cận thị sẽ cảm thấy cực kỳ thoải mái và muốn “gắn bó” với cặp kính đặc biệt này hơn so với gọng kính khó chịu.

    Kính áp tròng Ortho – K, một loại kính áp tròng được gọi là kính áp tròng chữa cận thị hay kính áp tròng ban đêm. Đây là phương pháp an toàn được nhiều người sử dụng trong cuộc sống hiện đại.

    2. Ưu điểm khi chữa cận thị bằng Ortho-K

    Có nhiều những ưu điểm khác nhau khi thực hiện sử dụng kính áp tròng Othor-K. Theo đó, chúng ta có thể lựa chọn và sử dụng loại này vì những tác dụng vượt trội như:

    • Thị lực được cải thiện rõ rệt, không cần phải mang kính gọng hay phải tiếp xúc suốt ngày
    • Thị lực cải thiện rõ ràng sau vài tuần sử dụng kính áp tròng Ortho – K

    – Sử dụng nhanh chóng, dễ dàng và đem đến hiệu quả cực kỳ cao

    – Tạo cảm giác thuận tiện và thoải mái, có thể ngưng sử dụng bất cứ khi nào bạn muốn

    – Người lớn lẫn trẻ em đều có thể sử dụng được

    – Đáp ứng hiệu quả và tối ưu cho nhu cầu công việc đòi hỏi không mang kính như phi công, cảnh sát, diễn viên

    – Đây là lựa chọn tốt cho những ai không muốn mang kính gọng, không muốn phẫu thuật

    – Hiệu quả tối ưu, thời gian sử dụng lâu dài, thuận tiện

    3. Sử dụng phương pháp Ortho-K có an toàn?

    Rất nhiều người trong quá trình áp dụng chữa cận thị bằng kính áp tròng đều thắc mắc phương pháp này có thực sự an toàn và hiệu quả hay không.

    Thực tế, đây là phương pháp an toàn cao, thực hiện không cần phẫu thuật, không có sự xâm lấn đến bên trong. Phương pháp này đã được tổ chức FDA chứng nhận cho phép sử dụng ở mọi lứa tuổi.

    Được biết, chất liệu của Ortho-K chính là Hydrogel, loại này có tính thấm khí cao, đảm bảo cung cấp đủ oxy, đây chính là yếu tố quyết định sự khỏe mạnh của giác mạc.

    Tuy nhiên, Ortho-K cũng có xuất hiện một vài nguy cơ nhỏ giống như kính tiếp xúc truyền thống. Do vậy, các bạn nên thăm khám bác sĩ để theo dõi và kiểm tra chặt chẽ để hạn chế các vấn đề xuất hiện, đảm bảo việc cung cấp đủ oxy cho giác mạc.

    4. Ai nên sử dụng phương pháp Ortho-K

    – Những trường hợp bị tật khúc xạ và không kèm dấu hiệu loạn thị từ 3 độ trở xuống.

    – Những người bị loạn thị ở mức độ cao sẽ được Ortho-K thiết kế đặc biệt.

    – Trường hợp những trẻ em đang tăng độ trong quá trình phát triển.

    – Những trẻ em bị tật khúc xạ có thị lực chỉnh kính thấp.

    – Những trường hợp bị bất đồng khúc xạ và khó đeo kính gọng đúng độ.

    – Trường hợp chưa đủ tuổi, không phẫu thuật khúc xạ.

    – Những người gặp vấn đề khó khăn hoặc không thực sự thoải mái với việc đeo kính gọng.

    – Thường xuyên chơi thể thao hoặc làm việc trong môi trường bụi bẩn.

    Với 2 trường hợp cuối, các bạn có thể lựa chọn kính áp tròng vừa cận vừa loạn thời trang tại Caras Lens nếu muốn đẹp hơn, thẩm mỹ hơn.

    5. Đeo kính bao lâu để đạt hiệu quả

    Được biết, phương pháp chữa cận bằng kính áp tròng không thể có hiệu quả trong 1 đến hai ngày mà nó cần một khoảng thời gian nhất định. Được biết, tùy theo độ khúc xạ ban đầu và những đặc điểm riêng của từng bệnh nhân sẽ cần từ 1 đến 4 tuần để đạt được hiệu quả thị lực cao nhất.

    Tuy nhiên, trong một số trường hợp thị lực vẫn có thể cải thiện ngay sau khi sử dụng. Để đạt được kết quả tốt nhất, mỗi người cần tuân thủ đúng những hướng dẫn của bác sĩ.

    6. Cách sử dụng kính áp tròng cứng

    Hiện nay, việc sử dụng kính áp tròng điều trị cận thị được rất nhiều người quan tâm. Để có hiệu quả cao, bác sĩ sẽ đo đường cong của giác mạc bằng các thiết bị chuyên dụng, còn được gọi là thiết bị đo giác mạc.

    Thông thường, quy trình này diễn ra khoảng 1 phút và hoàn toàn dễ dàng, không có cảm giác đau, hình ảnh chính xác bản đồ cấu tạo bề mặt độ cong của giác mạc.

    Bác sĩ sẽ dùng kính Ortho-K có sẵn để nhanh chóng thực hiện thao tác này, sau đó có thể yêu cầu đặt một kính Ortho-K phù hợp cho mắt của bạn và áp dụng ngay sau ngày hôm sau.

    7. Kính áp tròng cứng giá bao nhiêu?

    Để biết chính xác kính áp tròng Ortho-K giá bao nhiêu, chúng ta cần dựa vào từng địa điểm cụ thể. Tùy thuộc vào thời gian thăm khám của bác sĩ cũng như trình độ tay nghề, ứng dụng các phương pháp khác nhau của mỗi người mà sẽ đưa ra mức chi phí phù hợp nhất.

    Giá của kính áp tròng cứng bao gồm thời gian đến và thử kính, tùy thuộc lớn vào mẫu mã và tật khúc xạ mắt của mỗi người. Theo đó, những địa điểm khác nhau sẽ có sự chênh lệch về giá cả.

    8. Điều trị cận thị bằng kính áp tròng ở đâu tốt?

    Nhưng nếu bạn chỉ cận hoặc loạn ở mức vừa phải, các bạn vẫn có thể đến Caras Lens để được đo mắt miễn phí và chọn lựa loại kính áp tròng mềm để tiết kiệm, đẹp và thoải mái hơn cho đôi mắt.

    Nếu như bạn không muốn kiên trì sử dụng Ortho K (bị tăng độ nếu ngưng sử dụng), bạn có thể sử dụng kính áp tròng để thay thế. Bạn nên chọn loại kính áp tròng sử dụng trong 3 tháng với mức giá 400.000đ tại Caras. Lúc này bạn chỉ mất khoảng 4.500đ mỗi ngày để quên đi sự khó chịu mà gọng kính mang lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Var, Ols Và Các Kiểm Định Hausman Trong Dữ Liệu Mảng
  • Hồi Qui Dữ Liệu Bảng Pool Ols Fem Rem Trên Eviews
  • Hồi Quy Ols Đa Biến Stata Kiểm Tra Sai Phạm
  • Bài Tập Đa Thức Nội Suy Và Phương Pháp Bình Phương Bé Nhất (Phần Phương Pháp Bình Phương Bé Nhất)
  • Tỷ Suất Hoàn Vốn Nội Bộ (Internal Rate Of Return
  • So Sánh Femto Lasik Và Relex Smile Ưu Nhược Điểm Mỗi Phương Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ Phương Pháp Giảm Cân Hiệu Quả Chỉ Với 5 Bước Đơn Giản
  • Giảm Béo Tại Nhà Thế Nào Để Hiệu Quả Nhanh Nhất?
  • Phương Pháp Giảm Cân Tại Nhà Hiệu Quả Tuyệt Vời Không Thể Bỏ Qua
  • Phương Pháp Giảm Mỡ Bụng Hiệu Quả Tại Nhà
  • Top 5 Phương Pháp Giảm Mỡ Bụng Trên Hiệu Quả Tại Nhà
  • Hiện tại, Relex Smile và Femto Lasik là hai phương pháp mổ mắt hiện đại bậc nhất. Tuy nhiên, phương pháp nào tốt hơn và nên thực hiện theo cách mổ nào là tốt? Cùng MAJAMJA tìm câu trả lời trong bài so sánh Femto Lasik và Relex Smile sau đây.

    1. Mổ mắt bằng phương pháp Relex Smile

    Trong bài so sánh Femto Lasik và Relex Smile này, đầu tiên, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về các kỹ thuật mổ mắt riêng biệt để từ đó đưa ra kết luận rõ ràng hơn cho 2 phương pháp này:

    Femto Lasik và Relex Smile cái nào tốt hơn? (Nguồn: cdn02.static-Adr)

    Trong các phương pháp mổ mắt cận thị mới nhất hiện nay thì Relex Smile chính là kỹ thuật được nhiều bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân khi đến chữa các vấn đề về cận hay loạn thị. Relex Smile được xếp vào hàng những phương pháp an toàn, đảm bảo và có tỉ lệ thành công cao hiện nay với công nghệ Femtosecond Laser được áp dụng.

    1.2 Các bước mổ mắt bằng phương pháp Relex Smile

    Đầu tiên, bạn sẽ được gây tê tại chỗ, sau đó bác sĩ sẽ chiếu laser lên bề mặt giác mạc của bệnh nhân, tạo thành 2 mặt phân cách, tia laser sẽ tự động tách rời lõi mô ở giữa. Tiếp đến, bằng chiếc máy Visumax đời mới, bác sĩ sẽ tạo 1 vết rạch thứ hai khoảng 2 – 4mm, và thực hiện rút lõi mô bằng dụng cụ vi phẫu chuyên biệt. Quy trình thực hiện phương pháp Relex Smile chỉ mất khoảng 10 – 15 phút và sau khi kết thúc phẫu thuật thì bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu trong vòng từ 4 – 6 giờ đồng hồ.

    1.3 Ai có thể mổ mắt với Relex Smile?

    Những bệnh nhân có độ cận thị nhỏ hơn 10 đi – ốp và có độ loạn trong khoảng 0,75-3 diop sẽ được thực hiện mổ mắt với Relex Smile.

    1.4 Ưu điểm của phương pháp Relex Smile

    Ưu điểm của phương pháp mổ mắt bằng Relex Smile có thể kể đến như:

    • Bệnh nhân sẽ được giảm thiểu nỗi lo về biến chứng nhăn hay lệch vạt giác mạc, không còn e ngại những chấn thương ở mắt như khi phẫu thuật bằng dụng cụ dao và lật vạt giác mạc như kỹ thuật cũ nữa

    • Khả năng biến chứng hậu phẫu gần như bằng O, kết quả mổ cận cho thấy độ chính xác hơn

    • Tỷ lệ tái cận rất thấp, chỉ khoảng 0,3% do các yếu tố như thể trạng mắt của bệnh nhân, tần suất mắt hoạt động sau khi mổ,…

    • Phương pháp này giúp bảo tồn cấu trúc da sau khi phẫu thuật một cách tối đa cũng như độ bền cơ học của giác mạc. Đồng thời, với Relex Smile bệnh nhân sẽ được hạn chế các nguy cơ về viêm nhiễm trùng mắt hay các biến chứng đau nhức mắt, chảy nước mặt, cộm mắt sau khi phẫu thuật.

    Phương pháp mổ mắt hiện đại bằng laser (Nguồn: suckhoe2t.net)

    1.5 Chi phí mổ mắt sử dụng phương pháp Relex Smile

    2. Phương pháp mổ mắt Femto Lasik

    Mổ mắt bằng phương pháp Femto Lasik chính là dùng tia laser Excimer để điều chỉnh lại hình dạng của giác mạc nhằm điều trị các bệnh lý về mắt như cận thị, loạn thị, viễn thị. Đây là phương pháp được đánh giá là an toàn và nếu bạn muốn được thực hiện chữa bệnh lý của mắt thì thông thường Femto Lasik cũng được các bác sĩ gợi ý cho bạn. Những tia Femtosecond laser sẽ thực hiện nhiệm vụ tạo một mặt cắt đẹp và mịn màng trên giác mạc mắt. Chiều dài của vạt giác mạc được chuẩn xác đến từng micron nên sẽ hầu như không để lại di chứng đồng thời ưu việt hơn so với các phương pháp mổ mắt bằng lasik thông thường khác.

    2.2 Các bước của phẫu thuật

    Đầu tiên bạn sẽ được khám mắt trước khi mổ để đảm bảo rằng bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn sức khỏe để mổ mắt bằng phương pháp này. Bước tiếp theo, bác sĩ sẽ gây tê và nhỏ thuốc sát trùng cho mắt. Bác sĩ tiến hành đặt vách mi giữa hai mí mắt để giữ mắt luôn mở, không nháy mắt.

    Femtosecond laser sẽ tiến hành tách vạt giác mạc mỏng ở lớp trên cùng của giác mạc và bác sĩ sẽ chiếu tia laser vào để thực hiện phẫu thuật khúc xạ. Quy trình diễn ra khoảng 5 – 7 phút rất nhanh chóng. Bệnh nhân có thể nhìn bình thường sau khi kết thúc ca mổ.

    Thời gian phẫu thuật của Relex Smile và Femto Lasik rất nhanh chóng (Nguồn: dwbxi9io9o7ce.cloudfront.net)

    2.3 Ai nên mổ mắt với Femto Lasik?

    Femto Lasik phù hợp với những bệnh nhân mắc các chứng tật khúc xạ như có độ cận cao hoặc có giác mạc quá mỏng, không thể thực hiện bằng phương pháp bắn laser thông thường. Vì thế, với những ai mắc bệnh về khúc xạ mắt thì nên thực hiện chữa trị bằng phương pháp này

    2.4 Ưu điểm của phương pháp mổ mắt Femto Lasik

    Phẫu thuật mắt bằng Femto Lasik giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục hơn, đồng thời cũng rất ít gặp các tác dụng phụ như khô mắt hay tầm nhìn hạn chế về đêm, hay sự xuất hiện của các quầng sáng xung quanh sau khi mổ mắt xong. Đây cũng là phương pháp an toàn, chuẩn xác thích hợp cho cả những bệnh nhân có giác mạc cực mỏng không thực hiện bằng các phương pháp Lasik truyền thống được.

    2.5 Chi phí mổ mắt với phương pháp Femto

    Chi phí gói phẫu thuật khúc xạ Femto Lasik hiện tại khoảng 34.950.000 vnđ. Bạn có thể dễ dàng mua gói mổ nhanh chóng, tiện lợi, tiết kiệm thời gian hơn thông qua Adr.

    Cả hai phương pháp Femto Lasik và Relex Smile đều, phương pháp nâng cao của kỹ thuật Lasik cũ bằng các tia laser có năng lượng thấp và tần số cao để tạo ra các Nano tinh thể đồng đều nhau để thực hiện tách giác mạc. Tuy nhiên, chúng có sự khác biệt rõ ràng đó là: Femto Lasik sử dụng các tia Laser Femtosecond để cắt vạt giác mạc, thay thế dao tạo vạt. Và sau đó, hình dạng của giác mạc sẽ tiếp tục được điều chỉnh bởi laser Excimer.

    Femto Lasik không cần quá quan tâm đến những điều kiện mổ mắt phương pháp Lasik cũ, hoàn toàn thích hợp với cả những ai có độ cận nặng hoặc giác mạc mỏng nhưng cách mổ này lại không ngăn ngừa được những nguy cơ về biến chứng sau khi mổ do bị viêm nhiễm hay chấn thương ở mắt.

    Trong khi đó, với cách mổ của Relex Smile bạn sẽ loại bỏ được nguy cơ sự cố với mắt ngay cả trong lúc mổ và hậu phẫu nhờ đặc điểm chính là mổ nhưng không tạo vạt dù nhược điểm của phương pháp này chính là một số cơ thể sẽ có tình trạng phục hồi chậm hơn nhiều so với Femto Lasik. Hiện tại, các bệnh viện chất lượng ở nhiều quốc gia tiên tiến cũng ưu tiên sử dụng phương pháp mổ mắt an toàn là Relex Smile hơn là các cách mổ khác.

    Hậu phẫu thuật khúc xạ mắt, bệnh nhân cần chú ý chế độ nghỉ ngơi và sinh hoạt để mắt không chịu thêm những tổn thương (Nguồn: thammymisstram.vn)

    Để được tư vấn chính xác phương pháp mổ mắt phù hợp với bản thân, bạn hãy tìm đến các dịch vụ khám mắt, phẫu thuật khúc xạ chất lượng tại các bệnh viện uy tín trong và ngoài nước để thực hiện tùy theo tài chính cá nhân cho phép. Hoặc để tiết kiệm thời gian, chi phí và luôn an tâm hơn, bạn có thể chọn lựa các gói khám mắt – Ortho K tại bệnh viên Vinmec ngay trên Adr từ bây giờ để có thể giúp bản thân nắm rõ tình hình sức khỏe của mắt cũng như có được sự chuẩn bị phù hợp khi muốn phẫu thuật khúc xạ cho đôi mắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 5 Địa Chỉ Bắn Mắt Cận Lasik An Toàn, Uy Tín Tại Tphcm
  • Mổ Cận Bằng Phương Pháp Lasik Có Bị Cận Lại Không?
  • Trung Tâm Mắt Kỹ Thuật Cao 30
  • Những Điều Cần Biết Về Mổ Mắt Lasik
  • Review Mổ Mắt Cận Femto Lasik Bệnh Viện Mắt Việt Hàn
  • Tìm Hiểu Về Người Sáng Lập Phương Pháp Montessori

    --- Bài mới hơn ---

  • Montessori Là Gì? Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Em Tiên Tiến
  • Bí Quyết Tập Trung Tổng Ôn Trong Giai Đoạn Nước Rút.
  • Những Nguyên Tắc Học Tập Hiệu Quả Cho Học Sinh Thcs
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Đối Với Môn Toán
  • Phương Pháp Và Kỹ Năng Học Tốt Môn Hóa Học
  • Maria Montessori được sinh ra vào năm 1870 trong gia đình với cha là ông Alessandro Montessori và mẹ là bà Renilde Stoppani, tại thị trấn Chiaraville, tỉnh Ancona, nước Ý. Ông Alessandro Montessori , cha của bà là một quân nhân, sau đó trở thành một công chức. Bà Renilde Stoppani, mẹ của bà là một phụ nữ có học thức cao, một sự hiếm hoi lúc bấy giờ khi những người phụ nữ Ý khác thậm chí còn không biết viết tên của họ.

    Ngay từ khi còn nhỏ, Maria đã rất tự tin và luôn lạc quan. Bà cực kỳ hứng thú với những điều mới lạ. Bà là một học sinh xuất sắc và có khả năng nắm bắt mọi thứ một cách dễ dàng. Bà luôn luôn hoàn thành tốt mọi kỳ thi. Cả cha và mẹ bà đều luôn cảm thấy khó khăn trong việc quyết định điều gì là tốt nhất cho cô con gái tài năng này.

    Maria không chỉ giỏi giang về học thuật mà còn giỏi các môn thể thao và thi đấu. Bà thường là người dẫn đầu những bộ môn mà bà tham gia.

    Maria – Nữ bác sĩ đầu tiên của nước Ý

    Đại học Rome không cho phép bà ghi danh khoa Y bởi vì bà là phụ nữ. Maria đã quyết định học vật lý, toán và khoa học tự nhiên. Năm 1892, bà đã đậu kỳ thi và nhận được chứng chỉ Licenza, chứng chỉ giúp bà có thể học Y, tuy nhiên, việc nhập học bị từ chối chỉ vì bà là phụ nữ. Người ta nói rằng, bà được nhận vào học Y là nhờ vào lời giới thiệu của Giáo hoàng Pope Leo XIII.

    Năm 1896, Maria trình bày bài luận văn của mình trước một Hội Đồng gồm 10 người đàn ông. Hội Đồng đã bị ấn tượng mạnh bởi luận văn của bà và đã cấp bằng Bác sỹ Y khoa cho bà. Từ đó, Maria trở thành người phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp từ trường Y của nước Ý.

    Sự khởi đầu của Maria vào lĩnh vực giáo dục – Ngôi nhà trẻ thơ Casa dei Bambini

    Casa dei Bambini – Trường Montessori đầu tiên thành công trong phương pháp của bà với những đứa trẻ gặp khó khăn về mặt trí tuệ ở Scuola Orthofrencia đã khiến Maria đặt câu hỏi về giáo dục truyền thống “thông thường” và cách trẻ thất bại trong các kỳ thi.

    Với thôi thúc muốn tìm hiểu về cách hoạt động của trí tuệ con người, Bác sĩ Maria Montessori trở lại Đại học Rome. Lần này, Bà theo đuổi tâm lý học và triết học. Năm 1904, Bà được bổ nhiệm làm giáo sư nhân chủng học tại trường đại học. Với những kinh nghiệm có được tại Scuola Orthofrencia, Maria được yêu cầu mở một trường học cho trẻ em trong một dự án phát triển khu ổ chuột ở quận San Lorenzo, Rome. Một ngôi trường đã được thành lập vào ngày 6 tháng 1 năm 1907, được đặt tên là ‘Casa dei Bambini’, có nghĩa là ngôi nhà trẻ thơ. Casa dei Bambini bắt đầu với sáu mươi trẻ mà bố mẹ đều là các công nhân.

    Casa Dei Babini – Ngôi nhà trẻ thơ đầu tiên

    Ở casa dei Babini, trẻ em được bộc lộ bản chất tự nhiên của mình. Rất nhiều trong số đó thật đáng kinh ngạc và đó không giống như những gì người ta vẫn hiểu về trẻ. Maria đã phát triển hệ thống giáo dục thông qua sự quan sát một cách khoa học về những khả năng thẩm thấu kiến thức vô cùng dễ dàng từ môi trường xung quanh cũng như sự hứng thú vô hạn được làm việc với các học cụ. Mỗi phần của học cụ, mỗi bài thực hành, mỗi phương pháp mà bà phát triển đều được dựa trên những gì bà đã quan sát được khi trẻ làm việc một cách “tự nhiên” mà không có sự hỗ trợ của người lớn.

    Sự thật đơn giản nhưng uyên thâm này đã truyền cảm hứng cho bà Maria dành cả cuộc đời để theo đuổi phương pháp giáo dục, Tâm lý học trẻ em, đào tạo giáo viên, tất cả đều dựa trên sự cống hiến của bà cho quá trình kiến tạo bản thân của trẻ.

    Khóa đào tạo giáo viên Montessori đầu tiên.

    Dựa vào sự quan sát của bà và nghiên cứu ở Scuola Ortrofrencia, casa dei Babini, Maria Montessori đã tổng hợp thành một phương pháp giảng dạy mới. Năm 1909, Bác sĩ Montessori tổ chức khóa đào tạo giáo viên Montessori đầu tiên của bà cho các giáo viện đến từ khắp các quốc gia. Bà đã xuất bản cuốn sách ” Ứng dụng khoa học sư phạm trong giáo dục trẻ” cho các ngôi nhà trẻ thơ. Những năm về sau, quyển sách này được đổi tên thành “Phương pháp giáo dục Montessori”. Dựa trên ý tưởng của nhà giáo dục người Pháp, tiến sĩ Jean Itard và Tiến sĩ Edouard Seguin, Tiến sĩ Montessori đã lên ý tưởng kích thích tư duy của trẻ thông qua việc tạo ra các hoạt động mang tính xây dựng giúp trẻ phát triển lòng tự tin.

    Maria Montessori đến Ấn Độ

    Vào năm 1939, khi Bà đã 69 tuổi , Maria đến Ấn độ theo lời mời của Hiệp hội Thần học Ấn Độ. Bà chấp nhận lời mời và đến Ấn Độ cùng năm đó. Cuộc hành trình từ Hà Lan trong những ngày đó rất tẻ nhạt. Nhưng nó không làm bà thấy khó khăn. Bà tràn đầy năng lượng và hứng thú muốn bắt đầu công việc ở Ấn Độ.

    Bà đã biến Adayar, Chennai thành nhà của mình và sống ở đó cùng với con trai, Mario. Rukmini Devi, một vũ công Bharat Natyam là người sáng lập trung tâm âm nhạc, khiêu vũ và nghệ thuật nổi tiếng khác – Kalakshetra. Chồng của bà ấy , George Sidney Arundale, chủ tịch của Hiệp hội Thần học Ấn Độ. Và Tiến sĩ Montessori trở thành một người bạn tốt của cặp vợ chồng này.

    Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ khiến Maria phải kéo dài thời gian ở lại Ấn Độ. Năm 1940, khi Ấn Độ tham chiến, bà và con trai bị quản thúc như những kẻ gián điệp, nhưng Maria vẫn được phép thực hiện các khóa đào tạo của mình. Sau chiến tranh, bà lưu lại Ấn Độ đến năm 1946. Sau đó, bà trở về châu Âu một thời gian ngắn. Năm 1947, Bà thành lập Trung tâm Montessori ở London. Maria trở lại Ấn Độ lần thứ hai trong cùng năm đó. Từ năm 1939 đến 1949, Maria Montessori đã thực hiện mười sáu khóa đào tạo Montessori tại Ấn Độ, với sự giúp đỡ của con trai Mario. Điều này đặt nền tảng rất lớn cho phong trào Montessori ở Ấn Độ. Bà đến Pakistan năm 1949 và quay trở lại châu Âu.

    Những ngày cuối đời của Maria Montessori.

    Maria được đề cử giải Nobel Hòa Bình trong ba năm liên tiếp 1949, 1950, 1951. Nhưng đáng tiếc là giải thưởng Nobel đã bỏ lỡ bà trong cả ba lần.

    Năm 1951, Maria Montessori từ Ấn Độ đến Hà Lan. Bà đã biến Noordwijk aan Zee, một thị trấn ven biển, thành nhà mình. Những ngày cuối đời của Montessori cũng là những ngày điển hình cho các hoạt động và sự nhiệt tình mà bà đã làm trong suốt cuộc đời mình. Sự lao động bền bỉ và hy sinh cho sứ mệnh vì trẻ thơ của bà đã đột ngột kết thúc vào ngày 6 tháng 5 năm 1952. Maria qua đời lúc 82 tuổi. Công việc của bà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay với hàng ngàn người theo triết lý Montesori đang tiếp tục công việc của bà trên khắp thế giới.

    Đến nay, cả thế giới đều ngưỡng mộ công việc của bà. Dường như bà nói “Tôi chỉ ngón tay vào trẻ. Nhưng tại sao mọi người lại ngưỡng mộ ngón tay của tôi?” Đó gần như là những lời cuối cùng của bà.

    “Giáo dục là một quá trình tự nhiên được thực hiện bởi cá nhân mỗi con người và đạt được không phải bằng cách lắng nghe lời nói, mà bằng sự trải nghiệm từ môi trường”

    – Dr. Maria Montessori –

    Nguồn: https://www.indianmontessoricentre.org/maria-montessori-biography-0

    Dịch: Nguyễn Thuý Ngân – Giáo viên Montessori 2.5-6 do IMC đào tạo.

    Hiệu đính: VMC – Trung tâm Montessori Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Montessori Ở 1 Số Trường Mầm Non Ở Gò Vấp
  • Giới Thiệu Về Phương Pháp Giáo Dục Montessori Và Glenn Doman
  • Lạm Bàn Về Ba Phương Pháp Giáo Dục: Montessori, Reggio Và Steiner
  • Phương Pháp Steiner Tạo Dựng Con Người Hạnh Phúc, Mẹ Đã Biết?
  • Montessori & Steiner: Sự Giống Và Khác Nhau Trong Phương Thức Thực Hành
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Người Học Thông Qua Kĩ Thuật “dạy Học Mảnh Ghép”
  • Đổi Mới Nhận Thức Về Người Học Và Phương Pháp Học Ngoại Ngữ (P2)
  • “nghiên Cứu Bài Học “
  • “nghiên Cứu Bài Học” Mô Hình Dạy Và Học Tích Cực
  • Học Tập Ngoài Trời: Chìa Khóa Cho Những Đứa Trẻ Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh Và Sáng Tạo
  • Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần

    Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận

    dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ

    đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ

    được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang

    cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái

    niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định

    hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học

    đặt và giải quyết vấn đề.

    ht tp :// w w w .v nm at h. co m 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM KHOA TỐN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MƠN TỐN Ở TRƯỜNG PHỔ THƠNG (Các tình huống dạy học điển hình) TP.HCM - 2005 ht tp :// w w w .v nm at h. co m 2 LỜI NÓI ĐẦU Cuốn sách này không phải là một tài liệu đầy đủ về lí luận dạy học môn toán (hay Phương pháp dạy học môn toán, như ta vẫn thường gọi). Nó không đề cập hết các nội dung về Phương pháp dạy học môn toán với tư cách là một ngành khoa học hay với tư cách là một bộ môn trong các trường sư phạm. Một giáo trình đầy đủ như vậy đang được tác giả cố gắng hoàn thiện trong một vài năm tới. Tài liệu này chỉ trình bày hai nội dung chủ yếu nhất của chương trình phương pháp dạy học môn toán - phần đại cương, mà tác giả đã giảng dạy cho sinh viên năm thứ ba Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ nhiều năm nay. Đó là một số vấn đề học sinh, và đặc biệt là các tình huống điển hình mà ta thường gặp trong thực tế dạy học toán ở trường phổ thông. Việc xuất bản tài liệu này nhắm tới các mục đích chủ yếu sau đây: − Cập nhật một số nội dung kiến thức mới, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung và định hướng đổi mới phương pháp ở trường phổ thông nói riêng; hình trong dạy học môn toán ở trường THPT với nhiều ví dụ minh hoạ rút ra từ thực tế dạy học; − Tạo thuận lợi cho việc đổi mới cách dạy và cách học ở trường Đại học Sư phạm, hạn chế tối đa việc ghi chép của sinh viên. Từ đó nó cho phép dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động thực hành như soạn bài và tập giảng, xem và trao đổi về giờ giảng của giáo viên phổ thông qua băng đĩa, dự giờ của giáo viên ở trường Trung học phổ thông ngay từ đầu năm thứ ba và chính trong quá trình học tập bộ môn Phương pháp dạy học. Nó cũng tạo nhóm, Tác giả hy vọng việc đào tạo đan xen giữa lí thuyết và thực hành như vậy sẽ cho phép sinh viên nắm vững hơn kiến thức và rèn luyện tốt hơn kĩ năng sư phạm. Hy vọng rằng đây cũng là một tài liệu tham khảo có ích cho giáo viên phổ thông trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tác giả rất biết ơn và mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện dần các nội dung được đề cập trong tài liệu. Tác giả Lê Văn Tiến ht tp :// w w w .v nm at h. co m 3 Phần 1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học đặt và giải quyết vấn đề. 1. Khái niệm phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp, theo tiếng Hy Lạp "Méthodos", có nghĩa là con đường, cách thức thực hiện một kiểu nhiệm vụ nào đó, nhằm đạt tới kết quả ứng với mục đích đã vạch ra. Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học nhằm mục đích làm cho người học lĩnh hội được các kiến thức và kĩ năng, phát triển năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức, thẩm mĩ, Hoạt động dạy học bao hàm trong nó hoạt động dạy và hoạt động học. Tuy nhiên, hai hoạt động này không diễn ra một cách song song tách rời mà xen lẫn vào nhau, tương tác lẫn nhau. Như vậy, có thể xem dạy học như là một kiểu nhiệm vụ mà giáo viên và học sinh cùng có trách nhiệm hợp tác thực hiện. Phương pháp dạy học là cách thức thực hiện kiểu nhiệm vụ "Dạy học" của cặp người dạy - người học nhằm đạt được các mục đích dạy học xác định. 2. Phân loại tổng thể các phương pháp dạy học Hiện nay có nhiều hệ thống phân loại khác nhau về các phương pháp dạy học, nhưng chưa có một hệ thống phân loại nào thực sự hoàn chỉnh và tối ưu (vả lại xây dựng một hệ thống phân loại như vậy dường như là không thể và không có nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn). Tuy nhiên, dù có những khiếm khuyết của nó, nhưng mỗi hệ thống phân loại lại cho ta thấy rõ hơn một khía cạnh nào đó về các phương pháp dạy học. Nếu dựa vào tiêu chí phân loại là vai trò của giáo viên, vai trò của học sinh và đặc trưng của tri thức cần truyền thụ, ta có một cách phân chia tổng thể các phương pháp dạy học theo ba nhóm: Phương pháp giáo điều, phương pháp truyền thống và phương pháp tích cực. 2.1. Phương pháp giáo điều - Giáo viên: là người có quyền lực tuyệt đối, thông báo, áp đặt kiến thức2 một cách trực 1 Quy trình dạy học, phương pháp dạy học, nguyên tắc dạy học, hình thức tổ chức dạy học, 2 Thực ra, có một sự khác biệt cơ bản giữa Tri thức và Kiến thức (tham khảo lí thuyết chuyển hóa sư phạm (transposition didactique) của Y. Chevallard, 1991). Tuy nhiên, giáo trình này không có sự phân biệt rạch ròi hai khái niệm. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 4 tiếp cho học sinh (theo kiểu giảng đạo). Giáo viên chi phối toàn bộ các mối quan hệ giáo dục. - Học sinh: có vai trò lu mờ, thụ động nghe, học thuộc và ghi nhớ những điều mà giáo viên thông báo mà không cần hiểu "nghĩa" của kiến thức tiếp thu được. - Kiến thức : được cho trực tiếp bởi giáo viên dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá" và "phi cá nhân hoá". Nó chỉ mang "nghĩa hình thức". - Giáo viên có quyền lực tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. 2.2. Phương pháp truyền thống a) Đặc trưng tổng quát * Giáo viên : vẫn giữ vị trí trung tâm của hệ thống dạy học, có trách nhiệm truyền đạt kiến thức cho học sinh, cho một vài ví dụ minh họa hay một vài bài toán mẫu, sau đó yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức vào việc giải quyết các tình huống tương tự với tình huống mà giáo viên đã trình bày và giải quyết. chính xác, sáng sủa, rõ ràng, logic và dễ hiểu, mà ít quan tâm đến cái mà học sinh cần, cái mà học sinh nghĩ và hoạt động của chính người học. Để cho học sinh có thể hiểu, ghi nhớ và áp dụng tốt kiến thức đã trình bày, giáo viên thường chú ý đảm bảo một số nguyên tắc và phương pháp sư phạm tổng quát, chẳng hạn : đảm bảo tính hệ thống, tính trực quan, tính vừa sức, Từ đó, tăng cường sử dụng các thiết bị dạy học3; coi trọng việc luyện tập và ôn tập ; chú ý đặc biệt đến kĩ thuật đặt câu hỏi, * Học sinh: học theo kiểu bắt chước và thường thụ động tiếp thu. Họ cố gắng ghi nhớ và áp dụng đúng "mẫu" mà giáo viên đã trình bày. Hoạt động đích thực của học sinh (nếu có) chỉ diễn ra khi trả lời một số câu hỏi, làm bài tập áp dụng hay thực hiện một chứng minh định lí, theo yêu cầu của giáo viên. * Kiến thức: vẫn được cho trực tiếp bởi giáo viên và thường là dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá", "phi cá nhân hoá" và mang "nghĩa hình thức". * Giáo viên có vai trò gần như tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. b) Các phương pháp dạy học truyền thống Hiện nay, ngay trong bản thân các phương pháp dạy học truyền thống, cũng có nhiều hệ thống phân loại khác nhau, nhưng chúng vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa có được sự thống thống phân loại đó. - Nhóm các phương pháp dùng lời : Thuyết trình; Đàm thoại; Làm việc với sách ; - Nhóm các phương pháp trực quan: Biểu diễn vật thật, vật tượng hình hay tượng trưng; Xem băng ghi hình, phim đèn chiếu, - Nhóm các phương pháp thực hành: Luyện tập ; Thực nghiệm, quan sát và dự đoán. Trong thực tế dạy học, các phương pháp thuộc ba nhóm trên thường được sử dụng xen kẽ nhau, lồng vào nhau. 3 Sơ đồ, biểu đồ, vật thật, phim ảnh, phần mềm MS Powerpoint, ht tp :// w w w .v nm at h. co m 5 Ở đây, ta không đi sâu nghiên cứu các phương pháp dạy học truyền thống, vì chúng đã được đề cập khá chi tiết trong bộ môn Giáo dục học. 2.3. Sư phạm tích cực và phương pháp dạy học tích cực Ngay từ đầu thế kỉ 20 các nhà tâm lí hay sư phạm như Dewey, Parkhust, Dalton ở Mỹ, Freinner ở Pháp, Claparède ở Thuyï Sĩ, Montessori ở Ý, Decroly ở Bỉ đã quan niệm rằng : Cần phải đặt học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học, phải xuất phát từ lợi ích của học sinh và những điều mà họ quan tâm. Đó chính là thời điểm mà người ta bắt đầu nói về "sư phạm tích cực". Tuy nhiên, gần như suốt thế kỉ 20, sư phạm này chỉ sống một cách lay lắt bên cạnh sư phạm truyền thống. Có nhiều xu hướng sư phạm tích cực khác nhau như : Sư phạm tương tác, Sư phạm khám phá, Sư phạm dự án, Những xu hướng này có những nét tương đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt cơ bản. Trong phạm vi tài liệu này, ta không đi sâu nghiên cứu chúng. Ở đây, thuật ngữ "Phương pháp dạy học tích cực" (hay gọi tắt là Phương pháp tích cực) được hiểu là các phương pháp dạy học thể hiện tư tưởng của các xu hướng sư phạm tích cực4, mà sau đây ta sẽ nêu lên một số đặc trưng cơ bản của nó. Đặc trưng của phương pháp tích cực : - Giáo viên tự nguyện rời bỏ vị trí trung tâm. Họ chỉ còn là người đạo ... p dạy học một định lí theo đó, * tiến trình dạy học được lựa chọn là: Bài toán→ Định lí, * cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh được mô tả như sau : - Trong bước 1 của tiến trình, học sinh độc lập tìm lời giải bài toán. - Ở bước 2 của tiến trình : Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp học sinh rút ra những kết quả quan trọng từ lời giải các bài toán đã cho (kiến thức cần giảng dạy), từ đó, giáo viên thể chế hoá kiến thức này thông qua việc trình bày định lí. - Bước 3 : Học sinh độc lập giải các bài toán vận dụng và củng cố định lí. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. A. RIEUNIER (2001), Préparer un cours, Edition ESF, Paris. 2. C. ROGERS (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả, Bản dịch tiếng Việt của Cao Đình Quát, NXB Trẻ. 3. I. Ia. LECNE (1981). Cơ sở lí luận của các phương pháp dạy học, Bản dịch tiếng Việt, NXB Sư Phạm. 4. I. Ia. LECNE (1997), Dạy học nêu vấn đề, Phạm Tất Đắc dịch, NXB Giáo dục. 5. D.GRENIER (1985), Quelques aspects de la symétrie orthogonale pour des élèves de classes de 4ème et 3ème, Petit X n0 7, IREM de Grenoble. học trong Đại số 10 vào việc giải các bài toán mang nội dung thực tiễn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục số 95. 7. G. POLYA (1965), Comment poser et résoudre un problème, Paris, Dunod. 8. G. POLYA (1975), Sáng tạo toán học, tập 1, 2, 3, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Bản dịch tiếng Việt của Phan Tất Đắc, Nguyễn Giản, Hồ Thuần, NXB Giáo dục. 9. G. POLYA (1975), Giải một bài toán như thế nào?, Bản dịch tiếng Việt của Hồ Thuần, Bùi Tường, NXB Giáo dục. 10. G. ARSAC, M. MANTE (1995), Nhập môn về lập luận diễn dịch ở trường trung học cơ sở, Bản dịch tiếng Việt của Đoàn Hữu Hải, Lê Đình Phi và Nguyễn Thành Tâm, NXB Giáo dục. 11. J. BAIR, G.HAESBROECK, (2000), Formation mathématique par la résolution de problèmes, Edition de Boeck Université, Bruxelles. 12. HOÀNG CHÚNG (1995), Phương pháp dạy học toán học ở trường phổ thông trung học cơ sở, NXB Giáo dục. 13. HOÀNG XUÂN SÍNH, NGUYỄN MẠNH TRINH (1998), Tập hợp và logic, NXB Giáo dục. 14. LÊ NGUYÊN LONG (1998), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục. 15. LÊ TỬ THÀNH (1995), Tìm hiểu lôgic học, NXB Trẻ. 16. LÊ VĂN TIẾN, LÊ THỊ HOÀI CHÂU, NGUYỄN VĂN VĨNH (1999), Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông trung học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 17. LÊ VĂN TIẾN (2000), Các quan điểm khác nhau về giảng dạy Giải tích ở trường phổ thông, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số chuyên đề quý 1/2000 và số 3/2000. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 123 18. LÊ VĂN TIẾN (2001), Etude didactique de liens entre fonctions et équations dans l'enseignement des mathématiques au lycée en France et au Viet-Nam, Thèse de Doctorat, Université Joseph Fourier Grenoble, France. 19. LÊ VĂN TIẾN (2002), Quan điểm thực nghiệm trong dạy học toán ở trường phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 30 số 2. 20. LÊ VĂN TIẾN (2002), Chương trình và sách giáo khoa Toán đang thí điểm hiện nay ở trường THCS, nhìn từ quan điểm thực nghiệm trong Toán học, Kỉ yếu hội nghị Toán học toàn quốc lần thứ 6, tổ chức tại Huế. 21. LÊ VĂN TIẾN (2003), Cách nhìn mới về tiến trình dạy học khái niệm toán học, Tạp chí Giáo dục, số 64. 22. LÊ VĂN TIẾN, TRẦN THỊ TUYẾT DUNG (2004), Một phần thực trạng về học tập suy luận, chứng minh của học sinh THCS, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 23. LÊ VĂN TIẾN (2004), Có nên vận dụng " Quan điểm thực nghiệm " vào dạy học Toán ?, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 107. 24. LÊ VĂN TIẾN, ĐOÀN HỮU HẢI (2004), Chứng minh ở trường phổ thông : Nghiên cứu lịch sử, khoa học luận, didactic và điều tra thực trạng dạy học về chứng minh ở trường phổ thông Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 25. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 26. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Bài tập Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, NXB Giáo dục. 27. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo viên, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 28. L. F. KHARLAMÔP (1976), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Bản dịch tiếng Việt của Đỗ Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang, NXB Giáo dục. 29. N. BALACHEFF (1982), Preuve et démonstration en mathématiques au collège, RDM. Vol 3, n03. 30. N. BALACHEFF (1988), Une étude des processus de puve en mathématiques chez des élèves de collège, Thèse d'Etat. Université Joseph Fourier, Grenoble, France. 31. NGUYỄN BÁ KIM, VƯƠNG DƯƠNG MINH, NGUYỄN SĨ ĐỨC (1998), Tính giải quyết vấn đề trong toàn bộ quá trình dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 66. 32. NGUYỄN BÁ KIM (1991), Chính xác hoá một số khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 33. NGUYỄN BÁ KIM (2004), Phương pháp dạy học môn toán, NXB ĐHSP. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 124 34. NGUYỄN CẢNH TOÀN (1997), Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học, tập 1, 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 35. NGUYỄN HẢI THẬP (2000), Phương pháp dạy học nêu vấn đề ở bậc đại học, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 3. 36. NGUYỄN KÌ (1995), Phương pháp Giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục. 37. NGUYỄN KÌ (1996), Mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, Trường Cán bộ Quản lí Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. 38. NGUYỄN KẾ HÀO (1994), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 6. 39. NGUYỄN KHẮC VIỆN (2001), Từ điển tâm lí, NXB Văn hóa Thông tin. 40. NGUYỄN HỮU CHÂU (1995), Dạy giải quyết vấn đề trong môn toán, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 9. 41. NGUYỄN LAN PHƯƠNG (2000), Cải tiến phương pháp dạy học toán với yêu cầu tích cực hoá hoạt động học tập theo hướng giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề. Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục. 42. NGUYỄN VĂN BÀNG (1997), Lại bàn về bài toán mở, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1. 43. NGUYỄN VĂN LỘC (1996), Rèn luyện kỉ năng lập luận có căn cứ cho học sinh tring học cơ sở thông qua dạy hình học, NXB Giáo dục. 44. PHẠM GIA ĐỨC (1995), Đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THCS, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 7. 45. PHẠM GIA ĐỨC, NGUYỄN MẠNH CẢNG, BÙI HUY NGỌC, VŨ DƯƠNG THUYÏ (1998), Phương pháp dạy học môn toán, tập I, NXB Giáo dục. 46. PHẠM VĂN ĐỒNG (1995), Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực - Một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 12. 47. PHẠM VĂN HOÀN, NGUYỄN GIA CỐC, TRẦN THÚC TRÌNH (1981), Giáo dục học môn toán, NXB Giáo dục. 48. PHẠM MINH HẠC (chủ biên, 1996), Tuyển tập tâm lý học J.Piaget, NXB Giáo dục. 49. PHẠM VIẾT VƯỢNG (1995), Bàn về "phương pháp Giáo dục tích cực", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 50. TÔN THÂN (1995), Bài tập ''mở'', một dạng bài tập góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 51. TRẦN BÁ HOÀNH (2004), Dạy và học bằng các hoạt động khám phá có hướng dẫn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 102. 52. TRẦN BÁ HOÀNH, NHUYỄN ĐÌNH KHUÊ, ĐÀO NHƯ TRANG (2004), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn toán, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 125 53. TRẦN LUẬN (1999), Một hướng nghiên cứu triển khai dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 54. TRẦN NAM LƯƠNG, LÊ ĐÌNH PHI (1997), Tâm lí học và Giáo dục học - J.Piaget, NXB Giáo dục. 55. TRẦN THỊ NGỌC DIỆP (2005), Dạy học định lí theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, Khoá văn tốt nghiệp, Khoa Toán - Tin học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 56. TRẦN THÚC TRÌNH (1992), Nhìn lại lịch sử cải cách nội dung và phương pháp dạy học toán ở trường phổ thông trên thế giới trong thế kỉ XX, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 34. 57. TRẦN THÚC TRÌNH (2003), Rèn luyện tư duy trong dạy học toán, Đề cương môn học dành cho học viên Cao học, Viện Khoa học Giáo dục. 58. TRẦN THÚC TRÌNH (2004), Phương pháp khám phá trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 111. 59. Y. CHEVALLARD (1985), La transposition didactique - du savoir savant au savoir enseigné, Edition La Pensée Sauvage, Grenoble, France. 60. Y. CHEVALLARD (1991 - 1992), Le caractère expérimental de l'activité mathématique, Petit X n030. 61. V. OKON (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, Bản dịch tiếng Việt của Phạm Hoàng Gia, NXB Giáo dục. 62. Histoire d'algorithmes, Edition Belin, 1994. 63. Từ điển : Petit Robert. Edition DicoRobert, Canada, 1993. 64. Từ điển : Le Petit Larousse, Edition Larousse - Bordas, 1999. 65. Từ điển toán học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1993, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Như và Lê Đình Thịnh. Sách giáo khoa : 66. Đại số 10, NXB Giáo dục 1990, Trần Văn Hạo chủ biên. 67. Hình học 11, NXB Giáo dục 1991, Trần Văn Hạo chủ biên. 68. Đại số và Giải tích 11, NXB Giáo dục 1996, Trần Văn Hạo chủ biên. 69. Đại số 10, Hình học 10, Hình học 11, Hình học 12, NXB Giáo dục 2001. 70. Hình học 8, NXB Giáo dục 1999. 71. Hình học 7, NXB Giáo dục 1987. 72. Hình học 7, NXB Giáo dục 1995. 73. Toán 7, NXB Giáo dục 2002. 74. Chương trình THCS môn toán, NXB Giáo dục 2002. 75. Sách giáo viên Toán 7, NXB Giáo dục 2003. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 126

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Các Phương Pháp Phân Tách Và Nhận Diện Các Axit Amin Và Peptit Từ Các Hợp Chất Tự Nhiên (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Acid Amin
  • Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế
  • Phương Pháp Tính Bằng Ngón Tay Giúp Bé Thông Minh Hơn
  • Bé Học Toán Siêu Nhanh Với Toán Soroban Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Phương Pháp Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Là kỹ thuật đơn giản nhất được sử dụng để tách và định tính các sản phẩm tự nhiên được quan tâm. Bằng phương pháp này, có thể dễ dàng thu được thông tin định tính và cung cấp dữ liệu cho việc định lượng. Pha tĩnh thường là silicagel phủ lên tấm TLC hoặc HPTLC (TLC hiệu năng cao) – các tấm này thường là các tấm thủy tinh silica hoặc oxit nhôm hoặc nhựa. Pha động là chất rửa giải (hỗn hợp dung môi). Trên thực tế, các hợp chất được quan tâm phải được hòa tan ở các độ tan khác nhau. Tiếp tục quá trình tách một lần nữa để hình thành sự phân bố cân bằng các cấu tử trong hỗn hợp.

    2) lực hấp dẫn hoặc sự hấp thụ giữa hợp chất và SiO 2, càng có nhiều hợp chất tương tác với silica, thì càng ít cấu tử bị di chuyển đi lên,

    Vì các axit amin là những hợp chất không màu, nên ninhydrin thường được dùng để làm chất chỉ thị phát hiện ra các axit amin đó, nhờ vào sự hình thành phức chất Ruhemann màu tím xanh khi ninhydrin tác dụng với axit amin. Người ta cũng áp dụng phương pháp khác để phát hiện axit amin là sử dụng tác nhân anisaldehyde-H 2SO 4, kết hợp với gia nhiệt (120 o C, trong 5 phút).

    Các dung môi hữu cơ khác (alcohol, dioxane, methyl cellosolve, pyridine, và phenol) được sử dụng để thúc đẩy nhanh sự hình thành phức màu, cường độ màu thu được cũng khác nhau, hỗn hợp phenol-pyridine được xem là dung môi hiệu quả nhất. Dưới nhiệt độ 105 o C trong vòng 3-5 phút làm tăng hiệu quả tạo màu đối với hầu hết các acid amin, trừ trytophan và lysine.

    Các acid amin là các phân tử rất phân cực, do vậy các phương pháp sắc ký thông thường như sắc ký lỏng hiệu năng cao kiểu phân bố pha đảo ( RP-HPLC), hay không thể thực hiện mà không tạo dẫn xuất.

    Một số phương pháp sắc ký lỏng chuyên dụng trong định lượng amino acid như vàsắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (). Hai phương pháp này đều cần bước tạo dẫn xuất tiền cột hoặc sau cột. Mặc dù kỹ thuật này cho độ phân giải và độ nhạy phù hợp, nhưng quá trình tạo dẫn xuất lại làm tăng độ phức tạp, giá thành và thời gian phân tích.

    * kết hợp bộ tạo dẫn xuất sau cột với tác nhân Kỹ thuật ninhydrin là một trong những phương pháp được ứng dụng phổ biến nhất để định lượng axit amin. Quá trình tách các axit amin trên cột trao đổi ion được thực hiện kết hợp với sự thay đổi độ pH và độ mạnh yếu của các ion (cation). Để tăng hiệu quả tách áp dụng thêm chu trình Gradient nhiệt độ.

    Nhưng có lẽ phương pháp hiệu quả nhất hiện nay là phương pháp sắc ký trao đổi cation ( CEC) trong môi trường dung dịch đệm (thường là một dung dịch đệm liti), kết hợp bộ tạo dẫn xuất sau cột với tác nhân ninhydrin, đầu dò hấp thụ UV. Bằng cách này ta tách được các axid amin mong muốn, dựa theo màu sắc (cấu trúc) của dẫn xuất tạo thành. Các axit amin chứa các amin cơ sở (trừ axit imino) cho màu tím, và có thấy độ hấp thụ tối đa ở bước sóng 570 nm. Các axit imino (như proline) tạo màu vàng, và độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 440nm. Phản ứng sau cột giữa ninhydrin và axit amin (được rửa giải khỏi cột sắc ký) được điều chỉnh trong vùng bước sóng 440 và 570 nm.

    OPA là một loại tác nhân khác được dùng cho cả quá trình tạo dẫn xuất sau cột và tiền cột. Ortho-phthaldehyde (OPA) phản ứng tại vị trí nhóm amino, trong sự có mặt của một thiol (mercaptoethanol), kết quả tạo ra một dẫn xuất huỳnh quang, quang hoạt tử ngoại tại bước sóng 340 nm.

    Một ví dụ về hệ thống sắc ký lỏng kết nối khối phổ (LC-EI-MS/MS) – Nguồn: chúng tôi

    Thông thường, các tác nhân silyl hóa là: (N,O-bis-(tri-methyl-silul)-trifluorocetamide và (N-methyl-silyl-trifluoro-acetaide). Nhược điểm của phương pháp này là tác nhân và dẫn xuất dễ bị tác động bởi độ ẩm và tính không ổn định của dẫn xuất. Có một số axit amin không bền (như arginine và axit glutamic). Arginine phân hủy thành ornithine, còn axit glutamic bị sắp xếp lại cấu trúc thành axit pyro-glutamic.

    là phương pháp phân tích với độ lặp lại thời gian lưu tốt, và dễ tự động hóa.

    Nhược điểm chính của kỹ thuật này là do tính kém bền với nhiệt độ của một số hợp chất và/hoặc dẫn xuất của chúng, rất khó để phân tích dưới hầu hết các điều kiện của là một trong số những kỹ thuật hiệu quả nhất để xác định cấu trúc của các hợp chất tự nhiên. Kỹ thuật khối phổ hoạt động dựa trên việc tách ra của các ion tạo bởi nguồn ion hóa và tỷ lệ khối lượng/điện tích (sắc ký khí (GC). m/z) của chúng.

    Phương pháp ion hóa thông thương có nhược điểm (chẳng hạn, ion hóa bằng nhờ sự va chạm electron, API) là chỉ áp dụng được với các hợp chất có độ bay hơi, độ phân cực và khối lượng phân tử MW phù hợp. Khả năng bay hơi của hợp chất có thể tăng lên khi bị tác động bởi phản ứng hóa học (quá trình tạo dẫn xuất, như: quá trình metyl hóa, trimetylsilyl hóa hay phản ứng triflouro acetyl hóa).

    Đối với các peptit, hiện có một số kỹ thuật ion hóa mới hiệu quả cao, như: phương pháp ion hóa chùm điện tử() và ion hóa mẫu hấp thụ dựa trên sự hỗ trợ của các chất nền và năng lượng lazer ().

    – Warren đã sử dụng phương pháp của điện di mao quản CE, và điện di mao quản kết hợp nguồn huỳnh quang laze cảm ứng ( capillary electrophoresislaser-induced fluorescence CE-LIF) để định lượng các axit amin từ các chiết xuất từ đất với ưu điểm về giới hạn phát hiện thấp và độ đặc hiệu cao.

    – Li và cộng sự đã phát triển một phương pháp mới trong phát hiện các axit amin từ măng tây. Sau khi dẫn xuất hóa của các mẫu bằng 4-chloro-3,5-dinitro-benzotrifluoride (), tiếp tục chiết pha rắn trên cột C18, và cuối cùng được phân tích bằng .

    Nguồn: Peptide and Amino Acids Separation and Identification from Natural Products – Tác giả: Ion Neda1, Paulina Vlazan1, RalucaOana Pop1, Paula Sfarloaga1, Ioan Grozescu1 và Adina-Elena Segneanu DOI: 10.5772/51619

    Sách: “Analytical Chemistry”, book edited by Ira S. Krull, ISBN 978-953-51-0837-5, Published: November 7, 2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Định Tính Và Định Lượng Protein
  • Lương Cơ Bản Tiếng Anh Là Gì? Cách Tính Lương Cơ Bản 2021
  • Top 7 Cách Tính Nhẩm Nhanh Phép Nhân Hiệu Quả Nhất
  • 7 Phương Pháp Dạy Trẻ Tính Nhẩm Nhanh Và Phát Triển Tư Duy
  • Bài 9: Phương Pháp Tính Giá
  • Tin tức online tv