Skkn Sứ Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Trong Trường Tiểu Học

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Môn Học Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Mới Ở Tiểu Học Đạt Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Đánh Giá
  • Chương 5: Phương Pháp Tâm Lý Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý
  • Di Truyen Y Học Ebook Byt
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “SỨ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN KHI GIẢNG DẠY

    MÔN MĨ THUẬT TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC”

    A – PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lịch sử nghiên cứu đề tài.

    Trước khi nghiên cứu và viết đề tài: ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp trực

    quan khi dạy học môn Mĩ thuật trong trường Tiểu học”, tôi đã có 12 năm giảng dạy

    thực tế ở trường tiểu học Hồng Châu và hằng năm tôi cũng viết sáng kiến kinh nghiệm

    với nhiều đề tài khác nhau cho môn dạy của mình. Song, đây là đề tài lần đầu tiên tôi

    nghiên cứu ở phạm vi rộng, xuyên suốt chương trình môn Mĩ thuật bậc tiểu học với năm

    phân môn: Vẽ theo mẫu; Vẽ đề tài; Vẽ trang trí; Tập nặn tạo dáng và Thường thức Mĩ

    thuật. Đồng nghiệp của tôi ở Thành phố Hưng Yên nói riêng và ở trong tỉnh nói chung

    cũng đã nghiên cứu về phương pháp trực quan khi giảng dạy môn Mĩ thuật nhưng mới

    chỉ áp dụng cho từng phân môn nhỏ của bộ môn Mĩ thuật, như đề tài: ” Để sử dụng hiệu

    quả phương pháp trực quan khi dạy phân môn vẽ theo mẫu lớp 5″ của cô giáo Nguyễn

    Thị Thanh Huyền giáo viên trường Tiểu học Bảo Khê năm học 2010-2011; hay đề tài: ”

    Để sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy phân môn thường thức Mĩ thuật tiểu

    học đạt kết quả tốt nhất.” của thày giáo Hứa Việt Hùng – giáo viên trường Tiểu học Minh

    Khai năm học 2009-2010… Tôi đã áp dụng những đề tài trên vào giảng dạy và thấy có

    hiệu quả rõ rệt, từ đó tôi đã vận dụng kinh nghiệm của mình để tiếp tục nghiên cứu

    phương pháp trực quan ở các phân môn còn lại.

    Đứng trước tình hình mới của đất nước ta đang từng ngày, từng giờ đổi mới và phát

    triển mạnh mẽ đặc biệt là trong cuộc sống công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đòi hỏi xã hội

    phải có những thế hệ người lao động mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có trình độ nhận

    thức cao. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách đó của xã hội thì việc giáo dục con người phát

    triển toàn diện trên 5 mặt: ” Đức – trí – lao – thể – mĩ” là mục tiêu hàng đầu. Trong đó Mĩ

    thuật đóng một vai trò không nhỏ trong sự nghiệp lớn lao ấy – Sự nghiệp giáo dục.

    Con người sống giữa thiên nhiên “đầy ắp” ngôn ngữ tạo hình, đường nét, hình khối,

    màu sắc của cỏ cây, hoa lá, mây trời, muôn thú tất cả đều lung linh, đẹp đẽ. Chúng không

    chỉ cho ta vật chất để sống mà từ cái đẹp đó đã đem lại cho con người những xúc cảm,

    tình cảm yêu đời, yêu người.

    Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức cái đẹp sẽ không ngừng

    được nâng cao, cái đẹp đã thực sự trở thành một động lực phát triển của xã hội, góp phần

    tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Cảm thụ cái đẹp để sống đẹp là mục tiêu của giáo dục,

    lấy những cái đẹp để giáo dục con người, như vậy: “Cái đẹp là cái đức”.

    Với nhiều lợi thế, môn Mĩ thuật sẽ tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả hơn

    các môn học khác, thể hiện ở khả năng quan sát, nhận xét, cách suy nghĩ, tìm tòi, sáng

    tạo, tư duy hình tượng và phương pháp làm việc khoa học sẽ góp phần hình thành phẩm

    chất của con người lao động trong thời kì CNH, HĐH đất nước.

    II. Lý do chọn đề tài.

    Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà

    nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến

    phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư

    duy của học sinh ở quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học

    sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và có được hứng thú trong giờ học. Một trong

    những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng

    tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật

    ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò

    quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết

    giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng

    hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng,

    nhớ sự vật lâu hơn.

    Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy

    môn Mĩ thuật ở tiểu học, sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan và

    mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm:

    ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp trực quan khi dạy học môn Mĩ thuật

    trong trường Tiểu học”.

    III. Mục đích nghiên cứu.

    Tôi suy nghĩ, nghiên cứu để viết đề tài: ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp

    trực quan khi giảng dạy môn Mĩ thuật trong trường Tiểu học” với mục tiêu tìm ra một

    số giải pháp tốt nhất góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Mĩ thuật của

    trường Tiểu học Hồng Châu – Thành phố Hưng Yên nói riêng và của ngành giáo dục nói

    chung; đó là mục đích để tôi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này.

    IV. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

    1. Đối tượng nghiên cứu.

    – Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật ở trường

    Tiểu học.

    2. Phạm vi nghiên cứu.

    – Học sinh từ khối lớp 1 đến khối lớp 5 Trường tiểu học Hồng Châu – Thành phố

    Hưng Yên và một số trường khác ở địa phương.

    + Trong trường :

    – Phân loại học lực của tất cả các học sinh.

    – Tìm hiểu thái độ học tập của học sinh.

    + Trường khác :

    – Tìm hiểu việc giảng dạy Mĩ thuật ở trường Tiểu học.

    – Kết quả hoạt động qua một số năm.

    V. Phương pháp nghiên cứu.

    a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu :

    Nghiên cứu qua các văn bản, chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương

    pháp dạy học môn Mĩ thuật.

    b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :

    – Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh.

    – Dự chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy môn

    Mĩ thuật.

    – Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.

    – Tìm giải pháp rút kinh nghiệm.

    – Cho HS hoạt động ngoài trời, thăm quan, toạ đàm.

    – Phương pháp thực nghiệm: dạy thí điểm ở một số lớp bằng phương pháp đang

    nghiên cứu.

    B- NỘI DUNG

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

    Dạy học môn Mĩ thuật trong nhà trường Phổ thông nói chung và ở Tiểu học nói

    riêng không nhằm mục đích đào tạo học sinh thành những hoạ sĩ hay những nhà nghiên

    cứu nghệ thuật chuyên nghiệp, mà là để giáo dục cho các em một thị hiếu thẩm mĩ cần

    thiết cho việc hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện, hài hoà: đó là khả năng

    biết cảm nhận cái đẹp và tạo ra cái đẹp – trước hết là cho chính các em, sau là cho gia

    đình và xã hội. Bên cạnh đó môn Mĩ thuật còn hỗ trợ các em ở các môn học khác, giúp

    các em phát triển toàn hiện, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng

    cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào tạo con

    người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Những năm qua giáo dục

    thẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn học

    độc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết bị

    riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo, kết quả học tập của học sinh được theo dõi

    và kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật đảm bảo cho

    các em có thể giải quyết được các bài tập hàng ngày và hiểu về vẻ đẹp, về nền Mĩ thuật

    truyền thống, ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các

    môn học khác như khả năng quan sát hay trình bày một bài văn, một bài toán sao cho

    khoa học, thẩm mĩ…. Tất cả những điều đó là từ phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học

    mỗi khi lên lớp của giáo viên dạy Mĩ thuật. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học lại là lứa

    tuổi tư duy còn đang ở độ thấp (tư duy cụ thể), cho nên khi sử dụng đồ dùng trực quan thì

    đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả năng tự giác tư duy trừu

    tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ

    đồ dùng trực quan lâu trong khi vận dụng làm bài thực hành.

    Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta

    phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong các

    phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Song, bên cạnh đó các phương pháp khác

    như: phương pháp quan sát, phương pháp thực hành, phương pháp trò chơi… phải luôn

    được kết hợp hài hoà, khoa học với phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học để mỗi giờ

    dạy học môn Mĩ thuật đạt chất lượng cao nhất.

    Đối với học sinh, vẽ là một trò chơi có sức hấp dẫn kì lạ ở mọi lứa tuổi. Các em có

    thể vẽ bất cứ lúc nào và vẽ bất cứ thứ gì. Những hình vẽ đầy sáng tạo của các em làm

    chúng ta từ ngạc nhiên đến cảm động, từ vui mừng đến hy vọng. Tuy nhiên, không phải

    em nào cũng thích vẽ, cũng mơ ước trở thành hoạ sĩ. Cho nên ngoài những phẩm chất Mĩ

    thuật vốn là mẫu số chung của mọi tác phẩm, để cảm thụ vẻ đẹp của tranh các em cần đặt

    chúng vào trong hoạt động tâm lý trẻ – quá trình phát triển của lứa tuổi, cá tính, giới tính.

    Thiếu nhi là lứa tuổi ham thích hoạt động, nhất là hoạt động tạo hình cùng với sự

    lớn lên của cơ thể, đặc điểm tâm lý trẻ bắt đầu hoàn thiện. Một số học sinh có nhu cầu

    thưởng thức các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, các công trình kiến trúc… Trong quá trình

    tìm hiểu, quan sát thiên nhiên, các em dần có ý thức về xa – gần, về không gian ba chiều.

    Đây chính là giai đoạn miêu tả tạo hình của một đối tượng. Nhờ thâm nhập vào đời sống

    xã hội, đời sống tinh thần của thiếu nhi, tôi nhận thấy ở lứa tuổi này, các hình ảnh trong

    tranh các em rất gần với bản chất thực của cuộc sống. Thời kì này đối với các em là một

    bước ngoặt trong sự phát triển nhân cách. Vì vậy trong đội ngũ các em học Mĩ thuật đã có

    sự phân hoá rõ rệt, các em vẽ hiện thực có so sánh, gần gũi với bản chất sự vật và bản

    chất cuộc sống. Các bài học thực hành không còn sơ lược nữa mà đi vào chi tiết, hình

    dáng, tỉ lệ, không gian ba chiều. Để có kết luận chặt chẽ, chính xác quá trình chuyển biến

    đó, để năng khiếu sơ khai phát triển thành năng khiếu hoàn thiện thì phải tổ chức dạy và

    học làm sao cho phù hợp với quy luật tâm lý của học sinh để duy trì và kích thích sự phát

    triển ở học sinh góp phần cho việc dạy và học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học hiệu quả

    hơn.

    Bên cạnh hiểu biết về tạo hình truyền thống, học sinh còn được mở rộng tầm nhìn

    ra Thế giới, các em được làm quen với các tác phẩm kiệt tác của các danh hoạ thế giới

    qua các thời kì lịch sử, các em được học vẽ từ những nét cơ bản nhất đến khi biết tạo ra

    sản phẩm của cái đẹp. Từ đó, các em càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của môn Mĩ

    thuật đối với cuộc sống và phục vụ các môn học khác. Các em sẽ thấy quý trọng các giá

    trị truyền thống của dân tộc. Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương

    pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phối hợp với học sinh một cách nhịp nhàng trong

    khi lên lớp, nhằm giúp học sinh từng bước nâng cao nhận thức làm cho tâm hồn các em

    trở nên phong phú, phát triển toàn diện nhân cách. Từ đó, bản thân tôi đã chọn nghiên

    cứu đề tài này.

    CHƯƠNG II – CƠ SỞ THỰC TIỄN

    Từ thực tế giảng dạy môn Mĩ thuật tôi thấy các em rất yêu thích Mĩ thuật, vì qua

    đó các được tiếp xúc, làm quen với một số tác phẩm hội hoạ nổi tiếng và của thiếu nhi

    không những ở trong nước mà cả của quốc tế. Các em được vẽ tranh, vẽ những gì mình

    mơ ước, mình yêu thích, tập trung trang trí góc học tập của mình,… Song bên cạnh việc

    giảng dạy cho học sinh tiếp thu tốt những kiến thức cơ bản đó thì tôi thấy còn gặp nhiều

    hạn chế như: nhận thức của phụ huynh học sinh chưa coi trọng môn học, còn cho rằng đó

    là môn phụ, cho nên đồ dùng học sinh còn thiếu thốn, ít đầu tư. Mặt khác một số giáo

    viên chưa có phương pháp dạy thích hợp để giúp học sinh thấy hết cái hay, cái đẹp của

    môn học, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn, tuy đã có phòng chức năng nhưng

    chỉ tạm thời. Vì phòng học chưa có đủ đồ dùng cần thiết để phục vụ môn học, bàn ghế

    – 99% học sinh thích học môn mĩ thuật, 1% không thích học do không có năng khiếu.

    – Học sinh vùng cận nông thôn hầu hết ít được tiếp xúc với Nghệ thuật nói chung và

    Mĩ thuật nói riêng nên còn hạn chế. Đặc biệt kiến thức để các em tìm hiểu cái đẹp, cái

    hay trong môn mĩ thuật lại chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu duy nhất đó là SGK và vở tập

    vẽ.

    – Quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về

    môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng .

    CHƯƠNG III – THỰC TRẠNG

    Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại

    trường Tiểu học Hồng Châu, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với

    tinh thần hăng say, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình

    thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên cạnh đó còn một số

    học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em

    còn chán nản không thích học vẽ. Tất cả những vấn đề trên đã ảnh hưởng lớn đến việc

    học Mĩ thuật của học sinh nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp để tìm ra nguyên

    nhân những HS thích học vẽ và không thích học vẽ, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục.

    Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tập trung chưa cao, nhận

    thức của các em mới là làm quen với những kiến thức ban đầu, kĩ năng vận dụng kiến

    thức vào thực hành còn yếu chưa chú ý đến vai trò của các bước thực hành khi vẽ tranh.

    Giờ học vẽ còn trầm, học sinh vẽ bài uể oải, chán nản, tiết học đạt hiệu quả không cao,

    nhiều học sinh không hoàn thành bài tại lớp. Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tiết dạy

    chưa thành công. Muốn khắc phục được điều đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ

    chương trình để có kế hoạch hướng dẫn cho học sinh. Không hướng dẫn chung chung với

    tất cả học sinh, cần có phương pháp riêng đối với từng đối tượng học sinh. Tổ chức tiết

    dạy sinh động, học sinh hứng thú làm bài đạt hiệu quả.

    Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng trực quan trong giảng dạy

    môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất.

    Số học sinh thích

    Lớp

    Sĩ số

    học

    Số học sinh không

    thích học môn Mĩ

    thuật

    TS

    %

    TS

    %

    1B

    29

    20

    68,9

    9

    31

    2A

    36

    26

    72,2

    10

    27,7

    3B

    21

    17

    80,9

    4

    19

    4A

    29

    22

    75,8

    7

    24,1

    5B

    18

    14

    77,7

    4

    22,2

    Ghi chú

    CHƯƠNG IV – GIẢI PHÁP

    Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan

    luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm

    của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh.

    Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể như: Yêu

    cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy khi nói đến việc

    chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn Mĩ thuật, ngoài việc cung

    cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho học

    sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng

    cho học sinh quan sát, phù hợp với nội dung bài giảng, còn có yêu cầu là phải đẹp để thu

    hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em

    học sinh yêu thích vật mẫu, bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu, làm phấn chấn

    tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mĩ

    cho học sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự

    chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học sinh nhìn rõ

    màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan đã được chuẩn bị đầy

    đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức mĩ thuật mà có những yêu cầu về trình

    bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng tư duy khai thác kiến thức triệt để ở

    mỗi học sinh.

    Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận thấy việc sử

    dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác nhau. Mà cụ thể được thể

    hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông

    qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí có em quan sát đồ dùng trực quan nhưng

    không hiểu hết tác dụng của đồ dùng đó, vì thế hiệu quả của bài vẽ không cao. Để khắc

    phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết, nhằm mục đích

    giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho các em học sinh biết tự khai

    thác nội dung bài giảng từ trực quan.

    Nói tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan mà đồ dùng trực quan không đủ với

    yêu cầu bài giảng hay không đúng với mục đích bài giảng hoặc đồ dùng sử dụng không

    phù hợp với trình tự giảng, thời gian sử dụng ngắn quá, nhiều đồ dùng quá trong một tiết

    dạy đều không đem lại không khí nghệ thuật trong giờ học mà còn có tác dụng tiêu cực

    đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của học sinh.

    Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật là việc làm ban đầu, việc

    làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó

    là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn

    bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục

    đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có tính thẩm mĩ, phải có cái hồn của

    sự vật. Và giáo viên chíng là người thổi hồn vào những sự vật ấy rồi chuyển tải đến học

    sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức

    thuyết phục đối với học sinh.

    Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ

    dùng trực quan để học sinh thực hành tốt.

    * Phương pháp so sánh :

    + Tổng số học sinh : 256 học sinh trước chưa thực hiện giải pháp kết quả đạt : A + =

    20%; A = 80%.

    + Thay đổi giải pháp kết quả đạt : A+ = 40%; A = 60%

    + Chỉ tiêu giao : A+ = 35%; A = 65%

    Vậy vượt chỉ tiêu : A+ = 10%;

    A = 15%

    Tôi tự thấy thay đổi giải pháp dạy môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học Hồng Châu theo

    cách của tôi đã nghiên cứu là phù hợp.

    *Các bước tiến hành:

    Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết

    trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan.

    Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác

    của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể)

    Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục

    đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình

    khối…Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ,

    …. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm.

    Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong

    một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh làm trung tâm, lấy mẫu, tranh ảnh thay

    tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai

    thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để,

    kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn.

    Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần quan sát, nhận xét sẽ phát

    huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu.

    Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em.

    * Kết quả thực hiện các giải pháp :

    Số học sinh thích

    Lớp

    Sĩ số

    học

    Số học sinh không

    thích học môn Mĩ

    thuật

    TS

    %

    TS

    %

    1B

    29

    29

    100

    0

    0

    2A

    36

    36

    100

    0

    0

    3B

    21

    21

    100

    0

    0

    4A

    29

    29

    100

    0

    0

    5B

    18

    18

    100

    0

    0

    Ghi chú

    Kết quả cuối năm 100% các em học sinh thích học Mĩ thuật, các em học tập với

    tinh thần hăng say và cũng thông qua việc giảng dạy rút kinh nghiệm của bản thân tôi

    nhận thấy đề tài này có những ưu điểm sau :

    – Về phía giáo viên: Giáo viên là người tổ chức, định hướng các hoạt động họp tập

    của HS; Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là phát huy tốt phương

    phương sử dụng trực quan một cách sáng tạo, hiệu quả. Từ đó, sau mỗi tiết giảng chất

    lượng học tập ngày một tốt hơn.

    – Về phía học sinh: Học sinh được chủ động quan sát, tư duy và sáng tạo. Các em

    biết tự khám phá những điều mới lạ trong bài học, theo cách nghĩ và cách hiểu của mình

    một cách độc lập tích cực, biết cảm nhận được những cái hay, cái đẹp từ những bài học

    cụ thể mà các em được học, được làm quen. Từ đó các em đã tạo ra những sản phẩm

    mang tính nghệ thuật đặc trưng của môn học và lứa tuổi.

    *Chứng minh những giải pháp trên :

    Để chứng minh những giải pháp trên tôi đưa ra một số tiết dạy mẫu như sau :

    Lớp 1

    Thứ năm, ngày 4 tháng 10 năm 2012

    Mĩ thuật

    Vẽ hoặc nặn quả dạng tròn

    A. Mục tiêu:

    – HS nhận biết các đặc điểm, hình dáng, màu sắc quả dạng tròn.

    – Vẽ hoặc nặn được quả dạng tròn.

    – Chăm sóc, bảo vệ cây xanh.

    * Hs khá giỏi: Vẽ hoặc nặn được một số quả dạng tròn có đặc điểm riêng.

    B. Chuẩn bị:

    Giáo viên

    – Tranh, ảnh về một số quả dạng

    tròn

    – Một số quả mẫu.

    Học sinh

    – Quả mẫu.

    – Vở tập vẽ.

    – Đồ dùng học vẽ.

    HS quan sát, tr¶ lêi:

    – Táo, cam, bưởi…

    GV yêu cầu quan sát tranh để nhận

    – Có dạng hình tròn.

    biết thêm một số quả có dạng tròn.

    – HS kể.

    HS quan sát.

    Hoạt động 2: Cách vẽ

    GV giảng kết hợp minh hoạ bảng:

    – Quan sát kĩ mẫu trước khi vẽ.

    – Vẽ hình dáng ngoài.

    – Vẽ chi tiết

    – Vẽ màu theo ý thích hoặc theo

    mẫu.

    HS quan sát, lắng nghe.

    Bước 1

    Bước 2+ 3

    Hoạt động 3: Thực hành

    GV hướng dẫn HS tự bầy mẫu HS bày mẫu vẽ bài.

    bằng quả của mình.

    GV quan sát, gợi ý cách bố cục.

    Hoạt động 4: Nhận xét đánh giá

    GV trưng bày và gọi HS nhận xét:

    – Quả gì?

    – Màu sắc?

    – Tìm bài mình thích.

    HS nhận xét bài bạn.

    * Dặn dò:

    – Quan sát cây cối.

    – Nhắc HS luôn có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây ăn quả, cây xanh.

    – Chuẩn bị bài giờ sau.

    A. Mục tiêu:

    – Nhận biết hình dáng chung và các bộ phận và vẻ đẹp của một số loại cá.

    – Biết cách vẽ và vẽ được con cá, vẽ màu theo ý thích.

    – Yêu thích con vật;Có ý thức bảo vệ và chăm sóc con vật.

    * HS khá, giỏi: Vẽ được một vài con cá và tô màu theo ý thích.

    B. Chuẩn bị:

    Giáo viªn

    Học sinh

    – Tranh ảnh về các loại cá.

    VTV

    – Hình hướng dẫn cách vẽ.

    Dụng cụ học vẽ.

    – Bài vẽ của HS năm trước

    C. Các hoạt động dạy học chủ

    yÕu:

    Hoạt động 1: Quan sát – nhận xét.

    GV giới thiệu cá, hỏi:

    – Con cá có hình dạng gì?

    HS quan sát, tr¶ lêi;

    – Có những bộ phận nào?

    – Gần tròn, quả trứng, thoi.

    – Màu sắc của cá?

    – Đầu, mình, đuôi..

    – Kể tên một số loại cá mà em

    biết ?

    – Nhiều màu.

    – HS kể.

    – Cá có tác dụng gì?

    – Để ăn, làm cảnh..

    Hoạt động 2: Cách vẽ.

    GV giảng minh hoạ cách vẽ.

    – Vẽ mình cá.

    – Vẽ đuôi.

    – Vẽ chi tiết

    – Vẽ màu theo ý thích

    HS quan sát:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Và Giám Sát Dự Án Toàn Diện (Phần 1)
  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Tự Nhiên & Xã Hội Lớp 2
  • Phương Pháp Quan Sát Dạy Môn Khoa Học Lớp 5
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Nghiên Cứu Thị Trường Thực Hiện Như Thế Nào?
  • Phương Cách Tự Nhiên Giúp Tăng Cơ Hội Thụ Thai
  • Một Số Phương Pháp Dạy Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Sử Dụng Phương Pháp Minh Hoạ Trực Quan Giúp Học Sinh Thực Hành Tốt Bài Vẽ Mĩ Thuật
  • Các Phương Pháp Thu Thập Phân Tích Công Việc
  • Nghiên Cứu Thị Trường Một Cách Thấu Đáo (P1)
  • Các Bước Và Quy Trình Nghiệm Thu Công Trình
  • Quy Trình Giám Sát, Nghiệm Thu Khi Xây Nhà
  • Phương pháp này rất tối ưu mà lâu nay trong nhà trường chỉ chú trọng trong các môn tự nhiên xã hội, sức khỏe, đạo đức…

     

    Phương pháp này thường sử dụng nhận xét phát thảo chọn họa tiết ước lượng, sáng tối đậm nhạt.

    b. Phương pháp quan sát:

    Nhằm tập cho các em thói quen quan sát làm giàu vốn biểu tượng kinh nghiệm sống của các em đó là tiền đề của tranh đề tài, tranh tự do được phong phú đa dạng và sinh động từ những yêu cầu thường xuyên giúp các em có thói quen quan sát hình thành trong trí nhớ vốn kiến thức giúp học sinh nhìn thấy cái hiện thực trong thiên nhiên, trong xã hội sau đó thể hiện chung trong bài vẽ của mình mang vẻ độc đáo riêng biệt.

    Phương pháp này có thể tổ chức cho lớp tham quan, dã ngoại, ngắm cảnh (nếu có điều kiện thì đưa hoạt động này vào những tiết ngoại khóa)

    c. Phương pháp trực quan:

    Trong tiết dạy phương pháp trực quan là phương pháp thường xuyên, là nghệ thuật thị giác giúp các em cảm thụ cái đẹp bằng mắt. Do đó người dạy mỹ thuật không thể thiếu đồ dùng trực quan. Có thể là tranh ảnh mẫu thực hoặc đồ vật thật.

    Chính vì vậy mà phương pháp quan sát và phương pháp trực quan là hành trình song song luôn hỗ trợ cho nhau giúp các em bồi dưỡng thêm vốn thẩm mỹ. 

    d. Phương pháp đàm thoại gợi mở:

    Giáo viên sử dụng phương pháp này một cách khéo léo thì sẽ tạo cho các em sự đam mê hứng thú và sáng tạo. Hướng các em phối hợp hành động bên ngoài và hành động bên trong chặt chẽ với nhau. Giúp các em thể hiện được bài vẽ và khả năng sáng tạo trong mọi tình huống

    e. Phương pháp luyện tập thực hành:

    Bất cứ bài vẽ nào thì phương pháp này đều được áp dụng sau khi đã nắm được các kiến thức một cách cụ thể về lý thuyết thì sẽ vận dụng và thể hiện bằng kỹ năng của mình qua bước thực hành. Nếu nắm lý thuyết mà không thực hành thì không biết kết quả đạt được của mình tới đâu. Ta biết rằng môn mỹ thuật ở tiểu học nói riêng và ở phổ thông nói chung không phải nhằm tạo cho các em trở thành họa sĩ mà giúp các em nắm được kỹ năng kỹ xảo thể hiện qua bức vẽ giáo viên luôn giúp đỡ các em trong bài thực hành.

    Nhằm để các em thể hiện hết khả năng tình cảm của mình vào bức vẽ sinh động sáng tạo hơn.

    Phương pháp này đều được áp dụng trong mỗi tiết học(trừ xem tranh)từ vẽ theo mẫu đến vẽ tranh hoặc vẽ trang trí  thì phương pháp thực hành được áp dụng chủ yếu. Đó là thông tin hai chiều mà ta có thể nói là thông tin ngược vì nó giúp cho người học thể hiện tài năng và sự tiếp thu của mình trong quá trình học. Người dạy cũng từ đó mà rút kinh nghiệm về bài dạy có hiệu quả hơn qua quá trình đánh giá chấm bài của các em.

    Tác giả: admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Giảng Dạy Môn Khoa Học Lớp 5”.
  • Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Symptothermal
  • Các Quy Tắc Của Phương Pháp Xã Hội Học
  • Hệ Thống Phần Mềm Giám Sát Nhân Viên Bán Hàng Dms.one
  • Quản Lý Kênh Phân Phối Hiệu Quả
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Thi Tội Phạm Học (Ul)
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/quan Sát
  • Một Số Công Cụ Đánh Giá Năng Lực
  • Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Quan Sát Trong Công Việc
  • Cách Rèn Luyện Khả Năng Quan Sát
  • 2. Quy trình thực hiện

    Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát

    Tuỳ theo nội dung học tập, GV sẽ chọn đối tượng quan sát phù hợp với trình độ HS và điều kiện địa phương.

    Bước 2: Xác định mục đích quan sát.

    Trong quá trình quan sát không phải lúc nào học sinh cũng rút ra được những đặc điểm của đối tượng. Vì vậy, với mỗi đối tượng, GV cần xác định mục đích của việc quan sát.

    Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn HS quan sát.

    – Có thể tổ chức cho HS quan sát cá nhân, quan sát theo nhóm hoặc cả lớp. Điều đó phụ thuộc vào số đồ dùng chuẩn bị được và năng lực quản lý của GV.

    – Sử dụng những câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh:

    + Quan sát tổng thể rồi mới đi đến bộ phận, chi tiết.

    + Quan sát từ bên ngoài rồi mới đi vào bên trong.

    + So sánh với các đối tượng cùng loại (mà các em đã biết) để tìm ra những đặc điểm giống nhau và khác nhau.

    Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát được về đối tượng.

    3. Ưu điểm:

    – HS được sử dụng phối hợp nhiều giác quan để tri giác sự vật, hiện tượng, hình thành được các biểu tượng, khái niệm cụ thể về hiện tượng

    – Tạo hứng thú học tập, phát triển khả năng tập trung, chú ý, óc tò mò khám phá khoa học.

    – Phát triển tư duy và nâng cao tính tự lực, tích cực của học sinh.

    4. hạn chế

    Không phải lúc nào cũng tìm được đối tượng quan sát phù hợp với nội dung học tập.

    5. Một số lưu ý

    – Đói với môn TN&XH đối tượng quan sát của HS không chỉ là tranh ảnh, mẫu vật, mô hình mà còn là khung cảnh gia đình, lớp học, cây cối, con người và một số sự vật, hiện tượng diễn ra hàng ngày trong tự nhiên và xã hội…Vì vậy GV có thể tổ chức cho HS quaqn sát ở trong lớp hay ngoài lớp( sân trường, vườn trường, các địa điểm xung quanh trường….) hay có thể đi xa hơn như công viên các vùng lân cận…

    – GV nên sử dụng đối tượng quan sát như là nguồn thi thức để tổ chức cho HS tin hành các hoạt động học tập, từng bước phát hiện ra kiến thức mới.

    – Để khắc phục việc Hs thường chỉ sử dụng thị giác để quan sát GV cần hướng dẫn các em huy động tối đa tất cả các giác quan để quan sát (trong trường hợp cụ thể). Như vậy, HS mới nhớ bài lâu và có những biểu tượng chính xác về các sự vật, hiện tượng.

    6. Ví dụ minh hoạ

    6.1. Lớp 1:

    Quan sát bầu trời – Bài 31 (SGK môn tự nhiên và xã hội 1)

    Bước 1: HS quan sát bầu trời

    Bước 2: sau khi quan sát, HS nhận xét bầu trời tại thời điểm quan sát và biết mô tả bầu trời bằng vốn từ của mình.

    Bước 3: GV tổ chức cho học sinh ra sân trường để các em quan sát bầu trời theo các câu hỏi gợi ý sau:

    + Nhìn lên bầu trời, các em có thấy những khoảng trời xanh và mặt trời không?

    + Trời hôm nay nhiều mây hay ít mây?

    + Những đám mây có màu gì? Chúng đứng yên hay chuyển động?

    + Em có thấy ánh nắng vàng chiếu xuống hoặc những giọt mưa rơi không?

    + Nhìn xung quanh, các em thấy sân trường, cây cối, mọi vật lúc này kho ráo hay ướt?

    Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát và mô tả bầu trời.

    6.2. Lớp 2

    Quan sát quang cảnh cuộc sống xung quanh – Bài 22 (SGK môn tự nhiên và Xã hội 2)

    Bước 1: HS quan sát tranh trang 46, 47 SGK

    Bước 2: Sau khi quan sát, HS nhận xét được tranh diễn tả cuộc sống ở thành thị và kể tên được một số nghề của người dân nơi đây.

    Bước 3: GV tổ chức cho HS quan sát tranh theo nhóm với các câu hỏi gợi ý sau:

    + Bức tranh ở trang 46, 47 diễn tả cuộc sống ở đâu? Vì sao em biết?

    + Kể tên nghề nghiệp của người dân nơi đây thể hiện qua các hình 2,3,4,5 trong bức tranh.

    + Em sống ở thành thị hay nông thôn, những nơi em sống thường làm nghề gì?

    Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát.

    6.3. Lớp 3

    Quan sát lá cây – Bài 45 (SGK môn Tự nhiên và Xã hội 3)

    Bước 1: HS quan sát là cây thật (do GV hoặc HS sưu tầm) hoặc các hình 1, 2, 3, 4 trang 86, 87 trong SGK.

    Bước 2: Sau khi quan sát, HS nêu được đặc điểm chung về cấu tạo ngoài của lá cây.

    Bước 3: Nhóm (4 – 6 HS) quan sát lá cây và hoàn thành bảng sau:

    Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày trước lớp kết quả thảơ luận của nhóm. GV kết luận: Lá cây có nhiều hình dạng và độ lớn khác nhau, thường có màu xanh lục, một số ít lá có màu đỏ hoặc vàng. Mỗi chiếc lá thường có cuống lá, phiến lá, trên chiếc lá có gân lá.

    (Nguồn: Bộ GD và ĐT)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giám Sát Nghiệm Thu Công Trình
  • Di Truyen Y Học Ebook Byt
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý
  • Chương 5: Phương Pháp Tâm Lý Học
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Đánh Giá
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên Và Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Phương Pháp Dạy Học Steam Thcs Như Thế Nào? Lợi Ích Là Gì?
  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Giáo Dục Stem
  • Qui Trình Và Phương Pháp Dạy Học Vần
  • Chuyên Đề Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Vnen Vao Phân Môn Tập Đọc
  • Phương pháp quan sát là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh sử dụng các giác quan để quan sát đối với các đối tượng trong tự nhiên và xã hội.

    Đối với môn Tự nhiên và xã hội đối tượng quan sát của học sinh không chỉ là tranh ảnh, mẫu vật, mô hình mà còn là khung cảnh gia đình, lớp học. cây cối, con người và một số sự vật, hiện tượng diễn ra hằng ngày trong tự nhiên và xã hội … Vì vậy giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát ở trong lớp học hay ngoài lớp ( sân trường, vườn trường, các địa điểm xung quanh trường …).

    Để khắc phục việc học sinh thường chỉ sử dụng thị giác để quan sát, cần hướng dẫn các em huy động tối đa tất cả các giác quan để quan sát ( trong trường hợp cụ thể ). Như vậy học sinh mới nhớ bài lâu và có những biểu tượng chính xác về các sự vật, hiện tượng.

    Lần lượt thực hiện các bước :

    Tùy theo nội dung học tập giáo viên sẽ chọn đối tượng quan sát phù hợp với trình độ học sinh và điều kiện địa phương.

    Trong quá trình quan sát không phải lúc nào học sinh cũng rút ra được những đặc điểm của đối tượng. Vì vậy, với mỗi đối tượng giáo viên cần xác định mục đích của việc quan sát .

    Có thể tổ chức cho học sinh quan sát cá nhân, quan sát theo nhóm hoặc cả lớp . Điều đó phụ thuộc vào số đồ dùng chuẩn bị được và năng lực quản lý của giáo viên.

    Sử dụng những câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh :

    – Quan sát tổng thể rồi mới đi đến bộ phận, chi tiết .

    – Quan sát từ bên ngoài rồi mới đi vào bên trong.

    – So sánh với các đối tượng cùng loại ( mà các em đã biết ) để tìm ra những đặc điểm giống nhau và khác nhau.

    Bước 4 : Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát được về đối tượng.

    Ví dụ minh họa : Lớp 1 : Quan sát bầu trời -Bài 31 ( Sách GK môn Tự nhiên và Xã hội 1) – Nhìn lên bầu trời, các em có thấy những khoảng trời xanh và mặt trời không ? – Trời hôm nay nhiều mây hay ít mây ? – Những đám mây có màu gì ? – Chúng đứng im hay chuyển động ? – Em có thấy ánh nắng vàng chiếu xuống hoặc những giọt mưa rơi không? – Nhìn xung quanh các em thấy sân trường, cây cối, mọi vật lúc này khô ráo hay ướt?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Sách ” Phương Pháp Dạy Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Phổ Thông”
  • Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn Spkt
  • Phương Pháp Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Ppdh Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Phương Pháp Quan Sát Dạy Môn Khoa Học Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Tự Nhiên & Xã Hội Lớp 2
  • Kiểm Soát Và Giám Sát Dự Án Toàn Diện (Phần 1)
  • Skkn Sứ Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Trong Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Môn Học Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Mới Ở Tiểu Học Đạt Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Đánh Giá
  • A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    – Bác Hồ đã từng dạy chúng ta: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Vì lẽ đó mà ngành giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta giao cho nhiệm vụ vô cùng quan trọng và rất vẻ vang đó là sự nghiệp trồng người.

    – Để thực hiện được mục tiêu của giáo dục Tiểu học và hướng học sinh phát triển toàn diện: Có đạo đức, có tri thức và có thể chất… Ngành giáo dục đã có những đổi mới về nội dung, chương trình cũng như phương pháp giảng dạy để góp phần cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    – Bên cạnh 02 môn Tiếng việt, Toán, môn Tự nhiên xã hội mà cụ thể là phân môn Khoa học chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Vì ngay từ lúc còn bé, thông qua học Khoa học ta đã ươm mầm cho trẻ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, biết sống, tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh môi trường sống quanh trẻ. Qua đó, ta hình thành cho trẻ đầy đủ của một nhân cách của một con người mới – con người xã hội Chủ nghĩa: Năng động, sáng tạo, bản lĩnh, tài năng.

    – Để làm được điều đó, mỗi giáo viên chúng ta phải có những biện pháp, phương pháp dạy học như thế nào nhằm phát huy được tính tích cực, tự giác của các em, tiết học khoa học được thực hiện theo phương châm: “Nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả, tránh được tính chất nặng nề, áp đặt học sinh”. Đó chính là những trăn trở, suy nghĩ và qua quá trình dạy học tôi đạ rút ra được vài kinh nghiệm, phương pháp giúp các em tích cực học khoa học lớp 5 và cũng vì thế tôi đã chọn đề tài: ” SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT VÀO VIỆC GIẢNG DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5″.

    B. NỘI DUNG:

    I/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:

    – Việc sử dụng phương pháp quan sát trong học tập khoa học lớp 5 đã tạo ra cho giáo viên và học sinh rất nhiều thuận lợi lẫn khó khăn trong việc dạy và học.

    1/ Thuận lợi:

    – Có khá đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ tốt cho tiết học với nhiều màu sắc, hình ảnh đẹp thu hút sự chú ý của học sinh.

    – Có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của các cấp trong việc thực hiện đổi mới giáo dục.

    – Học sinh Tiểu học rất thích quan sát, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh, ham học hỏi, năng động.

    – Phương pháp quan sát được sử dụng có hiệu quả ở rất nhiều chương, nhiều bài của môn khoa học cụ thể:

    + Chương I: Con người và sức khỏe (Từ bài 01 đến bài 21)

    Phương pháp quan sát giúp học sinh nhận biết được đặc điểm của cơ thể người từ lúc sơ sinh đến lúc trưởng thành, biết được biểu hiện của một số bệnh thường gặp và cách phòng bệnh, phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ thông qua tranh ảnh, SGK và thực hành thí nghiệm.

    + Chương II: Vật chất và năng lượng ( Từ bài 22 đến nài 50)

    Quan sát giúp học sinh nêu được đặc điểm và ứng dụng của những đồ vật thường dùng trong cuộc sống. Qua đó, các em so sánh, tổng hợp, phân tích để phân biệt những chất, vật liệu làm ra các đồ dùng trong cuộc sống hằng ngày.

    + Chương III: Thực vật và động vật ( Từ bài 51 đến bài 61)

    Quan sát giúp học sinh nhận biết được quá trình sinh sản và phát triển của thực vật, động vật cũng như sự sống của các loại động vật, thực vật mà giáo viên không phải giảng giải nhiều cho học sinh.

    + Chương IV: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên ( Từ bài 62 đến 70)

    Quan sát giúp học sinh biết được môi trường sống quanh trẻ, biết được những việc làm ảnh hưởng tốt xấu đến môi trường sống, biết được thực trạng môi trường sống hiện nay một cách dễ dàng.

    2/ Khó Khăn:

    – Một số đồ dùng dạy học chưa phù hợp, chưa đáp ứng đầy đủ cũng như chưa mang lại hiệu quả cao cho tiết học.

    – Dù hầu hết học sinh Tiểu học rất thích quan sát mọi vật xung quanh song một số ít học sinh lại ngại suy nghĩ, tìm tòi, phân tích, tổng hợp để xử lý thông tin sau quan sát.

    – Một số em chưa trình bày được kết quả quan sát do khả năng diễn đạt của các em chưa được tốt lắm.

    – Cách hướng dẫn học sinh quan sát của giáo viên còn một số hạn chế nhất định.

    – Phương pháp quan sát vận dụng ở một số bài học cũng gặp phải

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Quan Sát Trong Nghiên Cứu Thị Trường Thực Hiện Như Thế Nào?
  • Phương Cách Tự Nhiên Giúp Tăng Cơ Hội Thụ Thai
  • Chất Nhờn Của Nam Giới Có Tinh Trùng Không?
  • Đôi Điều Phương Pháp Tự Nhiên Rụng Trứng Billings
  • Giám Sát Nhân Viên Bán Hàng
  • Một Vài Kinh Nghiệm Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Môn Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Hành Vi Khách Hàng Là Gì? Cách Phân Tích Hành Vi Khách Hàng
  • Học Tập, Thực Hành Khám Nghiệm Hiện Trường Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ
  • Thực Hiện Phương Pháp Quan Sát
  • Bai Giang Dien Tu Di Truyen Y Hoc
  • Kinh Nghiệm Giám Sát Nghiệm Thu Công Trình
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO VẠN NINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VẠN PHÚ 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT VÀI KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT BẬC TIỂU HỌC Tên tác giả : Nguyễn Thùy Vinh Giáo viên Tổng phụ trách Năm học : 2013-2014 Đặt vấn đề Lí do chọn đề tài Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư duy của học sinh ở quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và có được hứng thú trong giờ học. Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan và mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn Mĩ thuật Bậc tiểu học II . Đặc điểm tình hình 1. Thuận lợi - khó khăn 1.1 . Thuận lợi . Trường tiểu học Vạn Phú 2 có cơ sở vật chất; đồ dùng dạy học cơ bản đầy đủ cho việc dạy và học . Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện giúp đỡ về đồ dùng dạy học , đồng thời phân bố thời gian giảng dạy hợp lý . 1.2 . Khó khăn . Quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng . 2 . Nguyên nhân . Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại trường Tiểu học Vạn Phú 2, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp xem có bao nhiêu em thích học vẽ và không thích học vẽ để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. Chúng ta đã biết việc sử dụng đồ dùng trực quan tốt ở tiết giảng sẽ phát huy được sự tham gia của nhiều giác quan. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học lại là lứa tuổi tư duy còn đang ở độ thấp (tư duy cụ thể), cho nên khi sử dụng đồ dùng trực quan thì đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả năng tự giác tư duy trừu tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ đồ dùng trực quan lâu trong khi vận dụng làm bài thực hành. Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong các phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Như chúng ta đã biết, một tiết dạy Mĩ thuật có đồ dùng trực quan được khai thác triệt để sẽ bồi dưỡng và phát triển cho các em lòng ham thích, say mê học tập và đáp ứng yêu cầu, mục đích của bài. Khi các em biết khai thác đồ dùng trực quan độc lập các em sẽ nắm được các yếu tố tạo nên vẻ đẹp trong môn Mĩ thuật, ngoài ra còn phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo tốt hơn. Cho nên việc đổi mới phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là một nhu cầu tất yếu của quá trình dạy học và cũng là để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trên bục giảng. Hiện nay ở các trường tiểu học, nhìn chung đã có đủ giáo viên dạy chuyên môn Mĩ thuật. Do vậy trong mỗi bài giảng việc nghiên cứu áp dụng sử dụng đồ dùng trực quan luôn là vấn đề mà các giáo viên chuyên Mĩ thuật quan tâm để cho chất lượng của môn mĩ thuật ngày một được nâng cao. Qua nhiều năm thực tế giảng dạy, cùng với nghiên cứu các tài liệu nói về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan; Tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn mĩ thuật nhìn mặt bằng chung là chưa cao. Đặc biệt là vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan còn chưa nhiều hoặc có sử dụng đồ dùng trực quan nhưng học sinh lại không khai thác kiến thức cơ bản từ đồ dùng trực quan mà vẫn thụ động quan sát đồ dùng. Tại một số lớp các trường lân cận tôi có dịp được tiếp xúc với các em học sinh và được biết các em rất thích học có đồ dùng trực quan. Nhưng qua thí điểm dạy cụ thể bằng các phương pháp sử dụng đồ dùng khác nhau tôi đã nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trong một tiết dạy mà giáo viên xử lý dữ kiện của bài soạn với đồ dùng không đúng thì đồ dùng đó cũng vô tác dụng. Hay sử dụng đồ dùng để minh hoạ cũng vậy, nếu không để học sinh khai thác một cách tự nhiên thì cũng không có hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. Dạy Mĩ thuật nói chung góp phần mở rộng môi trường mĩ thuật cho xã hội để mọi người đều hướng tới cái đẹp và thưởng thức cái đẹp từ đó giúp cuộc sống của con người phong phú hơn, đẹp hơn. III. Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật ở trường Tiểu học. 2. Đối tượng nghiên cứu. Học sinh tiểu học _ Trường tiểu học Vạn Phú 2 B. Những vấn đề cần giải quyết 1. Xác định phân môn trong chương trình. Chương trình mĩ thuật bậc tiểu học bao gồm : - Vẽ theo mẫu - Vẽ tranh theo đề tài - Vẽ trang trí - Tập nặn tạo dáng - Thường thức mĩ thuật 2. Thực trạng tình hình học tập của học sinh Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tập trung chưa cao, nhận thức của các em mới là làm quen với những kiến thức ban đầu, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực hành còn yếu chưa chú ý đến vai trò của các bước thực hành khi vẽ tranh. Giờ học vẽ còn trầm, học sinh vẽ bài uể oải, chán nản, tiết học đạt hiệu quả không cao nhiều học sinh không hoàn thành bài (kêu là khó, không biết vẽ). Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tiết dạy chưa thành công. muốn khắc phục được điều đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ chương trình để có kế hoạch hướng dẫn cho học sinh. Không hướng dẫn chung chung với tất cả học sinh, cần có ý định trong từng đối tượng học sinh. Tổ chức tiết dạy sinh động, học sinh hứng thú làm bài đạt hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. 3. Phương pháp thực hiện Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh. Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể như: Yêu cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy khi nói đến việc chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn Mĩ thuật, ngoài việc cung cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng cho học sinh quan sát, phù hợp với nội dung bài giảng còn có yêu cầu là phải đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em học sinh yêu thích vật mẫu bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu, làm phấn chấn tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học sinh nhìn rõ màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan đã được chuẩn bị đầy đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức mĩ thuật mà có những yêu cầu về trình bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng tư duy khai thác kiến thức triệt để ở mỗi học sinh. Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác nhau. Mà cụ thể được thể hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí có em chỉ quan sát đồ dùng trực quan như một vật không tác dụng, các em hoàn toàn không nắm được, không thâu tóm được nội dung chính của bài qua đồ dùng. Để khắc phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết, nhằm mục đích giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho các em học sinh biết tự khai thác nội dung bài giảng từ trực quan. Nói tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan mà đồ dùng trực quan không đủ với yêu cầu bài giảng hay không đúng với mục đích bài giảng hoặc đồ dùng sử dụng không phù hợp với trình tự giảng, thời gian sử dụng ngắn quá, nhiều đồ dùng quá trong một tiết dạy đều không đem lại không khí nghệ thuật trong giờ học mà còn có tác dụng tiêu cực đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của học sinh. 4. Vấn đề cần giải quyết Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật là việc làm ban đầu, việc làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có thẩm mĩ. Từ những vật tĩnh, những vật vô tri, vô giác giáo viên phải thổi vào đó cái hồn của sự vật và phải là người truyền cái hồn của sự vật đến từng học sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức thuyết phục đối với học sinh. Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ dùng trực quan để học sinh thực hành tốt. 5 - Phương pháp tiến hành 5.1. Biện pháp tiến hành Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan. Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể) Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình khối...Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ,. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm. Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh làm trung tâm, lấy mẫu, tranh ảnh thay tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để, kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn. Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần quan sát, nhận xét sẽ phát huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em. 5.2. Kết luận sau khi tiến hành: - Để giúp học sinh làm tốt một bài vẽ trước tiên giáo viên phải trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học như hình mảng, màu sắc, bố cục, đường nét ... - Nắm chắc các phân môn trong môn mĩ thuật về cách quan sát, cách vẽ cũng như cách thực hiện. - Đối với giáo viên phải chuẩn bị tốt về giáo án, đồ dùng trực quan. - Khi sử dụng trực quan phải có ngôn ngữ giảng giải, thuyết trình phù hợp với đồ dùng trực quan. - Đồ dùng sử dụng không nên dễ dãi, không có chọn lọc hoặc nhiều quá làm cho đảo lộn nhận thức của học sinh. - Ví dụ: Bài 4. Vẽ theo mẫu: Khối hộp và khối cầu - Mẫu có dạng hình trụ và hình cầu Giáo viên cần sử dụng vật thật ( trực quan) có thể sử dụng kết hợp nhiều PPDH trong bài học như phương pháp quan sát, trực quan, giảng giải- minh hoạ, thực hành Giáo viên có thể tổ chức cho học làm việc theo nhóm,các nhóm tự chọn và bày mẫu (mẫu đã được chuẩn bị trước). Sau khi các nhóm bày mẫu xong, giáo viên phân tích cái được và chưa được cần điều chỉnh lại cho đẹp. Qua đó học sinh hiểu được để có mẫu như thế nào? Có mẫu đẹp chưa mà cần phải đặt như thế nào để có bố cục đẹp? Hình a hình b Hình c hình d Hình a. bố cục loãng Hình b.bố cục thu hẹp Hình c. bố cục không thuận mắt Hình d. bố cục đẹp, thuận mắt. Sau khi đã bày mẫu, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh quan sát nhận ra đặc điểm, hình dáng, màu sắc và cấu trúc hình thể của từng vật mẫu và so sánh sự khác nhau giữa các vật mẫu về hình dáng, màu sắc, tỉ lệ ( quan sát nhóm mẫu mà học sinh sẽ thực hiện bài vẽ ) + Những đồ vật hình trụ là những đồ vật có hình dạng như thế nào ? Kể tên một số đồ vật có dạng hình trụ ? + Hãy kể tên một số đồ vật có dạng hình cầu ? + Miêu tả những màu sắc, chất liệu sẵn có trên mẫu ? + So sánh tỉ lệ của hình cầu và hình trụ ? Bước này giáo viên vần hướng dẫn học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết. Sau khi quan sát nhận ra đặc điểm riêng của từng vật mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh quy nhóm mẫu vào khung hình chung theo tỉ lệ chiều ngang, chiều cao ( lấy chiều cao của đồ vật cao nhất, chiều ngang tính từ vật nằm bên trái qua phải ), sắp đặt khung hình chung lên giấy vẽ sao cho cân đối đẹp mắt ( không quá to, quá nhỏ, lệch lên lệch xuống hoặc lệch sang trái sang phải.) giáo viên có thể dùng đồ dùng trực quan để minh hoạ cho các dạng bố cục đó để học sinh nhận ra thế nào là bố cục đẹp và chưa đẹp. Sau khi xác định được khung hình chung, giáo viên cần hướng học sinh tiến hành phác khung hình riêng của từng vật mẫu. Quan sát, so sánh tỉ lệ của từng vật mẫu để có hình vẽ chính xác với đặc điểm của mẫu. Khi hình dáng chung của từng mẫu vật đã được xây dựng, tiến hành chỉnh hình cho đúng với đặc điểm của mẫu. Quan sát, so sánh các bộ phận của mẫu để điều chỉnh vẽ cho đúng. Chú ý đến nét vẽ có chỗ đậm, chỗ nhạt dựa trên cơ sở ánh sáng chiếu vào mẫu vật. Không nên viền chu vi của hình vẽ bằng nét có độ đậm đều nhau làm cho hình vẽ trở nên khô cứng. Khi hình vẽ được chỉnh sửa, tiếp tục quan sát, so sánh độ đậm nhạt lớn trên mẫu để phân chia các mảnh đậm nhạt trên hình vẽ và gợi đậm nhạt bằng các nét đan xen nhau, chồng lên nhau. Trên cơ sở các mảng đậm nhạt lớn điều chỉnh, đẩy sâu, nhấn đậm nhạt một số chi tiết cần thiết để bài vẽ hoàn chỉnh. Vẽ đậm nhạt cần chú ý đến nguồn ánh sáng chiếu vào để diễn tả cho đúng. Sau phần hướng dẫn chung giáo viên cho học sinh thực hành bài vẽ. Trong khi thực hành giáo viên đến từng nhóm để hướng dẫn cá nhân thực hiện bài vẽ cho đúng các bước tiến hành. Tiến trình một bài Vẽ theo mẫu Lớp 5 VẼ THEO MẪU MẪU CÓ DẠNG HÌNH TRỤ VÀ HÌNH CẦU I.MỤC TIÊU : Kiến thức: Học sinh nhận biết được các vật mãu có dạng hình trụ và hình cầu. Kỹ năng: Học sinh biết các vẽ và vẽ được hình gần giống mẫu. Thái độ: Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của vật mẫu và thích quan tâm, tìm hiểu các đồ vật xung quanh. II.CHUẨN BỊ: 1.Giáo viên: -SGK, SGV -Một vài mẫu vẽ có dạng hình trụ, hình cầu khác nhau. -Hình gợi ý cách vẽ -Bài vẽ mẫu có dạng hình trụ, hình cầu của học sinh năm trước 2. Học sinh: -Giấy vẽ hoặc vở thực hành. -Bút chì, tẩy, màu. 3. Phương pháp: Quan sát, gợi mở, vấn đáp, thực hành - luyện tập. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CHỦ YẾU: 1. ổn định: 2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra đồ dùng học vẽ. Nhận xét kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới : a.Giới thiệu bài : GV đưa vật mẫu lên và hỏi: -Những vật này là gì ? ( hộp sữa và quả cam, cái cốc, quả bóng ) -Những vật này có dạnh hình gì ? ( hình trụ và hình cầu ) Hôm nay chúng ta cùng thực hành vẽ mẫu có dạng hình trụ và hình cầu. b. Các hoạt động dạy-học Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Hoạt động 1: Quan sát, nhận xét: -GV giới thiệu một số vật mẫu có dạng hình trụ đã được chuẩn bị ( cái ca, cái chai, quả táo,quả cà) -GV và HS bày vật mẫu ở nhiều vị trí khác nhau gợi ý để học sinh tìm ra bố cục hợp lý. +Bố cục nào đẹp? Vì sao? +Mẫu gồm những vật gì? +Hình dáng của vật ra sao? -Ở mỗi góc nhìn khác nhau mẫu sẽ có bố cục, tỉ lệ khác nhau. +Khung hình chung của vật mẫu? +Hướng ánh sáng chiếu tới? So sánh độ đậm nhạt của hình trụ và hình cầu? Hoạt động 2: Hướng dẫn cách vẽ: -Vẽ khung hình chung. -Vẽ khung hình riêng của từng vật mẫu: ( đặc điểm, chiều cao, chiều ngang ) -Vẽ phác hình: theo tỉ lệ đã ước lượng bằng các nét thẳng mờ. -Vẽ chi tiết: trên những nét đã phác vẽ các nét chi tiết ( nét cong ) Chú ý điều chỉnh cho giống mẫu hơn Vẽ luôn những nét khuất nhằm để kiểm tra độ chính xác của mẫu, sau đó tẩy đi. Hoạt động 3: Hướng dẫn HS làm bài: -GV cho HS xem một số bài vẽ tĩnh vật có 2 vật mẫu có dạng tương tự. -GV hướng dẫn HS quan sát mẫu, ước lượng tỉ lệ khung hình chung, riêng, cách phác nét vẽ hình. -Vẽ màu theo ý thích hoặc vẽ đậm nhạt -GV theo dõi giúp đỡ HS Hoạt động 4: Nhận xét - đánh giá: -Trưng bày một số bài đã vẽ xong, gợi ý HS nhận xét về bố cục, nét vẽ, hình vẽ theo cảm nhận riêng. -GV nhận xét, góp ý Hoạt động 5: Củng cố dặn dò: -HS quan sát +Hình cầu che khuất một phần nhỏ của hình trụ. Bố cục như vậy bài vẽ có trong có ngoài, có sự liên kết chặt chẽ hơn. +Cái ca và quả +Hình trụ và hình cầu. +Hình chữ nhật đứng ( học sinh trả lời theo quan sát được ) HS nhìn mẫu so sánh chiều ngang, chiều cao của vật mẫu ( để vẽ giấy ngang hay dọc ) HS tìm đặc điểm riêng của từng vật mẫu và so sánh chiều cao và chiều ngang của 2 vật mẫu -HS quan sát rút kinh nghiệm -HS thực hành -HS nhận xét theo cảm nhận riêng 6. Hiệu quả đề tài: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. C. Kết luận Phương pháp dạy học là phạm trù rộng trong việc nghiên cứu giáo dục. Mỗi giáo viên có những ưu thế riêng của mình trong cách dạy và thực hiện phương pháp. Với bản thân trải qua những năm giảng dạy, tôi đã rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong giảng dạy của mình và của đồng nghiệp. Song tôi luôn suy nghĩ đảm bảo chất lượng cho học sinh ngoài kinh nghiệm của mình, tôi không ngừng học hỏi các đồng nghiệp để nâng cao tay nghề đáp ứng với sự nghiệp giáo dục trong xã hội hiện nay. 1.Kết quả đạt được: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. Việc học tập của các em đã có chuyển biến rõ rệt . Cuối HKI học sinh đạt được những kết quả khả quan, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học qua từng giai đoạn. Kết quả cụ thể như sau: Các giai đoạn KhốiLớp TSHS HT tốt ( A+ ) HT ( A ) Chưa hoàn thành SL TL% SL TL% TS TL% GHKI 5 102 14 14% 88 86% 0 0 HKI 26 25% 76 75% 0 0 MỘT SỐ BÀI VẼ CỦA HỌC SINH 2.Đúc kết nội dung, kinh nghiệm : Các hình thức, phương pháp dạy học phong phú, linh hoạt tránh sự nhàm chán cho học sinh Khẳng định sử dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy đạt hiệu quả cao. Bài học kinh nghiệm: Để đạt được hiệu quả tốt sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Mĩ thuật, bả

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Quan Sát Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Quan Sát
  • Phương Pháp Điều Trị Thoái Hóa Khớp Gối Bằng Chất Nhờn
  • Phương Pháp Creighton / The Creighton Model Fertilitycare™ System
  • Báo Giá Các Thiên Hà An Toàn Siêu Mềm Diy Không Độc Hại Ngộ Nghĩnh Giải Tỏa Căng Thẳng Trong Suốt Đám Mây Chất Nhờn Đồ Chơi Trẻ Em 3D Nhiều Màu Sắc Giáo Dục Chỉ 270.442₫
  • Điều Hoà Sinh Sản Theo Phương Pháp Tự Nhiên
  • Phương Pháp Quan Sát Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Về Phương Pháp Quan Sát
  • Tài Liệu Dịch: “thiết Kế Nghiên Cứu Hỗn Hợp”
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sức Khỏe
  • Đề Cương Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Tmu
  • Đề Cương Học Phần Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Có Đáp Án Và Các Học Liệu Tmu
  • 1. Phương pháp quan sát khoa học

    1.1. Khái niệm

      Quan sát với tư cách là PPnghiên cứu khoa học là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch đợc tiến hành một cách có hệ thống. Đây là một trong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là con đường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn.
      Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít.
      Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.

    √ Quan sát trong nghiên cứu khoa học thực hiện ba chức năng:

      Chức năng thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất.
      Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có.
      Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn.(Đối chiếu lý thuyết với thực tế)

    √ Đặc điểm quan sát sư phạm:

    Bất cứ quan sát nào cũng được tiến hành do một chủ thể sử dụng để nhận thức một đối tượng xác định, trong một thời gian, một không gian, với mục đích và bằng một phương tiện nhất định. Vì vậy, quan sát sư phạm có những sau đây:

      Đối tượng quan sát là hoạt động sư phạm phức tạp của một cá nhân, hay một tập thể. Bản thân cá nhân hay tập thể đó lại có những đặc điểm đa dạng về năng lực hay trình độ phát triển. Nội dung hoạt động sư phạm càng phức tạp, có những hình thức phong phú, thì quá trình quan sát càng khó khăn, càng phải công phu hơn.
      Chủ thể quan sát là nhà khoa học hay cộng tác viên. Đã là con người thì đều mang tính riêng tư, đó là tính chủ quan. Chủ quan ở trình độ, kinh nghiệm, ở thế giới quan, ở cảm xúc tâm lí. Sự quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan của “cái tôi” ngay cả khi sử dụng kĩ thuật hiện đại để quan sát. Mặt khác còn chi phối bởi quy luật ảo giác của cảm giác, tri giác trong hoạt động nhận thức.
      Kết quả quan sát dù khách quan đến mấy vẫn phụ thuộc vào việc xử lý các thông tin của người nghiên cứu, do đó cần được lựa chọn theo các chuẩn nhất định, được xử lí bằng toán học hay theo một lí thuyết nhất định.
      Để nhận được thông tin theo mục đích nghiên cứu cần phải lập một kế hoạch và chương trình quan sát tỉ mỉ.

    1.2. Các công việc quan sát khoa học

    1. Xác định đối tượng quan sát, mục đích quan sát.

    Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng như người đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát. Nghĩa là cần trả lời câu hỏi: Quan sát để làm gì?

    Ví d: Cùng một công việc là quan st sự học tập của một lớp học sinh. Nếu với mục đích là quan sát sự chú ý của học sinh trong lớp học thì các quan sát sẽ tập trung chủ yếu vào học sinh. Nhưng, nếu với mục đích là quan sát phương pháp dạy của thầy sao cho thu hút sự chú ý của học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở người thầy, các dữ liệu của học sinh (ánh mắt, nét mặt…) là để chứng minh cho việc ghi chép hoạt động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.

    2. Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát

    Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái gì. Nếu mục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát. Căn cứ vào qui mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiện quan sát.

    3. Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát

      Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát.
      Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu. Có thể gọi đây là phần yêu cầu ghi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc. Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể, sao cho người đi quan sát có thể đo, đếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc không (không mang tính chất nhận định cá nhân).Ví dụ:+ Bao nhiêu học sinh phát biểu ý kiến?+Thầy có thực hiện bước mở bài không? v.v…Tránh những câu hỏi không đếm được, ví dụ:+Học sinh có chú ý nghe giảng không?+Thầy giảng có nhiệt tình không?

    4. Tiến hành quan sát

    Trước khi tiến hành quan sát, chủ nhiệm đề tài cần tập huấn cho các thành v về cách quan sát và ghi chép. Ghi chép kết quả quan sát, có thể bằng các cách:

      Ghi nhật kí, theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sự kiện.
      Ghi âm, chụp ảnh, quay phim các sự kiện.

    Sau khi quan sát xong cân phải kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách:

      Trò chuyện vơí những người tham gia tình huống.
      Quan sát lặp lại lần thứ hai nhiều lần nếu thấy cần thiết.
      Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kết quả.
      Quan sát là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng giáo dục. Quan sát có thể tiến hành trong điều kiện tự nhiên với hoàn cảnh đang có thường ngày. Quan sát có thể thực hiện bằng cách tạo ra các tình huống khác thường, trong các hoạt động được tổ chức có định hướng, qua đó đối tượng tự bộc lộ bản chất rõ ràng hơn.

    Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu mã hóa, phân tích để đi đến một nhận định khoa học. (phần này được trình bày rõ ở phần phương pháp xử lý thông tin) Tóm lại phương pháp quan sát đối tượng giáo dục giúp ta có được những thông tin thực tiễn có giá trị. Quan sát cần được chuẩn bị cẩn thận, các tài liệu cần được xử lí khách quan.

    1. Quan sát sân trường để đánh giá chủ trương của nhà trường và ý thức của học sinh về vệ sinh môi trường giáo dục.

    2. Quan sát thầy (cô) giảng trong một tiết học để nhận xét các cách mà thầy (cô) thể hiện nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài học.

    3. Quan sát một lớp học để có nhận xét về bầu không khí học tập của lớp ấy.

    4. Quan sát để đánh giá sơ bộ chất lượng một buổi tự học của bạn mình (hoặc em mình, anh mình) ở kí túc xá (hoặc ở nhà).

    5. Quan sát một buổi học của sinh viên một lớp học nào đó (hoặc lớp mình) để sơ bộ đánh giá kỉ cương học tập của lớp.

    6. Quan sát việc học tập của sinh viên tại phòng đọc của thư viện để nhận xét về thư viện, về tình hình sinh viên sử dụng thư viện.

    Chú ý: Cần tập trung vào nội dung của phiếu quan sát (tức là yêu cầu người quan sát ghi cái gì). Mỗi đề tài quan sát với mục đích trên, viết ít nhất bốn yêu cầu dưới dạng câu hỏi.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đẩy Mạnh Nghiên Cứu Khoa Học Quân Sự Ở Học Viện Quốc Phòng
  • Phương Pháp Phân Tích Luật Viết
  • Đề Cương Ôn Thi Môn Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Những Quan Trọng Về Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khoa Học Luật Hành Chính Và Môn Học Luật Hành Chính Việt Nam
  • Phương Pháp Quan Sát Khoa Học – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính
  • Nghiên Cứu So Sánh – Massei.org
  • Nghiên Cứu Khoa Học Trong Sinh Viên
  • Hội Thảo: “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sức Khỏe: Kỹ Thuật Chọn Mẫu Và Cỡ Mẫu”
  • Lý Thuyết Hệ Thống Và Ứng Dụng Trong Hệ Thống Thông Tin
  • 1. Phương pháp quan sát khoa học

    1.1. Khái niệm

    • Quan sát với tư cách là PPnghiên cứu khoa học là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch đợc tiến hành một cách có hệ thống. Đây là một trong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là con đường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn.
    • Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít.
    • Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.

    √ Quan sát trong nghiên cứu khoa học thực hiện ba chức năng:

    • Chức năng thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất.
    • Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có.
    • Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn.(Đối chiếu lý thuyết với thực tế)

    √ Đặc điểm quan sát sư phạm:

    Bất cứ quan sát nào cũng được tiến hành do một chủ thể sử dụng để nhận thức một đối tượng xác định, trong một thời gian, một không gian, với mục đích và bằng một phương tiện nhất định. Vì vậy, quan sát sư phạm có những sau đây:

    • Đối tượng quan sát là hoạt động sư phạm phức tạp của một cá nhân, hay một tập thể. Bản thân cá nhân hay tập thể đó lại có những đặc điểm đa dạng về năng lực hay trình độ phát triển. Nội dung hoạt động sư phạm càng phức tạp, có những hình thức phong phú, thì quá trình quan sát càng khó khăn, càng phải công phu hơn.
    • Chủ thể quan sát là nhà khoa học hay cộng tác viên. Đã là con người thì đều mang tính riêng tư, đó là tính chủ quan. Chủ quan ở trình độ, kinh nghiệm, ở thế giới quan, ở cảm xúc tâm lí. Sự quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan của “cái tôi” ngay cả khi sử dụng kĩ thuật hiện đại để quan sát. Mặt khác còn chi phối bởi quy luật ảo giác của cảm giác, tri giác trong hoạt động nhận thức.
    • Kết quả quan sát dù khách quan đến mấy vẫn phụ thuộc vào việc xử lý các thông tin của người nghiên cứu, do đó cần được lựa chọn theo các chuẩn nhất định, được xử lí bằng toán học hay theo một lí thuyết nhất định.
    • Để nhận được thông tin theo mục đích nghiên cứu cần phải lập một kế hoạch và chương trình quan sát tỉ mỉ.

    1.2. Các công việc quan sát khoa học

    1. Xác định đối tượng quan sát, mục đích quan sát.

    Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng như người đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát. Nghĩa là cần trả lời câu hỏi: Quan sát để làm gì?

    Ví d: Cùng một công việc là quan st sự học tập của một lớp học sinh. Nếu với mục đích là quan sát sự chú ý của học sinh trong lớp học thì các quan sát sẽ tập trung chủ yếu vào học sinh. Nhưng, nếu với mục đích là quan sát phương pháp dạy của thầy sao cho thu hút sự chú ý của học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở người thầy, các dữ liệu của học sinh (ánh mắt, nét mặt…) là để chứng minh cho việc ghi chép hoạt động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.

    2. Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát

    Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái gì. Nếu mục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát. Căn cứ vào qui mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiện quan sát.

    3. Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát

    • Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát.
    • Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu. Có thể gọi đây là phần yêu cầu ghi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc. Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể, sao cho người đi quan sát có thể đo, đếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc không (không mang tính chất nhận định cá nhân).Ví dụ:+ Bao nhiêu học sinh phát biểu ý kiến?+Thầy có thực hiện bước mở bài không? v.v…Tránh những câu hỏi không đếm được, ví dụ:+Học sinh có chú ý nghe giảng không?+Thầy giảng có nhiệt tình không?

    4. Tiến hành quan sát

    Trước khi tiến hành quan sát, chủ nhiệm đề tài cần tập huấn cho các thành v về cách quan sát và ghi chép. Ghi chép kết quả quan sát, có thể bằng các cách:

    • Ghi theo phiếu in sẵn
    • Ghi biên bản
    • Ghi nhật kí, theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sự kiện.
    • Ghi âm, chụp ảnh, quay phim các sự kiện.

    Sau khi quan sát xong cân phải kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách:

    • Trò chuyện vơí những người tham gia tình huống.
    • Quan sát lặp lại lần thứ hai nhiều lần nếu thấy cần thiết.
    • Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kết quả.
    • Quan sát là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng giáo dục. Quan sát có thể tiến hành trong điều kiện tự nhiên với hoàn cảnh đang có thường ngày. Quan sát có thể thực hiện bằng cách tạo ra các tình huống khác thường, trong các hoạt động được tổ chức có định hướng, qua đó đối tượng tự bộc lộ bản chất rõ ràng hơn.

    5. Xử lí

    Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu mã hóa, phân tích để đi đến một nhận định khoa học. (phần này được trình bày rõ ở phần phương pháp xử lý thông tin) Tóm lại phương pháp quan sát đối tượng giáo dục giúp ta có được những thông tin thực tiễn có giá trị. Quan sát cần được chuẩn bị cẩn thận, các tài liệu cần được xử lí khách quan.

    Bài tập

    1. Quan sát sân trường để đánh giá chủ trương của nhà trường và ý thức của học sinh về vệ sinh môi trường giáo dục.

    2. Quan sát thầy (cô) giảng trong một tiết học để nhận xét các cách mà thầy (cô) thể hiện nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài học.

    3. Quan sát một lớp học để có nhận xét về bầu không khí học tập của lớp ấy.

    4. Quan sát để đánh giá sơ bộ chất lượng một buổi tự học của bạn mình (hoặc em mình, anh mình) ở kí túc xá (hoặc ở nhà).

    5. Quan sát một buổi học của sinh viên một lớp học nào đó (hoặc lớp mình) để sơ bộ đánh giá kỉ cương học tập của lớp.

    6. Quan sát việc học tập của sinh viên tại phòng đọc của thư viện để nhận xét về thư viện, về tình hình sinh viên sử dụng thư viện.

    Chú ý: Cần tập trung vào nội dung của phiếu quan sát (tức là yêu cầu người quan sát ghi cái gì). Mỗi đề tài quan sát với mục đích trên, viết ít nhất bốn yêu cầu dưới dạng câu hỏi.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Khoa Học Quân Sự Góp Phần Xây Dựng Quân Đội
  • Hocthue.net: Tổng Hợp Sách, Bài Giảng, Tài Liệu Và Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu
  • Hoạt Động Nghiên Cứu Khoa Học Sẽ Khuyến Khích Và Tạo Động Lực Cho Sinh Viên Không Ngừng Sáng Tạo, Chinh Phục Tri Thức Mới
  • ” Phương Pháp Viết Và Trình Bày Một Nghiên Cứu Khoa Học”
  • Người Tạo Sức Bật Trong Nghiên Cứu Thủy Sản Ở Đbscl
  • Phương Pháp Dạy Học Quan Sát Các Môn Tự Nhiên & Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội Giúp Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Thái Niên Số 2 Lĩnh Hội Kiến Thức Tốt Hơn
  • Giáo Dục Thông Qua Trò Chơi Là Gì Và Tại Sao Phải Ứng Dụng Nó Trong Dạy Học?
  • Phương Pháp Trò Chơi Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Trong Việc Cho Trẻ Mẫu Giáo Lớn Làm Quen Với Chữ Cái
  • Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán
  • Trong cuộc sống thường ngày mọi vật đều sinh sôi và phát triển dựa vào những nguyên lý mà đã tồn tại từ rất lâu. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta có nhiều kinh nghiệm về thời tiết, mùa màng để áp dụng vào việc trồng trọt của mình hay có những kinh nghiệm để chữa bệnh bằng nhiều cách thức khác nhau như dùng thuốc bằng các loại thảo mộc hay một số bộ phận của các con côn trùng, … tất cả là nhờ vào quá trình quan sát qua một thời gian dài mà đúc kết được những kinh nghiệm đó. Chính vì thế, ngày nay phương pháp dạy học quan sát được đưa vào giảng dạy rất phổ biến đặc biệt ở cấp tiểu học khi mà các em đang còn rất muốn khám phá thế giới xung quanh thông qua sự quan sát và tìm tòi để học hỏi hơn là chỉ ngồi ở lớp lắng nghe giảng lý thuyết. Để cho các bạn có cái nhìn đúng và áp dụng thành công phương pháp dạy học quan sát này chúng tôi sẽ chia sẽ rõ hơn trong bài viết sau đây.

    Thông thường khi nhắc đến việc quan sát chắc có lẽ nhiều người sẽ nghĩ là hành động nhìn của mắt để nhận biết hay trải nghiệm một sự vật, con vật, sự việc nào đó. Nhưng không hẳn vậy, đối với phương pháp học quan sát này thì người hướng dẫn (giáo viên, giảng viên,…) sẽ hướng dẫn người học dùng các giác quan của mình để cảm nhận về những sự vật hay hiện tượng đưa ra. Hiện tượng đó là những gì xung quanh cuộc sống hàng ngày, có thể là về tự nhiên hay xã hội với mục tiêu cuối cùng giúp người học rút ra tổng kết hay kết luận một cách khoa học nhất.

    Tại các bậc học như ở mẫu giáo hay tiểu học thì có thể thấy việc áp dụng phương pháp quan sát này vào giảng dạy rất nhiều. Với nhiều lý do có thể nhắc đến như sau:

    – Các học sinh khi còn nhỏ đặc biệt là ở cấp 1 thì tư duy về hình ảnh cũng như trực quan sinh động sẽ rất chiếm ưu thế, nên việc sử dụng phương pháp dạy quan sát trong quá trình giảng bài sẽ đem lại hiệu quả cao nhất có thể.

    – Việc học bằng phương pháp này còn mang lại khả năng sáng tạo, dần hình thành trong tư duy những định nghĩa, khái niệm đúng đắng nhất của mỗi học sinh đối với những gì quan sát, cảm nhận được thông qua mỗi buổi được học cùng phương pháp này.

    – Bên cạnh đó phương pháp dạy học quan sát sẽ giúp các em luyện tập được năng lực quan sát của bản thân, nâng cao tư duy và mở mang được rất nhiều kiến thức mới mà sách vở không thể nào truyền tải được hết tất cả mà nhờ vào quá trình quan sát mới có thể có đầy đủ được.

    – Không chỉ vậy việc thực hiện đúng theo phương pháp dạy học thông qua quan sát sẽ đem lại sự dễ dàng hơn cho các em trong nhiều môn học khác nữa.

    – Nhờ đó khi mà các tiết học được người hướng dẫn đưa phương pháp này vào phần bài giảng của mình thì sẽ có một điều chắc chắn rằng sẽ thu hút sự tập trung, chú ý rất nhiều của các em, qua đó chất lượng của buổi học sẽ tăng lên cao hơn.

    Trên thực tế, ai ai cũng biết được tầm quan trọng của việc học lý thuyết phải cần song song với thực hành thì mới có thể tiến bộ nhanh chóng được. Trong công cuộc xây dựng những mầm xanh tương lai của đất nước thì luôn đòi hỏi những người làm nghề hướng dẫn các em phải luôn đổi mới và áp dụng những phương pháp hiệu quả nhất. Đặc biệt trong môn học Tự nhiên và Xã hội thì các đối tượng học của môn này lại phù hợp nhất để áp dụng phương pháp dạy học quan sát này.

    Các đối tượng thường được chia làm hai dạng chính là đối tượng quan sát bên trong và đối tượng quan sát bên ngoài. Bên trong có thể kể đến các vật như: các mẫu vật phẩm, mô hình, tranh, ảnh, các tiêu bản, đồ dùng trong nhà, … Còn bên ngoài như: nhà, cây cối, động vật, sông, suối, biển, …

    – Đầu tiên, cần đưa ra mục tiêu muốn đạt được thông qua quá trình quan sát, ví dụ như bạn muốn giới thiệu các em biết về chức năng của lá đối với cây.

    – Tiếp theo, cần đưa đến quyết định lựa chọn đối tượng để các em có thể quan sát được. Trong ví dụ trên bạn nên lựa chọn một cái cây có nhiều lá ở bên ngoài môi trường tự nhiên.

    – Khi đã lựa chọn xong đối tượng cần quan sát thì sẽ tiến hành đến bước cho các em quan sát đối tượng. Trong bước này cần chú ý về việc tổ chức quan sát sao cho đạt hiệu quả như phân chia các em làm việc theo nhóm để có thể trao đổi chung với nhau những gì mình quan sát được.

    – Cuối cùng là phần thu hoạch những gì các em quan sát được, để tìm ra được mục tiêu là xem chức năng của lá đối với quan trọng như thế nào? Liệu chuyện gì sẽ xảy ra khi một cái cây không có lá hoặc lá bị vặt hết? Người hướng dẫn nên cùng các em đưa ra những quan điểm và chốt lại vấn đề, sau đó báo cáo những gì mình quan sát được từ đó suy luận ra nhiều kiến thức khoa học thú vị.

    Qua phần chia sẻ trên chúng tôi đã phần nào cho các bạn thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng phương pháp dạy học quan sát cho các em đặt biệt là những bé đang ở bậc tiểu học. Rất mong muốn thầy cô hoặc gia đình có thể áp dụng thành công phương pháp này để giúp các em ngày một học tập tốt hơn, đem lại nhiều niềm tự hào cho gia đình và xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực .
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Triển Toàn Diện Phẩm Chất Và Năng Lực Học Sinh
  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Và Giáo Dục Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh
  • Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Môn Toán Học
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Dương Quang Ngọc.
  • Trình Bày Phương Pháp Quan Sát Trong Nghiên Cứu Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Phương Pháp Quan Sát
  • Các Phương Pháp Giám Sát Nhiễm Khuẩn Bệnh Viện
  • Phương Pháp Giám Định Vi Khuẩn Trong Ptn
  • Các Phương Pháp Cơ Bản Trong Chẩn Đoán Vi Khuẩn
  • Giám Sát Nhân Viên Bán Hàng Trên Bản Đồ Số Gps
  • 25.1. Quan sát là gì ?

    Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn,… để thu nhận các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

    * Ưu và nhược điểm của phương pháp quan sát:

    – Điểm mạnh nhất của phương pháp quan sát là đạt được ấn tượng trực tiếp và sự thể hiện của cá nhân được quan sát, trên cơ sở ấn tượng mà điều tra viên ghi chép lại thông tin.

    – Hạn chế: Chỉ sử dụng cho các nghiên cứu với đối tượng chỉ xảy ra trong hiện tại (quá khứ và tương lai không quan sát được). Tính boa trùm của quan sát bị hạn chế, bởi vì người quan sát không thể quan sát mẫu lớn được. Đôi khi bị ảnh hưởng tính chủ quan của người quan sát.

    Do ưu và nhược điểm của phương pháp quan sát mà phương pháp này thường sử dụng cho nghiên cứu đại diện, nghiên cứu thử, hay nghiên cứu để làm chính xác các mô hình lý thuyết, kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu.

    25.2. Kỹ thuật quan sát

    * Phải chuẩn bị một kế hoạch chu đáo trước khi quan sát. Bao gồm:

    – Xác định rõ mục tiêu quan sát (để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu nào?)

    – Phải xác định đối tượng quan sát (quan sát ai?)

    – Xác định thời điểm quan sát (quan sát ở đâu thì hợp lý?)

    – Các thức tiếp cận để quan sát.

    – Xác định thời gian quan sát (quan sát khi nào?, bao lâu?)

    – Hình thức ghi lại thông tin quan sát ( ghi chép bằng gì? ghi âm, chụp ảnh, quay camera).

    – Tổ chức quan sát: phải tổ chức chặt chẽ, phối hợp giữa các quan sát viên.

    * Lựa chọn các loại quan sát: tuỳ theo vấn đề nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu mà lưụa chọn hình thức quan sát cho phù hợp.

    – Theo mức độ chuẩn bị:

    + Quan sát có chuẩn bị: Là dạng quan sát mà người đi nghiên cứu đã tác động những yếu tố nào của hướng nghiên cứu có ý nghĩa cho đề tài và từ đó tập trung sự chú ý mình vào yếu tố đó. Thường sử dụng cho việc kiểm tra kết quả cho thông tin nhận được từu phương pháp khác.

    + Quan sát không chuẩn bị: Là dạng quan sát trong đó chưa xác định được các yếu tố mà đề tài nghiên cứu quan tâm, thường sử dụng cho các nghiên cứu thử.

    – Theo sự tham gia của người quan sát:

    + Quan sát có tham dự: Điều tra viên tham gia vào nhóm đối tượng quan sát.

    + Quan sát không tham dự: Điều tra viên không tham gia vào nhóm đối tượng quan sát mà đứng bên ngoài để quan sát.

    – Theo mức độ công khai của người đi quan sát:

    + Quan sát công khai: người bị quan sát biết rõ mình đang bị quan sát. Hoặc người quan sát cho đối tượng biết mình là ai, mục đích công việc của mình.

    + Quan sát không công khai: người bị quan sát không biết rõ mình đang bị quan sát. Hoặc người quan sát không cho đối tượng biết mình là ai, đang làm gì.

    – Căn cứ vào số lần quan sát:

    + Quan sát một lần

    + Quan sát nhiều lần: có khả năng nhận thức lớn hơn nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên
  • Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Quan Sát Sư Phạm
  • Hướng Dẫn Giáo Viên Cách Quan Sát, Đánh Giá Và Lập Kế Họach Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Phương Pháp Quy Đổi Trong Hóa Học Cực Hay, Chi Tiết, Có Lời Giải.
  • Tính Giá Thành Theo Phương Pháp Kết Chuyển Song Song [Cpa
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100