Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Quy Trình Quản Lý Và Xử Lý Rủi Ro Tín Dụng

--- Bài mới hơn ---

  • Rủi Ro Tỷ Giá Là Gì? Cách Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá Trong Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Quản Lý Rừng Đầu Nguồn
  • Luận Văn Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Khách Hàng Cá Nhân Tại Ngân Hàng
  • Luận Văn Đề Tài Ứng Dụng Các Mô Hình Tài Chính Hiện Đại Trong Quản Trị Rủi Ro Lãi Suất Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Xây Dựng Nhiều Giải Pháp Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Rủi ro tín dụng là gì?

    Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không làm đúng theo điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro này thường gắn liền với các biểu hiện như khách hàng chậm trả nợ, trả không đầy đủ, không trả nợ khi đã đến thời hạn trả nợ gồm cả tiền gốc lẫn tiền lãi. Điều này sẽ trực tiếp gây tổn thất về tài chính cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

    Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, các ngân hàng thương mại cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điêu đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn.

    Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào… Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác.

    Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

    Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn… Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:

    • Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ
    • Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn = Số khách hàng có nợ quá hạn/Tổng số khách hàng có dư nợ

    Nếu ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại.

    Nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ do con nợ làm ăn thua lỗ liên tục, tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản, mất khả năng thanh toán…

    Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng, căn cứ vào thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng để phân loại nợ xấu thành 3 nhóm: nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).

    Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu bao gồm:

    • Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ. Theo ngân hàng thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được và tốt nhất là ở mức 1-3%
    • Tỷ trọng nợ xấu theo nhóm nợ = Dư nợ xấu nhóm (3,4,5)/Tổng dư nợ xấu
    • Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Nợ xấu/Vốn chủ sở hữu
    • Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Nợ xấu/Quỹ dự phòng tổn thất

    Dự phòng rủi ro tín dụng

    Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng RRTD được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm:

    • Dự phòng cụ thể – để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay

    Quy trình quản lý và xử lý rủi ro tín dụng

    Bước 1: Tính toán xác định rủi ro

    • Thẩm định đánh giá rủi ro đối với từng khoản giải ngân: Tình hình tài chính của đối tượng xin vay vốn, phân tích đặc trưng ngành của doanh nghiệp vay, phân tích khả năng cạnh tranh, khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng loại trên thị trường. Phân tích các rủi ro hệ thống, rủi ro tình hình kinh tế…
    • Đánh giá năng lực lãnh đạo của các cán bộ doanh nghiệp.

    Bước 2: Lượng hóa rủi ro

    Sử dụng các công cụ phân tích, các chỉ báo phân tích để tính toán, đo lường những rủi ro được thể hiện qua các con số.

    Bước 3: Quản lý, giám sát

    Quản lý và giám sát việc doanh nghiệp sử dụng vốn. Nếu có dấu hiệu doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích: Ngưng việc giải ngân, đề nghị doanh nghiệp giải trình và yêu cầu thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng giải ngân.

    Bước 4: Đưa ra các phương pháp giải quyết rủi ro

    • Không giải ngân đối với các hợp đồng không tuân thủ các điều kiện tài chính
    • Không chấp nhận các hợp đồng có độ rủi ro cao (Tài sản thế chấp không đảm bảo, lĩnh vực đầu tư không rõ ràng…)

    Rủi ro tín dụng gây ra rất nhiều phiền toái và khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng. Cần có quá trình quản lý rủi ro và xử lý các rủi ro tín dụng một cách hợp lý để hạn chế các tác động mà nó gây ra. Hi vọng bài viết này đã giúp bạn hiểu rõ về khái niệm rủi ro tín dụng là gì cũng như quy trình quản lý và xử lý rủi ro tín dụng ngân hàng.

    Mọi thắc mắc, các bạn có thể để lại thông tin liên hệ ngay TẠI ĐÂY để được hỗ trợ nhanh nhất bởi đội ngũ chuyên gia uy tín.

    AZVAY là website chuyên tư vấn, hỗ trợ vay thế chấp, đáo hạn ngân hàng lãi suất thấp. Chúng tôi tự tin mang đến cho bạn giải pháp tài chính hiệu quả, đáp ứng kịp thời nguồn vốn dành cho mọi khách hàng, kể cả đối với những trường hợp hồ sơ khó như: Nợ xấu; Không chứng minh được thu nhập; Tuổi quá cao hoặc quá thấp; Tài sản đảm bảo là nhà trong hẻm nhỏ, ngõ nhỏ, gần mộ, khu quy hoạch; Tài sản thế chấp của bố mẹ, người thân…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thức Quản Lý Rủi Ro Tốt Nhất Cho Các Doanh Nghiệp Việt
  • Cách Quản Lý Rủi Ro Trong Forex
  • Cách Thức Quản Lý Rủi Ro Trong Sản Xuất Dựa Vào Công Cụ Quản Lý
  • Cách Quản Lý Vốn Hiệu Quả Trong Giao Dịch Forex
  • Quản Lý Vốn Hiệu Quả
  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Chuyên Đề 6: Quản Trị Rủi Ro Tỷ Giá
  • Cách Nào Để Giảm Nguy Cơ Rủi Ro Tỷ Giá Đối Với Các Doanh Nghiệp?
  • Giáo Trình Phương Pháp Mô Hình Tương Lai: Một Công Cụ Quản Lý Rừng
  • * Phương thức quản lý rủi ro tín dụng bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng.

    Phương pháp này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩm định kỹ lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của người nhận nợ và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phân loại khoản vay và các đối tác vay vốn dựa vào mức độ rui ro tín dụng của nó để quản lý.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro

    Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng ngằm bù đắp cho những rủi ro có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng.

    Thị trường trái khoán hoặc ngân hàng thương mại yêu cầu người nhận nợ phải có một khoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp trong trường hợp phá sản.

    Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp, khi rủi ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các nhà đầu tư trái khoán và các ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn.

    Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự kiến cao hơn về trái khoán hoặc khoản vay vì khả năng khoán vay sẽ không được hoàn trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thề làm tăng chi phí vay của nó.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách phân tán rủi ro.

    Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro thay vì tập trung nắm giữ một hay một số loại tài sản có rủi ro nhất định. Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều người vay cho phép các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro tín dụng đối với toàn bộ tài sản có.

    Tập hợp nhiều loại cho vay trong một tài sản cho phép tổ chức tín dụng giảm sự thay đổi về thu nhập của chúng. Thu nhập từ các khoản cho vay thành công sẽ bù đắp phần lỗ từ những khoản cho vay bị vỡ nợ. Do đó làm giảm khả năng tổ chức tín dụng đó sẽ bị thiệt hại.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách sử dụng thị trường bán nợ.

    Sau khi đầu tư hoặc cho các doanh nghiệp vay, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư lập tức tập hợp các tài sản có rủi ro (trái phiếu những khoản nợ có rủi ro tín dụng) và bán cho các nhà đầu tư khác để chuyển đổi sở hữu khoản nợ nhằm quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

    Như vậy, để quản lý rủi ro tín dụng, các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư có thể sử dụng các phương thức như nâng cao tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro, bảo hiểm, phân tán rủi ro tín dụng tài sản của rủi ro tín dụng với các tài sản khác và bán các phần của nó cho các nhà đầu tư bên ngoài. Những phương thức như vậy có thể làm giảm rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư và những rủi ro tín dụng này có thể được chia sẻ cho nhiều người sở hữu mới. Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ này có những hạn chế, cụ thể:

    Việc áp dụng những thủ tục cấp dụng quá chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng làm người vay trở lên khó khăn hơn trong việc tiếp nhận vốn tín dụng, điều này sẽ làm mất cơ hội đầu tư của tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư.

    Việc trích lập dự phòng rủi ro thường đặt ra những yêu cầu về tài chính đối với các tổ chức tín dụng. Trong khi bảo hiểm rủi ro tín dụng lại đặt ra những yêu cầu về tài chính đối với người nhận nợ. Do vậy, cả hai phương thức hoặc làm giảm khả năng cân đối và điều hành vốn khả năng của tổ chức tín dụng hoặc làm tăng chi phí vay vốn của người vay, dẫn đến tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc mở rộng tín dụng và không thực hiện được chính sách khách hàng.

    * Phương thức quản lý rủi to tín dụng bằng cách thông qua dẫn xuất tín dụng.

    Nhưng hợp đồng này mang lại cho các nhà đầu tư, người nhận nợ và ngân hàng những kỹ thuật mới bổ sung cho các biện pháp bán nợ phân tán rủi ro và bảo hiểm nhằm quản lý rủi ro tín dụng.

    * Các cộng cụ dẫn xuất tín dụng chủ yếu hiện nay gồm:

    Hoán đổi tín dụng: là công cụ dẫn xuất làm giảm rủi ro tín dụng thông qua phân toán rủi ro.

    Thay cho việc phân tán rủi ro thông qua hoạt động cho vay ra cả bên ngoài địa phương, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư có thể bán một số khoản nợ và mua một số khoản khác nhằm hoán đỏi các khoản thanh toán từ một hoạt động cho vay của nó với khoản thanh toán từ các tổ chức khác. Nghiệp vụ hoán đổi tín dụng chung nhất được gọi là hoán đổi thu nhập toàn bộ; trong giao dịch này, tổ chức quản lý rủi ro sẽ hoán đổi các khoản thanh toán đầu tư hoặc khoản cho vay có lãi suất cố định của tổ chức tín dụng này với khoản thanh toán đầu tư hoặc vay có lãi suất được điều chỉnh của các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư hoặc công ty bảo hiểm khác. Hoán đổi tín dụng tạo ra hai điểm thuận lợi quan trọng.

    Nó cho phép các tổ chức tín dụng phân tán rủi ro tín dụng trong khi duy trì một cách trung thành các số dư tài chính của khách hàng. Trong giao dịch hoá đổi thu nhập toàn bộ, số dư của các doanh nghiệp vay vốn được duy trì với các tổ chức tín dụng ban đầu. Khi các khoản nợ được bán, số dư nợ của doanh nghiệp được chuyển đổi cho những người sở hữu mới của khoản nợ.

    Các khoản chi phí quản lý giao dịch hoán đổi có thể thấp hơn là chi phí của giao dịch bán nợ. Điều này đồng nghĩa với việc nó sẽ làm chi phí vay vốn của người nhận nợ giảm và có thể thực hiện phân tán rủi ro với mức chi phí thấp hơn.

    * Quyền chọn tín dụng

    Là loại dẫn xuất tín dụng cung cấp chức năng tương tự bảo hiểm. Các quyền chọn này cho phép các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư có thể lựa chọn mua hoặc bán các tài sản có rủi ro tại một mức giá cố định để bảo vệ cho họ đối với những biến động bất lợi về chất lượng tín dụng các tài sản tài chính hoặc khoản vay của tổ chức tín dụng trong trường hợp rủi to xảy ra.

    Quyền chọn tín dụng mang lại nhiều lợi ích hơn so với việc trích lập dự phòng của các tổ chức tín dụng vì nó không làm tăng chi phí của người vay và không làm giảm hiệu quả sử dụng vốn khả năng của tổ chức tín dụng do phải giữ lại các tài sản có dự phòng. Như vậy nó sẽ bảo vệ cho nhà đầu tư khỏi sự giảm giá của các tài sản có.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Và Quản Lý Rủi Ro
  • 8 Bước Thực Hiện Quản Lý Rủi Ro
  • Các Phương Pháp Quản Lý Rủi Ro
  • Phương Pháp Đánh Theo Quản Lý Vốn Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Quản Lý Theo Quá Trình (Management By Process/mbp)
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại
  • Đề Tài Quản Trị Rủi Ro Lãi Suất Tại Ngân Hàng Xây Dựng, Điểm Cao, 2022
  • Các Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Tổng Quan Về Quản Lý Chất Thải Rắn Trên Thế Giới Và Một Số Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Quản Lý Sản Xuất Là Gì
  • Đối với các ngân hàng thương mại, quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng. Nguồn: Internet

    Vai trò của quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

    Quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) được hiểu là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Trong quản trị RRTD, tối đa hóa lợi nhuận cho sở hữu chủ, trở thành ngân hàng thương mại (NHTM) tốt nhất về quản trị RRTD và sử dụng tài sản trong hoạt động cấp tín dụng là hai mục tiêu cốt lõi.

    Trên cơ sở nguyên tắc chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, hệ thống quản trị rủi ro vốn tín dụng gồm các vấn đề cơ bản như: Cơ sở pháp lý cho hoạt động cấp tín dụng phải đầy đủ và chuẩn mực; chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý rủi ro; xây dựng hệ thống phân khúc thị trường và phân khúc khách hàng; thẩm định và phê duyệt hồ sơ tín dụng; cấu trúc hệ thống các bộ phận tham gia vào việc tìm kiếm khách hàng, xem xét và quyết định tín dụng; xây dựng các quy trình cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng; vấn đề cảnh báo sớm; cơ cấu lại khoản nợ và thu hồi nợ.

    Đối với các NHTM, quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng bởi các yếu tố sau:

    Thứ nhất, RRTD là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM phải đương đầu. Phòng ngừa hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn, phức tạp bởi lẽ RRTD mang tính tất yếu khách quan, luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng thời lại rất đa dạng phức tạp, RRTD thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng.

    Thứ hai, nếu như hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD được thực hiện tốt thì sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NHTM; tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng.

    Thứ ba, hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế. Trong thời đại hiện nay, các định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu như một NHTM gặp vấn đề thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác. Vì vậy, quản trị RRTD đem lại sự an toàn, ổn định cho thị trường.

    Công tác quản trị RRTD ở NHTM thường được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, từ khâu phát hiện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý rủi ro. Cụ thể:

    Phát hiện rủi ro: Nhận diện RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến mức thấp nhất. Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả. Các dấu hiệu nhận biết phổ biến thường tập trung vào dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của khách hàng vay.

    Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong một ngân hàng gồm: Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy quản trị RRTD, các giới hạn tín dụng.

    Đo lường RRTD: Đo lường RRTD là việc lượng hóa mức độ các rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của ngân hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay cũng như xây dựng biện pháp ứng phó phù hợp, nhanh chóng với RRTD khi tình trạng này xảy ra. Để đo lường RRTD các ngân hàng thường xây dựng các mô hình thích hợp để lượng hóa các rủi ro.

    Quản lý và kiểm soát RRTD: Quản lý và kiểm soát RRTD là khâu trọng tâm nhất trong công tác quản trị RRTD của một NHTM, đây chính trọng tâm của quy trình RRTD. Quản lý và kiểm soát RRTD là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong một ngân hàng: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy quản trị RRTD, các giới hạn tín dụng.

    Bốn bước trong quy trình RRTD có quan hệ chặt chẽ lẫn nhau và quyết định rất lớn tới hiệu quả quản trị RRTD. Trong 4 bước này, bước 1 và bước 3 được coi là bước quan trọng nhất, ngân hàng càng chủ động trong quản lý và kiểm soát rủi ro thì càng giảm thiểu được tổn thất trong hoạt động tín dụng. Từ đó, có thể thấy, vấn đề cốt lõi trong quản trị tín dụng ngân hàng chính là đưa ra các giải pháp, cách thức để phát hiện sớm rủi ro. Hiện nay, nhiều ngân hàng đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro, thực hiện thẩm định tín dụng, củng cố hệ thống báo cáo thông tin quản trị tín dụng… Đây chính là những cách thức nhằm phát hiện sớm RRTD.

    Tiêu chuẩn mới cho các ngân hàng quốc tế

    Tháng 12/2017, Ủy ban Basel công bố văn bản “Basel III: Hoàn thiện các cải cách sau khủng hoảng”, với việc cải cách một số tiêu chuẩn để thực hiện tính vốn đối với các loại rủi ro như RRTD, rủi ro điều chỉnh định giá tín dụng hay rủi ro hoạt động. Ủy ban Basel đã đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn mới khi yêu cầu thực hiện tính vốn cho rủi ro hoạt động – phương pháp tiêu chuẩn (SMA), có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đối với các ngân hàng quốc tế. Sự ra đời của tiêu chuẩn này có ảnh hưởng lớn đối với dữ liệu tổn thất nội bộ của ngân hàng cũng như cách thức vận dụng các dữ liệu để mang đến các giá trị kinh doanh và quản lý rủi ro theo chiều sâu.

    Phương pháp SMA dựa trên 3 cấu phần: Chỉ số kinh doanh (BI) – một tham chiếu dựa trên thông tin báo cáo tài chính đối với rủi ro hoạt động; cấu phần chỉ số kinh doanh (BIC), được tính bằng cách nhân chỉ số BI với hệ số biên theo quy mô của BI; hệ số nhân tổn thất nội bộ (ILM), một hệ số nhân quy mô dựa trên mức tổn thất trung bình của ngân hàng trong quá khứ và chỉ số BIC.

    Sự thay đổi này đến từ 3 mục tiêu:

    Thứ nhất, hạn chế các cách áp dụng khác nhau khi tính vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động của các ngân hàng. Trước đây, theo quy định của cơ quan quản lý, ngân hàng có thể lựa chọn một trong nhiều phương pháp khác nhau, ví dụ thực hiện áp dụng phương pháp tiếp cận dựa theo mô hình, trong đó sử dụng nhiều biến khác nhau để xác định và tối ưu vốn rủi ro hoạt động. Giờ đây, với phương pháp SMA, ngân hàng sẽ bị hạn chế hơn trong việc tối ưu vốn rủi ro hoạt động do việc áp dụng một biến duy nhất là ILM, dựa trên lịch sử tổn thất của ngân hàng.

    Thứ hai, mang đến phương pháp tiếp cận chú trọng vào rủi ro hơn bằng cách kết hợp thu nhập ròng và dữ liệu tổn thất trong 10 năm tại ngân hàng.

    Tại Việt Nam, các ngân hàng trong nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang thực hiện phương pháp chỉ số kinh doanh tính vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ban hành tháng 12/2016. Phương pháp chỉ số kinh doanh có thể coi là một dạng giản thể của phương pháp SMA, trong đó hệ số biên để tính BIC là 15% và ILM là 1.

    Việc chú trọng vào tổn thất nội bộ khi xác định các yêu cầu về vốn cho rủi ro hoạt động của ngân hàng mang 2 ý nghĩa quan trọng:

    Hai là, các ngân hàng có cơ hội rất lớn để giảm thiểu vốn cho rủi ro hoạt động trong hiện tại và tương lai thông qua việc chú trọng công tác quản lý và giảm thiểu tổn thất hoạt động hiện có, theo đó giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của hệ số ILM trong việc tính toán vốn rủi ro hoạt động.

    Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập

    Với những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hội nhập, Tạp chí Inside (2017) nhận định, ngành Ngân hàng đang ở giai đoạn đỉnh cao thay đổi và tính bất định. Môi trường cạnh tranh đang gia tăng giữa các ngân hàng, phi ngân hàng và các công ty công nghệ tài chính (FinTech). Đồng thời, môi trường kinh tế tăng trưởng thấp và lãi suất thấp đang gây áp lực lên phương thức thu lợi nhuận truyền thống. Vấn đề nợ xấu chưa xử lý dứt điểm vẫn còn hiện hữu là rủi ro lớn của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng là internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn và điện toán đám mây cũng đang tác động và góp phần cải thiện nhanh chóng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của ngành Ngân hàng.

    Với cách nhìn nhận này, cần có khung khổ quản trị rủi ro có tính bao quát đầy đủ và toàn diện nhất. Theo đó, tiêu chuẩn Basel II được coi là tiêu chuẩn hoàn thiện nhất trong quản trị NHTM cần được quán triệt đầy đủ và áp dụng phù hợp.

    Hơn nữa, các loại rủi ro do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng rất lớn đối với vấn đề bảo mật thông tin ngân hàng nên vấn đề về tài khoản khách hàng và bảo vệ cơ sở dữ liệu nội bộ cũng cần đến các giải pháp công nghệ mang tính đón đầu gắn với gia tăng năng lực của đội ngũ và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.

    Bên cạnh đó, một số vấn đề khác cần lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả trong quản trị RRTD ngân hàng, đó là: Hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm RRTD, trong đó, các chỉ số cảnh báo sớm rủi ro cần bao phủ được các nguyên nhân gây ra vỡ nợ chủ yếu cho khách hàng doanh nghiệp như: Triển vọng kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, tài sản đảm bảo và hồ sơ tín dụng, những thay đổi về mặt quản lý hoặc chiến lược… Đồng thời, tăng cường sử dụng các chỉ tiêu có thể tính tự động như tỷ lệ sử dụng hạn mức, số ngày quá hạn, độ biến động dòng tiền vào ra… nhằm tăng tính hiệu quả, bảo đảm số liệu cập nhật theo thời gian thực.

    Ngoài ra, các NHTM cần tập trung hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, các NHTM nên áp dụng phân tích và thẩm định tín dụng sử dụng mô phỏng dòng tiền. Đồng thời, xây dựng chính sách riêng biệt cho các ngành đặc thù và ngành trọng điểm; Tăng cường quản lý và giám sát trước và sau giải ngân, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng…

    1. Cấn Văn Lực (2016), Cơ hội và thách thức đối với ngành Ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2022-2020, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Banking Vietnam 2022”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr 3-5;
    2. Nguyễn Hồng Sơn, Trịnh Thị Thanh Mai, Trần Thị Thanh Tú (2015), Phát triển bền vững ngân hàng Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr 92-100;
    3. Trường Đại học Kinh tế (2017), Kỷ yếu hội thảo “Quản trị ngân hàng hiệu quả”, NXB Khoa học- Kỹ thuật;
    4. Đào Thanh Tú (2014). Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 6/2014.
    5. Viện Nghiên cứu Ngân hàng và Tài chính Luân Đôn, Quản trị rủi ro trong ngân hàng, truy cập lần cuối cùng ngày 22/8/2017;
    6. Basel Committee on Banking Supervision of Bank for International Settlement (2001), Risk management practices and regulatory capital, truy cập lần cuối cùng ngày 20/8/2017.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải
  • Giáo Trình Phương Pháp Mô Hình Tương Lai: Một Công Cụ Quản Lý Rừng
  • Cách Nào Để Giảm Nguy Cơ Rủi Ro Tỷ Giá Đối Với Các Doanh Nghiệp?
  • Chuyên Đề 6: Quản Trị Rủi Ro Tỷ Giá
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Luận Văn Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Khách Hàng Cá Nhân Tại Ngân Hàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Ứng Dụng Các Mô Hình Tài Chính Hiện Đại Trong Quản Trị Rủi Ro Lãi Suất Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Xây Dựng Nhiều Giải Pháp Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Phương Pháp Quản Lý Và Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Những Kỹ Năng Cần Có Của Người Quản Lý Sản Xuất
  • Phân Biệt Phương Pháp Quản Lý Công Việc Scrum Và Kanban
  • luận văn quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Á Chi Nhánh Đà Nẵng

    Xu hướng tự do hoá trong lĩnh vực tài chính đã tạo ra cơ hội cho các NHTM mở rộng hoạt động về mặt địa lý, giúp cho các ngân hàng hạn chế được những tổn thương do những thay đổi điều kiện kinh tế trong nước. Tuy nhiên, cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính trên thế giới cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn. Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng hay tổ chức tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Việc xây dựng một hệ thống quản trị nói trung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn đối với hoạt động ngân hàng.

    Hoạt động tín dụng hiện nay đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM Việt Nam và mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, đặc biệt là trong xu hướng hòa nhập với thông lệ quốc tế các NHTM Việt Nam đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế. Vì vậy, hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng là góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín dụng và đề xuất các giải pháp là hết sức cần thiết. Vì thế, việc chọn đề tài ” Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Á Chi Nhánh Đà Nẵngcho luận văn tốt nghiệp là rất cần thiết, với mong muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Việt Á Chi Nhánh Đà Nẵng, góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập.

    – Hệ thống hoá lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân Hàng Thương Mại.

    – Định hình và hệ thống các dạng thức về thực trạng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng.

    – Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng Việt Á CN Đà Nẵng nói riêng và đối với các NHTM nói chung.

    Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở yêu cầu và với khả năng nghiên cứu, luận văn lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “Rủi ro tín dụng” và “Quản trị rủi ro tín dụng”.

    – Nội dung và phương pháp quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM.

    – Thực trạng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Việt Á Chi Nhánh Đà Nẵng

    – Chủ yếu đề cập tới việc hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Việt Á Chi Nhánh Đà Nẵng.

      Tổng quan tài liệu nghiên cứu

    Ngân hàng được xem là mạch máu của nền kinh tế. Hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của kinh tế đất nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Thực tế trong những năm gần đây rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay và đặc biệt là cho vay trung dài hạn của Ngân hàng là khá phổ biến và đã để lại cho Ngân hàng nhiều hậu quả khó lường, hàng loạt Ngân hàng phải sáp nhập hoặc tái cơ cấu. Tuy nhiên công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Ngân hàng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế. Vì vậy vấn đề quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng là một vấn đề khiến các nhà quản trị Ngân hàng luôn đặt lên hàng đầu.

    Xuất phát từ những lý do đó nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng, với mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế thấp nhất các RRTD

    Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Quan hệ này được thể hiện qua 3 đặc điểm cơ bản như sau:

    – Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác.

    – Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.

    – Khi hoàn lại giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải đi kèm một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức

    Vậy có thể nói tín dụng Ngân hàng đó là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

    Về mặt hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.

    Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền phản ánh quan hệ cung cầu và quy luật giá trị. Mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa. Mỗi chủ thể tham gia nền kinh tế đều cần nguồn vốn để hoạt động trên thị trường hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Tuy nhiên nguồn vốn tự có thường không đủ, trong khi đó, ở một nơi khác lại có người đang có vốn nhàn rỗi. Sự tương tác giữa các chủ thể kinh tế giúp các khoản vốn được luân chuyển từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, giúp cho người thừa vốn sử dụng nguồn vốn dư thừa của mình sao cho có lợi nhất, đồng thời người thiếu vốn tìm cách bù đắp được sự thiếu hụt vốn của mình với chi phí thấp nhất. Vì vậy, tín dụng trở thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại.

    1.1.3. Chức năng

    Tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, thông qua sự chuyển nhượng này tín dụng góp phần phân phối lại tài nguyên, thể hiện ở chỗ:

    – Người cho vay có một số tài nguyên tạm thời chưa dùng đến, thông qua tín dụng, số tài nguyên đó được phân phối lại cho người đi vay.

    – Ngược lại, người đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận được phần tài nguyên phân phối lại.

      Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất

    Góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát

    Ổn định đời sống công ăn, việc làm cho người dân và ổn định xã hội.

    1.2. RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

    Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thóat và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau:

    Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh tóan được khoản nợ đúng trong thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong họat động cho vay của ngân hàng.

    Theo Hennie van Greuning -Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng luân chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khỏan của ngân hàng.

    Từ các định nghĩa chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản.

    TÓM LẠI: ” Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình đúng trong cam kết

    Rủi ro tín dụng ngân hàng mang tính chất gián tiếp

    Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xẩy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường là biết sau cũng như không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng.

    Xuất phát từ đặc điểm này, biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng muốn hiệu quả cần tập trung nghiên cứu các thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ mimh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn.

    – Rủi ro tín dụng ngân hàng có tính chất đa dạng và phức tạp

    Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trung ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng ngân hàng càng thể hiện rõ hơn.

    Nhận thức và vận dụng quan điểm này, khi thực hiện phòng ngừa rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào để đưa ra biện pháp cho phù hợp.

    Rủi ro tín dụng ngân hàng có tính tất yếu vì nó luôn luôn gắn liền với sự vận động của nền kinh tế thị trường

    Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất kinh doanh không thể biết trước được thị trường sẽ tiêu thụ sản phẩm của họ vói số lượng là bao nhiêu và giá cả như thế nào, vì vậy chỉ khi họ sản xuất xong và đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ họ mới biết họ thành công hay thất bại. Nếu thành công họ sẽ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, nếu thất bại việc trả nợ sẽ khổ khăn và gây rủi ro cho ngân hàng cho vay. Do đó ngân hàng cần chủ động có các biện pháp tích hợp xử lý vấn đề thông tin không cân xứng để đối phó vói rủi ro.

    Rủi ro tín dụng ngân hàng được phân ra 2 loại đó là rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống

    1.2.3.1. Rủi ro hệ thống

    Rủi ro hệ thống: là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các khỏan vay của ngân hàng. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói trung như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, tốc độ lạm phát thay đổi… là những minh chứng cho rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến khả năng trả nợ của các khách hàng.

    – Trong rủi ro hệ thống trước hết phải kể đến rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà kinh doanh đối với các hiện tượng trên thị trường.Chẳng hạn như sự thiếu quy họach phân bổ đầu tư một cách hợp lý, công khai đã dẫn đến khủng hỏang thừa về đầu tư trong một số ngành. Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn đến sự chuyển dịch vốn từ ngành này sang ngành khác. Nếu để sự cạnh tranh phát triển một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư ở một số ngành, gây khủng hỏang thừa, lãnh phí tài nguyên quốc gia.

    D:NGHỀ LUẬN VĂNĐÃ HOÀN THÀNH ALLĐÃ HOÀN THÀNH 2Anh Lâm k9 MBA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Rừng Đầu Nguồn
  • Rủi Ro Tỷ Giá Là Gì? Cách Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá Trong Doanh Nghiệp
  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Quy Trình Quản Lý Và Xử Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Cách Thức Quản Lý Rủi Ro Tốt Nhất Cho Các Doanh Nghiệp Việt
  • Cách Quản Lý Rủi Ro Trong Forex
  • Các Phương Pháp Quản Lý Rủi Ro

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Bước Thực Hiện Quản Lý Rủi Ro
  • Phân Tích Và Quản Lý Rủi Ro
  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng
  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Kết quả

    Các phương pháp quản lý rủi ro:

    1. Né tránh rủi ro.

    Né tránh rủi ro là loại bỏ khả năng bị thiệt hại, là việc không chấp nhận dự án có độ rủi ro quá lớn. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp khả năng bị thiệt hại cao và mức độ thiệt hại lớn. Né tránh rủi ro có thể được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của chu kỳ dự án. Nếu rủi ro dự án cao thì loại bỏ ngay từ đầu.

    2. Chấp nhận rủi ro

    Chấp nhận rủi ro là trường hợp chủ đầu tư hoặc cán bộ dự án hoàn toàn biết trước về rủi ro và những hậu quả của nó nhưng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro thiệt hại nếu nó xuất hiện. Chấp nhận rủi ro áp dụng trong trường hợp mức độ thiệt hại thấp và khả năng bị thiệt hại không lớn. Ngoài ra, cũng có những rủi ro mà đơn vị phải chấp nhận.

    3. Tự bảo hiểm

    Tự bảo hiểm là phương pháp quản lý rủi ro mà đơn vị chấp nhận rủi ro và tự nguyện kết hợp thành một nhóm gồm nhiều đơn vị có rủi ro tương tự khác, đủ để dự đoán chính xác mức độ thiệt hại và do đó, chuẩn bị trước nguồn quỹ để bù đắp nếu nó xảy ra. Giải pháp tự bảo hiểm có đặc điểm:

    – Là hình thức chấp nhận rủi ro.

    – Thường là sự kết hợp giữa các đơn vị đầu tư trong cùng công ty bố mẹ hoặc một ngành.

    – Có chuyển rủi ro và tái phân phối chi phí thiệt hại.

    – Có hoạt động dự đóan mức thiệt hại (giống hoạt động bảo hiểm).

    – Hệ thống tự bảo hiểm cũng phải đáp ứng mọi chi tiêu của hệ thống bảo hiểm.

    Tự bảo hiểm có lợi thế là nâng cao khả năng ngăn ngừa thiệt hại, thủ tục chi trả bảo hiểm nhanh gọn, đồng thời, nâng cao khả năng sinh lợi vì tạo điều kiện quay vòng vốn. Tuy nhiên, biện pháp tự bảo hiểm cũng có nhược điểm là đơn vị phải chi phí để vận hành chương trình tự bảo hiểm; đơn vị phải mua và cung cấp nội bộ những dịch vụ có giá trị như những thiết bị ngăn ngừa thiệt hại ; khi khả năng bị thiệt hại xuất hiện đơn vị phải thuê người điều hành theo dõi chương trình tự bảo hiểm. Phương pháp tự bảo hiểm cũng chứa đựng yếu tố rủi ro cờ bạc vì ở đây thực tế đơn vị chấp nhận rủi ro với hy vọng thiệt hại có thể không xảy ra trong một số năm.

    4. Ngăn ngừa thiệt hại

    Ngăn ngừa thiệt hại là hoạt động nhằm làm giảm tính thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện. Để ngăn ngừa thiệt hại thiệt hại cần xác định nguồn gốc thiệt hại. Có hai nhóm nhân tố chính đó là nhóm nhân tố môi trường đầu tư và nhân tố về nội tại dự án. Một số biện pháp ngăn ngừa như phát triển hệ thống an toàn, đào tạo lại lao động, thuê người bảo vệ.

    5. Giảm bớt thiệt hại.

    Chương trình giảm bớt thiệt hại là việc chủ đầu tư, bộ quản lý dự án sử dụng các biện pháp đo lường, phân tích, đánh giá lại rủi ro một cách liên tục và xây dựng các kế hoạch để đối phó, làm giảm mức thiệt hại khi nó xảy ra và khi không thể chuyển dịch thiệt hại thì việc áp dụng biện pháp này không phù hợp.

    6. Chuyển dịch rủi ro.

    Chuyển dịch rủi ro là biện pháp, trong đó một bên liên kết với nhiều bên khác để cùng chịu rủi ro. Biện pháp chuyển dịch rủi ro giống phương pháp bảo hiểm ở chỗ: độ bất định về thiệt hại được chuyển từ cá nhân sang nhóm nhưng khác ở chỗ bảo hiểm không chỉ đơn thuần bao gồm chuyển dịch rủi ro mà còn giảm được rủi ro thông qua dự đoán thiệt hại bằng luật số lớn trước khi nó xuất hiện.

    7. Bảo hiểm

    Theo quan điểm của nhà quản lý bảo hiểm thì bảo hiểm là sự chuyển dịch rủi ro theo hợp đồng. Từ bên quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ đơn thuần là việc chuyển dịch rủi ro mà còn làm giảm rủi ro vì nhóm người có rủi ro tương tự nhau tự nguyện tham gia bảo hiểm đã cho phép dự đoán mức độ thiệt hại trước khi nó xuất hiện. Bảo hiểm là công cụ quản lý rủi ro phù hợp khi khả năng thiệt hại thấp nhưng mức thiệt hại có thể rất nghiêm trọng.

    Chương trình quản lý rủi ro cần được xem xét đánh giá lại thường xuyên. Vì môi trường kinh doanh và đầu tư luôn thay đổi. Mỗi sự thay đổi trong kinh doanh có thể nảy sinh khả năng thiệt hại mới. Cần xác định lại thiệt hại, số lượng, nguyên nhân… và chuẩn bị các chương trình quản lý rủi ro thích hợp. Có nhiều chương trình quản lý rủi ro nhưng một nguyên tắc chung là khi lợi ích do chương trình nào đó tạo ra nhỏ hơn chi phí của nó thì nên thay thế bằng một chương trình khác hợp lý hơn.

    Nguồn: GS.TS.NGƯT. Bùi Xuân Phong (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Đánh Theo Quản Lý Vốn Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Quản Lý Theo Quá Trình (Management By Process/mbp)
  • Nhóm Phương Pháp Quản Lý Căn Cứ Vào Việc Sử Dụng Quyền Lực
  • Phong Cách Lãnh Đạo Độc Đoán: Đặc Điểm, Ưu Điểm, Nhược Điểm
  • 3 Phong Cách Quản Lý Nhân Viên Hiệu Quả
  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Chuyên Đề 6: Quản Trị Rủi Ro Tỷ Giá
  • Cách Nào Để Giảm Nguy Cơ Rủi Ro Tỷ Giá Đối Với Các Doanh Nghiệp?
  • Giáo Trình Phương Pháp Mô Hình Tương Lai: Một Công Cụ Quản Lý Rừng
  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải
  • Phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn, phức tạp. Nguồn: internet

    Phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn, phức tạp. Rủi ro tín dụng thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng. Trong thời gian qua, vấn đề rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đã trở nên cấp thiết khi có các con số về nợ xấu được công bố.

    Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

    Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập như hiện nay, một trong những vấn đề đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại (NHTM) là khả năng quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng (RRTD) một cách toàn diện và hệ thống. Phòng ngừa hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn, phức tạp. RRTD thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng. Hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD được thực hiện tốt sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: (i) Giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NHTM; (ii) Tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; (iii) Tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng.

    Thời gian qua, ở Việt Nam hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) đã giữ được ổn định một bước căn bản, năng lực tài chính quản trị của các NHTM, nhất là quản trị rủi ro đã có chuyển biến mạnh mẽ và tích cực, từng bước đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế. Khuôn khổ pháp lý về chuẩn mực an toàn lành mạnh, an toàn của các TCTD được cải thiện, tiến gần hơn tới thông lệ, chuẩn mực ngân hàng quốc tế, tạo nền tảng cho các TCTD hoạt động an toàn hơn và thúc đẩy cơ cấu lại theo các mục tiêu, định hướng đã đề ra. Các NHTM Việt Nam từng bước triển khai, áp dụng chuẩn an toàn vốn Basel II theo đúng lộ trình. Tuy nhiên, quản trị rủi ro trên thị trường tài chính vẫn là vấn đề cần đặc biệt chú trọng của các NHTM Việt Nam, bởi hệ thống ngân hàng đang gánh số nợ xấu cao so với chuẩn quốc tế…

    Theo Báo cáo tài chính của 17 NHTM gồm: Bắc Á, ACB, Kiên Long, Liên Việt Postbank, Vietcombank, TPBank,HDBank, MBBank, VietinBank, BIDV, VietBank, Techcombank,Eximbank, VIB, SHB, Sacombank, VPBank, tính đến ngày 30/6/2018 số tiền cho vay khách hàng của 17 ngân hàng này đạt 4.262 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với ngày 31/12/2017. Cùng với sự tăng lên của số dư cho vay, nợ xấu của các ngân hàng cũng biến động theo chiều tương xứng với 71,7 nghìn tỷ, tăng 10,4% so với 31/12/2017. Có 14/17 ngân hàng tăng trưởng về số dư nợ xấu và 12/17 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn cuối năm trước. Trong đó, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn tính đến cuối tháng 6/2018 tăng 17,9% so với 31/12/2017, lên mức gần 38,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 54% tổng nợ xấu, trong khi con số này hồi cuối năm 2022 chỉ ở mức 50,2%.

    Về giá trị tuyệt đối, 11/15 ngân hàng có số nợ xấu tăng trong 6 tháng đầu năm 2022. Dù vậy, nhờ đẩy mạnh tín dụng nên chỉ có 9/15 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ gia tăng. Trong số 17 ngân hàng thì có 2 ngân hàng (VPBank và Sacombank) có tỷ lệ nợ xấu ở mức trên 3%, tuy nhiên, một điều đáng mừng là tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng này đã và đang có xu hướng giảm so với kỳ trước (Bảng 1).

    Trong thời gian qua, mặc dù các NHTM đã có những nỗ lực lớn trong việc xử lý nợ xấu nhưng tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao. SHB là một trong những ngân hàng có nợ xấu tăng khá mạnh trong 6 tháng đầu năm 2022, với mức tăng 1 nghìn tỷ đồng, lên hơn 5,6 nghìn tỷ đồng (tương đương với mức tăng 21,7% so với 31/12/2017). Trong đó, nợ có khả năng mất vốn ở mức 3.273 tỷ đồng, tăng 14,2% và chiếm 58,2% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng theo đó cũng tăng khá mạnh, từ mức 2,33% đầu năm lên 2,7%/tổng cho vay. Đây cũng là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thứ ba trong số 17 ngân hàng.

    Tương tự, Techcombank cũng thuộc nhóm ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nợ xấu cao, khi kết thúc quý II/2018 có 3.396 tỷ đồng nợ xấu, tăng tới 31,44% so với 31/12/2017. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn ở mức 1.982 tỷ đồng, tăng 27,6% so với 31/12/2017 và chiếm 58,4% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng hiện ở mức 2,04%/tổng cho vay, tăng khá mạnh so với mức 1,62%. Tại các ngân hàng quy mô nhỏ hơn, tỷ lệ nợ xấu và cho vay khách hàng cũng tăng nhẹ. Cụ thể, TPBank cho vay khách hàng tính đến ngày 30/6/2018 đạt 73.770 tỷ đồng so với con số 63.422 tỷ đồng vào ngày 31/12/2017, tỷ lệ nợ xấu từ mức 1,10% cuối năm 2022 lên 1,17% vào cuối tháng 6/2018…

    Hạn chế trong quản trị RRTD ngân hàng hiện nay là do việc mở rộng tín dụng quá mức, đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát việc sử dụng khoản vay yếu. Việc tuân thủ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng. Bên cạnh đó, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng cũng dễ dẫn tới nguy cơ RRTD. Một nguyên nhân khác dẫn đến RRTD cho NHTM là tình trạng một số công ty, tổng công ty đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTM để tránh sự kiểm tra, giám sát của ngân hàng cho vay. Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền không chịu thực hiện việc trả nợ thay…

    Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng

    Để giảm thiểu RRTD nợ xấu, thời gian tới, các ngân hàng cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

    Một là, tháng 12/2017, Ủy ban Basel công bố văn bản “Basel III: Hoàn thiện các cải cách sau khủng hoảng”, với việc cải cách một số tiêu chuẩn để thực hiện tính vốn đối với các loại rủi ro như RRTD, rủi ro điều chỉnh định giá tín dụng hay rủi ro hoạt động. Ủy ban Basel đã đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn mới khi yêu cầu thực hiện tính vốn cho rủi ro hoạt động – phương pháp tiêu chuẩn, có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đối với các ngân hàng quốc tế. Sự ra đời của tiêu chuẩn này có ảnh hưởng lớn đối với dữ liệu tổn thất nội bộ của ngân hàng, cũng như cách thức vận dụng các dữ liệu để mang đến các giá trị kinh doanh và quản lý rủi ro theo chiều sâu. Vì vậy, các ngân hàng cần xây dựng hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế.

    Hai là, hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm RRTD, trong đó, các chỉ số cảnh báo sớm rủi ro cần bao phủ được các nguyên nhân gây ra vỡ nợ chủ yếu cho khách hàng doanh nghiệp như: Triển vọng kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, tài sản đảm bảo và hồ sơ tín dụng, những thay đổi về mặt quản lý hoặc chiến lược… Đồng thời, tăng cường sử dụng các chỉ tiêu có thể tính tự động như tỷ lệ sử dụng hạn mức, số ngày quá hạn, độ biến động dòng tiền vào ra… nhằm tăng tính hiệu quả, bảo đảm số liệu cập nhật theo thời gian thực.

    Các NHTM cũng cần xác định chiến lược quản trị rủi ro hướng tới của ngân hàng. RRTD của ngân hàng cần được xem xét trên cả hai mặt – cơ hội và thách thức và không chỉ trên tác động của nó tới các khía cạnh định lượng như vốn kinh tế, mức độ biến động của thu nhập. Lựa chọn phương thức quản trị rủi ro hiện đại, sử dụng phương pháp định lượng trong đánh giá rủi ro trong từng giai đoạn cụ thể.

    Năm là, cần văn bản hóa các thủ tục và quy trình xác định, thu thập và xử lý dữ liệu về tổn thất nội bộ, bao gồm cả ngưỡng tối thiểu. Các văn bản về chính sách, thủ tục xác định và báo cáo những sự kiện về rủi ro hoạt động cần được xem là điểm khởi đầu trong việc quản lý hoạt động thu thập dữ liệu và chất lượng dữ liệu.

    Sáu là, thiết lập cơ sở vật chất hạ tầng hiệu quả cho việc thu thập, tổng hợp dữ liệu và báo cáo rủi ro. Hoạt động thu thập dữ liệu tổn thất không chỉ là tuân thủ mà còn phục vụ mục tiêu đưa ra các dự báo khả năng xảy ra tổn thất, cũng như ước tính mức độ ảnh hưởng của tổn thất.

    Triển khai hiệu quả các giải pháp trên, các ngân hàng có thể tham khảo văn bản BCBS 239 của Ủy ban Basel, trong đó, đề cập cụ thể các nguyên tắc tổng hợp và báo cáo dữ liệu rủi ro hiệu quả. Các nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp khi các ngân hàng thực hiện thiết lập cơ sở hạ tầng hiệu quả dành cho dữ liệu rủi ro hoạt động, cụ thể là dữ liệu tổn thất nội bộ. Phạm vi các quy tắc bao gồm: Hoạt động quản trị và hạ tầng tổng thể, năng lực tổng hợp dữ liệu rủi ro, hoạt động báo cáo về rủi ro, rà soát giám sát, công cụ giám sát và phối hợp.

    1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2014 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng;
    3. Nguyễn Thị Gấm (2016), Xử lý tài sản bảo đảm trong tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các NHTM Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 13, tháng 7/2016;
    4. Lê Thị Huyền Diệu (2010), “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ kinh tế;
    5. Nguyễn Đức Tú (2012), “Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ kinh tế;
    6. Đào Thanh Tú (2014), Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 6/2014.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng
  • Phân Tích Và Quản Lý Rủi Ro
  • 8 Bước Thực Hiện Quản Lý Rủi Ro
  • Các Phương Pháp Quản Lý Rủi Ro
  • Phương Pháp Đánh Theo Quản Lý Vốn Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Var (Giá Trị Tại Rủi Ro) Và Các Ứng Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Value At Risk Trong Ngành Ngân Hàng
  • 11 Cách Tối Ưu Hóa Và Tăng Tốc Win 7: Nhanh Hơn, Mượt Hơn
  • Vòng Quay Hàng Tồn Kho Là Gì? Cách Tính Vòng Quay Hàng Tồn Kho
  • Cách Tính Tỷ Lệ Vòng Quay Hàng Tồn Kho
  • Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân
  • 2013

    1

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

    Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp

    šª›

    Phương pháp VaR

    (Giá tri tai rui ro)

    và các ứng dụng

    TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ĐÊM 4 – CAO HỌC K21

    GG

    TP Hồồ Chí Minh, tháng 1 năm 2013

    U

    E

    H

    2

    – MỤC LỤC GIỚI THIỆU CHỦ ĐÊỀ NGHIÊN CỨU

    3

    CHƯƠNG I. LÝ THUYÊẾT VÊỀ GIÁ TRỊ CÓ RỦI RO

    3

    (VALUE AT RISK – VAR)

    3

    1.1 KHÁI NIỆM VÊỀ VAR

    3

    1.2 ÐẶC ĐIỂM CỦA VAR

    4

    1.3 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC TÍNH VAR

    5

    CHƯƠNG II

    7

    ỨNG DỤNG VAR TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO DANH MỤC CÁC CỔ PHIÊẾU NIÊM YÊẾT

    7

    2.1 GIỚI THIỆU VÊỀ DANH MỤC

    7

    2.1.1 CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ CHỌN LỰA 10 CỔ PHIÊẾU CHO DANH MỤC:

    7

    2.1.2 DANH SÁCH 10 LOẠI CỔ PHIÊẾU CẤẾU THÀNH NÊN DANH MỤC

    8

    2.1.3 TỶ TRỌNG CỦA TỪNG CỔ PHIÊẾU TRONG DANH MỤC

    8

    2.2 CHUẨN BỊ VÀ XỬ LÝ SỐẾ LIỆU

    9

    2.2.1 THU THẬP CHUỖỖI SỖẾ LIỆU GIÁ CỦA 10 CỔ PHIÊẾU TRONG DANH MỤC

    9

    2.2.2. TÍNH TOÁN NHỮNG CHỈ SỖẾ CẤẦN THIÊẾT

    9

    2.3. TÍNH VAR DANH MỤC BẰỀNG PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG SAI-HIỆP PHƯƠNG SAI VÀ PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ

    11

    2.3.1 TÍNH VAR DANH MỤC BẰẦNG PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG SAI – HIỆP PHƯƠNG SAI

    11

    2.3.2 TÍNH VAR CỦA DANH MỤC BẰẦNG PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ

    13

    2.4. TÍNH VAR CỦA CHỈ SỐẾ VN-INDEX BẰỀNG PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG SAI-HIỆP PHƯƠNG SAI VÀ

    PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ

    16

    3

    2.4.1 TÍNH VAR CỦA DANH MỤC BẰẦNG PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG SAI-HIỆP PHƯƠNG SAI

    16

    2.4.2 TÍNH VAR CỦA CHỈ SỖẾ VN-INDEX BẰẦNG PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ

    19

    2.5. BACKTESTING

    21

    2.5.1 SỰ CẤẦN THIÊẾT PHẢI LÀM BACKTESTING

    21

    2.5.2 THỰC HIỆN BACKTESTING

    21

    CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÊỀ VIỆC SỬ DỤNG VAR ĐỂ QUẢN TRỊ RỦI RO

    24

    3.1 Ý NGHĨA CỦA GIÁ TRỊ TẠI RỦI RO – VAR

    24

    3.2 NHỮNG HẠN CHÊẾ CỦA VAR

    24

    3.3 STRESSTESTING

    26

    3.3.1 TẠI SAO PHẢI STRESS TEST

    26

    3.3.2. NHỮNG BƯỚC THỰC HIỆN STRESS TEST

    28

    3.4 LƯU Ý KHI SỬ DỤNG GIẢ ĐỊNH PHÂN PHỐẾI CHUẨN

    28

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    29

    GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀỀ NGHIỀN CỨU

    Trên thế giới có rất nhiều các mô hình đo lường rủi ro khác nhau, nhưng có lẽ mô hình

    được sử dụng nhiều nhất là Value at Risk (VaR), được xác định dựa trên nền tảng toán

    xác suất thống kê phức tạp (Joe Nocera, 2009). VaR được phát triển và phổ biến rộng rãi

    vào đầu thập niên 1990 bởi các nhà toán học làm việc cho hãng JP Morgan. Theo Joe

    Nocera, lý giải cho việc VaR được sử dụng rộng rãi trong đo lường rủi ro của danh mục

    tài sản bởi vì nó biểu hiện rủi ro dưới dạng một con số duy nhất. Chính vì thế nó được ưa

    chuộng bởi vì tính trực quan của VaR giúp các ngân hàng quản trị rủi ro cụ thể và dê

    dàng hơn nhiều.

    4

    CHƯƠNG I. LÝ THUYỀẾT VỀỀ GIÁ TRỊ CÓ RỦI RO

    (Value at Risk – VaR)

    1.1 Khái niệm vềề VaR

    VD: Ông A đầu tư một khoản tiền lớn vào một danh mục cổ phiếu châu Âu và tháng vừa

    rồi giá trị danh mục đầu tư này đã giảm xuống 50,000€. Sau khi khảo sát những nguyên

    nhân dẫn đến sụt giảm lợi nhuận, ông A muốn biết mức tổn thất tối đa vào cuối tháng này.

    Câu trả lời ngay lập tức là ông A có thể mất hết khoản tiền đầu tư nhưng câu trả lời này

    không phù hợp với thực tế vì ai cũng biết trường hợp thiệt hại lớn này hiếm khi xảy ra.

    Câu trả lời thích hợp là : “nếu không tồn tại sự kiện đặc biệt, thì tổn thất tối đa trong 95%

    các trường hợp sẽ không vượt quá 4000€ vào cuối tháng này”. Ðó là khái niệm của VaR.

    VaR(1 tháng, 95%) = 4000€.

    VaR là một phương pháp đo lường khoản lỗ tiềm năng cho một công ty, một quỹ,một

    danh mục, một giao dịch, hay một chiến lược tài chính. Nó thường thể hiện bằngphần

    trăm hay bằng đơn vị tiền.Bất kể tại vị thế nào có thể gây ra lỗ cũng là mục tiêuđể tính

    bằng phương pháp đo lường VaR.

    VaR của một danh mục tài sản tài chính được định nghĩa là khoản tiền lỗ tối đa trong một

    thời hạn nhất định, nếu ta loại trừ những trường hợp xấu nhất (worst case scenarios)

    hiếm khi xảy ra.

    VaR là một phương pháp đánh giá mức rủi ro của một danh mục đầu tư theo hai tiêu

    chuẩn là giá trị của danh mục đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư.

    Ý tưởng đằng sau việc tính toán VaR là để xác định đặc điểm phân phối xác suất của tỷ

    suất sinh lời danh mục.

    5

    1.2 Ðặc điểm cua VaR

    Phương pháp VaR sẽ trả lời cho nhà đầu tư biết

    rằng nếu biến cố xấu xuất hiện vào ngày mai thì ông ta sẽ mất tối đa bao nhiêu tiền từ cổ

    phiếu của mình với một mức tin cậy nhất định. Như vậy có thể thấy rằng VaR có 3 đặc

    điểm:

    * Đo lường tổn thất của một tài sản hoặc một danh mục tài sản

    * Đo lường trong một khoảng thời gian cho trước

    * Đo lường trong một khoảng tin cậy cho trước

    Ðối với nhà đầu tư thì VaR của một danh mục tài sản tài chính phụ thuộc vào ba thông số

    quan trọng sau đây :

    Độ tin cậy (ví dụ : nếu độ tin cậy là 99% thì có nghĩa có 1% trường hợp xấu nhất

    có thể xảy ra)

    Xác suất được chọn thông thường là 0.05 hoặc 0.01 (tương đương với 95% hay 99% mức

    độ tin cậy). Sử dụng mức 0.01 dẫn đến một sự ước lượng VaR khá thận trọng, v ì nó định

    ra con số mà tại mức nơi đáng lý ra chỉ có 1 % xác suất bị lỗ thì sẽ xấu hơn là mức VaR

    đã tính.

    Khoảng thời gian đo lường VaR

    Quyết định quan trọng thứ hai đối với người sử dụng VaR là chọn được khoảng thời

    gian.VaR thường đo lường trên một ngày, nhưng khác lạ là khoảng thời gian dài thường

    thông dụng hơn. Các định chế ngân hàng thích chu kì thời gian 2 tuần. Nhiều công ty báo

    cáo VaR theo quý và năm để thích hợp với chu kỳ báo cáo hoạt động kinh doanh. Ngân

    6

    hàng đầu tư, các quỹ đầu cơ, và những nhà giao dịch (dealer) có vẻ thích đo lường VaR

    theo ngày, có lẽ vì vị thế của họ có mức luân chuyển vốn cao. Bất kể khoảng thời gian

    nào được chọn, nếu thời gian càng dài, con số VaR sẽ cànglớn vì trọng số của mức lỗ

    mong đợi thay đổi trực tiếp với thời gian dài mà nó đo lường. Một cá nhân hay một tổ

    chức chịu trách nhiệp quản trị rủi ro sẽ chọn khoảng thời gian riêng.

    Đơn vị tiền tệ

    Giá trị tại rủi ro là một phương pháp đưa ra một cái nhìn tổng thể về rủi ro thông quaxác

    suất và cả những tính toán định lượng. Nói cách khác, VaR là một sự đo lườngbằng tiền

    về rủi ro. Như vậy, việc lựa chọn đơn vị tiền tệ là rất quan trọng để trả lờicho câu hỏi: “Số

    tiền mà tôi có thể bị lỗ trong một khoảng thời gian là bao nhiêu?”.

    1.3 Phương pháp ước tính VaR

    Hiện nay có ba phương pháp thông dụng nhất để tính VaR :

    * Lịch sử (historical method)

    * Phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)hay còn gọi là phương

    pháp phân tích

    * Mô phỏngMonte Carlo

    – Phương pháp lịch sử(historical method)

    Phương pháp đơn giản này đưa ra giả thuyết rằng sự phân bố tỷ suất sinh lợi trong quá

    khứ có thể tái diên trong tương lai. Nói cụ thể, VaR được xác định như sau :

    1. Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư

    2. Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số

    rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất…)

    3. Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất

    4. Tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ. Ví dụ : nếu ta có một

    danh sách bao gồm 1400 dữ liệu quá khứ (historical data) và nếu độ tin cậy là 95%, thì

    7

    VaR là giá trị thứ 70 trong danh sách này = (1 − 0.95) × 1400. Nếu độ tin cậy là 99% thì

    VaR là giá trị thứ 14.

    – Phương pháp phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    Phương pháp này đưa ra giả thuyết rằng các tỷ suất sinh lợi và rủi ro tuân theo phân bố

    chuẩn. Đường cong màu xanh lá cây sau đây là phân bố chuẩn của những dữ liệu trên :

    VaR được tính cụ thể như sau :

    1. Tính giá trị hiện tại V0 của danh mục đầu tư

    2. Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng m và độ lệch chuẩn suất sinh

    lợi σ của danh mục đầu tư

    3. VaR được xác định theo biểu thức sau đây :

    8

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phiếu Vgm Là Gì Trong Xuất Khẩu Hàng Hóa?
  • Vgm Là Gì? Tại Sao Phải Khai Báo Vgm
  • Quy Định Vgm Là Gì? Xác Nhận Khối Lượng Container ( Verified Gross Mass)
  • Một Số Bài Toán Lớp 5 Giải Bằng Cách Tính Ngược Từ Cuối Lên
  • Một Số Bài Toán Giải Bằng Cách Tính Ngược Từ Cuối Lên
  • Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Quản Trị Rủi Ro Lãi Suất Tại Ngân Hàng Xây Dựng, Điểm Cao, 2022
  • Các Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Tổng Quan Về Quản Lý Chất Thải Rắn Trên Thế Giới Và Một Số Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Quản Lý Sản Xuất Là Gì
  • Phương Pháp Quản Lý Sản Xuất Hiệu Quả
  • Một vấn đề quan trọng có thể quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại chính là quản trị rủi ro tín dụng một cách hiệu quả. Nguồn: internet

    Việc tìm ra các giải pháp tích cực nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của hệ thống quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng luôn có ý nghĩa quan trọng lâu dài. Bài viết tập trung đề cập đến một số lý luận cơ bản giúp người đọc có cái nhìn khái quát, toàn diện về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại hiện nay ở nước ta.

    Hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng hoạt động của ngân hàng. Theo số liệu báo cáo về hoạt động ngành Ngân hàng, nguồn thu lãi vay của hệ thống các ngân hàng Việt Nam chiếm từ 75% – 80% tổng các nguồn thu của ngân hàng. Chính vì vậy, hoạt động cấp tín dụng trong các ngân hàng là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro, do đó cần đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đồng thời cân bằng giữa áp lực phát triển và quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) sao cho phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và mục tiêu kinh doanh của các NHTM nói riêng. Thực tế trên, đòi hỏi các nhà quản trị cần có những kiến thức cơ bản nhất về hoạt động quản trị RRTD tại các NHTM.

    Khái quát về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng

    Khi nói đến RRTD trong ngân hàng, đơn giản nhất có thể hiểu “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Trong bộ “17 nguyên tắc quản trị RRTD” của Basel 2 được Ủy ban Basel ban hành tháng 9/2000 có đề cập: “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận”.

    Theo cuốn Quản trị rủi ro ngân hàng (2001) của Joel Bessis, RRTD được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc đó là sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay.

    Như vậy, RRTD có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó là sự không chắc chắn trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của người được cấp tín dụng cho ngân hàng theo đúng cam kết đã ký. RRTD là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể nói rằng việc ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tín dụng chính là hoạt động kinh doanh thu lợi dựa trên rủi ro phát sinh từ hoạt động đó.

    Theo Tổ chức Moody’s Analytics, quản trị RRTD là một quá trình thực hiện các biện pháp giảm tổn thất bằng cách hiểu một cách đầy đủ về vốn và dự phòng RRTD trong một khoảng thời gian nhất định. Với quan điểm này thì quản trị RRTD thực chất là việc nhà quản trị có những biện pháp để quản lý vốn và dự phòng cho RRTD.

    Ủy ban Basel cho rằng, quản trị RRTD là việc thực hiện các biện pháp tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo RRTD bằng cách duy trì số dư tín dụng trong phạm vi các tham số cho phép. Khái niệm về quản trị RRTD của Ủy ban Basel đã làm rõ được vấn đề đó là mục đích của quản trị RRTD là tối đa hóa lợi nhuận dựa trên cơ sở đảm bảo tổn thất do RRTD gây ra nằm trong giới hạn mà ngân hàng có thể chấp nhận được.

    Theo khung quản trị RRTD của ngân hàng Standard Charter (năm 2012), quản trị RRTD là quá trình quản lý RRTD thông qua thiết lập khung các chính sách và thủ tục, nhằm kiểm soát việc đo lường và quản lý RRTD. Trong khi đó, tài liệu hướng dẫn quản trị RRTD của MAS (Singapore) cho biết, quản trị RRTD là quá trình nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát, kiểm soát và báo cáo RRTD thông qua thiết lập khung các chính sách và thủ tục, nhằm kiểm soát việc đo lường và quản lý RRTD.

    Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

    Hiện nay, có 02 mô hình quản trị RRTD được phổ biến sử dụng đó là:

    – Mô hình quản trị RRTD tập trung: Công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro khách hàng, ngân hàng được tập trung ở hội sở chính hoặc theo vùng, miền. Mô hình này tách biệt độc lập giữa 02 chức năng: Chức năng kinh doanh và chức năng quản trị rủi ro.

    Phạm vi áp dụng: Mô hình này thông thường được thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động lớn.

    – Mô hình quản trị RRTD phân tán: Công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro của ngân hàng được thực hiện tại các chi nhánh riêng biệt. Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ chỉ đạo hướng dẫn chung và thẩm định khách hàng vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh. Mô hình này chưa tách biệt được độc lập chức năng kinh doanh và chức năng quản trị rủi ro.

    Phạm vi áp dụng được áp dụng thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ.

    Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Nhóm các nhân tố vĩ mô

    03 nhân tố vĩ mô của nền kinh tế tác động chính tới quản trị RRTD tại ngân hàng đó là: Tăng trưởng GDP, lạm phát và lãi suất. Lịch sử đã chứng minh rằng, tăng trưởng GDP, lạm phát và lãi suất có ảnh hưởng tới RRTD, đồng thời, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị RRTD.

    Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng, tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều với RRTD. Trường hợp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của khách hàng được cấp tín dụng, vì vậy, rõ ràng là xác suất xảy ra RRTD sẽ thấp hơn ở thời kỳ nền kinh tế suy thoái, hiệu quả quản trị RRTD của NHTM trong thời điểm này sẽ cao hơn.

    Tương tự như tăng trưởng GDP, lạm phát cũng có tác động lớn đến quản trị RRTD tại NHTM: Lạm phát cao được biết đến như là một trong những yếu tố gây ra khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào nền kinh tế, trong lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ thường xuyên xảy ra, gây nên sự mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông rối loạn. Điều này làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh cũng như thu nhập của các thành phần tham gia vào nền kinh tế.

    Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, các thành phần tham gia vào nền kinh tế có thể mất khả năng thanh toán, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư, do đó xảy ra RRTD là điều tất yếu, hiệu quả quản trị RRTD cũng sẽ thấp hơn thời kỳ lạm phát thấp.

    Lãi suất cũng là yếu tố tác động đến RRTD và quản trị RRTD, trong trường hợp lãi suất thực tăng có thể tạo động lực cho ngân hàng gia tăng các khoản cấp tín dụng. Nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng lên thì RRTD cũng sẽ có cơ hội gia tăng, hiệu quả quản trị RRTD suy giảm và ngược lại.

    Nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của các ngân hàng: – Về quy mô của ngân hàng:

    Qua các nghiên cứu cho thấy, thực tế quy mô của ngân hàng có tác động 2 chiều đến RRTD cũng như hiệu quả quản trị RRTD. Hiện nay, các nghiên cứu đi theo 2 hướng. Thứ nhất, ngân hàng có quy mô lớn thường có nguy cơ RRTD cao hơn, hiệu quả quản trị RRTD thấp hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ. Theo lý giải thông thường, đối với những ngân hàng có quy mô lớn, đối tượng khách hàng đều là những doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực khác nhau, vì vậy khi xảy ra biến động thị trường, các doanh nghiệp này dễ bị tổn thất nặng nề, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh từ đó xác suất không thực hiện được nghĩa vụ tín dụng đối với ngân hàng là khá lớn. Bên cạnh đó, đối với đối tượng khách hàng này, tâm lý chung của các ngân hàng là đơn giản hoá các thủ tục tín dụng, vì vậy tạo ra lỗ hổng trong quá trình cấp tín dụng sẽ phát sinh RRTD.

    Thứ hai, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, quy mô tín dụng ngân hàng có tác động ngược chiều đến RRTD, nghĩa là với những ngân hàng có quy mô lớn, có đầy đủ nguồn lực để xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro tốt hơn, do đó RRTD đối với các ngân hàng này là khá thấp mang lại hiệu quả quản trị RRTD cao.

    – Về tốc độ tăng trưởng tín dụng, cơ cấu tín dụng:

    Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh có thể tiềm ẩn chất lượng tín dụng không cao, xác suất xảy ra RRTD lớn, hiệu quả quản trị RRTD không được như mong muốn. Cơ cấu tín dụng trong từng thời kỳ của các ngân hàng cũng ảnh hưởng đến RRTD (cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, cơ cấu tín dụng theo đối tượng khách hàng, cơ cấu tín dụng theo thời gian…) Căn cứ vào chính sách và kế hoạch phát triển tín dụng từng năm của các ngân hàng, cơ cấu tín dụng sẽ có thay đổi. Trường hợp cơ cấu tín dụng của ngân hàng không có sự điều chỉnh cân bằng phù hợp, chẳng hạn tỷ trọng cấp tín dụng trong lĩnh vực bất động sản cao hơn trong các ngành, lĩnh vực khác hoặc chú trọng phát triển đối tượng khách hàng tín dụng doanh nghiệp lớn… thì RRTD sẽ cao hơn do nguồn vốn tín dụng chỉ tập trung vào các lĩnh vực này. Nếu xảy ra biến động lớn, ngân hàng có khả năng sẽ lâm vào tình trạng mất cân đối vốn, mất khả năng thanh khoản, làm giảm uy tín của ngân hàng. Tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE): Tỷ lệ ROE của ngân hàng trong một thời kỳ ở mức thấp, điều này thể hiện hiệu quả kinh doanh từ hoạt động tín dụng không cao, đây cũng chính là kết quả của công tác quản trị RRTD thực hiện không tốt, gây thất thoát nguồn vốn và làm suy giảm nguồn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

    – Về nguồn nhân lực:

    Trong hoạt động tín dụng, nếu chất lượng nguồn nhân lực yếu kém, không đủ năng lực chuyên môn để thực hiện thẩm định yêu cầu cấp tín dụng của khách hàng thì RRTD phát sinh là điều không thể tránh khỏi. Điều này cũng thể hiện năng lực quản trị RRTD của mỗi ngân hàng chưa thực sự tốt. Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp của mỗi cán bộ tín dụng cũng là vấn đề cần quan tâm. Cán bộ tín dụng thiếu đạo đức nghề nghiệp, vì tư lợi có thể làm sai lệch hồ sơ xin cấp tín dụng hoặc bỏ qua, xem nhẹ các quy định cấp tín dụng đối với mỗi khách hàng cũng chính là nguyên nhân gây nên RRTD cho ngân hàng.

    Ngoài những nhân tố nêu trên, theo các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước thì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), chính sách tín dụng của các ngân hàng trong từng thời kỳ, tỷ suất lợi nhuận/tổng tài sản (ROA)… đều có ảnh hưởng cùng chiều hoặc ngược chiều đến hiệu quả của quản trị RRTD tại các NHTM.

    Quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

    Quy trình quản trị RRTD bao gồm 04 nội dung: Nhận biết rủi ro; đo lường rủi ro; ứng phó rủi ro; kiểm soát rủi ro. Đây là toàn bộ các khâu trong một quy trình quản trị RRTD. Tất cả các khâu này đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một chu trình liên tục, mới có thể tạo thành một quy trình quản trị RRTD hoàn chỉnh và hiệu quả.

    Trước tiên, ngân hàng cần phải tiến hành nhận biết được rủi ro tín dụng, thông qua những dấu hiệu cảnh báo sớm để có những giải pháp xử lý các vấn đề kịp thời và có hiệu quả. Đo lường RRTD là việc lượng hóa các mức độ rủi ro cũng như biết được xác suất rủi ro, mức độ tổn thất khi xảy ra rủi ro và khả năng chấp nhận nó của các ngân hàng. Đây chính là cơ sở để các ngân hàng đưa ra những chính sách phù hợp, nhanh chóng khi xảy ra RRTD.

    Ứng phó RRTD là việc sử dụng hệ thống công cụ, chính sách nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong ngân hàng. Các chính sách đó có thể là: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, quy định về chức năng nhiệm vụ bộ máy quản trị RRTD, các giới hạn tín dụng…

    Trong tình hình hiện nay, vấn đề kiểm soát được rủi ro tín dụng tại các NHTM là điều hết sức cấp thiết. Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp tích cực nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của hệ thống quản trị RRTD đối với khách hàng luôn có ý nghĩa quan trọng lâu dài. Điều đó đặt ra cho các nhà quản trị NHTM cần có kiến thức sâu rộng về hoạt động quản trị RRTD, từ đó giúp hoạch định được chính sách và đưa ra những quyết sách hợp lý, nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc giảm thiểu rủi ro của hoạt động tín dụng trong các NHTM.

    1. Quốc hội (2010), Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12;
    2. Phạm Ngọc Duy & Đinh Xuân Hạng (2013), Giáo trình Tài chính – Tiền tệ, NXB Tài chính;
    3. Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng,

      NXB Thống kê;

    4. Basel Committee on Banking Supervision (2006), Sound credit risk Assessment and Valuation for Loans;
    5. KPMG (2011), Credit risk under Basel 2;
    6. MAS (2013), Guidelines on risk management practices- credit risk;
    7. Joel Bessis, 2022, 4th Edition, Risk Management in Banking.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải
  • Giáo Trình Phương Pháp Mô Hình Tương Lai: Một Công Cụ Quản Lý Rừng
  • Cách Nào Để Giảm Nguy Cơ Rủi Ro Tỷ Giá Đối Với Các Doanh Nghiệp?
  • Chuyên Đề 6: Quản Trị Rủi Ro Tỷ Giá
  • Đo Lường Và Quản Trị Rủi Ro Lãi Suất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tính Lãi Suất Thực Tế Và Danh Nghĩa Như Thế Nào Cho Đúng Nhất?
  • Lãi Suất Thực Và Lãi Suất Danh Nghĩa
  • Phương Pháp Lãi Suất Thực (Effective Interest Method) Là Gì? Đặc Điểm Và Khái Niệm Liên Quan
  • Sự Khác Nhau Giữa Lãi Suất Thực Với Lãi Suất Danh Nghĩa
  • Kỹ Thuật Lai Tạo Và Tạo Giống Gà
  • 3.3. Đo lường và quản trị rủi ro lãi suất

    3.3.1. Đo lường rủi ro lãi suất

    Về lý thuyết, có ba mô hình đo lường rủi ro lãi suất cơ bản:

    – Mô hình định giá lại (Repricing model)

    – Mô hình kỳ hạn đến hạn (Maturity model)

    – Mô hình vòng đời bình quân (Duration model)

    Trong đó, hai mô hình: định giá lại và mô hình vòng đời bình quân được sử dụng phổ biến hơn cả.

    3.3.1.1. Mô hình định giá lại

    Mô hình định giá lại còn được gọi là Mô hình khe hở nhạy cảm lãi suất (Interest-Sensitive Gap Model). Phương pháp tiếp cận cơ bản của mô hình này là tập trung vào những tác động của sự biến động lãi suất đến thu nhập lãi suất ròng cận biên (NII = net interest income)

    Theo mô hình này, việc đo lường lãi suất được tiến hành qua các bước:

    – Xác định các khoản mục tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất (tức phải định giá lại) trong một thời kỳ tương lai

    – Xác đinh khe hở nhạy cảm lãi suất

    – Đo lường tổn thất

    (i) Xác định những tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất

    Tài sản/nợ nhạy cảm với lãi suất là những tài sản/nợ được định lại lãi suất theo hoặc gần bằng lãi suất thị trường trong kỳ kế hoạch.

    Theo đó, những tài sản nhạy cảm lãi suất bao gồm:

    – Khoản cho vay (thường là ngắn hạn) sắp đáo hạn/gia hạn

    – Chứng khoán đầu tư đáo hạn

    – Các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán có lãi suất thả nổi

    Nợ nhạy cảm với lãi suất bao gồm:

    – Vay từ thị trường tiền tệ (Vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng; RPs)

    – Tiền gửi tiết kiệm (thường là ngắn hạn) đáo hạn

    – Tiền gửi thị trường tiền tệ

    – Tiền gửi và khoản vay (bao gồm phát hành giấy tờ có giá) với lãi suất thả nổi

    – Giấy tờ có giá (thường là ngắn hạn) đáo hạn

    Những tài sản và nợ không thể tái định giá, tức không định lại lãi suất theo lãi suất thị trường, bao gồm:

    Về tài sản, bao gồm các khoản mục sau:

    – Tiền mặt/ Tiền gửi tại NHTƯ

    – Cho vay dài hạn với lãi suất cố định

    – Chứng khoán đầu tư dài hạn với lãi suất cố định

    – Tài sản cố định

    Về Nợ, bao gồm các khoản mục sau:

    – Tiền gửi các loại và các khoản vay (bao gồm giấy tờ có giá phát hành) lãi suất cố định chưa đáo hạn

    – Vốn chủ sở hữu

    Ví dụ: Các khoản mục tài sản và nợ từ Bảng cân đối rút gọn với thời gian còn lại

    Tài sản

    Số dư

    Nợ

    Số dư

    Cho vay TD ngắn hạn

    Cho vay TD 2 năm

    Tín phiếu KB 3 tháng

    Tín phiếu KB 6 tháng

    Trái phiếu KB 3 năm

    50

    25

    30

    35

    70

    20

    40

    Vốn cổ phần

    TK thanh toán

    TG kỳ hạn 3 tháng

    CD s 3 tháng

    Thương phiếu 6 tháng

    TG kỳ hạn 1 năm

    TG kỳ hạn 2 năm

    20

    40

    70

    40

    40

    20

    40

    – Tài sản nhạy cảm với lãi suất:

    RSA = 50 + 30 + 35 + 40 =155

    (RSA = Rate sensitivity Assets)

    – Nợ nhạy cảm với lãi suất:

    RSL = (40 ) +70 + 40+40+ 20 = 170 (210)

    (RSL = Rate sensitivity Liabilities)

    Có hai quan điểm về tiền gửi thanh toán:

    – Một quan điểm cho rằng do lãi suất tiền gửi thanh toán thấp nên những thay đổi trong lãi suất thị trường không ảnh hưởng đến lãi suất tiền gửi thanh toán hoặc ảnh hưởng không đáng kể do đó không nên coi tiền gửi thanh toán là một khoản mục nợ nhạy cảm với lãi suất.

    – Quan điểm thứ hai cho rằng: tiền gửi thanh toán vì là tiền gửi không kỳ hạn có độ linh hoạt cao nên một thay đổi nhỏ trong lãi suất cũng có ảnh hưởng đến các khoản tiền gửi này nên phải được coi là khoản mục nhạy cảm với lãi suất.

    Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) yêu cầu các ngân hàng phải xác định tài sản và nợ nhạy cảm theo các kỳ hạn sau:

    – Đến 1 ngày

    – Trên 1 ngày

    – Trên 3 tháng đến 6 tháng

    – Trên 6 tháng đến 1 năm

    – Trên 1 năm đến 5 năm

    – Trên 5 năm

    (ii) Xác định khe hở nhạy cảm lãi suất (GAPrs)

    GAPrs = Giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất trong kỳ kế hoạch – Giá trị nợ nhạy cảm với lãi suất trong kỳ kế hoạch

    GAPrs= RSA – RSL

    CGAPrs = ∑ GAP i

    CGAP rs: khe hở nhạy cảm lãi suất tích lũy.

    Do quy mô của tài sản khác nhau, nên GAP rs chưa phản ảnh mức độ rủi ro tương đối của ngân hàng, vì vậy cần tính các chỉ tiêu tương đối. Có 2 chỉ tiêu

    Tỷ lệ tài sản nhạy cảm lãi suất trên nợ nhạy cảm lãi suất

    – GAPrs <0 hay RSR <1: NH có trạng thái nhạy cảm nợ (Rủi ro khi lãi suất tăng)

    (iii) Xác định tổn thất trên thu nhập lãi ròng

    Việc xác định tổn thất trên thu nhập lãi ròng được chia ra 2 trường hợp:

    a. Trường hợp biến động lãi suất trên tài sản = trên nợ

    ∆NII = CGAPrs × ∆R = (RSA – RSL)∆R

    Trong đó:

    – ∆NII : Mức thay đổi thu nhập lãi ròng do biến động lãi suất thị trường

    – CGAP rs: Khe hở nhạy cảm lãi suất tuyệt đối tích luỹ

    – ∆r : Mức thay đổi lãi suất (r k– r o)

    + r k: Lãi suất dự kiến kỳ kế hoạch

    + r o: Lãi suất hiện hành

    Ghi chú: ∆NII <0 (rủi ro) khi GAPrs và ∆R khác dấu

      Trường hợp thay đổi lãi suất trên tài sản và nợ không bằng nhau

    ∆NII = (RSA ×∆RA) – (RSL × ∆RL)

    Trong đó:

    – ∆NII : Mức thay đổi thu nhập lãi ròng do biến động lãi suất thị trường

    – RSA: Giá trị TS nhạy cảm lãi suất

    – RSL : Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất

    – ∆r a : Mức thay đổi lãi suất đối với tài sản

    – ∆r l: Mức thay đổi lãi suất đối với nợ

    Mô hình tái định giá trong đo lường rủi ro lãi suất có các ưu điểm cơ bản sau:

    – Dựa trên các khái niệm dễ hiểu

    – Dễ dàng sử dụng để dự kiến những thay đổi về khả năng sinh lời đối với sự thay đổi lãi suất cho trước

    – Cho phép xác định các chiến lược tái cấu trúc tài sản và nợ nhằm phòng ngừa rủi ro lãi suất

    Mô hình này thường được các NH nhỏ sử dụng

    Tuy nhiên nó có những hạn chế cơ bản sau:

    – Hạn chế thứ ba là mô hình này không xét đến các các dòng tiền khấu trừ có thể tái đầu tư hoặc tái huy động ở mức lãi suất thị trường trong thời kỳ tái định giá. Nói cách khác, nó giả định tất cả các dòng tiền vào và ra chỉ có thể xuất hiện vào thời điểm đáo hạn.

    – Hạn chế thứ tư là nó bỏ qua các dòng tiền từ hoạt động ngoại bảng, chẳng hạn các dòng tiền từ các hợp đòng tương lai.

    Để khắc phục các hạn chế trên, có thể sử dụng hai giải pháp:

    – Phát triển nhiều kỹ thuật phức tạp và chặt chẽ hơn nhằm khắc phục một số nhược điểm

    – Ứng dụng rộng rãi tin học trong thu thập và xử lý dữ liệu.

    3.3.1.2. Mô hình kỳ hạn đến hạn

    Mô hình này được phát triển nhằm đo lường tác động của biến động lãi suất lên giá trị thị trường của tài sản, nợ và giá trị ròng của ngân hàng.

    Xuất phát từ tương quan nghịch giữa lãi suất và giá trị thị trường của tài sản và nợ và kỳ hạn càng dài thì giá trị thị trường càng giảm nhiều, mô hình này tập trung vào xác định khe hở kỳ hạn giữa tài sản và nợ. Khe hở này càng lớn tức chênh lệch về kỳ hạn giữa tài sản và nợ càng lớn thì biến động của tài sản và nợ càng chênh lệch nhiều và do đó tác động đến giá trị ròng của ngân hàng càng lớn.

    Khe hở kỳ hạn đến hạn được xác định như là Chênh lệch giữa bình quân gia quyền kỳ hạn đến hạn của tài sản và bình quân gia quyền kỳ hạn đến hạn của nợ của ngân hàng.

    GAP M = M A – M L

    Trong đó:

    GAP M : Khe hở kỳ hạn đến hạn

    – M A : Kỳ hạn đến hạn bình quân của tài sản

    – M L : Kỳ hạn đến hạn bình quân của nợ

    M A =

    M L =

    Trong đó:

    – W Ai : Tỷ trọng tài sản thứ i

    – M Ai : Kỳ hạn đến hạn của khoản mục tài sản thứ i

    – n : số khoản mục nợ

    – W Li : Tỷ trong khoản nợ thứ i

    – M Li : Kỳ hạn đến hạn của khoản nợ thứ i

    – m: số khoản mục nợ

    Các trạng thái

    Vì giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (E) = Giá trị thị trường tài sản – Giá trị thị trường nợ nên theo lập luận xuất phát ở trên:

    – GAP M < 0 : Lãi suất giảm thì giá trị vốn chủ sở hữu giảm (giá trị nợ tăng nhiều hơn)

    Mô hình kỳ hạn đến hạn có hai ưu điểm cơ bản sau:

    – Đơn giản, trực quan

    – Lượng hóa tác động của biến động lãi suất đối với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu

    Nhược điểm cơ bản của nó là:

    – Chưa tính tới tác động của các dòng tiền khác nhau trong cùng một kỳ hạn đến hạn.

    – Chưa tính đến tác động của đòn bẩy nợ

    3.3.1.3. Mô hình khe hở vòng đời bình quân

    (i) Khái niệm vòng đời bình quân (Duration)

    Vòng đời bình quân là một khái niệm về kỳ hạn của một khoản đầu tư (tài sản) hay một khoản nợ có tính đến thời điểm nhận được các dòng tiền.

    Một cách tương đối có thể định nghĩa là kỳ hạn đến hạn bình quân gia quyền của một tài sản trong đó hiện giá các dòng tiền tương ứng với từng kỳ hạn là quyền số

    (The average life of an asset or liability or, more technically, the weighted-average time to maturity using the relative psent values of the asset or liability cash flows as weights – P.S. Rose)

    Công thức tính vòng đòi bình quân:

    D=

    – PV t: các dòng tiền nhận được ở cuối kỳ hạn t, hiện tại hoá theo tỷ suất chiết khấu

    – t: Khoảng thời gian nhận được các dòng tiền tính từ thời điểm đầu tư

    Ví dụ: Trái phiếu kỳ hạn đến hạn 6 năm, mệnh giá 1000, lãi suất cố định 8%/năm, lãi trả hàng năm

    t

    FV t

    (1 + r) t

    PV t

    PV t × t

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    80

    80

    80

    80

    80

    1080

    1,0800

    1,1664

    1,2597

    1,3605

    1,4693

    1,5869

    74,07

    68,59

    63,51

    58,80

    54,45

    680,58

    74,07

    137,18

    190,53

    253,20

    272,25

    4083,48

    1000

    4992,71

    = 4,99 năm

    – D Ai: Vòng đời của tài sản i (những tài sản có cùng kỳ hạn)

    – D Li: Vòng đời của khoản nợ i (những khoản nợ có cùng kỳ hạn)

    – W Ai : tỷ trọng giá trị của TS i

    – W Li : tỷ trọng giá trị khoản nợ i

    (ii) Đo lường rủi ro khe hở vòng đời bình quân

    = – D×

    Trong đó:

    – ∆P/P: Tốc độ giảm giá trị thị trường của một công cụ tài chính (tài sản/nợ)

    – D: vòng đời bình quân của công cụ tài chính đó

    – ∆r/(1+r): Tốc độ tăng lãi suất

    Mặt khác, ta lại có:

    Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ

    Ký hiệu giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu là E, của tài sản là A và của nợ là L, tao có:

    E = A – L → ∆E = ∆A – ∆L

    (ΔE: mức biến động tăng (+) hoặc giảm (-) trong giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu.

    ΔA: mức biến động tăng (+) hoặc giảm (-) trong giá trị thị trường của tài sản.

    Tương tự với ∆L

    = -D L ×

    Suy ra: ∆E= – (D A.A -D L.L).

    = -(D A. – D L. )A.

    → ∆E = -(D A – D L.k)A (2)

    (k = gọi là hệ số nợ)

    Kết luận:

    – Tác động của rủi ro lãi suất phụ thuộc 3 yếu tố:

    + Khe hở vòng đời bình quân đã điều chỉnh theo đòn bẩy nợ (Duration Gap, ký hiệu là GAP D)

    GAP D = D A – D L.

    + Tổng tài sản của ngân hàng (A) hay quy mô của NH

    + Tốc độ tăng của lãi suất

    Có thể viết lại phương trình 2 để thấy rõ hơn:

    ΔE = – GAP D × A × (3)

    – Ngân hàng sẽ gặp rủi ro thị trường khi ΔE <0, tức GAP D và Δr cùng dấu. Ngược lại, ngân hàng sẽ thu lợi về vốn khi GAP D và Δr ngược dấu

    3.3.2. Quản trị rủi ro lãi suất

    Để kiểm soát rủi ro lãi suất, NH có thể sử dụng 2 công cụ cơ bản:

    – Tái cấu trúc bảng cân đối

    – Sử dụng các công cụ phái sinh

    Tùy theo việc lựa chọn mô hình đo lường rủi ro mà các chiến lược tái cấu trúc bảng cân đối để phòng ngừa rủi ro lãi suất có thể khác nhau

    3.3.2.1. Chiến lược tái cấu trúc tài sản và nợ

    (i) Quản trị khe hở nhạy cảm lãi suất phòng ngừa rủi ro lãi suất

    Các chiến lược này xuất phát từ mô hình đo lường rủi ro dựa trên khe hở nhạy cảm lãi suất.

    – Chiến lược thuần bảo vệ, tức là chiến lược nhằm phòng ngừa rủi ro thuần túy mà không nhằm đầu cơ. Theo chiến lược này, ngân hàng cần phải điều chỉnh khe hở về mức Zero (cấu trúc lại kỳ hạn của tài sản và nợ)

    Các chiến lược tái cấu trúc này xuất phát từ mô hình đolwowngf rủi ro lãi suất theo khe hở vòng đời bình quân. Tương tự như trên và xuất phát từ phương trình (3), ngân hàng có thể lựa chọn các chiến lược tái cấu trúc:

    – Chiến lược bảo vệ thuần: Tái cấu trúc bảng cân đối sao cho khe hở vòng đời về Zero, theo các cách sau:

    + Điều chỉnh D A cố định D L ×k

    + Điều chỉnh đồng thời D A và D L

    + Điều chỉnh k

    Hệ quả của chiến lược này là đưa ΔE → 0

    – Chiến lược bảo vệ năng động

    + Dự đoán lãi suất tăng: Dịch chuyển về trạng thái khe hở âm, tức giảm D A đồng thời tăng D L ×k

    + Dự đoán lãi suất giảm: Dịch chuyển về trạng thái khe hở dương, tức tăng D A và giảm D L × k

    a. Nghiệp vụ phòng chống thế đoản (short hedge)

    – Trường hợp lãi suất tăng dẫn đến chi phí vay vốn tăng và giá trị tài sản giảm: ngân hàng bán hợp đồng tài chính tương lai sau đó mua lại một hợp đồng tương tự ở thời điểm đến hạn trên thị trường giao ngay

    b. Nghiệp vụ phòng chống thế trường (long hedge)

    Trường hợp lãi suất giảm dẫn đến sụt giảm thu nhập từ tín dụng và kinh doanh chứng khoán: ngân hàng mua hợp đồng tài chính tương lai sau đó bán lại một hợp đồng tương tự ở thời điểm đến hạn trên thị trường giao ngay.

    (ii) Sử dụng Hợp đồng quyền chọn (Interest rate Options)

    Có 4 chiến lược cơ bản về sử dụng hợp đồng quyền chọn :

    – Chiến lược mua quyền chọn mua (Buying a call)

    – Chiến lược bán quyền chọn mua (Selling a call)

    – Chiến lược mua quyền chọn bán (Buying a put)

    – Chiến lược bán quyền chọn bán (Selling a put)

    Việc sử dụng các chiến lược nói trên nhằm đạt các mục tiêu:

    – Chống lại tổn thất do khe hở nhạy cảm lãi suất

    – Chiến lược mua hợp đồng quyền bán

    – Chiến lược bán hợp đồng quyền mua

    Cả hai chiến lược trên đều dựa trên lô – gic là khi lãi suất tăng giá thị trường của các công cụ tài chính cơ sở của hợp đồng quyền chọn trên thị trường giao ngay sẽ giảm. Do đó, với chiến lược mua hợp đồng quyền bán, ngân hàng sẽ có lợi khi giá thị trường giao ngay giảm và ngân hàng có quyền chọn bán. Ngược lại, với chiến lược bán hợp đồng quyền mua, khi giá giảm người mua sẽ không thực hiện hợp đồng và ngân hàng sẽ có khoản thu phí bán quyền chọn.

    Để phòng chống tổn thất do khe hở nhạy cảm lãi suất, chiến lược có thể lựa chọn phụ thuộc vào trạng thái khe hở nhạy cảm lãi suất:

    – Trong trường hợp khe hở âm, lãi suất tăng: ngân hàng có thể thực hiện chiến lược mua hợp đồng quyền bán hoặc chiến lược bán hợp đồng quyền mua. Lô- gic ở đây là khi lãi suất tăng, giá thị trường của các công cụ tài chính cơ sở của hợp đồng quyền chọn sẽ giảm.

    – Trong trường hợp khe hở dương, lãi suất giảm: ngân hàng có thể lựa chọn chiến lược mua hợp đồng quyền mua hoặc chiến lược bán hợp đồng quyền bán với lô-gíc là giá thị trường của các công cụ tài chính cơ sở của hợp đồng quyền chọn sẽ tăng.

    Các nghiên cứu thực tế cho thấy vì nhiều lý do, trong đó có lý do giới hạn pháp lý, các ngân hàng chỉ chủ yếu thực hiện chiến lược mua quyền. Một số nghiên cứu khác cho thấy các các ngân hàng nhỏ chủ yếu thực hiện chiến lược mua quyền; các NH lớn thực hiện cả hai chiến lược mua quyền và bán quyền chọn.

    (iii) Sử dụng Hợp đồng hoán đổi lãi suất (Interest rate Swaps)

    Chức năng cơ bản của các hợp đồng hoán đổi lãi suất là:

    – Cho phép hai người vay có thể trao đổi các đặc điểm có lợi nhất trong các hợp đồng của họ với nhau nhằm tối đa hoá lợi ích của hai bên

    – Thay đổi trạng thái rủi ro lãi suất của một NH, giảm chi phí huy động vốn bằng cách:

    + Chuyển lãi suất cố định thành lãi suất thả nổi (và ngược lại)

    + Làm cho kỳ hạn tài sản và nợ phù hợp hơn

    Các ví dụ điển hình về hợp đồng hoán đổi lãi suất:

    Ví dụ 1:

    – Ngân hàng 1 huy động vốn kỳ hạn 2 năm lãi suất cố định, trả lãi 6 tháng 1 lần. Cho vay lãi suất 6 tháng thay đổi lãi suất 1 lần. NH này cần giảm kỳ hạn hoàn trả bằng cách giảm kỳ hạn nợ và chuyển lãi suất cố định thành lãi suất thả nổi.

    – Ngân hàng 2 cho vay thế chấp, lãi suất cố định. Huy động tiền gửi tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn ngắn. NH này cần tăng kỳ hạn hoàn trả và chuyển lãi suất huy động thả nổi thành lãi suất cố định

    Ví dụ 2:

    – NHA có phân hạng tín dụng thấp, khe hở kỳ hạn dương, không muốn có những biến động trong ngắn hạn. Ngân hàng này không tiếp cận được các nguồn vốn dài hạn chi phí thấp

    – NHB có phân hạng tín dụng cao, có khả năng vay dài hạn với chi phí thấp nhưng muốn các khoản nợ ngắn hạn có lãi suất linh hoạt do khe hở kỳ hạn âm, không muốn có những biến động trong dài hạn.

    Các bên tham gia hợp đồng SWAP lãi suất

    Trả lãi suất cố định nếu phát hành trái phiếu dài hạn

    Trả lãi suất thả nỗi nếu huy động giấy tờ có giá ngăn hạn

    Khoản tiết kiệm tiềm năng của mõi bên

    NHA

    11,5%

    Lãi suất cơ bản + 1,75%

    0,50%

    NHB

    9%

    Lãi suất cơ bản

    0,25%

    Chênh lệch lãi suất do phân hàng tín dụng khác nhau

    2,5%

    1,75%

    0,75%

    – NHA sẽ trả 9% lãi suất cố định. Số tiết kiệm được là:

    11,5% – 9% – (1,75% + 0,25%) = 0,5%

    – NHB sẽ trả lãi suất cơ bản – 0,25%. Số tiết kiệm được sẽ là: 0,25%

    (iv) Sử dụng hợp đồng Caps, Floors and Collars

    Hợp đồng trần lãi suất (Interest rate Caps) bảo vệ những tổn thất do lãi suất thị trường tăng. Hợp đồng này có thể được sử dụng trong các trường hợp sau:

    – Người cho vay bảo đảm với bên vay không tăng lãi suất vượt quá mức trần

    – Mua hợp đồng trần lãi suất từ bên thứ ba. Thực chất là mua quyền chọn mua lãi suất. Bên này sẽ thanh toán chênh lệch lãi suất vượt quá mức trần

    Nhờ hợp đồng trần lãi suất, người mua hợp đồng sẽ chuyển từ lãi suất thả nổi thành lãi suất cố định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lãi Suất Là Gì Và 7 Công Thức Tính Lãi Suất Thường Gặp Trong Ngân Hàng
  • Cách Tính Lãi Suất Vay Ngân Hàng Đơn Giản, Chính Xác Nhất
  • Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Lưu Ý Trước Khi Áp Dụng Cách Trồng Lại Quất Sau Tết
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Quất Sau Tết
  • Chuyên Đề 6: Quản Trị Rủi Ro Tỷ Giá

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nào Để Giảm Nguy Cơ Rủi Ro Tỷ Giá Đối Với Các Doanh Nghiệp?
  • Giáo Trình Phương Pháp Mô Hình Tương Lai: Một Công Cụ Quản Lý Rừng
  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại
  • Published on

    Chuyên đề 6: Quản trị rủi ro tỷ giá

    1. 1. TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Chuyên đề 6: QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Nhóm thực hiện: 1 GVHD: PHẠM THỊ PHƯƠNG LOAN
    2. 2. DANH SÁCH NHÓM 1 1.Huỳnh Thị Mỹ Duyên 12020231 2.Lê Thanh Huyền 12013821 chúng tôi Thị Cẩm Hường 12020531 4.Nguyễn Thị Bích Ngọc (NT) 12020551
    3. 3. Nội dung chính Dự báo TGHĐ Đo lường rủi ro do dao động tỷ giá Rủi ro giao dịch Rủi ro kinh tế và rủi ro qui đổi
    4. 4. * Chi phí hoạt động và doanh thu hoạt động của một công ty MNC bị ảnh hưởng bởi biến động TGHĐ. * Việc công ty dự báo về biến động của TGHĐ tác động đến tính khả thi của các dự án và quyết định của ban quản trị. Vì sao các công ty dự đoán TGHĐ?
    5. 7. Các phương pháp dự báo TGHĐ Kỹ thuật Cơ bản Dựa vào thị trường Hỗn hợp
    6. 8. So sánh phân tích cơ bản và kỹ thuật Tiêu chí Phân tích kỹ thuật Phân tích cơ bản Phương pháp Dựa vào biểu đồ, xu hướng biến động của tỷ giá trong quá khứ để dự đoán xu hướng tiếp theo trong tương lai. Dựa vào các yếu tố như thu nhập, lãi suất, lạm phát, kì vọng và kiểm soát của chính phủ để xác định tác đông đến xu hướng biến động dài hạn của tỷ giá Ứng dụng Giúp ta dự báo xu hướng đúng, nhưng phải được sử dụng theo nguyên tắc đã được tính toán chứ không phải theo cảm tính Nghiên cứu các lý do hoặc nguyên nhân làm cho giá tăng lên hoặc giảm xuống, sau đó đưa ra quyết định.
    7. 9. Tiêu chí Phân tích kỹ thuật Phân tích cơ bản Hạn chế * Chỉ dự báo được tương lai gần. * Hiệu quả trong thời kỳ này nhưng không hiệu quả trong thời kỳ khác. * Không biết được thời gian chính xác về tác động của các yếu tố lên giá trị tiền tệ. * Một vài yếu tố tác động tức thời đến tỷ giá. * Không dễ dàng định lượng một vài yếu tố đáng được quan tâm trong quá trình dự báo. * Các hệ số rút ra không nhất thiết giữ nguyên qua các thời gian Các lý thuyết Lý thuyết Dow, lý thuyết Fibonacci, lý thuyết Elliott Wave… Đồng giá sức mua (PPP), ngang giá lãi suất (IRP), mô hình cán cân thanh toán quốc tế, mô hình thị trường vốn
    8. 10. 3 .Rủi ro giao dịch Khái niệm: Tính nhạy cảm của những giao dịch hợp đồng bằng ngoại tệ đối với các biến động của tỷ giá Rủi ro giao dịch. Yêu cầu khi đánh giá rủi ro giao dịch. Công ty cần:  Ước tính dòng tiền thuần đối với mỗi loại tiền tệ.  Đo lường tác động tiềm tàng của rủi ro tiền tệ.
    9. 11. Ước tính dòng tiền thuần đối với mỗi loại tiền tệ Các công ty MNC có xu hướng tập trung vào rủi ro giao dịch trong ngắn hạn sắp tới → dự đoán dòng tiền ngoại tệ chính xác cao. Để đo lường rủi ro giao dịch, MNC cần lập kế hoạch về khối lượng thuần nhất đối với dòng tiền ra vào được phân loại theo tiền tệ.
    10. 12. Ví dụ 10.2: Ước lượng dòng tiền thuần hợp nhất công ty Miami. Loại tiền Tổng dòng tiền vào Tổng dòng tiền ra Dòng tiền vào thuần hoặc ra thuần Tỷ giá kì vọng vào cuối mỗi quý Dòng tiền vào ra thuần được tính theo USD Đồng bảng Anh £17.000.000 £7.000.000 +£10.000.000 $1,5 +$15.000.000 Đồng đôla Canada C$12.000.000 C$2.000.000 C$10.000.000 $0,8 +$8.000.000 Đồng krona Thụy Điển SK20.000.000 SK120.000.000 -SK100.000.000 $0,15 -$15.000.000 Đồng peso Mexico MXP90.000.000 MXP10.000.000 +MXP80.000.000 $0,1 +$8.000.000
    11. 13. Ví dụ 10.3: Ước lượng khoảng dao động của dòng tiền vào hoặc ra thuần công ty Miami Loại tiền tệ Dòng tiền vào thuần hoặc ra thuần Khoảng dao động tỷ giá có thể vào cuối mỗi quý Khoảng dao dộng dòng tiền vào thuần hoặc ra thuần có khả năng được tính theo đôla Mỹ (dựa trên khoảng dao động tỷ giá có thể có) Đồng bảng Anh +£10.000.000 $1,4 đến $1,6 +$14.000.000 đến +$16.000.000 Đồng đôla Canada C$10.000.000 $0,79 đến $0,81 +$7.900.000 đến $8.100.000 Đồng krona Thụy Điển -SK100.000.000 $0,14 đến $0,16 -$14.000.000 đến -$16.000.000 Đồng peso Mexico +MXP80.000.000 $0,08 đến $0,11 +$6.400.000 đến +$8.800.000
    12. 14. 4. Quản trị rủi ro đối với khoản phải trả Bằng hợp đồng kỳ hạn. QTRR khoản phải trả Qua thị trường tiền tệ. Phòng vệ bằng quyền chọn
    13. 15. * Cho phép cố định một mức tỷ giá biết trước mà DN có thể mua ngoại tệ và cho phép DN phòng vệ các khoản phải trả bằng ngoại tệ. * Hợp đồng kỳ hạn giữa công ty và một định chế tài chính xác định: 1. Loại tiền công ty sẽ trả. 2. Loại tiền công ty sẽ nhận 3. Lượng tiền công ty sẽ nhận. 4. Tỷ giá công ty trao đổi các loại tiền. 5. Thời điểm trao đổi tiền tệ. QTRR bằng hợp đồng kỳ hạn.
    14. 16. Ví dụ trang 435: Công ty MNC của Mỹ là Coleman cần 100.000 euro trong nột năm. → Công ty có thể ký hợp đồng kỳ hạn để mua đồng euro sau một năm. Biết tỷ giá kỳ hạn một năm: F = $1,20. Vậy, nếu công ty mua kỳ hạn hợp đồng euro một năm, chi phí tính theo USD trong một năm là: Chi phí tính bằng USD = Khoản phải trả × Tỷ giá kỳ hạn = 100.000 euro × $1,20 = $120.000
    15. 17. * Tham gia vào thị trường tiền tệ để bảo hiểm cho vị thế các khoản phải trả trong tương lai. * Nếu công ty có tiền mặt dôi dư → kỹ thuật phòng vệ thị trường tiền tệ đơn giản. * Nhiều công ty ưa thích việc bảo hiểm các KPT mà không sử dụng đến số dư tiền mặt. Để có kỹ thuật phòng vệ trong trường hợp này, cần: 1. Mượn vốn bằng đồng nội tệ 2. Đầu tư ngắn hạn vào ngoại tệ QTRR qua thị trường tiền tệ.
    16. 18. Ví dụ trang 436: Công ty Coleman cần 100.000 euro trongmộtnăm, Công ty cóthểchuyển USD sang Euro vàgửi Euro tạingânhànghôm nay. Giảsử, lợinhuậnkiếmđượclà 5%, thìcông ty cầngửi 95.238 euro đểcóđược 100.000 euro saumộtnăm: Lượngtiềngửiđểphòngngừacáckhoảnphảitrả = 𝟏𝟎𝟎.𝟎𝟎𝟎 𝒆𝒖𝒓𝒐 (𝟏+𝟓%) = 𝟗𝟓. 𝟐𝟑𝟖 𝒆𝒖𝒓𝒐
    17. 19. Giảsửtỷgiágiaongayhôm nay S = $1,18, lượng USD cầnthiếtđểthựchiệnviệcgửitiềnnày: Lượngtiềngửi USD cầnthiết = 𝟗𝟓. 𝟐𝟑𝟖 𝒆𝒖𝒓𝒐 × $1,18 = $112.381 Nếu Coleman cóthểvay USD vớii = 8%, công ty sẽvaymượnsốvốncầnthiếtđểthựchiệnviệcgửitiền, vàcuốinămcông ty phảitrả: Lượng USD phảihoàntrả = $112.381× (1 + 8%) = $121.371 → Nhưvậy, đểcóđược 100.000 euro trongmộtnăm, công ty cầnphảicó$121.371
    18. 20. Một quyền chọn mua tiền tệ cung cấp một quyền để mua một số lượng cụ thể một loại tiền xác định tại một mức giá cụ thể trong một khoảng thời gian cho trước. Tuy nhiên không giống với hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn mua tiền tệ không bắt buộc người nắm giữ quyền phải mua tiền tại mức giá đó. Các MNC có thể linh động để quyền chọn đáo hạn và mua tiền tệ tại tỷ giá giao ngay khi các khoản phải trả đã đến thời hạn thanh toán. QTRR bằng quyền chọn
    19. 21. Ví dụ trang 437: Coleman cần 100.000 euro trong một năm. Cty có thể mua quyền chọn mua 100.000 euro, nó có thể phòng vệ rủi ro cho các khoản phải trả. Gỉa sử quyền chọn mua có giá thực hiện là $1,20, mức phí là $0,03, và ngày đáo hạn là một năm kể từ bây giờ. → Đồ thị phản ứng diễn biến tỷ giá đối với việc phòng ngừa bằng quyền chọn mua như sau: * Trục hoành chỉ ra một vài tỷ giá của đồng euro có thể xảy ra vào thời điểm các khoản phải trả đến hạn thanh toán. * Trục tung chỉ ra chi phí phòng vệ mỗi đồng euro cho tại tỷ giá giao ngay có thể có.
    20. 23. Tóm lược các kỹ thuật phòng vệ khoản phải trả Kỹ thuật phòng về khoản phải trả 1. Lựa chọn việc phòng vệ bằng hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng tương lai. 2. So sánh kỹ thuật phòng vệ bằng hợp đồng hỳ hạn ( tương lai) với thi trường tiền tệ 3. Đánh giá tính khả thi của kỹ thuật phòng vệ bằng quyền chọn mua tiền tệ
    21. 24. Ví dụ minh họa 11.3: So sánh các kỹ thuật phòng vệ thay thế dành cho công ty Coleman 1. Phòng vệ bằng hợp đồng kỳ hạn Mua euro kỳ hạn 1 năm Lượng USD cần dùng trong một năm = Các khoản phải trả tính theo euro × tỷ giá kỳ hạn đồng euro =100.000 euro × $1.20 = $120.000 2. Phòng vệ trên thị trường tiền tệ Mượn đô la Mỹ, chuyển sang euro, đầu tư euro, trả nợ vay đô trong một năm: Lượng euro đem đầu tư = €100.000/(1+0,05) Lượng đola Mỹ cần thiết để chuyển sang euro = 95.238 × $1,18= $112.381 Tiền lãi và nợ gốc từ khoản vay bằng đô sau 1 năm = $112.381 × (1+0,08) = $121.371
    22. 25. 3. Quyền chọn mua Mua quyền chọn mua. (Tính toán sau đây giả thiết rằng quyền chọn được thực hiện vào ngày cần sử dụng đông euro hoặc không có gì xảy ra cả. Gía thực hiện = $1,20, mức phí = $0,03 Tỷ giá giao ngay khả thi trong 1 năm Mức phí trả cho mỗi đơn vị khi mua quyền chọn mua Có thực hiện quyền chọn hay không? Gía tổng cộng (bao gồm cả mức phí quyền chọn mua) trả cho mỗi đơn vị Gía tổng cộng trả cho 100.000 EURO Xác suất $1.16 $0,03 Không $1,19 $119.000 20% 1.22 0,03 Có 1,23 123.000 70% 1.24 0,03 Có 1,23 123.000 10%
    23. 27. Ví dụ trang 445, QTRR bằng hợp đồng kỳ hạn : Công ty MNC của Mỹ là Viner sẽ nhận được 200.000 franc trong 6 tháng. → Công ty có thể ký hợp đồng kỳ hạn để bán đồng franc trong 6 tháng. Biết tỷ giá kỳ hạn 6 tháng: F = $0,71. Vậy, nếu công ty bán kỳ hạn hợp đồng franc 6 ththangscoong ty có thể ước tính lượng USD nhận được trong 6 tháng: Dòng tiền tính theo USD = Khoản phải thu × Tỷ giá kỳ hạn = 200.000 franc × $0,71 = $142.000
    24. 28. Ví dụ trang 445, QTRR qua thị trường tiền tệ : Công ty Viner nhậnđược 200.000 franc trong 6 tháng, Công ty cóthểchuyển USD sang franc vàgửifranc tạingânhànghôm nay. Công ty cóthểvayvốnbằng franc vớimứclãilà 3%/6 tháng. Sốtiềncông ty sẽphảivayđểhoàntrảtoànbộkhoảnvaytrong 6 tháng: Lượngtiềnvay= 𝟐𝟎𝟎.𝟎𝟎𝟎 𝒇𝒓𝒂𝒏𝒄 (𝟏+𝟑%) = 𝑺𝑭𝟏𝟗𝟒. 𝟕𝟓
    25. 29. * Nếu cty Viner không cần bất kỳ khoản tiền nào để hỗ trợ, cty có thể chuyển đổi franc Thụy Sỹ mà mình đã vay sang đôla Mỹ. * Giả sử tỷ giá giao ngay hiện hành S= $0.70. Khi cty Viner chuyển đổi franc Thụy Sỹ, cty sẽ nhận được: Lượng đôla nhận được từ khoản vay = SF194.175 × $0,70 = $135.922 * Sau đó, số đôla Mỹ có thể được đầu tư vào thị trường tiền tệ. Giả sử lãi suất 2%/6 tháng. Trong 6 tháng, việc đầu tư sẽ có giá trị: $135.922 × 1,02 = $138.640 * Vì vậy, nếu cty Viner sử dụng kỹ thuật phòng vệ bằng thị trường tiền tệ, thì các khoản phải thu của cty sẽ trị giá $138.640 trong 6 tháng
    26. 31. * Viner xem xét việc phòng vệ rủi ro cho các khoản phải thu của mình trị giá 200.000 franc Thụy Sỹ trong 6 tháng. →mua quyền chọn bán cho SF 200.000 * Gỉa sử quyền chọn bán có giá thực hiện là $0,70 với mức phí là $0,02, và ngày hết hạn 6 tháng kể từ bây giờ. → đồ thị phản ứng diễn biến tỷ giá cho việc phòng vệ bằng quyền chọn bán như thể hiện trong minh họa 11.5. * Trục hoành cho thấy một vài tỷ giá khả thi của đồng franc Thụy Sỹ có thể xảy ra tại thời điểm khoản phải thu đến hạn. * Trục tung cho thấy tiền mặt nhận được từ việc phòng vệ bằng quyền chọn mua dựa trên diễn biến tỷ giá giao ngay. Ví dụ trang 447:
    27. 33. Minh họa 11.7. So sánh những kỹ thuật phòng vệ rủi ro thay thế của Viner 1. Hợp đồng kỳ hạn Bán kỳ hạn franc Thụy Sỹ 6 tháng Lượng USD nhận được = Giá trị khoản phải thu × Tỷ giá kỳ hạn franc trong 6 tháng tính theo franc Thụy Sỹ = SF200.000 × $0,71 = $142.000 2. Thị trường tiền tệ Mượn Franc Thụy Sỹ chuyển đổi thành đô la Mỹ, đầu tư đô la Mỹ, sử dụng các khoản phải thu để tất toán tiền vay trong 6 tháng. Lượng franc Thụy Sỹ nhận được = SF200.000/(1+0,03) Lượng USD nhận được từ việc chuyển đổi franc Thụy Sỹ = SF 194.175 × $70 mỗi SF = $135.922 Lượng USD dồn tích sau 6 tháng = $135.922 × (1+0,02) = $138.640
    28. 34. 3. Quyền chọn bán Mua quyền chọn bán.( Giả sử các quyền chọn được thực hiện vào ngày nhận được đồng franc Thụy Sỹ, hoặc không nhận được gì cả. Giá thực hiện = $0,72, mức phí = $0,02) Tỷ giá giao ngay có thể có trong 6 tháng Mức phí trả cho mỗi đơn vị khi mua quyền chọn bán Có thực hiện quyền chọn hay không? Số tiền nhận được từ mỡi đơn vị (sau khi trừ đi mức phí) Tổng số đôla Mỹ nhận được từ việc chuyển đổi 200.000 franc Thụy Sỹ Xác suất $0,71 $0,02 Có $0.70 $140.000 30% 0,74 0,02 Không 0,72 144.000 40 0,76 0,02 Không 0,74 148.000 30
    29. 35. * Một số các MNC nhất định có dòng tiền mặt bằng ngoại tệ trong nhiều năm và cố gắng sử dụng phòng vệ rủi ro dài hạn. * Các công ty nào có thể ước tính chính xác các khoản phải trả hoặc các khoản phải thu bằng tiền tệ nước ngoài trong nhiều năm kể từ bây giờ thường sử dụng hai kỹ thuật để phòng vệ rủi ro hối đoái giao dịch dài hạn: – Hợp đồng kỳ hạn dài hạn – Khoản vay song song 6. Phòng vệ rủi ro giao dịch dài hạn
    30. 36. * Khi phòng vệ hoàn hảo không có sẵn (hoặc là quá đắt) để loại bỏ rủi ro hối đoái giao dịch, công ty sẽ phải xem xét các phương pháp ít nhất là giảm được rủi ro. * Các phương pháp này bao gồm:  Trả trước và trả sau.  Phòng vệ rủi ro chéo.  Đa dạng hóa tiền tệ. 7. Kỹ thuật phòng vệ thay thế
    31. 39. Đa dạng hóa tiền tệ * Hạn chế ảnh hưởng tiềm tàng của việc giữ một loại tiền tệ duy nhất ở công ty đa quốc gia. * Một số công ty đa quốc gia như công ty Coca Cola, Pepsi, và Altria,… Cho rằng rủi ro do các biến động tỷ giá hối đoái được giảm đáng kể bởi vì họ đa dạng hóa việc kinh doanh của mình trên nhiều quốc gia. * Mối tương quan chặt chẽ hoặc tương quan nghịch có thể làm giảm mức độ thay đổi của giá trị tính bằng đồng đôla Mỹ của tất cả các dòng tiền vào ngoại tệ. Vì vậy, khi các đồng ngoại tệ nhận được không tương quan quá chặt chẽ sẽ ổn định hơn trong tương lai cho dòng tiền vào bằng ngoại tệ của công ty.
    32. 40. 9.Rủi ro kinh tế * Sự nhạy cảm của những dòng tiền của công ty đối với các biến động tỷ giá → rủi ro kinh tế ( rủi ro hoạt động) * Rủi ro giao dịch là 1 phần của rủi ro kinh tế . Nhưng rủi ro kinh tế cũng bao gồm nhiều cách khác mà theo đó những dòng tiền mà công ty nhận được có thể bị ảnh hưởng bởi các biến động tỷ giá.
    33. 41. Những ví dụ về rủi ro kinh tế. Một công ty Mỹ Dòng tiền nhận bằng đôla của công ty Mỹ bị tác động bất lợi nếu 1. Có một hợp đồng xuất khẩu sản phẩm theo đó công ty đồng ý nhận đồng Euro Đồng Euro mất giá 2.Có một hợp đồng để nhập khẩu nguyên liệu được tính bằng đồng peso Mexico Đồng peso lên giá 3. XK sản phẩm sang vương quốc Anh, được tính bằng đồng đola Mỹ, và các đối thủ cạnh tranh nằm tại vương quốc Anh Đồng bảng Anh mất giá (khiến cho một số khách hàng nhảy sang phía các đối thủ cạnh tranh) 4.Bán sản phẩm cho khách hàng địa phương, và đối thủ cạnh tranh chính nằm tại Bỉ Đồng Euro mất giá (khiến cho một số khách hàng nhảy sang phía các đối thủ cạnh tranh)
    34. 43. Giao dịch ảnh hưởng đến dòng tiền ra bằng đồng nội tệ của công ty Nguồn cung ứng nhập khẩu của công ty được thanh toán bằng đồng nội tệ. Không thay đổi Không thay đổi Nguồn cung ứng nhập khẩu của công ty được thanh toán bằng đồng ngoại tệ. Giảm Tăng Lãi phải trả cho nguồn vốn vay mượn từ nước ngoài. Giảm Tăng
    35. 44. Giao dịch ảnh hưởng đến dòng tiền ra bằng đồng nội tệ của công ty Nguồn cung ứng nhập khẩu của công ty được thanh toán bằng đồng nội tệ Không thay đổi Không thay đổi Nguồn cung ứng nhập khẩu của công ty được thanh toán bằng đồng ngoại tệ Giảm Tăng Lãi phải trả cho nguồn vốn vay mượn từ nước ngoài Giảm Tăng
    36. 45. Rủi ro do tăng giá / giảm giá đồng nội tệ  Rủi ro lên giá đồng nội tệ: o Giá nội tệ tăng → Hàng hóa dịch vụ trong nước tăng, có xu hướng sử dụng các sản phẩm thay thế từ nước ngoài, NK tăng, XK giảm. o Gây ra một sự sụt giảm trong cả dòng tiền vào và ra. o Dòng tiền thuần của công ty sẽ phụ thuộc vào những giao dịch tạo ra dòng tiền vào bị ảnh hưởng nhiều hơn hay ít hơn so với giao dịch dòng tiền ra. o Về tổng thể, dòng tiền thuần của công ty sẽ tăng lên bởi sự lên giá của đồng nội tệ.
    37. 46.  Rủi ro giảm giá đồng nội tệ: o Các giao dịch của công ty sẽ bị tác động theo hướng ngược lại so với khi đồng nội tệ tăng. o Doanh thu trong nước sẽ tăng do giảm sự cạnh tranh từ nước ngoài bởi vì giá cả tính theo các đồng ngoại tệ mạnh lúc này trở nên quá cao đối với khách hàng trong nước, XK tăng, NK giảm. o Về tổng thể, sự giảm giá của đồng nội tệ làm tăng lên cả dòng tiền vào và dòng tiền ra.
    38. 48. Đo lường rủi ro kinh tế Sử dụng phân tích độ nhạy Sử dụng phân tích hồi quy
    39. 49. 10. Rủi ro qui đổi Rủi ro báo cáo tài chính hợp nhất của công ty đa quốc gia trước các biến động tỷ giá được biết đến như là rủi ro qui đổi
    40. 50. Rủi ro qui đổi có quan trọng? * Thu nhập từ công ty con có thể chuyển hoặc không chuyển về công ty mẹ, tùy thuộc vào giá của đồng tiền mà công ty con nắm giữ vào thời điểm đó. Quan điểm dòng tiền * Vì rủi ro chuyển đổi của một công ty đa quốc gia có thể ảnh hưởng đến thu nhập hợp nhất nên nhiều nhà đầu tư có xu hướng sử dụng thu nhập khi định giá công ty hoặc ước lượng dòng tiền kỳ vọng từ thu nhập các kỳ trước,… Quan điểm về giá cổ phiếu
    41. 51. Các yếu tố quyết định rủi ro quy đổi Tỷ lệ trong hoạt động KD do các công ty con nước ngoài thực hiện Vị trí của các công ty con nước ngoài Phương pháp kế toán mà công ty MNC sử dụng
    42. 52. Ví dụ về rủi ro chuyển đổi Một chi nhánh tại Anh của Providence kiếm được: * 10 triệu bảng trong năm 1. * 10 triệu bảng trong năm 2. Những khoản thu nhập này + thu nhập công ty con khác →chuyển sao USD theo tỷ giá trung bình có trọng số trong năm đó. Giả sử, tỷ giá TB có trọng số là $1,70 trong năm 1 và $1,50 trong năm 2. ta có thu nhập chuyển đổi sang USD là: Kỳ báo cáo Thu nhập từ công ty con ở Anh Tỷ giá trung bình có trọng số Thu nhập chuyển sang USD Năm 1 £10.000.000 $1,70 $17.000.000 Năm 2 £10.000.000 $1,50 $15.000.000

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng
  • Phân Tích Và Quản Lý Rủi Ro
  • 8 Bước Thực Hiện Quản Lý Rủi Ro
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100