Top 5 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Quản Trị Website Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Quản Trị Website Là Gì? Hướng Dẫn Quản Trị Website Hiệu Quảdịch Vụ Quản Trị Web

Quản trị website là gì?

Quản trị website bao gồm các công việc sau: duy trì server, sửa lỗi code, thiết kế logo và nội dung, theo dõi traffic, xây dựng các thành tố của website,… Ngoài ra, họ còn phải xây dựng, quản lý content up lên website, đánh giá và tối ưu SEO,… Để có thể thực hiện được tốt những công việc này đòi hỏi phải có sự tương tác, phối hợp tốt giữa team thiết kế, content và lập trình. Bởi lúc này, chính những những con người đó có vai trò quản lý, nắm tất cả những yếu tố tạo nên website chuẩn. Thậm chí, người quản trị website còn phải làm việc với tất cả các phòng ban để chắc chắn nội dung họ đưa lên là hoàn toàn chính xác, phù hợp với định hướng phát triển cũng như những chính sách của doanh nghiệp.

Quản trị website – việc làm không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp

Với nội dung hấp dẫn, phù hợp cùng giao diện bắt mắt, dễ sử dụng, khách hàng sẵn sàng chia sẻ lên các trang mạng xã hội, mời bạn bè và người thân truy cập website của bạn. Lượng lead có tiềm năng từ đó cũng tăng dần và chuyển đổi thành khách hàng thực sự.

Đối với việc kinh doanh truyền thống, bạn cần phải thuê mặt bằng, cửa hàng cùng đội ngũ nhân viên bán hàng. Nhưng đối với thế giới mạng, khi bạn có website thì việc xây dựng hình ảnh thương hiệu, thu hút và chăm sóc khách hàng, quảng bá sản phẩm là điều quá dễ dàng. Thực tế chứng minh, nhu cầu mua hàng online ngày càng nhiều thì quản trị website hiệu quả là một trong những cách nhanh nhất và tiết kiệm nhất để tiếp cận khách hàng. Bạn cũng không bị giới hạn về không gian và khoảng cách địa lý, bạn có thể cung cấp các sản phẩm cho tất cả những người có nhu cầu. Vô hình chung, thị trường mục tiêu của bạn có thể được mở rộng.

Những công việc của quản trị website

Quản trị và cập nhật giao diện website

Điều ấn tượng với khách hàng không phải là bạt ngàn thông tin mà đó là giao diện, là cách sử dụng dễ dàng và thân thiện với người dùng. Vì thế, công việc đầu tiên của những nhà quản lý web là phải xây dựng và cập nhật những bản giao diện ấn tượng nhưng dễ dàng sử dụng. Hãy thường xuyên xem xét và xử lý những lỗi về hình ảnh, link hay code web,… Những lỗi này sẽ ảnh hưởng đến giao diện, cản trở những trải nghiệm của người dùng.

“Content is King” chưa bao giờ là sai. “Chị” Google luôn nhắc nhở về việc cập nhật, update những thông tin mới, có giá trị. Là một người quản trị website, bạn cần phải nắm rõ content hiện tại, xu hướng content tương lai và đưa ra kế hoạch phù hợp. Đặc biệt, phải nắm bắt trend tốt, sử dụng những câu từ hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của khách hàng.

Dù có nhiều bài viết thì cũng nên lưu ý đến sự nhất quán trong việc thể hiện sứ mệnh của doanh nghiệp, triết lý kinh doanh của tổ chức. Đồng thời qua đó giới thiệu được sản phẩm, thương hiệu đến người dùng.

Ngoài content, có rất nhiều tiêu chí để có thể đạt được thứ hạng tốt hơn trên thanh công cụ tìm kiếm Google. Một người quản trị website giỏi là phải biết cách xây dựng kế hoạch tối ưu website, có những kiến thức cơ bản về SEO. Những từ khóa cần hấp dẫn và dễ dàng tìm kiếm. Trao đổi với team SEO để có kế hoạch tối ưu tốt nhất.

Quản lý đường truyền hosting và sao lưu dữ liệu

Khi quản lý website, bạn phải đảm bảo hoạt động của đường truyền hosting phải diễn ra bình thường. Nhớ rằng hãy sao lưu dữ liệu cẩn thận phòng trường hợp xảy ra sự cố còn triển khai các phương án khắc phục, phục hồi sau này

Đánh giá hoạt động quản trị website thường xuyên

Khi thực hiện bất kì công việc gì cũng cần phải có bước đánh giá hiệu quả. Quản trị website cũng không ngoại lệ, cần có bước review để đánh giá hiệu suất làm việc, chỉ ra những việc chưa tốt, chưa đạt được. Đồng thời phát huy những thế mạnh để tối ưu website, thu hút người dùng.

Những công việc dành cho người mới học quản trị website

Công việc hàng ngày

Backup website: Ở bước này, bạn có thể nhanh chóng phục hồi trạng thái website khi đường truyền hosting gặp sự cố. Cách tốt nhất la nên lưu những file dữ liệu về máy tính để khôi phục nhanh chóng và không bị mất dữ liệu

Quản lý uptime: Downtime là điều không ai mong muốn, là cơn ác mộng đối với sales và những người quản trị website. Vì thế, hãy đăng ký các công cụ checking trực tuyến mỗi khi website gặp phải downtime. Nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên, bạn nên nâng cấp hoặc chọn đơn vị hosting khác.

Báo cáo bảo mật: Rủi ro bảo mật thông tin cùng những phần mềm đọc hại ngày càng nhiều, bạn tuyệt đối phải cảnh giác, tránh nhiễm các mã độc này.

Công việc hàng tuần

Kiểm tra Theme, WordPress và cập nhật plugin: Thường xuyên cập nhật những thay đổi mới nhất để có thể bảo vệ website khỏi những nguy cơ bị rò rỉ thông tin, những bảo mật.

Kiểm tra website trên các trình duyệt: Có thể đối với trình duyệt này website của bạn hoạt động tốt nhưng đối với trình duyệt khác lại không tốt. Đơn cử như việc truy cập trên điện thoại và máy tính sẽ khác nhau. Vì vậy, hãy kiểm tra website trên các trình duyệt khác nhau nhằm mang đến trải nghiệm tối ưu cho người dùng. Đừng quên test lại phiên bản mobile.

Công việc hàng tháng hay hàng quý

Phân tích website: Dựa vào kết quả hoạt động của website cũng như các công cụ phân tích để phân tích yếu tố SEO. Nguồn traffic chủ yếu đến từ đâu, thời gian tập trung lượng truy cập, thời lượng trung bình người dùng ở lại website,… Từ đó có thể đánh giá sự tăng trưởng của website, tối ưu những trang có traffic cao nhất và thay đổi những trang có chất lượng kém.

Kiểm tra loading time: Việc kiểm tra tốc độ tải trang để điều chỉnh, tránh trường hợp thời gian loading chậm, khách hàng sẽ out nhanh và tìm đến website khác. Đặc biệt là khi bạn thêm nhiều file ảnh và media với dung lượng lớn làm khả năng tải trở nên lâu hơn.

Kiểm tra form: Ít nhất mỗi tháng bạn nên lướt qua website một lần và thử điền các forrm để đảm bảo rằng không hề xảy ra lỗi khi người dùng tương tác.

Loại bỏ Plugin hoặc Theme: Cứ 3 tháng, bạn cần lọc lại những Theme và Plugin không cần thiết cho website.

Kiểm tra lại backup: Việc Backup diễn a hàng ngày nhưng bạn cũng cần kiểm tra tổng quát và chi tiết định kỳ. Hãy xem xét vị trí file lưu trữ dữ liệu quan trọng này, từ đó đưa ra dự đoán hiệu quả của kế hoạch dự phòng, đề phòng trường hợp xấu có những sự cố xảy ra.

Công việc hàng năm

Không chỉ lên kế hoạch công việc hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng, bạn cần tổng quan bởi cả công việc định kì hàng năm. Công việc hàng năm của người quản trị website gồm 2 công việc sau:

Cập nhật copyright: Hãy cập nhật thông tin theo năm hiện tại, tránh trường hợp để năm trước thậm chí là vài năm trước nữa. Như vậy khách hàng sẽ nghi ngờ, không tin tưởng và không liên hệ với bạn

Đánh giá hiệu quả theme và plugin

Nhiệm vụ và kỹ năng cần có khi quản trị website

Nhiệm vụ của người quản trị website

Trong môi trường kinh doanh trên Internet hiện đại bùng nổ như như ngày nay thì quản trị website đóng vai trò rất quan trọng giúp cho các công ty, doanh nghiệp phát huy được sức mạnh tiềm ẩn của mỗi một website, mang lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất.

Vậy vai trò của người quản trị website như thế nào? Nhiệm vụ của người quản trị website bao gồm những nhiệm vụ chính sau đây:

– Bảo hành, bảo trì website định kỳ

– Vận hành Website

– Quản trị nội dung website

– Báo cáo, theo dõi tình hình hoạt động của website thường xuyên, định kỳ

Kỹ năng cần có của người quản trị website

Để đảm bảo được công việc quản trị website được thực hiện tốt nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, những người quản trị website cần có những kỹ năng sau:

– Am hiểu về cấu trúc Website

– Biết thêm về các ngôn ngữ lập trình

– Sử dụng thành thạo các công cụ phục vụ việc quản trị website như Google Analytics, Google Webmaster Tool, …

– Khả năng quản trị nội dung cho website

– Khả năng xử lý đồ họa cơ bản

– Có kiến thức cơ bản về SEO và Marketing Online: những quản trị website có nhiệm vụ quan trọng là tăng lượng người truy cập và tăng thứ hạng từ khóa trên các công cụ tìm kiếm. Để làm được điều này thì người quản trị website phải am hiểu về SEO để tối ưu website thân thiện hơn.

Vai trò của website ngày càng trở nên quan trọng khi Internet bùng nổ và việc quản trị website sẽ quyết định đến hiệu quả kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp.

Hướng Dẫn Cách Quản Trị Website Hiệu Quả

Website không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động làm marketing online hiệu quả mà còn thể hiện bộ mặt của doanh nghiệp đối với đông đảo khách hàng và đối tác trên thị trường. Sở hữu một trang web có giao diện đẹp, thiết kế khoa học, chuyên nghiệp là yếu tố cần nhưng chưa đủ mà bạn còn cần phải hiểu được tầm quan trọng của việc quản trị web và biết cách quản trị trang web sao cho có thể mang lại giá trị lợi ích kinh tế cao nhất. Với một số hướng dẫn cách làm quản trị website hiệu quả trong bài viết này, chúng tôi muốn chia sẻ đến bạn những yếu tố, các tiêu chuẩn cần quan tâm và phương pháp thực hiện đơn giản để bạn có thể quản lý trang web mà không tốn quá nhiều công sức nhưng vẫn có thể đạt được hiệu quả tốt cho công việc kinh doanh, bán hàng.

Giao diện thiết kế của một trang web đóng vai trò rất quan trọng bởi đó là hình ảnh đại diện thể hiện sự chuyên nghiệp của công ty trong mắt khách hàng và các đối tác trên thị trường. Mặc dù giao diện đã được lên kế hoạch sẵn và chuẩn bị từ trước khi thiết kế web nhưng theo thời gian sử dụng, giao diện của trang web cũng cần có sự thay đổi theo nhu cầu sử dụng hoặc cần thay đổi theo xu hướng người dùng ở tại thời điểm đó. Vì vậy, người quản trị cần kiểm tra và cập nhật xu hướng người dùng thường xuyên nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ cho trang web để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng theo từng thời điểm. Nếu thấy giao diện trang web không còn phù hợp với nhu cầu sử dụng và xu hướng người dùng hiện tại thì bạn có thể tiến hành .

Website quá cũ cần nâng cấp hoặc thiết kế lại cho phù hợp hơn với người dùng

Muốn quản trị tốt nội dung, trước tiên bạn hãy đặt cương vị mình là khách hàng và người dùng truy cập website để có thể hiểu được suy nghĩ, nhu cầu của họ và biên tập ra những thông tin hữu ích đăng tải lên trang web. Nhưng bạn cũng cần lưu ý rằng: nội dung đăng tải phải hay, hấp dẫn người đọc và quan trọng hơn cả đó là phải có tính thực tế, không nói quá hoặc mang tính sáo rỗng, phi thực tế.

Quản trị website tốt cần có kế hoạch phát triển một cách hợp lý

Sau khi thực hiện những kế hoạch đã vạch ra ngay từ ban đầu, bạn phải đánh giá lại công việc quản lý website có hiệu quả hay không sau một khoảng thời gian đưa vào sử dụng. Nếu bạn quản lý không kỹ lưỡng, thiếu khoa học thì sẽ rất khó nắm bắt được tình hình hoạt động của trang web. Do đó, bạn nên lập báo cáo đánh giá cụ thể, rõ ràng định kỳ và phải theo dõi thường xuyên để đảm bảo được hiệu quả trong việc quản trị trang web của mình. Bạn cũng có thể sử dụng các công cụ theo dõi và báo cáo thống kê như Google Analytics để kiểm tra xem lượng truy cập trang web như thế nào và hiệu quả thực tế ra sao.

Đến đây thì các bạn cũng đã có thể hình dung được cách thức quản trị website như thế nào và chú ý đến những vấn đề gì để phát triển web cho có hiệu quả rồi phải không? Nói tóm lại, công việc quản trị website đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển về lâu dài của một công ty hay cá nhân làm kinh doanh. Với một số hướng dẫn cơ bản về cách quản trị website mà đội ngũ kỹ thuật viên Phương Nam Vina chia sẻ ở trên, hi vọng sẽ giúp bạn lựa chọn được chiến lược quản trị phù hợp và tối ưu nhất cho trang web của doanh nghiệp mình.

Các Phương Pháp Quản Trị Kinh Doanh

, Student at Nha trang culture art and tourism college

Published on

1. CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ KINH DOANH Các mục tiêu quản trị kinh doanh, các quy luật kinh doanh và các nguyêntắc quản trị kinh doanh đã giúp cho chủ doanh nghiệp trả lời được câu hỏi “phảilàm gì?”, một câu hỏi tiếp theo quan trọng hơn nhiều mà các doanh nghiệp cầnphải giải đáp là “làm cái đó như thế nào?” Để trả lời được câu hỏi này, chủ doanhnghiệp cần có các phương pháp và nghệ thuật quản trị kinh doanh thích hợpSơ đồ 1: Mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp và nguyêntắc QTKD Khái niệm: Các phương pháp quản trị kinh doanh là tổng thể các cách thức tác động cóthể có và có chủ đích của chủ doanh nghiệp đối tượng kinh doanh (cấp dưới vàtiềm năng có được của doanh nghiệp) và khách thể kinh doanh, khách hàng, cácràng buộc của môi trường quản trị vĩ mô, các đối thủ cạnh tranh và các bạnhàng), để đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra, trong điều kiện môi trường kinhdoanh thực tế.

2. Phương pháp quản trị có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý. Quátrình quản lý và quá trình hoạt động các chức năng quản trị theo những nguyêntắc, nhưng các nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và thể hiện thông qua cácphương pháp quản trị nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản trị làmột nội dung cơ bản của quản trị kinh doanh. Mục tiêu, nhiệm vụ của quản trịđược thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quả trị kinh doanh.Trong những điều kiện nhất định, phương pháp quản trị có tác động quan trọngđến sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ.Vai trò quan trọng của các phương pháp quản trị còn ở chỗ nó nhằm khơi dậynhững động lực, kích thích tính năng sáng tạo của con người và tiềm năng củahệ thống cũng như các cơ hội có lợi bên ngoài. Phương pháp quản trị là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chỉthể với đối tượng và khách thể kinh doanh, tức là mối quan hệ giữa những conngười cụ thể, sinh động với tất cả sự phong phú, phức tạp của đời sống. Vì vậy,các phương pháp quản trị mang tính chất hết sức đa dạng và phong phú, đó làvấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong kinh doanh vì nó chính là bộ phận năngđộng nhất của hệ thống quản trị. Phương pháp quản trị thường xuyên thay đổitrong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng cũng nhưnăng lực và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp. Tác động của các phương pháp quản trị luôn là tác động có mục đích,nhằm phối hợp hoạt động, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống. Vì vậy, mục tiêukinh doanh quyết định bằng việc lựa chọn phương pháp quản trị kinh doanh.Trong quá trình quản trị phải luôn luôn điều chỉnh các phương pháp nhằm đạtmục đích tốt nhất. Chủ doanh nghiệp có quyền lựa chọn phương pháp quản trịnhưng không có nghĩa là chủ quan, tuỳ tiện muốn sử dụng phương pháp nàocũng được. Mỗi phương pháp quản trị khi sử dụng lại tạo ra một cơ chế tác độngmang tính khách quan vốn có của nó. Bên cạnh những yếu tố tích cực, phù hợpvới mục tiêu dự đoán của chủ doanh nghiệp cũng có thể xuất hiện một số hiệntượng nằm ngoài dự đoán ban đầu, thậm trí trái ngược với mục tiêu đặt ra. Điều

3. đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải tỉnh táo, sâu sát thực tế, kịp thời có biện phápbổ sung để khắc phục các mặt tiêu cực khi chúng xuất hiện. Như vậy, sử dụng các phương pháp quản trị vừa là khoa học vừa là nghệthuật. Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vũng đối tượng với những đặc điểm vốn cócủa nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quanphù hợp với đối tượng đó. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kếthợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng doanh nghiệpnhằm đạt mục tiêu kinh doanh đề ra. Quản trị có hiệu quả nhất khi biết lựa chọnđúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản trị. Đó chính là tài nghệquản lý của chủ doanh nghiệp nói riêng, của các nhà quản lý nói chung. Để nắm vững những tác dụng đa dạng, phong phú của các phương phápquản trị cần phân loại chúng và đi sâu nghiên cứu từng phương pháp. Tuỳ thuộc tiêu chuẩn phân loại và mục đích nghiên cứu mà có nhiều cáchphân loại đối với phương pháp quản trị. Theo cách phân loại phổ biến, căn cứvào nội dung và cơ chế hoạt động quản trị các phương pháp quản trị được chiathành: – Các phương pháp quản trị nội bộ doanh nghiệp – Các phương pháp tác động lên khách hàng – Các phương pháp quan hệ với cơ quan quản lý vĩ mô – Các phương pháp cạnh tranh với các đối thủ – Các phương pháp quan hệ với bạn hàng – Các phương pháp lôi kéo người ngoài doanh nghiệp CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ NỘI BỘ DOANH NGHIỆP

4. 1. Các phương pháp tác động lên con người o Các phương pháp giáo dục o Các phương pháp hành chính o Các phương pháp kinh tế 2. Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của doanh nghiệp o Mô hình hoá toán học o Các phương pháp dự đoán o Các phương pháp phân đoạn thị trường 1. Các phương pháp tác động lên con người * Các phương pháp giáo dục Các phương pháp giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảmcủa người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họtrong công việc thực hiện nhiệm vụ. Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản trị kinh doanh vì đốitượng cuả quản trị là con người – một thực thể năng động, tổng hoà nhiều mốiquan hệ. Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế, mà còn tácđộng tinh thần, tâm lý – xã hội v.v… Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.Đặc trưng các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người laođộng phân biết phải – trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nângcao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp. Các phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phươngpháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến

5. từng người lao động, có tác động giáo dục rộng rãi trong doanh nghiệp, đây làmột trong những bí quyết thành công của các xí nghiệp từ bản Nhật hiện nay(học thuyết Y, học thuyết Z). * Các phương pháp hành chính Các phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào cácmối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý và kỷ luật của doanh nghiệp. Bất kỳ hệ thống quản trị nào cũng hình thành mối quan hệ tổ chức trong hệthống. Về phương diện quản trị, nó biểu hiện thành mối quan hệ giữa quyền uỷvà phục tùng, như người xưa thường nói: quản trị con người có hai cách, dùng ânvà dùng uy. Dùng ân thì vững bền nhưng khó khăn và phù phiếm, dùng uy thìnhanh chóng và mất tình; cho nên quản trị trước tiên phải dùng uy sau đó mớitính đến việc dùng ân. Các phương pháp hành chính trong quản trị khinh doanh chính là nhữngcách tác động trực tiếp của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao độngdưới quyền bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc; đòi hỏi người laođộng phải chấp hành nghiêm ngặt nếu vi phạm sẽ bị bị xử lý kịp thời, thích đáng. Vai trò của các phương pháp hành chính trong quản lý kinh doanh rất tolớn; nó xác lập chật tự kỷ cương làm việc trong doanh nghiệp; khâu nối cácphương pháp quản trị khác lại; dấu được bí mật ý đò kinh doanh và giải quyếtcác vấn đề đặt ra trong doanh nghiệp rất nhanh chóng. Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản trị theo haihướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượngquản trị. Theo hướng tác động về mặt tổ chức, chủ doanh nghiệp ban hành các vănbản quy định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổchức và xác định những mối quan hệ hoạt động trong nội bộ theo hướng tác

6. động điều chỉnh hành động của đối tượng quản trị. Chủ doanh nghiệp đưa ranhững chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệmvụ nhất định, hoặc hoát động theo những phương hướng nhất định nhằm bảođảm cho các bộ phận trong hệ thống hoạt động ăn khớp và đúng hướng, uốn nắnnhững lệch lạc… Các phương pháp hành chính đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có quyết địnhdứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sựgiải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao. Tác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định. Vì vậy,các phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trường hợp hệ thốngquản lý bị rơi vào nhưỡng tình huống khó khăn, phức tạp. Đối với những quyết định hành chính thì cấp dưới bắt buộc phải thực hiện,không được lựa chọn. Chỉ người có thẩm quyền ra quyết định mới có quyền thayđổi quyết định. Cần phân biệt các phương pháp hành chính với kiểu quản lý quan liêu doviệc lạm dụng các kỷ luật hành chính, sử dụng mệnh lệnh hành chính thiếu cơ sởkhoa học, theo ý muốn chủ quan. Thường những mệnh lệnh kiểu đó gây ra nhiềutổn thất cho doanh nghiệp hạn chế sức sáng tạo của người lao động. Đó cũng lànhược điểm của phương pháp hành chính. Cán bộ quản lý và các cơ quan quảnlý nếu thiếu tỉnh táo; say sưa với mệnh lệnh hành chính thì dễ sa vào tình trạnglạm dụng quyền hành; là môi trường tốt cho bệnh chủ quan, duy ý chí; bệnhhành chính quan liêu, tham nhũng. Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắmvững những yêu cầu chặt chẽ sau đây: – Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó cócăn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mọi mặt. Khi đưa ra một quyết định

8. Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợiích kinh tế, để cho đối tượng bị quản trị tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệuquả nhất trong phạm vi hoạt động (môi trường làm việc) của họ mà không cầnthường xuyên tác động về mặt kinh tế. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người đều tuân theo các quyluật kinh tế khách quan. Sự chi phối của các quy luật đối với hoạt động của conngười đều thông qua lợi ích kinh tế. Các phương pháp kinh tế tác động thông quacác lợi ích kinh tế nghĩa là thông qua sự vận dụng các phạm trù kinh tế, các đònbẩy kích thích kinh tế, các định mức kinh tế – kỹ thuật, đó thực chất là sự vậndụng các quy luật kinh tế. Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy conngười tích cực lao động. Động lực đó sẽ càng lớn nếu nhận thức đầy đủ và kếthợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong doanh nghiệp. Mặt mạnh củaphương pháp kinh tế chính là ở chỗ nó tác động vào lợi ịch kinh tế của đối tượngquản trị (là cá nhân hoặc tập thể lao động), xuất phát từ đó mà họ lựa chọnphương án hoạt động, đảm bảo cho lợi ích chung cũng được thực hiện. Vì vậy, thực chất của các phương pháp kinh tế là đặt mỗi người lao động,mỗi tập thể lao động vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợpđúng đắn lợi ích của mình với lợi ích của doanh nghiệp. Điều đó cho phép ngườilao động lựa chọn con đường hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ của mình. Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản trịkhông bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là nếu mục tiêu nhiệm vụphải đạt được, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phươngtiện vật chất có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ. Chính các tập thể lao động(với tư cách đối tượng quản trị) vì lợi ích thiết thân, phải tự xác định và lựa chọnphương án giải quyết vấn đề. Các phương pháp kinh tế chấp nhận có thể cónhững giải pháp kinh tế, chủ thể quản trị phải biết tạo ra những tình huống,

9. nhũng điều kiện để lợi ích cá nhân và tập thể lao động phù hợp với lợi ích chungcủa doanh nghiệp và Nhà nước. Các phương pháơp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đốitượng quản trị chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế cho nên tác động nhậybén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động và các tập thể lao động. Với một biệnpháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được thực hiện thoả đáng thì tập thể con ngườitrong doanh nghiệp quan tâm hoàn thành nhiệm vụ, người lao động hăng hái sảnxuất và nhiệm vụ chung được giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả. Các phươngpháp kinh tế là các phương pháp quản trị tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nângcao hiệu quả kinh tế. Thực tế quản lý chỉ rõ khoán là biện pháp tốt để giảm chiphí, nâng cao năng suất sản xuất. Các phương pháp kinh tế mở rộng quyền hành động cho các cá nhân vàcấp dưới, đồng thời cùng tăng trách nhiệm kinh tế của họ. Điều đó giúp chủdoanh nghiệp giảm được nhiều việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi li, vụn vặtmang tính chất sự vụ hành chính, nâng cao ý thức kỷ luật tự giác của người laođộng. Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được chủ doanh nghiệpđịnh hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh doanhcủa từng thời kỳ. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ có căn cứ khoa họcvà cơ sở chủ động. Chủ doanh nghiệp tác động vào đối tượng bằng các phươngpháp kinh tế theo những hướng sau: – Định hướng phát triển doanh nghiệp bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợpvới điều kiện thực tế của doanh nghiệp, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thờigian, từng phân hệ của doanh nghiệp. – Sử dụng các định mức kinh tế; các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tếđể lôi quấn, thu hút, khuyến khích các cá nhânphấn đấu hoàn thành tốtnhiệm vụđược giao.

11. quản trị sản phẩm, quản trị đầu tư, đưa tin học vào quản trị kinh doanh v.v..); vàthường gắn với các phương pháp toán kinh tế – một loại công cụ không thể thiếutrong việc lựa chọn các phương pháp quản trị kinh doanh ngày nay. Các phương pháp toán kinh tế là tên gọi chung chỉ một nhóm các bộ nônkhoa học tiếp giáp giữa kinh tế học, toán học và điều khiển học; ra đời và pháttriển chủ yếu từ cuối những năm 40 của thế kỷ này và có thể chia thành 4 nhóm(xem sơ đò 3.2): Thống kê kế toán: Là một bộ phận của toán học ứng dụng dành cho cácphương pháp xử lý và phân tích số liệu thống kê, mà các ứng dụng chủ yếu củanó trong quản lý là các phương pháp xử lý kiểm tra và dự toán ( dự đoán, điều trachọn mẫu, lý thuyết sắp hàng, lý thuyết tồn kho sự trữ, lý thuyết thay thế bảoquản, lý thuyết thông tin, lý thuyết mã hoá v.v…). Mô hình hoá toán học: Là sự phản ánh những thuộc tính cơ bản nhấtđịnh của các đối tượng nghiên cứu kinh tế, là công cụ trọng cho việc trừu tựnghoá một cách khoa học các quá trình và hiện tượng kinh tế. Khoa học kinh tế từ lâu đã biết sử dụng các mô hình kinh tế lượng như môhình hàm sản suất Cobb – Douglas, mô hình cung cầu, giá cả v.v… Vận trù học: Là khoa học có mục đích nghiên cứu các phương pháp phântích nhằm chuẩn bị căn cứ chính xác cho các quyết định, đối tượng của nó là hệ

12. thống, tức là tập hợp các phần tử và hệ thống còn có tác động qua lại với nhaunhằm đạt tới một mục tiêu nhẩt định. Vận trù học bao gồm nhiều nhánh khoa họcứng dụng gộp lại: (1) Lý thuyết tối ưu (bao gồm: quy hoạch tuyến tính, quy hoạchđộng, quy hoạch ngẫu nhiên, quy hoạch nguyên, quy hoạch khối, quy hoạch 0 -1, quy hoạch mờ, quy hoạch nhiều mục tiêu, quy hoạch nhiều chỉ số, lý thuyết tròchơi…); (2) Lý thuyết đồ thị và sơ đồ mạng lưới; (3) Lý thuyết dự trữ bảo quản; (4)Lý thuyết phục vụ đám đông; (5) Lý thuyết tìm kiếm; (6) Lý thuyết các điểmchạy… Điều khiển học: Là khoa học về điều khiển các hệ thống động và phứctạp trong đó quá trình vận động của thông tin. Mục đích chính của điều khiển họclà phát hiện ra các quy luật vận động của thông tin để điều khiển các hệ thốngmột cách có hiệu quả và để xây dựng bộ máy điều khiển có hiệu lực thực hiệnchức năng này. Điều khiển học được coi như ra đời vào năm 1948 với cuốn sáchcủa nhà bác N. Vine có nhan đề “Điều khiển học, hay sự điều khiển và mối liênhệ trong sinh vật và máy móc”. Điều khiển học đã phát triển theo các chiềuhướng khác nhau: lý thuyết, ứng dụng và thực hiện. Một nhánh quan trọng của điều khiển học là điều khiển học kinh tế ra đời từcuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ này. Đối tượng nghiên cứucủa điều khiển học kinh tế là các hệ thống kinh tế (như nền kinh tế quốc dân, mộtngành kinh tế hoặc quá trình kinh tế phức tạp). Mục tiêu của điều khiển học kinhtế là nhằm phát hiện ra những quy luật về vận động thông tin trong các hệ thốngkinh tế để đề ra nguyên lý, các phương pháp tổ chức quản lý các hệ thống mộtcách có hiệu quả và xây dựng bộ máy quản lý có hiệu lực thực hiện các chứcnăng đã vạch ra.

13. Căn cứ vào nội dung cụ thể của các phương pháp toán kinh tế, có thể thấyrõ các phương pháp này có hai phương hướng tác dụng chủ yếu trong quản lýkinh tế: – Thứ nhất, nó là công luận của nhận thức luận. Chẳng hạn từ mô hình hàmsản xuất Cobb – Douglas của doanh nghiệp năm 1994 là: Y = 0,35. K0,61 . L0,48 (4) Nếu năm tới 1995, doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư bổ sung 100triệu đồng thì nên đầu tư tăng tài sản cố định (K) lên, hay tăng lao động (L) lên lợinhuận (Y) năm sau sẽ đạt mức cao nhất? rõ ràng hệ số hiệu quả đầu tư tài sảncố định cho ở mô hình (4) là 0,61 lớn hơn hệ số hiệu quả lao động là 0,4 doanhnghiệp chỉ nên đầu tư tăng tài sản cố định. – Thứ hai, các phương pháp toán kinh tế còn được sử dụng làm công cụ đểlượng hoá các hiện tượng và các quá trình kinh tế trong quản lý. Thông qua việc

14. mô hình hoá toán học người ta trừu tượng hoá các đối tượng nghiên cứu trongquản lý thành những bài toán cụ thể có thể giải được trên các máy vi tính để từmột số hết sớc lớn các phương án có thể (hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn hoặchàng triệu) nhanh chóng tìm được phương án tối ưu cần tìm, mà bằng cácphương pháp cũ và các công cụ trước đây không thể tìm nổi. * Mô hình hoá toán học Như đã đề cập ở trên, mô hình hoá toán học là phương hướng ứng dụngcủa các phương pháp toán kinh tế trong quản lý kinh doanh. Tư tưởng cơ bảncủa phương pháp mô hình hoá thể hiện ở dựa vào các kinh nghiệm quản trị, conngười trừu tượng hoá đối tượng nghiên cứu thành mô hình (có thể biểu thị bằngmột phương trình, một bất phương trình, một hệ số phương trình và bất phươngtrình…) Mô hình này phản ánh được bản chất đối tượng, rồi từ phân tích mô hìnhsẽ rút ra kểt luận, những quyết định cho đối tượng. Tất nhiên, nếu mô hình hóaphản ánh không đúng đắng hoặc không đầy đủ bản chất của đối tượng, thìnhững kết luận và quyết định rút ra từ mô hình nếu đem sử dụng trong thực tiễncủa đối tượng sẽ không có tác dụng hoặc tác dụng ngược lại ý muốn. Nói mộtcách khác, việc mô hình hoá toán học là cách thử nghiệm các vấn đề quản trịbằng các mô hình dựa trên kinh nghiệm của con người. Các mô hình toán học của một đối tượng kinh tế có thể rất khác nhau vềtầm cỡ, về độ phức tạp và về tính chất của công cụ toán học sử dụng, tuỳ thuộcvào người thiết lập mô hình. Trong các mô hình này, mô hình dùng để chọnquyết định tối ưu được gọi là mô hình tối ưu. Mô hình tối ưu bao gồm hai bộ phậnchủ yếu là hàm mục tiêu và hệ ràng buộc. Hàm mục tiêu là tiêu chuẩn đề ra về hiệu quả quản trị (chẳng hạn là tổnggiá trị sản lượng đạt cực đại: tổng lợi nhuận doanh nghiệp tăng nhanh nhất; năngsuất lao động tăng nhiều nhất; chi phí vật tư, thiết bị ít nhất…). Còn hệ ràng buộclà các hạn chế thực tế về khả năng trong khi tiến hành lựa chọn quyết định tối ưu( như hạn chế về tài nguyên, đất đai, lao động, nguồn vốn, trình độ quản trị…).

17. Ngoài ra, vì x1, x2, x3 là số diện tích gieo trồng các loại nông phẩm nên nó phảilà những số không âm, tức là: x1 ≥ 0, x2 ≥ 0 và x3 ≥ 0 – Thứ tư, căn cứ vào kết quả của bước 3, việc lựa chọn để đề ra quyết định(5), (6), (7) biến thành việc giải bài toán (5) – (6) – (7), bài toán này là mô hìnhtoán học của vấn đề phải nghiên cứu. Để giải nó phải sử dụng phương pháptương ứng của lý thuyết tối ưu trong quy hoạch tuyến tính, căn cứ vào loại máytính cụ thể nào đó để viết chương trình giải tìm phương án tối ưu, là phương áncho giá trị của biến số x1, x2, x3 thoả mãn đồng thời cả ba điều kiện (5) – (6) -(7). – Thứ năm, sau khi đã có phương án tối ưu tìm được trên cơ sở giải bài toán(5) – (6) – (7) trên máy tính, cần đem xem xét một lần cuối trong thực tế điềuchỉnh cho hợp lý hơn. – Cuối cùng, triển khai việc tổ chức thực hiện quyết định trong sản xuất. Như vậy, mô hình là sự trừu tựng hoá các đối tượng kinh tế cần phải nghiêncứu; nhưng khả năng trừu tượng hoá này không phải là vô hạn; nói một cáchkhác, việc sử dụng các phương pháp toán kinh tế trong quản lý là điều hết sức cóý nghĩa nhưng nó không thể thay thế cho mọi phương pháp khác hiện có củaquản trị, mà nó chỉ là sự hỗ trợ tích cực trong hệ các phương pháp đã có. Sở dĩcó các giới hạn trong việc sử dụng các phương pháp toán kinh tế nói chung,trong việc mô hình hoá toán học các hiện tượng kinh tế nói riêng, là vì khi sửdụng các công cụ này còn cần phải có những điều kiện tương ứng: – Thứ nhất, muốn diễn tả được một cách cơ bản đúng các đối tượng kinh tếthì phải lượng hoá được nó bằng các phương trình hoặc bất phương trình… Điềunày đòi hỏi phải có các điều kiện tiên quyết; các định mức kinh tế – kỹ thuật chínhxác, sự ổn định của hệ thống, giá cả, sự nhận thức đúng đắn của con người;

23. + Cột (1) ghi: bước 2. + Cột (3) ghi các ẩn cơ bản. x3 x1 Ẩn giả x4 bị loại, trở về hàm f(x) ban đầu (tức là f hay f) + Cột (2) ghi hệ số các ẩn cơ bản mới: 0 2 + Tìm các hệ số ở cột phương án và phần A mới của bước 2 theo cách sau: + Tính dòng chuẩn trước, đó là dòng có cùng vị trí với dòng chứa phần tửtrụ cột của bước trước (ở đây đang xét là bước 1). Trong ví dụ đang xét bước 1có phần tử trụ cột (1) nằm ở dòng 2 do đó ở bước 2 dòng chuẩn là dòng 2. Muốn tính hệ số dòng chuẩn bước mới, đem các hệ số của dòng chứa phầntử trụ cột bước cũ chia cho chính phần tử trụ cột, tức là chia dòng cũ cho 4 tađược dòng mới. Dòng cũ 8 (4) -5 0 Dòng mới 2 1 -5/4 0 Cột chứa ẩn giả đã loại không cần tính vì ẩn giả đã bị loại không quay trởlại nữa. – Các dòng còn lại của phần A (bước 2) tính như sau: nếu phải tính dòng i(ví dụ dòng 1) thì lấy dòng chuẩn đã tính, đem nhân lên với số đối của số nằmtrên dòng i cũ cắt với cột chứa phần tử trụ cột, rồi cộng tương ứng (theo dòng)vào dòng i cũ để được dòng i mới. Ví dụ, tính tiếp dòng 1 mới:

25. Bảng 3.3: BẢNG ĐƠN HÌNH – – -2000 0 0 M 0 0B H A P 1500 2500 x1 x2 x3 x4 x5 x6 x7 x8 0 x4 3.000 1 1 1 1 0 0 0 0 M x6 600 (1) 0 0 0 -1 1 0 01 0 x7 1.200.000 300 350 400 0 0 0 1 0 0 x8 1.600.000 500 400 450 0 0 0 0 1 g(x) 600M M+2.000 1500 2500 0 -M 0 0 0 0 x4 2.400 0 1 (1) 1 1 0 0 -2.000 x1 600 1 0 0 0 -1 0 0 2 0 x7 1.020.000 0 350 400 0 300 1 0 0 x8 1.300.000 0 400 450 0 500 0 1 – g(x) 0 1500 2500 0 2000 0 0 1.200.000 -2.500 x3 2.400 0 1 1 1 1 0 0 -2.000 xi 600 1 0 0 0 -1 0 0 3 0 x7 60.000 0 -50 0 -400 -100 0 0 0 x8 220.000 0 -50 0 -450 50 0 1 – – – g(x) 0 0 -500 0 0 7.200.000 1000 2500

26. Đến bước 3, mọi Δj ≤ 0 thoả mãn tiêu chuẩn tối ưu. Phương án bố trí gieotrồng x1 = 600 ha, x3 = 2400 ha, mức tổng giá trị sản lượng tối đa là f(x) = – g(x)= 7.200.000 (nghìn đồng). Việc sử dụng qua các mô hình quy hoạch tuyến tính đặc biệt thu được kếtquả tốt trong các bài toánvề lưu thông phân phối, về phân bố lực lượng sản xuất,về pha cắt nguyên liệu và phân bổ nhiệm vụ sản xuất, các bài toán thuộc loạisản xuất đồng bộ… Nhờ sử dụng các mô hình quy hoạch tuyến tính trong thực tế,có nhiều trường hợp những quyết định quản trị có hiệu quả làm giảm chi phí hoặctăng thêm giá trị sản lượng từ 10% – 20%. – Các mô hình quy hoạch động gắn liền với quá trình ra quyết định quanhiều bước. – Các mô hình quy hoạch phi tuyến: Là các mô hình cho như ở bài toán (5) -(6) – (7) nhưng trong đó, hoặc hàm mục tiêu, hoặc hệ ràng buộc, hoặc cả hai códạng không phải là những hàm bậc nhất (phi tuyến tính). Điều này thường xảy ratrong thực tế. Chẳng hạn, nếu xét mối quan hệ tỷ lệ giữa giá thành sản phẩm vàchi phí đầu tư. Mối quan hệ này thường không cùng tăng giảm theo tỷ lệ nhưnhau. Nếu vốn đầu tư lúc đầu đã lên mức K đồng mà ta lại tăng thêm 3% thì giáthành(theo quy luật hợp lý) có thể giảm xuống 2%, khi đó nếu tăng thêm vốn đầutư lên không phải là 3% mà là 6% (2 lần lớn hơn) thì không phải nhất thiết giáthành cũng giảm xuống gấp 2 lần mà có thể chỉ là một tỷ lệ ít hơn, tức là giữamức giảm tăng vốn đầu tư và mức giá giảm thành không phải theo tỷ lệ bậc nhất. – Các mô hình quy hoạch ngẫu nhiên (hoặc còn gọi là quy hoạch xác suấtthống kê) trong đó một dạng quan trọng của nó là quy hoạch mờ (Fuzzy): Là mộtbộ phận của quy hoạch toán học, nghiên cứu lý thuyết và các phương pháp giảibài toán tối ưu trong trường hợp khi thông tin về các tham số điều kiện của bàitoán không đầy đủ. Đây cũng là một mô hình thường gặp trong thực tế quản trịkinh doanh xét trong một khoảng thời gian khá dài (có sự biến động về giá cả; vềtrữ lượng tài nguyên, về điều kiện thiên nhiên; về các phương tiện cụ thể của hệ

27. thống giao thông; về sự thay đổi của thị trường; về trình độ khoa học – kỹ thuật;trình độ quản lý…) mà thời điểm chuẩn bị ra quyết định, chủ thể quản lý không đủthông tin để lường thấy trước mọi vấn đề. – Các mô hình quy hoạch nguyên : Là một trường hợp riêng của các mô hìnhquy hoạch tuyến tính nhưng có ràng buộc thêm là các biến số chỉ lấy các giá trịnguyên và không âm. Chẳng hạn nếu gọi biến số x1, x2 … là số lượng các congia súc loại I và loại II… ở bài toán chăn nuôi, thì hiển nhiên x1, x2… là nhữngcon số nguyên không âm. Việc giải các mô hình quy hoạch nguyên này thườngcũng đưa về giải các bài toán quy hoạch tuyến tính thông thường tương ứng. – Các mô hình quy hoạch 0 – 1 : Cũng là một trường hợp riêng của mô hìnhquy hoạch tuyến tính, thường được sử dụng trong việc xác định địa điểm chọnđặt xây dựng nhà máy, xí nghiệp… Chẳng hạn, trở lại việc tìm địa điểm xây dựngnhà máy, xí nghiệp… Chẳng hạn, trở lại việc tìm địa điểm xây dựng 2 nhà máylắp đặt trong số 30 địa điểm đã biết T1, T2…, T30. Khi thiết lập mô hình để chọnquyết định phải đưa thêm vào 30 biến số x1, x2…x30 ứng với 30 điểm, các biếnsố này khác các biến số thông thường khác ở chỗ nó chỉ nhận hai trị số. Bằng 1nếu địa điểm ứng với biến số này khác các biến số thông thường khác ở chỗ nóchỉ nhận hai trị số. Bằng 1 nếu địa điểm ứng với biến số này được xây dựng, vàbằng 0 nếu địa điểm không được chọn, việc giải mô hình của bài toán thôngthường đưa về giải nhiều bài toán quy hoạch tuyến tính tương ứng. Mô hình bàitoán quy hoạch 0 – 1 cũng thường dùng khi sử dụng và lựa chọn bổ nhiệm cánbộ lãnh đạo. – Các mô hình quy hoạch nhiều hàm mục tiêu : Là biến dạng của mô hìnhtrên bằng cách thay một hàm mục tiêu bằng nhiều hàm mục tiêu; tức là từ chỗchỉ có hàm H(x) max thì có các hàm H1(x) → max, H2(x) → min,…, Hm(x) →max… Còn các điều kiện ràng buộc khác vẫn giữ nguyên. Chẳng hạn, khi lập kếhoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ nhằm làm cho tổngdoanh số tăng lớn nhất, mà còn phải kết hợp giải quyết bảo đảm mức chất lượng

28. sản phẩm cao nhất, hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất, nhiên liệu, vật liệu chi phí ởmức nhỏ nhất… Các mô hình quy hoạch nhiều hàm mục tiêu này, rất nhiều trường hợp cònchưa được giải quyết trọn vẹn, nguyên tắc xử lý là nguyên tắc nhượng bộ nhằmdung hoà các loại mục tiêu. Hiện nay các mô hình thuộc loại này còn ít được sửdụng. – Các mô hình lý thuyết trò chơi: Là các mô hình toán học ra quyết định tốiưu trong các điều kiện xung đột. Đây cũng là một loại mô hình thường dùng trongquản trị kinh doanh. Chẳng hạn, nhưng chúng ta đã biết, trong một doanh nghiệpthường tồn tại nhiều loại lợi ích khác nhau đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải cómột sự kết hợp hài hoà hợp lý các loại lợi ích đó, chúng không phải không cómâu thuẫn, và khi xử lý không thể cắt bỏ đi một loại lợi ích nào mà ngược lại đềuphải thực hiện tất cả dựa trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao không ngừngnăng xuất lao động. Quyết định cụ thể cho việc giải quyết sẽ dẫn tới việc lập vàgiải các mô hình lý thuyêt trò chơi nhằm phân định một cách rõ ràng khối lượngvà tỷ lệ hợp lý cho từng loại lợi ích phù hợp với các nguyên tắc quản lý kinh tếkinh tế xã hội chủ nghĩa . Việc giải quyết bài toán với mô hình lý thuyết trò chơithông thường cũng được đưa về giải các bài toán quy hoạch tuyến tính, tuy cónhững ràng buộc phức tạp hơn đôi chút. – Mô hình mạng lưới (PERT – Program Evaluation and Review Technique):là một nhóm của mô hình quy hoạch toán, thường dùng trong việc xác định hợplý công nghệ làm việc của một quá trình nào đó. Nói một cách rõ hơn, nó là khoahọc sắp xếp, bố trí các công việc nhằm tìm ra khâu xung yếu nhất cần phải biếtđể có biện pháp bố trí vật tư, thiết bị và cán bộ; là cách làm việc vừa nắm đượctoàn cục vấn đề vừa nắm được từng phần cụ thể cụ thể, chi tiết. Ưu điểm nổi bậtcủa mô hình mạng lưới so với các hình thức biểu diễn kế hoạch khác là ở chỗ nónếu rõ tất cả các mối liên hệ lẫn nhau theo thời gian của các công việc. Kế hoạchđược thực hện bằng sơ đồ mạng lưới có thể được chi tiết hoá ở mức độ bất kỳ tuỳ

29. theo yêu cầu toàn bộ các công việc trong hệ thống và thứ tự thời gian thực hiệncác công việc đó. Chẳng hạn, doanh nghiệp phải triển khai trong năm 14 công việc với thờigian cần thiết và logic hợp lý phải tuân thủ là: Bảng 3.4: Thời gian chi phí Công việc Trình tự công việc (tuần) X1 3 Làm ngay không trì hoãn X2 3 Làm ngay không trì hoãn X3 4 Làm sau khi X1 xong X4 3 Làm sau khi X1 xong X5 6 Làm sau khi X1 xong X6 5 Làm sau khi X2, X3 xong X7 6 Làm sau khi X2, X3 xong X8 4 Làm sau khi X4 xong X9 3 Làm sau khi X5, X6, X8 xong X10 5 Làm sau khi X5, X6, X8 xong X11 2 Làm sau khi X5, X6, X8 xong X12 4 Làm sau khi X7, X11 xong

30. X13 2 Làm sau khi X9 xong X14 3 Làm sau khi X10, X12 xong Trình tự sử dụng phương pháp sơ đồ mạng lưới như sau: Bước 1: Vẽ sơ đồ logic của toàn bộ các công việc, mỗi công việc biểu thịbằng một mũi tên, mỗi đầu có một vòng tròn gọi là các đỉnh, trên mỗi mũi tên ghirõ nội dung và thời gian chi phí thực hiện các công việc. (Trường hợp chi phí lao độ, vật tư, tiền vốn… cũng làm tương tự). Việc vẽ sơ đồ được thực hiện trên máy vi tính hoặc trên bản tính vẽ tay(giấy, bảng v.v…) phản ánh đúng logic của bảng các công việc đã cho. Trong trường hợp thời gian không khẳng định được chắc chắn, người tathường sử dụng công thức tính: ti = ai + 4mi +bi / 6 ti là thời gian chi phí trung bình để thực hện xong công việc xi, ai là thời hạnlàm xong xi một cách nhanh nhất, còn mi là thời hạn thông thường sử dụng đểlàm xong việc xi, bi là thời hạn làm lâu nhất. Bước 2: Đánh số thứ tự cách đỉnh, ghi vào góc trên cùng theo quy tắc sau:

31. – Đỉnh nào chỉ có mũi tên đi ra thì đánh số trước. – Đánh số từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. SƠ ĐỒ MẠNG LƯỚI CÔNG VIỆC – Đỉnh nào được đánh số rồi, thì các mũi tên đi ra từ nó coi như bị xoá. Bước 3: Tính thời hạn bắt đầu sớm các đỉnh, ghi vào góc bên trái, theoquy tắc: – Tính từ đỉnh nhỏ tới đỉnh lớn kế tiếp 1, 2… – Đỉnh 1 có một thời hạn bắt đầu sớm bằng 0. – Các đỉnh còn lại lấy số lớn nhất của tổng giữa thời hạn bắt đầu sớm ở đỉnhliền trước cộng với thời gian thực hiện công việc tiến về nó. Trong sơ đồ 3.5: Đỉnh 2 có 1 mũi tên (công việc) tiến về nó là X1 có thờihạn t1 = 3 tuần, nên thời hạn bắt đầu sớm ở đỉnh 2 sẽ là: 0 + 3 = 3.

32. Còn đỉnh 3, có 2 mũi tên tiến về nó là X2 và X3 nên thời hạn bắt đầu sớmghi ở đỉnh 3 sẽ là: max (0+3; 3+4) = 7 Bước 4: Tính thời hạn kết thúc muộn các đỉnh ghi vào góc phải của mình;theo quy tắc: – Tính lùi từ đỉnh có số thứ tự lớn về đỉnh có thứ tự nhỏ kế tiếp. – Đỉnh cuối có thời hạn kết thúc muộn bằng thời hạn bắt đầu sớm. Trong ví dụ đang xét ở sơ đồ 3.5, đỉnh 9 là đỉnh cuối có thời hạn bắt đầusớm bằng thời hạn kết thúc muộn = 21 tuần. – Các đỉnh còn lại lấy số nhỏ nhất của hiệu giữa hai hạn kết thúc muộn đỉnhtrước trừ với thời gian thực hiện công việc của tên (công việc) lùi về nó. – Chẳng hạn, trong sơ đồ 3.5 sau khi tính thời hạn kết thúc muộn đỉnh 9 là21, lùi về đỉnh 8 có 1 mũi tên X14 co thời gian thực hiện 3 tuần, đỉnh 8 sẽ có thờigian kết thúc muộn là 21 – 3 = 18; tương tự, đỉnh 7 có thời hạn kết thúc muộn là21 – 2 = 19. Đỉnh 6 có thời hạn kết thúc muộn là 18 – 4 = 14 tuần. Còn đỉnh 5 cótới 3 mũi tên lùi về nó là X9 (3 tuần), X10 (5 tuần) và X11 (2 tuần). Thời hạn kếtthúc muộn đỉnh 5 sẽ là: min (19 – 3, 18 – 5, 14 -2) = 12 Bước 5: Tìm các đỉnh găng, là các đỉnhcó hiệu số giữa thời hạn kết thúcmuộn với thời hạn bắt đầu sớm bằng không (ghi ở góc dưới); trong cơ sơ đồ 3.5là các đỉnh: 1, 2, 3, 5, 6, 8, 9. Bước 6: Tìm các cộng việc găng là các công việc nối liền 2 đỉnh găng.Trong hình 5 là các công việc không có thời gian dự trữ, nếu doanh nghiệp thực

33. hiện trậm trễ ảnh hưởng đến công việc khác (trong sơ đồ, công việc găng đượcvẽ 2 nét). Bước 7: Tìm đường găng: Là đường nối liền các công việc găng và đỉnhgăng liên tục từ đỉnh 1 về đỉnh cuối và có tổng thời hạn thực hiện sớm các côngviệc bằng đúng thời hạn kết thúc muộn đỉnh cuối.Trong ví dụ đang xét đó làđường găng X1, X3, X6, X11, X12, X14 (trong sơ đồ: công việc nằm trên đườnggăng ghi 2 nét có gạch). Đường găng biểu thị tất cả các công việc xung yếu mà công ty phải đặc biệtquan tâm. – Việc sử dụng mô hình mạng lưới cho phép áp dụng rộng rãi các phươngtiện kỹ thuật tính toán nhằm giúp xử lý thông tin cần thiết cho người lãnh đạo ởcác cấp và các tuyến để đề ra những quyết định có tính chiến lược, chiến thuậthay tác nghiệp. Vì vậy, phần lớn hệ thống kế hoạch hoá và quản lý theo sơ đồmạng lưới thuộc hệ thống quản trị tự động hoá. Việc lập và giải bài toán của cácmô hình này thường được đưa vào thực hiện trên các máy vi tính. – Mô hinh mô phỏng (hoặc còn gọi là mô hình tương tự) là mô hình dùnglàm công việc để phân tích và thiết kế các hệ thống quản lý kinh tế trên các màymóc và thiết bị hiện đại. Nó được áp dụng trong các trường hợp khi không thểgiải được bài toán bằng các mô hình đã được đề cập, va cũng không thể tiếnhành thể nghiệm trên thực tế vì không hợp lý, do không thể tính toán trước hậuquả của các quyết định quản trị, của sự thay đổi cơ cấu hoặc chức năng cũngnhư của các tác động khác nhau thu nhận từ môi trường xung quanh. Kết quảcủa mô phỏng trên máy kà thu được các kết luận thống kế cho phép đánh giánhững đặc điểm nào đó của hệ thống quản trị. * Các phương pháp dự đoán

34. Đó là việc dự kiến khả năng nguồn khách hàng và số lượng chủng loại sảnphẩm và các yêu cầu khác về sản phẩm mà số khách hàng này cần doanhnghiệp đáp ứng cho họ. Các phương páhp dự đpán cụ thể thường sử dụng là; – Các phương pháp thống kế toán học: Đó là việc dựa vào chuỗi các số liệucủa quá khứ, hoặc các số liệu qua điều tra xã hội hoạc để suy diễn các số liệutrong tương lai gần đó. Có thể kể ra các phương pháp như sau; – Phương pháp trung bình trượt. Giả sử có chuỗi số liệu quá khứ của doanh nghiệp như bảng 3.5 Bảng 3.5: SỐ LƯỢNG SẢN PHẨM BÁN ĐƯỢC TRONG QUÁ KHỨ 1994 – 2002Số sản phẩm đã bán 40 53 31 37 59 45 50 44 54 trong năm (1000) Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Biểu thị chuỗi số liệu ở bảng 3.5 trên đồ thị 3.1 sẽ được một đường gấpkhúc nối các điểm (dấu chấm) Trên sơ đồ 3.5 trục tung biểu thị số lượng sản phẩm đã bán ra qua các năm( đơn vị 10000 SP ) còn trục hoành là các năn trượt, bằng các cộng lẻ chia ( cộngchia 3, cộng chia 5 vv…) chẳng hạn lấy chung bình cộng của 3 số một. Năm mởđầu ( năm 1994 có số trục hoành bằng 1) lấy ngay số liệu gốc, tức là 40 nghìnsản phẩm) năm thứ 2 ( số số trục hoành bằng 2 ứng với năm 1995 ) lấy số trưngbình công các sản phẩn bán được của 3 năm 1994, 1995, 1996 40 + 53 + 31 =41 thứ ba ( là trung bình cộng số sản phẩm bán ra trong 3 năm 1995, 1996, 199753 + 31 + 37 = 40 vv… chuỗi các số liệu trung bình cộng được cho ở. Bảng 3.6 SỐ LIỆU TRUNG BÌNH TRƯỢT

35. Số lượng sản phẩm 40 41 40 42 47 51 46 49 54 Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Biểu diễn trên đồ thị các số liệu ( lấy giá trị trung bình ) của bảng 3.6 trêncùng sssôd thị sẽ được môtk đướng fấp khúc ( đường nối các điểm dấu vuông vànối bằng các đoạn chấm ) đường này ít gồ ghề hơn (mịn hơn, trơn hơn đườnggấp khúc lúc đầu ) Dựa vào đường trung bình trượt này có thể phác hoạ xu thếsố sản phẩm bán ra qua các năm bằng một đường cong liên tục y = f(x). Dựatrên đường cong này có thể dự đoán số sản phẩm có thể bán được cho các năm( xem bảng 3.7 ) BẢNG 3.7 SỐ LIỆU DỰ ĐOÁNSố sản phẩm dự đoán 50 52 ………………… Năm 2003 2004 …………………

36. Kết quả dự đoán có thể sử dụng đuợc tương đối chính xác trong phạm vivài ba năm (bằng 1/4 đến 1/3 số các số liệu của quá khứ). + Phương pháp hàm số: Cũng là nguyên lý của phương pháp dự đoán xuthế ở trên ; nhưng việc thực hiện khong phải lấo số trung bình trượt mà sử dụngphương pháp bình phương nhỏ để tìm ra tham số của hàm số y = f (x). Ví dụ: y =40 + x khi đó muốn dự đoán số lượng sản phẩm có thể bán đựoc trong năm 1994vớ ( x = 10) thay vào biểu thức hàm số y = 40 + x = 40 + 10 = 40 (SP). + Các phương pháp khác: Cps thể sử dựng các phương pháp điều tra (điềutra xã hội học), tính các hệ số co giãn đã biết, dự đoán kép ( ví dụ dự đoán mứcthu nhập bình quan của các gia đình khách hàng có khả năng tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp trong những năm phải dự đoán, sau dự đoán mối quan hệgiữa số lượng sản phẩm mua hàng của khách với mức thu nhập bình quân giađình hàng năm của họ vv….) Toàn bộ các phương pháp này được các giáo trìnhdự đoán kinh tế xã hội học hoặc thống kê toán nghiên cứu kỹ lưỡng và đều đãđược đưa vào các chương trình cài đặt sẵn của các loại máy vi tính hiện nay. * Các phương pháp phân đoạn thị trường – Phương pháp bảng kẻ ô. Là phương pháp phân đoạn thị trường dựa theocác dấu hiệu quan sát khách nhau phân theo từng cặp đôi một trên các bảng kẻô. Chẳng hạn, nghiên cứu nhu cầu phưong tiện đi lại của thành phố X ta thuđược kết quả cho ở bảng kẻ ô 3.8 sau.

37. Qua bảng trên ta thấy, số viên chức nhà nước sử dụng xe máy đi lại có tỷ lệcao nhất (22%) tức là nếu muốn bán xe máy thì đoạn thị trường viên chức nhànước có khả năng cao nhất. Từ phân tích đó, nếu chuyển tiếp sang các bảng kẻô tiếp theo để phân tích các thông tin cần thiết khác ta sẽ thu được những kếtluận bổ ích chẳng hạn nghiên cứu tiếp bảng viên chức nhà nước/ xe máy/ thunhập/ loại cỡ xe máy ta có kết quả trong bảng 3.9 Từ bảng vừa thiết lập qua khảo sát thực tế, ta rút ra được kết luận quantrọng là loại viên chức nhà nước có thu nhập cao đi xe máy 70 phân khối là chủyếu ( 34%) cho nên cần chú ý nghiên cứu thêm mảng thị trường này ( viên chức -xe máy cỡ 70 phân khối có thu nhập cao)

38. – Phương pháp sức hút thương mại: Là phương pháp do W.J Reilley đề xuấtđể dự đoán thị trường. – Phương pháp momen lực: Là phương pháp dự đoán vùng ảnh hưởng cóthể có mà doanh nghiệp dự kiến lựa chọn từ các vùng có nhu cầu dùng xungquanh. Giả sử có 3 vùng A ( nghìn dân vùng B ( 250 nghìn dân ) và vùng C (200dân ) cho trên bản đồ thu gọn từ thực địa ( sơ đồ 3.7) Nối tâm của ba vùng A,B,C ( cho tam giác ABC). Trên cạch chọn điểm saocho AD: DE = EB x 250 rồi vuông góc với BC tại điểm E. Còn trên AC chọn điểmF sao cho có AF x 100 = FC x 200. Ba đường thẳng vuông góc sẽ cắt nhau tạothành một tam giác nhỏ (gạch chéo) trên bản đồ và đó là nơi xí nghiệp có thểchọn để chiếm lĩnh thị trường – đó là phân đoạn thị trường có lợi nhất cho xínghiệp. – Phương pháp đồ thị: Cũng là phương pháp quen dùng để dự đoán phânđoạn thị trờng, có thể nghiên cứu phương pháp này qua ví dụ minh hoạ ở đồ thị3.2. Sơ đồ 3.2 có hai trục, trục tung biểu thị chất lượng xe máy từ thấp lên cao,còn trục hoành biểu thị cỡ xe máy từ nhỏ ( 50 phân khối) đến lớn ( trên 90 phân

Phương Pháp Ra Quyết Định Quản Trị

Ra quyết định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà quản trị. Quyết định quản trị có thể có ảnh hưởng đến vấn đề rất quan trọng của tổ chức hoặc có thể ảnh hưởng đến vấn đề thứ yếu hơn. Tuy nhiên, tất cả các quyết định đều có ảnh hưởng, dù lớn hay nhỏ đến kết quả hoạt động của của tổ chức. Vì vậy, yêu cầu đối với những nhà quản trị đó là họ cần phải phát triển được những kỹ năng, phương pháp ra quyết định hiệu quả. Có thể nói chất lượng các quyết định quản trị chính là thước đo đánh giá tính hiệu quả của những nhà quản trị đối với tổ chức. Bản chất của quyết định quản trị đó là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm định ra chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi, trên cơ sở sự hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin của hệ thống đó.

Về mặt lý thuyết cũng như thực tế cho thấy rằng chất lượng, hiệu quả và hiệu lực của các quyết định quản trị của nhà quản trị phụ thuộc rất lớn vào phương pháp ra quyết định. Không thể có một quyết định tốt nếu như không sử dụng các phương pháp khoa học để tạo ra nó. Vậy làm thế nào để các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định đúng đắn, sáng suốt và phù hợp? Trong thực tế, các nhà quản trị có thể sử dụng 6 phương pháp phổ biến để ra quyết định sau đây:

3. Phương pháp nhóm tri thức

Phương pháp nhóm tinh hoa có sự tham gia của nhà quản trị và ít nhất một người khác vào việc ra quyết định mà không cần tham khảo ý kiến của những người khác. Nhà quản trị đưa ra giải pháp, ra quyết định và trình bày trước những nhân viên khác, thậm chí có thể trình bày về cơ sở đưa ra quyết định trước nhân viên.

4. Phương pháp cố vấn

5. Phương pháp luật số đông

Phương pháp này đề cao tính dân chủ trong đó tất cả các thành viên trong nhóm đều tham gia vào tiến trình quyết định thông qua việc mỗi thành viên đều được quyền biểu quyết bình đẳng. Theo phương pháp này, các thành viên trong nhóm sẽ bỏ phiếu biểu quyết cho quyết định đưa ra và quyết định nhận được đa số phiếu sẽ trở thành quyết định chính thức cuối cùng.

6. Phương pháp đồng thuận

Đây là phương pháp trong đó tất cả các nhân viên cùng đưa ra quyết định. Một quyết định không thể nào đạt được nếu chưa được tất cả các nhân viên tán thành. Phương pháp này có thể mang lại những quyết định chất lượng cao nhờ các đề xuất đa dạng và mang tính xây dựng nhưng có thể tốn nhiều thời gian. Đồng thuận rất khó đạt được vì đòi hỏi mọi thành viên của nhóm phải đồng ý với quyết định cuối cùng. Sự nhất trí hoàn toàn không phải là mục tiêu bởi vì rất khó đạt được, nhưng mỗi thành viên của nhóm nên sẵn sàng chấp nhận ý kiến của nhóm trên cơ sở tính hợp lý và tính khả thi. Khi tất cả các thành viên nhóm đều nhận thức được điều này có nghĩa là nhà quản trị đã đạt được sự đồng thuận.

Mỗi phương pháp ra quyết định quản trị đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Vì vậy, nhà quản trị cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp ra quyết định này để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn, sáng suốt và phù hợp nhất.

Tài liệu tham khảo

Hoàng Văn Hải, Nguyễn Viết Lộc, Nguyễn Ngọc Thắng, Giáo trình Ra quyết định quản trị, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Quản trị học, NXB Tài chính, 2013.

John C. Maxwell, 21 nguyên tắc vàng của nghệ thuật lãnh đạo, NXB Lao động xã hội, 2011