【#1】Bài Giảng Phương Pháp Trung Bình Động Và San Bằng Số Mũ

Tài liệu Bài giảng Phương pháp trung bình động và san bằng số mũ: KHOA KINH TEÁ Dệẽ BAÙO TRONG KINH DOANH BUSINESS FORECASTING Chương 3. PHƯƠNG PHÁP TRUNG BèNH ĐỘNG VÀ SAN BẰNG SỐ MŨ Cỏc phương phỏp dự bỏo đơn giản Cỏc phương phỏp trung bỡnh Cỏc phương phỏp đường số mũ. Phương phỏp dự bỏo đơn giản nhất là phương phỏp dự bỏo thụ. Dự bỏo thụ đối với mọi giai đoạn đều bằng giỏ trị thực tế của giai đoạn vừa qua Nếu dữ liệu về nhu cầu thực tế cú tớnh xu thế: 1. Cỏc phương phỏp dự bỏo đơn giản Nếu dữ liệu về nhu cầu thực tế cú tớnh mựa vụ 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnhPhương phỏp trung bỡnh đơn giản 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động… F5=(8+7+6)/3 = 7 F6=(7+6+11)/3 = 8 F7=(6+11+10)/3 = 9 F8=(11+10+9)/3 = 10 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động cú trọng số 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động cú trọng số… F5=(8×1+7×2+6×3)/6 = 6,67 F6=(7×1+6×2+11×3)/6 = 8,67 F7=(6×1+11×2+10×3)/6 = 9,67 F8=(11×1+10×2+9×3)/6 = 9,67 3. Cỏc phương …

KHOA KINH TEÁ Dệẽ BAÙO TRONG KINH DOANH BUSINESS FORECASTING Chương 3. PHƯƠNG PHÁP TRUNG BèNH ĐỘNG VÀ SAN BẰNG SỐ MŨ Cỏc phương phỏp dự bỏo đơn giản Cỏc phương phỏp trung bỡnh Cỏc phương phỏp đường số mũ. Phương phỏp dự bỏo đơn giản nhất là phương phỏp dự bỏo thụ. Dự bỏo thụ đối với mọi giai đoạn đều bằng giỏ trị thực tế của giai đoạn vừa qua Nếu dữ liệu về nhu cầu thực tế cú tớnh xu thế: 1. Cỏc phương phỏp dự bỏo đơn giản Nếu dữ liệu về nhu cầu thực tế cú tớnh mựa vụ 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnhPhương phỏp trung bỡnh đơn giản 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động… F5=(8+7+6)/3 = 7 F6=(7+6+11)/3 = 8 F7=(6+11+10)/3 = 9 F8=(11+10+9)/3 = 10 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động cú trọng số 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp trung bỡnh động cú trọng số… F5=(8×1+7×2+6×3)/6 = 6,67 F6=(7×1+6×2+11×3)/6 = 8,67 F7=(6×1+11×2+10×3)/6 = 9,67 F8=(11×1+10×2+9×3)/6 = 9,67 3. Cỏc phương phỏp đường số mũ Phương phỏp đường số mũ đơn Trong đú: Ft: dự bỏo nhu cần cho giai đoạn t; Ft-1: dự bỏo của giai đoạn ngay trước đú; At-1: nhu cầu thực tế của giai đoạn ngay trước đú; : hệ số san bằng ( 0<  < 1 và cú thể được chọn theo phương phỏp thử và sai). 2. Cỏc phương phỏp trung bỡnh…Phương phỏp đường số mũ đơn… F5=7,80 + 0,2(6-7,8) = 7,44 F6=7,44 + 0,2(11-7,44) = 8,15 F7=8,15 + 0,2(10-8,15) = 8,52 F8=8,52 + 0,2(9-8,52) = 8,62 F4=8 + 0,2(7-8) = 7,80 F3=8 + 0,2(8-8) = 8 3. Cỏc phương phỏp đường số mũ… Phương phỏp đường số mũ cú điều chỉnh xu thế (Holt) 1. Chuỗi san bằng số mũ hoặc ước lượng giỏ trị hiện hành 2. Ước lượng xu thế 3. Dự bỏo cho m giai đoạn tiếp theo Trong đú: Ft – Giỏ trị san bằng mới; α – Hệ số san bằng số mũ (0<α <1); At – Gớa trị thực tại thời điểm t; Tt – Ước lượng xu thế;  – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng xu thế (0< <1); m – Số lượng giai đoạn dự bỏo trong tương lai; Ht+m – Giỏ trị dự bỏo cho m giai đoạn tiếp theo. α=0,3 =0,1 3. Cỏc phương phỏp đường số mũ… Phương phỏp đường số mũ cú điều chỉnh xu thế và mựa vụ (Winters) 1. Chuỗi san bằng số mũ 2. Ước lượng tớnh mựa vụ 3. Ước lượng tớnh xu thế 4. Dự bỏo cho m giai đoạn tiếp theo 3. Cỏc phương phỏp đường số mũ… Phương phỏp đường số mũ cú điều chỉnh xu thế và mựa vụ (Winters)… Trong đú: Ft – Giỏ trị san bằng mới; α – Hệ số san bằng số mũ (0<α <1); At – Gớa trị thực tại thời điểm t; St – Ước lượng thời vụ;  – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng mựa vụ (0< <1); Tt – Ước lượng xu thế;  – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng xu hướng (0< <1); m – Số lượng giai đoạn dự bỏo trong tương lai; P – Độ dài của một thời đoạn dao động mựa vụ; Wt+m – Giỏ trị dự bỏo cho m giai đoạn. SPSS

【#2】Chương 4: Dự Báo Với Phương Pháp Bình Quân Di Động Và San Bằng Số Mũ

Published on

Các phương pháp dự báo đơn giản

Các phương pháp bình quân di động

Các phương pháp san bằng số mũ

  1. 1. CHƯƠNG 4 DỰ BÁO VỚI PHƯƠNG PHÁP BÌNH QUÂN DI ĐỘNG VÀ SAN BẰNG SỐ MŨ
  2. 2. 2 Chương 4 1.Các phương pháp dự báo đơn giản 2.Các phương pháp bình quân di động 3.Các phương pháp san bằng số mũ
  3. 3. 3 Các phương pháp dự báo đơn giản Ưu điểm: đơn giản Ứng dụng: quyết định nhanh Mẫu thích hợp: các nhu cầu ít có sự thay đổi từ chu kỳ này sang chu kỳ khác Không thích hợp: mẫu có ảnh hưởng mùa, có yếu tố ngẫu nhiên Công thức tính: 1−= tt AF Dự báo cho giai đoạn tới bằng với giá trị thực tế của giai đoạn vừa qua Ft : Nhu cầu dự báo chu kỳ t At-1 : Nhu cầu thực tế chu kỳ t-1 Mô hình thô (Naive model)
  4. 4. 4 Ví dụ Quý Tỉ lệ thất nghiệp Dự báo Q1-09 5.3 Q2-09 5.3 5.3 Q3-09 5.7 5.3 Q4-09 6.1 5.7 Q1-10 6.6 6.1
  5. 5. 5 Mô hình thô mở rộng )( 211 −−− −+= tttt AAPAF Ft Nhu cầu dự báo chu kỳ t At-1 Nhu cầu thực tế chu kỳ t-1 At-2 Nhu cầu thực tế chu kỳ t-2 P Tỉ lệ thay đổi giữa hai giai đoạn (tự chọn) Khi dữ liệu về nhu cầu thực tế có tính xu thế
  6. 6. 6 Quý Tỉ lệ thất nghiệp Dự báo Q1-09 5.3 Q2-09 5.3 Q3-09 5.7 5.3 Q4-09 6.1 6.1 Q1-10 6.6 6.5 Q2-10 6.8 7.2 Q3-10 6.9 7.0 Ví dụ P = 1.1
  7. 7. 7 Các phương pháp bình quân di động n A n AAA F n i i n t ∑= = +++ = 121 … Trung bình số học (Arithmetic Average) Công thức tính Trong đó: Ft Nhu cầu dự báo chu kỳ t Ai Nhu cầu thực tế chu kỳ thứ i n: số chu kỳ
  8. 8. 8 Ưu điểm: đơn giản làm trơn các ảnh hưởng ngẫu nhiên Ứng dụng: quyết định nhanh Mẫu thích hợp: các tình huống ổn định, số liệu ổn định và phân phối một cách ngẫu nhiên Không thích hợp: mẫu có ảnh hưởng mùa Trung bình số học (Arithmetic Average)
  9. 9. 9 Bình quân di động (Moving Average) n A n AAA F n i it nttt t ∑= − −−− = +++ = 121 … Công thức tính: Trong đó: Ft Nhu cầu dự báo chu kỳ t At-i Nhu cầu thực tế chu kỳ thứ t-i n: số chu kỳ sử dụng cho dịch chuyển trung bình
  10. 10. 10 – Ưu điểm: dung hòa ưu nhược điểm của 2 phương pháp trên – Ứng dụng: quyết định nhanh – Mẫu thích hợp: thích hợp cho các dự báo theo xu hướng – Không thích hợp: mẫu yếu tố ngẫu nhiên, các dự báo có ảnh hưởng bởi các yếu tố mùa. Lưu ý: khi có những giá trị đột biến trong dãy số thời gian, ta nên sử dụng n ở mức thấp
  11. 11. 11 Bình quân di động 3 năm Năm Doanh thu Dự báo 2003 20 – 2004 24 – 2005 22 – 2006 26 2007 25 2008 (20+24+22)/3 = 22 (24+22+26)/3 = 24 (22+26+25)/3 = 24,3
  12. 12. 12 Tuần Nhu cầu 1 650 2 678 3 720 4 785 5 895 6 920 7 850 8 758 9 892 10 920 11 789 12 Dự báo nhu cầu tháng 12 bằng bình quân di động – 3 tuần – 6 tuần
  13. 13. 13 Tuần Nhu cầu 3-tuần 6-tuần 1 650 2 678 3 720 4 785 682,67 5 895 727,67 6 920 800,00 7 850 866,67 774,67 8 758 888,33 808,00 9 892 842,67 821,33 10 920 833,33 850,00 11 789 856,67 872,50 12 867,00 854,83 TTính bính bình quân di độngình quân di động F4=(650+678+720)/3 =682.67 F7=(650+678+720+7 85+859+920)/6 =774.67
  14. 14. 14 Phương pháp bình quân di động có trọng số (Weighted Moving Average) Sử dụng các trọng số để nhấn mạnh giá trị của các số liệu gần nhất, vừa xảy ra ntntttt AwAwAwAwF −−−−− ++++= 1322110 … Công thức tính wt : trọng số ở từng thời điểm t ∑ − = = 1 0 1 n i iw
  15. 15. 15 Ví dụ Dự báo nhu cầu tuần tới bằng phương pháp bình quân di động với trọng số tháng kế trước là 0.5, cách 2 tháng là 0.3, cách 3 tháng là 0.2. Tuần 1 2 3 4 Nhu cầu 650 678 720 ? Dự báo nhu cầu tuần 4 là: F4 = 0.5(720) + 0.3(678) + 0.2(650) = 693.4
  16. 16. 16 Ví dụ Dự báo nhu cầu tuần thứ 5 bằng phương pháp bình quân di động với trọng số tháng kế trước là 0.7, cách 2 tháng là 0.2, cách 3 tháng là 0.1. Tuần 1 2 3 4 5 Nhu cầu 820 775 680 655 ? F5 = 0.7(655) + 0.2(680) + 0.1(755) = 672 Dự báo nhu cầu tuần 5 là:
  17. 17. 17 Nhận xét Trọng số của tháng gần nhất càng lớn thì xu hướng của các biến động càng dễ thấy rõ hơn. Cả hai phương pháp bình quân di động giản đơn và có trọng số đều có ưu điểm là san bằng được các biến động ngẫu nhiên trong dãy số – Làm giảm độ nhạy cảm đối với những thay đổi thực đã được phản ảnh trong dãy số. – Số bình quân di động chưa cho ta xu hướng phát triển của dãy số một cách tốt nhất. Nó chỉ thể hiện sự vận động trong quá khứ chứ chưa thể kéo dài sự vận động đó trong tương lai nhất là đối với tương lai xa. – Đòi hỏi một nguồn số liệu dồi dào trong quá khứ.
  18. 18. 18 Ví dụ Nhu cầu hàng tháng của 2 năm cuối được thống kê như sau: Tháng Nhu cầu Tháng Nhu cầu Tháng Nhu cầu 1 34 9 38 17 58 2 44 10 44 18 54 3 42 11 36 19 46 4 30 12 46 20 48 5 46 13 42 21 40 6 44 14 30 22 50 7 56 15 52 23 58 8 50 16 48 24 60
  19. 19. 19 Tháng Nhu cầu Chu kỳ trước Trung bình số học Trung bình dịch chuyển 2 tháng Dự báo nhu cầu Độ lệch tuyệt đối Dự báo nhu cầu Độ lệch tuyệt đối Dự báo nhu cầu Độ lệch tuyệt đối 1 34 2 44 34 10 3 42 44 2 39 3 39 3 4 30 42 12 40 10 43 13 … … … … … … … … 23 58 50 8 44 14 45 13 24 60 58 2 45 15 54 6 25 60 46 59 Tổng 1096 190 167 160 MAD 8.26 7.57 7.27
  20. 20. 20 Các phương pháp san bằng số mũ 1.Phương pháp san bằng số mũ đơn 2.Phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh xu thế (Holt) 3.Phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh xu thế và mùa vụ (Winters)
  21. 21. 21 11 )1( −− −+= ttt FAF αα Phương pháp san bằng số mũ đơn Trong đó: Ft: dự báo nhu cần cho giai đoạn t; Ft-1: dự báo của giai đoạn ngay trước đó; At-1: nhu cầu thực tế của giai đoạn ngay trước đó; α: hệ số san bằng ( 0 < α < 1) và có thể được chọn theo phương pháp thử sai).
  22. 22. 22 Ngày thứ Nhu cầu thực tế Dự báo nhu cầu, α=0,2 Thứ 2 8 8 Thứ 3 7 F3=0,2*8 + (1-0,2)*8 = 8 Thứ 4 6 F4=0,2*7 + (1-0,2)*8 = 7,8 Thứ 5 11 F5=0,2*6 + (1-0,2)*7,8 = 7,44 Thứ 6 10 F6=0,2*11 + (1-0,2)*7,44 = 8,15 Thứ 7 9 F7=0,2*10 + (1-0,2)*8,15 = 8,52 Chủ nhật 8 F8=0,2*9 + (1-0,2)*8,52 = 8,62 11 )1( −− −+= ttt FAF αα
  23. 23. 23 Phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh xu thế (Holt) ))(1(1 tttt TFAF +−+=+ αα tttt TFFT )1()( 11 γγ −+−= ++ Chuỗi san bằng số mũ hoặc ước lượng giá trị hiện hành 11 +++ += ttmt mTFH Ước lượng xu thế Dự báo cho m giai đoạn tiếp theo
  24. 24. 24 Trong đó Ft – Giá trị san bằng mới α – Hệ số san bằng số mũ (0 < α < 1) At – Giá trị thực tại thời điểm t Tt – Ước lượng xu thế γ – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng xu thế (0 < γ < 1) m – Số lượng giai đoạn dự báo trong tương lai Ht+m – Giá trị dự báo cho m giai đoạn tiếp theo
  25. 25. 25 Tháng Nhu cầu Tháng Nhu cầu Tháng Nhu cầu 1 47 5 38 9 47 2 42 6 34 10 54 3 16 7 45 11 40 4 47 8 50 12 43 Giả sử các hệ số α = 0.1, γ = 0.1, F1 = 40 và T1 = 0
  26. 26. 26 11 +++ += ttmt mTFH T2 = 0.1(40.70 – 40)+ 0.9(0) = 0.07 Uớc lượng giá trị Tính cho tháng 2 F2= 0.1(47)+ 0.9(40+0) = 40.70 Ước lượng xu thế Dự báo cho tháng hai là: H2 = F2 + 1T2 = 40.70 + 0.07= 40.77 ))(1(1 tttt TFAF +−+=+ αα tttt TFFT )1()( 11 γγ −+−= ++
  27. 27. 27 Tháng Nhu cầu At Mức độ Ft Xu hướng Tt Dự báo Ht Độ lệch Giêng 47 40 0 40 7.00 Hai 42 40.7 0.07 40.77 1.23 Ba 16 40.89 0.082 40.97 -24.97 Tư 47 38.47 -0.168 38.30 8.7 Năm 38 39.17 -0.081 39.09 -1.09 Sáu 34 38.98 -0.092 38.89 -4.89 Bảy 45 38.40 -0.141 38.26 6.74 Tám 50 38.93 -0.074 38.86 11.14 Chín 47 39.97 0.037 40.01 6.99 Mười 54 40.71 0.107 40.82 13.18 Mười một 40 42.14 0.139 42.38 -2.38 Mười hai 43 42.14 0.215 42.36 0.64 Giêng 42.42 0.221 42.64
  28. 28. 28 Tháng Doanh số Trung bình Chỉ số mùa (SI)2004 2005 2006 1 24,956 27,082 29,788 27,275 1.08 2 19,712 21,714 23,914 21,780 0.86 3 21,692 19,624 23,804 21,707 0.86 4 20,042 22,044 24,310 22,132 0.87 5 21,516 23,738 26,180 23,811 0.94 6 22,396 24,662 20,372 22,477 0.89 7 33,638 37,026 40,788 37,151 1.47 8 30,008 33,066 36,300 33,125 1.31 9 25,520 30,116 29,931 28,522 1.13 10 17,688 19,492 18,123 18,434 0.73 11 21,010 23,100 25,388 23,166 0.92 12 21,890 24,090 26,422 24,134 0.95 Chỉ số mùa (Seasonal Indices)
  29. 29. 29 Ví dụ: Tính chỉ số mùa cho mỗi quý với số liệu thu thập được trong bốn năm được trình bày trong bảng sau: Quý Doanh số 2004 2005 2006 2007 Q1 348 366 459 487 Q2 820 932 1053 1217 Q3 668 683 829 909 Q4 700 831 939 1078 Trung bình 634 703 820 922.8 Trung bình Chỉ số mùa (SI) 415 0.54 1005.5 1.31 772.3 1.00 887 1.15 769.9 1.00
  30. 30. 30 Phương pháp đường số mũ có điều chỉnh xu thế và mùa vụ (Winters) ))(1( 11 −− − +−+= tt pt t t TF S A F αα pt t t t S F A S −−+= )1( ββ 11 )1()( −− −+−= tttt TFFT γγ pmtttmt SmTFW −++ += )( Chuỗi san bằng số mũ Ước lượng xu thế Dự báo cho m giai đoạn tiếp theo Ước lượng tính mùa vụ
  31. 31. 31 Trong đó: Ft – Giá trị san bằng mới; α – Hệ số san bằng số mũ (0<α <1); At – Gía trị thực tại thời điểm t; St – Ước lượng thời vụ; β – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng mùa vụ (0<β <1); Tt – Ước lượng xu thế; γ – Hệ số san bằng số mũ để ước lượng xu hướng (0<γ <1); m – Số lượng giai đoạn dự báo trong tương lai; P – Số lượng giai đoạn trong chu kỳ mùa vụ; Wt+m – Giá trị dự báo Winter cho m giai đoạn tiếp theo. Phương pháp đường số mũ có điều chỉnh xu thế và mùa vụ (Winters)
  32. 32. 32 Giai đoạn Nhu cầu Ft St Tt Wt 1 112 124.4 0.900 2 115 164.3 0.700 3 124 112.7 1.100 4 177 136.2 1.300 4.00 5 112 137.0 0.896 3.69 126.1 6 101 141.4 0.701 3.76 98.5 7 185 149.8 1.107 4.22 159.7 8 202 154.3 1.300 4.25 200.2 9 129 155.6 0.893 3.96 142.0 10 107 158.2 0.699 3.82 111.8
  33. 33. 33 W5 = (B4 + T4 )S1 = (136.2 + 4)0.9 = 126.1 Chọn α = 0.2; β = 0.05; γ = 0.1 ))(1( 11 −− − +−+= tt pt t t TF S A F αα pt t t t S F A S −−+= )1( ββ F5 = 0.2 (112/0.9) + 0.8(136.2 + 4) = 137 S5 = 0.05 (112/137) + 0.95 (0.9) = 0.896 11 )1()( −− −+−= tttt TFFT γγ T5 = 0.1(137 – 136.2) + 0.9 (4) = 3.69 W6 = (F5 + T5 )S2 = (137 + 3.69)0.7 = 98.5
  34. 34. Cám ơn sự chú ý lắng nghe!

【#3】Xác Định Có Thai Bằng Phương Pháp Xét Nghiệm Máu

Hiện nay có 3 phương pháp xét nghiệm phát hiện có thai là phương pháp siêu âm, dùng que thử thai, xét nghiệm máu hoặc nước tiểu. Phương pháp dùng que thử thai có ưu điểm là không mất thời gian đến các đến các bệnh viện, phòng khám, tuy nhiên nhược điểm là tính chính xác của cách này không cao khi chọn thời điểm và áp dụng không đúng. Bên cạnh đó, nó cũng dễ nhầm lẫn khi sức khỏe của bạn không ổn định.

Siêu âm và xét nghiệm máu là cách thử thai rất chuẩn xác và nhanh chóng. Để biết được kết quả trong thời gian sớm nhất, bạn nên lựa chọn phương pháp xét nghiệm máu hoặc nước tiểu. Cách này không chỉ xác định được việc có thai mà còn giúp bạn nắm bắt được tình trạng sức khỏe khi mang thai.

Các dấu hiệu nhận biết có thai sau 1 tuần:

Đây là dấu hiệu có thai sớm nhất trong tuần đầu tiên. Nguyên nhân bị đau cứng, tức ngực la do sau khi thụ tinh thành công, sẽ có sự thay đổi đột ngột về nồng độ hooc môn trong cơ thể của phụ nữ. Sự thay đổi này làm cho lượng máu tuần hoàn đến phần ngực nhiều hơn khiến bầu ngực cương lên nhũ hoa dần sậm màu, trở nên thâm, đen hơn bình thường, tĩnh mạch nổi hẳn lên khiến bạn cảm thấy khó chịu.

Đi tiểu nhiều hơn.

Khi trứng thụ tinh được 6 tuần, tử cung của phụ nữ sẽ to ra chèn ép vào bàng quang kết hợp với nồng độ HCG thai kỳ tăng đột ngột khiến bạn thường xuyên buồn tiểu, đi tiểu nhiều hơn cả ngày lẫn đêm.

Thay đổi thói quen ăn uống, ốm nghén và nhạy cảm với mùi

Ở những tháng đầu mang thai, cợ thể phụ nữ rất nhạy cảm với những mùi xung quanh, nhiều mùi gây khó chịu , gây nên cảm giác buồn nôn, nôn ọe. Đây còn gọi là hiện tượng ốm nghén. Bên cạnh đó, sự thay đổi về hoocmon trong cơ thể khiến bạn cảm thấy đói, thèm ăn ở những tuần thai đầu tiên. Nhiều lúc rất thèm ăn một món nào đó và muốn ăn nó cho bằng được.

Ra máu và dịch âm đạo thay đổi

Hiện tượng ra máu báo thai thường bị hiểu nhầm thành kinh nguyệt. Hiện tượng này xảy ra khi thai nhi vào làm tổ trong buồng tử cung. Cách phân biệt máu báo thai : máu báo thai thường là những đốm máu đỏ tươi, phớt hồng hoặc nâu. Máu báo thai chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn khoảng 1 đến 2 ngày. Trong đó máu kinh nguyệt thường nhiều và ồ ạt hơn, có dịch nhầy và kéo dài từ 3 đến 7 ngày.

Mệt mỏi thường xuyên.

Sau khi thụ thai thành công, ở những tuần đầu tiên phụ nữ sẽ có cảm giác mệt mỏi gồm các triệu chứng: đau đầu do sựu tăng đột biến hoocmon và sự thiếu hụt hồng cầu, hoa mắt kèm theo tim đập mạnh hơn, nhanh hơn; thân nhiệt tăng cao hơn so với mức bình thường khiến cơ thể mất nhiều năng lượng, dây chằng ở lưng kéo dãn chuẩn bị cho sự phát triển của thai kì dẫn đến hiện tượng mỏi sống lưng. Sự mệt mỏi liên tục này chính là dấu hiệu nhận biết mang thai rõ ràng nhất.

Phương pháp xét nghiệm máu phát hiện có thai sớm chính xác lên đến 100%

Xét nghiệm máu có thể đo được lượng tăng khối lượng rất nhỏ của hormone này trong vòng 6 – 8 ngày sau khi thụ thai nên đây là xét nghiệm có khả năng dự đoán mang thai rất sớm, ngay từ những tuần đầu tiên. Bảng chỉ số nồng độ hoocmon cho biết bạn đã thực sự có thai như sau:

– hCG < 5mlU/ml: chưa thể kết luận đã mang thai.

– hCG từ 5mlU/ml đến nhỏ hơn 25 mlU/ml: cần thực hiện các xét nghiệm khác.

Lượng hCG sau mỗi ba ngày sẽ tăng lên gấp đôi và ở tuần thứ 15-16 của thai kỳ sẽ đạt mức cao nhất, sau đó giảm dần và biến mất trong vài tuần sau sinh. Trong trường hợp có thai ngoài tử cung, hCG thường có thời gian nhân đôi dài hơn. Hoặc đối với những người thai yếu, nồng độ hCG sẽ giảm xuống nhanh chóng sau khi sảy thai, hCG ở mức rất cao thì có thể đang mang song thai, đa thai hoặc thai trứng.

Các lưu ý khi thực hiện xét nghiệm máu xác định mang thai

  • Cần nhịn ăn, không uống nước ngọt, sữa, nước hoa quả, rượu, chè, cà phê trong vòng 12 tiếng trước khi đi làm xét nghiệm máu.
  • Thời điểm lấy máu tốt nhất là vào buổi sáng sớm.

Những lợi ích khi xét nghiệm máu trong giai đoạn mang thai:

– Giúp phát hiện sớm virus Rubella (loại virus Rubella rất nguy hiểm vì có thể gây ra dị tật cho thai nhi)

– Xét nghiệm ADN trong máu mẹ giúp chẩn đoán hội chứng down cho trẻ

– Xét nghiệm máu khi mang thai giúp xác định nhóm máu

– Xét nghiệm máu giúp kiểm tra hàm lượng hemoglobin trong máu giúp phát hiện bạn có đang thiếu máu hay thiếu sắt không nhằm bổ sung dưỡng chất

– Phát hiện CMV – là tác nhân gây sảy thai và dị tật bẩm sinh ở thai nhi

– Chẩn đoán viêm gan B ở mẹ khiến nguy cơ truyền bệnh sang con rất cao

– Xét nghiệm máu còn giúp bạn phát hiện giang mai

– Phát hiện kháng thể HIV.

Xét nghiệm máu xác định có thai ở Đà Nẵng.

Bên cạnh xét nghiệm có thai, phòng khám còn cung cấp các gói khám sức khỏe tổng quát cơ bản và chuyên sâu, phù hợp với nhu cầu của quý khách hàng.

97 Hải Phòng, Hải Châu, Đà Nẵng.

Hotline: 091.555.1519

【#4】Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Oxy Hóa Nâng Cao Trên Cơ S

Hiện nay, phương pháp đốt dịch đen để tái sinh kiềm được áp dụng khá phổ biến để xử lý nước thải công đoạn nấu giấy. Tuy nhiên, thực chất phương pháp này là chuyển các chất ô nhiễm từ dạng này (lỏng) sang dạng khác (khí) mà không làm giảm tác động xấu đối với môi trường. Hơn thế nữa, phương pháp đốt chỉ mang lại hiệu quả kinh tế khi lưu lượng nước thải lớn (nhà máy giấy Bãi Bằng công suất 2000 m Để xử lý nước thải này đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý bằng phương pháp keo tụ, oxi hoá bằng Fenton…Nhiệm vụ đặt ra là tìm phương pháp nghiên cứu mới vì Fenton cần pH thấp. 3/ngày đêm). Với quy mô nhỏ của nhà máy, lượng dịch đen thải ra là 1,7 m

Công nghệ xử lý nước thải bằng ozon hiện nay đang được nghiên cứu và từng bước áp dụng để xử lý các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học, trong đó có dịch thải công đoạn nấu giấy. Ngoài ra, do nước thải công đoạn này có độ màu và hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, hơn nữa nhược điểm của quá trình ozon là chi phí đầu tư cao, tiêu dùng nhiều năng lượng nên ta tiến hành đông keo tụ để giảm một phần chất ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng khi xử lý bằng ozon. Phương pháp đông keo tụ có ưu điểm là có thể xử lý được một số hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học có phân tử lượng lớn, các kim loại nặng và đặc biệt là các chất ô nhiễm ở dạng chất rắn lơ lửng làm giảm đáng kể độ màu của nước thải cần xử lý. Do hàm lượng các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học trong nước thải cao, nên sau khi giảm được độ màu cần thiết ta thực hiện quá trình oxi hóa hóa học có thể loại bỏ được một phần COD và cắt mạch rất hiệu quả đối với các chất ô nhiễm dạng này. Với những ưu điểm đáng kể của ozon như: khử màu, tăng oxy hoà tan, giảm chất rắn lơ lửng và đặc biệt là tạo ra các sản phẩm phụ có độ độc không đáng kể…, phương pháp oxy hoá nâng cao trên cơ sở ozon được áp dụng để nghiên cứu xử lý nước thải nấu giấy. Trên cơ sở những lợi ích đó của ozone trong xử lý nước và nước thải và đặc trưng của nước thải công đoạn nấu giấy, ta nghiên cứu kĩ hơn về quá trình oxy hoá nâng cao trên cơ sở ozone để xem xét khả năng ứng dụng phương pháp này trong xử lý nước thải. 3/ngày, thì phương pháp đốt không thích hợp.

(O 3) là một dạng thù hình của ôxy, trong phân tử của nó chứa ba nguyên tử ôxy thay vì hai như thông thường.

Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn ôzôn là một chất khí có màu xanh nhạt. Ôzôn hóa lỏng màu xanh thẫm ở -112°C, và hóa rắn có màu xanh thẫm ở -193°C.

Ozone là sản phẩm tạo ra do sự phóng điện trong một khí chứa oxy, xảy ra theo phản ứng:

Theo lý thuyết, cần có 2960 kJ để sản xuất 1 kg ozone, nhưng trong thực tế, hiệu suất không vượt quá 5% và sự tiêu tốn năng lượng thực tế từ 60.000 đến 70.000 kJ. Năng lượng bị mất mát dưới dạng nhiệt. Nhiệt cần thiết để tạo ra một hệ thống làm lạnh khí đã được ozone hoá, nếu không sẽ bị phân huỷ rất nhanh do chất oxy hoá :

O 3 có thể oxi hóa các chất hữu cơ, đặc biệt các hợp chất có liên kết đôi, liên kết ba, tạo thành các ozonua và cuối cùng đi đến đứt liên kết tạo ra các hợp chất có mạch cacbon ngắn hơn.

H = 1,4649; điểm đông – 0,89 2O 0C; điểm sôi gần 151,4 0C. Trên điểm sôi và ở điều kiện áp suất thường H 2O 2 bắt đầu phân ly chậm và sau đó thì phân huỷ mãnh liệt. Nó hoà tan vô hạn trong nước và cho một dung dịch điện ly yếu :

– Oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon hoà tan trong nước O 3.

Hai con đường oxi hoá nói trên của ozon xảy ra cạnh nhau. Quá trình oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon xảy ra tương đối chậm (10-5 – 10 7 M-1sec-1) so với oxi hoá gián tiếp thông qua gốc hydroxyl do sự phân huỷ ozon tạo ra (10 12 – 10 14 M-1sec-1). Tuy vậy, nồng độ ozon trong nước khi ozon hoá tương đối cao, trong khi đó, nồng độ gốc hydroxyl trong điều kiện ozon hoá thông thường lại tương đối nhỏ, vì thời gian sống của gốc hydroxyl ngắn (thời gian bán huỷ tính bằng phần nghìn giây – microsecond), nên nồng độ gốc hydroxyl *OH khi oxi hoá bằng ozon không bao giờ vượt quá 10-12 M , trong điều kiện axit, con đường oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon là chủ yếu, trong khi đó, trong điều kiện pH cao, hoặc trong những điều kiện có các tác nhân khác như H 2O 2, UV, chất xúc tác,… tạo thuận lợi cho quá trình tạo gốc *OH, con đường oxi hoá gián tiếp thông qua gốc hydroxyl sẽ là chủ yếu và hiệu quả oxi hoá được nâng cao. Do đó, thay vì sử dụng ozon một mình, nhiều công trình nghiên cứu đã theo hướng tìm kiếm các tác nhân phối hợp với ozon hoặc chất xúc tác nhằm tạo ra gốc *OH để nâng cao hiệu quả oxi hoá của ozon khi cần xử lí những hợp chất bền vững, khó phân huỷ trong nước và nước thải. Đó chính là quá trình oxi hoá nâng cao trên cơ sở ozon. Những tác nhân đưa thêm vào được nghiên cứu nhiều nhất là H 2O 2 được gọi là quá trình peoxon (O 3/H 2O 2 ), hoặc các chất đồng thể như chất xúc tác kiềm (O 3/pH), chất xúc tác các muối Fe(II), Mn(II), Ni(II), Co(II), các chất xúc tác dị thể như oxid các kim loại TiO 2, MnO 2 được gọi chung là quá trình catazon (O 3/Cat). Trong chiều hướng đó, sự phân huỷ của ozon để tạo ra gốc hydroxyl cũng sẽ dễ dàng khi có bức xạ tử ngoại UV.

Hai đường đi phản ứng oxi hoá của ozon trong dung dịch nước

Quá trình oxi hoá của ozon với sự có mặt của hydrogen peroxit (O 3/H 2O 2 ) được gọi là quá trình peroxon hoặc perozon. Sự khác nhau cơ bản giữa quá trình ozon và peroxon là ở chỗ, quá trình ozon thực hiện sự oxi hoá các chất ô nhiễm chủ yếu trực tiếp bằng phân tử ozon trong nước trong khi đó quá trình Peroxon thực hiện sự oxi hoá chất ô nhiễm chủ yếu là gián tiếp thông qua gốc hydroxyl được tạo ra từ ozon [17].

Khi ozon hoá để thực hiện quá trình oxi hoá, lượng ozon không hoà tan hết còn dư thoát ra ở dạng khí, trong khi đó, ở quá trình Peroxon, do sự có mặt hydroxyl peroxit đã gia tăng đáng kể quá trình tiêu thụ và phân huỷ ozon làm cho sự chuyển ozon từ pha khí sang pha lỏng được tăng cường. Vì quá trình oxi hoá thông qua gốc hydroxyl hiệu quả hơn quá trình oxi hoá trực tiếp bằng phân tử ozon nên quá trình peroxon được sử dụng rất phổ biến và phát triển mạnh nhiều năm gần đây để xử lí những chất hữu cơ khó bị oxi hoá trong nước uống và nước thải. Đối với nước uống, quá trình Peroxon được áp dụng để xử lí các chất gây mùi, vị khó chịu như geosmin, 2-metyliosboeneol (MIB), các hợp chất hữu cơ chứa clo, đồng thời còn sử dụng như một tác nhân khử trùng mạnh, tiêu diệt được những loại vi khuẩn hoặc các loại kém bền vững với clo như Giardia và Crytosporidium. Đối với nước thải, quá trình peroxon sử dụng để xử lí các chất mang màu hoặc các chất hữu cơ chứa halogen như tricloetylen (TCE), percloetylen (PCE), diclopropen (DCPE), clopentan (CPA), dicloetan (DCA),… các hợp chất của phenol, các alcohol và axit dây ngắn đến mức độ khoáng hoá nhất định. Tuy vậy, quá trình Peroxon thường được dừng lại ở mức độ phân huỷ nào đó, nhằm chuyển hoá các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học thành những chất hữu cơ có khả năng dễ bị phân huỷ sinh học, làm cải thiện tỷ số BOD/COD trong nước thải theo chiều thuận lợi để thực hiện các quá trình xử lí sinh học tiếp sau.

Các phản ứng tiếp theo tạo thành gốc hydroxyl xảy ra như sau:

Một số anion vô cơ thường có trong nước ngầm và nước thải cũng có thể làm giảm hiệu quả của quá trình Peroxon do chúng tìm diệt gốc *OH vừa được tạo ra. Những chất tìm diệt gốc hydroxyl làm mất gốc *OH theo phản ứng sau:

H 2O 2 bản thân phản ứng chậm với ozon, nhưng sản phẩm phân huỷ của H 2O 2 là ion HO 2 lại phản ứng rất mạnh với ozon theo phương trình (II.2). Vì vậy, trong môi trường pH cao rất thuận lợi cho phản ứng (II.1) xảy ra, do đó làm tăng tốc độ quá trình phân huỷ ozon và tạo ra gốc *OH. Nếu tăng pH lên một đơn vị có thể tăng tốc độ tạo thành gốc *OH lên 10 lần. Trị số pH tối ưu của quá trình peroxon thường nằm trong khoảng 7 – 8.

Phương trình (II.9) cho thấy 1 mol H 2O 2 tác dụng với 2 mol O 3 sẽ tạo ra 2 gốc tự do *OH. Tuy nhiên, nhu cầu H 2O 2 còn phụ thuộc vào sự có mặt của những chất tìm diệt gốc *OH trong hệ. Nếu H 2O 2 quá dư thì sẽ có tác dụng ngược lại, làm giảm hiệu quả của quá trình O 3/H 2O 2 vì H 2O 2 cũng có tác dụng như chất tìm diệt gốc *OH.

· Chất xúc tác kiềm: Thực hiện phản ứng ozon hoá với môi trường pH cao có tác dụng nâng cao đáng kể năng lực oxi hoá của ozone. Nguyên nhân là trong môi trường pH cao phản ứng giữa ion hydroxit và ozone dẫn đến sự hình thành gốc anion superoxit O 2 và gốc *HO 2:

Bằng phản ứng giữa ozone và gốc anion superoxit, gốc anion ozonit được hình thành, sau đó lập tức phân huỷ khi có mặt ozone và tạo ra gốc *OH. Kết quả là ba phân tử ozone tạo ra được 2 gốc hydroxyl như sau:

3O 3 + OH + H + → 2HO + 4O 2

Xử lí nước thải bằng ozone với các chất xúc tác đồng thể sunfat Fe (II), Mn (II), Ni (II) hoặc Co (II) có tác dụng loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ cao hơn so với khi sử dụng ozone đơn thuần.

Cơ chế có thể xảy ra theo hai khả năng đề xuất như sau:

Khả năng thứ nhất: Chất xúc tác chỉ đóng vai trò như một chất hấp phụ Me – OH, ozone và gốc hydroxyl tạo ra từ sự phân huỷ ozone sẽ là tác nhân oxi hoá.

Khả năng thứ hai: Chất xúc tác có thể tác dụng với cả ozone và chất hữu cơ hấp phụ trên bề mặt, đúng nghĩa với bản chất của quá trình xúc tác.

Độ hòa tan của O 3 trong nước phụ thuộc vào pH và hàm lượng các chất hòa tan. Với môi trường axit có muối trung tính sẽ làm tăng độ hòa tan của O 3 ngược lại trong môi trường kiềm làm giảm độ hòa tan của O 3. Nhìn chung, ozon hoà tan kém trong nước và là hợp chất không bền, thời gian sống chỉ vài phút. Vì vậy, để có thể đạt được số lượng ozon hoà tan trong nước đủ lớn cho quá trình oxi hoá, phải đưa vào hệ một lượng O 3 lớn. Ngoài nhược điểm nói trên, khi sử dụng O 3 làm chất oxi hoá trong xử lý nước và nước thải là phải sản xuất O 3 tại chỗ, ngay trong dây chuyền xử lý. Ở áp lực cao O 3 bị phân hủy rất nhanh, do đó việc sản xuất và hòa tan vào nước phải tiến hành ở áp lực thấp.

Công nghệ dựa vào các quá trình oxi hoá nâng cao là công nghệ được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất trong những năm gần đây. Có thể nói, thành tựu quan trọng có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực xử lí nước và nước thải trong vòng hơn hai thập kỉ qua chính là sự phát triển mạnh mẽ các công trình nghiên cứu và ứng dụng những quá trình oxi hoá nâng cao trong đó có ozone.

Email: [email protected]

Tư vấn miễn phí:

CÔNG TY TNHH MÔI TRƯỜNG XUYÊN VIỆT

Địa chỉ: 537/18/4 Nguyễn Oanh, Phường 17, Quận Gò Vấp, TP.HCM

(Địa chỉ cũ: B30 Khu Chung Cư An Lộc, Phường 17, Quận Gò Vấp, TPHCM)

Điện thoại: (+84) 028 3895 3166

Hotline: 0903.018.135 – 0918.280.905

Email: [email protected][email protected]

Fax: (+84) 028 3895 3188

Chúng tôi rất vui được giải đáp những thắc mắc của bạn. Trân trọng!

【#5】Xử Lý Nước Thải Sinh Hoạt Bằng Phương Pháp Hóa Lý

Xử lý nước thải sinh hoạt thường có 3 phương pháp xử lý đó là phương pháp cơ học, phương pháp hóa lý và phương pháp sinh học (Ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải sinh hoạt và bùn hoạt tính). Xử lý nước thải sinh hoạt bằng phương pháp cơ học đã được tôi giải thích ở bài viết “Đặc tính và nguồn gốc nước thải sinh hoạt “. Bài viết hôm nay tôi sẽ giải thích cho bạn phương pháp hóa lý trong xử lý nước thải sinh hoạt.

Nói đến phương pháp hóa lý đầu tiên phải nói đến quá trình keo tụ tạo bông

Quá trình keo tụ tạo bông là các hạt cặn có kích thước nhỏ hơn 10-4 mm thường không thể tự lắng được mà luôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng. Muốn loại bỏ các hạt cặn lơ lửng phải dùng đến biện pháp xử lý cơ học kết hợp với biện pháp hóa học tức là cho vào nước cần xử lý các chất phản ứng để tạo ra các hạt keo có khả năng kết dính lại với nhau và liên kết các hạt lơ lửng trong nước tạo thành các bông cặn lớn hơn có trọng lượng đáng kể. Do đó các bông cặn mới tạo thành dễ dàng lắng xuống ở bể lắng. Để thực hiện quá trình keo tụ, người ta cho vào trong nước các chất keo thích hợp như: Phèn nhôm Al 2(SO 4)3, phèn sắt loại FeSO 4 hay FeCl 3 . Các loại phèn này được đưa vào dung dịch nước dưới dạng hòa tan.

Bể tuyển nổi dùng để tách các tạp chất (Ở dạng lắng hoặc lỏng) phân tán không tan, tự lắng kém ra khỏi nước. Ngoài ra còn dùng để tách các hợp chất hòa tan như chất hoạt động bề mặt và gọi là bể tách bọt hay làm đặc bọt. Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sụt các bọt khí nhỏ vào pha lỏng. Các bọt khí này sẽ kết dính với các hạt cặn, khi khối lượng riêng của tập hợp bọt khí và cặn nhỏ hơn khối lượng riêng của nước, cặn sẽ theo bọt khí nổi lên bề mặt. Tùy theo phương thức cấp khí vào nước, quá trình tuyển nổi bao gồm các dạng sau:

Tuyển nổi bằng phân tán khí (Dispersed Air Flotation) Tuyển nổi chân không (Vacuum Flotation) Tuyển nổi bằng khí hòa tan (Dissolved air Flotation) Hấp phụ: Phương pháp hấp phụ được ứng dụng rộng rãi để làm sạch nước thải triệt để khỏi các chất hữu cơ hòa tan sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học (ứng dụng và bùn hoạt tính), cũng như khi nồng độ của chúng không cao và không bị phân hủy bởi vi sinh vật hay chúng rất độc.

Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả cao 80 ÷ 95% có khả năng xử lý nhiều chất trong nước thải đồng thời có khả năng thu hồi các chất này. Quá trình hấp phụ được thực hiện bằng cách cho tiếp xúc 2 pha không hòa tan là pha rắn (chất hấp phụ) với pha khí hoặc pha lỏng. Dung chất (chất bị hấp thụ) sẽ đi qua từ pha lỏng (pha khí) đến pha rắn cho đến khi nồng độ dung chất trong dung dịch được cân bằng. Các chất hấp phụ thường được sử dụng: than hoạt tính, tro, xỉ, mạt cưa, silicegen, keo nhôm.

Trao đổi ion: Phương pháp này có thể khử tương đối triệt để các tạp chất ở trạng thái ion trong nước như: Zn, Cu, Cr, Ni, Hg, Mn,… cũng như các hợp chất của Asen, Phospho, Cyanua, chất phóng xạ. Phương pháp này cho phép thu hồi các chất có giá trị và đạt được mức độ làm sạch cho nên được dùng nhiều trong việc tách muối trong xử lý nước thải.

Đializ – Màng bán thấm: Phương pháp này có thể tách các chất tan khỏi các hạt keo bằng cách dùng các màng bán thấm. Đó là các màng xốp đặc biệt không cho các hạt keo đi qua.

Trích ly: Phương pháp này có thể tách các chất bẩn hòa tan ra khỏi nước thải bằng dung môi nào đó nhưng với điều kiện dung môi đó không tan trong nước và độ hòa tan chất bẩn trong dung môi cao hơn trong nước.

Chưng bay hơi: Phương pháp này là chưng nước thải để các chất hòa tan trong đó cùng bay lên theo nước. Ví dụ: người ta chưng nước thải của nhà máy hóa cốc cho phenol bay đi theo hơi nước.

Các phương pháp hóa học:

Phương pháp trung hòa:

Nhằm trung hòa nước thải có pH quá cao hoặc quá thấp nhằm tạo điều kiện cho các quá trình xử lý hóa lý và xử lý sinh học.

Mặc dù quá trình rất đơn giản về mặt nguyên lý nhưng vẫn có thể gây ra một số vấn đề trong thực tế như: giải phóng các chất ô nhiễm dễ bay hơi, sinh nhiệt, làm sét, xỉ thiết bị máy móc.

Vôi (Ca(OH)2) thường được sử dụng rộng rãi như một bazơ để xử lý các nước thải có tính axit, axit sulfuric (H2SO4) là một chất tương đối rẽ tiền dùng trong xử lý nước thải có tính bazơ.

Phương pháp oxy hóa – khử:

Phương pháp này dùng để khử trùng nước thải.

Chuyển một nguyên tố hòa tan sang kết tủa hay một nguyên tố hòa tan sang thể khí.

Biến đổi một chất lỏng không phân hủy sinh học thành nhiều chất đơn giản có khả năng đồng hóa bằng vi khuẩn.

Loại bỏ các kim loại nặng như: Cu, Pb, Zn, Cr, Ni, As,… và một số độc chất như Cyanua. Các chất oxy hóa thông dụng: Ozon (O3), Chlorine (Cl2), Kali permanganate (KMnO4), Hydroperoxide (H2O2).

Quá trình này thường phụ thuộc rõ rệt váo pH và sự hiện diện của chất xúc tác. Kết tủa hóa học: Kết tủa hóa học thường dùng để loại trừ các kim loại nặng trong nước. Phương pháp kết tủa hóa học thường được sử dụng nhất là phương pháp tạo các kết tủa với soda cũng có thể được sử dụng để kết tủa các kim loại dưới dạng Hydroxide (Fe(OH)3), Carbonate (CdCO3).

【#6】Tìm Hiểu Về Những Cải Tiến Của Phương Pháp Xạ Trị U Đại Tràng Ác Tính

Tỷ lệ mắc u đại tràng ác tính đứng thứ hai, chỉ sau u dạ dày ác tính trong các bệnh ung thư ở đường tiêu hóa. Hiện nay, một trong những phương pháp phổ biến trong điều trị u đại tràng ác tính là xạ trị, với những tiến bộ trong thời gian gần đây. Vậy cụ thể, những cải tiến của xạ trị cụ thể như thế nào, mời bạn đọc theo dõi bài viết sau để thông tin chi tiết!

Xạ trị u đại tràng ác tính là gì?

U đại tràng ác tính là khối u được hình thành ở bất cứ vị trí nào của đại tràng (đại tràng sigma, đại tràng xuống, đại tràng ngang, đại tràng lên và manh tràng). Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì những tế bào này có khả năng xâm lấn và lan rộng sang các bộ phận khác của cơ thể.

Hiện nay, xạ trị là phương pháp phổ biến, được thực hiện bằng cách dùng tia có năng lượng cao (tia X) để loại bỏ, phá vỡ hoặc làm teo tế bào u đại tràng ác tính. Xạ trị có thể được thực hiện từ bên ngoài cơ thể hoặc bên trong. Tuy nhiên, xạ trị ngoài được dùng nhiều hơn, thường với tần suất 5 ngày/tuần, kéo dài nhiều tuần, nhưng mỗi lần chỉ vài phút.

U đại tràng ác tính là bệnh lý phổ biến

Mục đích của xạ trị u đại tràng ác tính là gì?

Xạ trị có thể được sử dụng trước hoặc sau phẫu thuật, với mục đích khác nhau. Cụ thể:

– Trước phẫu thuật: Giúp thu nhỏ kích thước khối u, tạo điều kiện thuận lợi để ca phẫu thuật diễn ra thành công. Bên cạnh đó xạ trị cũng có thể dùng kết hợp với hóa trị trước khi phẫu thuật để tiêu diệt được nhiều tế bào ung thư hơn.

– Sau phẫu thuật: Quá trình phẫu thuật thường không đảm bảo lấy được hết tế bào u ác tính trong cơ thể. Vì vậy, xạ trị được chỉ định để tiêu diệt các tế bào còn sót lại, ngăn ngừa tái phát.

– Xạ trị đơn độc: Chỉ định xạ trị đơn độc cho người không đáp ứng đủ điều kiện sức khỏe để phẫu thuật, hoặc khối u đại tràng ác tính bị tái phát.

Những cải tiến của xạ trị u đại tràng ác tính trong thời gian gần đây

Với sự phát triển của nền y học hiện đại, ngày càng có nhiều biện pháp giúp ích cho bác sĩ trong phác đồ điều trị u đại tràng ác tính. Bên cạnh đó, những phương pháp truyền thống cũng được cải tiến ngày một tốt hơn để nâng cao hiệu quả điều trị, xạ trị cũng là một trong số đó.

Hiện nay, một phương thức xạ trị mới đã được ra đời, mang tên liệu pháp xạ trị nội phẫu (IORT). Đây là phương pháp chiếu tia xạ đồng thời trong quá trình phẫu thuật. IORT thường được thực hiện khi điều trị các khối u ác tính lan rộng cục bộ hoặc u ác tính từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 4 tái phát.

Một số nghiên cứu đã chứng minh khả năng kiểm soát tốt các khối u tái phát khi phẫu thuật được kết hợp với cả IORT và xạ trị truyền thống.

Liệu pháp bức xạ chùm ngoài (EBRT) là phương pháp sử dụng máy quét CT và máy tính đặc biệt để chiếu chùm tia ngoài bức xạ qua da đến khối u và các mô xung quanh. Phương pháp này nhằm mục tiêu tốt hơn, giúp làm giảm khả năng tổn thương đối với các cơ quan bình thường gần đó, như bàng quang hay trực tràng.

Là phương pháp xạ trị có sử dụng các máy gia tốc tuyến tính để phân bố liều phóng xạ chính xác đến khối u một cách an toàn mà không hề gây đau đớn và giảm liều chiếu xạ lên các mô lành cạnh khối u xuống dưới ngưỡng cho phép. Đây là kỹ thuật xạ trị tiên tiến, có độ chính xác cao, phù hợp hơn so với kỹ thuật xạ trị 2D, 3D và 3D-CRT.

Mặt khác, IMRT có tính chọn lọc, cho phép chiếu xạ liều bức xạ cao hơn với u đại tràng ác tính và giảm liều thấp dưới ngưỡng quy định đối với các mô lành. Do đó làm tăng hiệu quả trị liệu, đồng thời giảm tác dụng phụ và biến chứng so với các kỹ thuật xạ trị khác.

Hầu hết phương pháp xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào u ác tính. Nhưng hiện nay đã có nhiều loại tia xạ khác nhau được tạo ra bởi các máy đặc biệt. Chẳng hạn như proton hoặc neutron có hiệu quả cao hơn khi dùng cùng một liều lượng so với tia X. Hơn thế nữa, liệu pháp xạ trị kết hợp proton hoặc neutron với tia X thông thường cũng đang được chuyên gia đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng.

Xạ trị là phương pháp điều trị u đại tràng ác tính

Oncolysin hỗ trợ điều trị u đại tràng ác tính hiệu quả

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, xạ trị ngày càng có nhiều cải tiến, giúp nâng cao hiệu quả điều trị u ác tính, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực kể trên, xạ trị cũng đang còn tồn tại nhiều bất cập như chi phí cao, cần sự thực hiện của chuyên gia, đặc biệt là gây ra nhiều tác dụng phụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người mắc. Do vậy, nhiều người mong muốn có một giải pháp kết hợp, giúp nâng cao sức đề kháng cho cơ thể để họ có đủ sức khỏe theo hết quá trình điều trị. Đó chính là lý do Oncolysin ra đời.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Oncolysin

Sản phẩm với thành phần như Oncolysin (kẽm salicylate + MSM (methysulfonylmethane) + sơn đậu căn) giúp cho người mắc u đại tràng ác tính. Cụ thể như sau:

– Kẽm salicylate không chỉ cải thiện chức năng miễn dịch qua trung gian tế bào mà còn hoạt động như một chất chống oxy hóa và chống viêm.

– MSM là một hợp chất lưu huỳnh tự nhiên mà không có bất kỳ độc tính nào, là chất chống oxy hóa, chống viêm và ngăn ngừa sự phát triển của tế bào u đại tràng ác tính.

– Sơn đậu căn thuộc họ đậu, hợp chất oxymatrine và matrine được tìm thấy trong sơn đậu căn có tác dụng chống u bướu, trong đó có u đại tràng ác tính.

Ngoài ra, thành phần như Oncolysin và cùng với sodium selenite có tác dụng chống tái cấu trúc lưới ngoại bào, qua đó có tác dụng phá vỡ lớp vỏ xơ hóa polymer bao quanh tế bào u đại tràng ác tính để hệ miễn dịch tìm được đường vào tấn công tế bào lạ (tế bào u đại tràng ác tính) một cách chính xác nhất, giúp trung hòa môi trường acid của tế bào khối u, từ đó khối u không có cơ hội phát triển trở lại, đồng thời còn giúp giảm đau cho người bệnh.

Sản phẩm còn kết hợp thêm một số thành phần quý khác như cao bán biên liên và cao củ sả có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống độc giúp giảm tác dụng phụ và tăng hiệu quả của các thuốc điều trị u bướu.

Không chỉ vậy, sản phẩm còn chứa cao lá đu đủ, cao xạ đen, cao bạch hoa xà thiệt thảo, KI giúp tăng cường miễn dịch, ngăn ngừa sự phát triển của tế bào u đại tràng ác tính.

Đặc biệt nếu kết hợp Oncolysin với các phương pháp hiện đại sẽ mang lại những hiệu quả không ngờ, giúp đạt được tất cả các mục tiêu trong điều trị ung bướu hiện nay. Cụ thể:

– Tăng cường hiệu quả các phương pháp hiện đại trong việc tiêu diệt khối u đã hình thành.

– Ngăn chặn các giai đoạn sớm của quá trình sinh khối u mà phương pháp tây y không tác động đến.

– Giúp duy trì và tăng cường sức khỏe toàn trạng cơ thể, giảm các tác dụng phụ của phương pháp xạ trị.

– Giúp kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.

– An toàn khi sử dụng lâu dài.

Bị ung thư đại tràng, dùng Oncolysin hỗ trợ điều trị cải thiện sức khỏe có được không?

*Thực phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

* Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng

【#7】Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Sinh Học * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…

Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học được ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải cũng như một số chất ô nhiễm vô cơ khác như: H 2 S, Sunfit, Amonia, Nito,…dựa trên cơ sở hoạt động của vi sinh vật để phân hủy chất hữu cơ gây ô nhiễm. Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất có trong nước thải làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển.

Ưu và Nhược

Trọng tâm chính của hệ thống xử lý nước thải làm giảm hàm lượng ô nhiễm COD, BOD trong nước thải trước khi xả thải vào tự nhiên và đáp ứng được các quy chuẩn quy định. Các hệ thống xử lý nước thải được thiết kế như là nơi nuôi dưỡng sản sinh ra các chủng vi sinh có khả năng oxy hóa các chất bẩn trong nước.

Ưu điểm: Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học là công nghệ cần thiết nhằm tiết giảm chi phí và tính ổn định, thân thiện với môi trường, dễ vận hành.

Nhược điểm: Tuy nhiên, trong những chủng vi sinh xử lý nước thải còn có những chủng vi sinh, vi khuẩn, vi rút hay tảo có khả năng mang bệnh cho con người. Nước thải sau khi xả ra môi trường nếu dùng cho mục đích sinh hoạt thì cần phải kiểm tra xem trong nước có những vi khuẩn gây bệnh cho con người không.

Sử dụng vi sinh vật trong quá trình xử lý nước thải

Vi sinh vật là gì:

Vi sinh vật (microorganisms) là tên gọi chung để chỉ tất cả các sinh vật có kích thước rất nhỏ bé, chỉ có thể thấy được qua kính hiển vi. Nếu thước đo của nguyên tử và phân tử tính bằng A 0 (1 A 0 = 10-10 m), hoặc nanomet (1nm = 10-9 m) thì kích thước của vi sinh vật được tính bằng micromet (1m = 10-6 m).

Những đặc điểm chung của vi sinh vật:

  • Kích thước quá nhỏ bé, chỉ có thể đo bằng micromet, thậm chí đối với virut còn được đo bằng nanomet.
  • Hấp thụ nhiều, chuyển hóa nhanh. Ví dụ vi khuẩn lactic (Lactobacillus) trong 1 giờ có thể phân giải một lượng đường latozo nặng hơn 100-10000 lần khối lượng của chúng.
  • Sinh trưởng nhanh, phát triển mạnh.
  • Năng lực thích ứng mạnh và dễ sinh biến dị. Với khả năng này, vi sinh vật đã vượt rất xa so với động vật và thực vật.
  • Phân bố rộng, chủng loại nhiều. Vi sinh vật có ở khắp mọi nơi trên Trái Đất

Nguyên lý chung của quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học

Vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn chuyển hóa chất hữu cơ và ion vô cơ thành bùn trong quá trình sinh trưởng của nó:

  • Quá trình đồng hóa: là quá trình tổng hợp các nguyên liệu trong tế bào thành các chất đặc trưng của tế bào đồng thời tích lũy năng lượng trong các chất đó.
  • Quá trình dị hóa: là quá trình phân hủy các chất đặc trưng của tế bào thành các sản phẩm phân hủy và giải phóng năng lượng.

Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng các hoạt động sống của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm hòa tan trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và sinh năng lượng để duy trì hoạt động sống của chúng. Trong quá trình sống, chúng nhận các chất dinh dưỡng để xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản nên sinh khối của chúng được tăng lên. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật còn được gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa.

Lưu ý

Như vậy, nước thải được xử lý bằng phương pháp sinh học cuối cùng sẽ làm cho các chỉ tiêu BOD và COD giảm đến mức cho phép. Để có thể xử lý bằng phương pháp này, nước thải không được chứa các chất độc và tạp chất, các muối kim loại nặng hoặc nồng độ của chúng không được vượt quá nồng độ cực đại và cho phép và có tỷ số BOD/COD 0.5.

Phân loại phương pháp sinh học dựa vào hoạt động sống của vi sinh vật:

    Phương pháp hiếu khí là phương pháp sử dụng các nhóm vi sinh vật hiếu khí. Để đảm bảo hoạt động của chúng cần cung cấp oxy liên tục và duy trì nhiệt độ trong khoảng từ 20 đến 400 C
    Phương pháp kỵ khí là phương pháp sử dụng các vi sinh vật kỵ khí.

Tùy theo yêu cầu xử lý, người ta tiến hành theo phương pháp hiếu khí hoặc kỵ khí hoặc phối hợp cả 2 phương pháp.

Quá trình hóa học trong xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học

Để thực hiện quá trình oxy hóa sinh hóa, các chất hữu cơ hòa tan, các chất keo và phân tán nhỏ trong nước thải cần được di chuyển vào bên trong tế bào của vi sinh vật. Quá trình xử lý nước thải chính là quá trình vi sinh vật thu gom các chất bẩn từ nước thải để chuyển hóa chúng. Quá trình này gồm 3 giai đoạn:

  • Di chuyển các chất gây ô nhiễm từ pha lỏng tới bề mặt của tế bào vi sinh vật do khuếch tán đối lưu và phân tử.
  • Nhờ tác động của enzim ngoại bào của vi sinh vật, các chất ô nhiễm được phân cắt và khuếch tán vào bên trong màng tế bào do sự chênh lệch nồng độ các chất ở trong và ngoài tế bào.
  • Quá trình chuyển hóa các chất ở trong tế bào vi sinh vật đã sản sinh năng lượng và tổng hợp nên các chất mới của tế bào, giúp cho các tế bào sinh trưởng. Quá trình chuyển hóa này có quan hệ rất chặt chẽ với nhau trong tế bào và đó chính là quá trình xử lý nước thải.

Khi môi trường không còn đủ chất dinh dưỡng cung cấp, các tế bào phải sử dụng các chất dự trữ trong tế bào. Đây là quá trình tự oxy hóa:

Một loại vi sinh vật khác, đó là các vi sinh vật tự dưỡng, sẽ tự dưỡng khí NH 3 và CO 2 sinh ra như là nguồn dinh dưỡng để tạo nên sinh khối tế bào của chúng:

Từ các phản ứng trên thấy rõ sự chuyển hóa hóa học là nguồn năng lượng cần thiết cho các vi sinh vật.

Các nguyên tố dinh dưỡng và vi lượng

Để tạo môi trường cho các vi sinh vật có thể hoạt động tốt, nước thải cần chứa hợp chất của các nguyên tố dinh dưỡng và vi lượng. Đó là các nguyên tố N, S, P, K, Mg, Ca, Na, Cl, Fe, Mn, Mo, Co, Zn, Cu,.. trong đó N, P, K là các nguyên tố chủ yếu, cần được đảm bảo một lượng cần thiết trong xử lý sinh hóa. Hàm lượng các nguyên tố khác không cần phải định mức vì chúng có trong nước thải ở mức đủ cho nhu cầu của các vi sinh vật.

Khi thiếu các chất vi lượng

Khi thiếu Nito lâu dài, ngoài việc cản trở quá trình sinh hóa các chất bẩn hữu cơ, còn tạo ra bùn hoạt tính khó lắng.

Khi thiếu Photpho dẫn đến sự phát triển vi khuẩn dạng sợi, là nguyên nhân chính làm cho bùn hoạt tính bị phồng lên, khó lắng và bị cuốn ra khỏi hệ thống xử lý, làm giảm sinh trưởng của bùn hoạt tính và giảm cường độ quá trình oxy hóa.

Các nguyên tố dinh dưỡng tốt nhất ở dạng các hợp chất tương tự như trong các tế bào vi sinh vật. Ví dụ, Nito ở dạng nhóm Amoni (NH 4+) còn Photpho ở dạng muối tan của axit photphoric.

Phụ thuộc của hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng

Hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng phụ thuộc vào thành phần của nước thải và tỷ lệ giữa chúng được xác định bằng thực nghiệm. Để tính toán sơ bộ người ta thường lấy tỷ lệ BOD:N:P = 100:5:1. Tỷ lệ này chỉ đúng cho 3 ngày đầu, còn khi quá trình xử lý kéo dài, để tránh giảm hiệu suất của bùn hoạt tính, cần giảm lượng Nito và Photpho trong nước thải. Khi quá trình xử lý kéo dài 20 ngày thì tỷ lệ BOD:N:P cần giữ ở mức 200:5:1.

Trường hợp trong nước thải không có đủ Nito và Photpho, người ta bổ sung chúng bằng cách đưa thêm vào nước thải này phân bón Nito, Photpho và Kali. Nếu trong nước thải sinh hoạt có chứa các chất dinh dưỡng này thì kết hợp xử lý nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt, không cần phải bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng. Ngoài ra, pH cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tạo enzim trong tế bào và quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng vào tế bào. Khoảng pH tối ưu cho sinh vật nói chung và vi sinh vật nói riêng là từ 6.5 đến 8.5.

Để xử lý nước thải tối ưu

Để đảm bảo, duy trì lượng vi sinh vật cần thiết và đầy đủ trong hệ thống xử lý nước thải, ngoài việc bổ sung chất dinh dưỡng đầy đủ, thiết yếu cho chúng, nhằm đảm bảo sự phát triển đến mức ổn định nhất, bên cạnh đó việc cung cấp thêm lượng vi sinh vật là điều không thể bỏ qua. Số lượng vi sinh vật tăng, là điều kiện thuận lợi để chúng phân giải và chuyển hóa chất hữu cơ có trong nước thải, ở mức tối ưu nhất.

Quý khách hàng có thể tham khảo các dòng sản phẩm vi sinh của Công Ty Tin Cậy tại web tincay.com hoặc tham khảo Các loại chế phẩm sinh học dùng cho xử lý môi trường để chọn cho mình những dòng sản phẩm bổ sung vi sinh vật tối ưu. Bên cạnh đó, việc kiểm soát pH trong nước thải là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của vi sinh vật, là môi trường sống quyết định sự tồn tại của vi sinh vật.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách hàng vui lòng liên hệ: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TIN CẬY

Địa chỉ: Số 4, Đường số 3, Khu Dân Cư Vạn Phúc, P.Hiệp Bình Phước, Q.Thủ Đức,Tp.HCM

MST: 03 10 94 16 49

Điện thoại: (028) 2253 3535

Mobile: 0903 908 671 – 0903 095 978

Email:[email protected];[email protected]

【#8】Xử Lý Khí Thải Bằng Phương Pháp Sinh Học

Hiện nay hệ thống xử lý khí thải đã và đang được áp dụng với nhiều phương pháp xử lý khí thải trước khi phát thải ra ngoài môi trường.

Trong đó công nghệ xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học được đánh giá là một trong những phương pháp xử lý hữu hiệu nhất hiện nay được đa số các nhà máy, khu công nghiệp lựa chọn để xử lý khí khải gây ô nhiễm.

Bạn đang thực sự muốn tìm hiểu về phương pháp. Xin hãy đọc kỹ những nội dung dưới để áp dụng đúng kỹ thuật.

Bài viết sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản sau:

Xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học là phương pháp lợi dụng các vi sinh vật phân hủy. Hoặc tiêu thụ các khí thải độc hại.

Các vi sinh vật, vi khuẩn sẽ hấp thụ, đồng hóa các thành phần hữu cơ, vô cơ độc hại trong khí thải và thải ra các khí như CO 2,…

Xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học có các đặc điểm như sau:

  • Công nghệ làm sạch khí thải bằng phương pháp sinh học trong đó có bể xử lý chính gọi là “lọc sinh học giọt thấm, bộ lọc sinh học và lọc màng”. Cách thức của các bể này tương tự nhau. Khí thải mang chất ô nhiễm bay hơi được đưa qua bể xử lý, ở đó chất bay hơi được chuyển từ pha khí sang pha lỏng.
  • Vi sinh vật thích nghi với môi trường chậm, thời gian lưu dài. Các vi sinh vật tham gia vào quá trình bao gồm vi khuẩn, nấm và động vật nguyên sinh. Ví dụ Microcosus abbus, Proteur vulgnus, Streptomyces,… Trong quá trình xử lý các vi sinh vật này tùy vào sự tương tác với thành phần xử lý mà tạo thành một quần thể sinh vật dạng màng mỏng gọi là màng sinh khối.
  • Chất ô nhiễm phải hòa tan trong nước và có khả năng oxy hóa phân hủy bằng vi sinh vật
  • Nhiệt độ cho phương pháp tối ưu nằm trong khoảng giới hạn trên dưới từ 5-6oC đến 15-40o
  • Thành phần hỗn hợp các khí thải cần xử lý phải không chứa các chất độc hại làm chết các vi sinh vật.

Các nguyên lý được áp dụng trong việc xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học bao gồm 3 nguyên lý cơ bản sau:

  • Cân bằng phân bố của chất ô nhiễm.
  • Sự khuếch tán vào màng sinh học.
  • Phân hủy sinh học của chất ô nhiễm

Thứ nhất, Lọc sinh học (Biofillter)

    Khái niệm phương pháp lọc sinh học trong xử lý khí thải

Phương pháp lọc sinh học là một biện pháp xử lý ô nhiễm tương đôi mới. Đây là một phương pháp hấp dẫn để xử lý các chất khí có mùi hôi và các hợp chất hữu cơ bay hơi có nồng độ thấp.

Hệ thống xử lý khí thải bằng phương pháp lọc sinh học cung cấp môi trường cho vi sinh vật phát triển và phân hủy các chất khí có mùi hôi và các chất hữu cơ gây bệnh trong khí thải.

Hệ thống lọc bao gồm một buồng kín chứa các vi sinh vật và hấp thụ hơi nướ. Giữ chúng lại trong nguyên liệu lọc. Nguyên liệu lọc được thiết kế sao cho khả năng hấp thụ nước lớn. Độ bền cao, ít làm suy giảm áp lực luồng khí đi ngang qua nó.

Hình ảnh cơ chế hoạt động của phương pháp lọc sinh học

Hệ thống lọc sinh học cung cấp môi trường cho vi sinh vật phát triển và phân hủy các chất khí có mùi hôi, các chất hữu cơ gây ô nhiễm trong không khí.

Hệ thống lọc bao gồm một buồng kín chứa các vi sinh vật và hấp thụ hơi nước. Giữ chúng lại trong nguyên liệu lọc. Trong hệ thống này các vi sinh vật sẽ tạo thành một màng sinh học. Đây là một màng ẩm và mỏng bảo quanh vật liệu lọc.

Nguyên liệu lọc được thiết kế sao cho hấp thụ nước lớn nhất. Độ bền cao và ít làm suy giảm áp lực buồng khí đi ngang qua nó.

Trong quá trình lọc sinh học, các chất khí ô nhiễm được làm ẩm. Sau đó được bơm vào một buồng phía bên dưới vật liệu lọc.

Khi chất khí đi qua lớp nguyên liệu lọc, các chất ô nhiễm bị hấp thụ và phân hủy. Khí thải sau khi được đã lọc thoát lên trên vào khí quyển bên trên hệ thống lọc.

    Nguyên liệu chính của quá trình xử lý khí thải bằng phương pháp lọc sinh học

Lớp nguyên liệu lọc ẩm tạo nên điều kiện lý học và hóa học thuận lợi cho việc chuyển đổi các chất ô nhiễm từ pha khí sang pha lỏng và quá trình phân hủy sinh học các chất ô nhiễm này bởi màng sinh học.

Nguyên liệu lọc điển hình là hỗn hợp của các chất nền ủ phân compost, đất, cây thạch nam (heather), plastic và các phụ phẩm gỗ. Các nguyên liệu lọc thường có tuổi thọ từ 5-7 năm trước khi phải thay mới.

    Ưu và nhược điểm của việc xử lý khí thải bằng phương pháp lọc sinh học

-Giá thành thấp, giá vận hành thấp, ít sử dụng hóa chất.

-Thiết kế linh động, dễ áp dụng cho mọi loại hình công ty xí nghiệp.

-Linh động trong việc xử lý mùi hôi, các hợp chất hữu cơ bay hơi và các chất độc.

-Hiệu suất xử lý cao

-Hệ thống lọc sinh học linh động trong việc xử lý mùi hôi, các hợp chất hữu cơ bay hơi và các chất độc. Hiệu suất xử lý thường lớn hơn 90% đối với các khí thải có nồng độ các chất ô nhiễm < 1000 ppm.

-Nhiều loại nguyên liệu lọc, vi sinh vật và điều kiện vận hành khác nhau có thể áp dụng để đáp ứng nhu cầu xử lý.

-Không phân hủy được các hợp chất hữu cơ bay hơi có chứa chlor.

-Hệ thống lọc sinh học không thể xử lý được các chất ô nhiễm có khả năng hấp phụ thấp. Tốc độ phân hủy sinh học chậm ví dụ như các hợp chất hữu cơ bay hơi có chứa chlor.

-Các nguồn ô nhiễm có nồng độ hóa chất cao. Cần các hệ thống lớn và diện tích lắp đặt lớn.

-Nguồn gây ô nhiễm mức độ cao sẽ gây ảnh hưởng đến vi sinh vật.

-Thời gian để vi sinh vật thích nghi với môi trường có thể kéo dài đến hàng tháng

Thứ hai, Các thiết bị làm sạch sinh học (Bio- Scrubber).

Nguyên tắc hoạt động của các bio-crubber khác với bio-fillter. Ở chỗ là chất ô nhiễm được hấp thụ bằng nước và bị phân hủy lần lượt bởi vi sinh vật nằm trong màng lọc.

Thành phần cấu tạo quan trọng nhất của các bio- crubber là màng lọc. Nơi diễn ra sự trao đổi khối lượng chất khí giữa khí thải nhiễm bẩn và chất hấp thụ.

Khi thiết kế bất kỳ kiểu màng lọc nào cần đặc biệt chú ý đến việc làm tăng diện tích bề mặt phân chia pha, đây là yếu tố quyết định hiệu quả của việc hấp thụ.

Bên trong absorber các chất độc và oxy di chuyển vào nước. Do đó khí thoát ra khỏi absorber sẽ ở dạng được làm sạch, còn nước thì ở trạng thái nhiễm bẩn.

Thứ 3, Các Biocreactor chứa các màng lọc Polymer

Hình ảnh thiết bị làm sạch Bio- Scrubber

Những bioreactor có chứa các màng polymer gắn tế bào sinh vật (hay được gọi là bioreactor bọc lớp rửa).

Là những hệ thống làm sạch không khí tiên tiến nhất. Việc làm sạch khỏi các chất độc hại diễn ra cũng nhờ vào quá trình hoạt tính enzyme của các tế bào vi sinh được cố định trên mạng.

Hình ảnh nguyên lý hoạt động của Bioreactor

Đôi khi thay thế vào chỗ các tế bào người ta cố định enzyme lên các màng polymer nói trên.

Tuy nhiên để thực hiện được các quy trình công nghệ. Thì chủ yếu dựa vào việc sử dụng các tế bào vi sinh vật cố định.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu. Là do dễ dàng thâu nhận chúng với giá thành rẻ hơn so với các chế phẩm enzymer.

Ngoài ra, trong số các ưu thế về mặt công nghệ khác. Phải đề cập đến mức độ ổn định cao của enzymer trong tế bào sinh vật so với enzymer được tách ra từ tế bào.

Cũng như khả năng tái sinh tự nhiên cofactor của nó trong quá trình hóa sinh xảy ra liên tục. Trong khi việc tái sinh cofactor trong trường hợp sử dụng các chế phẩm enzymer tinh khiết.

Trong các quá trình sản xuất lớn sẽ đòi hỏi chi phí rất lớn kèm theo các thiết bị hiện đại

Tóm lại: lựa chọn công nghệ phù hợp

Dựa vào những kiến thức cơ bản về phương pháp xử lý ở trên. Và tùy vào từng mức độ dự án để lựa chọn công nghệ bạn nên dựa trên các tiêu chí:

  • Về mặt kinh phí đầu tư ban đầu cho dự án
  • Công nghệ xử lý phù hợp với từng nhà máy cụ thể
  • Các thiết bị vận hành dễ dàng, mức độ tự động hóa
  • Chi phí vận hành về sau

Từ đó, để có cái nhìn tổng quan và lựa chọn phù hợp nhất cho dự án của bạn.

Lựa chọn đơn vị xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học cho doanh nghiệp của bạn

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều dịch vụ xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học. Với nhiều mức giá và chất lượng khác nhau. Lựa chọn Hasy Environment bạn sẽ hoàn toàn hài lòng về mọi mặt.

Giải pháp xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học hiện là lựa chọn hàng đầu của nhiều doanh nghiệp. Đến với Hasy Environment bạn sẽ hoàn toàn hài lòng về chất lượng, giá cả cũng như chế độ chăm sóc hậu mãi. Nếu cần tham khảo chi tiết về cách xử lý này thì bạn có thể vào http://xulymoitruong360.com/ hoặc gọi vào số 097 222 1608 để giải đáp nhanh mọi thắc mắc của mình.

【#9】Thiền Và Phương Pháp Định Tâm

Trong bài này, tôi muốn chia sẻ với quý vị ” Thiền sức khỏe “. Lý do là, vì nếu nói đến khái niệm Giác ngộ và Giải thoát thì đối với nhận thức của đa số quần chúng vẫn còn quá cao. Con người, trước mắt vẫn cần phải đối diện với sự thiếu ăn thiếu mặc và bệnh tật, đặc biệt là các căn bệnh trầm cảm (depssion).

Tại Âu châu có đến 40% dân chúng bị bệnh nầy, ở Việt Nam không kém (Báo Tuổi trẻ, 30.6.2013). Theo bác sĩ Herbert Benson, có từ 60-90% bệnh do căng thẳng (stress)* mà ra. Qua nghiên cứu, ông thấy, Thiền tập có khả năng làm giảm căng thẳng, cho nên nó có thể được áp dụng trong việc điều trị bệnh tật.

Nhưng để tiến trình điều trị bằng thiền được tốt đẹp và thành công, thì yếu tố cần và không thể thiếu là: người hành Thiền phải định được Tâm. Nếu tâm không định thì không có kết quả. Đó là trọng tâm của bài nầy.

Trước lúc bàn về PHÁP ĐỊNH TÂM, chúng ta nên biết khái lược vài loại thiền đang hiện hành trong và ngoài đất nước Việt Nam, để chọn cho mình một pháp môn Thiền tốt đẹp để thực tập mà không bị tẩu hỏa nhập ma.

1. Thiền khai mở luân xa: Hành giả được hướng dẫn, tưởng tượng một làn sóng chạy từ rún lên đầu, vòng ra sau lưng rồi lại về rún, lên đầu. Lúc được hỏi tại sao Thiền chữa được bệnh? Người hướng dẫn trả lời, người ngồi thiền lấy năng lượng của vũ trụ để chữa bệnh. Đây là câu trả lời theo ý nghĩ riêng, không có cơ sở khoa học. Vì lấy năng lượng như thế nào, lấy nhiều ít, có chứng cớ khoa học không?

2. Thiền xuất hồn: Mở những điểm huyệt, phóng linh hồn đi học đạo với những bậc thầy mà mình chưa hề biết chưa hề gặp. Nên dễ tin những điều huyễn hoặc. Người ấy dạy gì tin theo cái đó. Rất nguy hiểm.

4. Thiền nhân điện: Nhiều năm trước, một số người Việt Nam theo Thiền nhân điện vì được đồn đãi những chuyện rất “hấp dẫn” như chữa lành tất cả các loại bệnh, trồng cây không cần tưới nước nó cũng mọc tươi tốt. Đàn ông có thể mang thai. Ngay cả có thể ngăn chặn không cho động đất xẩy ra v.v.. Nhưng dưới ánh sáng khoa học, những người có óc đầy tưởng tượng đến độ hoang đường “tự ngôn chứng thánh” như thế, sẽ không còn được ai tin tưởng nữa. (Theo An Ninh Thủ Đô, 22.10.2011).

Hiện nay tại Việt Nam, phỏng đoán, có hằng chục trung tâm thiền đủ loại như trên. Ngoại trừ Thiền Yoga, có những mối liên hệ với Thiền của Phật giáo, bốn loại thiền còn lại như đã đề cập trên, không phải là Thiền Phật giáo mang tính khoa học.

Cho nên, người thực tập thiền, nếu không chọn một loại Thiền được phát xuất từ đấng Giác ngộ hoặc được soi rọi qua ánh sáng khoa học thì, đôi lúc sẽ gặp những điều hết sức bất cập. (xem 10 thông tin ở cuối bài)*.

Mặt khác, Thiền Phật giáo cũng có nhiều loại khác biệt, giữa Nguyên Thuỷ và Đại chúng bộ, và nhiều trường phái khác nhau trong các quốc độ và các Tổ sư thiền.

– Thiền Minh Sát tuệ (Vipassana, Pali, dùng trí tuệ để thấy rõ vạn pháp. Bắt đầu bằng pháp quán hơi thở để định tâm).

Đại Chúng bộ có các loại thiền như:

Zen Meditation: truyền bá rộng rãi qua Tây phương từ Nhật, nhất là nhờ Đại Sư Suzuki qua cuốn Thiền Luận, phần lớn nghiêng về triết lý, ít mô tả phương pháp hành trì (!). Hai phái Thiền Nhật Bổn trong ” 5 phái Thiền Đại Thừa được nhắc nhiều nhất là Lâm Tế (LinChi & Rinzai) và Tào Động (Ts’ao-tung, TQ & Soto, Nhật). Các hành giả Tào Động thường thực tập bằng các Diện Bích (nhìn vào Tường). Theo truyền thuyết, Bồ Đề Đạt Ma ‘Cửu niên diện bích’ và tác phẩm Bích Nham Lục. Phái Lâm Tế thì ” cực đoan ” hơn. Các Thiền Sư nhiều khi dùng gậy dùng hèo đệ tử có thể loạn tâm. Cách hành thiền này trong lịch sử cũng được gọi là Thiền Công Án (Koan, Kung An C).

– Lục diệu pháp môn: sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh.

– Không, Giả, Trung: vạn pháp không thực có nên gọi là không, tạm bợ gọi là giả. Người thấy được Không và Giả hòa hợp với nhau gọi là Trung.

– Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền. Phần lớn chỉ ghi lại trong các Lục như Bích Nham Lục, Vô Môn Quan nhưng không có phương pháp nào được ghi chép lại để hành giả thực tập.

Danh sách các loại hình thiền tập còn dài. Tôi chỉ liệt kê vài loại như thế, để quý độc giả biết tên của chúng trong cả rừng Thiền (Thiền Lâm).

Các loại hình thiền của Phật Giáo, tôi tâm đắc để chia sẻ với quý vị, là Thiền Sức Khỏe (meditation for health), chứ không phải Thiền Giác Ngộ (meditation for enlightenment).

Nhiều thập niên qua, y giới và khoa học gia Phương tây tìm thấy Thiền Phật giáo có khả năng chữa trị bệnh tật, như quý độc giả đã thấy hai bài trong tập sách mỏng “Thiền và những lợi ích thiết thực”. Muốn có kết quả chữa trị bệnh tật, người hành thiền phải định được tâm.

Cách định tâm dễ nhất và có kết quả nhất là Thiền thở (the Breathing Meditation). Thiền gia gọi là “Quán sổ tức” (Counting the Breath). Thiền Thở là tập trung chú ý hơi thở ra vào. Bắt đầu hít vào thật sâu (bằng mũi) để buồng phổi căng lên. Kế tiếp, thở ra (bằng miệng) cho hết lượng không khí trong phổi. Hít vào, thở ra như vậy ba lần. Sau đó, hít vào, thở ra (bằng mũi) bình thường, nhưng tâm trí phải dỏi theo sự hít vào và thở ra mà không suy nghĩ một vấn đề nào khác, rồi bắt đầu đếm 1. Hít vào, thở ra, đếm 2. Hít vào thở ra, đếm 3. Cứ hít thở như thế và tiếp tục đếm 4, 5. Rồi đếm trở lại 1, 2, 3, 4, 5. Có thể đếm đến 10, rồi trở về 1 .

Lúc dỏi theo sự hít vào và thở ra, tâm ta sẽ lắng dịu, an lạc, vui vẻ. Các chất hormones không có cơ hội sinh ra, và bệnh tật được thuyên giảm. Thiền thở (quán sổ tức) là một trong những cách dễ nhất để định tâm mà Đức Phật đã chỉ dạy trong kinh “Quán Niệm Hơi Thở” , tôi có tường thuật lại thí nghiệm của BS. Phan Thị Phi Phi, GS trường y Hà Nội để làm rõ thêm những điều vừa nêu. Theo thí nghiệm này, các bệnh nhân sida, được khuyến khích tụng kinh 2 lần / một ngày tại nhà và 2 lần / mỗi tháng vào ngày rằm và mồng 1 tại chùa. Kết quả thu nhận được, rất phấn khởi: chỉ số bạch huyết cầu tăng lên, trung bình 4 điểm cho mỗi người. Bệnh được chận đứng, không có diễn tiến xấu hơn, không dẫn đến tình trạng nguy hiểm tính mạng.

Thêm nữa, nếu để ý hình ảnh các đạo tràng tu Tịnh độ trên mạng, chúng ta thấy, hầu hết là quý bà lớn tuổi, cụ ông ít, còn thanh thiếu niên và các bạn trẻ cũng rất ít.

Lý do vì đâu? Khi chúng ta thuyết phục người trẻ đến với các đạo tràng Tịnh độ thì họ sẽ cho rằng mình chưa cần cầu vãng sanh, vì tuổi mới đôi mươi. Đời vẫn còn rất nhiều điều tốt đẹp, đáng để hưởng thụ kia mà! Cho nên, ở một góc độ nào đó, giới trẻ sẽ nghĩ sai lầm rằng: Phải chăng, đạo Phật là “đạo của người chết”?

Trên mạng PTVN, vài năm trước, tôi có đọc bài viết của tác giả Nghiêm Minh Kiên, anh đã đề cập rất đúng về vấn nạn nầy. Do vậy tôi thiết nghĩ, các lớp thiền tập vốn dĩ rất phù hợp cho tuổi trẻ. Vì tuổi trẻ thích cái mới, thực tế, hữu dụng và mang tính khoa học. Thiền đáp ứng được tất cả các nhu cầu ấy.

Quý phật tử lớn tuổi thì có vẻ phù hợp với pháp môn Pháp Hoa và Tịnh độ hơn, phương pháp hành trì cũng dễ hơn. Cho nên để khế hợp căn cơ của đa số phật tử, thì Thiền – Tịnh song tu, có lẽ là pháp tu tốt nhất cho hàng phật tử hiện nay?

Nếu sự căng thẳng không còn nữa thì cơ thể trở lại bình thường. Nhưng trong xã hội máy móc ngày nay, con người thường xuyên bị căng thẳng, cái cũ chưa hết, cái mới đã sinh. Nên trong cơ thể con người luôn ứ đầy những chất hormones stress, tích tụ từ ngày nầy qua tháng nọ, làm cho:

– Hệ tim mạch thương tổn, bệnh tim phát sinh, cao huyết áp, đột quỵ. Ăn khó tiêu, bị tiểu đường, bệnh gan v.v..

– Hệ miễn nhiễm yếu, dễ bị vi trùng và vi khuẩn tấn công cơ thể, xương loãng vì thiếu calcium, eo và mông gia tăng mở, v.v..

Trong khi đó, Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng, nên Thiền có thể chữa trị được bệnh tật từ gốc là thế. Biết vậy, ngoài việc Thiền mỗi ngày hai lần như đã đề cập, chúng ta luôn luôn giữ tâm hồn an lạc bằng cách quán hơi thở trong mọi nơi, mọi thời (đi đứng nằm ngồi) để giữ tâm trong thân, không cho nó lang bang dong ruổi vào những nơi bất thiện (tham sân si). Đây gọi là Thiền hành động (meditation in action) hoặc Thiền Tĩnh Thức (Mindfulness Meditation). Cũng nên biết thêm rằng, lúc tâm có sự an lạc, hỷ xả thì chất Nitric oxide, chất endorphins và chất enkelytin trong cơ thể tiết ra làm cho con người mạnh khỏe hơn, hệ miễn nhiễm gia tăng, chống lại bệnh tật . Rõ ràng chưa? Thính chúng hoan hỷ, vỗ tay.

4. Hỏi: Cư sĩ viết “Thiền có khả năng chữa trị bệnh tật, làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn, sống có hạnh phúc hơn”. Cư sĩ có thể trình bày rõ hơn chăng? 5. Hỏi: Lúc cư sĩ phân biệt Thiền giác ngộ và Thiền sức khỏe. Câu hỏi là, người tập Thiền giác ngộ có đem lại sức khỏe không? Và Thiền sức khỏe có đạt đến giác ngộ?

Đáp: Tôi nói Thiền giác ngộ và Thiền sức khỏe là một cách nói nhằm phân biệt hai “mục đích” khác nhau của người hành thiền. Xưa nay, tu thiền, người ta có khuynh hướng nghĩ tu để giác ngộ, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Nhưng ít ai nghĩ Thiền còn có công năng chữa trị bệnh tật cho nhân loại. Nhiều thiền gia trong Sơn môn biết Thiền có thể trị bệnh, nhưng không dám cổ động công khai vì chưa có bằng chứng mang tính khoa học.

Ngày nay, khoa học tiến bộ, y giới sử dụng các phương tiện như máy chụp cọng hưởng từ (fMRI), máy chụp các điện não đồ, để biết sự vận hành và chức năng của não bộ.

Cùng lúc các thí nghiệm lâm sàng và đo mức độ an lạc của các vị sư đang thiền định. Họ cho thấy điều mà các phật tử ca tụng rất chính xác, “Phật là vô thượng y vương” (thầy thuốc trên tất cả các vua thầy thuốc của thế gian nầy). Xem thế, người tu thiền với mục đích giác ngộ cũng đem lại sức khỏe cho bản thân. Người tu thiền với mục đích sức khỏe, cũng có thể đạt giác ngộ. Xem hình “Làn sóng não (tr. 61). Chúng ta thấy, lúc tâm bấn loạn (tham, sân, si, lo âu, phiền muộn) quá cở, sóng não (Beta) vận hành từ 14 đến 21 vòng trong 1 giây đồng hồ . Nếu tâm định đến mức Delta, làn sóng não vận hành chưa đến 4 vòng trong một giây. Với trạng thái nầy, thiền giả có thể được xem như là đạt đến sơ thiền.

Người tu Tịnh độ, với trạng thái nhất tâm bất loạn, “tâm không tham luyến, ý không điên đảo, như vào thiền định. Phật và Thánh chúng tay nâng kim đài cùng đến tiếp dẫn, trong khoảng một niệm sanh về Cực lạc”.

Do đó, Thiền, Tịnh và tụng kinh như quý vị trong Đạo Tràng Pháp Hoa mà định được tâm thì chỗ gặp gở không có ranh giới. Quý vị đặt những câu hỏi thiết thực, bổ ích, làm sáng tỏ thêm những điều tôi trình bày trong sách. Rất tri ân tác giả của những câu hỏi.

6. Hỏi: Nhân đây xin hỏi thính chúng một câu. Trên hệ thống điện tử có đề cập đến một trại tù tại bang Washington, thị trấn Seatle, Mỹ, dạy tù nhân ngồi thiền. Kết quả sau khi mãn tù trở về đời thường, số tù nhân có hành thiền một thời gian, tỉ lệ tái phạm chỉ có 56%. Số không ngồi thiền, có đến 75%, khác biệt gần 20 %. Quý vị biết lý do tại sao?

Khoảng 800 thính chúng chia sẻ Thiền sức khỏe, Đại tùng lâm, Long Thành 4.2012.

Con người phạm tội, phần lớn tâm hồn thiếu bình thường, hay giận hờn, tham lam, cuồng tín… Lúc hành Thiền họ có được sự an lạc trong tâm, sống đời có hạnh phúc, có hy vọng, có tình thương, nên ít tái phạm pháp hơn những người tâm hồn bấn loạn và sân hận ngút ngàn. Tất cả đều vỗ tay cho câu trả lời chính xác có cơ sở khoa học.

Câu hỏi còn nhiều, các bạn chịu khó đọc vài lần tác phẩm nói trên, sẽ tìm thấy những điều rất thực tế, rất khoa học, rất bổ ích mà y giới đã thí nghiệm và làm chứng cho lời dạy của Phật; “vạn pháp do tâm tạo”. Tâm an vui thì khỏe mạnh, ưu phiền sẽ bị ốm đau. Ngoài ra, chế độ ăn uống và tập thể dục như đi bộ cũng rất cần cho sức khỏe.

Thiền có thể chửa trị bệnh tật. Nhưng điều đó không có nghĩa là Thiền sẽ hoàn toàn thay thế thuốc. Thiền thuốc song hành có lẻ là giải pháp tốt nhất. Nếu cần, quý vị nên tham vấn với các nhà chuyên môn.

Tóm lược, xã hội Việt Nam ngày nay có nhiều trung tâm dạy Thiền chữa bệnh, nhưng không phải Thiền của Phật giáo. Nhiều nơi đem lại kết quả rất tốt cho bệnh nhân. Nhưng cũng có không ít hệ lụy do việc khai mở luân xa* và hướng dẫn Thiền thiếu phương pháp khoa học. Do đó, cẩn thận là điều cần có, không nên theo những điều thiếu sự gạn lọc của lý trí và thiếu chứng cớ khoa học.

Thiền Tịnh, Mật, niệm Phật, tụng kinh Pháp Hoa hoặc lần chuổi hạt nên cần định được tâm mới có kết quả. Pháp định tâm không khó. Kiên trì luyện tập thì việc định tâm sẽ nằm trong tầm tay với.

Kính chúc tất cả thân tâm an lạc.

l. . Khả năng chữa bệnh thần kỳ của thiền mở luân xa?

** “International Journal of Stress Management” thường đăng tải nhiều cuộc thí nghiệm, của Bác sĩ và chuyên gia, liên hệ giữa căng thẳng (stress) và bệnh tật, nghề nghiệp, tai nạn v.v..để có hướng giải quyết. Qua đó, chúng ta thấy căng thẳng là gốc của những biến cố xấu.

Hồng Quang

【#10】Sản Xuất Thành Công Giống Cá Rô Phi Đơn Tính Đực Bằng Phương Pháp Lai Xa

Cá rô phi là một trong những loài thủy sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh Hải Dương, diện tích nuôi cá rô phi đến 4.000 ha, chiếm 40% nuôi trồng thủy sản của tỉnh, với nhiều vùng nuôi cá rô phi quy mô tập trung. Do đó, sự cần thiết phải tăng nguồn lực của cá; nếu mật độ trung bình 2 con / m 2 , nhu cầu hạt giống hàng năm cũng đã lên đến 80 triệu …

Mặc dù có một nhu cầu rất lớn như vậy, nhưng khả năng của công trình để đáp ứng như sản xuất cá rô phi trên địa bàn tỉnh là rất thấp, chỉ có 15% đáp ứng nhu cầu của các giống địa phương hàng năm. Người nuôi cá phải mua hạt giống từ các nguồn khác nhau, rất khó để quản lý cho chăn nuôi chất lượng và kiểm dịch. Trước tình hình này, năm 2013, các nhà máy thủy sản doanh nghiệp và Tứ Kỳ (giống cây trồng Công ty TNHH Hải Dương) đã nhận chuyển giao công nghệ từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I và cá rô phi thành công cùng một phương pháp như trong dài hạn.

Phương pháp lai xa là một phương pháp của việc tạo ra các quần thể đơn tính bằng cách cho phép lai giữa hai loài. Oreochromis nam aureus . và cá caiOreochromis niloticus. P hương pháp này mang nhiều tính ưu việt hơn cả, cá đực tạo ra không phải qua 21 ngày xử lý hormone, thân thiện với môi trường, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh. Việc lai khác loài yêu cầu công tác lưu giữ được dòng bố, mẹ thuần một cách nghiêm ngặt.

Năm 2013, Xí nghiệp giống cây trồng và thủy sản Tứ Kỳ tiếp nhận 7.000 con cá bố mẹ và 1.000 con cá ông bà từ Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc – Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 để sản xuất cá giống và tái sản xuất quần đàn cá bố mẹ. Cá bố mẹ sau khi tiếp nhận được nuôi vỗ thành thục trong thời gian từ 1-2 tháng rồi lựa chọn ghép đàn, sử dụng cá đực O.aureus Israel lai với cá cái O.niloticus Israel có cùng khởi điểm vây lưng sau điểm cuối nắp mang lai với nhau. Cá bố mẹ được lựa chọn sau khi họ đã được nuôi ghép cá ao để thụ tinh tự nhiên mà không cần bất kỳ tiêm chất kích thích. Có thể kích thích sinh sản do mưa, nước mới bổ sung vào ao. Cấy giống bố mẹ nam theo tỷ lệ 1: 1,6 và 1: 2 Sau khi ghép khoảng 15-20 ngày để thu thập cá bột. Thu thập trong 2 mùa – mùa đông năm 2013 và mùa xuân – hè năm 2014, doanh nghiệp đã thu được 2,58 triệu cá bột. Fry thu thập được lọc để loại bỏ các mô thừa và những người đàn ông yếu chết, sau đó chạy lên cá bột trong giai đoạn chạy. Khi chạy cá là 35-45 ngày để đạt được kích thước 400-500 đơn vị/kg có thể thu hoạch để đảm bảo sự sống còn trong quá trình nuôi.

Với phương pháp này, tỷ lệ cá rô phi đơn tính đực lên đến trên 95%, cao hơn nhiều so với phương pháp sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằng chọn lọc hình thái ngoài. Bên cạnh đó, phương pháp này không sử dụng hormone, vừa giảm chi phí sản xuất giống, vừa không ảnh hưởng đến môi trường, tạo nguồn thực phẩm an toàn cho xã hội. Xét về tính khả thi, quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp lai xa hoàn toàn phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh Hải Dương, ngay cả các cơ sở sản xuất giống quy mô nhỏ.

So với cá rô phi cái, cá rô phi đực có nhiều ưu điểm vượt trội hơn hẳn, như tốc độ tăng trưởng, kích cỡ thương phẩm lớn, không sinh sản nên người nuôi có thể kiểm soát mật độ nuôi trong ao… So với những phương pháp sản xuất giống hiện nay, sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp lai xa có nhiều ưu điểm: tăng tỷ lệ sống từ cá hương lên cá giống (đạt 81%), tăng tỷ lệ cá rô phi đơn tính đực, tạo ra lượng con giống phong phú cung ứng cho người nuôi thủy sản tại Hải Dương. Việc thực hiện dự án sẽ góp phần cung ứng con giống tại chỗ cho nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Hải Dương. Đến nay, Xí nghiệp giống thủy sản Tứ Kỳ đã sản xuất được 12.500 cá bố mẹ hậu bị, đảm bảo thuần, không lẫn tạp đàn. Cán bộ, công nhân của Xí nghiệp đã làm chủ được công nghệ, nắm chắc kỹ thuật, chủ động trong sản xuất giống. Dự kiến, quy mô sản xuất của Xí nghiệp khi hoàn thiện là 2,5 – 5 triệu cá bột rô phi đơn tính/năm, phục vụ sản xuất cá rô phi đơn tính thương phẩm trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Dự án đã góp phần đưa thêm một đối tượng cá nuôi có hiệu quả kinh tế cho xã hội, là cơ sở để nhân rộng mô hình cho các địa phương, trung tâm, trạm, trại khác ứng dụng kỹ thuật mới.

Theo Sở KHCN tỉnh Hải Dương