Top 21 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư / 2023

PHÂN TÍCH HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ. NÊU Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ?

1. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

a. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Khái niệm: là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sưc lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi.

VD: Ngày lao động là 8h, thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là m’=4/40×100%=100%.

Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa mộ điều kiện khác vẫn như cũ , thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 và tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng lên thành m’=60/40×100%=150%

Như vậy trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, ngày lao động kéo dài tức là thời gian lao động thặng dư tăng lên và kéo theo tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng theo. Bởi vậy mà các nhà tư bản đã tìm mọi cách kéo dài ngày lao động nhằm mục đích sản xuất ra ở mức độ tối đa nhất.

Khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và tinh thần,đồng thời vấp phải sức đấu tranh càng mạnh me xcuar công nhân. Nha tư bản luôn cố gắng tìm mọi cách để kéo dài ngày làm việc của công nhân nhưng việc kéo dài ngày lao động không thể vượt qua giới hạn sinh lý ( vì công nhân còn phải có thời gian ngủ nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khỏe) thì gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. Điều này cũng chính là hạn chế của việc kéo dài ngày lao động của các nhà tư bản.

Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tue bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

b. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Khái niệm: là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư.

VD: ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao đọng thặng dư thì tỷ suất giá trị thặng dư là m’ = 4/4 x 100% =100%

Gỉa định rằng ngày lao động không thay đổi nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h lđ đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi 3h gọi là thời gian lao động tất yếu và 3 thời gian là thời gian lao động thặng dư. Như vậy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 150%

Phương pháp sản xuất giá trị tương đối là phương pháp nâng cao trình độ bóc lột, bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn như cũ gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ của người công nhân.

Bởi vì việc kéo đai ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác,khi sản xuất TBCN phát triển trên giai đoạn công nghiệp cơ khí kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động bóc lột giá trị thặng dư tương đối

Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động XH dưới CNTB đã trải qua 3 giai đoạn hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dựng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc tự đông hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

Qúa trình nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho thấy khi gạt bỏ mục đích và tính chất bó clootj của chủ nghĩa tư bản thì sản xuất giá trị thặng dư chính là khoa học sử dụng lao động có hiệu quả nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng cần phải quan tâm. Bởi vậy, các phương phápsản xuất giá trị thặng dư có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kĩ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lí, tiết kiệm chi phí sản xuất.

Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần tận dụng triệt để các nguồn lực nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, đẩy manh công nghiệp hoa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội.

Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó đem lại những tiến bộ vượt bậc và thành tựu kinh tế cho CNTB. Nước ta nói riêng và các nước XHCN nói chung cần nỗ lực không ngừng trên con đường của mình để xây dựng XHCN trên thế giới. Riêng nước ta, đang trong giai đoạn độ lên CNXH từ chế độ PK bỏ qua giai đoạn TBCN với xuất phát điểm là một nền kinh tế lạc hậu chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Vì vậy, chúng ta phải học tập những thành tựu mà CNTB đã đjat được trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là giá trị thặng dư, suaqr chữa quan niệm sai lầm trước kia trong xây dựng kinh tế.

Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Của Mác / 2023

LỜI NÓI ĐẦU Trước khi đưa ra một nền sản xuất nào đó người sản xuất phải nghiên cứu sản xuất ra hàng hoá đó có giá trị, bên cạnh đó là có gía trị thặng dư. Vì sản xuất giá trị thặng dư là quy luật biểu hiện bản chất của phương thức sản xuất, phản ánh mục đích và phương hướng phát triển của nền sản xuất. Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển được, muốn đáp ứng nhu cầu của con người về điều kiện sống đều phải tái sản xuất mở rộng và phải tạo ra được nhiều sản phẩm thặng dư. Trong mọi xã hội, sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị nhưng chỉ có ở nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư. Do đó, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng dư ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác đã nghiên cứu khái quát đưa ra cơ sở giá trị thặng dư. Ông là người đầu tiên phát hiện tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và nghiên cứu sự phát triển của các hình thái giá trị. Đó là cơ sở,là chìa khoá để xây dựng và hoàn chỉnh lý luận về hàng hoá, giá trị và tiền tệ, giải thích một cách khoa học, triệt để để xây dựng lý luận về hàng hoá sức lao động. Đây là cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, là thàmh tựu vĩ đại của kinh tế học mác xít. Trên cơ sở đó, ông phát hiện toàn diện hệ thống phạm trù quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và các mâu thuẫn nội tại của nó. Ông hoàn chỉnh lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội (chia tổng sản phẩm xã hội thành ba phần tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư, chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực: sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng, mối liên hệ trao đổi giữa hai khu vực về giá trị và hiện vật) và nhiều vấn đề khác. Nhờ đó mà C.Mác đã đưa kinh tế chính trị tới đỉnh cao khoa học. I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG 1. Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị của hàng hoá trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào trong đó để bù lại tư bản khả biến đã được dùng để mua sức lao động (ngang với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra ngoài giá trị sức lao động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao động sống. Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó chỉ đúng trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu thế, còn ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị. Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: Là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. b. Giá trị hàng hoá Muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá. Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở tư liệu sản xuất) Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá. Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá. Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi. Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá. Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động có mục đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao động (quan trọng hơn cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian. Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị. Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất, trong đó có máy móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất. C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy, thiết bị, máy móc chỉ tạo điều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị. Ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế thị trường khắc nghiệt dựa trên nguyên tắc ” mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Kẻ thắng nhận được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị trừng phạt, không thu lại đủ số lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng bằng khoản ” cúp phạt” nghĩa là không vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư đã được tạp ra trong lĩnh vực sản xuất. Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi sâu vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là điều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh. Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa. Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và hỗ trợ những người nghèo. Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của người lao động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải bao giờ máy móc cũng là điều kiện để thu được nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế. Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh càng tốt, nhằm tránh hao mòn vô hình và hao mòn hứu hình do bảo quản kém hoặc sử dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khấu hao nhanh như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm 2. Lao động với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người dùng để sản xuất ra của cải vật chất. Trong bất cứ chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất. Nhưng sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định. Một là, người lao động phải là người có tự do về thân thể, do đó được tự do sử dụng sức lao động của mình, kể cả tự do bán sức lao động của mình cho người khác. Hai là, người lao động hoàn toàn mất hết mọi tư liệu sản xuất, chỉ còn lại sức lao động là tài sản duy nhất. Để khỏi chết đói, họ không có con đường nào khác là phải mang bán thứ tài sản duy nhất đó. Hai điều kiện đó vạch ra khả năng và tính tất yếu của sự chyển biến sức lao động thành hàng hoá. Hàng hoá sức lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của xã hội- giai đoạn mà sản xuất hàng hoá phát triển cao nhất và chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế, đó là sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do đó, hàng hoá sức lao động là một phạm trù lịch sử đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó sinh ra và mất đi cùng với phương thức sản xuất đó. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. a. Giá trị của hàng hoá sức lao động Là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Nói cách khác cụ thể thì giá trị của hàng hoá sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình họ, và những chi phí để đào tạo người công nhân có một trình độ chuyên môn nhất định phù hợp với yêu cầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giá trị sức lao động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nước và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp khác nhau. b. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: Là ở chỗ nó thoả mãn nhu cầu nào đó cuat người mua. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, hàng hoá sức lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử dụng thì giá trị và giá trị thặng dư cũng được tạo ra. 3. Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực Có người cho rằng “C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với C.Mác trong thời đại máy hơi nước, máy dệt. . . đều quan niệm của cải được lao động sáng tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị cho lao động thực thể” và chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động thực thể đồng thời đã có nêu luận điểm về của cải tinh thần và lao động khoa học. Sự kế tục, sáng tạo phải nối tiếp những gợi ý. Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm được phương pháp trình bày của C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá được đo bắng thời gian lao động trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. C.Mác đồng thời cũng đề cập đến lao động phức tạp coi lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn. Nói đúng hơn là lao động giản đơn nhân bội lên , thành thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn. Nhưng do áp dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, C.Mác đã giả định “từ nay về sau, để cho sự trình bày được đơn giản, chúng tôi sẽ trực tiếp coi mọi loại sức lao động như là một sức lao động giản đơn. Điều đó, sẽ tránh cho chúng ta khỏi phải quy lao động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trường hợp một”. Những ai vô tình hay hữu ý mà quên mất giả định trên sẽ cho rằng C.Mác chỉ quy công tạo ra giá trị cho lao động đơn giản cho lao động thể lực. II. SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Quá trình lao động trên cơ sở tư bản chủ nghĩa, trước hết,vẫn là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị sử dụng. Nhưng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, nhà tư bản chiếm hữu tư bản sản xuất,bóc lột công nhân làm thuê,quá trình lao động có đặc điểm là: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, sản phẩm do công nhân làm ra thuộc về nhà tư bản. Quá trình lao động trong chủ nghĩa tư bản còn là quá trình nhà tư bản sử dụng những hàng hoá tư liệu sản xuất và sức lao động đã mua để tạo ra giá trị thặng dư.Do đó,sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa sản xuất giá trị sử dụng và sản xuất giá trị thặng dư. Mác nói: “với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị, thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”. Quá trình sản xuất giá trị thăng dư đã diễn ra như:giả sử nhà tư bản mua sức lao động của công nhân theo đúng giá trị là 3 đồng đẻ dùng trong 10 giờ,và cứ 1 giờ lao động,người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 0,6 đồng. Giả sử với năng xuất lao động nhất định, trong 5 giờ người công nhân có thể chuyển một số tư liệu sản xuất co trị là 20 đồng thành hàng hoá mới. Kết quả sẽ là:sau 5 giờ laođộng ,người công nhân đã biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới và sản phẩm mới ấy chứa đựn một lượng giá trị là 23 đồng,trong đó gồm có 20 đồng giá trị tư liệu giá trị sản xuất chuyển sang và 3 đồng giá trị mới sáng tạo ra(0,60´5). Như vậy là sau 5 giờ lao động, đồng thời với việc tạo ra một số sản phẩm mới cho nhà tư bản, người công nhân còn tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng giá trị sức lao động của mình. Đến đây, nếu người công nhân được nghỉ thì anh ta không bị bóc lột. Nhưng như vậy thì nhà tư bản sẽ không đạt được mục đích của sản xuất. Nhà tư bản chi ra 23 đồng không phải để thu về 23 đồng,mà để thu một số tiền lớn hơn. Vả lại, nhà tư bản mua sức lao động của công nhân cốt để dùng trong 10 giờ, chứ không phải để dùng trong 5 giờ.Về mặt pháp lý mà nói, điều này đã có sự thoả thuận trước giữa kẻ mua và người bán dưới áp lực của quy luật cung cầu ở thị trường lao động. Như vậy, người công nhân bắt buộc phải lao động thêm 5 giờ nữa. Lần này, nhà tư bản chỉ cần chi ra một số tư liệu sản xuất có giá trị là 20 đồng, chứ không phải chi thêm tiền mua sức lao động. Sau 5 giờ lao động,đồng thới với việc chuyển số tư liệu sản xuất có giá trị 20 đồng thành sản phẩm mới, người công nhân vẫn sáng tạo ra một lượng giá trị mới là 3 đồng. Tổng cộng trong 10 giờ sản xuất, nhà tư bản chi 43 đồng (gồm 40 đồng về tư liệu sản xuất và 3 đồng mua sức lao động), nhưng lại thu về một số sản phẩm mới có giá trị là 46 đồng. Số tiền thu về lớn hơn số vốn ứng trước là 3 đồng. Hắn bỏ túi 3 đồng dôi ra đó mà không phải trả một vật ngang giá nào. Ba đồng đó là giá trị thặng dư. Như vậy là trong 10 giờ lao động, người công nhân chỉ dùng một phần thời gian để bù đắp lại giá trị sức lao động, còn một phần là thời gian lao động không còn cho nhà tư bản. Phần thời gian để người công nhân tái sản xuất giá trị sức lao động, tức là giá trị những tư liệu cần thiết cho người công nhân, là thời gian lao động cần thiết , còn phầnn thời gian dùng để sản xuất giá tri cho nhà tư bản,là thời gian lao động thặng dư. Trong ví dụ nói trên, ngoài 5 giờ lao động cần thiết để sản xuất một lượng giá trị ngang bằng giá trị sức lao động của mình (3 đồng), người công nhân còn phải thêm vào đó 5 giờ lao động thặng dư để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản (3 đồng ). Như vậy, giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhânlàm thuê sáng tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm không, là kết quả của lao động không công của người công nhân . Từ đó, chúng ta thấy rằng tư bản không phải là một số tiền, cũng không phải là tư liệu sản xuất mà là quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội nhất định trong lịch sử. Nó thể hiện quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân. Trong quan hệ đó, nhà tư bản nắm giữ toàn bộ công cụ và tư liệu sản xuất cũng như các tư liệu sinh hoạt chủ yếu, còn giai cấp công nhân – lực lượng sản xuất chính của xã hội, người trực tiếp làm ra của cải vật chất nuôi sống xã hội và làm giầu cho giai cấp tư sản thì chỉ có ” hai bàn tay trắng”, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống. Do đó có thể định nghiã nhà tư bản một cách chính xác hơn: tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. III. PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư. C.Mác đã khái quát thành hai phương pháp chủ yếu là phương ph

Vấn Đề 3: Trình Bày 2 Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư / 2023

Vấn đề 3: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư (Tương đối và siêu ngạch)

a) Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng trong chủ nghĩa tư¬ bản – Mục đích: nhà tư bản ứng ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và sức lao động không phải là để thu được giá trị sử dụng mà để thu giá trị, hơn nữa đó là tạo ra giá trị thặng dư.

Hành vi của họ sẽ tuân theo công thức:

Muốn thực hiện mục đích đó, họ phải tổ chức sản xuất ra những giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghãi là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Bởi vì, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư.

– Đặc điểm: Quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra giá trị thặng dư có 2 đặc điểm: + Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất. + Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không thuộc về công nhân.

Các phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư

a. Giá trị thặng dư tuyệt đối – Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

– Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân. Bởi vì, người công nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe. Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm.

+ Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân. Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định. Nên tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động.

Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. – Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp.

b. Giá trị thặng dư tương đối

– Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.

– Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động. Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân. Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng.

– Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển. nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép. Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Khi các nhà tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn. Tất cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

c. Giá trị thặng dư siêu ngạch

C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Bởi vì chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, chỉ khác một chỗ một bên là tăng năng suất lao động cá biệt, một bên là tăng năng suất lao động xã hội. – Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó. – Nhà tư bản chỉ phải bỏ ít chi phí hơn các nhà tư bản khác nhưng vẫn có thể bán được hàng hóa với giá ngang bằng với giá thị trường, từ đó thu được giá trị thặng dư cao hơn.

Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật công nghệ thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa. – Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, nó lại thường xuyên tồn tại. Và nó chính là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suât lao động cá biệt, đánh bại đối thủ cạnh tranh, thu được phần giá trị thặng dư lớn.

* So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:

Bạn có thể xem lại toàn bộ câu hỏi và đáp án chi tiết của môn Chủ nghĩa Mac – Lênin tại: Ngân hàng đề thi môn chủ nghĩa Mac – Lenin

Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Các Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuơng Đối, Tuyệt Đối Và Siêu / 2023

Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối và siêu ngạch

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuát giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu; trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

· Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn thấp.

· Với lòng tham không đáy, nhà tư bản mọi cách kéo dài ngày lao động để nâng cao trình độ bóc lột. Nhưng do giới hạn về ngày tự nhiên, về sức lực con người nên không thể kéo dài vô hạn. Mặt khác, còn do đấu tranh quyết liệt những giai cấp công nhân đòi rút ngắn thời gian lao động cũng không thể rút ngắn chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường lao động vì tăng cường lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày trong khi thời gian lao động càn thiết không thay đổi.

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian loa động thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động cũng như cũ.

· Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm bớt giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy, phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tuw liệu sản xuất tiêu dùng.

– Giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối có điểm giống nhau đều làm tăng thời gian lao động thặng dư của người công nhân không chỉ đủ nuôi sông mình, mà còn tạo ra phần thặng dư. Song, hai phương pháp này có sự khác nhau về cách thức làm tăng thời gian lao động thặng dư.

+ Giá trị thặng dư siêu ngạch: Là giá trị thặng dư thu được do người áp dụng công nghẹ mới sớm hơn các xí nghiệp khác, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó. Khi đa số các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ thì giá trị thặng dư sieu ngạch của doanh nghiệp đó không còn nữa.

· Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ. Nhưng xét về toàn bộ tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng thường xuyên. Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

· Giá trị thăng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư tương đối giống nhau ở chỗ đều là tăng năng suất lao động. Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau: giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt; còn giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.