Tư Duy Của Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Khi Soạn Bài

--- Bài mới hơn ---

  • Việc Triển Khai Hoạt Động Pro Bono Thông Qua Chương Trình Giáo Dục Pháp Luật Thực Hành (Cle) Tại Trường Đại Học Đào Tạo Luật
  • Giảng Dạy Pháp Luật Cộng Đồng Thcs Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • 3 Cách Giảng Dạy Để Học Sinh Hiểu Bài Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến
  • Bài viết của ThS. Nguyễn Thanh Thuý với đồng nghiệp dạy tiếng Anh tập trung vào một mắt xích quan trọng của giáo viên: Soạn bài. BigSchool xin chia sẻ với các bạn và nghĩ rằng, với thầy cô dạy môn khác vẫn có những thu nhận tích cực.

    [Tư duy của giáo viên] Mình có bài viết này muốn chia sẻ với các bạn là giáo viên tiếng Anh. Hy vọng các bạn thấy có ích.

    SOẠN BÀI (LESSON PLANNING)

    Vì hôm trước có bạn tâm sự rằng còn thấy mông lung với vấn đề này, mình thử viết ra đây một số gạch đầu dòng cơ bản để đồng nghiệp trẻ của mình có thể nương vào mà xác định rõ hơn những mảng kiến thức bạn đang cần bổ sung/muốn biết để có thể thực hành chuyên môn hiệu quả hơn. Mình sẽ cố gắng hạn chế việc trình bày quá sâu và quá dài dòng về lý thuyết, tuy nhiên đây vẫn là nội dung dành cho người làm chuyên môn nên khó tránh khỏi một số thuật ngữ gây khó khăn cho người đọc phổ thông.

    Về cơ bản, những khối kiến thức này khi áp dụng vào thực tế đều có sự trộn lẫn trong đó hiểu biết về mặt này sẽ dẫn lối cho lựa chọn hành động ở mục khác, ví dụ: hiểu được nhu cầu học tập của trẻ em cũng như hạn chế về lứa tuổi sẽ giúp giáo viên định hướng rõ cách lựa chọn nội dung bài học cũng như hình thức tổ chức lớp học sao cho việc học đối với các em nhỏ luôn tạo hứng khởi. Vì vậy, càng luyện tập lesson planning thành thạo bao nhiêu sẽ càng cảm thấy lý thuyết soi sáng con đường mình đi bấy nhiêu.

    PLANNING

    Quy trình chuẩn bị một bài giảng luôn luôn phải có hai phần cơ bản, trong đó yêu cầu giáo viên phải suy nghĩ:

    – Phân tích đặc điểm người học của mình

    – Phân tích nội dung cần dạy để xác định được trọng tâm (từ đó phân phối tỷ lệ thời gian hiệu quả), sau đó lựa chọn thứ tự hoạt động cũng như thiết kế hoặc tìm thêm tài liệu bổ trợ sao cho áp dụng mô hình PPP hiệu quả nhất, hướng tới việc khối kiến thức mình muốn dạy “đi” được vào lòng học sinh

    – Dạy kỹ năng (4 kỹ năng)

    – Dạy ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng)

    – Dạy giao tiếp (social English)

    – Ôn tập kiến thức cũ

    – Chuẩn bị cho việc thi cử

    2. SẮP XẾP THỨ TỰ HOẠT ĐỘNG

    Việc sắp xếp thứ tự hoạt động thực ra có hai hướng chính: hướng dạy PPP truyền thống và hướng dạy học thông qua hoạt động (task-based teaching)

    – PPP TRUYỀN THỐNG: một đơn vị học (không phải là cả buổi học) luôn tuân theo PPP như một phương án “an toàn” nhất, trong đó giáo viên dạy (Presentation) – sau đó cho học sinh thực hành với những bài tập hoặc hoạt động bị giới hạn đúng/sai (Practice) – tiếp tục cho học sinh thực hành ở những đề tài mở rộng hơn và gần với đời sống thực hơn, trong đó học sinh có toàn quyền quyết định nội dung nói/viết cũng như ngôn ngữ họ sử dụng (Production).

    Điểm quan trọng ở đây là việc phân biệt Practice với Production. Practice là những hoạt động bị giới hạn và sẽ được giáo viên chữa trực tiếp/gián tiếp sau khi hoàn thành. Mục tiêu của nó là để giúp người học NHỚ được MẪU ngôn ngữ/kỹ năng được giáo viên hướng dẫn ở Presentation, và áp dụng chúng vào những trường hợp tương tự như cái đã học. Nói cách khác, nó hướng tới ACCURACY (độ chính xác). Nếu phần này học sinh làm không “đủ”, hậu quả sẽ là học sinh có thể nói/viết nhưng thường xuyên mắc lỗi sai; ngược lại, nếu làm QUÁ NHIỀU, học sinh sẽ cảm thấy chán nản và lâu dần sẽ ảnh hưởng tới độ tự tin khi sử dụng tiếng (vì sợ sai). Thế nên về cơ bản, cần phải cân nhắc rất kỹ lượng bài tập/hoạt động phù hợp cho từng vấn đề ngôn ngữ chúng ta dạy, trong đó những thứ phức tạp có thể dành nhiều thời gian hơn – hoặc dùng spacing (học cách quãng) để xoay vòng kiến thức, làm sao cho vẫn “đủ” mà không “ngợp”.

    Games trong phần tài liệu hỗ trợ giáo viên đa phần được thiết kế cho Practice nhưng cũng có một số (tầm 1/3) là dành cho cái Production này. Khi lựa chọn tài liệu bổ trợ, giáo viên phải hết sức tỉnh táo để nhận diện: khi thực hiện “game” này, học sinh sẽ phải LÀM GÌ, từ đó xác định được nó là Practice hay là Production.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Bộ Sách Tiếng Anh Phonics
  • 4 Phương Pháp Dạy Trẻ Đọc Dựa Trên Ngữ Âm
  • Góc Nhìn Của Người Giảng Viên Về Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tại Cuộc Hội Thảo Khoa Học Tại Trường Chính Trị Tỉnh Long An
  • 5 Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến Phổ Biến Bạn Cần Tìm Hiểu Trước Khi Đứng Lớp
  • Học Trực Tuyến Và Học Kết Hợp: Đâu Là Phương Pháp Tối Ưu?
  • Đổi Mới Nhận Thức Về Người Học Và Phương Pháp Học Ngoại Ngữ (P2)

    --- Bài mới hơn ---

  • “nghiên Cứu Bài Học “
  • “nghiên Cứu Bài Học” Mô Hình Dạy Và Học Tích Cực
  • Học Tập Ngoài Trời: Chìa Khóa Cho Những Đứa Trẻ Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh Và Sáng Tạo
  • 10 Cách Học Tập Ngoài Trời Có Ích Cho Con Bạn
  • Tổ Chức Dạy Học Ngoài Trời
  • – Phương pháp tích cực – Phương pháp tình huống – Phương pháp thực hành có ý thức … PV: Thưa PGS, ông có thể cho một cái nhìn tổng quát về vị trí của người học Ngoại ngữ trong các phương pháp Nghe-Nhìn!

    PGS: Trong các phương pháp dạy-học nói chung trước đây và phương pháp dạy-học Ngoại ngữ nói riêng, vị trí của người học thường được xác định là người thuần túy tiếp nhận kiến thức từ người thày. Hình ảnh phổ biến là:

    PGS: Phương pháp dạy học này nếu đã tỏ ra kém hiệu quả với người học nói chung thì càng không phù hợp với người học một sinh ngữ, khi yêu cầu cơ bản của môn học là người học phải sản sinh ra ngôn từ để giao tiếp. Trải dài từ suốt thế kỉ XVI, phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, và còn tồn tại cho đến tận ngày nay (ở một số nơi), phương pháp truyền thống được coi là phương pháp lâu đời nhất và nổi tiếng với định hướng “Ngữ pháp – Dịch”.

    PGS: Phương pháp truyền thống dạy và học Ngoại ngữ lấy mẫu hình từ trong việc dạy ngôn ngữ La Tinh và Hy Lạp, dạy sinh ngữ dựa trên kinh nghiệm dạy tử ngữ, ở đó người học được yêu cầu:

    PGS: Như vậy, người học ngoại ngữ theo phương pháp truyền thống thực chất là học về ngôn ngữ, học kiến thức ngôn ngữ, chứ không phải học cách sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, người học được yêu cầu và được tạo điều kiện để phát triển khả năng đọc hiểu, khả năng phát triển hiểu biết chung (đặc biệt là các hiểu biết về văn học, khoa học), khả năng phân tích lập luận ngôn ngữ, chứ không phải khả năng nắm bắt ngôn ngữ để tái sử dụng trong tình huống xã hội, trong đời sống hàng ngày. Các loại hình bài tập cơ bản của người học để ôn luyện là đọc diễn cảm, viết chính tả, làm bài tập phân tích ngôn ngữ, học thuộc lòng các đoạn văn, viết luận và dịch. Đặc biệt, dịch xuôi và dịch ngược thường được coi là mục đích cuối cùng, là công đoạn để kiểm tra sự hiểu biết tinh thông về từ vựng, ngữ pháp và các kiến thức chung.

    PGS: Đúng là như vậy! Người học không hề được tiếp xúc với ngôn ngữ nói, với ngữ âm, với ngôn ngữ hàng ngày, không có chỗ cho các hội thoại trong phương pháp truyền thống, không có tình huống giao tiếp, tình huống thực. Và như vậy thì các yếu tố đi kèm ngôn ngữ, các yếu tố ngoài ngôn ngữ cũng không thể có mặt trong quá trình học ngoại ngữ. Về mặt điều kiện hỗ trợ vật chất thì ngoài phấn trắng bảng đen chỉ còn là tập giáo trình in các bài khóa cùng các phần giới thiệu, luyện tập về từ vựng, ngữ pháp, dịch. Không có một hỗ trợ kĩ thuật nào giúp cho người học phát huy hết được khả năng tiếp nhận, tìm kiếm thông tin, xử lí thông tin hay luyện tập thực hành ngôn ngữ. Ngược lại người học chỉ có thể ghi nhớ máy móc từ vựng, các qui tắc ngữ pháp, các cấu trúc câu, bắt chước lại, nhắc lại y nguyên, không được mắc sai lầm!

    PGS: Có thể hiểu như vậy. Phương pháp truyền thống không chấp nhận lỗi, đặc biệt là lỗi về ngôn ngữ, và mọi lỗi phạm phải đều bị “phạt” thích đáng. Ở đây không có chỗ cho khái niệm “giao ngôn” (interlangue). Yêu cầu học này đã làm triệt tiêu sự sáng tạo của người học, người học sợ bị phạt, bị điểm kém nên không dám thử, không dám tự sản sinh ngôn ngữ, năng động thực hành ngôn ngữ đích, mà chỉ viết lại những câu tương tự như mẫu câu đã học, hoặc sử dụng những mẫu câu đã học để dịch xuôi, dịch ngược, điều này đi ngược lại với mục đích dạy sinh ngữ phục vụ cho chức năng cơ bản của ngôn ngữ là giao tiếp.

    PV: Về phương pháp giảng dạy trong các phương pháp nghe-nhìn, chúng ta có thể tóm tắt lại trong một quy trình như thế nào, thưa PGS?

    PV: Như vậy, về vai trò và phương pháp học tập của người học trong phương pháp truyền thống, chúng ta có thể tóm tắt như sau:

    Nghe – bắt chước – ghi nhớ nhắc lại

    – Người học có nghĩa vụ thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu mà người dạy giao cho

    PV: Chúng ta có thể có những nhận xét gì qua lớp học vừa rồi, thưa PGS.

    – Quan sát diễn tiến hoạt động mà người dạy áp đặt, thực hiện các hoạt động khi người dạy yêu cầu (đọc, đặt câu khi thực hành một qui tắc ngữ pháp, trả lời câu hỏi, dịch xuôi / ngược …)

    – Người học không cần sáng tạo gì trong quá trình học mà chủ yếu chỉ cần ghi nhớ các qui tắc ngữ pháp và từ vựng hoặc học thuộc các đoạn bài khóa để viết luận và thực hành dịch.

    PV: Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi về các phương pháp Nghe-Nhìn.

    PV: Dưới các tên chung là các phương pháp Nghe – Nhìn, các nhà giáo học pháp đã tập hợp lại một số phương pháp cụ thể sau:

    PV: Ông có nhận xét gì về khả năng giao tiếp của người học?

    Bên cạnh đó còn có thể kể ra một số phương pháp khác trong trào lưu này, như:

    PV: Còn về nhưng hạn chế lớn nhất của các phương pháp Nghe-Nhìn, theo ông đó là nhưng hạn chế nào?

    PGS: Phải nói rằng, trong các phương pháp này, vị trí của người học đã có những thay đổi lớn. Người học không còn là đối tượng để hứng lấy cái vòi nước một cách thụ động mà đã trở thành nhân tố chủ động, có động lực và có nhu cầu học những cái mình cần thiết. Từ cách thức học một ngôn ngữ trên mẫu hình học một tử ngữ, giờ đây người học đã xác định học ngôn ngữ là để sử dụng ngôn ngữ đó như một sinh ngữ.

    PV: Vậy những đặc điểm khác biệt cơ bản của phương pháp này so với phương pháp giảng dạy truyền thống có thể nêu ra là những gì, thưa ông?

    PGS: – Trước hết, ngữ liệu đầu vào không còn là các áng văn chương, là ngôn ngữ viết nữa, ở đó người học chỉ biết dịch xuôi, dịch ngược và làm bài viết luận, mà ngôn ngữ giờ đây là các hội thoại phản ánh tình huống thông thường trong cuộc sống (tuy phần lớn các hội thoại này đều là do tác giả các phương pháp học tiếng biên soạn).

    -Thứ hai, chính ngữ liệu mới này buộc người học phải quan tâm hơn đến cách phát âm và chính sự hoàn thiện về bảng phiên âm quốc tế (Alphabet phonétique international – API) đã giúp cho việc học phát âm trở nên hữu hiệu hơn.

    – Thứ ba, cùng với những hệ quả ngôn ngữ từ các công trình của “Cấu trúc luận”, các thành quả đạt được trong thuyết “Hành vi luận” trong tâm lí học của Skiner đã mang lại cho giáo học pháp ngoại ngữ một luồng gió mới với công thức:

    PGS: Hệ thống các bài tập cấu trúc ra đời và cùng với nó là các phòng học tiếng (Labo) phát triển mạnh mẽ để giúp người học tạo kĩ năng của mình. “Tạo sức bật nhanh nhất”, đó là khẩu hiệu của các phương pháp nghe – nhìn, là thước đo với người học.

    PGS: Trước hết, người học được tiếp xúc với các hội thoại mẫu, có hình ảnh của các phim tĩnh hỗ trợ, nghe và nhận biết tình huống, ý nghĩa của câu nói của các nhân vật, trả lời các câu hỏi của giáo viên về tình huống và nhân vật. Tiếp theo đó là khâu luyện tập, đây là khâu cơ bản nhất và được hi vọng nhất: người học được đưa vào phòng học tiếng, chụp tai nghe vào và luyện tập như những người máy trong hàng giờ đồng hồ. Thao tác cơ bản của người học có thể tóm tắt trong sơ đồ sau đây:

    PV: để hiểu rõ hơn quy trình giảng dạy này, chúng ta cùng quan sát một lớp học truyền thống khác.

    PGS: Trước hết chúng ta nhận thấy việc sử dụng tiếng mẹ đẻ bị nghiêm cấm đối với người học, chỉ có ngôn ngữ đích trong giờ học ngoại ngữ. Ngược lại, bên cạnh các yếu tố ngôn ngữ (éléments linguistiques), các yếu tố đi kèm ngôn ngữ (éléments paraverbaux) như cử chỉ, nét mặt, động tác …, và các yếu tố ngoài ngôn ngữ (éléments extraverbaux) như đặc điểm người học, tình huống xã hội … cùng được đưa vào như những yếu tố có tác động can thiệp vào chất lượng, hiệu quả dạy-học ngoại ngữ.

    Người học và phương pháp học tập Ngoại ngữ trong Đường hướng Giao tiếp

    Thứ hai, trong các phương pháp nghe – nhìn, người học được tiếp xúc với ngôn ngữ nói, được luyện tập ngôn ngữ nói trong các tình huống được coi là thông thường nhất của cuộc sống xã hội (gia đình, xã hội, việc làm …). Họ học sử dụng ngôn ngữ chứ không còn là học các kiến thức về ngôn ngữ, những hiểu biết về ngôn ngữ (connaissances métalinguistiques).

    – Đường hướng ý niệm (approche notionnelle) – Đường hướng chức năng (approche fonctionnelle) – Đường hướng giao tiếp (approche communicative). PV: Thưa PGS, ông có thể cho một cái nhìn tổng quát về vị trí của người học Ngoại ngữ trong các phương pháp Nghe-Nhìn! – Một nền giảng dạy lấy người học làm trung tâm. – Một nền giảng dạy hướng tới năng lực giao tiếp.

    Thứ ba, các kĩ năng ưu tiên giờ đây không còn là đọc hiểu và viết nữa mà là kĩ năng nghe hiểu và diễn đạt nói (mặc dù nói ở đây chủ yếu là sự nhắc lại trong những tình huống khác đi).

    PGS: Ghi nhớ và nhắc lại tốt trong các tình huống học tập trên lớp, người học đã có khả năng chuyển đổi các ngữ liệu mới học vào các tình huống mới, diễn đạt những ngữ liệu ấy phù hợp với tình huống và với một số yếu tố đi kèm ngôn ngữ phù hợp. Mục đích học để thực hành sử dụng ngôn ngữ về cơ bản là đã đạt được. Đây là một bước tiến lớn so với phương pháp học ngoại ngữ truyền thống.

    PV: Vậy yếu tố nhu cầu có tác động cụ thể như thế nào đến quá trình học ngoại ngữ, thưa PGS?

    PGS: Các phương pháp Nghe-Nhìn trong quá trình thực hiện đã để lộ những bất cập đối với người học.

    Thứ hai, đó là những bất cập về phương diện giáo học pháp. Các phương pháp nghe – nhìn áp dụng một hệ thống các nguyên tắc dạy-học khá là cứng nhắc.

    PV: Rõ ràng là đường hướng giao tiếp đã mang lại một hơi thở mới, một luồng sinh khí mới cho việc dạy và học ngoại ngữ. Ông có thể cho biết nhưng ưu điểm cơ bản của đường hướng này?

    – người học không được hỗ trợ một chút nào từ tiếng mẹ đẻ, người học không được phạm lỗi, người học không được sử dụng ngữ liệu ngoài ngữ liệu đã được kiểm soát trước (ví dụ, ở cấp độ 1 là tiếng Anh cơ bản Basic English với 850 từ, tiếng Pháp là Français fondamental 1 với 1500 từ)

    – người học phải chịu một áp lực quá lớn từ yêu cầu luyện bài tập cấu trúc trong các phòng học tiếng với cường độ quá lớn, biến họ thành những người máy (automate), từ đó dẫn đến tình trạng người học bão hòa, mệt mỏi, căng thẳng và hứng thú giảm dần. – tuy có quá trình chuyển từ địa hạt lời nói ban đầu sang giai đoạn khắc sâu kiến thức (fixation) trong địa hạt ngôn ngữ, nhưng việc chú trọng xây dựng nhận thức ngôn ngữ không được quan tâm đầy đủ, người học (đặc biệt đối với người học lớn tuổi) sẽ chỉ được thực hành ngôn ngữ một cách máy móc, trong khi bản chất của ngôn ngữ là sự sáng tạo lời nói trong giao tiếp cụ thể.

    PV: Như vậy, về vai trò và phương pháp học tập của người học trong các phương pháp nghe – nhìn, chúng ta có thể tóm tắt như sau:

    – Người học đã trở lại vị trí là người chủ động tiếp xúc, ghi nhận, ghi nhớ và bắt chước các cấu trúc câu của ngôn ngữ nói, luyện tập để tạo sức bật, chuyển đổi vào các tình huống mới, biểu đạt với một số yếu tố đi kèm ngôn ngữ.

    – Tuy nhiên, do những hạn chế của ngôn ngữ đầu vào và sự cứng nhắc của các nguyên tắc giáo học pháp, người học vẫn chưa có sự chủ động sáng tạo ra ngôn ngữ phù hợp với các tình huống giao tiếp thực trong cuộc sống. Người học có năng lực cao thực hiện các bài tập cấu trúc, nhưng không có khả năng huy động những sức bật đó trong các tình huống giao tiếp, do tính đơn điệu của các hội thoại mẫu và tính không điển hình của nó trong cuộc sống thực.

    PV: Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau xem xét Đường hướng Giao tiếp trong dạy-học Ngoại ngữ.

    PV: Dưới cái tên chung là đường hướng giao tiếp, các nhà giáo học pháp đã taapl hợp trong đó 3 đường hướng chính, đó là:

    PV: Thưa PGS, chúng ta vưa bàn đến hai định hướng cơ bản của đường hướng giao tiếp là “Một nền giảng dạy lấy người học làm trung tâm và hướng tới năng lực giao tiếp”. Gần đây, các nhà chuyên môn hay nhắc tới một khái niệm, đó là khái niệm “Hợp đồng học tập”. Xin ông giải thích rõ hơn về khái niệm này.

    PGS: Có thể nói như thế này: với Đường hướng giao tiếp, lần đầu tiên vai trò của người học được xác lập một cách tường minh nhất, rõ ràng nhất, được đặt lên vị trí cao nhất, ưu tiên nhất, bởi vì hai định hướng cơ bản của Đường hướng giao tiếp là:

    – Người học phải cam kết sử dụng mọi cơ hội giao tiếp để thực hành ngoại ngữ, trong lớp, ngoài lớp, đặc biệt là với người bản ngữ. – Người học phải cam kết sử dụng mọi cơ hội để tiếp xúc với ngôn ngữ đích, tìm kiếm thông tin về ngôn ngữ, văn hóa, đất nước, con người của ngôn ngữ đích. – Người học phải cam kết giao tiếp tích cực nhất với bạn học, chia sẻ kiến thức cùng bạn học, hỗ trợ nhau trong nhóm học với tinh thần cộng tác cao nhất. Mong muốn được bạn học sửa cho mình và sẵn sàng sửa cho người khác. – Người học phải cam kết chấp nhận rủi ro, quyết tâm biểu đạt bằng được ý đồ giao tiếp của mình, cho dù phạm phải các lỗi ngôn ngữ và văn hóa, là điều dĩ nhiên khi học ngoại ngữ, trong một quan điểm giao ngôn (interlangue). – Người học phải cam kết hoàn thiện các kĩ năng của mình theo khung tham chiếu Châu Âu (Cadre européen), dù là trong chương trình học hay ngoài chương trình học. – Người học phải cam kết học cách đánh giá quá trình học của mình, kiến thức thu lượm, kĩ năng thực hành của mình và đòi hỏi phải được đánh giá. – Người học phải cam kết tìm hiểu ngôn ngữ đích được cấu tạo và vận hành thế nào, có ý thức đối chiếu ngôn ngữ đích và tiếng mẹ đẻ trong quá trình học tập của mình.

    PGS: Kể từ khi, nhà toán học, ngôn ngữ học người Mĩ, Noam Chomsky, phản biện lại những nguyên lí “Cấu trúc luận” của F. de Saussure, khái niệm “năng lực ngôn ngữ” đã được đặt lại vị trí trung tâm của nó trong nghiên cứu ngôn ngữ học, trong cơ chế tạo lập ra phát ngôn của con người: “một tập hợp hữu hạn các qui tắc cho phép sản sinh ra một tập hợp vô hạn các câu nói”.

    Cái quan trọng bây giờ không phải là hệ thống các cấu trúc câu đang tồn tại như một “sản phẩm xã hội”, người ta chỉ việc học thuộc lòng và nhắc lại, mà theo Chomsky, các nhà ngôn ngữ học cần tìm ra cơ chế tạo lập ra ngôn ngữ theo hướng con người ở mỗi thời điểm giao tiếp “sáng tạo ra các phát ngôn mà có thể phần lớn trong đó họ chưa nghe thấy bao giờ hoặc chưa nói bao giờ”. Năng lực sáng tạo ra ngôn ngữ này chỉ có ở con người và việc dạy ngôn ngữ giao tiếp chính là dạy người học sao cho phát huy cao nhất khả năng giao tiếp bằng ngôn từ này.

    PGS: Khi vị thế của người học thay đổi, trở thành nhân vật chính của quá trình dạy-học ngoại ngữ, thì công việc trọng tâm đầu tiên là mối quan tâm phân tích nhu cầu của người học. Người ta quan niệm rằng dù có những giáo trình, những phương pháp giảng dạy tốt, có đội ngũ người thày giỏi nhưng nếu người trò không muốn học, nội dung dạy không đáp ứng nhu cầu, mong muốn của người học thì không thể có được hiệu quả dạy-học tốt được.

    PGS: Nhu cầu của người học sẽ quyết định những kĩ năng cần hướng tới, nội dung cần giảng dạy, phương pháp cần áp dụng …, để phát huy tối đa tiềm năng của người học và tạo ra hứng thú cao nhất của người học trong quá trình học tập.

    Từ trước đến nay, giảng dạy ngoại ngữ ít khi tính đến các nhu cầu này. Nhu cầu học tập thường được phân tích thành ba loại nhu cầu sau: thứ nhất, nhu cầu đến từ sở thích cá nhân (ví dụ, học ngoại ngữ để hát được bài hát tiếng nước ngoài, để đi du lịch …), thứ hai, nhu cầu đến từ một thiết chế (ví dụ, ở phổ thông học sinh có môn học ngoại ngữ, học sinh phải học tập để có điểm tốt) và thứ ba, nhu cầu đến từ đòi hỏi nghề nghiệp (phục vụ cho công việc của mình). Các đối tượng khác nhau cũng có thể có các yêu cầu học các kĩ năng khác nhau (ví dụ, có một số cán bộ khoa học cần có một khóa học ngắn nhằm vào khả năng đọc hiểu để đọc tài liệu).

    PGS: Nói tóm lại, trong một nền giảng dạy lấy người học làm trung tâm thì mọi sự chú ý, chuẩn bị đều phải xuất phát từ nhu cầu và đặc điểm của người học. Bắt đầu bằng tư liệu đầu vào.

    PGS: Những ưu điểm cơ bản của đường hướng này có rất nhiều vì nó thường được ví như một cuộc cách mạng lớn về lý luận và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh vào một số điểm chính.

    Trước hết hãy nói về các tư liệu đầu vào. Nếu như trong các phương pháp nghe – nhìn, tư liệu đầu vào là các bài hội thoại tự soạn thì bây giờ tư liệu đầu vào là các tư liệu thực, tư liệu xã hội, đáp ứng được nhu cầu người học và kích thích được sự hứng thú của người học (ví dụ một đơn thuốc, một tờ gập giới thiệu du lịch …, đều có thể trở thành các tư liệu giảng dạy hiệu quả). Các clif video, trao đổi, phỏng vấn, các chương trình trích từ chương trình truyền hình, phát thanh là những tư liệu được sử dụng để cấu tạo lên ngữ liệu dạy-học.

    Thứ hai, từ tư liệu thực ấy, hoạt động chủ đạo của người học không còn là ghi nhận, bắt chước, nhắc lại máy móc nữa, mà người học được yêu cầu quan sát tư liệu, tìm kiếm thông tin, đặc biệt là các thông tin chung, thông tin khái quát, để có cái hiểu tổng quan, từ đó chủ động tổ chức lời nói của mình.

    Thứ tư, luyện tập của người học không còn chỉ là các bài tập cấu trúc khô khan cứng nhắc thực hiện ở lớp hay trong phòng học tiếng, hay các bài tập đóng vai, chuyển đổi giữa các tình huống giả định, mà hệ thống các hoạt động sư phạm đa dạng hơn nhiều, sử dụng ngữ liệu đầu vào multimedia, gây hứng thú mạnh cho người học.

    Và thứ năm, cả 4 kĩ năng đều được chú trọng phát triển chứ không chỉ nhằm vào kĩ năng nói như trong các phương pháp nghe – nhìn, đặc biệt các yếu tố ngữ dụng được đề cao để đáp ứng các yêu cầu biểu đạt sự tinh tế, tế nhị của ngôn ngữ (các yếu tố ngôn ngữ, đi kèm ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữ và các thành tố văn hóa).

    PGS: Tôi muốn nói thêm rằng nỗ lực của một quan điểm giảng dạy tập trung vào người học hướng người dạy đến cá thể hóa đến mức tối đa người học, đáp ứng với thỏa mãn từng người học, giải quyết khó khăn của từng người học và tổ chức dạy-học phù hợp nhất với từng cá nhân (khó khăn của trình độ người học khác nhau, kiến thức trước đó khác nhau, khả năng nhận thức khác nhau, tính cách khác nhau, sở thích khác nhau và phương pháp, nhịp độ làm việc khác nhau …). Đây có thể được coi là một trong những ưu việt lớn nhất của đường hướng này.

    PGS: Khái niệm “Hợp đồng học tập” trong mối quan hệ dạy-học cũng là một nét mới của đường hướng chức năng – giao tiếp, ở đó người dạy và người học trở thành các “đối tác”, cùng nhau thỏa thuận những “điều khoản cam kết” trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bản chất của hợp đồng này qui định ngay từ đầu là việc học tập là trách nhiệm của cả hai phía, bình đẳng và có vai trò quan trọng như nhau, cả hai phải nhận thức và tôn trọng các cam kết này. Vậy người học cần cam kết những gì?

    PGS: Những thỏa thuận này một mặt nâng vị thế của người học lên, mặt khác làm cho người học thấy hết trách nhiệm của mình trong học tập, xác định rõ ràng các mục tiêu cần đạt được, có hướng phấn đấu rõ rệt và xây dựng được một môi trường, các mối quan hệ thuận lợi, minh bạch tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện quá trình học tập của mình với chất lượng cao.

    PV: Như vậy, về vai trò và phương pháp học tập của người học trong đường hướng chức năng – giao tiếp, chúng ta có thể tóm tắt như sau:

    – Người học ý thức được một cách sâu sắc vai trò của mình, chủ động quan sát, tìm kiếm thông tin, thực hành, đúc rút, tự đánh giá nhằm mục đích phát triển tốt nhất, hài hòa nhất 4 kĩ năng giao tiếp của mình.

    – Người học cũng bắt đầu biết xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với người thày và bạn học nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, những điều kiện phù hợp để phục vụ cho quá trình học tập của mình tốt hơn.

    – Tuy nhiên người học vẫn chưa thoát thải khỏi không gian học đường, vẫn nguyên si là người “học trò” đang đi học, vẫn là một thành tố của qui trình giáo dục, phấn đấu đạt được những mục tiêu do chương trình giáo dục đề ra.

    – Và như vậy người học sẽ không có được tâm lí của người đang thực sự sử dụng công cụ là ngoại ngữ để thực hiện một công việc nào đó theo nhu cầu của cuộc sống, mà vẫn chỉ là lấy ngôn ngữ làm mục đích, thực hiện trong các tình huống giả định.

    PV: Như vậy, chỉ khi nào thoát ra khỏi không gian lớp học, dùng ngôn ngữ làm công cụ để thực hiện một “nhiệm vụ” nào đó với tư cách là một “tác nhân xã hội”, thì ngôn ngữ được sử dụng mới là ngôn ngữ thực, và người sử dụng mới huy động hết mọi tiềm năng để sử dụng hiệu quả ngôn ngữ đó, thực hiện chức năng giao tiếp của mình. Đó chính là quan điểm mới, Quan điểm Hành động trong một phương pháp dạy-học ngoại ngữ tiên tiến mà chúng ta sẻ cùng trao đổi với PGS-TS Nguyễn Lân Trung bây giờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Người Học Thông Qua Kĩ Thuật “dạy Học Mảnh Ghép”
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Thần Kỳ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Phương Pháp Giúp Bạn Học Tiếng Anh Chuyên Ngành Y Khoa Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Cách Học Tiếng Anh Chuyên Ngành Y Khoa Hiệu Quả
  • 3 Cách Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Từ Con Số 0 Cho Người Chưa Biết Gì
  • Học Tiếng Anh Lớp 6 Có Gì Khác Biệt? Phương Pháp Nào Thì Phù Hợp?
  • Embed Size (px)

    DESCRIPTION

    Tác giả: Doremon – HVA Forum

      1. Copyright 2013 by doremon-nobita Mi bn quyn ni dung trong cun sch thuc v tc gi c Nickname doremon- nobita (HVA). Cun sch ny c bin tp vi mc ch chia s v gip mi ngi trn tinh thn t nguyn v min ph. Tt c mi hnh ng s dng cun sch ny vo mc ch thng mi m khng c s ng ca tc gi u l phm php v nghim cm Mi thc mc hay gp , bn c c th lin lc v a ch: Din n: chúng tôi Mc: Tho lun nh hng Topic: Cch hc Ting Anh hiu qu nht Hoc email ca tc gi doremon-nobita: [email protected] Xin trn trng

    2. Bn c thn mn! Nu v mt l do hay nguyn nhn g m bn nhn c mn qu ny, th bn tht s rt may mn hn phn ng dn s cn li. Bi v nhng g m cun sch ny mun truyn t s thay i cuc i bn mi mi! Tha cc bn, trong cuc i ca mi chng ta c bit bao nhiu kh khn, gian kh tng chng nh vt qu sc chu ng ca con ngi. Chng ti cng vy, cng nh bn, cng tng c bit bao c m cao p, nhng ri di nhng p lc cng nh gnh nng ca cuc i, nhiu khi chng ti bung xui v b cuc. Nhng ri nh mt php mu, ch mo my Doremon thng minh, tt bng xut hin gia cuc i thng, mang bo bi v ti nng ca mnh ra gip ngi khc. Chng ti nh lc vo th gii c tch m ngy xa mnh tng khao kht. Do mt php l no m chng ti v tnh bit n topic trn HVA vi ta Cch hc Ting Anh hiu qu nht?. T nghi ng, n ngc nhin v sau l khm phc, nhng tri thc v gi ca thnh vin vi Nickname doremon-nobita 3. (chng ti gi thn mt l ch mo Doremon), mang li cho chng ti bit bao nhiu hi vng, tng lai, cuc i v li thot. V khng mun ch k gi li ring cho mnh, chng ti lin lc v c s ng ca tc gi bin son ra hai cun sch phc v min ph nhm gip bn c bin c m thnh hin thc, hay nh thng ip ca ch mo Doremon Gip ngi khc sng cuc i honh trng vi Ting Anh l cng chúng tôi cun sch ny c ta : 1. Cch hc Ting Anh Thn K. 2. T duy Thin Ti. Ch khi no bn c hiu c v ng dng hai cun sch trn vo cuc sng th khi php mu s xy ra. Cho nn tht s l thit thi v ng tic nu bn c b l mt trong hai cun sch . Chng ti thay mt tc gi xin gi li chc tt p nht n ton th cc bn, v chng ta hy cng nhau phiu lu vo mt th gii mi, ni c nhng php mu xy ra i vi nhng con ngi c c m v khng bao gi b cuc. The only thing that stands between a man and what he wants from life is often merely the will to try it and the faith to believe that it is possible. 4. NHM BIN TP VIN.6 LI TM S BN C GI DOREMON…7 PHN 1: TNG QUAN V PHNG PHP HC.23 PHN 2: C S KHOA HC CA PHNG PHP.42 CHNG 1: WHY IS THAT IMPORTANT? ……………………………….43 CHNG 2: TAOISM-O LO-TRANG48 CHNG 3: REPETITION AND DISTINCTION58 PHN 3: PHNG PHP HC EFFORTLESS ENGLISH.68 PHN 4: CCH HC TING ANH THN K83 PHN 5: LCH HC C BN CHO NGI MI BT U92 PHN 6: CC CU HI THNG GP.98 PHN 7: LI NHN NH N BN C.121 5. Bn c thn mn! Chng ti, nhm bin tp ebook tin tng rng tt c nhng ai , ang v s hc Ting Anh nn nghin ngm cun sch ny mt cch k lng nht c th. V nhng tri thc c chia s trong cun sch ny u l nhng tri thc v gi, da trn cc cng trnh nghin cu ca cc nh khoa hc hc uy tn nhiu lnh vc khc nhau trn ton th gii. Nu bn tng trn tr v vic lm sao c th chinh phc c Ting Anh, th xin chc mng cun sch ny dnh ring cho bn. C bao gi cc bn t hi, bao nhiu phn trm tri thc ca nhn loi c vit bng Ting Vit? V bao nhiu phn trm trong s c th gip bn thay i cuc i? Cu tr li tuy n gin nhng v cng tn nhn: chng bao nhiu c. V vy, nu nh khng bit thm mt ngoi ng ln no, th phn ln cc bn s khng th chng chi li c vi s chn lc khc khe ca t nhin. Ting Anh l mt trong nhng ngn ng ln . Ni khng ngoa, n c th l ngn ng ln nht ca loi ngi. V vic thng tho th ting ny tr thnh mt yu cu bt buc. Th nhng, chc cc bn cng bit, chinh phc c th ngn ng ny th ny qu tht v cng gian nan. Bit bao con ngi b cuc, bit bao con ngi chp nhn u hng cn gi ca t nhin cun i, ph mc s phn ca mnh trong bng m ngu dt v ngho i. Nhn thc c iu , ngy hm nay, chng ti xin c trn trng gi ti cc bn cun sch ny, vi mong mun gip cc bn trn con ng chinh phc Ting Anh, c th t tay thit k cho mnh mt cuc sng tuyt vi nht. Hy t mnh tri nghim bng chnh bn thn v bn s khng bao gi phi hi hn bi v cun sch ny s thay i cuc i cc bn mi mi! BAN BIN TP 6. Sau y l mt vi li tm s ca bn c gi Doremon, mong rng khi cc bn hc thnh cng theo phng php Cch hc Ting Anh thn k ny th cc bn cng nh chng ti v bao nhiu con ngi khc, hy ni vi li bit n ti tc gi ca n l Doremon-Nobita Tha anh Doremon L mt ngi hc theo phng php Ting Anh ca anh. Hm nay em mun gi li cm n su sc n anh. 15 nm c hc Ting Anh theo phng php truyn thng, hc thm khng di 4 trung tm nhng em vn khng th hc ni Ting Anh. Khng phi bn thn li bing hay khng c iu kin hc tp nhng ti sao 15 nm tri qua, em vn khng chinh phc c n. rt nhiu lc nn lng v bung xui v ngh rng mnh khng c kh nng hc Ting Anh. Ri vo mt bui ti xut hin trong u em mt cu hi Ti sao ngi khc hc c cn mnh th khng?. V em lang thang trn mng c tm cho mnh mt phng php hc Ting Anh hiu qu. Qu tht ng tri khng ph lng ngi, em tm c topic cch hc ting anh hiu qu nht ca anh trn hvaonline. Em c nhng bi vit ca anh trn , cng c cng thy ng v cm thy khng th chn ch hn c na, em phi hc ngay theo phng php ca anh. Phng php hc Ting Anh ca anh khng ch da trn kinh nghim ca bn thn m cn hn ht l da trn cc cng trnh nghin cu khoa hc. Em nh ang cht ui gia i dng, hon ton kit sc v v vng cn anh nh chic phao cu sinh m ng tri a n cho em, cng vic ca em duy nht ch l c gng bng tt c cc sc lc ca mnh bm vo chic phao v bi vo b. 7. Cha bao gi em cm thy vic hc tr ln hng khi n vy, em hc nh th s ht gi, hc bng tt c nhng cm xc tch cc nht ca mnh. Ch qua 6 thng hc Ting Anh theo phng php ca anh, gi y em c th xem nhng b phim n gin khng cn sub, c truyn thiu nhi khng cn dch, c th nghe r cc on hi thoiCng hc em cng chc chn rng mnh hc ng phng php, i ng con ng dn ti Master Ting Anh. Cha bao gi em cm thy s tin b r rt n nh th. Thay mt tt c nhng ngi ang, v s hc theo phng php Ting Anh ca anh Doremon, em xin gi li cm n chn thnh nht ti anh, cm n anh mang n cho mi ngi mt phng php hc Ting Anh hiu qu nht m hon ton min ph. Thn i! Hc tr ca anh. Thu Trang Cho anh Doremon! Hm nay, em mun gi ti li cm n nhiu nht n vi anh. Nh vo phng php Cch Hc Ting Anh hiu qu nht ca anh m em gn bc trn con ng tr thnh mt Master Ting Anh. Mi hai nm hc Ting Anh di gh nh trng v 3 nm hc tm ti hc hi cc phng php khc nhau. Tht l mt chng ng khng phi ngn, c nhng lc em ngh l mnh b cuc v tht vng vi chnh bn thn mnh. Em tht vng bn thn khng phi v mnh li, khng c gng hay khng c s kin tr, m em tht vng bi ti sao khng th tm c mt phng php hiu qu no khin em c th theo ui thnh cng ngn ng ny. C nhng lc em ngi mt mnh sut nhiu gi lin suy ngh v t hi bn thn rng: hy ngh cch lm th no mnh c th tm c cch hc hiu qu 8. y? mnh hc cc trung tm, ri phng php t hc thm ch mi thy v m ti sao mnh vn cha tin b, ngay c c mt quyn sch Ting Anh c bn ca thiu nhi mnh cng khng c ni th ni g n chinh phc tr thnh mt Master Ting Anh, chng l mnh li b cuc y. Khng chc chn mnh s lm c, nht nh mnh s tm c. Ri bao nhiu suy ngh, trn tr, tht vng. Em quyt tm ngi tm mt m trn mng v i chao! em ht ln khi thy c topic Cch Hc Ting Anh hiu qu nht trn HVA ca anh. Lc , nim vui ca em tht kh din t bng li. V khi em c nhng bi vit ca anh, em nh cm thy lng lng, mt cm xc rt kh t, n lm cho em phi hnh ng ngay v khng c l mt pht giy no, v em bit rng nu l th em s nh mt mt phng php hc Ting Anh c gi tr nht t trc ti nay. Gi tr ca phng php chnh l da trn kinh nghim ca bn thn anh v cc cng trnh khoa hc chng minh c iu . Sau 8 thng hc theo phng php ca anh, em tht s thy tin b khng ngng v mi ln hc em cha bao cm thy thi gian bi v em hc em khng bit chn v lc no cng ch thy hng phn d mt ngy em rt bn rn. Hin nay trnh ca em c c truyn thiu nhi khng cn dch, xem nhng b phim n gin khng cn sub v c th nghe r cc on hi thoi c bn. Sau khi hc em bit chc rng mnh s tr thnh mt Master Ting Anh v em cha bao gi thy mnh tin b nh vy v em bit mnh ang tht s hc phng php Cch Hc Ting Anh Thn K nht. Chc tt c nhng ngi , ang v s hc theo phng php ca anh Doremon u chinh phc c ngn ng ny v mt ln na em chn thnh cm n n anh. Mt ngi mang li hy vng cho em cng nh bao con ngi ang mun tr thnh Master Ting Anh, mt phng php hc gi tr v hiu qu nhiu n nh vy. Chc anh lun lun c sc khe v thnh cng! Hc tr ca anh. Thanh Lam 9. Cho Doremon! Khi ngi vit nhng dng ch ny, mnh li nh li qung thi gian mnh bt u hc ting Anh theo phng php Cch hc ting Anh hiu qu nht ca bn trn din n HVA. Trc khi bit n topic ny, cng ging nh nhiu ngi khc, mnh hc Ting Anh khng bit bao nhiu ln. T ci thu cn hc cp hai, ri cp ba, tip theo l hc i hc. n khi i lm th hc Ting Anh phc v cho cng chúng tôi tnh thi gian hc th c l cng mi my nm. V cng tri qua rt nhiu cch hc: hc trn trng, hc thm trung tm, hc cng bn b v c t hc na. Tuy nhin, kt qu m mnh t c th tht tht vng. c ti liu ? C ngh n cnh m mt quyn sch chuyn ngnh, va c va tra tng t, ba mi pht khng bit tc gi ang ni v vn g l mnh li thy oi v cng. Vit th th c ln google dch, khng bit l c ng hay khng. c v vit th th ni g n nghe v ni, v khi c v vit cn c thi gian tra t, ch nghe v ni th tra kiu g. Chnh v vy, nghe Ting Anh i vi mnh nh vt nghe sm, ni Ting Anh vi mnh nh n gy tai tru. Mnh tm kim khng bit bao nhiu din n, bao nhiu topic vi t kha cch hc Ting Anh hiu qu, v cng th thc hin theo khng bit bao nhiu ln. Nhng tt c cng ch c dm ba na thng l mnh li t b. Phi chng v mnh thiu kin tr, li bing, d nn lng? Mnh t vn bn thn v nhn ra nguyn nhn chnh l cha c phng php no ch cho mnh chnh xc nhng g mnh phi lm chinh phc Ting Anh, cha c phng php no ch ra nhng thnh qu m mnh c th s t c sau mi giai on t l ng lc gip mnh phn u n cng. Cho n khi Mnh vn nh nh in ln , tnh c mnh ln mng tm kim cch hc Ting Anh dn mnh ti topic Cch hc Ting Anh hiu qu nht ca Doremon trn HVA. Mnh mng r ht to ln nh khi xa Acsimet ku Eureka khi ng tm 10. ra lc hp dn. Mnh bit rng y chnh l phng php hc Ting Anh m mnh mong i by lu nay. Mu trong ngi mnh nh si ln, tim mnh p thnh thch Mnh c nghin, c ngu ht mi my page ca topic, mc k gi cm tra ang n v ci bng ca mnh ang biu tnh d di. Ngay ngy hm sau, mnh ln cho mnh mt bng k hoch hc Ting Anh, download cc ti liu bt u cho hnh trnh tr thnh Master Ting Anh theo cch ca Doremon. T n nay, d thi gian cha phi l di (mi ch c 3 thng) nhng mnh khng b mt ngy no, vn cm ci, mit mi hc nghe, hc pht m, hc c v xem

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Bí Quyết Học Tiếng Anh Của Mc Kênh 8 Ielts Trần Khánh Vy
  • Khánh Vy Chia Sẻ Cách Học Từ Mới Tiếng Anh Qua Những Con Số Thần Thánh
  • Cách Luyện Nghe Tiếng Anh Hiệu Quả Khi Ngủ Liệu Có Thật?
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Ielts Hiệu Quả Cho Người Mới Mất Gốc
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Học Tiếng Anh Ielts Cấp Tốc Hiệu Quả
  • Tin tức online tv