Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)

--- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  •  1.Phương pháp vấn đáp, đàm thoại trong giảng dạy là gì?

    2. Các loại vấn đáp

    Có 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi

    • Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do

      giáo viên

      đặt ra chỉ yêu cầu

      học sinh

      nhắc lại kiến thức

    • Vấn đáp giải thích minh họa được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra có kèm theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ
    • Vấn đáp tìm tòi ( hay vấn đáp phát hiện) là loại vấn đáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò

    3. Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp

    • Ưu điểm

    Rèn luyện tư duy cho học sinh qua các tài liệu có sẵn hoặc do học sinh tự tìm tòi

    Kích thích tính tích cực của học sinh trong học tập

    Bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời cho học sinh một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích

    Tạo tương tác hai chiều cho cả giáo viên và học sinh giúp giáo viên điều chỉnh bài giảng của mình cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

    Theo dõi sát quá trình học tập của học sinh

    • Nhược điểm

    Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt.

     

    CÁC DỊCH VỤ CỘNG THÊM NGOÀI DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÓ NHU CẦU

    • Dịch vụ cho thuê máy tính
    • Dịch vụ cho thuê biển thông báo sự kiện
    • Dịch vụ cho thuê wifi di động
    • Dịch vụ camera di động
    • Dịch vụ phòng chờ
    • Dịch vụ lễ tân
    • Dịch vụ văn phòng

    Liên hệ tư vấn và đặt phòng:

    HOTLINE: 0915.259.497

    TẦNG 7 – TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI VÂN HỒ – SỐ 51 LÊ ĐẠI HÀNH – HAI BÀ TRƯNG – HÀ NỘI

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • 5 Cách Uống Nước Giảm Cân Siêu Tốc Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Đây là phương pháp mà giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.

    Theo cô Lê Thị Hoa, phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh.

    Từ kinh nghiệm bản thân, cô Lê Thị Hoa chia sẻ các phương pháp vấn đáp hiệu quả trong dạy học Văn và những lưu ý với các phương pháp này.

    Vấn đáp tái hiện

    Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Vấn đáp tái hiện có thể xem là bước đầu khi đi sâu tìm hiểu, khám phá, phát hiện giá trị của văn bản văn học. Đây còn là cơ sở để giáo viên đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề nhằm hướng dẫn, giúp HS phát hiện giá trị, vẻ đẹp của văn bản văn học.

    Vấn đáp giải thích, chứng minh

    GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi yêu cầu HS phải tư duy, biết vận dụng các thao tác lập luận giải thích(dùng lí lẽ, lí giải nội dung, bản chất của vấn đề để mọi người cùng hiểu vấn đề ), phân tích, chứng minh ( chia tách đối tượng thành từng khía cạnh, từng phần xem xét đánh giá, kết hợp dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đối tượng ).

    Với phương pháp này, GV tổ chức hướng dẫn HS đi sâu khám phá các giá trị của tác phẩm văn học nay bản chất vấn đề của bài học.

    Tuy nhiên vấn đề đặt ra là GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp giải thích, chứng minh như thế nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt.

    Theo kinh nghiệm của cô hoa, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài học.

    Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ, vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt… Trên cơ sở đó GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp .

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: Có ý kiến nhận xét cho rằng : Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?

    Kết quả HS trả lời: Sông Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa…

    Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu… Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi…

    Vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    Đây là dạng câu hỏi vấn đáp đòi hỏi HS không chỉ biết giải thích, chứng minh mà hơn thế phải biết khái quát, phát hiện ra bản chất của vấn đề, tầng lớp nghĩa ẩn của văn bản văn học, hơn thế HS phát hiện ra những tầng nghĩa mới.

    Vận dụng những câu hỏi vấn đáp ở mức độ này, đòi hỏi GV phải lưu ý tới mục đích, hình thức hỏi tránh đưa ra những câu hỏi mang tính chất đánh đố HS, đặc biệt phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận (HS khả năng nhận thức, tư duy).

    Khi đặt ra câu hỏi này GV thường hướng tới đối tượng là HS khá, giỏi nhằm phát huy khả năng nhận thức, tư duy, sáng tạo của các em. Tuy nhiên GV có thể đưa ra câu hỏi dẫn dắt gợi mở nhằm giúp các em có sức học trung bình cũng có thể khám phá, phát hiện và trả lời.

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu mạch cảm xúc, bố cục của văn bản văn học GV nên đặt câu hỏi dạng này.

    Ví dụ khi tìm hiểu bố cục bài thơ Tây Tiến(Quang Dũng), GV nêu câu hỏi: Sau khi nghe xong bài thơ, em hãy căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ cho biết bài thơ chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của từng đoạn?

    Những bước cơ bản tổ chức dạy học vấn đáp

    Theo cô Lê Thị Hoa, để tổ chức một giờ học vấn đáp hoàn chỉnh trong dạy văn, GV có thể tiến hành theo một số bước cơ bản sau:

    Thứ nhất: Xác định vấn đề cần vấn đáp (đàm thoại). Thông qua việc hướng dẫn đọc, GV phải hướng dẫn hay gợi ý cho HS những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu chứa đựng nội dung bao quát cơ bản để trong quá trình đọc HS cảm nhận được vấn đề mình cần phải trả lời hay tìm hiểu trong giờ học đó.

    Vấn đề đưa ra vấn đáp với HS có khi chỉ là một hình ảnh, một chi tiết, một khía cạnh nội dung hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm. Nhưng chi tiết hoặc hình ảnh đó phải tiêu biểu, đóng vai trò then chốt mà qua đó giúp HS nắm được tư tưởng của đoạn trích hoặc tác phẩm.

    Thứ hai: Hướng dẫn học sinh vấn đáp. Đây là một việc làm quan trọng của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính.

    Trong thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.

    “Trong giờ học văn, giáo viên (GV) phải là người điều khiển, hướng dẫn để học sinh (HS) tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng… Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể. GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học”. Cô Lê Thị Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp
  • Tham Vấn Là Gì? Tìm Hiểu Tiến Trình, Phương Pháp Tham Vấn Tâm Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Gia Tư Vấn Cách Khắc Phục Da Lão Hóa Sớm
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Đang Vướng Phải Cản Trở Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Làm Văn Thpt
  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề
  • Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống
  • Tham vấn chính là thuật ngữ được nhiều người tìm hiểu bởi đây là một nghề rất có ích trong xã hội hiện đại. Vậy, tham vấn là gì? Hãy tìm hiểu rõ về khái niệm tham vấn ngay sau đây:

    Tham vấn chính là một quá trình trợ giúp tâm lý con người, trong đó nhà tham vấn sử dụng chính những kiến thức, áp dụng các kỹ năng chuyên môn và thêm vào đó là thái độ nghề nghiệp để có thể thiết lập được các mối quan hệ bổ trợ tích cực với thân chỉ của mình. Nhằm giúp đỡ thân chủ có thể nhận thức được hoàn cảnh của vấn đề để có thể thay đổi tích cực về mặt cảm xúc, suy nghĩ và hành động, tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhất để giải quyết các vấn đề của chính mình.

    Tham vấn giúp thân chủ giảm bớt được các cảm xúc tiêu cực ngay khi họ đang phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống của họ. Đồng thời tham vấn sẽ giúp cho thân chủ tăng cường sự hiểu biết về bản thân và nhận thức được bản thân mình chinh là nguồn lực để giúp đỡ chính mình.

    Đồng thời, tham vấn giúp cho việc giải quyết vấn đề về mặt tâm lý hiệu quả, nâng cao sự tự tin cho các thân chủ bằng cách đưa ra những quyết định hết sức lành mạnh và thực hiện những quyết định đó một cách dễ dàng. Giúp thân chủ có khả năng ứng phó được với hoàn cảnh hiện tại đang có vấn đề, từ đó mang đến cho họ khả năng giải quyết vấn đề trong tương lai.

    Các ca tham vấn tâm lý sẽ giúp cho các thân chủ nhận thấy được rõ hơn vấn đề mà mình đang gặp phải, mặc dù trước kia họ không thể nào tự mình nhận thấy được. Từ đó, thân chủ có thể nhìn thấu vấn đề của mình để có thể tự đưa ra sự lựa chọn và quyết định dưới sự hỗ trợ và định hướng của nhà tham vấn.

    Tham vấn là một ngành nghề đại diện cho sự hợp nhất và hội tụ của nhiều yếu tố ảnh hưởng như phong trào đấu tranh để có được những biện pháp điều trị nhân đạo cho bệnh nhân tâm thần từ thế kỷ XIX tại Pháp, phân tâm học-Freud; những khảo cứu khoa học và phương pháp tiếp cận hành vi; chất lượng khoa học các trắc nghiệm tâm lý; tâm lý học hiện sinh; tâm lý học nhân văn và những thành tựu rõ ràng của lĩnh vực hướng dẫn tư vấn nghề

    Bản chất của tâm lý học tham vấn: Bản chất của hoạt động tham vấn tâm lý (hay còn gọi là ca tham vấn tâm lý): là một tiến trình kéo dài có mở đầu, diễn biến và kết thúc. Tiến trình ấy không chỉ đơn giản là một hay hai buổi gặp mặt, làm việc. Đó cũng không phải đơn thuần chỉ ở trong khoảng thời gian và không gian thân chủ và nhà tham vấn gặp gỡ mà nó là cả một quá trình có sự tác động từ cả hai phía nhằm tạo nên sự thay đổi và phát triển của chính bản thân người thân chủ.

    Việc làm Giáo dục – Đào tạo

    Khi nào cần tới tham vấn gia đình? Khi 1 hoặc nhiều gia đình trong cùng khu đang có sự thay đổi về nếp sống hàng ngày của gia đình, những áp lực đang diễn ra gây tác động tiêu cực đến gia đình. Những tác động có thể kể tới như sự gần gũi giữa các thành viên trong gia đình, vai trò của các thành viên, nguyên tắc của gia đình, cách thức giao tiếp, Những vấn đề này đang diễn ra một cách lộn xộn dẫn tới sự xáo trộn và mất cân bằng trong gia đình.

    Để cải thiện và tiến hành tham vấn thì chuyên viên tham vấn có thể gặp mặt toàn bộ các thành viên trong gia đình. Các vấn đề họ cần giải quyết như: tham vấn về việc làm cha làm mẹ, về những mâu thuẫn giữa các anh chị em, những thành viên mới của gia đình, chuyển nhà,…

    Khi một cá nhân bất kỳ gặp phải vấn đề trong cuộc sống, những áp lực và những thách thức trong cuộc đời thì họ cần tới tham vấn cá nhân. Các nhà tham vấn sẽ giúp họ nhận thức được sự trải nghiệm của bản thân mình trong suốt khoảng thời gian khó khăn, thách thức của cuộc đời.

    Tham vấn cá nhân sẽ giúp cho cá nhân đó có khả năng đương đầu với những thách thức khác nhau trong cuộc sống, kiềm chế cảm xúc và làm chỉ chính mình. Một số ví dụ về tham vấn cá nhân như: giải quyết những cơn giận giữ, trầm cảm, stress, lo âu, những khó khăn học đường (Tham vấn học đường)…

    Trên thực tế, bất cứ cặp đôi nào cũng sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn gần gũi, xích mích, xa cách, lạnh nhạt… với các mức độ từ nhỏ nhặt, to dần rồi càng nghiêm trọng hơn như các hành vi gây hấn và bạo lực xảy ra. Lúc này rất cần tới sự trợ giúp của tham vấn hôn nhân hay tham vấn cặp đôi để giúp những xung đột này được giải quyết và có khả năng chữa lành vết thương mà các cặp đôi này mang đến cho nhau.

    Tham vấn nhóm cho phép một người tìm ra rằng họ không cô đơn khi đối diện với thách thức của họ trong đời sống. Việc tham gia vào một nhóm chia sẻ chung vấn đề không chỉ tăng độ thấu hiểu của cá nhân về những khó khăn mà anh/cô ấy đang đương đầu mà còn là cơ hội cho nhiều giải pháp đa dạng.

    Bên cạnh những loại hình tham vấn này thì còn một số loại hình tham vấn khác có thể kể tới như: tham vấn nghiện, tham vấn cho trẻ em vị thành niên, tham vấn cộng đồng, tham vấn quân sự, tham vấn lão khoa.

    3. Tiến trình, phương pháp tham vấn là gì?

    Các bước trong tiến trình tham vấn tâm lý:

    Có 3 giai đoạn trong quá trình tham vấn tâm lý, đó là: Thiết lập các mối quan hệ, Khám phá ra các vấn đề của thân chủ và hỗ trợ thân chủ tìm kiếm các giải pháp.

    3.2.1. Tiếp xúc ban đầu (hay Lần gặp đầu tiên)

    Sau khi bạn có lịch hẹn, bạn và Nhà tham vấn sẽ gặp gỡ và trao đổi tại phòng làm việc. Trong buổi gặp đầu tiên, bạn sẽ chia sẻ với nhà tham vấn một số thông tin cá nhân cơ bản về bạn và những băn khoăn, rắc rối… bạn đang gặp phải. Bạn cũng sẽ hiểu đôi chút về nhà tham vấn làm việc với bạn. Nhà tham vấn sẽ lắng nghe và chia sẻ cảm xúc cùng bạn về những điều đang khiến bạn phải phiền lòng, khó khăn hay đau khổ. Có thể bạn đã phải sống chung với những vấn đề này hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng năm và nhiều hơn thế. Vậy nên, rất mong bạn hãy kiên trì để bạn và nhà tham vấn khám phá vấn đề mà bạn đang gặp phải. Có thể bạn khó mà cảm thấy nhẹ nhõm trong phút chốc và có ngay một giải pháp cho khó khăn của bạn chỉ trong vài chục phút gặp gỡ đầu tiên ấy.

    3.2.2. Tìm hiểu thông tin và xác định vấn đề

    Sau buổi gặp đầu tiên, thông thường Nhà tham vấn và bạn sẽ trao đổi thêm 2 – 4 buổi để xác định vấn đề bạn đang gặp phải. Để giải quyết bất kỳ vấn đề gì chúng ta cần phải nhận thức, hiểu biết về nó. Càng nhận thức rõ ràng về vấn đề bao nhiêu thì giải pháp đưa ra càng thích hợp bấy nhiêu.

    Sự cởi mở, hợp tác chia sẻ về bản thân bạn trong giai đoạn này là rất quan trọng. Bạn cần hiểu rằng Bạn chính là chuyên gia về chính mình. Nhà tham vấn tâm lý sẽ giúp bạn khám phá thế giới của bạn tốt nhất khi có bạn đồng hành một cách tích cực.

    Vào cuối giai đoạn này, Nhà tâm lý sẽ trao đổi với bạn những đánh giá, chẩn đoán của họ. Bạn sẽ biết vấn đề của bạn là gì, nó xuất phát từ đâu và thời gian cho quá trình can thiệp tham vấn/trị liệu tiếp theo là bao lâu.

    3.2.3. Lựa chọn giải pháp và hành động

    3.2.4. Đánh giá và kết thúc

    Ngay sau khi bạn đã hoàn thành “chiến lược” thay đổi thì Nhà tham vấn âm lý sẽ trợ giúp bạn nhìn nhận kết quả bạn đã đạt được, kết quả ấy có ý nghĩa như thế nào với bạn và vấn đề của bạn. Liệu bạn có cần một chiến lược thứ 2,3 nữa không? Liệu bạn có cần tiếp tục được trợ giúp nữa không? Quá trình tham vấn đã giúp bạn trở nên như thế nào? Những đề xuất và đánh giá của bạn đối với dịch vụ tham vấn?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Nhược Điểm Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường
  • Dự Báo Cầu Thị Trường Bằng Phương Pháp Lấy Ý Kiến Chuyên Gia
  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học? Ý Nghĩa?
  • Chương 3: Các Phương Pháp Dự Báo Định Tính
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • GD&TĐ – Cô Vũ Thị Thu Hương – giáo viên Trường THCS Giảng Võ (Hà Nội) – cho rằng: Kiểm tra, đánh giá bằng vấn đáp thông qua các bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhanh chóng củng cố khắc sâu kiến thức bài học, từ đó vận dụng kiến thức vào bài tập một cách tốt nhất.

    Những lưu ý khi thực hiện kiểm tra bằng vấn đáp

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho biết, mỗi học kì, mình tổ chức hai lần kiểm tra vấn đáp cho học sinh, vào giữa học kì và trước kì thi học kì hai tuần.

    Mục đích giúp học sinh tự hệ thống lại được toàn bộ kiến thức đã học để chuẩn bị cho các kì kiểm tra; thấy được những nhận thức của mình đúng hay chưa, từ đó tự điều chỉnh bản thân để đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra.

    Trước khi kiểm tra vấn đáp, theo cô Hương, giáo viên nên đưa ra yêu cầu học sinh ôn lại toàn bộ những kiến thức đã được học. Đặc biệt nhấn mạnh: Phải hiểu kiến thức chứ không phải học vẹt.

    Đồng thời bản thân giáo viên cũng phải chuẩn bị những bài tập lý thuyết sao cho phù hợp với những nội dung đã được học.

    Hình thức kiểm tra: Giáo viên lần lượt từng học sinh vào bốc thăm, mỗi em được chuẩn bị 5 phút (Trong lúc một học sinh trả lời, một học sinh khác chuẩn bị).

    Để khuyến khích học sinh, giáo viên có thể lấy làm điểm kiểm tra miệng. Những học sinh yếu kém không trả lời được câu hỏi, giáo viên cho bốc thăm câu hỏi phụ – chỉ là những bài toán lý thuyết đơn giản (như loại bài điền vào chỗ trống, trả lời những câu hỏi lý thuyết đơn giản).

    Từ kết quả của buổi kiểm tra, giáo viên sẽ điều chỉnh, uốn nắn học sinh những lỗi hay mắc. Cũng qua đó, giáo viên đồng thời đánh giá bản thân mình đã hoàn thành trách nhiệm hay chưa, để đưa ra các phương pháp điều chỉnh kịp thời.

    Hệ thống bài toán giúp kiểm tra kiến thức học sinh toàn diện

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho rằng, các bài toán trắc nghiệm sẽ giúp giáo viên kiểm tra kiến thức học sinh được rộng hơn, sâu hơn và nhanh hơn, đáp ứng mục đích của giáo dục là cung cấp cho học sinh kiến thức một cách đầy đủ và toàn diện.

    Chính vì vậy, cô Hương chia sẻ mình đã không ngừng học hỏi đồng nghiệp, tham khảo sách và đã tìm tòi được một số bài toán trắc nghiệm trong quá trình giảng dạy.

    Các đề bài toán cô Hương trình bày gồm 4 dạng: Các bài tập dạng trắc nghiệm đúng sai; Các bài tập dạng trắc nghiệm điền khuyết; Các bài tập dạng trắc nghiệm ghép đôi; Các bài tập dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn.

    Trắc nghiệm đúng sai là dạng bài toán về cả lý thuyết và bài tập. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải nắm chắc và hiểu sâu kiến thức từ đó tìm được cách lựa chọn của mình cho đúng và phù hợp.

    Các bài toán điền vào chỗ trống cho thích hợp: Đây là dạng bài toán về lý thuyết. Mục đích của bài toán giúp học sinh tiếp nhận và củng cố kiến thức một cách vững chắc. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải chăm học, học đều và tránh được tình trạng học vẹt.

    Bài toán dạng ghép nối là dạng toán giúp học sinh củng cố kiển thức đã học một cách chắc chắn. Học sinh cần phải học kỹ lý thuyết, nắm chắc kiến thức cơ bản mới không mắc phải các sai lầm khi làm bài.

    Bài toán lựa chọn kết quả: Đây là dạng bài toán yêu cầu học sinh phải nắm chắc kiến thức để vận dụng vào bài tập. Trong hàng loạt các đáp số, học sinh phải có sự kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và bài tập. Đôi khi học sinh phải dùng phương pháp suy luận (tính toán) để giải rồi lựa chọn kết quả.

    Đây là phương pháp giáo viên dùng để ôn tập sau bài học,cuối chương học hay kiểm tra học sinh trong các bài định kỳ.

    Những dạng bài tập nói trên, theo cô Hương, có thể giúp học sinh có thể tiếp nhận một cách thoải mái, dễ dàng kiến thức, từ đó vận dụng kiến thức đã học để giải ngay các bài tập trên lớp một cách thành thạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hướng Dẫn Học Toán Ucmas Dễ Học Và Dễ Cho Bé Và Mẹ
  • Lập Tiến Độ Dự Án Theo Phương Pháp Đường Găng (Cpm) Và Pert
  • Trung Tâm Dạy Toán Tính Nhẩm Nhanh Uy Tín, Chất Lượng
  • Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 9514:2012 Về Thực Phẩm
  • Phỏng Vấn Star Là Gì? Sử Dụng Phương Pháp Star Để Tỏa Sáng

    --- Bài mới hơn ---

  • Trả Lời Phỏng Vấn Theo Mô Hình Star
  • Phương Pháp Trả Lời Phỏng Vấn “star” Biến Ứng Viên Thành “ngôi Sao” Ngay Lần Đầu Tiên Gặp Nhà Tuyển Dụng
  • Chia Sẻ Cách Trả Lời Thư Mời Phỏng Vấn Bằng Tiếng Anh Ấn Tượng
  • Cách Trả Lời Thư Mời Phỏng Vấn Bằng Tiếng Anh Ấn Tượng
  • Cách Viết Thư Cảm Ơn Sau Phỏng Vấn Bằng Tiếng Anh
  • Phương pháp phỏng vấn STAR được nhiều ứng viên sử dụng trong các cuộc phỏng vấn xin việc làm. Nó ít nhiều đã đem lại thành công cho họ. Hôm nay, chúng tôi xin chia sẻ với các bạn phương pháp này.

    Có nhiều cách để nhà tuyển dụng tiếp cận cuộc phỏng vấn. Một trong những định dạng phổ biến nhất bạn có thể gặp phải là cuộc phỏng vấn về hành vi. Trong cuộc phỏng vấn dạng này, các câu hỏi về kinh nghiệm trong những tình huống nhất định, cả thực tế và giả thiết, để đánh giá năng lực và nhân cách của bạn. Các câu hỏi phỏng vấn hành vi là dành cho ứng viên thể hiện hơn là chỉ nói, nhà tuyển dụng sẽ xem xét mức độ phù hợp với vị trí.

    Phỏng vấn STAR là gì?

    Phỏng vấn STAR là phương pháp giúp ứng viên giải quyết các câu hỏi phỏng vấn hành vi. STAR là viết tắt của S – Situation (Tình huống); T – Task (Nhiệm vụ); A – Action (Hành động); R – Result (Kết quả). Các câu hỏi phỏng vấn hành vi thường xoay quanh vấn đề năng lực, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc, các câu hỏi thường không khó nhưng để trả lời mạch lạc và đầy đủ lại không hề dễ. Chính vì vậy phương pháp STAR ra đời để giải quyết thách thức ứng viên gặp phải.

    Ông George Dutch, một chuyên gia về nghề nghiệp tại chúng tôi nói “Trong một cuộc phỏng vấn dựa trên hành vi, một ứng viên không thể chỉ đơn giản nói rằng cô ấy là một người xây dựng đội ngũ tuyệt vời. Cô ấy phải cung cấp những ví dụ cụ thể về các đội mà cô ấy đã xây dựng. Những cách cô ấy đã vượt qua được xung đột trong nhóm và làm thế nào cô ấy đã dẫn dắt đội của cô ấy đạt được mục tiêu.”

    Các câu hỏi trong cuộc phỏng vấn về hành vi được điều khiển bởi các năng lực hoặc kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc. Nhà tuyển dụng sẽ xác định những gì cần thiết cho sự thành công trong vị trí đó và tìm kiếm nhân viên tương lai để chứng minh những đặc điểm này trong phản ứng của họ. Một số ví dụ về các loại câu hỏi phỏng vấn mà họ có thể yêu cầu bao gồm:

    • Cho tôi biết về gia đoạn khi bạn phải giải quyết vấn đề trong một khoảng thời gian ngắn?
    • Cho tôi một ví dụ khi bạn không đồng ý với lãnh đạo?
    • Bạn đã mắc sai lầm gì và bạn học được gì từ nó?
    • Cho tôi biết về thời gian bạn phải sử dụng để đàm phán đạt được kết quả mong muốn?

    Mặc dù các câu hỏi có vẻ dễ dàng, nhưng cung cấp một câu trả lời mạch lạc có thể là thách thức trong lúc nóng vội. Đây là lí do phương pháp STAR ra đời. STAR là viết tắt của Situation, Task, Action, Result, và nó là một kế hoạch tuyệt vời để cấu trúc câu trả lời của bạn trong một cuộc phỏng vấn về hành vi.

    Làm thế nào để sử dụng phương pháp phỏng vấn STAR

    Câu hỏi ví dụ: ” Hãy cho tôi biết về khoảng thời gian khi bạn tự mình hành động để giải quyết vấn đề?”

    S – Situation (Tình huống): Mô tả bối cảnh câu chuyện của bạn.

    “Cả nhóm đã làm việc chăm chỉ để thuyết trình cho khách hàng quan trọng trong vòng một giờ.”

    T – Task (Nhiệm vụ): Giải thích những gì cần thiết.

    “Tôi đã hoàn thiện các trang trình bày cho bài thuyết trình khi tôi nhận thấy rằng một mối quan tâm quan trọng của khách hàng đã không được giải quyết đúng trong các trang trình bày.”

    A – Action (Hành động): Cho biết bạn đã làm những bước nào.

    “Tôi đã thêm một trang trình bày mới với thông tin thích hợp mà tôi rút ra từ một báo cáo trước đó chúng tôi đã làm. Sau đó, tôi đề nghị trình bày nó một cách nhanh chóng khi nó được đưa ra trong cuộc họp. “

    R – Result (Kết quả): Mô tả những gì đã xảy ra do hành động của bạn.

    Bởi vì những loại câu hỏi này đòi hỏi các câu trả lời chuyên sâu, dành nhiều thời gian trước khi các cuộc phỏng vấn đến để các câu trả lời mà bạn có thể sử dụng.Ericka Spradley, Chủ tịch Tư vấn Hướng nghiệp khuyên bạn nên xem xét cẩn thận công việc để xác định các kỹ năng cần thiết cho vai trò và chuẩn bị các ví dụ thể hiện sự thông thạo của bạn về những kỹ năng đó.Cô ấy khuyên bạn nên viết những ví dụ này xuống, và thậm chí ghi hình khi bạn ghi lại các câu trả lời STAR.

    Việc bạn chuẩn bị cẩn thận, bạn sẽ tự tin hơn trong câu trả lời. Rice nói “Hãy tích cực hành động trong suốt quá trình trả lời của bạn. Và đừng tạo ra một ví dụ thể hiện không đáng tin cậy.Nếu bạn không nghĩ ra một tình huống tốt để sử dụng ngay tại chỗ, hãy xin người phỏng vấn một chút thời gian để suy nghĩ về một câu trả lời có tổ chức tốt, điều đó sẽ chứng tỏ năng lực và kỹ năng của bạn.”

    Theo Lisa Shuster, Chủ tịch Công ty Nguồn nhân lực WorkMoreHuman, các nhà tuyển dụng đặt câu hỏi hành vi trong các cuộc phỏng vấn bởi vì nó cho phép họ “đánh giá năng lực và kỹ năng của ứng viên dựa vào bối cảnh kinh nghiệm trong quá khứ của họ.”

    Một người tìm việc tham gia vào một cuộc phỏng vấn khi đã trang bị một vài ví dụ điển hình và cấu trúc câu trả lời theo phương pháp STAR sẽ tỏa sáng trong các cuộc phỏng vấn này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Quản Trị Thời Gian Pomodoro
  • Pomodoro: Phương Pháp Siêu Hiệu Quả Để Tăng Năng Suất Làm Việc
  • Top Những Ứng Dụng Pomodoro Trên Điện Thoại Và Máy Tính
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Pomodoro Giúp Tập Trung, Tăng Hiệu Suất
  • Giới Thiệu, Hưỡng Dẫn Và Sử Dụng Pomodoro Sao Cho Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Vấn đáp là phương pháp giáo viên đặt câu hỏi và học sinh ưả lời câu hỏi, nhằm rút ra những kết luận, những ưi thức mới mà học sinh cần nắm, hoặc nhằm tổng kết, củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà học sinh đã học.

    Tuỳ theo vị trí của phương pháp vấn đáp trong quá trình dạy học, cũng như tuỳ theo mục đích, nội dung của bài, người ta phân biệt những dạng vấn đáp cơ bản sau:

    Vấn đáp gợi mở là hình thức giáo viên khéo léo đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sính rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát được hoặc những tài liệu đã học được, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới.

    Xôcơrat (469 – 399) trước Công nguyên, một triết gia Hy Lạp cổ đại đã đề xướng ra phương pháp này mà ông đã ví với thuật đỡ đẻ: do sự dẫn dắt của giáo viên, tự học sinh tìm ra chân lí.

    VD: Muốn hướng dẫn học sinh tìm ra công thức về bình phương của Sin và Cos của một góc: (lượng giác cấp XII). Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đi từ định lí Pitago về quan hệ giữa cạnh huyền và hai cạnh góc vuông: (hệ thức lượng trong một tam giác vuông ở cấp II).

    Hình thức này có tác dụng khêu gợi tính tích cực của học sinh rất mạnh, nhưng cũng đòi hỏi giáo viên phải khéo léo, tránh đi đường vòng, lan man, xa vấn đề.

    Được sử dụng sau khi giảng tri thức mới, giúp học sinh củng cố được những tri thức cơ bản nhất và hệ thống hoá chúng: mở rộng và đào sâu những tri thức đã thu lượm được, khắc phục tính thiếu chính xác của việc nắm tri thức.

    Vấn đáp tổng kết được sử dụng khi cần dẫn dắt học sinh khái quát hoá, hệ thống hoá những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một môn học nhất định.

    Phương pháp này giúp học sinh phát triển năng lực khái quát hoá, hệ thống hoá, tránh nắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc – giúp cho các em phát huy tính mềm dẻo của tư duy.

    Vấn đáp kiểm tra được sử dụng trước, trong và sau giờ giảng hoặc sau một vài bài học giúp giáo viên kiểm tra tri thức học sinh một cách nhanh gọn kịp thời để có thể bổ sung củng cố tri thức ngay nếu cần thiết. Nó cũng giúp học sinh tự kiểm tra tri thức của mình.

    Như vậy là tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, giáo viên có thể sử dụng 1 trong 4 hoặc cả 4 dạng phương pháp vấn đáp nêu trên. Ví dụ khi dạy bài mới giáo viên dùng dạng vấn đáp gợi mở, sau khi đã cung cấp tri thức mới dùng vấn đáp củng cố đề đảm bảo học sinh nắm chắc và đẩy đủ tri thức. Cuối giờ dùng vấn đáp kiểm tra để có thông tin ngược kịp thời từ phía học sinh.

    Néu được vận dụng khéo léo, phương pháp vấn đáp sẽ có những ưu điểm sau:

    – Kích thích tính cực độc lập tư duy ở học sinh để tìm ra câu trả lời tối ưu trong thời gian nhanh nhẩt.

    – Bồi dưỡng học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói; bồi dường hứng thú học tập qua kết quả trả lời.

    – Giúp giáo viên thu tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh gọn kể kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình, mặt khác có điều kiện quan tâm đến từng học sinh, nhất là những học sinh giỏi và kém.

    – Tạo không khí làm việc sôi nổi, sinh động trong giờ học.

    – Neu vận dụng không khéo léo, phương pháp vấn đáp có thể có ít nhiều hạn chế:

    – Dễ làm mất thời gian ảnh hưởng không tốt đến kế hoạch lên lớp cũng như mất nhiều thời gian để soạn hệ thống câu hỏi.

    – Nếu không khéo léo sẽ không thu hút được toàn lớp mà chỉ là đối thoại giữa giáo viên vả một học sinh.

    Vấn đề then chốt của phương pháp vấn đáp là vấn đề đặt câu hỏi – đây vừa là một vẩn đề khoa học, vừa là một nghệ thuật. Đề học sinh phát huy được tính tích cực và trả lời đúng vào vấn đề thỉ:

    – Giáo viên phải chuẩn bị tốt những câu hỏi sẽ đặt ra cho học sinh: xác định rõ mục đích, yêu cầu của vấn đáp, nội dung câu hỏi, dự kiến trả lời, đối tượng sẽ hỏi.

    – Đặt câu hỏi tốt: nội dung câu hỏi phải chính xác, sát trình độ học sinh, hình thức phải ngắn gọn dễ hiểu.

    – Hướng dẫn học sinh trả lời tốt: bình tĩnh lắng nghe và theo dõi câu trả lời của học sinh, hướng dẫn tập thể nhận xét bổ sung, rồi giáo viên mới tổng kết, chú ý động viên những em trả lời tốt và có cố gắng phát biểu, dù chưa đúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp
  • Mẹo Hướng Dẫn Học Toán Ucmas Dễ Học Và Dễ Cho Bé Và Mẹ
  • Lập Tiến Độ Dự Án Theo Phương Pháp Đường Găng (Cpm) Và Pert
  • Trung Tâm Dạy Toán Tính Nhẩm Nhanh Uy Tín, Chất Lượng
  • Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Giải Đáp Và Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Vận Dụng Quy Tắc Phân Biệt D/gi; Hỏi
  • Phân Biệt L/n, Ng/ngh Và G/gh Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Các Quy Tắc Phân Biệt Chính Tả Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Sự Khác Nhau Giữa Cua Và Ghẹ
  • Phân Biệt Cua Và Ghẹ, Ăn Loại Nào Sẽ Tốt Hơn
  • và [Given name] là gì

    First Name là gì?

    Chúng ta thường đặt ra câu hỏi rằng là First Namelà họ hay tên. Từ “First” có nghĩa là đầu tiền, chỉ vị trí đầu của cụm từ đó, mà trong tiếng Anh thì tên gọi sẽ đứng trước rồi mới họ sau. Vậy nên có thể suy ra được là First Name sẽlà tên của bạn.

    First name hay còn được gọi với tên khác là forename. Đôi khi chúng ta còn thấy first name cũng có tên gọi khác là Christian name. Ở Việt Nam, first name có thể hiểu đơn giản đó là tên của một người. VD:

    • Tên Việt Nam: Vũ Đức Khánh.
    • First name: Khánh.

    Last Name là gì?

    Last name hay còn được gọi là family name hoặc surname. Family name là tên họ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác cùng một dạng giống như “họ” trong tiếng Việt.Ví dụ “Vũ” trong “Vũ Đức Khánh” chính là last name.

    Có một điểm khác biệt giữa last name ở các nước châu Á ví dụ như Việt Nam hay Trung Quốc so với các nước phương Tây là người con gái phương Tây có thể thay đổi family name của mình bằng family name của người chồng mà không hề có cố định giống như các nước Châu Á .

    Middle Name là gì?

    Trong một cụm từ thì từ “Middle”có nghĩa là vị trí ở giữa của cụm đó. Middle name có nghĩa là tên đệm, tên lót (ví dụ “Đức” trong “Vũ Đức Khánh” chính là middle name). Trong giao tiếp hằng ngày thường thì Middle name không cần viết đầy đủ mà chỉ viết tắt in hoa chữ cái đầu hoặc thậm chí có thể lược bỏ .

    Given name là gì ?

    Thực chất given namecó ý nghĩa tương đồng với First Name cũng chỉ tên của người dùng nhưng khác biệt ở chỗ nó có thêm chữ lót hay tên đệm kèm theo tên khi viết hoặc đọc.

    Given nameđộ thông dụng ở nước ngoài không được cao cho lắm. Nhưng ở những mục đăng ký nếu không có Middle Name thì bạn nên dùng “Given Name” thay cho First name để đảm bảo đầy đủ cho thông tin của mình.

    Given Name: Tên đệm + Tên.

    Ví dụ: Họ và tên Vũ Đức Khánh thì Given Name là “Đức Khánh”.

    Preferred first name là gì?

    Preferred namecó nghĩa là biệt danh hay tên gọi riêng, tên gọi ở nhà . Tên này thường do bố mẹ, anh chị em hay các cô dì, chú bác đặt trong nhà cho dễ nhớ, dễ gọi tên. Nhưng trên mặt giấy tờ thì tên này thường không có giá trị.

    Khi điền họ và tên chính xác trong tiếng Anh thì thông thường là bạn sẽ điền họ và tên không dấu và không phân biệt chữ thường hay chữ hoa. Quy tắc cơ bản để điền họ và tên trong tiếng Anh là tên trước họ sau, và tên lót ở giữa.

    Đối với khung điền loại 2 ô khai báo First Name + Last Name

    Đối với các cơ quan nước ngoài thì Tên sẽ được hiện thị trước Họ trên dữ liệu nên khi điền sẽ có dạng sau:

    Tên: Vũ Đức Khánh

    • First Name: Khanh
    • Last Name: Vu Duc
    • Tên được hiển thị: Khanh Vu Duc

    Hoặc:

    Đối với khung điền 3 ô khai báo First Name + Middle Name + Last Name

    Đối với các cơ quan nước ngoài thì Tên sẽ được hiện thị trước Họ trên dữ liệu nên khi điền sẽ có dạng sau:

    Tên: Vũ Đức Khánh

    • First Name: Khanh
    • Middle name: Duc
    • Last Name: Vu
    • Tên được hiển thị: Khanh Duc Vu

    Như vậy bài viết trên đã hưỡng dẫn bạn đọc phân biệt được khái niệm Middle name, Surname, Given name, Last name, First name là gì. Với những thông tin hữu ích này bạn sẽ có thể hoàn thiện những thông tin trong hồ sơ nhằm giải quyết công việc của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Full Name Hay First Name, Last Name, Surname, Given Name, Family Name Là Gì?
  • Cách Điền Họ Tên Chính Xác Trong Tiếng Anh: First, Middle, Last, Sur, Given
  • Phân Biệt “to” Và “for” Để Hết Sợ Sai Ngữ Pháp
  • Nắm Vững Cách Dùng Enough Và Too, Đánh Tan Nỗi Lo Ngữ Pháp
  • Phương Pháp Nhận Biết Metan, Etilen, Axetilen Hay, Chi Tiết
  • Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề Là Gì? Áp Dụng Như Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs
  • Xu Hướng Dạy Học Tích Hợp Đang Thịnh Hành Hiện Nay Là Gì?
  • Hiệu Quả Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp
  • Phương Pháp Dạy Học Thực Hành
  • Lựa Chọn Phương Pháp Tổ Chức Dạy Học Thực Hành Nghề
  • Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đềsẽ giúp phát triển một số kỹ năng nghiên cứu khoa học hay các kỹ năng cơ bản của sinh viên, học sinh. Vậy phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là gì? áp dụng nó như thế nào sẽ là nội dung Gia sư Đăng Minh chia sẻ trong bài viết này.

    I. Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề Là Gì?

    Việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chính là giáo viên tạo ra các tình huống có vấn đềnhằm điều khiển các học sính giúp các em phát hiện vấn đề cũng như tự giác, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề đó một cách nhanh nhất, chính xác nhất. Qua đó giúp các em lĩnh hội tri thức và tự mình rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đạt được các mục tiêu học tập tốt nhất. Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề chính là việc giải quyết vấn đề được nêu ra, các tình huống, tư duy chỉ bắt đầu khi có vấn đề phát sinh mà thôi.

    Trong phương pháp này bắt buộc có các vấn đề, tình huống vấn đề, nó chính là một tình huống mà giáo viên đưa tới cho học sinh. Trong đó sẽ có những khó khăn mà các em học sinh không dễ dàng vượt qua, các em phải có quá trình tìm hiểu, phân tích, suy luận mới giải đáp được.

    II. Ưu Điểm Của Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề

    Có thể nói phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề trong toán tiểu học hay các bậc học khác mang những ưu điểm nổi trội. Đặc biệt, ngày càng nhiều trường học áp dụng phương pháp này trong giảng dạy.

    • Học sinh, thông qua giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra sẽ rèn luyện kỹ năng tư duy, phân tích, đánh giá. Nhờ đó học sinh lĩnh hội được nhiều kiến thức hơn. Không chỉ nằm ở việc tìm ra phương pháp giải quyết mà nó trở thành mục đích dạy và học, mục đích này được cụ thể hóa thành mục tiêu để các em có năng lực trong giải quyết vấn đề. Đây chính là năng lực các em học sinh phải có và hoàn thành tốt để thích ứng với sự phát triển của xã hội.
    • Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề càn giúp rèn luyện tư duy sáng tạo, tư duy phê phán cho mỗi học sinh. Các em trên cơ sở vốn kiến thức và kinh nghiệm sẽ xem xét và đánh giá được các vấn đề cần giải quyết.
    • Nhờ vào việc giải quyết các vấn đề mà các học sinh phát triển được khả năng xem xét, tìm tòi dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong quá trình tìm hiểu vấn đề, các học sinh còn có khả năng làm việc cá nhân, hợp tác làm việc nhóm, tìm tòi và trao đổi hay bàn luận với các bạn cùng nhóm để tìm ra cách thức giải quyết vấn đề nhanh nhất, hiệu quả nhất.

    III. Những Hạn Chế Của Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề

    Tuy có nhiều ưu điểm cũng như đang được ứng dụng rộng tại nhiều trường học trên cả nước. Thế nhưng, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề lại có những hạn chế:

    • Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề đòi hỏi các giáo viên phải dành nhiều thời gian tìm hiểu về phương pháp cũng như đòi hỏi năng lực sư phạm tốt, có tư duy, sáng tạo để tạo ra các vấn đề hay các tình huống tốt, tình huống có vấn đề.
    • Một tiết học có thể thực hiện bằng phương pháp học giải quyết vấn đề đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng, mất nhiều thời gian hơn. Bên cạnh đó, nó cần có sự định hướng tốt thì mới đảm bảo hiệu quả.

    Quy tình thực hiện các phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành các bước, mỗi bước có nội dung, yêu cầu cụ thể.

    1.Bước 1: Thâm nhập và phát hiện vấn đề

    Đây là bước đầu tiên để có vấn đề, yêu cầu của bước này là phát hiện vấn đề từ các tình huống gợi vấn đề được đặt ra. Tiếp theo đó là chính xác hóa tình huống, giải thích tình huống để hiểu đúng nhất vấn đề đặt ra. Sau cùng là phát biểu về vấn đề cũng như đặt mục tiêu để giải quyết vấn đề.

    2. Bước 2; Tìm cách giải quyết vấn đề

    Bước giải quyết vấn đề được cha ra làm các phần chính, mỗi phần có nhiệm vụ, mục tiêu riêng:

    • Phân tích vấn đề: Trong khâu phân tích vấn đề cần phân tích kỹ lưỡng để tìm ra mối liên hệ giữa các cần tìm và những cái đã biết. Để làm được điều này, cần dựa vào tri thức đã học hoặc liên tưởng tới kiến thức thích hợp.
    • Hướng dẫn học sinh tìm kiếm cách giải quyết: Nhờ việc đề xuất và thực hiện các hướng giải quyết vấn đề, người làm cần thu thập các thông tin, tài liệu, tổ chức các dữ liệu, tri thức hay sử dụng các phương pháp, tính toán suy luận như: đặc biệt hóa, quy lại về quen, tương tự hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, xem xét các mối liên hệ phục thuộc vào nhau, suy ngược lùi, suy ngược tiến, suy xuôi …..
    • Kiểm tra sự đúng đắn của các giải pháp: Giải pháp giải quyết vấn đề có thể đúng, thể sai, nếu không đúng ta lặp lại khâu phân tích, nếu đúng thì kết thúc vấn đề. Giải pháp khi được tìm ra sẽ có thể tìm kiếm các giải pháp khác và sau đó so sánh để tìm ra giải pháp phù hợp nhất.

    Ở bước trình bày giải pháp này, các học sinh phải trình bày, thuyết trình lại toàn bộ vấn đề rồi tới giải pháp. Nếu trong vấn đề là một đề bài có sẵn thì các em không cần trình bày lại nữa.

    4. Bước 4: Nghiên cứu sâu thêm giải pháp

    V. Một Số Lưu Ý Khi Thực Hiện

    • Các giáo viên bộ môn nên cho học sinh giải quyết cũng như phát hiện vấn đề ở một bộ phận trong nội dung học. Sự trợ giúp của giáo viên là cần thiết nhưng nhiều hay ít lại tùy thuộc độ khó của vấn đề. Điều này giúp học sinh có ý thức trong việc học tập.
    • Các học sinh phải cấu trúc lại cách nhìn với bộ phận tri thức còn lại nó không bằng con đường phát hiện và giải quyết vấn đề. Tùy vào môn học mà tỉ lệ vấn đề học sinh phát hiện cũng như giải quyết so với chương trình học và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể.
    • Giáo viên cần tổ chức cho học sinh các tình huống, giải quyết cũng như xử lý vấn đề. Các học sinh có thể cùng giải quyết 1 vấn đề, cần có cách giải quyết tối ưu với mỗi học sinh, sử dụng phương pháp động não để học sinh liệt kê các cách giải quyết.
    • Giáo viên đóng vai trò tìm hiểu cách tạo ra các tình huống, gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống đó, cũng đồng thời tạo ra điều kiện để học sinh tự lực giải quyết vấn đề: Lật ngược vấn đề, khái quát hóa, xeys tương tự, giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp, sữa chữa và phát hiện sai lầm, tìm lỗi sai trong lời giải …
    • Phát hiện và giải quyết các vấn đề bằng việc áp dụng các giai đoạn của các quá trình dạy học: Củng cố kiến thức, vận dụng các kiến thức cũng như kỹ năng. Đây là phương pháp áp dụng với mọi học sinh chứ không chỉ học sinh khá giỏi. Đối với các học sinh kém giáo viên cần kèm cặp và hướng dẫn nhiều hơn.

    Bình Luận Facebook

    Đánh giá bài viết!

    Tư vấn gia sư (24/7) 097.948.1988

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án 20 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tập Huấn Gdpt 2022 Môn Toán
  • Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Bọc Răng Sứ Zirconia?
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Năng Tư Vấn, Hỗ Trợ Sinh Viên
  • Khi Nào Bạn Nên Sử Dụng Phương Pháp Ngoại Khoa Trong Điều Trị Bệnh Trĩ
  • Tìm Việc Làm Theo Phương Pháp Của Chuyên Gia
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100