Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp Cho Kết Quả Chính Xác Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp Dạ Dày
  • Cách Xoa Bóp Bấm Huyệt Giảm Đau Nhức Mỏi Chân Hiệu Quả
  • Yết Giá Trực Tiếp (Direct Quote) Là Gì? Những Đặc Điểm Cần Lưu Ý
  • Cách Giải Rubik 3×3 Theo Zz Method
  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • 1. Khi nào thì người bệnh cần thực hiện phương pháp xét nghiệm HP?

    Những bệnh nhân được bác sĩ chỉ định nên làm xét nghiệm tìm vi khuẩn HP trong các trường hợp sau đây:

    • Bệnh nhân bị bệnh không ở mức cấp tính và có đủ sức khỏe để chờ đợi kết quả. Tùy vào từng trường hợp mà bác sĩ có thể chọn phương pháp nuôi cấy vi khuẩn, test chậm hơn. Nhằm đảm bảo không gây hại sức khỏe cho mỗi bệnh nhân.

    • Bệnh nhân bắt buộc phải kiểm tra các tổn thương trong dạ dày và làm kháng sinh đồ để tìm rõ nguyên nhân gây bệnh.

    Bên cạnh đó, xét nghiệm tìm vi khuẩn HP chỉ được thực hiện khi cơ sở khám chữa bệnh có đủ điều kiện vật chất. Cơ sở kỹ thuật xét nghiệm đảm bảo vô trùng, an toàn và cho kết quả chính xác.

    2. Các phương pháp xét nghiệm tìm ra vi khuẩn HP chính xác nhất

    Hiện nay, tại các bệnh viện uy tín đều áp dụng phương pháp xét nghiệm HP cho người bệnh. Tùy vào từng mức độ, dấu hiệu và nguy cơ của bệnh mà mỗi người sẽ được chỉ định một trong các phương pháp sau:

    2.1. Nội soi dạ dày để tìm vi khuẩn HP

    Phương pháp này, bác sĩ sẽ sử dụng ống nội soi nhỏ có gắn kèm camera rồi đưa trực tiếp vào trong dạ dày. Thông qua ống thực quản, bác sĩ tìm đúng vị trí bị loét và lấy một mảnh sinh thiết ở vùng dạ dày bị viêm. Sau đó, mẫu sinh thiết sẽ được đem đi nuôi cấy vi khuẩn, test Clo hoặc quan sát hình thái.

    Nội soi dạ dày tìm vi khuẩn HP

    Trong thời gian quan sát và xét nghiệm, bác sĩ sẽ chẩn đoán chính xác tình trạng nhiễm khuẩn HP ở mỗi người. Sử dụng nội soi dạ dày không chỉ giúp chẩn đoán chính xác bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng. Đồng thời còn đánh giá các tổn thương, mức độ nghiêm trọng của bệnh để tìm hướng điều trị an toàn.

    So với người trẻ thì phương pháp nội soi có thể gây cảm giác đau và khó chịu cho người lớn tuổi. Tuy nhiên, thủ thuật này rất quan trọng và có tính chính xác cao, giúp tìm đúng hướng điều trị.

    2.2. Test vi khuẩn HP bằng hơi thở

    Đối với bệnh nhân sợ đau thì có thể lựa chọn phương pháp này. Test vi khuẩn HP bằng hơi thở không xâm lấn, được áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện. Khi thực hiện phương pháp này, bệnh nhân sẽ làm theo 2 dạng sau:

    Sau khi thổi vào thiết bị test, hơi thở của bệnh nhân sẽ được đem đi kiểm tra, phân tích và đánh giá các chỉ số. Mỗi chỉ số sẽ cho biết bệnh nhân âm tính hay dương tính với HP.

    Thời gian test hơi thở nhanh gọn, không gây đau đớn nên được khuyến cáo thực hiện trên trẻ nhỏ. Lựa chọn phương pháp này phù hợp với cả người từng điều trị HP và muốn kiểm tra lại kết quả điều trị.

    Mặc dù dễ thực hiện, không đau nhưng phương pháp này có chi phí khá cao. Mỗi lần test hơi thở dao động khoảng 400 – 600 ngàn đồng tùy vào mỗi bệnh viện.

    2.3. Phương pháp xét nghiệm máu tìm vi khuẩn HP

    Những người bị nhiễm khuẩn HP thì cơ thể sẽ có kháng thể HP. Loai kháng thể này thường tìm thấy trong máu thông qua phương pháp xét nghiệm. Đây là phương pháp kiểm tra HP khá phổ biến và được nhiều người ưa chuộng.

    Tuy nhiên, xét nghiệm máu vẫn có thể cho kết quả dương tính giả, không chính xác cao. Nguyên nhân thường là do HP có khả năng xuất hiện ở các vị trí khác như: đường ruột, khoang miệng, cơ quan xoang,… Kể cả người bệnh đã điều trị HP khỏi hẳn nhưng vẫn còn kháng thể lưu lại trong máu.

    Do đó, phương pháp xét nghiệm máu tìm HP phù hợp với đối tượng muốn sàng lọc xác định xem mình có nhiễm vi khuẩn HP hay không. Phương pháp này có ưu điểm là rẻ tiền kết quả nhanh chóng và kỹ thuật thực hiện tương đối đơn giản..

    Xét nghiệm máu kiểm tra vi khuẩn HP

    2.4. Phương pháp xét nghiệm phân tìm vi khuẩn HP

    Vi khuẩn HP nếu tồn tại trong dạ dày thì chúng sẽ được đào thải ra khỏi cơ thể qua phân. Do đó, phương pháp xét nghiệm phân để tìm vi khuẩn HP cũng mang lại kết quả chính xác.

    Với những bệnh nhân bị viêm loét dạ dày – tá tràng nhẹ thì có thể lựa chọn phương pháp này. Quá trình test không tốn nhiều thời gian và chi phí. Cách lấy mẫu tương đối đơn giản: người bệnh tự lấy mẫu phân, cho vào lọ sạch, có nắp kín và đem tới nơi test phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ.

    3. Dịch vụ xét nghiệm HP uy tín, chất lượng và tiết kiệm chi phí

    Với những phương pháp giúp kiểm tra chính xác sự tồn tại của vi khuẩn HP trong dạ dày. Để an tâm với kết quả và điều trị đúng hướng, ngay từ đầu người bệnh nên chọn dịch vụ test ở nơi đáng tin cậy.

    Cách an toàn và nhanh chóng nhất là bạn có thể tìm tới hệ thống Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC của chúng tôi để xét nghiệm và điều trị HP. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đã có trên 24 năm kinh nghiệm, sở hữu Trung tâm Xét nghiệm đạt chuẩn ISO 15189:2012. Cùng với đội ngũ bác sĩ giàu chuyên môn sẽ tư vấn, hướng dẫn người bệnh chọn hướng xét nghiệm phù hợp.

    • Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC: 42 – 44 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội

    • Phòng khám Đa khoa MEDLATEC: 99 Trích Sài, Tây Hồ, Hà Nội

    Nhờ đó, người bệnh an tâm điều trị HP tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC sẽ không phải lo lắng về chất lượng hay chi phí. Chắc chắn tìm đến bệnh viện của chúng tôi sẽ giúp bạn cải thiện và chăm sóc sức khỏe, ngăn ngừa HP hiệu quả.

    Như vậy, tùy vào từng trường hợp của người bệnh mà bác sĩ chỉ định phương pháp xét nghiệm HP tương ứng. Để an tâm có kết quả chính xác và điều trị mang lại hiệu quả cao thì bạn nên đầu tư vào nơi có tiếng. Để cập nhật thêm các thông tin về dịch vụ tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, bạn có thể liên hệ qua tổng đài tư vấn miễn phí 24/24: 1900 56 56 56.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp & Những Điều Cần Biết
  • Các Phương Pháp Xử Lý Nước Thải Hiện Nay
  • Phương Pháp Xạ Trị Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?
  • Xạ Trị Là Gì?những Điều Cần Biết Về Phương Pháp Xạ Trị Ung Thư
  • Lời Giải Cho Khả Năng Chịu Lạnh Khủng Khiếp Nhất Thế Giới Của “người Băng”
  • Phương Pháp Xác Định Doanh Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Xác Định Doanh Thu Bán Hàng Hoạt Động Kinh Doanh
  • Định Nghĩa Và Tính Chất Tiếp Tuyến Và Dây Cung Ở Đường Tròn
  • Cách Tính Diện Tích Xây Dựng Nhà Ở Chi Tiết Nhất Năm 2022
  • Cách Tính Diện Tích Xây Dựng Nhà
  • Cách Tính Diện Tích Xây Dựng Phần Thô Đơn Giản Khi Xây Nhà
  • Kết quả

    Phương pháp xác định doanh thu:

    ΣDT = Qtt x Đơn giá bán.

    Q tt số lượng sản phẩm, dịch vụ được coi là tiêu thụ

    2. Doanh thu bán hàng thuần (DTT)

    DTT = Σ DT – Các khoản giảm trừ * Các khoản giảm trừ gồm:

    – Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp giảm giá bán niêm yết cho khách hàng khi mua hàng với khối lượng lớn.

    – Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá cung cấp kém phẩm chất, sai quy cách lạc hậu thị hiếu…

    – Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

    – Thuế GTGT phải nộp đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp.

    – Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất khẩu phải nộp.

    * Phương pháp tính doanh thu cụ thể đối với một số trường hợp cụ thể:

    Doanh thu bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá bán trả tiền một lần (không gồm lãi chậm trả).

    Đối với hàng hoá xuất khẩu doanh nghiệp bán theo giá nào thì doanh thu phản ánh theo giá đó, không phân biệt giá bán tại nước xuất khẩu hay ở nước ngoài.

    Đối với hàng hoá, thành phẩm dùng để trao đổi:

    – Nếu trao đổi lấy hàng hoá tương tự (cùng bản chất, cùng giá trị) thì việc trao đổi đó không coi là doanh thu.

    – Nếu trao đổi lấy hàng hoá khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là doanh thu và xác định bằng Giá trị hợp lý của hàng hoá, dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm, thu thêm. Nếu không xác định được giá trị hợp lý của hàng nhận về thì doanh thu được xác định là giá trị hợp lý của hàng đem trao đổi sau khi điều chỉnh các khoản tiền thu thêm hoặc trả thêm.

    Đối với hoạt động gia công thì doanh thu tính theo giá gia công ghi trên hoá đơn của khối lượng sản phẩm gia công hoàn thành trong kỳ.

    Đối với sản phẩm biếu tặng, tiêu dùng nội bộ thì doanh thu được tính là giá thành sản xuất hoặc giá vốn hàng bán.

    Đối với đơn vị kinh doanh bảo hiểm doanh thu là phí bảo hiểm phải thu hoặc đã thu trong kỳ….

    Chú ý: Doanh thu bằng ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    Nguồn: chúng tôi (Biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Sản Phẩm Dở Dang Cuối Kỳ Theo Chi Phí Sản Xuất Định Mức
  • Cách Đánh Giá Sản Phẩm Dở Dang Cuối Kỳ Trong Dn…
  • Đánh Giá Sản Phẩm Dở Dang Theo Chi Phí Nguyên Vật Liệu
  • Chỉ Số Giá Tiêu Dùng (Cpi) Là Gì? Cách Tính Cpi
  • Cách Tính Chỉ Số Chứng Khoán Vn Index Của Việt Nam
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Bầu Cử Mỹ Và Bầu Cử Giữa Kỳ 2014

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Hệ Thống Bầu Cử Mỹ Qua Lá Phiếu Đại Cử Tri
  • Phát Động Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến”
  • Top 6 Bài Soạn “tìm Hiểu Chung Về Văn Miêu Tả” Lớp 6 Hay Nhất 2022
  • Kiến Thức Tổng Quan Về Digital Marketing Cho Người Mới Tìm Hiểu
  • Tìm Hiểu Digital Marketing Và Các Công Cụ Hỗ Trợ Online Marketing
  • Khái quát về hệ thống bầu cử Mỹ

    Ngày thứ Ba, 4/11/2014, là ngày diễn ra cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ. Cứ hai năm một lần và vào các năm chẵn là cả nước Mỹ lại sôi động bước vào “Mùa bầu cử”. Theo luật Mỹ, ngày bầu cử được ấn định là ngày Thứ 3, nhưng phải sau ngày Thứ 2 đầu tiên của tháng 11 (nếu ngày Thứ 3 mà rơi vào mùng 1/11 thì không được tính). Theo đó, ngày bầu cử nếu được tổ chức sớm nhất thì cũng phải là ngày 2/11 và muộn nhất là ngày 8/11.

    Thực ra luật quy định bầu cử thống nhất cả nước vào ngày Thứ ba trong tháng 11 như nêu ở trên được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1845. Còn trước đó thì Luật cũ (thông qua năm 1792) quy định các bang tùy điều kiện của mình linh hoạt tổ chức bỏ phiếu trong khoảng thời gian 34 ngày trước ngày 1/12. Có nhiều cách lý giải tại sao Quốc Hội Mỹ lại chọn bỏ phiếu chung vào ngày Thứ ba như trên:

    • Thời gian đó nằm trong thời gian 34 ngày của luật cũ và nếu tổ chức ngày bầu cử chung thì sẽ tạo một sân chơi “công bằng”, giảm thiểu khả năng một ứng cử viên Tổng thống thắng điểm tại một số bang bầu cử sớm nhất, để rồi giành được lợi thế ở các bang khác bầu cử muộn hơn;
    • Đầu tháng 11 hàng năm không quá lạnh và nông dân vừa kết thúc vụ mùa (vào thời kỳ này nước Mỹ là nước nông nghiệp và dân chủ yếu sống nhờ nghề nông);
    • Nếu tổ chức vào ngày thứ 4 trong tuần cũng không tiện do nhiều nơi nông dân chọn ngày thứ tư là ngày họp chợ;
    • Chuyển dịch ngày bầu cử về phía cuối tuần lại vướng vào ngày nghỉ lễ tôn giáo.

    Năm bầu cử Tổng thống khác cơ bản năm bầu cử giữa kỳ ở chỗ là có thêm lá phiều bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, còn danh sách bầu các chức danh khác cơ bản giữ nguyên. Trong ngày bầu cử giữa kỳ, cử tri trên khắp nước Mỹ bầu một danh sách rất dài, với 1 số ghế chủ chốt gồm:

    • 1/3 tổng số Thượng nghị sĩ liên bang (33 hoặc 34 người trên tổng số 100 Thượng nghị sĩ do nhiệm kỳ của các thượng nghị sĩ là 6 năm, nhưng mỗi kỳ bầu cử 2 năm 1 lần nên bầu lại 1/3 để giữ tính liên tục);
    • Toàn bộ 435 Hạ nghị sĩ Liên bang và 6 nghị sĩ (không có quyền bỏ phiếu trong các vấn đề mang tính “quyết định”) đại diện cho Thủ đô Washington DC và 5 vùng lãnh thổ chưa hợp nhất (gồm Guam, Puerto Rico, American Samoa, Bắc Mariana, Quần đảo Virgin);
    • 34 trên tổng số 50 Thống đốc bang (nhiệm kỳ 4 năm) cộng với Thống đốc 2 bang là Vermont và New Hampshire (có nhiệm kỳ 2 năm), tổng cộng 36 Thống đốc bang. Trong năm bầu cử Tổng thống, cử tri “chỉ” bầu 16 ghế Thống đốc bang mà thôi (14 ghế Thống đốc bang cộng với 2 ghế của Vermont và New Hampshire);
    • Nghị viện các bang (cũng tổ chức thành lưỡng viện – Bicameral Body – là Thượng viện bang và Hạ nghị viên bang, tuy nhiên số lượng thành viên thượng viện và hạ viện mỗi bang lại một khác). Đáng chú ý là chỉ duy nhất 1 bang là bang Nebraska trong tổng số 50 bang tổ chức nghị viện theo hình thức “Nhất viện” (Unicameral Body);
    • Chức Thị trưởng, Hội đồng thành phố, thị trấn…

    Có thể nói hệ thống tổ chức chính quyền liên bang, bang và cách thức bầu các chức danh nắm những vị trí trên ở Mỹ là một trong những hệ thống phức tạp và tinh vi nhất trên thế giới vì phải tính đến sự cân bằng của tất rất nhiều yếu tố.

    Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng giữa các bang. Quá trình đàm phán để hình thành nhà nước Liên bang hợp chủng quốc Hoa Kỳ mà ban đầu chỉ có 13 bang (thực chất là 13 quốc gia) là sự mặc cả, thỏa hiệp. Họ thỏa hiệp về thượng viện, nhất trí rằng đây là thiết chế lập pháp quan trọng nhất, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và tại đó các bang lớn, bé đều có đại diện như nhau là 2 Thượng nghị sĩ. Chẳng hạn bang Delaware chỉ có 900.000 dân nhưng cũng có 2 thượng nghị sĩ như bang đông dân nhất là California với 38 triệu người.

    Thứ hai, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và mọi người bình đẳng như nhau. Tổng số 435 Nghị sĩ liên bang Mỹ là không đổi, nhưng dân số các bang có thể thay đổi hàng năm do phát triển kinh tế, thay đổi trong môi trường, giáo dục và nhu cầu di chuyển của người dân để tìm kiếm công ăn việc làm, tìm nơi định cư mới. Do đó cứ 10 năm 1 lần, vào các năm chẵn đầu các thập kỷ (ví dụ 1990, 2000, 2010), nước Mỹ tổ chức các cuộc điều tra dân số toàn quốc với nhiều câu hỏi để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trên cơ sở bản đồ dân số thay đổi sau một thập kỷ, “bản đồ” bầu cử cũng được vẽ lại theo sự thay đổi dân số và số lượng nghị sĩ của mỗi bang có thể tăng hay giảm tùy thuộc số lượng dân cư tại một bang vào thời điểm điêu tra dân số. Các bang có dân số đông và tăng nhanh và nhờ đó cũng có số lượng dân biểu lớn trong Hạ viện là California, Texas, Florida.

    Thứ ba, “Người chiến thắng được tất cả”. Do tổ chức nhà nước theo hình thức liên bang, nên dân Mỹ tuy mang tiếng bầu cử trực tiếp Tổng thống nhưng lại không bầu trực tiếp, mà bầu gián tiếp theo tổng số ghế mà các bang có đại diện tại Quốc hội Liên bang gồm 100 phiếu đại diện các Thượng nghị sĩ, 435 phiếu đại diện các Hạ nghị sĩ và 3 phiếu đại cử tri của Thủ đô Washington DC (tổng cộng 538 phiếu Đại cử tri) và người đắc cử Tổng thống phải giành được ít nhất 270 phiếu Đại cử tri.

    Nếu ứng cử viên Tổng thống thắng tại bang nào, thì coi như nhận được phiếu đại cử tri của toàn bộ bang đó. Từ đây xảy ra các trường hợp:

    • ứng cử viên thắng tại nhiều bang hơn chưa chắc đã đảm bảo thắng cuộc
    • ứng cử viên nhận được số phiếu bỏ cao hơn của cử tri chưa chắc đã thắng (tức thắng qua phổ thông đầu phiếu, như trường hợp Phó Tổng thống Al Gore thắng Thống đốc Bang Texas George Bush trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/2000, nhưng lại thua tại Bang quan trọng là Florida và do đó thua phiếu Đại cử tri). Điều quan trọng đối với bất kỳ ứng cử viên Tổng thống nào là tìm mọi cách thắng ở các bang đông dân, có nhiều phiếu Đại cử tri. Do 1 số bang ở Mỹ có truyền thống bỏ cho Cộng hòa (như Texas, Georgia), và một số bang có truyền thống bỏ cho Dân chủ (như California, New York), và có đến 80% các cử tri có sẵn “dòng máu cộng hòa” hay “dòng máu dân chủ” chạy trong cơ thể, bất kể đảng của họ xấu tốt ra sao thì họ vẫn luôn “trung thành” với lý tưởng mà mình đã chọn và bỏ phiếu cho “đảng của mình”, do đó các cuộc bầu cử trên thực tế là nhắm vào các “Swing states” (bang dao động) hay “Swing voters” (các cử tri dao động) hoặc những cử tri vẫn còn lưỡng lự, chưa quyết định (undecided voters).

    Tiến trình bầu cử ở Mỹ cũng là một sự phát triển dân chủ có tiệm tiến, chứ không phải bỗng chốc dân Mỹ được “hưởng” toàn bộ quyền bầu cử, ứng cử như hiện nay. Lập luận của giới elite ngay từ khi lập quốc là các quyền chính trị sẽ được mở rộng cùng với các tiến bộ kinh tế, xã hội của các nhóm cử tri và của nước Mỹ:

    • Vào cuối thế kỷ XVIII cho đến tận đầu thế kỷ XX (năm 1920) phụ nữ Mỹ (cũng như phụ nữ hầu hết các nước khác) không có quyền đi bỏ phiếu chọn người đại diện cho mình;
    • Trước đó, rất nhiều bang quy định chỉ có những người đàn ông da trắng (Caucasian men), có học vấn nhất định (hết tiểu học), có tài sản (hầu hết các bang quy định là 50 acres đất trở lên) hoặc có đóng thuế thu nhập thì mới được quyền đi bỏ phiếu. Lập luận của các nhà lập pháp là, nếu các cử tri mù chữ hoặc học thức thấp mà đi bầu thì họ không thế nhận thức được cái đúng, cái sai và sẽ bị “mua phiếu”, làm hòng hệ thống chính trị. Ngoài ra, đóng thuế được xác định là một tiêu chuẩn vì nếu anh không đóng thuế thì có nghĩa anh chẳng có đóng góp, có nghĩa vụ gì với đất nước, nên không thể có “quyền lợi” và “khả năng” góp ý vào việc hoàn thiện thể chế;
    • Người nô lệ thì tuyệt nhiên bị cấm tiệt việc bỏ phiếu vì họ không biết chữ lẫn không có thu nhập. Tuy nhiên, sau cuộc nội chiến Bắc-Nam 4/1861-5/1865, thái độ của một số bang miền Nam đối với người da đen đã có sự cởi mở hơn, mặc dù sự kỳ thị đối với người da đen ở miền Nam vẫn rất mạnh. Tháng 2/1870 Hiram Rhodes Revels trở thành Thượng nghị sĩ da đen đầu tiên được bầu và đại diện cho bang miền Nam Mississippi tại Thượng viện Liên bang Mỹ. Còn Barack Obama, hiện là Tổng thống Mỹ, mới là Thượng nghị sĩ da đen thứ 5 (con số hiện nay là 9) trong lịch sử nước Mỹ. Tuy nhiên, phải đến ngày 6/8/1965 khi Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson ký Đạo luật về Quyền bầu cử, trong đó cấm tuyệt đối việc ngăn chặn, tạo các rào cản gây cản trở việc bỏ phiếu của các sắc dân thiểu số thì từ đó trở đi các sắc dân thiểu số mới được hưởng các quyền bỏ phiếu đầy đủ như của người da trắng.

    Gọi là “bỏ phiếu” nhưng trên thực tế người Mỹ “bấm nút” lựa chọn người đại diện của mình. Điều này đã được “luật hóa” sau kết quả bầu cử giữa ứng cử viên Al Gore và ứng cử viên George Bush trong cuộc bầu cử Tổng thống đầy tranh cãi tháng 11/2000.

    Bầu cử giữa kỳ 2014: Sự thất sủng của Đảng Dân chủ

    Có lẽ khi chứng kiến cảnh thắng cử vang dội của ông Obama trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2008, ít ai hình dung được “tình cảnh” của ông Obama và Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2014, tức chỉ 6 năm sau đó.

    Các cuộc thăm dò dư luận trước bầu cử cho thấy tâm lý “chán nản” và “buông xuôi” thể hiện khá rõ trong hàng ngũ lãnh đạo cũng như cử tri Đảng Dân chủ. Một số cuộc thăm dò dư luận trước bầu cử cho thấy chỉ có khoảng 44% cử tri của Đảng Dân chủ nói sẽ đi bỏ phiếu, so với tỷ lệ 56% của Đảng Cộng hòa – một sự cách biệt khá lớn. Đảng Cộng hòa dự kiến sẽ mở rộng sự kiểm soát của mình mình tại Hạ viện thêm 11 ghế, từ 234 (trong tổng số 435 ghế) lên 245 ghế và tại Thượng viện từ 45 trong tổng số 100 ghế lên thành đa số với 52 ghế (Đảng Dân chủ dự kiến mất 8 ghế từ 53 xuống còn 45 ghế, còn 2 ghế thuộc về các Thượng nghị sĩ “độc lập” không đảng phái). Nếu các cuộc thăm dò này là chính xác, thì đây là lần đầu tiên kể từ cuộc bầu cử năm 1929, Đảng Cộng hòa mới giành được thế “thượng phong” về sự cách biệt số ghế so với Đảng Dân chủ.

    Điều này có vẻ khá giống khi liên tưởng với “uy tín” của Tổng thống Bush vào năm cuối cùng của nhiệm kỳ II. Thực trạng “bi thảm” đến mức không có ứng cử viên Hạ viện, Thượng viện hay thống đốc của Đảng Dân chủ nào muốn “mời” Obama “xuất hiện” cùng họ trong các sự kiện gây quỹ hay tranh cử vì không muốn cử tri la ó, biểu hiện giận dữ hay mất điểm. Cách đây 6 năm, sự xuất hiện của Tổng thống Obama là “đặc ân” và có thể giúp ứng cử viên Dân chủ ở thế bấp bênh đảo ngược tình thế, còn nay thì ngược lại. Câu nói lan truyền của họ là” Everyone, but Obama” (ai cũng được, nhưng Obama thì không). Điều ông Obama chỉ có thể làm để giúp Đảng Dân chủ lúc này là vận động “qua loa” (tức lên đài phát thanh) và xuất hiện trên TV!

    Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2008, Barack Obama (Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Illinois) đã thắng John McCain (Thượng nghị sĩ Cộng hòa bang Arizona) một cách tuyệt đối cả về phổ thống đầu phiếu (52,9% so với 45,7%) lẫn phiếu Đại cử tri (365 phiếu so với 173 phiếu). Buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại Washington có tới 1,8 triệu người từ khắp nước Mỹ đổ về và là lễ nhậm chức có đông người tham dự nhất trong lịch sử nước Mỹ. Sự kiện này được coi là cơ hội chỉ 1 lần trong đời khi nước Mỹ lần đầu tiên có một Tổng thống da màu gốc Phi. Trước đó, trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2006, Đảng Dân chủ đã làm cuộc soán ngôi ngoạn mục khi giành quyền kiểm soát cả Hạ viện và Thượng viện từ tay Đảng Cộng hòa và tiếp tục nắm đa số tại cả 2 viện của Quốc hội khi ông Obama thắng cử Tổng thống năm 2008. Như vậy, trong năm 2008 Đảng Dân chủ kiểm soát cả 3 thiết chế quan trọng của nước Mỹ là Chính quyền, Hạ viện và Thượng viện.

    Tuy nhiên, khi quyền lực đã lên đến “đỉnh” thì sẽ không thể duy trì mãi và việc xuống dốc trở nên tất yếu. Năm 2012, Tổng thống Obama vẫn tiếp tục thắng và nắm quyền Tổng thống thêm nhiệm kỳ II trước ứng cử viên Cộng hòa, nguyên Thống đốc bang Massachusetts Mitch Romney. Tuy nhiên, chiến thắng này có phần kém “oanh liệt” hơn cả về phổ thông đầu phiếu (51,1% so với 47,2%) lẫn phiếu Đại cử tri (332 phiếu so với 206 phiếu). Cũng trong năm 2012, Đảng Dân chủ đã “để mất” quyền kiểm soát tại Hạ viện vào tay Đảng Cộng hòa.

    Tại sao ông Obama và Đảng Dân chủ lại rơi vào “tình cảnh” này và chỉ trong một thời gian ngắn như vậy? Điều này càng trở nên có phần “khó hiểu” đối với những người nhìn nước Mỹ từ bên ngoài khi thấy người Mỹ “quá khó tính”. Tuy chưa được như kỳ vọng của người Mỹ, nhưng kinh tế Mỹ có sự phục hồi và nhiều tín hiệu tích cực nhất so với nhiều nền kinh tế lớn khác (EU, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và kể cả Trung Quốc) với tốc độ tăng trưởng trong Quý III, 2014 là 3,5% và dự kiến cả năm đạt 2,3%, còn tỷ lệ thất nghiệp thì ở mức thấp nhất trong 6 năm kể từ năm 2008 là 5,9%. Còn trên mặt trận đối ngoại, nước Mỹ đã không quay lại chính sách “biệt lập”, can dự và đóng vai trò quan trọng, nếu không nói là quyết định tại nhiều “đấu trường” khu vực và thế giới như Trung Đông, châu Âu và châu Á.

    Có thể thấy 1 số nguyên nhân như sau:

    Thứ nhất, đối với phần đông cử tri Mỹ, 6 năm cầm quyền là “đủ” cho một “chu kỳ chính trị”. Và cùng với sự phát triển của khoa học-công nghệ, cách mạng thông tin, toàn cầu hóa thì trong vòng vài chục năm quan “chu kỳ” này càng ngắn lại. Trong tư duy chính trị của người Mỹ, nếu một chính quyền tại vị quá lâu, kể cả khi làm tốt, cũng trở thành “không tốt” vì nó sẽ “giết chết” tính sáng tạo và các ý tưởng mới. Nếu như một chính quyền cụ thể nào đó mà làm càng “dở” thì tâm lý muốn thay đổi nhanh lại càng mạnh mẽ. Ở Mỹ, quy luật tâm lý này không loại trừ bất cứ ai, bất cứ chính quyền nào vì nó không thỏa mãn tâm lý “cả thèm, chóng chán” về chính trị của người Mỹ. Hiện nay chính quyền Obama đang ở vào chu kỳ tâm lý này của người Mỹ.

    Thứ hai, kinh tế Mỹ tuy có nhiều mặt tốt, nhiều dấu hiệu tích cực, nhưng cũng có các “vấn đề” đằng sau các số liệu “màu hồng”:

    • Tỷ lệ thất nghiệp tuy giảm (hiện là 5,9%), nhưng công ăn việc làm được tạo ra lại ở vào khu vực sử dụng nhiều lao động, lương thấp, chứ không phải được tạo ra trong các ngành kinh tế của tương lai như công nghê cao, môi trường, sinh học… Điều này chỉ giúp người Mỹ đủ sống, chứ không giúp họ giàu và nước Mỹ thịnh vượng được;
    • Tuy kinh tế tăng trưởng, nhưng nhìn chung mức tăng thu nhập thực tế của người Mỹ dưới chính quyền Obama lại giảm đi! Báo cáo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ gần đây cho rằng thu nhập thực tế của người Mỹ (sau khi trừ lạm phát) trong 6 năm cầm quyền của Tổng thống Obama lại có mức giảm kỷ lục là 12%, và đây mới là thước thực phản ánh thái độ của cử tri Mỹ đối với chính quyền;
    • Nợ công của nước Mỹ dưới thời chính quyền obama lại “tăng trưởng ấn tượng” nhất cả về tốc độ “tăng trưởng” lẫn con số tuyệt đối so với bất kỳ chính quyền nào của Mỹ kể sau Thế chiến II đến nay và hiện đã ở mức xấp xỉ GDP của nước Mỹ (gần 17.000 tỷ USD). Điều này không chỉ đe dọa sự an toàn tài chính quốc gia của nước Mỹ, mà còn cản trở đến tương lai kinh tế Mỹ;
    • Chính sách y tế Obamacare với thiện ý tốt là giúp người nghèo Mỹ có được bảo hiểm y tế để trang trải các chi phí y tế ngày càng trở nên đắt đỏ. Điều này là tốt đối với các cá nhân và gia đình người Mỹ có thu nhập thấp. Tuy nhiên, trên bình diện quốc gia thì nó lại nảy sinh nhiều vấn đề. Trước hết, việc “bao” bảo hiêm y tế (healthcare coverage) trên diện rộng khiến số tiến mà ngân sách liên bang và bang dành để chi trả bảo hiểm y tế rất lớn, và làm mất cân bằng ngân sách. Hiện số tiền mà người Mỹ chi trả bảo hiểm và tiền thuốc tăng trung bình khoảng 3 lần trong 6 năm qua, khiến ngay cả người trung lưu, có thu nhập cũng phải tăng thêm tiền đóng bảo hiểm (pmium coverage) và kèm theo đó cũng là tăng nỗi bất bình. Điều này không chỉ đe dọa tính an toàn của hệ thống bảo hiểm y tế Mỹ, chế độ phúc lợi xã hội, mà còn làm cho chất lượng và dịch vụ y tế xuống thấp, và suy cho cùng thì cả người được hưởng “miễn phí” lẫn cả quốc gia đều bị “thiệt thòi”.

    Thứ ba, sự kiện bệnh nhận Ebola đầu tiên của nước Mỹ trong đợt dịch bùng phát hiện nay là Thomas Eric Duncan bị nhiễm bệnh nhưng lại không được chẩn đoán và chữa trị đúng cách, rồi còn để lây nhiễm sang cô y tá gốc Việt Nina Pham (vừa khỏi bệnh và được Tổng thống Obama đón tiếp tại Nhà trắng như một “anh hùng”) cho thấy những lỗ hổng trầm trọng của ngành y tế Mỹ. Các phát biểu đầy mâu thuẫn của những người có trách nhiệm trong ngành y tế Mỹ, rồi nhận xét của các chuyên gia, thậm chí cả các chính tri gia cũng lao vào cuộc… khiến người Mỹ rối bời, không biết đâu mà lần. Điều quan trọng là qua đó người Mỹ mới thấy được các lỗ hổng trong ngành y tế, sự chưa sẵn sàng của nước Mỹ trong việc chống lại các “đại dịch” của thế kỷ XXI. Trong điều kiện bình thường, đây là vấn đề mà các chuyên gia y tế Mỹ và hệ thống các cơ quan công quyền của Mỹ có thể phối hợp và có thể xử lý tốt. Tuy nhiên, trong năm bầu cử thì câu chuyện lại rẽ sang hướng khác, tất các các sai lầm đều được mổ sẻ kỹ lưỡng, để rổi tất cả mọi chuyện đều “hướng đến” khả năng lãnh đạo và bao quát vấn đề của Tổng thống và chính quyền Obama!

    Thứ tư, nếu người Mỹ đã không yên tâm trên mặt trận đối nội, thì trên mặt trận đối ngoại nơi “chuyên môn” của lãnh đạo Mỹ ít với tới lại càng làm cho họ thêm lo ngại. Chỉ mới cách đây chưa đầy 3 tháng, Tổng thống Obama lên trả lời trên truyền hình nói nước Mỹ và chính quyền của ông chưa có chiến lược đối phó với IS, thì chỉ sau đó 3 tuần, nước Mỹ đã “vội vã” lập một mặt trận quốc tế rộng rãi để chống lại một trong những phong trào khủng bổ Hồi giáo cực đoan hùng mạnh nhất cả về nguồn lực tài chính, lẫn quy mô, phương cách hoạt động. Không chỉ có IS, nước Mỹ cũng đang “căng mình” đối phó với một loạt các thách thức an ninh, đối ngoại tại nhiều khu vực khác nhau nữa.

    Nêu các vấn đề trên nghe thì thấy có vẻ nghiêm trọng. Nhưng thực tế cho thấy, là một cường quốc toàn cầu và sống trong một thế giới ngày càng trở nên hỗn mang và phức tạp, các vấn đề mà nước Mỹ phải đối phó dưới bất kỳ thời nào, bất kỳ chính quyền nào cũng chưa bao giờ là “nhẹ nhàng” cả. Tuy nhiên, trong năm bầu cử, nó giúp cho cử tri Mỹ, cho người Mỹ thấy được thấu đáo hơn các vấn đề họ đang gặp phải, thấy được rằng bên cạnh các giải pháp mà chính quyền Mỹ đang làm để “sửa chữa” lại nước Mỹ thì vẫn còn có các giải pháp khác, các lựa chọn khác tốt hơn. Nó cũng cho thấy chính các cử tri Mỹ sẽ là người lựa chọn tương lai nào cho nước Mỹ thông qua sức mạnh của lá phiếu trong ngày 4/11/2014.

    TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết tổng hợp những phân tích đăng lần đầu trên trang Facebook của tác giả, thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Bệnh Trĩ
  • Bình Đẳng Giới Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Bo Cổ Là Gì?tìm Hiểu A
  • Unisex Là Gì? Tìm Hiểu A
  • Tải Tìm Hiểu Bi A Với Các Thủ Thuật Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Xác Định Giá Trong Giao Dịch Liên Kết

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Dụ Về Phương Pháp So Sánh Trực Tiếp
  • Tổng Hợp 3 Phương Pháp Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học So Sánh Chuẩn Nhất
  • Thực Hành Psmatch2 Và Teffects
  • So Sánh Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Hiếu Khí Và Kỵ Khí * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Để Định Giá Bất Động Sản
  • Xác định giá trong giao dịch liên kết

    • Nghĩa vụ bắt buộc của NNT
    • Nhằm xác định giá trị thực của hàng hóa dịch vụ trong giao dịch liên kết ⇒ Xác định số thuế phải nộp

    a. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá sản phẩm

    • Đặc tính, chất lượng, thương hiệu, nhãn hiệu thương mại của sản phẩm và quy mô, khối lượng giao dịch;
    • Các điều kiện hợp đồng cung cấp, chuyển giao sản phẩm:
      • Khối lượng, thời hạn chuyển giao, thời hạn thanh toán và các điều kiện khác của hợp đồng;
      • Quyền phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tài sản có ảnh hưởng đến giá trị kinh tế
      • Thị trường nơi diễn ra giao dịch và các yếu tố khác tác động đến giá sản phẩm là điều kiện kinh tế và chức năng hoạt động của người nộp thuế.

    b. Trường hợp áp dụng

    • Người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết đối với từng chủng loại hàng hóa, tài sản hữu hình, loại hình dịch vụ có điều kiện giao dịch, lưu thông phổ biến trên thị trường hoặc có giá được công bố trên các sàn giao dịch hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế;
    • Giao dịch thanh toán phí bản quyền khi khai thác tài sản vô hình;
    • Thanh toán lãi vay trong hoạt động vay và cho vay;
    • Thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết đối với sản phẩm tương đồng về đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng;

    c. Phương pháp xác định: Giá sản phẩm trong GDLK được điều chỉnh theo giá sản phẩm trong giao dịch độc lập hoặc giá trị giữa khoảng giá giao dịch độc lập chuẩn của các đối tượng so sánh độc lập.

    d. Kết quả xác định giá giao dịch liên kết: là giá tính thuế để kê khai, xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, nhưng không làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế.

    Ví dụ: Công ty V tại Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn của Công ty nước ngoài S hoạt động trong lĩnh vực gia công sản phẩm dệt may. Trong năm 2022, công ty V có hai giao dịch về nhận gia công quần âu mã số cat.347 như sau:

    – Giao dịch 1: Gia công cho công ty S 1.000 tá quần với giá 60 USD/tá theo điều kiện giao hàng tại cảng X, Việt Nam (công ty S sẽ chịu trách nhiệm xuất khẩu).

    – Giao dịch 2: Gia công cho công ty M của nước N 1.000 tá quần với giá 100USD/tá theo điều kiện giao hàng tại thành phố Y, nước N.

    Giả định:

    – Công ty M là một công ty không có quan hệ liên kết với công ty V và công ty S.

    – Hai giao dịch nói trên tương đương về điều kiện giao dịch trừ khác biệt trọng yếu là chi phí vận chuyển và bảo hiểm cho việc gửi hàng từ cảng X đến thành phố Y, nước N là 3 USD/tá.

    Phân tích so sánh:

    – Khi so sánh giao dịch 1 (giao dịch liên kết) với giao dịch 2 (giao dịch độc lập) cho thấy giao dịch 1 chưa phản ánh đúng mức giá thị trường. Trong trường hợp này, doanh thu từ giao dịch với công ty S được xác định lại như sau:

    (100 USD – 3 USD) x 1.000 = 97.000 USD.

    – Công ty V phải kê khai doanh thu gia công nhận từ công ty S là 97.000 USD thay cho 60.000 USD.

    2. Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận của người nộp thuế với tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập

    a. Trường hợp áp dụn g

    • Không thể so sánh giao dịch theo sản phẩm trên cơ sở từng giao dịch đối với từng sản phẩm tương đồng
    • Người nộp thuế không thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc không tham gia thực hiện các giao dịch liên kết tổng hợp, đặc thù.

    b. Nguyên tắc áp dụng: Không có khác biệt về

    • Chức năng hoạt động, tài sản, rủi ro;
    • Điều kiện kinh tế và phương pháp hạch toán kế toán khi so sánh giữa người nộp thuế
    • Đối tượng so sánh độc lập có ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận. Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận, khi đó phải loại trừ các khác biệt trọng yếu này.

    2.1. Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu (phương pháp giá bán lại)

    (*) Thuế nhập khẩu; lệ phí hải quan; chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế (nếu có)

    Lợi nhuận gộp trên giá bán ra

    =

    Giá bán ra

    x

    Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra của đối tượng được so sánh

    Ví dụ: Doanh nghiệp V tại Việt Nam là bên liên kết của Công ty nước ngoài H kinh doanh phân phối mặt hàng đồng hồ do công ty H cung cấp có một số thông tin sau:– Trong năm 2022, công ty H giao cho doanh nghiệp V 1.000 chiếc đồng hồ và yêu cầu doanh nghiệp V phải thanh toán số tiền là 330.000 USD (bao gồm giá CIF + thuế, phí nhập khẩu do công ty H đã nộp).

    – Cuối năm 2022, doanh thu thuần doanh nghiệp V thu được từ việc bán toàn bộ số đồng hồ này cho người tiêu dùng tại Việt Nam được quy đổi là 400.000 USD.

    Doanh nghiệp T là doanh nghiệp độc lập tại Việt Nam hoạt động kinh doanh phân phối đồng hồ. Năm 2022, tỷ suất lợi nhuận gộp của doanh nghiệp T đạt 20%.

    Giả sử doanh nghiệp T đủ điều kiện được lựa chọn để so sánh về tỷ suất lợi nhuận gộp với doanh nghiệp V thì doanh nghiệp V sẽ phải kê khai tính chi phí hợp lý được trừ cho việc mua đồng hồ từ công ty H như sau:

    = 15,836 tỷ VND.

    Doanh nghiệp A phải thực hiện kê khai doanh thu là 15,836 tỷ VND thay cho số liệu cũ là 15 tỷ VND.

    2.3. Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận thuần

    Tỷ suất lợi nhuận thuần (chưa trừ chi phí lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu, chi phí hoặc tài sản của người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết) được điều chỉnh theo tỷ suất lợi nhuận thuần chưa trừ chi phí lãi vay trên doanh thu, chi phí hoặc tài sản của các đối tượng so sánh độc lập được chọn.

    Lợi nhuận thuần không bao gồm chênh lệch doanh thu và chi phí của hoạt động tài chính.

    Trong đó: Tỷ suất lợi nhuận thuần được lựa chọn là giá trị giữa thuộc khoảng giao dịch độc lập chuẩn của tỷ suất lợi nhuận thuần của các đối tượng so sánh độc lập được chọn để điều chỉnh, xác định thu nhập chịu thuế và nghĩa vụ thuế phải nộp của người nộp thuế.

    Ví dụ: Doanh nghiệp L hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp ô tô 4 chỗ nhãn hiệu N và S, trong đó:

    • Nhãn hiệu N được giao bán cho các bên độc lập.
    • Nhãn hiệu S được giao bán toàn bộ cho doanh nghiệp L1 là công ty 100% vốn của doanh nghiệp L.
    • Tất cả các giao dịch mua vào cho việc sản xuất, lắp ráp 2 loại ô tô trên đều là giao dịch độc lập.

    Trong năm 200x, số liệu sổ kế toán của doanh nghiệp L như sau:

    • Doanh thu thuần từ hoạt động bán xe ô tô hiệu N: 18.000 USD (là giao dịch độc lập)
    • Lợi nhuận thuần trước thuế từ hoạt động bán xe ô tô hiệu N: 2.000 USD
    • Doanh thu thuần từ hoạt động bán xe ô tô hiệu S: 25.000 USD (là giao dịch liên kết)
    • Lợi nhuận thuần trước thuế từ hoạt động bán xe ô tô hiệu S: 1.800 USD.
    • Công ty L1 cho công ty L vay và giá trị lãi tiền vay tính theo lãi suất thị trường là 100 USD.

    Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần đối với ô tô hiệu N: 2.000/18.000 x 100% = 11,1%

    Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần đối với ô tô hiệu S: 1.800/25.000 x 100% = 7,2%

    Giả sử các sự khác biệt có ảnh hưởng trọng yếu giữa 2 giao dịch bán xe N và xe S đã được điều chỉnh để kết quả giao dịch với công ty L1 phải đạt tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp và trước khi chi trả lãi tiền vay trên doanh thu thuần là 11,1%. Trường hợp này, số liệu về giao dịch bán xe ô tô hiệu S đuợc xác định lại như sau:

    Tổng giá thành toàn bộ: 25.000 – 1.800 – 100 = 23.100 USD.

    Doanh thu thuần: 23.100 / (1 – 0, 111) = 25.984 USD.

    Lợi nhuận thuần trước thuế, trước lãi vay: 25.984 – 23.100 = 2.884 USD

    Lợi nhuận thuần trước thuế: 2.884 – 100 = 2.784 USD

    Công ty L phải kê khai lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp đối với giao dịch bán ô rô S là 2.784 USD thay cho số liệu cũ trong sổ kế toán là 1.800 USD.

    3. Phương pháp phân bổ lợi nhuận giữa các bên liên kết

    Là phương pháp phân bổ tổng lại nhuận của giao dịch liên kết để xác định lợi nhuận của người nộp thuế a. Các trường hợp áp dụng:

    • Người nộp thuế tham gia thực hiện giao dịch liên kết tổng hợp, đặc thù, duy nhất, khép kín trong tập đoàn…
    • Người nộp thuế tham gia các giao dịch liên kết kinh tế số, không có căn cứ để xác định giá giữa các bên liên kết hoặc tham gia việc tạo giá trị tăng thêm thu được từ hợp lực trong tập đoàn
    • Người nộp thuế thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh

    b. Nguyên tắc áp dụng: áp dụng đối với: Tổng lợi nhuận thực tế và lợi nhuận tiềm năng của các giao dịch liên kết

    c. Phương pháp xác định: Lợi nhuận được điều chỉnh của người nộp thuế được phân bổ trên tổng lợi nhuận của giao dịch liên kết, bao gồm lợi nhuận thực tế và lợi nhuận tiềm năng của các bên tham gia giao dịch liên kết có thể thu được.

    Trong đó:

    Lợi nhuận được điều chỉnh: là tổng lợi nhuận cơ bản và lợi nhuận phụ trội và là căn cứ xác định thu nhập chịu thuế và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

    Lợi nhuận cơ bản: xác định theo phương pháp so sánh lợi nhuận

    Lợi nhuận phụ trội: xác định theo tỷ lệ phân bổ dựa trên một hoặc một số yếu tố như doanh thu, chi phí, tài sản hoặc nhân lực của các bên liên kết tham gia giao dịch và phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Chính Của Thông Tư 41/2017/tt
  • Các Môn Học Thuộc Bộ Môn Kỹ Thuật Ô Tô
  • So Sánh Các Phương Pháp Kiểm Tra Không Phá Hủy Khác Nhau
  • Đồ Án Tốt Nghiệp Cơ Điện Tử Thiết Kế Chế Tạo Mô Hình Hệ Thống Lắp Ráp Tự Động
  • Sự Khác Biệt Chính Giữa Đúc Khuôn Và Rèn Khuôn
  • Làm Kế Toán Tiêu Thụ Thành Phẩm Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Mô Hình Kế Toán Quản Trị Chi Phí Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Nội Dung Kế Toán Đầu Tư Xdcb Trong Doanh Nghiệp (Phần 1)
  • Hạch Toán Nguồn Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Theo Tt 200
  • Cách Hạch Toán Tài Khoản 241
  • Phương Pháp Học Thực Hành Kế Toán Hiệu Qủa Nhất
  • 1. Khái niệm: Kế toán tiêu thụ thành phẩm là gì?

    Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là quá trình đưa các loại sản phẩm đã sản xuất ra vào lưu thông bằng các hình thức bán hàng.

    Sau khi thành phẩm đã tiêu thụ ra thị trường, cuối mỗi kỳ kế toán doanh nghiệp cần xác định được doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, từ đó tính được doanh thu thuần. Sau khi xác định giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, các khoản thu khác, chi phí khác, doanh nghiệp sẽ xác định được kết quả kinh doanh trong kỳ hạch toán.

    2. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh

    – Kế toán có nhiệm vụ hạch toán  đầy đủ, chính xác tình hình tiêu thụ các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ theo 2 chỉ tiêu: hiện vật, giá trị và tình hình thanh toán với khách hàng; cùng với các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ.

    – Xác định kịp thời kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng, từng loại sản phẩm, dịch vụ về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.

    – Xác định chính xác, đầy đủ, kịp thời các loại doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của từng hoạt động và của toàn doanh nghiệp trong kỳ hạch toán.

    – Cung cấp thông tin và lập các loại báo cáo theo yêu cầu quản lý, xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 

    3. Sơ đồ một số phương phá hạch toán

    kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh

    Trường hợp 1: Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

    Trường hợp 2: Hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

    XEM THÊM: Các khoá học kế toán Online

    4. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh 

    – Khi tính ra tiền lương phải trả cho cán bộ, nhân viên ở bộ phận bán hàng và bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi:  

    Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 334 – Phải trả công nhân viên.

    Khi trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn phần được tính vào chi phí theo tiền lương của những đối tượng trên, ghi: 

    Nợ TK 64 1 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác.

    – Khấu hao tài sản cố định  đang dùng ở bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi: 

    Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 214 – Hao mòn tài sản cố định.

    – Khi phát sinh các chi phí khác ở bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp như chi phí sửa chữa(thường xuyên tài sản cố định, chi phí tiếp khách…, ghi: 

    Nợ TK 64 1 – Chi phí bán hàng,

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 111, 112, 331, 152…

    Nợ TK 157 – H- Khi gửi sản phẩm đi bán, ghi: àng gửi đi bán

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

    Có TK 155 – Thành phẩm (kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh)

    – Khi sản phẩm gìn đi bán được xác định đã tiêu thụ, ghi:  

    (1)  Nợ TK 111 – Tiền mặt

    Nợ TK 112 – Tiền gởi ngân hàng

    Nợ TK 131 – Phải trả khách hàng

    Có TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

    (2)  Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

    Có TK 157 – Hàng gửi đi bán.

    – Khi xuất kho bán sản phẩm theo phương pháp giao trực tiếp, ghi 

    (1)  Nợ TK 111 – Tiền mặt 

    Nợ TK 112 – Tiền gởi ngân hàng

    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

    Có TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

    (2)  Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

    Có TK 155 – Thành phẩm.

    – Khi xuất vật liệu, phục vụ cho bộ phận bán hàng hay bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi: 

    Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu.

    – Khi xuất công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ cho bộ phận bán hàng hay bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi:

    Nợ TK 64 1 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 153 – Công cụ, dụng cụ (kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh)

    – Khi phân bổ chi phí trả trước cho bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi: 

    Nợ TK 64 1 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 142 – Chi phí trả trước.

    – Đối với các khoản thuế phải nộp được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp như thuế môn bài, thuế nhà đất thì khi xác định số phải nộp cho từng kỳ kế toán, ghi: 

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước.

      – Chi phí điện, nước, điện thoại… phải trả phát sinh trong kỳ ở bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi:  

    Nợ TK 64 1 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 331 – Phải trả người bán.

    – Khi trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định ở bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp, ghi:  

    Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 335 – Chi phí phải trả.

      – Khi xác định số thuế phải nộp cho nhà nước tính trên doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ, ghi: 

    Nợ TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước.

    Khi giảm giá hàng bán cho khách hàng (hàng đã bán), ghi:  

    Nợ TK 532 – Giảm giá hàng bán

    Có TK 111, 112, 131 (kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh)

      – Khi hàng đã bán bị trả lại, ghi:

    (1) Nợ TK 531 – Hàng bán bị trả lại

    Có TK 111, 112, 131

    (2) Nợ TK 155 – Thành phẩm

    Có TK 632 – Giá vốn hàng bán.

      – Cuối kỳ, kết chuyển giảm trừ doanh thu, ghi:

    Nợ TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

    Có TK 531 – Hàng bán bị trả lại

    Có TK 532 – Giảm giá hàng bán.

    – Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu thuần, ghi: 

    Nợ TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

    Có TK 911 – Xác định KQKD.

    – Kết chuyển giá vốn của hàng đã bán trong kỳ, ghi:  

    Nợ TK 911 – Xác định KQKD

    Có TK 632 – Giá vốn hàng bán.

    – Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ, ghi: 

    Nợ TK 911 – Xác định KQKD

    Có TK 641 – Chi phí bán hàng

    Có TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp (kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh)

    – Nếu doanh thu thuần lớn hơn các chi phí được trừ thì kết chuyển lãi sang tài khoản lợi nhuận chưa phân phối, ghi:  

    Nợ TK 911 – Xác định KQKD

    Có TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối.

    – Ngược lại nếu doanh thu thuần nhỏ hơn các chi phí được trừ thì kết chuyển lỗ, ghi. 

    Nợ TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối

    Có TK 911 – Xác định KQKD

    0

    0

    Bình chọn

    Bình chọn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Truyền Thống (Phần 1)
  • Cách Hạch Toán Tài Khoản 152 – Nguyên Liệu, Vật Liệu Theo Thông Tư 200.
  • Hạch Toán Trái Phiếu Phát Hành Theo Tt 200
  • Kế Toán Hcsn Theo Tt107/2017: Tài Khoản 152: Nguyên Liệu, Vật Liệu
  • Một Số Lưu Ý Khi Hạch Toán Ngoại Tệ Theo Thông Tư 200
  • Bài Tập Về Kế Toán Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Toán Nguồn Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản
  • Nội Dung Kế Toán Đầu Tư Xdcb Trong Doanh Nghiệp (Phần 2)
  • Phương Pháp Học Toán Hiệu Quả Cho Trẻ Bằng Bàn Tính Ucmas
  • Phương Pháp Học Kế Toán Thực Hành Hiệu Quả
  • Những Phương Pháp Học Kế Toán Thuế Hiêu Quả
  • Bài tập về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh

    Tài liệu 1: Số dư đầu kỳ của một số tài khoản:

    – Tài khoản 152 (5.000 kg) : 40.000.000 đồng

    – Tài khoản 153: 2.000.000 đồng

    – Tài khoản 154: 4.175.000 đồng

    – Tài khoản 155 (1.200 sản phẩm): 48.000.000 đồng

    Tài liệu 2: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ:

    1.Xuất kho công cụ dụng cụ sử dụng ở phân xưởng sản xuất, biết rằng công cụ dụng cụ này thuộc loại phân bổ 2 kỳ.

    2.Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm là 50.000.000 đồng, nhân viên quản lí phân xưởng là 20.000.000 đồng, bộ phận đầu tư xây dựng cơ bản là 10.000.000 đồng, bộ phận bán hàng là 20.000.000 đồng và bộ phận quản lí doanh nghiệp là 10.000.000 đồng.

    4.Nhập kho 6.000 kg nguyên vật liệu, đơn giá 8.360 đồng/kg, gồm 10% thuế GTGT, thanh toán cho người bán bằng chuyển khoản. Chi phí vận chuyển , bốc dỡ về đến kho của công ty là 2.400.000 đồng, thuế GTGT 10%, thanh toán bằng tiền mặt.

    5.Xuất kho 7.000 kg nguyên vật liệu dùng trực tiếp sản xuất sản phẩm , 250 kg nguyên vật liệu cho bộ phận phục vụ sản xuất, 100 kg cho bộ phận bán hàng và 50 kg cho bộ phận quản lí doanh nghiệp. khóa học kế toán

    6.Chi phí dịch vụ mua ngoài chưa thanh toán gồm 10% thuế GTGT là 19.800.000 đồng, phân bổ cho phân xưởng sản xuất là 8.000.000 đồng, cho bộ phận bán hàng là 6.000.000 đồng và bộ phận quản lí doanh nghiệp là 4.000.000 đồng. học kế toán thực tế ở đâu

    7.Trích khấu hao tài sản cố định dùng ở bộ phận sản xuất là 6.000.000 đồng, ở bộ phận bán hàng là 3.000.000 đồng và bộ phận quản lí doanh nghiệp là 1.000.000 đồng. học báo cáo thuế

    8.Cuối kỳ nhập kho 4.000 thành phẩm, số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ là 150, biết rằng công ty áp dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Phế liệu bán thu bằng tiền mặt là 400.000 đồng. học xuất nhập khẩu ở đâu

    9.Xuất kho 1.000 sản phẩm gửi cho đại lí bán hưởng hoa hồng, đơn giá bán 80.000 đồng/sản phẩm, thuế GTGT 10%.

    10.Xuât kho 2.500 sản đi tiêu thụ trực tiếp, đơn giá bán 75.000 đồng/sản phẩm, thuế GTGT 10%, công ty TNHH Châu Phong thanh toán cho công ty bằng chuyển khoản.

    Yêu cầu: Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Xác định giá thành đơn vị sản phẩm. Tính kết quả kinh doanh trong kỳ.

    1.Xuất kho công cụ dụng cụ thuộc loại phân bổ hai kỳ:

    1a Nợ 142 2.000.000

    Có 153 2.000.000

    Phân bổ chi phí công cụ dụng cụ: học tài chính

    1b Nợ 627 1.000.000

    Có 142 1.000.000

    2. Tiền lương phải trả:

    Nợ 622 50.000.000

    Nợ 627 20.000.000

    Nợ 641 20.000.000

    Nợ 642 10.000.000

    Nợ 241 10.000.000

    Có 334 110.000.000

    3. Các khoản trích theo lương phải trả:

    Nợ 622 11.000.000

    Nợ 627 4.400.000

    Nợ 641 4.400.000

    Nợ 642 2.200.000

    Nợ 241 2.200.000

    Nợ 334 9.350.000

    Có 338 33.550.000

    Nhập kho nguyên vật liệu:

    4a Nợ 152 45.600.000

    Nợ 133 4.560.000

    Có 112 50.160.000

    4b Nợ 152 2.400.000

    Nợ 133 240.000

    Có 111 2.640.000

    Đơn giá nhập kho:

    Đơn giá = (45.600.000 + 2.400.000) / 6.000 = 8.000 đồng/kg

    Áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cố định:

    Đơn giá xuất kho:

    Đơn giá = (40.000.000 + 48.000.000) / (5.000 + 6.000) = 8.000 đồng/kg

    Nợ 621 56.000.000

    Nợ 627 2.000.000

    Nợ 641 800.000

    Nợ 642 400.000

    Có 152 59.200.000

    6. Chi phí phát sinh:

    Nợ 627 8.000.000

    Nợ 641 6.000.000

    Nợ 642 4.000.000

    Nợ 133 1.800.000

    Có 331 19.800.000

    7. Trích khấu hao tài sản cố định:

    Nợ 627 6.000.000

    Nợ 641 3.000.000

    Nợ 642 1.000.000

    Có 214 10.000.000

    8. Kết chuyển chi phí phát sinh:

    Nợ 154 158.400.000

    Có 621 56.000.000

    Có 622 61.000.000

    Có 627 41.400.000

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dở dang cuối kỳ:

    CPSPDDCK = [(4.175.000 + 56.000.000) / (4.000 + 150)] * 150 = 2.175.000 đồng

    Phế liệu thu hồi:

    8b Nợ 111 300.000

    Có 154 300.000

    Tổng giá thành nhập kho:

    Z = 4.175.000 + 158.400.000 – 2.175.000 = 400.000 = 160.000.000

    Tính giá thành đơn vị sản phẩm: mẫu giấy ủy quyền giải quyết công việc

    Z đơn vị = 158.000.000 / 4.000 = 40.000 đồng/sản phẩm

    Nhập kho thành phẩm:

    8c Nợ 155 160.000.000

    Có 154 160.000.000

    Áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cố định:

    Đơn giá xuất kho thành phẩm:

    Đơn giá = (48.000.000 + 160.000.000) / (1.200 + 4.000) = 40.000 đồng/sản phẩm

    9. Xuất kho thành phẩm gửi bán:

    Nợ 157 40.000.000

    Có 155 40.000.000

    Xuất kho thành phẩm đi tiêu thụ:

    10. Xuất kho thành phẩm gửi bán:

    10a Nợ 632 100.000.000

    Có 155 100.000.000

    Ghi nhận doanh thu bán hàng:

    10b Nợ 112 206.250.000

    Có 551 187.500.000

    Có 3331 18.750.000

    11. Kết chuyển chi phí:

    11a Nợ 911 151.800.000

    Có 632 100.000.000

    Có 641 34.200.000

    Có 642 17.600.000

    Kết chuyển doanh thu:

    11b Nợ 511 187.500.000

    Có 911 187.500.000

    12. Kết chuyển lãi: học kế toán thuế online

    Nợ 911 35.700.000

    Có 421 35.700.000

    Phản ánh vào sơ đồ tài khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:

    Lời giải bài tập kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh được tham khảo từ kế toán Lê Ánh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Và Phương Pháp Kế Toán Tập Hợp Chi Phí Sản Xuất
  • Kế Toán Trái Phiếu Chuyển Đổi
  • Phương Pháp Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành
  • Các Phương Pháp Tập Hợp Chi Phí Sản Xuất Trong Doanh Nghiệp
  • 5 Bước Xác Định Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Về Đổi Mới Phương Pháp Học Tập
  • Tham Luận Phương Pháp Học Tập Đại Học
  • Học Sinh 12 Và Những Phương Pháp Học Thi
  • Học Đại Học Có Thực Sự Khó Không ??
  • Top 5 Phương Pháp Học Tập Đạt Hiệu Quả Cao 2022
  • Việc xác định phương pháp học tập hiệu quả có thể giúp bạn học tập tốt hơn và đảm bảo học tập hiệu quả hơn, đây cũng là phương pháp tư duy và xác định tư duy của bạn trong quá trình học tập, đây cũng là phương pháp học tập hiệu quả được nhiều chị em áp dụng.

    Để có thể học tập hiệu quả hơn thì bạn cần chú ý vận dụng được những kỹ năng tư duy vào trong bài học của mình, điều này cần cho người học tập phải đảm bảo vận dụng được kỹ năng học tập cùng với khả năng tư duy của mình vào việc giải quyết vấn đề càng thêm triệt để và thấu đáo hơn nhiều.

    Ví dụ nếu như bạn cần giải quyết một bài toán thì bạn hoàn toàn có thể vận dụng thêm những kỹ năng tư duy cùng với những kiến thức mà bạn được học, từ đó xây chuỗi kiến thức lại để có thể đưa ra được nhiều cách giải quyết khác nhau và đảm bảo những ý cần thiết phải nhớ của bài học.

    Đây cũng là lý do bạn có thể sử dụng phương pháp tư duy để kích thích thêm khả năng huy động kiến thức của bạn vào trong bài học, theo đó bạn có thể khắc sâu được thêm những kiến thức cần học và hiểu bài rõ ràng hơn, hiểu bài lâu hơn nhiều.

    Riêng với những học sinh khó khăn trong việc ghi nhớ những kiến thức như định luật, công thức hoặc những định nghĩa hay mốc thời gian, mốc sự kiện hoặc tiểu sử của ai đó thì càng cần phải vận dụng tư duy để có thể nhớ bài chắc chắn hơn.

    Nếu bạn muốn học hiệu quả và có thể nhớ bài lâu hơn thì những kiến thức mà bạn được học có thể trình bày ở dưới dạng dàn bài.

    Với cách này bạn cần đọc bài nhiều lần, sau đó tóm tắt lại toàn bộ nội dung bài học thành dàn ý, đừng quên đặt đều mục tương ứng với từng nội dung để ghi nhớ dễ dàng hơn.

    Sau khi ghi bài rõ ràng bạn có thể đọc nhẩm lại bài học của mình để hiểu bài sâu hơn, đây cũng là giải pháp ghi nhớ bài học khá hiệu quả.

    Việc đọc nhẩm bài học sau đó mới xác định các ý, chỗ nào quên bạn có thể dừng lại để lật vở ghi ra để kiểm tra, đừng quên gạch chân phần bạn hay quên và nhẩm lại kỹ, làm lần lượt tới hết bài học sẽ giúp bạn hiểu bài rõ hơn.

    Việc đọc nhẩm bài học khi học thuộc bài thôi là không hiệu quả, bên cạnh đó để học tốt hơn bạn cũng có thể ghi kiến thức của mình ra giấy, cách làm này cũng hiệu quả hơn rất nhiều, đặc biệt là với những môn cần có tính suy luận cao như các môn tự nhiên.

    Nếu bạn muốn học hiệu quả hơn thì cần không ngừng củng cố lại bài học cùng với những kiến thức cũ, cách làm này rất cần thiết và quan trọng để bạn nâng cao khả năng học tập của bản thân.

    Bạn có thể tự đặt ra các câu hỏi trên những cơ sở và nội dung bài học, từ đó có thể tự trả lời bài tốt hơn.

    Việc kết hợp liên hệ bài học cùng với so sánh các kiến thức bài vở cùng những bài đã học sẽ giúp bạn có được cái nhìn tổng quát, không nhầm lẫn hoặc thiếu sót khi thực hành bài vở.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất
  • Tìm Hiểu Tầm Quan Trọng Và Phương Pháp Tự Học Đem Lại Hiệu Quả
  • Phương Pháp Xác Định Hoạt Tính Enzyme Bromelin

    --- Bài mới hơn ---

  • Gdp Là Gì? Cách Tính Gdp Tại Việt Nam Như Thế Nào
  • Gdp Là Gì? Gdp Được Tính Như Thế Nào?
  • Gdp Là Gì? Cách Tính Gdp, Nhược Điểm Của Gdp
  • Cách Tính Giá Thành Theo Phương Pháp Giản Đơn (Trực Tiếp)
  • Các Bước Tính Giá Thành Theo Phương Pháp Giản Đơn
  • PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HOẠT TÍNH ENZYME BROMELIN

    1. Nguyên tắc

    Phương pháp này dựa trên sự thủy phân protein casein bằng enzyme Bromelin có trong dịch nghiên cứu, tiếp đó làm vô hoạt enzyme và kết tủa protein chưa bị thủy phân bằng dung dịch acid trichloracetic. Định lượng sản phẩm được tạo thành trong phản ứng thủy phân bằng phản ứng màu với thuốc thử Folin. Dựa vào đồ thị chuẩn của Tyrosin để tính lượng sản phẩm do enzyme xúc tác tạo nên.

    2. Dụng cụ và hóa chất

    Dụng cụ

    Ống nghiệm

    Pipet 1ml, 2ml, 3ml, 5ml, 10ml

    Máy quang phổ

    Becher 50ml, 250ml, 500ml

    Bình tia

    Hóa chất

    Dung dịch Casein 1%

    Dung dịch TCA 5%

    Dung dịch NaOH 0,5N

    Thuốc thử Folin

    Dung dịch HCl 0,2N

    Dung dịch Tyrosin chuẩn 1 mM/ trong dung dịch HCl 0,2N

    3. Chuẩn bị đường chuẩn Tyrosin

    Các bước dựng đường chuẩn Tyrosin

    Ống số 1 là ống thử không (TK), các ống còn lại là ống thí nghiệm (TN). Vẽ đường chuẩn Tyrosin tương quan giữa lượng Tyrosin (µM) và ΔOD (ΔOD = OD TN – OD TK).

    4. Cách tiến hành

    Lấy 6 ống nghiệm sạch, khô, tiến hành làm 3 ống thử thật, 3 ống thử không

    Các bước chuẩn bị mẫu enzyme để đo hoạt tính

    Lấy 2 ống nghiệm mới khác, cho vào ống thứ nhất 5ml dịch lọc của ống thử thật và cho vào ống thứ hai 5ml dịch lọc cùa ống thử không.

    Tiếp tục thêm vào mỗi ống 10ml NaOH 0,5N và 3ml thuốc thử Folin, lắc mạnh, sau 10 phút đo OD ở bước sóng 660nm. Tính ΔOD = OD TT – OD TK, sau đó dựa vào đồ thị chuẩn suy ra được số µM Tyrosin.

    5. Tính kết quả

    Định nghĩa đơn vị Anson: một đơn vị Anson là lượng enzyme tối thiểu trong điều kiện thí nghiệm (35,5 0 C: pH 7,6 …) thủy phân Casein trong 1 phút tạo thành sản phẩm hòa tan trong TCA, phản ứng với thuốc thử Folin cho ta độ hấp thu OD ở bước sóng 660nm tương ứng với 1µM Tyrosin trong đường chuẩn.

    Với: Hđ Protease: hoạt độ enzyme protease (UI/g)

    V : tổng thể tích hỗn hợp trong ống thử thật hoặc ống thử không (ml)

    v : thể tích dịch lọc đem phân tích (ml)

    t : thời gian thủy phân (phút)

    m : khối lượng mẫu enzyme đem đi xác định hoạt tính (g)

    L: độ pha loãng enzyme

    µM Tyrosin: lượng µM Tyrosin trong v (ml) suy ra từ đường chuẩn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Tổng Một Dãy Số Liên Tiếp
  • Các Cách Tính Tổng Trong Excel Nhanh, Nhiều Cách Hay Và Lạ
  • Hướng Dẫn 5 Cách Tính Tổng Một Cột Trong Excel
  • Chỉ Số P/e: Tính Toán Và Cách Dùng (Chuẩn)
  • Chỉ Số P/e Là Gì? Hướng Dẫn Cách Tính Chỉ Số P/e
  • Tìm Hiểu Bầu Cử Tổng Thống Mỹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Phép Lập Luận Giải Thích (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Phép Lập Luận Giải Thích
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Lớp 7
  • Việc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ là việc chọn lựa người làm tổng thống Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ 4 năm, bắt đầu từ trưa Ngày Nhậm chức (20 tháng 1 năm sau cuộc bầu cử). Các cuộc bầu cử được chính quyền mỗi tiểu bang (chứ không phải do Chính phủ liên bang) tổ chức.

    Bầu cử tổng thống diễn ra 4 năm một lần. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra vào ngày 3 tháng 11 năm 2022 . Cuộc bầu cử kế tiếp sẽ diễn ra vào năm 2024. Các cuộc bầu cử diễn ra vào Ngày Bầu cử, ngày thứ ba sau ngày thứ hai của tuần đầu tiên trong tháng 11 mỗi 4 năm.

    Bầu cử tổng thống là một quá trình gián tiếp. Theo hiến pháp, chỉ có Đại cử tri đoàn Hoa Kỳ mới có quyền bầu chọn tổng thống trực tiếp. Các thành viên trong đại cử tri đoàn cho mỗi tiểu bang được người dân tiểu bang đó chọn, và họ có quyền bầu cho bất cứ cá nhân nào, nhưng họ rất hiếm khi bầu cho những nhân vật khác người được chỉ định. Số phiếu được đếm và chứng nhận vào đầu tháng 1. Người nào giành được trên nửa số phiếu sẽ là người thắng cuộc.

    Luật lệ bầu cử

    Trong hiến pháp Hoa Kỳ, việc bầu cử tổng thống được đề cập trong Điều II Khoản 1 và trong các tu chính án XII, XXII, và XXIII. Tổng thống và phó tổng thống được Đại cử tri đoàn bầu chọn trong cùng danh sách ứng cử. Các thành viên trong đại cử tri đoàn từ mỗi tiểu bang được định theo thể thức mà cơ quan lập pháp ở đó quy định – hiện nay hầu hết là dùng kết quả phiếu phổ thông. Người nhận trên nửa số phiếu cho tổng thống (hiện nay là 270) sẽ là người thắng cử tổng thống, và người nhận trên nửa số phiếu cho phó tổng thống là người thắng cử phó tổng thống. Nếu không ai nhận trên nửa số phiếu Đại cử tri đoàn, thì Hạ viện được quyền chọn tổng thống, với phái đoàn từ mỗi tiểu bang được một phiếu, và phó tổng thống được Thượng viện chọn. Việc này rất hiếm xảy ra, nhưng đã xảy ra hai lần: Hạ viện chọn tổng thống trong năm 1825 và Thượng viện đã chọn phó tổng thống trong năm 1837.

    Bầu cử diễn ra mỗi bốn năm một lần vào ngày thứ ba sau ngày thứ hai đầu tiên trong tháng 11. Các chính quyền địa phương tổ chức cuộc bầu cử và đảm bảo kết quả trung thực và ngăn chận gian lận trong việc kiểm phiếu.

    Hiến pháp và các tu chính án không miêu tả cách mỗi tiểu bang chọn đại cử đoàn. Việc này có nghĩa là cử tri được chính quyền tiểu bang cho phép đi bầu chứ không phải Chính phủ liên bang; vì thế quyền bầu cử không phải là một quyền được hiến pháp bảo đảm. Mỗi tiểu bang có quyền cấm một số cá nhân bầu cử (trừ các trường hợp không được hiến pháp cho phép).

    Ban đầu, luật pháp Mỹ hoàn toàn cấm phụ nữ tham gia bỏ phiếu. Các nô lệ nam thì chỉ được tính là 3/5 một người. Tuy nhiên, Tu chính án thứ 14 đã bãi bỏ quy tắc 3/5 và cho phép các cựu nô lệ nam được quyền bầu cử. Đến Tu chính án thứ 19 năm 1920 thì trao cho phụ nữ quyền bầu cử.

    Quá trình bầu cử

    Giai đoạn khởi đầu

    Một chính trị gia có tham vọng trở thành tổng thống Hoa Kỳ sẽ thành lập một uỷ ban. Uỷ ban này sẽ tìm hiểu, thăm dò triển vọng của vị chính trị gia đó và quyên góp tiền bạc để vận động tranh cử. Nếu như không giành được sự quan tâm của cử tri, thì họ sẽ tự động rút lui. Nếu kết quả khả quan thì họ sẽ ra ứng cử tổng thống.

    Giai đoạn vận động ứng cử

    Bầu cử sơ bộ thuộc về truyền thống chính trị của Hoa Kỳ. Nhiều người Mỹ cho đây là công cụ dân chủ để người dân có thể gây ảnh hưởng vào việc lựa chọn người lãnh đạo nước. Những người đứng đầu đảng ít có ảnh hưởng đến chương trình hoạt động và việc lựa chọn người ra tranh cử. Qua cuộc bầu cử sơ bộ, cử tri có được nhiều lựa chọn và có thể thử khả năng người ứng cử xem có thích hợp với chức vụ tổng thống.

    Có hai cách thức chọn đại diện:

    • Một số bang chọn cách thức bầu cử sơ bộ (hay gọi là primary): những cử tri có đăng ký bỏ phiếu chọn đại diện trực tiếp tham dự đại hội đảng.

    Trong các cuộc bầu cử sơ bộ, cử tri không chọn trực tiếp ứng cử viên đảng mình mà bầu các đại biểu. Những người này sẽ bầu úng cử viên đảng. Đảng Dân chủ theo hệ thống tỷ lệ, ứng cử viên sẽ được số đại biểu tùy theo số phiếu. Trong khi đảng Cộng hòa đa số theo nguyên tắc “winner takes all” (người thắng cuộc sẽ được tất cả các đại biểu trong bang).

    Để được chọn ra tranh cử tổng thống, ứng cử viên đảng Dân chủ phải được 2383 từ 4764, còn đảng Cộng hòa thì phải được 1237 từ 2472 đại biểu.

    Giai đoạn tổ chức đại hội đảng

    Đại hội đảng tổ chức vài tháng trước cuộc bầu cử tổng thống để chọn ứng viên ra tranh chức tổng thống. Thường thì trước khi diễn ra đại hội người ta đã biết ứng viên nào được tuyển chọn dựa vào các cuộc vận động của các ứng viên tại các tiểu bang và qua những cuộc bầu cử sơ bộ trong đảng.

    Ứng viên chiến thắng sẽ chọn một người cùng ra tranh chức Phó tổng thống, thường là một trong số những người thua cuộc.

    Giai đoạn vận động tranh cử

    Đây là giai đoạn quyết định trong quá trình tranh cử tổng thống. Đây là thời điểm ứng viên của hai đảng (Dân chủ và Cộng hoà) đối đầu trực tiếp với nhau.

    Giai đoạn tiến hành bầu cử

    Cuộc bầu chọn tổng thống Hoa Kỳ được tổ chức vào ngày thứ Ba sau thứ Hai đầu tiên của tháng 11.

    Tổng số đại cử tri của Hoa Kỳ là 538 người. Một ứng viên muốn trở thành tổng thống phải giành được số phiếu tối thiểu là 270. Việc sử dụng Đại cử tri thay cho việc Cử tri phổ thông bầu trực tiếp tổng thống có nguyên nhân lịch sử và xã hội. Do trong quá khứ, lãnh thổ Hoa Kỳ quá rộng lớn khiến cho việc Cử tri phổ thông đi bầu trực tiếp gặp nhiều khó khăn nên Chính quyền mới sử dụng phương pháp bầu gián tiếp thông qua Đại cử tri. Việc này sẽ giúp quá trình kiểm phiếu nhanh hơn khi số lượng phiếu được kiểm thấp hơn rất nhiều (299 phiếu so với dân số nhiều triệu người của Hoa Kỳ lúc mới lập quốc)

    Ở các tiểu bang, ứng viên nào giành được nhiều nhất phiếu đại cử tri thì giành được toàn bộ phiếu của cử tri đoàn. Đây được gọi là nguyên tắc “Được ăn cả, ngã về không” (the winner takes all). Điều này khiến cho về mặt lý thuyết một ứng ứng cử viên chỉ cần giành được 142/538 phiếu đại cử tri ở 11 bang có nhiều đại cử tri nhất là đã có thể trúng cử (28/55 ở California, 18/34 ở Texas, 16/31 ở New York, 14/27 ở Florida, 11/21 ở Illinois, 11/21 ở Pennsylvania, 11/20 ở Ohio, 9/17 ở Michigan, 8/15 ở Georgia, 8/15 ở Bắc Carolina và 8/15 ở New Jersey – Tổng số phiếu đại cử tri ở 11 bang này là 271/538 phiếu, đủ để trở thành Tổng thống). Từ khi hình thành hệ thống đại cử tri đã xuất hiện 157 đại cử tri có lá phiếu ngược với lá phiếu họ đã cam kết với cử tri phổ thông trước đó. Có 21 bang không có quy định bắt buộc Đại cử tri phải trung thành với lời cam kết.

    Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, trong cuốn sách “Lý Quang Diệu – Bàn về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới”, cho rằng:

    • Chế độ bầu cử của Mỹ đòi hỏi Ứng cử viên phải cho đi thật nhiều để giành được phiếu bầu, để đánh bại đối thủ trong cuộc bầu cử tiếp theo lại phải cho đi nhiều hơn nữa. Một quá trình đấu giá không bao giờ chấm dứt – còn chi phí, các khoản nợ nần sẽ do thế hệ sau trang trải.
    • Các vị Tổng thống khó được tái đắc cử nếu họ đưa cho người dân của mình một chính sách sai. Cho nên, có xu hướng trì hoãn, lần lữa các chính sách gây tranh cãi để giành chiến thắng trong bầu cử. Cứ thế. các vấn đề như thâm hụt ngân sách, nợ nần và tỉ lệ thất nghiệp cao được đẩy từ chính quyền này sang chính quyền tiếp theo. Do vậy, nước Mỹ hiếm có những nhà lãnh đạo sẵn sàng mạo hiểm làm những điều mà họ cho là tốt cho nước Mỹ, vì họ sợ bị thất cử.

    Việc những kết quả trái ngược giữa kết quả của phiếu phổ thông với kết quả phiếu Đại cử tri đã khiến mô hình bầu cử này gặp một số chỉ trích. Tiêu biểu là việc Tổng thống Nga, V. Putin, đã từng nhận xét: “Ở Mỹ, bạn sẽ phải đi bầu đại cử tri để họ lựa chọn Tổng thống còn ở Nga, Tổng thống được bầu theo mô hình phổ thông đầu phiếu toàn dân. Do đó, bầu cử ở Nga dân chủ hơn ở Mỹ.

    Cương lĩnh của Đảng Hiến pháp Hoa Kỳ cũng khẳng định Hệ thống cử tri đoàn là vô cùng cần thiết để đảm bảo một cuộc bầu cử mang tính công bằng: ” Việc loại bỏ hệ thống Cử tri đoàn sẽ khiến cho khiến phiếu bầu của người Mỹ ở khoảng 25 bang trở nên vô nghĩa vì các ứng cử viên sẽ chỉ quan tâm đến việc vận động tranh cử ở các tiểu bang đông dân, do đó khiến cho vai trò của các bang nhỏ trở thành con số 0 vô nghĩa. Với hệ thống Cử tri đoàn, không một phe phái hoặc khu vực riêng lẻ nào của đất nước có thể quyết định toàn bộ quá trình bầu cử tổng thống, do đó nó đảm bảo được sự đại diện rộng rãi của toàn nước Mỹ “.

    Chuyên gia Gary Gregg nhận định rằng nếu Hoa Kỳ loại bỏ hệ thống cử tri đoàn, các cuộc bầu cử sẽ đem lại lợi thế không công bằng cho các ứng cử viên giành được đa số phiếu phổ thông ở các khu vực đô thị lớn của đất nước. Khi ấy các cuộc bầu cử tổng thống sẽ chỉ đem lại thắng lợi cho các ứng cử viên và đảng sẵn sàng phục vụ cử tri thành thị, làm các chính sách của quốc gia trở nên thiên vị và chỉ phục vụ lợi ích của các thành phố lớn. Những vấn đề của cư dân sống ở các thị trấn nhỏ và các giá trị nông thôn sẽ không còn là mối quan tâm của họ

    Nguồn: Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Những Nét Cơ Bản Của Hệ Thống Bầu Cử Mỹ
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Bệnh Trĩ Và Nguyên Nhân Của Bệnh
  • Luật An Ninh Mạng Là Gì? Tìm Hiểu Nội Dung Trong Luật An Ninh Mạng
  • Tìm Hiểu A/b Testing Là Gì? Quy Trình Triển Khai A/b Testing
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy: Công Cụ Tư Duy Mà Ai Cũng Nên Biết
  • Các Phương Pháp Xác Định Cod, Bod, Do

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 7 Methods To Fix Computer Won’t Wake Up From Sleep Or Hibernate After Windows 10 Update
  • Phương Pháp Xử Lý Số Liệu
  • Cách Tính Tần Số Hoán Vị Gen
  • Lựa Chọn Phương Pháp Tạo Hạt Ướt Để Điều Chế Viên Nén
  • Xét Nghiệm Pcr Có Những Ưu
  • 1. BOD:

    Nhu cầu ôxy hóa hay nhu cầu ôxy (ký hiệu: BOD, từ viết tắt trong tiếng Anh của Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand) là lượng oxy cần cung cấp để oxy hoá các chất hữu cơ trong nước bởi vi sinh vật. BOD là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào. Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái học hay .

    BOD5: Để Oxy hoá hết chất hữu cơ trong nước thường phải mất 20 ngày ở 20oC. Để đơn giản người ta chỉ lấy chỉ số BOD sau khi Oxy hoá 5 ngày, ký hiệu BOD5. Sau 5 ngày có khoảng 80% chất hữu cơ đã bị oxy hoá.

    Thử nghiệm BOD được thực hiện bằng cách hòa loãng mẫu nước thử với nước đã khử ion và bão hòa về ôxy, thêm một lượng cố định vi sinh vật mầm giống, đo lượng ôxy hòa tan và đậy chặt nắp mẫu thử để ngăn ngừa ôxy không cho hòa tan thêm (từ ngoài không khí). Mẫu thử được giữ ở nhiệt độ 20°C trong bóng tối để ngăn chặn quang hợp (nguồn bổ sung thêm ôxy ngoài dự kiến) trong vòng 5 ngày và sau đó đo lại lượng ôxy hòa tan. Khác biệt giữa lượng DO (ôxy hòa tan) cuối và lượng DO ban đầu chính là giá trị của BOD. Giá trị BOD của mẫu đối chứng được trừ đi từ giá trị BOD của mẫu thử để chỉnh sai số nhằm đưa ra giá trị BOD chính xác của mẫu thử.

    Ngày nay việc đo BOD được thực hiện bằng phương pháp chai đo BOD Oxitop: Đặt chai trong tủ 20oC trong 5 ngày, BOD được đo tự động khi nhiệt độ đạt đến 20oC. Giá trị BOD được ghi tự động sau mỗi 24 giờ.

    đối với nước thải sinh hoạt và nước thải của một số ngành công nghiệp có thành phần gần giống với nước thải sinh hoạt thì lượng oxy tiêu hao để oxy hóa các chất hữu cơ trong vài ngày đầu chiếm 21%, qua 5 ngày đêm chiếm 87% và qua 20 ngày đêm chiếm 99%. Để kiểm tra khả năng làm việc của các công trình xử lý nước thải người ta thường dùng chỉ tiêu BOD5. Khi biết BOD5 có thể tính gần đúng BOD20 bằng cách chia cho hệ số biến đổi 0,68.

    Hoặc tính BOD cuối cùng khi biết BOD ở một thời điểm nào đó người ta có thể dùng công thức:

    BODt: BOD tại thời điểm t (3 ngày, 5 ngày…)

    Chỉ tiêu BOD không phản ánh đầy đủ về lượng tổng các chất hữu cơ trong nước thải, vì chưa tính đến các chất hữu cơ không bị oxy hóa bằng phương pháp sinh hóa và cũng chưa tính đến một phần chất hữu cơ tiêu hao để tạo nên tế bào vi khuẩn mới.

    Do đó để đánh giá một cách đầy đủ lượng oxy cần thiết để oxy hóa tất cả các chất hữu cơ trong nước thải người ta sử dụng chỉ tiêu nhu cầu oxy .

    Nhu cầu ôxy (COD – viết tắt từ tiếng Anh: chemical oxygen demand) là lượng oxy có trong Kali bicromat (K2Cr2O7) đã dùng để oxy hoá chất hữu cơ trong nước. Chỉ số COD được sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước. Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ), làm cho COD là một phép đo hữu ích về chất lượng nước. Nó được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít (mg/L), chỉ ra khối lượng ôxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch.

    Trong nhiều năm, tác nhân ôxi hóa mạnh là pemanganat kali (KMnO4) đã được sử dụng để đo nhu cầu ôxy hóa học. Tính hiệu quả của pemanaganat kali trong việc ôxi hóa các hợp chất hữu cơ bị dao động khá lớn. Điều này chỉ ra rằng pemanganat kali không thể có hiệu quả trong việc ôxi hóa tất cả các chất hữu cơ có trong dung dịch nước, làm cho nó trở thành một tác nhân tương đối kém trong việc xác định chỉ số COD.

    Kể từ đó, các tác nhân ôxi hóa khác như sulfat xêri, iodat kali hay dicromat kali đã được sử dụng để xác định COD. Trong đó, dicromat kali (K2Cr2O7) là có hiệu quả nhất: tương đối rẻ, dể dàng tinh chế và có khả năng gần như ôxi hóa hoàn toàn mọi chất hữu cơ.

    Phương pháp đo COD bằng tác nhân oxy hoá cho kết quả sau 3 giờ và số liệu COD chuyển đổi sang BOD khi việc thí nghiệm đủ nhiều để rút ra hệ số tương quan có độ tin cậy lớn.

    Kết hợp 2 loại số liệu BOD, COD cho phép đánh giá lượng hữu cơ đối với sự phân hủy .

    DO (Dessolved Oxygen) là lượng oxy hòa tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các thủy sinh. Trong các chất khí hòa tan trong nước, oxy hòa tan đóng một vai trò rất quan trọng. Oxy hòa tan cần thiết cho sinh vật thủy sinh phát triển, nó là điều kiện không thể thiếu của quá trình phân hủy hiếu khí của vi sinh vật. Khi nước bị ô nhiễm do các chất hữu cơ dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật thì lượng oxy hòa tan trong nước sẽ bị tiêu thụ bớt, do đó giá trị DO sẽ thấp hơn so với DO bảo hòa tại điều kiện đó. Vì vậy DO được sử dụng như một thông số để đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ của các nguồn nước. DO có ý nghĩa lớn đối với quá trình tự làm sạch của sông (assimilative capacity – AC). Đơn vị tính của DO thường dùng là mg/l.

    Có thể xác định DO bằng hai phương pháp khác nhau:

    – Phương pháp điện cực oxy hòa tan – máy đo oxy.

    Cách tiến hành: Oxy trong nước được cố định ngay sau khi lấy mẫu bằng hỗn hợp chất cố định (MnSO4, KI, NaN3), lúc này oxy hòa tan trong mẫu sẽ phản ứng với Mn2+ tạo thành MnO2. Khi đem mẫu về phòng thí nghiệm, thêm acid sulfuric hay phosphoric vào mẫu, lúc này MnO2 sẽ oxy hóa I- thành I2. Chuẩn độ I2 tạo thành bằng Na2S2O3 với chỉ thị hồ tinh bột. Tính ra lượng O2 có trong mẫu theo công thức:

    Trong đó: VTB: là thể tích trung bình dung dịch Na2S2O3 0,01N (ml) trong các lần chuẩn độ.

    8: là đương lượng gam của oxy.

    VM: là thể tích (ml) mẫu nước đem chuẩn độ.

    1.000: là hệ số chuyển đổi thành lít.

    Đây là phương pháp được sử dụng rất phổ biến hiện nay. Máy đo DO được dùng để xác định nồng độ oxy hòa tan ngay tại hiện trường. Điện cực của máy đo DO hoạt động theo nguyên tắc: dòng điện xuất hiện trong điện cực tỷ lệ với lượng oxy hòa tan trong nước khuếch tán qua màng điện cực, trong lúc đó lượng oxy khuếch tán qua màng lại tỷ lệ với nồng độ của oxy hòa tan. Đo cường độ dòng điện xuất hiện này cho phép xác định được DO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Chứng Prader Willi Là Gì? Nguyên Nhân Và Phương Pháp Điều Trị
  • Kỹ Thuật Tập Trung Ký Sinh Trùng Trong Phân
  • Ứng Dụng Và Nguyên Lý Của Kỹ Thuật Western Blot
  • 6 Cách Chơi Wefinex Winsbo
  • Tổng Quan Về Phương Pháp Wyckoff
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100