Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Trong Nghiên Cứu Khoa Học

--- Bài mới hơn ---

  • 6 Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường Cho Người Mới Kinh Doanh
  • Hướng Dẫn Nghiên Cứu Thị Trường
  • 5 Phương Pháp Cơ Bản Trong Nghiên Cứu Thị Trường
  • Nghiên Cứu Tình Huống Trong Giảng Dạy Đại Học
  • Nghiên Cứu: Hiệu Quả Chi Phí Của Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Trực Tràng
  • 1-Phương pháp quan sát (observation):

    1.1.Nội dung phương pháp:

    Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp này thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập. Có thể chia ra:

    -Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp:

    Quan sát trực tiếp là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra. Ví dụ: Quan sát thái độ của khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng

    Quan sát gián tiếp là tiến hành quan sát kết quả hay tác động của hành vi, chứ không trực tiếp quan sát hành vi. Ví dụ: Nghiên cứu hồ sơ về doanh số bán trong từng ngày của một siêu thị để có thể thấy được xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong từng thời kỳ. Nghiên cứu về hồ sơ ghi lại hàng tồn kho có thể thấy được xu hướng chuyển dịch của thị trường.

    -Quan sát nguỵ trang và quan sát công khai:

    Quan sát nguỵ trang có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan sát. Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên.

    Quan sát công khai có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu biết họ đang bị quan sát. Ví dụ: Đơn vị nghiên cứu sử dụng thiết bị điện tử gắn vào ti vi để ghi nhận xem khách hàng xem những đài nào, chương trình nào, thời gian nào

    -Công cụ quan sát :

    Quan sát do con người nghĩa là dùng giác quan con người để quan sát đối tượng nghiên cứu. Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm thương mại

    Quan sát bằng thiết bị nghĩa là dùng thiết bị để quan sát đối tượng nghiên cứu. Chẳng hạn dùng máy đếm số người ra vào các cửa hàng, dùng máy đọc quét để ghi lại hành vi người tiêu dùng khi mua sản phẩm tại các cửa hàng bán lẻ; hay dùng máy đo có đếm số để ghi lại các hành vi của người xem ti vi…

    1.2-Ưu nhược điểm:

    Thu được chính xác hình ảnh về hành vi người tiêu dùng vì họ không hề biết rằng mình đang bị quan sát. Thu được thông tin chính xác về hành vi người tiêu dùng trong khi họ không thể nào nhớ nỗi hành vi của họ một cách chính xác. Ví dụ muốn tìm hiểu xem ở nhà một người thường xem những đài gì, tìm hiểu xem một người chờ làm thủ tục ở ngân hàng phải mất mấy lần liếc nhìn đồng hồ ? Áp dụng kết hợp phương pháp quan sát với phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác. Tuy nhiên kết quả quan sát được không có tính đại diện cho số đông. Không thu thập được những vấn đề đứng sau hành vi được quan sát như động cơ, thái độ…Để lý giải cho các hành vi quan sát được, người nghiên cứu thường phải suy diễn chủ quan.

    2-Phương pháp phỏng vấn bằng thư (mail interview):

    2.1-Nội dung phương pháp:

    Gởi bảng câu hỏi đã soạn sẵn, kèm phong bì đã dán tem đến người muốn điều tra qua đường bưu điện. Nếu mọi việc trôi chảy, đối tượng điều tra sẽ trả lời và gởi lại bảng câu hỏi cho cơ quan điều tra cũng qua đường bưu điện.

    Áp dụng khi người mà ta cần hỏi rất khó đối mặt, do họ ở quá xa, hay họ sống quá phân tán, hay họ sống ở khu dành riêng rất khó vào, hay họ thuộc giới kinh doanh muốn gặp phải qua bảo vệ thư ký…; khi vấn đề cần điều tra thuộc loại khó nói, riêng tư (chẳng hạn: kế hoạch hoá gia đình, thu nhập, chi tiêu,…); khi vấn đề cần điều tra cực kỳ hấp dẫn đối với người được phỏng vấn. (chẳng hạn: phụ nữ với vấn đề mỹ phẩm, nhà quản trị với vấn đề quản lý,…); khi vấn đề cần điều tra cần thiết phải có sự tham khảo tra cứu nhất định nào đó…

    2.2-Ưu nhược điểm:

    2.3-Các biện pháp làm tăng tỷ lệ trả lời thư :

    Tỷ lệ hồi đáp của phương pháp này nếu đạt trên 15% cũng là một thành công. Tuy nhiên các biện pháp sau sẽ làm gia tăng tỷ lệ trả lời:

    – Thông báo trước cho người được phỏng vấn : Dùng một bưu ảnh thông báo trước khoảng chừng năm ngày trước khi gởi bảng câu hỏi. Trong đó ghi cụ thể: họ tên người nhận (ghi rõ chức danh) và thông báo mục đích. Hoặc dùng một thư báo hay dùng điện thoại báo trước.

    – Chuẩn bị kỹ phong bì:Phong bì cần trang trọng bằng giấy tốt, có in tên nơi gởi và họ tên địa chỉ người nhận. Trên đó in đậm dòng chữ: Đây là cuộc điều tra chúng tôi đã thông báo với quý vị. Tuỳ trường hợp có thể in hay không in tên công ty mà ta cần điều tra vì để tạo tâm lý tốt nơi người nhận thư.

    – Chuẩn bị kỹ bức thư.Bức thư phải kích thích người nhận thư điền vào bảng câu hỏi và gởi trả lại. Bức thư phải được in đẹp trang trọng, mang màu sắc cá nhân, tránh tạo ra cảm giác là thư in hàng loạt để gởi cho bất cứ ai. Bắt đầu thư là lời kêu gọi sự giúp đỡ, nêu tầm quan trọng của vấn đề để thuyết phục họ trả lời. Thư đề cập vắn tắt đến mục đích nghiên cứu, đề cao tầm quan trọng của đối tượng được hỏi, hứa hẹn lợi ích nếu họ tham gia (chẳng hạn sẽ gởi họ tóm tắt bảng kết quả điều tra), cuối cùng nhắc đến tính đơn giản của bảng câu hỏi, và thời gian ngắn để trả lời.

    – Dùng kích thích vật chất:Đôi khi cần có môt món quà nhỏ như một cây bút, một tấm thiệp đẹp…kèm theo thư. Cũng có người kèm theo 500 đ mới để “mời một cốc cà phê” hay “tặng cháu bé trong gia đình”. Nếu món quà có gía trị tương đối, ta có thể hứa hẹn gởi đến sau khi nhận được bảng trả lời. Có thể đánh số thứ tự vào bức thư để người trả lời được tham dự xổ số trúng thưởng khi trả lời thư. Tuy nhiên một món quà quá hậu hỷ đôi khi làm người trả lời làm cho bạn vui lòng thay vì trả lời trung thực theo ý họ.

    – Chú ý đến hình thức trình bày của bảng câu hỏi:Bảng câu hỏi nên có bề ngoài đơn giản, hấp dẫn, dễ đọc, dễ trả lời. Đối với các câu hỏi mở cần chừa trống đủ để trả lời. Nên dùng tranh khôi hài nhỏ để gây sự thích thú và kích thích trả lời.

    – Chuẩn bị phong bì có dán tem trả lời với địa chỉ nơi nhận

    – Theo dõi quá trình hồi đáp: Khoảng từ 3 đến 5 ngày sau khi gởi bảng câu hỏi, nên có bưu thiếp gởi đến để nhắc nhở. Ngoài ra phải dùng một bức thư mới để kêu gọi sự trả lời, kèm theo một bảng câu hỏi và phong bì có dán tem thư trả lời, gởi khoảng 3 đến 4 tuần sau khi gởi bảng câu hỏi lần thứ nhất, để dự phòng khi đối tượng bận công tác hay đi nghỉ phép…

    3-Phương pháp phỏng vấn bằng điện thoại (telephone interview):

    3.1-Nội dung phương pháp:

    Nhân viên điều tra tiến hành việc phỏng vấn đối tượng được điều tra bằng điện thoại theo một bảng câu hỏi được soạn sẵn.

    Áp dụng khi mẫu nghiên cứu gồm nhiều đối tượng là cơ quan xí nghiệp, hay những người có thu nhập cao (vì họ đều có điện thoại); hoặc đối tượng nghiên cứu phân bố phân tán trên nhiều địa bàn thì phỏng vấn bằng điện thoại có chi phí thấp hơn phỏng vấn bằng thư. Nên sử dụng kết hợp phỏng vấn bằng điện thoại với phương pháp thu thập dữ liệu khác để tăng thêm hiệu quả của phương pháp.

    3.2-Ưu nhược điểm:

    3.3-Biện pháp làm tăng hiệu quả phỏng vấn qua điện thoại:

    Dùng máy vi tính trợ giúp để xử lý các câu hỏi mở (đáp viên trả lời theo ý thích của họ). Nhờ máy tính nối với điện thoại, các câu trả lời cho câu hỏi mở sẽ được ghi lại và sau đó sẽ được xử lý. Người ta còn căn cứ vào ngữ điệu và cường độ âm thanh để đo lường mức độ cảm nhận của đối tượng.

    4-Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp (personal interviews):

    4.1- Nội dung phương pháp:

    Nhân viên điều tra đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một bảng câu hỏi đã soạn sẵn.

    Áp dụng khi hiện tượng nghiên cứu phức tạp, cần phải thu thập nhiều dữ liệu; khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanh được,…

    4.2-Ưu nhược điểm:

    Do gặp mặt trực tiếp nên nhân viên điều tra có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra. Tuy nhiên chi phí cao, mất nhiều thời gian và công sức.

    4.3-Biện pháp nâng cao hiệu quả của phỏng vấn cá nhân trực tiếp:

    -Nâng cao tính chuyên nghiệp của vấn viên : Kỹ năng đặt câu hỏi phải khéo léo, tinh tế; không để cho quan điểm riêng của mình ảnh hưởng đến câu trả lời của đáp viên; phải trung thực (không được bịa ra câu trả lời, bỏ bớt câu trả lời để tự điền lấy cho nhanh); phải có kỹ năng giao tiếp tốt (giọng nói, ngữ điệu, y phục …phải phù hợp với nhóm người sẽ giao tiếp)

    5-Phương pháp điều tra nhóm cố định (panels)

    5.1-Nội dung phương pháp:

    Nhóm cố định là một mẫu nghiên cứu cố định gồm các con người, các hộ gia đình, các doanh nghiệp được thành lập để định kỳ trả lời các bảng câu hỏi qua hình thức phỏng vấn bằng điện thoại, bằng thư hay phỏng vấn cá nhân. Mỗi thành viên trong nhóm cố định được giao một cuốn nhật ký để tự ghi chép các mục liên hệ (thu nhập, chi tiêu, giải trí,…) hoặc được giao một thiết bị điện tử gắn với ti vi để tự động ghi lại các thông tin về việc xem ti vi như chương trình nào, kênh nào, bao lâu, ngày nào,…Nếu thành viên nhóm cố định là cửa hàng, siêu thị hay trung tâm thương mại thì sẽ được giao các thiết bị quét đọc điện tử (scanner) để ghi lại chi tiết về số hàng hoá bán ra như: số lượng, chủng loại, giá cả…Một số công ty nghiên cứu dùng nhóm cố định để thu thập thông tin liên tục từ tháng này qua tháng khác, rồi đem bán lại cho những nơi cần sử dụng. Có công ty lập nhóm cố định quy mô khổng lồ với một triệu đối tượng, bao gồm đủ mọi thành phần khách hàng cư trú trên khắp các địa bàn, để có thể phục vụ cho nhiều ngành tiếp thi khác nhau.

    5.2-Ưu nhược điểm:

    Chi phí rẻ do lặp lại nhiều lần một bảng câu hỏi theo mẫu lập sẵn. Giúp cho việc phân tích được tiến hành lâu dài và liên tục. Ví dụ: Nhờ theo dõi phản ứng của một người, một hộ hay một doanh nghiệp qua một thời gian dài; giúp cho việc đo lường được tác động của một số nhân tố đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó giúp ta dễ tìm ra tính quy luật trong tiêu dùng. Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy tỷ lệ tham gia nhóm cố định chỉ đạt dưới 50%. Hạn chế do biến động trong nhóm (Do tự rút lui, do bị phá sản, ngưng hoạt động, do chuyển ngành, do qua đời, chuyển chỗ ở, …). Hạn chế về thái độ của nhóm cố định. Nếu ta cứ liên tục nghiên cứu về một số yếu tố cố định (như hỏi họ mua hàng hoá nhãn hiệu gì) thì sẽ gây tác động đến tác phong của họ làm sai lệch kết quả nghiên cứu.

    6-Phương pháp điều tra nhóm chuyên đề: (forcus groups)

    6.1-Nội dung phương pháp:

    6.2-Ưu nhược điểm:

    6.3-Biện pháp nâng cao hiệu quả của phỏng vấn nhóm chuyên đề:

    Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu khoa học

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe Cộng Đồng
  • Phương Pháp Lịch Sử Và Phương Pháp Lô
  • Học Viện Khoa Học Quân Sự
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Là Làm Gì? Cách Nghiên Cứu Sản Phẩm
  • Meresci: Phương Pháp Nghiên Cứu Tài Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Viết Báo Cáo Một Báo Cáo Khoa Học
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bài Tiểu Luận Chi Tiết Nhất Từ A Đến Z
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Cho Luận Văn
  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Dữ Liệu Sơ Cấp, Thứ Cấp
  • Giới thiệu Giáo trình điện tử “Phương pháp nghiên cứu tài liệu trong nghiên cứu khoa học”

    Tên gọi

    Giáo trình điện tử “Phương pháp nghiên cứu tài liệu trong nghiên cứu khoa học”.

    Mục đích

    Giáo trình điện tử này sẽ giúp sinh viên và nhà nghiên cứu hiểu được các bước cần thiết để tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, biết cách lập một kế hoạch nghiên cứu và các phương pháp hiệu quả để tìm kiếm các nguồn tài liệu tham khảo, khai thác chúng để phục vụ đề tài nghiên cứu cũng như báo cáo kết quả nghiên cứu.Các mục tiêu cụ thể của giáo trình này bao gồm hai nhóm: mục tiêu tổng quát và mục tiêu chuyên biệt.Các mục tiêu tổng quát là giúp người học:

    • biết cách lập kế hoạch nghiên cứu khoa học;
    • biết cách tìm kiếm tài liệu tham khảo;
    • hiểu rõ các quy tắc trình bày tham khảo khoa học;
    • biết cách viết và soạn thảo một bài viết khoa học, thiết kế và soạn thảo một bài thuyết trình khoa học.

    Đối tượng chính mà giáo trình này hướng đến là các học viên cao học thuộc các chuyên ngành khoa học tự nhiên và kĩ thuật thuộc các trường đại học ở Việt Nam. Ngoài ra, các bạn sinh viên bậc đại học cũng có thể tham gia môn học này nhằm chuẩn bị kiến thức và kĩ năng cho đề tài nghiên cứu khoa học hoặc tốt nghiệp của mình.Một số nội dung trình bày trong giáo trình này cũng có thể sử dụng như nguồn tham khảo tương đối chi tiết, có hệ thống và dễ dàng truy cập đối với các nhà nghiên cứu khi cần đến.

    Yêu cầu đối với người học

    Người học cần:

    • có trình độ sử dụng máy tính và Internet tối thiểu ở mức căn bản;
    • đã, đang hoặc sẽ thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.

    Hình thức tổ chức

    Giáo trình được cấu trúc phân đoạn nhằm giúp người học dễ dàng thực hiện các hoạt động học tập đã thiết kế, đồng thời chủ động bố trí thời gian học tập phù hợp với hoàn cảnh công việc và gia đình.Loại hình học tập chủ yếu là hoạt động tự học với giáo trình được thiết kế sẵn theo kiểu phân đoạn.

    Tự học

    Người học truy cập website này hoặc liên hệ trực tiếp với tác giả để nhận đĩa CD-ROM. Giáo trình xem tốt nhất với trình duyệt Mozilla Firefox . Khi bắt đầu học, người học đọc kĩ thông tin giới thiệu, tự kiểm tra đầu vào, đọc giáo trình, xem ví dụ, minh hoạ, thực hành, làm các bài tập tự kiểm tra liên tục trong quá trình học. Khi học xong mỗi phần, người học tự thực hiện các bài tập kiểm tra đầu ra để đánh giá kết quả học tậpNgười học sử dụng một phiếu nhật trình, điền thông tin hàng tuần, để tự theo dõi đều đặn nhịp điệu học tập của mình, và tự điều chỉnh các hoạt động học tập nếu cần thiết. . Thời gian và thời lượng học do người học tự bố trí.

    Học có người hướng dẫn qua mạng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Quản Thực Phẩm Bằng Phương Pháp Điều Chỉnh Khí Quyển Map (Modified Atmosphere Packaging)
  • Mindmap Là Gì? Cách Vẽ Mindmap Nhanh Và Hiệu Quả Nhất
  • Giúp Bé Ghi Nhớ Và Học Tốt Với “bản Đồ Tư Duy”
  • Mindmap Là Gì ? Thiết Lập Mindmap Như Thế Nào?
  • Mind Map Là Gì? Cách Vẽ Và Các Bước Thực Hiện Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Mind Map
  • Phương Pháp Thu Thập Số Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giải Các Bài Tập Di Truyền Hoán Vị Cơ Bản
  • Phân Dạng Và Phương Pháp Tính Tần Số Hoán Vị Gen Các Bài Toán Hoán Vị Gen Thường Gặp Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Và Đại Học, Cao Đẳng
  • Bg Ky Thuat Bao Che Vien Nen
  • Mục Đích Và Quy Trình Tạo Hạt Ướt Trong Sản Xuất Thuốc
  • Các Phương Pháp Tạo Hạt Trong Sản Xuất Dược Phẩm
  • Quần thể (population)

    Một tập hợp các đối tượng khảo sát (người, cá thể, nhân vật, sinh vật,…) và chứa các đặc tính cần nghiên cứu hay khảo sát.

    Quần thể mục tiêu

    (target population)

    Mang đặc tính nào đó và được đánh giá qua mẫu; hoặc mang các đặc tính cần nghiên cứu và đại diện cho toàn quần thể. Ví dụ, khi nghiên cứu về việc sử dụng các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, thì quần thể mục tiêu là người bị đái tháo đường.

    Mẫu (sample)

    Một phần hoặc tập hợp nhỏ cá thể của quần thể mục tiêu được chọn đại diện cho quần thể để khảo sát nghiên cứu.

    Mẫu không xác suất (non-probability sample)

    Phương pháp trong đó việc chọn mẫu không có xác suất đồng đều hay các cá thể trong quần thể không có cơ hội được chọn như nhau.

    Mẫu xác suất

    (probability sample)

    Phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi cá thể có một xác suất đặc trưng của mẫu và thường bằng nhau. Hầu hết việc lấy mẫu xác suất sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên để tạo ra mỗi cá thể trong quần thể có cơ hội được chọn như nhau.

    Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin cậy thấp. Mức độ chính xác của cách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghiệm của người nghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng.

    * Chọn mẫu xác suất

  • Hút thuốc lá.
  • Uống cà phê.
  • Béo phì.
  • Khác (ghi rõ)……………………………
  • * Cấu trúc chung của một bộ câu hỏi

    Thường gồm 2 phần chính:

    – Phần thông tin chung: Tên, tuổi, giới, địa chỉ, trình đọ văn hóa, nghề nghiệp….

    – Phần thông tin đặc thù cho nghiên cứu: Tùy mục tiêu nghiên cứu.

    * Các bước cần làm khi thiết kế bộ câu hỏi

    – Chọn loại câu hỏi sẽ sử dụng: Bộ câu hỏi hay phiếu hỏi.

    – Liệt kê danh sách các biến: tùy theo câu hỏi nghiên cứu.

    – Lựa chon cách thu thập số liệu cho từng biến: câu hỏi, khám, xét nghiệm.

    – Viết nháp bộ câu hỏi.

    – Tham khảo ý kiến chuyên gia, sửa lại.

    – Thu thập thông tin thử từ bộ câu hỏi.

    – Sửa và viết lại cho phù hợp.

    – Mã hóa thông tin từ câu hỏi.

    – In ấn, sử dụng.

    * Tiêu chuẩn một bộ câu hỏi tốt

    – Rõ ràng và có tính đặc thù.

    – Đơn giản, dễ hiểu, dễ mã hóa.

    – Dễ trả lời.

    * Một số nguyên tắc mã hóa các câu hỏi

    Mã hóa các câu hỏi là bước rất quan trọng để xử lý số liệu trên các phần mềm phân tích thống kê.

    Gán số cho từng mục của câu hỏi: thường dùng cho các biến định tính.

    Ví dụ: Gia đình anh/chị thường dùng loại nước nào sau đây để ăn uống:

    1. Nước máy 2. Nước giếng 3. Nước mưa

    4. Nước sông/suối 5. Nước ao hồ

    Ví dụ: Giới tính: 1. Nam 2. Nữ

    Với các biến định lượng (biến liên tục): không nên mã hóa số liệu. Khi cần chuyển đổi từ biến định lượng sang biến định tính (phân nhóm số liệu) có thể thực hiện được trên các phần mềm thông kê.

    – Cho điểm lượng hóa từ các biến định tính:

    Ví dụ: Anh chi có đồng ý việc cấm hút thuốc lá trong khuôn viên bệnh viện không:

    1. Rất đồng ý 2. Đồng ý

    3. Không đồng ý 4. Rất không đồng ý

    4. Kết luận

    Thu thập số liệu nghiên cứu là một bước rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Để có được số liệu chính xác, đầy đủ và đáp ứng yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu phải lựa chọn phương pháp, kỹ thuật và công cụ thu thập số liêu sao cho phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các nguồn lực có được để thực hiện nghiên cứu.

    5. Tài liệu tham khảo

    1. Đỗ Hàm (2009), Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học y học, Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên.

    2. Phạm Văn Hiền (2009), Phương pháp tiếp cận nghiên cứu khoa học, http://pgo.hcmuaf.edu.vn/pvhien.

    3. Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình (2004), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Đại học Thái Nguyên.

    4. Đinh Thanh Huề (2004), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Y Huế.

    5. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường Đại học SPKT TPHCM.

    Tác giả bài viết: chúng tôi Võ Bảo Dũng

    Nguồn tin: Phòng Kế hoạch tổng hợp – Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Các Phương Pháp Xử Lý Dữ Liệu Đa Biến
  • Các Cách Xử Lý Số Liệu Thống Kê Hiệu Quả Nhất
  • Cách Xử Lý, Hiệu Chỉnh Số Liệu Xấu Trong Spss
  • Phương Pháp Xử Lý Số Liệu Thống Kê Trong Nckh Ppthongkexulysolieudieutranckh Doc
  • Phân Tích Xử Lý Nghiên Cứu Định Tính
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Viết Báo Cáo Nckh Sinh Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Ts Vũ Cao Đàm
  • Để Viết “phần Phương Pháp” Của Một Bài Báo Nghiên Cứu Khoa Học Bằng Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Hiện Nay
  • Bài Giảng Nghiên Cứu Khoa Học
  • 47517

    1. Khoa học là gì?

    Khoa học (science) được định nghĩa bởi Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy “.

    Như vậy, có thể nói, khoa học là hệ thống tri thức (hiểu biết) của con người về hiện thực khách quan. Khoa học chính là sự phản ánh của con người về hiện thực khách quan. Hiện thực ấy có thể là các hiện tượng thuộc về tự nhiên (mưa, bão, sấm, chớp, lũ, lụt, nóng ấm toàn cầu, biến đổi khí hậu, lở đất, sóng thần v.v.) hoặc hiện tượng xã hội ( tội phạm, bạo lực gia đình, hoạt động kinh doanh, tổ chức sự kiện, vui chơi, giải trí, bạo loạn, cách mạng v.v.) hoặc các hiện tượng gắn bởi bản thân mỗi con người.

    Khi nói tới khoa học, rất cần phân biệt “tri thức khoa học” với “tri thức thông thường”. Tri thức khoa học không nhất thiết đồng nhất với tri thức thông thường (commonsense knowledge). Tri thức thông thường có khi “đúng”, có khi “sai”. Tuy nhiên, tri thức khoa học là tri thức được phát hiện thông qua một quy trình nghiên cứu, phát hiện, kiểm chứng theo những chuẩn mực nhất định. Quá trình ấy chính là hoạt động nghiên cứu khoa học. Bởi vậy, tri thức khoa học thường là sản phẩm chọn lọc công phu của các nhà khoa học.

    Khi tìm hiểu về “khoa học”, thường người ta hay nhắc tới “công nghệ”. Công nghệ được Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa là “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.” Thông thường, có thể hiểu rằng, công nghệ chính là sự ứng dụng của tri thức khoa học vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không có tri thức khoa học làm nền, hoạt động sáng tạo công nghệ sẽ rất khó được thực hiện. Ngày nay, khi nói tới công nghệ, người ta thường nói tới các phát minh, sáng chế. Đây là những giải pháp được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, được bảo hộ pháp lý bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Ở Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các phát minh, sáng chế được thực hiện theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

    Có thể khẳng định rằng, ngày nay, một quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh phải là quốc gia mạnh về công nghệ. Nói cách khác, từng sản phẩm được sử dụng hàng ngày, đến quy trình sản xuất ra các loại sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế đều là sự tích tụ hàm lượng trí tuệ rất cao. Chính vì thế, không phải không có lý khi cho rằng, trí tuệ hoặc trí thông minh, năng lực đổi mới, sáng tạo chính là yếu tố nền tảng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nhiều quốc gia bứt phá được khỏi bẫy thu nhập trung bình, vươn lên vào câu lạc bộ các quốc gia phát triển nhờ dám đặt cược sinh mệnh quốc gia, đặt cược sinh mệnh của nền kinh tế, sinh mệnh của nền quản trị quốc gia vào hệ thống đổi mới, sáng tạo, cũng là đặt cược vào tiềm năng, sức mạnh sáng tạo của con người, của người dân quốc gia ấy. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore có thể coi là những quốc gia như vậy.

    2. Nghiên cứu khoa học là gì?

    Vậy nghiên cứu khoa học là gì?

    Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn“.

    Người ta thường phân hoạt động nghiên cứu khoa học thành 2 loại là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.” Nghiên cứu ứng dụng, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.”

    Nghiên cứu khoa học đã từng được thực hiện hàng ngàn năm trước. Các nhà khoa học ở Athen đã từng phát hiện ra nhiều tri thức khoa học quan trọng, nhất là các tri thức về toán học, thiên văn học. Chẳng hạn, định luật Pytago, định luật acsimet v.v. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học gắn liền với sản xuất công nghiệp và được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sản xuất công nghiệp gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế thị trường, gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân).

    Nhờ các hoạt động khoa học, nhiều phát minh, sáng chế quan trọng đã ra đời. Những sáng chế quan trọng có thể kể tới như:

    – Phát minh ra máy hơi nước;

    – Phát minh ra động cơ đốt trong;

    – Phát minh ra bóng điện;

    – Phát minh ra máy điện thoại;

    – Tìm ra quy luật về mối quan hệ giữa năng lượng và khối lượng của Einstein (E = MC2).

    Có thể kể ra đây một số phát minh được xem là quan trọng hàng đầu nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng góp phần làm thay đổi thế giới:

    Liên hệ với lĩnh vực nhà nước và pháp luật, chúng ta đã khá quen với luận đề nổi tiếng của Marx khi nhấn mạnh tới bản chất “công cụ giai cấp” của pháp luật trong các xã hội có phân tầng và có giai cấp: Pháp luật của được nâng lên thành luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định.” Trường phái này là sự tiếp nối tư tưởng nghiên cứu pháp luật từ thời La Mã cổ đại, được kế tục trong thời kỳ khai sáng với các học giả quan trọng như Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau. Tuy nhiên, khi xã hội học được ra đời nhờ sự đóng góp của August Comte (1798-1857), Emile Durkheim (1958-1917), Max Weber (1864-1920), và Roscoe Pound (1870-1964), thì nền tảng lý luận xã hội học pháp luật được củng cố vững chắc hơn. Ở chừng mực nhất định, tư tưởng của Marx về pháp luật cũng có thể được xếp và trường phái xã hội học pháp luật.

    Thứ hai, trường phái kinh tế học pháp luật (Law and Economics) hoặc kinh tế học thể chế (Institutional Economics). Trường phái này nhấn mạnh tới mối tương tác giữa pháp luật với quá trình phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội. Theo lý luận của trường phái này, pháp luật có vai trò quan trọng đối với sự phân bổ nguồn lực tối ưu trong xã hội (có thể khuyến khích hoặc ngăn cản các hoạt động tối ưu hóa sử dụng nguồn lực trong xã hội). Trường phái này được xây dựng dựa trên một giả định quan trọng (nhưng là thứ giả định mang tính giản lược và có phần siêu hình) về bản chất của con người, bản chất hành vi của con người. Theo đó, cá nhân con người trong đời sống hiện thực đều là những con người có hai đặc điểm là “vị lợi” (self-interested) và “duy lý” (rational). Điều này hàm ý rằng, hành vi của mỗi con người là sản phẩm của sự chọn lựa duy lý (có cân nhắc tính toán thiệt/hơn, lợi/hại) và bị thúc đẩy bởi nhân tố lợi ích (mong muốn tối đa hóa lợi ích của bản thân hoặc của người thân thích của mình).

    3. Xu hướng nghiên cứu luật học so sánh

    Nghiên cứu luật học so sánh là một xu hướng nghiên cứu rất quan trọng và có ứng dụng rộng rãi trong công tác xây dựng pháp luật. Cốt lõi của việc nghiên cứu luật học so sánh không đơn thuần là đi so sánh, tìm hiểu, giải thích sự giống và khác nhau trong các quy định pháp luật hoặc trong các hiện tượng pháp lý ở các quốc gia khác nhau. Cốt lõi của nghiên cứu luật học so sánh hiện nay chính là tìm hiểu hiện tượng các ý tưởng pháp lý hoặc các giải pháp pháp lý, các quy phạm, chế định pháp lý, thiết chế pháp lý cụ thể đã “khuếch tán” như thế nào ra khỏi quê hương của mình. Nói cách khác, luật học so sánh quan tâm hàng đầu tới việc các hệ thống pháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thế nào, có thể học hỏi được ở nhau những gì. Chính vì thế, trong những năm gần đây, lý thuyết luật so sánh được phát triển và ứng dụng rộng rãi hiện nay là lý thuyết cấy ghép pháp luật (hoặc lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài) (legal transplantation theory). Lý thuyết này quan tâm giải quyết các vấn đề như:

    • Vì sao pháp luật quốc gia khác nhau lại quan tâm học hỏi lẫn nhau?
    • Trường hợp nào việc du nhập pháp luật của nước khác vào quốc gia mình sẽ thành công và trường hợp nào không thành công?
    • Khi một quy phạm/giải pháp pháp lý hoặc một chế định, thiết chế pháp lý được du nhập vào một quốc gia thì chúng sẽ bị biến đổi (khúc xạ) như thế nào so với thiết kế nguyên mẫu của mình.

    Điều kỳ quặc là, dù nhiều học giả cho rằng quy phạm pháp luật/thiết chế pháp luật sau khi du nhập sẽ không còn giữ nguyên được tính năng, tác dụng ban đầu của mình, nhưng thực tế, vay mượn pháp luật, nhập khẩu, du nhập pháp luật vẫn là cách mà hàng loạt quốc gia sử dụng khi tiến hành cải cách pháp luật.

    Ngày nay, xu hướng nghiên cứu so sánh đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong lĩnh vực luật học mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như: chính trị học so sánh (comparative politics), kinh tế học so sánh (comparative economic systems), chính sách công so sánh (comparative public policy), hành chính công so sánh (comparative public administration), tư pháp hình sự so sánh (comparative criminal justice systems) v.v.

    IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ

    Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý có thể hiểu đó là những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Nói cách khác, đó chính là cách thức tiến hành các công việc nghiên cứu mà người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện để thu thập được những bằng chứng, dữ liệu, tìm ra những phát hiện, những tri thức mới đáng tin cậy.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý thường được chia thành 2 nhóm phương pháp: phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Đi vào cụ thể, có thể nói tới 5 phương pháp cơ bản như: (1) phương pháp quan sát, mô tả thực tế; (2) phương pháp thực nghiệm khoa học; (3) phương pháp điều tra (phỏng vấn ngẫu nhiên, phỏng vấn sâu, điều tra theo mẫu v.v.); (4) phương pháp nghiên cứu tình huống (case studies); (5) phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp (dữ liệu có sẵn, chẳng hạn các số liệu thống kê); (6) phương pháp so sánh (trong lĩnh vực luật là phương pháp luật học so sánh). Trong quá trình xử lý dữ liệu được thu thập (kể cả dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu thứ cấp), nhất là khi viết báo cáo kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu thường sử dụng các kỹ thuật xử lý dữ liệu hoặc kỹ thuật tư duy (mà nhiều khi cũng được gọi là phương pháp nghiên cứu) như: tổng hợp, phân tích, trừu tượng hóa, mô hình hóa, diễn dịch, quy nạp v.v.

    Trong thực tế hiện nay, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý có thể sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau tùy theo đối tượng, nội dung hay vấn đề nghiên cứu cần thực hiện.

    Chẳng hạn, khi nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận, để nhận diện sâu sắc hơn bản chất của vấn đề, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp phân tích, tổng hợp, mô hình hóa sẽ được sử dụng.

    Khi nghiên cứu các vấn đề thực tiễn, việc điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu thống kê (hay còn gọi là phương pháp xã hội học) rất cần thiết được thực hiện.

    Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, do sự giới hạn về thời gian, nguồn lực nghiên cứu, người được giao thực hiện nghiên cứu không có điều kiện để tự mình tiến hành tổng hợp, nghiên cứu toàn bộ các vấn đề mà phải sử dụng các chuyên gia, người có am hiểu sâu về một số nội dung, khía cạnh được nghiên cứu. Khi này, giới nghiên cứu thường gọi là phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia hoặc trưng cầu ý kiến chuyên gia.

    Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, sự tương tác giữa các hệ thống pháp luật với nhau diễn ra khá phổ biến, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Chính vì thế, phương pháp nghiên cứu luật học so sánh rất được coi trọng.

    Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực.

    Cơ sở logic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy. Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm (tư duy)) do người nghiên cứu tạo ra (lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực) để thay thế việc nghiên cứu đối tượng thực. Điều này thường xảy ra khi người nghiên cứu không thể hoặc rất khó nghiên cứu đối tượng thực trong điều kiện thực tế.

    Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song tách ra từ hệ thống (đối tượng) các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống – đó là sự trừu tượng hóa hệ thống thực.

    Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống.Ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất vật lý giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh, suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn….

    3. Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học

    Việc điều tra, khảo sát xã hội học đòi hỏi rất nhiều yêu cầu, kỹ thuật để thực hiện. Điều trước tiên là phải xác định được phạm vi, nội dung, đối tượng điều tra, khảo sát. Đây chính là những người có được thông tin mà người nghiên cứu đang cần được tiếp cận. Chẳng hạn, nếu chúng ta được giao nhiệm vụ đánh giá thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 bằng việc điều tra, khảo sát thực tiễn, khi xác định đối tượng điều tra, khảo sát phải bao gồm các nhóm đối tượng cơ bản sau đây:

    – Cán bộ trực tiếp tổ chức thực thi Luật: cán bộ các cơ quan y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương ở các cấp.

    – Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trực tiếp phải chấp hành Luật an toàn thực phẩm: ví dụ cơ sở thức ăn đường phố, nhà hàng v.v.

    – Người dân với tư cách là người tiêu dùng thực phẩm.

    Việc chọn địa bàn điều tra, khảo sát cũng rất quan trọng. Yêu cầu chính khi chọn địa bàn điều tra, khảo sát là phải xem địa bàn ấy có đối tượng được điều tra, khảo sát có nhiều thông tin cần thu thập hay không. Thêm vào đó, phải làm sao địa bàn được chọn mang tính đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, có đại diện của đô thị, nông thôn và miền núi (thậm chí là vùng biển, hải đảo). Ví dụ: khi điều tra, khảo sát về thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm, số tỉnh, thành phố được chọn làm địa bàn điều tra thường là 9 tỉnh để bảo đảm tính đại diện.

    Việc xác định số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát là rất cần thiết. Trước một thực tiễn, do đối tượng được điều tra, khảo sát có nhận thức khác nhau nên nếu số lượng đối tượng điều tra, khảo sát quá ít, kết quả điều tra, khảo sát sẽ khó bảo đảm được tính đại diện. Trong thực tiễn làm việc tại Viện Khoa học pháp lý, số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát sẽ tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, với các cuộc điều tra, khảo sát có quy mô toàn quốc, số đối tượng được điều tra, khảo sát thường xoay quanh mức từ 3 tới 5 ngàn đối tượng.

    Để thu thập được thông tin từ quá trình điều tra, khảo sát xã hội học, người làm công tác điều tra, khảo sát thường sử dụng 3 cách thức sau:

    – Phỏng vấn đối tượng điều tra, khảo sát thông qua phiếu hỏi (phiếu thông thường hoặc phiếu phỏng vấn sâu).

    – Tiến hành tọa đàm, trao đổi với các đối tượng được khảo sát.

    – Thu thập số liệu thống kê, dữ liệu chính thống từ các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức có dữ liệu, số liệu.

    4. Phương pháp luật học so sánh

    Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm giống và khác của pháp luật giữa các quốc gia khác nhau chưa đủ để trở thành phương pháp luật học so sánh mặc dù phương pháp luật học so sánh thường sử dụng kỹ thuật so sánh, đối chiếu này.

    Phương pháp luật học so sánh đòi hỏi nghiên cứu, giải thích sự phát sinh, phát triển, biến đổi của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các thiết chế pháp luật trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của quốc gia được chọn lựa để so sánh, từ đó hiểu rõ giá trị, vai trò, ý nghĩa của các quy phạm, chế định hoặc thiết chế đó. Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc ấy, việc so sánh và phát hiện điểm giống và khác, cùng với sự giải thích căn nguyên của những sự giống và khác đó mới có ý nghĩa.

    Ngoài ra, phương pháp luật học so sánh còn quan tâm tới hiện tượng tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài (legal diffusion) hoặc cấy ghép pháp luật, khi các quốc gia có sự học hỏi, tham khảo lẫn nhau để hoàn thiện pháp luật của quốc gia mình.

    V. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – LIÊN HỆ THỰC TIỄN

    1. Xây dựng pháp luật là gì?

    Quan niệm hoạt động xây dựng pháp luật là loại hình lao động quyền lực nhằm đưa ý chí của Nhà nước, ý chí của nhân dân lên thành pháp luật, tạo ra các quy phạm pháp luật như đề cập ở trên là đúng nhưng chưa đủ. Qua nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước này, chúng tôi thấy cần bổ sung thêm 4 khía cạnh nhận thức về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật (nhất là gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam):

    Thứ hai, cần nhấn mạnh tới thực tế Nhân dân không phải là một khối đồng nhất mà là những khối, những nhóm lợi ích rất đa dạng. Thực tiễn Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới vừa qua cho thấy xu thế phân tầng xã hội là một thực tế và sự phân tầng ấy ngày càng phức tạp. Cách tiếp cận cấu trúc xã hội theo kiểu truyền thống là 2 giai cấp (nông dân, công nhân), 1 tầng lớp (trí thức) đã ngày càng không phản ánh đúng thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay cũng như trong thời gian tới. Nói cách khác, xây dựng pháp luật là quá trình xã hội (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) chọn lựa những giải pháp pháp lý để xử lý các vấn đề mà xã hội đang đặt ra, đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp ứng phó. Xây dựng pháp luật chính là quá trình xã hội ra quyết định về việc thay đổi hành vi của những chủ thể nhất định để giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra. Việc quan niệm xây dựng pháp luật là một quá trình ra quyết định, sẽ đưa tới nhiều gợi mở quan trọng cho việc nhận diện chính xác hơn những vấn đề trong công tác hoàn thiện pháp luật. Theo lý thuyết về ra quyết định, một quyết định chỉ có thể là quyết định hợp lý (tối ưu), nếu người ra quyết định đáp ứng tối thiểu 2 điều kiện sau Như trên, tr. 9.

    Như trên, tr. 9.

    [12] Như trên, tr. 13.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Trong Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam/chương Mở Đầu
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Học
  • Nghiên Cứu Ngành Ngôn Ngữ Học
  • Nhân Học: Khoa Học Nghiên Cứu Về Con Người
  • Nhân Chủng Học Là Gì? Sự Phân Ngành Trong Nhân Loại Học
  • Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Tuy nhiên việc thu thập dữ liệu lại thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các kỹ thuật thu thập dữ liệu.

    2. Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

    2.1. Phương pháp quan sát (observation)

    Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp thu thập dữ liệu này khá tiện dụng thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập.

    • Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp: Quan sát trực tiếp là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra. Ví dụ: Quan sát thái độ của khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng
    • Quan sát ngụy trang và quan sát công khai: Quan sát ngụy trang có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan sát. Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên.
    • Người quan sát hay quan sát bằng thiết bị: Quan sát do con người nghĩa là dùng giác quan con người để quan sát đối tượng nghiên cứu. Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm thương mại.
    • Quan sát có cấu trúc hay không cấu trúc Quan sát có cấu trúc là quan sát hành vi nào trước, hành vi nào sau. Ngược lại, quan sát không theo cấu trúc là không giới hạn hành vi quan sát.

    2.2. Phương pháp phỏng vấn

    Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa một bên là phỏng vấn viên và một bên là người được phỏng vấn thông qua một hình thức tiếp xúc nào đó. Trong thực tiễn các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn khá đa dạng:

    Các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn;

    • Phỏng vấn trực tiếp;
    • Phỏng vấn qua thư tín;
    • Phỏng vấn qua điện thoại;
    • Phỏng vấn qua Email…

    Các kỹ thuật trong phỏng vấn

    Việc phỏng vấn này thích hợp cho các cuộc nghiên cứu với số lượng người được hỏi khá lớn. Mọi người chắc chắn được hỏi những câu hỏi giống nhau. Sau này, việc thống kê phân tích sẽ dễ dàng hơn.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc: Phỏng vấn viên được hỏi một cách tự nhiên như một cuộc mạn đàm, hay nói chuyện tâm tình, tùy theo sự hiểu biết của người đáp mà hỏi nhiều hay ít, hoặc đi sâu vào những điều khác lạ mới phát hiện nơi người đáp. Đồng thời đi cả vào những chi tiết mà trong Kế hoạch thông tin không đề cập do không thể tiên liệu hết tình hình cụ thể.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc đòi hỏi phỏng vấn viên phải có trình độ cao về kỹ thuật phỏng vấn, nắm vững mục đích của cuộc nghiên cứu, khía cạnh chuyên môn về marketing. trong thực tế, người ta gọi đây là phỏng vấn theo chiều sâu, và được áp dụng trong trường hợp số lượng đối tượng phỏng vấn ít, các chuyên gia, các nhà bán sỉ, lẻ có uy tín và người đáp có trình độ.

    Hình thức phỏng vấn nhân: Diễn ra chỉ giữa 2 người là phỏng viên và đối tượng phỏng vấn, nêu tiếp xúc với một đám động thì phải tiến hành phỏng vấn với từng người một, và chú ý hạn chế tối đa sự chúng kiến nội dung phỏng vấn nhằm hạn chế sự trả lời thiên lệch của đối tượng phỏng vấn (do bị ảnh hưởng bởi tâm lý dẫn dắt, bầy đàn). Vì vậy, người ta thường cố gắng thực hiện phỏng vấn với không gian riêng, tránh sự góp ý nhòm ngó của những người xung quanh.

    Các hình thức tổ chức phỏng vấn

    Phỏng vấn nhóm: Là việc tiến hành phỏng vấn cùng lúc với nhiều người, có 2 loại áp dụng trong phỏng vấn nhóm gồm:

    Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn về các đề tài kinh tế, hãy liên hệ Dịch vụ viết thuê luận văn của Luận Văn 24 – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.

    • Nhóm cố định: Là nhóm từ 50-200 người được lựa chọn theo một tiêu chuẩn chọn mẫu, được huấn luyện về mục đích nghiên cứu, về phương pháp trả lời (nhiều hình thức). Họ có thể là những thành viên có thoả thuận cộng tác nghiên cứu để làm tốt việc trả lời các câu hỏi do công ty nghiên cứu đưa ra, để theo dõi trong một thời gian dài (6T-12T) để đo lường sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng.

    Phương pháp thu thập dữ liệu này gồm 2 loại:

    Thử nghiệm tại hiện trường là việc quan sát đo lường thái độ, phản ứng của khách hàng trước những sự thay đổi của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ như: thay đổi giá bán, thay đổi cách thức phục vụ, chăm sóc khách hàng… Việc quan sát được thực hiện tại nơi diễn ra sự giao dịch, cho nên được gọi là thử nghiệm tại hiện trường.

    2.4. Phương pháp điều tra thăm dò

    Điều tra là việc tìm hiểu thật kỹ ngọn nguồn các sự kiện, chú trọng tới việc thu thập thông tin cùng các nhân chứng, vật chứng. Trong nghiên cứu marketing phương pháp thu thập dữ liệu này được áp dụng khá phổ biến vì những ưu thế của nó nhằm bảo đảm 4 nguyên tắc của một nghiên cứu khoa học.

    Công cụ chủ yếu được dùng để thu thập các thông tin, sự kiện trong phương pháp này là Bảng câu hỏiQuestions Form” do khách hàng tự trả lời.

    Nó đặc biệt hữu dụng trong nghiên cứu định lượng bởi vì: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nghiên cứu marketing là các ý kiến, kỳ vọng của khách hàng, nhà cung cấp, người tiêu dùng… cần được đo lường, tính toán, so sánh một cách cụ thể. Vì vậy, cách thức để thu thập dữ liệu bằng “bảng câu hỏi” trong điều tra thăm dò là phù hợp hơn cả.

    Trong thực tế, phương pháp phỏng vấn (theo cấu trúc) cũng sử dụng một hình thức sử dụng “bảng câu hỏi” nhưng nó mang tính chất đối thoại nhiều hơn do đó đối với những vấn đề cần có những ý kiến so sánh, đánh giá, đo lường cụ thể và chi tiết (nghiên cứu định lượng) thì phương pháp điều tra thăm dò tỏ ra có ưu thề hơn về mặt hiệu quả của việc thu thập thông tin.

  • Có khả năng quan sát và kỹ năng tiếp xúc
  • Có khả năng dẫn dắt và là người biết lắng nghe. Xóa bỏ các thành kiến, đồng cảm và khuyến khích các thành viên khác đưa ra ý kiến.
  • Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn tốt nghiệp của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.

    • Khám phá thái độ, thói quen tiêu dùng;
    • Phát triển giả thuyết để kiểm nghiệm định lượng tiếp theo;
    • Phát triển dữ liệu cho việc thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng;
    • Thử khái niệm sản phẩm mới;
    • Thử khái niệm thông tin;
    • Thử bao bì, lô gô, tên của thương hiệu…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Nghiên Cứu Marketing
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Của Môn Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Bài 1: Lý Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Lịch Sử Logic Học
  • Một Số Vấn Đề Chủ Yếu Trong Phương Pháp Thu Thập Và Xử Lý Dữ Liệu Đối Với Nghiên Cứu Khoa Học Của Sinh Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Dữ Liệu Lớn Là Gì? Và Nó Được Ứng Dụng Như Thế Nào?
  • Dữ Liệu Thứ Cấp Trong Công Tác Nghiên Cứu Thị Trường
  • Chi Tiết Bài Học Tiền Xử Lý Dữ Liệu Trong Lĩnh Vực Học Máy (Phần 1)
  • Luận Văn Ths: Nghiên Cứu Và Đánh Giá Các Phương Pháp Tổng Hợp Dữ Liệu Cho Bài Toán Phân Loại Lớp Phủ Đô Thị Tại Việt Nam
  • Combo Nước Muối Và Yoga
  • LỜI MỞ ĐẦU

    Nghiên cứu khoa học (NCKH) chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống con người nói chung và trong các hoạt động học thuật, tư duy trong môi trường giáo dục nói riêng. Chính vì lý do đó, hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam, và đặc biệt là tại các trường đại học được chú trọng và khuyến khích phát triển. Nghiên cứu phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ đảm bảo chất lượng đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của Giảng viên Đại học. Hoạt động khoa học công nghệ trong trường Đại học không chỉ bao gồm giảng viên và các nhà khoa học mà còn có cả sinh viên thuộc các loại hình đào tạo đang theo học tại trường, tuy nhiên hoạt động NCKH của sinh viên còn nhiều hạn chế và cần có sự quan tâm nhiều hơn từ phía nhà trường, các giảng viên với vai trò là người hướng dẫn định hướng và nhất là từ các bạn sinh viên. Trong quá trình nghiên cứu khoa học để đạt được hiệu quả cao thì vấn đề thu nhập và xử lý dữ liệu là một vấn đề hết sức quan trọng. Làm tốt giai đoạn thu thập và xử lý dữ liệu phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu là bước đầu mang đến thành công nhất định cho đề tài, giúp người nghiên cứu giải quyết hiệu quả những vấn đề nghiên của mình. Vì vậy trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu trong NCKH của sinh viên, trên quan điểm đưa ra những vấn đề cơ bản nhất giúp sinh viên có thể tiến hành thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ cho công tác NCKH đạt hiệu quả tốt nhất.

      Căn cứ lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu

    Phổ biến trong các nghiên cứu kinh tế xã hội thường sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu như: phỏng vấn, quan sát, phân tích tài liệu sẵn có. Mỗi phương pháp thu thập có ưu điểm và hạn chế riêng nên việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào một số yếu tố như:

    • Mục đích nghiên cứu
    • Nội dung nghiên cứu
    • Đối tượng nghiên cứu
    • Khả năng của người tổ chức nghiên cứu

    Trong một NCKH không nên chỉ sử dụng duy nhất một phương pháp mà nên kết hợp một số phương pháp với nhau trong đó có một phương pháp chủ đạo từ đó quyết định xem cuộc nghiên cứu là định lượng hay định tính.

    Yếu tố cơ bản quyết định đến phương pháp thu thập dữ liệu là nội dung, mục đích nghiên cứu. Song nếu chỉ căn cứ vào các yếu tố này mà không cân nhắc đến các yếu tố khác là khả năng của người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu thì việc lựa chọn phương pháp thu thập cũng không đảm bảo mang lại dữ liệu có chất lượng.

    Thực chất của việc lựa chọn phương pháp thu thập là giải bài toán cân đối các yếu tố sao cho chọn được phương pháp đáp ứng đầy đủ nhất yêu cầu của các yếu tố.

    2. Một số phương pháp thu thập dữ liệu 2.1. Phương pháp phỏng vấn

    Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng nhiều nhất và cũng là phương pháp cung cấp dữ liệu phục vụ một cách hiệu quả nhất cho mục đích nghiên cứu. Phần lớn các dữ liệu thu thập để phân tích được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn. Tuỳ theo cách tiếp cận với đối tượng để thu thập dữ liệu mà phỏng vấn sẽ có những hình thức biểu hiện khác nhau. Thu thập dữ liệu một cách gián tiếp qua bảng hỏi là phương pháp phỏng vấn viết, tiếp xúc trực tiếp với đối tượng để hỏi là phương pháp phỏng vấn trực diện hoặc cũng có thể phỏng vấn qua điện thoại để thu thập dữ liệu.

      Phương pháp phỏng vấn viết

    Phương pháp phỏng vấn viết là phương pháp phỏng vấn mà người hỏi vắng mặt, chỉ có sự tiếp xúc thông qua bảng hỏi, người trả lời điền câu trả lời vào bảng hỏi. Vì vậy những vấn đề tâm lý trong khi đặt câu hỏi và nguyên tắc tâm lý trong sắp xếp bảng hỏi luôn phải tập trung vào người trả lời.

    Để đảm bảo hiệu quả trong việc thu thập dữ liệu đối với phương pháp yêu cầu bảng hỏi phải được thiết kế hết sức chặt chẽ và công phu.

    Phương pháp phỏng vấn viết được sử dụng khá phổ biến trong thực tế, chỉ cần một phiếu lập sẵn nên nó có khá nhiều ưu điểm:

    • Không cần có mặt người phỏng vấn, không cần địa điểm, nghi thức gặp
    • Câu trả lời khách quan hơn
    • Nhanh chóng tiết kiệm chi phí

    Mặc dù vậy, phương pháp phỏng vấn viết cũng có những hạn chế nhất định, đòi hỏi người nghiên cứu cần cân nhắc khi sử dụng:

    • Đối tượng trả lời phải có trình độ nhất định
    • Bảng hỏi phải được thiết kế chặt chẽ đòi hỏi nhiều công sức

    Một trong những lợi thế đặc biệt của phỏng vấn trực diện là có thể mở rộng nội dung thu thập dữ liệu mà các phương pháp khác không làm được. Nếu như phương pháp phỏng vấn viết phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến việc nhận được câu trả lời của đối tượng thì phỏng vấn trực diện nhận được tỷ lệ trả lời cao hơn, ngay cả những đối tượng hạn chế về trình độ.

    Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì phỏng vấn trực diện cũng có những hạn chế nhất định. Cụ thể đó là phỏng vấn trực diện tốn kém hơn về mặt thời gian, chi phí và cả người phỏng vấn. Tổ chức phỏng vấn trực diện cũng khó khan hơn, đòi hỏi phải chuẩn bị kĩ càng về điều tra viên, địa điểm, nghi thức gặp gỡ…Trong phỏng vấn trực diện nếu không cẩn thận câu trả lời sẽ bị ảnh hưởng bởi thiên kiến của người phỏng vấn.

    Phỏng vấn qua điện thoại là phỏng vấn miệng với cá nhân nhưng người phỏng vấn và người được phỏng vấn không gặp mặt trực tiếp mà thông qua điện thoại. So với phỏng vấn trực diện thì phỏng vấn qua điện thoại có nhiều ưu điểm hơn, thể hiện ở các khía cạnh sau:

    Phỏng vấn qua điện thoại tiết kiệm chi phí hơn

    Phỏng vấn qua điện thoại cũng tiết kiệm thời gian hơn. Thông thường thời gia dành cho một cuộc phỏng vấn qua điện thoại tương đối ngắn, thường chỉ kéo dài dưới 10 phút.

    Bên cạnh đó phỏng vấn qua điện thoại cũng khách quan hơn, vì người phỏng vấn không thấy người trả lời nên người trả lời có thể sẵn long tiết lộ các dữ liệu riêng tư hơn là phỏng vấn trực diện, đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm khó nói.

    Tuy vậy, nhiều trường hợp phỏng vấn qua điện thoại cũng gặp những khó khan dẫn đến hiệu quả thu thập dữ liệu không cao, đòi hỏi người nghiên cứu phải cân nhắc khi lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu này.

    2.2. Phương pháp quan sát

    Phương pháp quan sát cũng là phương pháp dùng phổ biến trong nghiên cứu khoa học khi người nghiên cứu muốn có những dữ liệu sơ cấp trên đối tượng nghiên cứu. Bên cạnh việc thu thập dữ liệu phục vụ cho các nghiên cứu độc lập thì quan sát còn là phương pháp dung để đánh giá chất lượng dữ liệu thu thập được trong các phương pháp khác hoặc cũng có thể dữ liệu của quan sát sẽ là nền tảng để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cho một cuộc nghiên cứu mới.

    Dữ liệu thu thập trong phương pháp quan sát có nhiều ưu điểm, chẳng hạn như mô tả cụ thể, khách quan, chân thực về hiện tượng,… Nếu như các phương pháp phỏng vấn và phân tích tư liệu đều dựa trên dữ kiện về hành vi thứ cấp thì quan sát có thể ghi lại các hoạt động của đối tượng một cách trực tiếp. Trong phương pháp quan sát, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại, không có sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng khảo sát. Thời gian dành cho quan sát cũng nhiều hơn so với các phương pháp khác. Chính vì vậy đối tượng có thời gian thể hiện còn người quan sát cũng có thể ghi chép trong suốt quá trình, tránh được các ấn tượng tức thời ngẫu nhiên . Tuy nhiên, quan sát có nhược điểm cơ bản là thụ động và chậm chạp, không thể kiểm soát được các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng đến kết quả quan sát. Dữ liệu thu thập được bằng phương pháp quan sát khó lượng hoá và nhiều nội dung nghiên cứu không thể thực hiện bằng phương pháp quan sát. Bên cạnh đó nhiều trường hợp người quan sát không được sự đồng tình của đối tượng khi tiến hành quan sát, khi đó dữ liệu thu thập sẽ thiếu khách quan hoặc không chính xác.

    2.3. Phương pháp phân tích tư liệu

    Ngoài hai phương pháp thu thập dữ liệu đã đề cập, chủ yếu cho chúng ta các dữ liệu sơ cấp thì trong nghiên cứu khoa học một phương pháp thu thập dữ liệu khác cũng hay được sử dụng kết hợp đó là phương pháp phân tích tư liệu.

    Ưu điểm của phương pháp pháp phân tích dữ liệu được xem xét trên một số khía cạnh sau:

    • Tiết kiệm được chi phí và thời gian
    • Cho phép thu được dữ liệu đa chiều, nhiều mặt
    • Không gây ảnh hưởng đến đối tượng. Thường tài liệu thu thập sau khi đã qua giai đoạn điều tra.

    Mặc dù vậy, phương pháp phân tích tư liệu cũng có những hạn chế nhất định:

    • Tài liệu thu thập được ít được phân chia theo tiêu chí mong muốn.
    • Dữ liệu của các bài viết dễ bị ảnh hưởng bởi các quan điểm tư tưởng của tác giả. Nhất là các nguồn dữ liệu không được kiểm chứng đánh giá.
    • Tính không đầy đủ của nguồn tài liệu cũng là một hạn chế khi phân tích tư liệu.

    Có thể nói để thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học có rất nhiều phương pháp, nhưng đối với nghiên cứu khoa học của sinh viên thì việc lựa chọn phương pháp nào phù hợp với mục đích nghiên cứu, nội dung của đề tài và trên hết là khả năng của mình là điều hết sức quan trọng. Vậy thì đối với sinh viên, những người đang ngồi trên giảng đường chưa được trang bị hoàn thiện tất cả những kiến thức khoa học thì việc sử dụng phương pháp nào để đạt hiệu quả cao nhất cần sự hướng dẫn, định hướng của giảng viên rất nhiều, và phương pháp được sử dụng ưu tiên phổ biến nhất nên là phương pháp phân tích tư liệu.

    3. Phương pháp xử lý dữ liệu

    Kết quả thu thập dữ liệu từ phỏng vấn, quan sát, hay phân tích tư liệu tồn tại dưới 2 dạng; Dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng.Các dữ liệu định tính và định lượng cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết khoa học.

    Có 2 hướng để xử lý dữ liệu:

    Xử lý logic đối với các dữ liệu định tính. Đây là việc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện.

    Xử lý toán học đối với các dữ liệu định lượng. Đây là việc sử dụng phương pháp thống kê toán để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp dữ liệu thu thập được.

    3.1. Xử lý dữ liệu định tính

    3.1.1. Đọc tư liệu thu thập

    3.1.2. Mã hoá dữ kiện, lập bản chỉ dẫn các dữ kiện (indexing)

    3.1.3. Trình bày các dữ kiện

    3.1.4. Cô đọng dữ liệu

    3.2. Xử lý dữ liệu định lượng

    Để cô đọng các dữ kiện cần phải tiến hành công việc mã hoá (coding). Mã hoá có nghĩa là gán cho các phương án trả lời một ký hiệu, một con số nào đó (nhất là đối với trường hợp sử dụng các bảng hỏi). Quá trình mã hoá có thể được thực hiện trước hay sau khi thu thập dữ kiện. Việc mã hoá trước (pcoding) có thể được sử dụng với các câu hỏi đóng. Hay nói cách khác với các câu hỏi đóng ta biết các biến thể của câu trả lời nên có thể cho mỗi biến thể một ký hiệu quy ước trước. Và ngược lại, với các câu hỏi mở thường người ta phải sử dụng việc mã hoá sau (post coding) do không biết có bao nhiêu biến thể cho câu trả lời. Hiện nay có các phần mềm chuyên dụng xử lý các bảng hỏi và xử lý thống kê như SPSS, SPAD, SAS, Stata, Statgraphics… Việc xử lý các dữ kiện định lượng bao gồm các công việc chính:

    1) Sắp xếp, mô tả các dữ kiện

    2) Tìm tương quan giữa các biến số

    3) Giải thích khoảng cách giữa các kết quả đạt được và những kết quả chờ đợi

    4) Xác định dữ liệu cuối cùng

    5) Cung cấp dữ liệu

    6) Bảo quản, lưu trữ dữ liệu

    Trong việc mô tả, sắp xếp các dữ kiện ta có thể trình bày chúng với các dạng thống kê mô tả. Ví dụ mối quan hệ giữa trình độ học vấn và tỷ suất sinh; mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền, vận động thực hiện pháp luật với tỷ lệ vi phạm pháp luật để đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền. Trong trường hợp này, người xử lý dữ liệu có thể sử dụng phần mềm để xác định mối tương quan hoặc thông qua khai thác dữ liệu theo lịch sử để nhận diện mối tương quan này.

    Khi xử lý dữ liệu cần kết hợp hai loại dữ liệu định lượng và định tính. Nếu có mâu thuẫn, quá trình xử lý dữ liệu cần phải quyết định dung hoà hay ưu tiên như thế nào để đi đến một lý giải toàn diện những kết quả đã tìm được, để có được dữ liệu hữu ích phục vụ cho quá trình giải quyết công việc.

    4. Những trở ngại trong quá trình thu thập và xử lý dữ liệu 4.1. Tình trạng quá tải hoặc thiếu dữ liệu hữu ích

    Quá trình thu thập dữ liệu luôn đối mặt với hai vấn đề hoặc quá tải dữ liệu hoặc thiếu các dữ liệu cần thiết. Sự quá tải về dữ liệu dẫn đến trong việc khó khăn lựa chọn những dữ liệu phản ánh đầy đủ nhất, toàn diện nhất về bản chất sự việc, hiện tượng và tạo sức ép phải thu thập thêm dữ liệu vì tâm lý không muốn bỏ sót dữ liệu dù dữ liệu thu thập được có thể đã đến mức bão hoà. Sự quá tải về dữ liệu cũng dẫn đến khó khăn cho quá trình xử lý. Việc xử lý nhiều dữ liệu vừa đòi hỏi thời gian vừa đòi hỏi nhiều nguồn lực và kỹ năng xử lý dữ liệu. Trái ngược với sự quá tải về dữ liệu là tình trạng thiếu dữ liệu hữu ích. Việc thiếu dữ liệu hữu ích dẫn đến để có thể có đủ dữ liệu cho quá trình giải quyết công việc cần phải tốn nhiều thời gian và nguồn lực hơn để thu thập. Mặt khác, do thiếu dữ liệu hữu ích nên cho dù cố gắng thu thập dữ liệu thì dữ liệu thu thập được có thể không phản ánh hết được bản chất của đối tượng, dẫn đến có thể nhận thức sai lệch về đối tượng. Việc thiếu dữ liệu hữu ích dẫn đến quá trình xử lý dữ liệu khó tìm ra bản chất, ý nghĩa của dữ liệu. Bởi lẽ, dữ liệu chỉ có ý nghĩa thống kê khi đạt đến một định mức nhất định.

    4.2. Hạn chế về năng lực và kỹ năng xử lý dữ liệu

    Hạn chế về năng lực và kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dữ liệu và hiệu quả khai thác dữ liệu. Sự quá tải về dữ liệu, sự đa dạng về dữ liệu dẫn đến những khó khăn trong quá trình thu thập và xử lý. Sự hạn chế về kỹ năng thu thập dữ liệu biểu hiện trên nhiều phương diện như thiếu kỹ năng lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu, kỹ năng triển khai áp dụng các phương pháp. Việc xử lý dữ liệu sẽ bị giảm bớt hiệu quả nếu chủ thể thu thập dữ liệu không có các kiến thức về thống kê, thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu, kỹ năng sử dụng các phương tiện tin học trong xử lý dữ liệu.

    4.3. Những trở ngại trong cơ cấu tổ chức, phong cách quản lý, văn hoá tổ chức

    Cơ cấu tổ chức, phong cách quản lý và văn hoá tổ chức có thể ảnh hưởng đến quá trình thu thập và xử lý dữ liệu. Văn hoá tổ chức khép kín, thiếu sự cởi mở, chia sẻ dữ liệu có thể sẽ gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, khi tổ chức duy trì quá nhiều thủ tục cứng nhắc cũng dẫn đến việc thu thập và chia sẻ dữ liệu khó khăn, thành rào cản cho quá trình thu thập dữ liệu. Cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc có thể làm cho dữ liệu bị thu thập không đầy đủ hoặc bị nhiễu qua các tầng nấc.

    Ngoài những trở ngại chung trong quá trình thu thập và xử lý dữ liệu thì nghiên cứu khoa học của sinh viên còn gặp những trở ngại và khó khăn khác nữa như kiến thức khoa học còn hạn chế, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cũng như các quan hệ xã hội…vì vậy cần rất nhiều sự quan tâm, hướng dẫn và giúp đỡ từ phía giảng viên cũng như nhà trường để giảm thiểu các rào cản đó.

    KẾT LUẬN

    Qua những nội dung cụ thể đó chúng ta có thể nhận thấy thu thập và xử lý dữ liệu là những công đoạn hết sức quan trọng quyết định đến sự thành công của đề tài nghiên cứu khoa học. Trong khuôn khổ nội dung một bài viết chưa phải đã thật đầy đủ nhưng có thể đưa ra được những vấn đề cơ bản nhất của phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nói chung cũng như phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Tác giả mong sẽ nhận được sự đóng góp nhận xét của các đồng nghiệp, của những người làm khoa học để bài viết được hoàn thiện hơn góp một phần vào sự phát triển của công tác nghiên cứu khoa học trong toàn nhà trường cũng như công tác nghiên cứu khoa học của các bạn sinh viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Phiếu Xuất Kho Excel 2022 Theo Thông Tư 200
  • Quy Trình Sản Xuất Xi Măng Theo Quy Cách Khô Chính Xác, Đầy Đủ Nhất
  • Hướng Dẫn Điền Phiếu Nhập Kho, Phiếu Xuất Kho Chi Tiết
  • Mẫu Phiếu Xuất Kho Theo Thông Tư 133
  • Cập Nhật Phương Pháp Lập Phiếu Xuất Kho Theo Quy Định
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý
  • Hướng Dẫn Viết Báo Cáo Nckh Sinh Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Ts Vũ Cao Đàm
  • Để Viết “phần Phương Pháp” Của Một Bài Báo Nghiên Cứu Khoa Học Bằng Tiếng Anh
  • VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Lời nói đầu Phương pháp luận nghiên cứu Khoa học là lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, lý thuyết về con đường nhận thức, khám phá và cải tạo hiện thực. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn các nhà khoa học, các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành nghiên cứu khoa học một cách sang tạo. Nghiên cứu khoa học là một quá trình nhận thức chân lý khoa học, một quá trình lao động trí tuệ phức tạp, gian khổ nhưng đầy hào hứng, đầy hứa hẹn những triển vọng lớn lao trong việc nghiên cứu “những điểm trắng” của khoa học. Nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học là nắm vững lý thuyết về con đường sáng tạo, giúp người nghiên cứu có cách tiếp cận đúng trong việc thiết kế và thi công công trình nghiên cứu khoa học, tìm chọn phương pháp nghiên cứu hợp lý để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích nghiên cứu. Cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” được biên soạn theo tinh thần định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; dựa trên cơ sở chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và học tập của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh; đồng thời cuốn sách ra đời còn là kết quả của sự tích luỹ những kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy chuyên đề này của tác giả cho các khoá đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu sinh ở các trường Đại học, các viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo sau đại học… Sách gồm 5 chương: Chương I: Khoa học và nghiên cứu khoa học ChươngII: Đề tài nghiên cứu khoa học 1 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Chương III: Phương pháp nghiên cứu khoa học Chương IV: trình tự nghiên cứu khoa học Chương V: Viết công trình nghiên cứu khoa học Dưới hình thức trình bày giản dị, dễ hiểu, tài liệu này có thể được coi là những tài liệu tra cứu bổ ích cho sinh viên, nghiên cứu sinh, các cộng tác viên khoa học trẻ, nhất là cho những ai không chịu chấp nhận sự an bài với trình độ hiện có mà phải vươn lên, vượt qua mọi trở ngại, đứng vững trên đôi chân của mình để độc lập tiến hành công tác nghiên cứu khoa học. Hy vọng rằng cuốn sách này được coi là người bạn đồng hành tin cậy, giúp bạn có được hành trang cần thiết trong công tác nghiên cứu khoa học. Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, những lời khuyên và sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp và bạn đọc xa gần về cuốn sách này. Tác giả PGS. TS. Lưu Xuân Mới 2 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Chương I KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC I. KHOA HỌC 1.Khái niệm về khoa học Thuật ngữ “khoa học” là một khái niệm rất phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng. Trong lịch sử phát triển của khoa học đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khao học: Tổng hợp và khái quát lại có thể đưa ra định nghĩa về khoá học như sau: Khoa học là hệ thống những tri thức được hệ thống hoá, khái quát hoá từ thực tiễn và thực tiễn kiểm nghiệm; nó phản ánh được dạng logic, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những cấu trúc, những mối liên hệ bản chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động có kế hoạch đễn thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người. a. Khoa học là hệ thống những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong lịch sử. Khoa học có nguồn gốc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất, những hiểu biết (tri thức) ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm. – Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày, nhờ đó con người hình dung được sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong quan hệ xã hội. Tuy chưa đi sâu vào bản chất 3 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các chi thức khoa học. – Tri thức khoa học là nhữnh hiểu biết được tích luỹ một cách hệ thống và được khái quát hoá nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học. Nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự khái quát hoá thực tiễn sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc thành hệ thống các tri thức bản chất về các sự vật hiện tượng. Các tri thưc khao học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học. Như vây, khoa học ra đời từ thực tiễn và vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của thực tiễn, Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thậm chí nó vượt lên trước hiện thực hiện có. Vai trò của khoa học ngày càng gia tăng và đang trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển nền kinh tế – xã hội. b. Khoa học là một quá trình nhận thức: tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự vật, hiện tượng và vận dụng các quy luật đó để sang tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa học chỉ tìm thấy chân lý khi áp dụng được các lý thuyết của mình vào thực tiễn một cách có hiệu quả. c. Khoa học là một hình thái ý thức xã hội – một bộ phận hợp thành của ý thức xã hội. Nó tồn tại mang tính chất độc lập tương đối và phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng, hình thức phản ánh mang một chức năng xã hội riêng biệt. Nhưng nó có mối quan hệ đa dạng và phức tạp với các hình thái ý thức xã hội khác, tác động mạnh mẽ đến chúng. Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, đặc biệt đối với sự phát triển truyền bá, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống. d. Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù: là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ và đầy đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua sự 4 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH đổi mới hình thức, nội dung, trình độ kỹ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính cả bản than con người trong sản xuất. Xuất phát từ đó, xã hội yêu cầu phải tạo ra cho khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn nhất định, có phương pháp làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực hoạt động khoa học. 2. Sự phát triển của khoa học Quá trình phát triển của khoa học có hai xu hướng ngược chiều nhau nhưng không loại trừ nhau mà thống nhất với nhau – Xu hướng thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống chung – Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành những ngành khoa học khác nhau. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, tuỳ theo những yêu cầu của phát triển của xã hội mà xu hướng này hay khác nổi lên chiếm ưu thế. + Thời Cổ đại: xã hội loài người còn sơ khai, lao động sản xuất còn đơn giản, những tri thức mà con người tích luỹ được chủ yếu là tri thức kinh nghiệm. Thời kỳ này, triết học là khoa học duy nhất chứa đựng tích hợp những tri thức của các khoa học khác nhau như: hình học, cơ học, tĩnh học, thiên văn học…. + Thời Trung cổ: kéo dài hàng nghìn năm, là thời kỳ thống trị của quan hệ sản xuất phoang kiến cùng với nó là sự thống trị của giáo hội và nhà thờ…(chủ nghĩa duy tâm thống trị xã hội) khoa học ở thời kỳ này bị giáo hội bóp nghẹt mọi tư tưởng khoa học nên chậm phát triển, vai trò của khoa học đối với xã hội rất hạn chế, khao học trở thành tôi tớ của thần học. + Thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa (Thế kỷ thứ XV – XVIII – Thời kỳ Phục hưng) là thời kỳ tan rã của quan hệ sản xuất phong kiến và cũng là thời kỳ mà giai cấp tư sản từng bước xác lập vị trí của mình trên vũ đài lịch sử. Sự phát triển của 5 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự phát triển của khoa học: khoa học từng bước thoát ly khỏi thần học, sự phân lập các tri thức khao học càng rõ ràng, nhiều ngành khoa học chủ yếu được sử dụng trong thời kỳ này là phương pháp tư duy siêu hình – cơ sở triết học để giải thích các hiện tượng xã hội. + Thời kỳ Cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất (từ giữa thế kỷ thứ XVIII đến thế kỷ thứ XIV – còn gọi là thời kỳ phát triển tư bản công nghiệp). Đây là thời kỳ có nhiều phát minh khoa học lớn: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá… và xuất hiện nhiều nghiên cứu khoa học. Sự phát triển của khoa học đã phá vỡ tư duy siêu hình và thay vào đó là tư duy biện chứng; khoa học có sự thâm nhập lẫn nhau để hình thành những môn khoa học mới như: toán – lý, hoá – sinh, sinh – địa, hoá – lý, toán kinh tế, xã hội học chính trị… + Thời kỳ Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến nay). Thời kỳ này Cách mạng khoa học và kỹ thuật phát triển theo hai hướng: ● Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức của con người trong nghiên cứu các kết cấu khác nhau của vật chất, khoa học đi sâu vào tìm hiểu thế giới vi mô, hoàn thiện các lý thuyết về nguyên tử, về điện, song, trường… và nghiên cứu sự tiến hoá của vũ trụ. ● Chuyển kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất một cách nhanh chóng đồng thời ứng dụng chúng một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành tiền đề, điểm xuất phát cho nhiều ngành sản xuất vật chất mới. Song cũng chính sự phát triển nhanh chóng của khoa học lại làm nảy sinh những vấn đề mới như: môi sinh, môi trường, bảo vệ, và khai thác tài nguyên…Vì vậy, lại cần có sự quan tâm đầy đủ đến mối quan hệ giữa khai thác và tái tạo tự nhiên làm cho sự phát triển của khoa học gắn bó hài hoà với môi trường sinh sống của con người. 6 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH 1. Phân biệt khoa học, kỹ thuật, công nghệ. a. Khoa học b. Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người. Các tiêu chí nhận biết một khao học (bộ môn khoa học): – Có một đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là bản thân sự vật hoặc hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học. – Có một hệ thống lý thuyết: Lý thuyết là hệ thống tri thức khao học bao gồm những khái niệm, phạm trù, quy luật, định luật, định lý, quy tắc…Hệ thống lý thuyết của bộ môn khoa học thường gồm hai bộ phận: bộ phận riêng có đặc trưng cho bộ môn khoa học đó và bộ phận kế thừa từ các khoa học khác. – Có một hệ thống phương pháp luận: Phương pháp luận của một bộ môn khoa học bao gồm hai bộ phận: phương pháp luận riêng và phương pháp luận thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác nhau. – Có mục đích ứng dụng: Do khoảng cách giữa khoa học và đời sống ngày càng rút ngắn mà người ta dành nhiều mối quan tâm tới mục đích ứng dụng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu chưa biết được mục đích ứng dụng (chẳng hạn nghiên cứu cơ bản thuần tuý). Vì vây, không nên vận dụng một cách máy móc tiêu chí này. a. Kỹ thuật Ngày nay, thuật ngữ “kỹ thuật” hầu như chỉ còn giữ lại một ý nghĩa hẹp như định nghĩa sau: “kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản xuất, quản lý hoặc thương mại, công nghiệp hoặc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội” cho rằng, công nghệ gồm bốn phần: + Phần kỹ thuật (technoware) + Phần thông tin (infoware) + Phần con người ( humanware) + Phần tổ chức (orgaware) Các nhà xã hội học xem xét công nghệ như một thiết chế xã hội quy định sự phân công lao động xã hội, cơ cấu công nghệ và công nghiệp. Có thể so sánh về mặt ý nghĩa giữa khoa học và công nghệ ( công nghệ đã được xác nhận qua thử nghiệm đã được kiểm chứng là không còn rủi ro về mặt kỹ thuật thực hiện – nghĩa là đã qua giai đoạn nghiên cứu để bước vào giai đoạn vận hành ổn định, đủ điều kiện khả thi về mặt kỹ thuật để chuiyển giao cho người sử dụng. So sánh các đặc điểm khoa học và công nghệ được trình bày trong cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao Đàm: Bảng 1. So sánh các đặc điểm của khoa học và công nghệ T Khoa học Công nghệ T Lao động linh hoạt và tính Lao động bị định khuôn theo quy sáng tạo cao. định. 8 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Hoạt động khoa học luôn Hoạt động công nghệ được lặp lại luôn đổi mới, không lặp lại theo chu kỳ. Nghiên cứu khoa học mang Điều hành công nghệ mang tính xác tính xác xuất định. Có thể mang mục đích tự Có thể không mang tính tự thân. thân. Phát minh khoa học tồn tại Sáng chế công nghệ tồn tại nhất thời mãi mãi với thời gian. và bị tiêu vong theo lịch sử tiến bộ kỹ thuật. Sản phẩm khó được định Sản phẩm được định hình theo thiết hình trước. kế. Sản phẩm mang đặc trưng Đặc trưng của sản phẩm tuỳ thuộc thông tin. đầu vào. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng: – Khoa học luôn hướng tới tìm tòi tri thức mới. – Còn công nghệ hướng tới tìm tòi quy trình tối ưu. 1. Phân loại khoa học – Phân loại khoa học là chỉ ra những mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành khoa học trên cơ sở những nguyên tắc xác định; là sự phân chia các bộ môn khoa học thành nững nhóm bộ môn khao học theo cùng một tiêu thức nào đó để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức, xác định vị trí mỗi bộ môn khoa hỏctong hệ thống tri thức, đồng thời lấy đó làm cơ sở để xác định con đường đi đến khoa học; là ngôn ngữ quan trọng cho các cuộc đối thoại về nghiên cứu khoa học, thông tin, tư liệu phân ngành đào tạo, tổ chức và quản lý khoa học, hoạch định chính sách khoa học v.v.. 9 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH – Phân loại khoa học cần tuân theo một số nguyên tắc: + Nguyên tắc khách quan quy định việc phân loại khoa học phải dựa vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của từng bộ môn khoa học và quá trình vận động, phát triển của từng bộ môn khoa học gắn với những yêu cầu của thực tiễn, không được tách rời khoa học và đời sống. + Nguyên tắc phối thuộc đòi hỏi phân loại khoa học phải theo tiến trình phát triển của đối tượng nhận thức của khoa học và mối liên hệ biện chứng, chuyển tiếp lẫn nhau giữa chúng. – Tuỳ theo mục đích nhận thức hoặc mục đích sử dụng mà có nhiều cách phân loại khoa học. Mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức có ý nghĩa ứng dụng nhất định. Trong lịch sử phát triển của khoa học có nhiều cách phân loại khác nhau: – Cách phân loại của Aristốt (384 – 322 ton – thời Hy lạp cổ đại) theo mục đích ứng dụng của khoa học, có 3 loại. ● Khoa học lý thuyết gồm: siêu hình học, vật lý học, toán học… với mục đích tìm hiểu thực tại. ● Khoa học sáng tạo gồm tu từ học, thư pháp, biện chứng pháp…với mục đích sáng tạo tác phẩm. ● Khoa học thực hành gồm: đạo đức học, kinh tế học, chính trị học, sử học… với mục đích hướng dẫn đời sống. 1) Cách phân loại của C. Mác: có 2 loại Khoa học tự nhiên: có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật giữa chúng như: cơ học, toán học, sinh vật học,… Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của con người, những quan hệ xã hội của con người cũng như những quy luật, 10 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH những động lực phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học, đạo đức học…. 2. Cách phân loại của B.M.Kêdrôv trong “Triết học bách khoa toàn thư” NXB “Bách khoa toàn thư liên xô”.Matxcơva, 1964.Có các loại: ● Khoa học triết học: biện chứng pháp, logic học… ● Khoa học toán học: logic toán học và toán học thực hành. (toán học bao gồm cả điều khiển học) ● Khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật: Cơ học và cơ thực nghiệm Thiên văn học và du hành vũ trụ. Vật lý thiên văn. Vật lý học. Hoá lý. Lý hoá và lý kỹ thuật. Hoá học và khoa học quy trình hoá kỹ thuật với luyện kim. Hoá địa chất Địa chất học và công nghiệp mỏ. Địa lý học. Hoá sinh học. Sinh học và khoa học nông nghiệp. Sinh lý học người và y học. Nhân loại học. ● Khoa học xã hội: lịch sử, khảo cổ học, nhân chứng học, địa lý kinh tế, thống kê kinh tế xã hội.. ● Khoa học về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc: Kinh tế chính trị học 11 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Khoa học về nhà nước pháp quyền Lịch sử nghệ thuật và giảng dạy nghệ thuật. Ngôn ngữ học. Tâm lý học và khoa học sư phạm. Các khoa học khác… 1.UNESCO phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học, có năm nhóm: 2. Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo có: – Khoa học cơ bản. – Khoa học cơ sở của chuyên nghành. – Khoa học chuyên nghành (chuyên môn) Ngoài ra cách phân loại kể trên, còn có những cách tiếp cận phân loại khoa học khác như: phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học; phân loại theo mức độ khái quát của khoa học; phân loại theo tính tương liên giữa các khoa học Mỗi cách phân loịa khoa học dựa trên một tiêu thức riêng có ý nghĩa ứng dụng nhất định, nhưng đều chỉ ra được mối liên hệ giữa các khoa học, là cơ sở để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức khoa học. Sự phát triển của khoa học luôn luôn dẫn đến sự phá vỡ ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học, do đó mọi cách phân loại (bảng phân loại) cần được xem như hệ thống mở, phải luôn luôn bổ sung và phát triển. II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Nghiên cứu khoa học là một quá trình nhận thức chân lý khoa học, là một hoạt động trí tuệ đặc thù; nó tuân theo những quy luật chung nhất của sự nhận thức, tuân theo những quy luật sáng tạo khoa học và tuân theo những quy luật chung, phổ biến của logic nghiên cứu một đề tài khoa học nói riêng. Đồng thời nghiên cứu khoa học cũng chịu sự chi phối của những quy luật đặc thù của việc nghiên cứu đối tượng, chịu sự chi phối của tính chất riêng của đối tượng nghiên cứu. 12 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Thành tựu của nghiên cứu khoa học là do công trình nghiên cứu cụ thểvun đắp nên. Hiệu quả của một công trình lý thuyết hay thực nghiệm phụ thuộc vào việc tổ chức và điều chỉnh tối ưu logic của công trình nghiên cứu khoa học đó. 1. Nghiên cứu khoa học là gì? Nghiên cứu khoá học là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc biết chưa đầy đủ) tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp. – Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức hướng vào – Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng; phát hiện các quy luật vận động vốn có của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội nhằm phát triển nhận thức khoa học về thế giới. – Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ sáng tạo góp phần cải tạo hiện thực: + Vận dụng quy luật để sáng tạo các giải pháp tác động tích cực vào sự vật, hiện tượng. + Tạo dựng các nguyên lý hoàn toàn mới về “công nghệ” nhằm phục vụ cho công cuộc chế biến vật chất và thông tin. Vậy bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới. 1. Chức năng của nghiên cứu khoa học Hai mục đích cơ bản của nghiên cứu khoa học: nhận thức và cải tạo thế giới được thực hiện thông qua các chức năng sau: a. Mô tả 13 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Nhận thức khoa học thường được bắt đầu bằng sự mô tả sự vật (đối tượng nghiên cứu). Người nghiên cứu đưa ra hệ thống tri thức về nhận dạng đối tượng nghiên cứu: tên gọi, hình thái, động thái, cấu trúc, chức năng của nó; mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của đối tượng, mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của đối tượng…giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa đối tượng nghiên cứu với sự vật khác. Kết quả của sự mô tả là khái niệm được phát biểu lên bằng kinh nghiệm. b. Giải thích Giải thích trong nghiên cứu khoa học là làm roc căn nguyên dẫn đến sự hình thành, phát triển và quy luật chi phối quá trình vận động của đối tượng nghiên cứu; đưa ra thông tin lý giải về bản chất của đối tượng (khẳng định bản chất được phát biểu dưới dạng tính chất, chứng minh tính quy luật của những gì đã khẳng định về bản chất của đối tượng). Người nghiên cứu đưa ra những thông tin giải thích về nguồn gốc hình thành, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả của tác động, quy luật chung chi phối quá trình vận động của đối tượng nghiên cứu – đó là những thông tin về thuộc tính bản chất của đối tượng nghiên cứu giúp nhận dạng không chỉ những biểu hiện bên ngoài mà còn cả những thuộc tính bên trong của đối tượng nghiên cứu. Kết quả của sự giải thích là tri thức đạt đến trình độ tư duy lý luận. c.Tiên đoán Tiên đoán về sự vật là sự nhìn trước quá trình hình thành, phát triển, tiêu vong, sự vận động và những biểu hiện của sự vật trong tương lai. Nhờ hai chức năng: mô tả, giảu thích mà người nghiên cứu có khả năng ngoại suy, nhìn trước xu thế vận động, quá trình hình thành, phát triển, và sự biểu hiện của đối tượng nghiên cứu trong tương lai. 14 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học mọi phép ngoại suy và dự báo đều phải chấp nhận độ sai lệch nhất định. Sự sai lệch trong các kết quả dự báo có thể do nhiều nguyên nhân: nhạn thức ban đầu của người nghiên cứu chưa chuẩn xác, sai lệch do quan sát, sai lệch do những luận cứ bị biến dạng trong sự tác động của những sự vật khác, môi trường cũng luôn có thể biến động.v.v. d. Sáng tạo Ngiên cứu khoa học không bao giờ dừng lại ở chức năng: mô tả, giải thích và tiên đoán, mà sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của nghiên cứu khoa học là sáng tạocác giải pháp để cải tạo thế giới. Hơn nữa, nghiên cứu khoa học luôn hướng tới cái mới đòi hỏi sự sáng tạo và nhạy bén của tư duy. 3. Mục tiêu của nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học nhằm bốn mục tiêu: – Mục tiêu nhận thức: phát triển ngày càng sâu, rộng nhận thức của con người về thế giới, phát hiện các quy luật về thế giới, phát triển kho tàng tri thức nhân loại. – Mục tiêu sáng tạo: nhằm tạo ra công nghệ mới trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nâng cao trình độ văn minh, nâng cao năng suất trong tất cả các lĩnh vực hoạt động. – Mục đích kinh tế: nghiên cứu khoa học phải dẫn tới hiệu quả kinh tế, góp phần làm tăng trưởng kinh tế xã hội – Mục tiêu văn hoá và văn minh: mở mang dân trí, nâng cao trình độ văn hoá, từng bước hoàn thiện con người, đưa xã hội lên một trình độ văn minh cao hơn. 1. Mục tiêu của nghiên cứu khoa học a. Tính mới Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện mới, không chấp nhận sự lặp lại như 15 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH cũ dù đó là trong thí nghiệm hay trong cách lý giải và các kết luận. Hướng tới cái mới đò hỏi sự sáng tạo và nhạy bén của tư duy. b.Tính thông tin Đây là đặc điểm quan trọng của nghiên cứu khoa học, bởi vì bất kỳ sản phẩm nào của nghiên cứu khoa học (như: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức sản xuất mới.v.v.) đều mang đặc trưng thông tin, là kết quả của quá trình khai thác và xử lý thông tin. Đặc điểm này phản ánh trình độ và năng lực của người nghiên cứu: phải biết tìm thấy trong các nguồn thông tin những giá trị hữu ích phục vụ cho mục đích nghiên cứu. c.Tính tin cậy Một kết quả nghiên cứu đạt được phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện (quan sát hoặc thí nghiệm) giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Khi đó có thể xem kết quả ấy đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng. d.Tính khách qua Cơ sở của tính khách quan trong nghiên cứu khoa học là sự trung thực. Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu không được nhận định vội vã theo cảm tính, không được đưa ra kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng, mà luôn luôn phải lật đi lật lại những kết luận tưởng đã hoàn toàn được xác nhận, phải tự trắc nghiệm và kiểm tra chặt chẽ. e. Tính mạnh dạn, mạo hiểm Trong nghiên cứu khoa học cần phải tính toán, cân nhắc một cách thận trọng, song cũng cần phải tính đến những yêu cầu sau: 16 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH – Đòi hỏi người nghiên cứu phải dám đảm nhận những vấn đề, những đề tài chưa có ai nghiên cứu, hoặc các lĩnh vực hết sức mới mẻ. – Chấp nhận khả năng rủi ro, khả năng thất bại trong nghiên cứu khoa học. Thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân ở mức độ khác nhau: thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý vấn đề đặt ra; trình độ kỹ thuật của thiết bị không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giải quyết; khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề; giả thuyết nghiên cứu đặt ra sai; những tác nhân bất khả kháng… Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả, phải được tổng kết lại, lưu trữ như một tài liệu khoa học nghiêm túc để tránh choi những người đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí nguồn lực nghiên cứu. Không chỉ quá trình nghiên cứu chịu những rủi ro mà ngay cả những nghiên cứu đã thử nghiệm thành công vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng, có thể do kỹ thuật chưa được làm chủ khi triển khai áp dụng trong phạm vi rộng hay vì một nguyên nhân xã hội nào đó… f. Tính kinh tế Mục đích lâu dài của nghiên cứu khoa học là góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Song nghiên cứu khoa học không thể coi mục đích kinh tế là mục đích trực tiếp, vì lao động nghiên cứu khoa học hầu như không thể định mức một cách chính xác như trong sản xuất vật chất; hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định; những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như không thể khấu hao. Nói như vậy không có nghĩa là trong nghiên cứu khoa học bỏ qua điều kiện kinh tế, thậm chí trong một số lĩnh vực chi phí cho nghiên cứu khoa học rất lớn, nhưng việc ứng dụng những thành tựu của nó rất ít ỏi. 2. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 17 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu và các sản phẩm thu được sau nghiên cứu mà người ta chia thành những loại hình nghiên cứu khoa học khác nhau. Nghiên cứu khoa học thông thường gồm những loại hình sau: a.Nghiên cứu cơ bản (fundamental research) Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người, nhờ đó làm thay đổi nhận thức của con người. – Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát kiến, phát minh, và thường dẫn đến việc hình thànhmột hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học. Chẳng hạn: Archimède phát hiện định luật sức nâng của nước; Marie và Piere Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ rađium; Karl Marx phát hiện quy luật giá trị thặng dư; Adam Smith phát hiện quy luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường.v.v. – Phát hiện (discovery)  Phát hiện là sự khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Galileo phát hiện các vệ tinh của sao hoả, Christoph Colomb phát hiện châu Mỹ…  Phát hiện chỉ mới là sự khám phá các vật thể, các quy luật xã hội làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp, chỉ có thể áp dụng thông qua giải pháp. Vì vậy, phát hiện không có giá trị thương mại, không cấp bằng và không được bảo hộ pháp lý – Phát minh (discovery)  Phát minh là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản của con người. 18 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Ví dụ: Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn trong vũ trụ; Lêbêdev phát minh tính chất áp suất của ánh sáng; Nguyễn Văn Hiệu phát minh quy luật bất biến kích thước của tiết diện các quá trình sinh hạt,.v.v.  Đối tượng của phát minh là những hiện tượng, tính chất, quy luật của thế giới vật chất đang tồn tại một cách khách quan. Nhưng theo quy ước thì những đối tượng sau đây không được xem là phát minh mà chỉ xem là các phát hiện hoặc phát kiến: phát hiện về địa lý tự nhiên, địa chất, tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, phát hiện khảo cổ học, phát hiện trong khoa học xã hội…  Phát minh cũng chỉ mới là những khám phá về các quy luật khách quan, chưa có ý nghĩa áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống. Vì vậy, phát minh không có giá trị thương mại, không được cấp bằng phát minh và không được bảo hộ pháp lý. Tuy nhiên, người ta lại công nhận quyền ưu tiên của phát minh tính từ ngáy phát minh được công bố. – Xét trên góc độ ý tưởng và mục đích nghiên cứu có thể chia nghiên cứu cơ bản thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng.  Nghiên cứu cơ bản thuần tuý: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng. Đây là những hoạt động nghiên cứu với mục đích thuần tuý là phát hiện ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội để nâng cao nhận thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng.  Nghiên cứu cơ bản định hướng: Nghiên cứu cơ bản định hướng là hoạt đọng nghiên cứu cơ bản nhằm vào mục đích nhất định hoặc để ứng dụng vào những dự kiến định trước.. Ví dụ: Hoạt động thăm dò địa chất mỏ hướng vào mục đích phục vụ nhu cầi khai thác khoáng sản; các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội…đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản định hướng. 19 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ – TÀI CHÍNH Nghiên cứu cơ bản định hướng đựoc chia thành: nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề. Nghiên cứu nền tảng (Background research): là hoạt động nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật. Chẳng hạn: điều tra cơ bản tài nguyên; nghiên cứu khí tượng; nghiên cứu bản chất vật lý, hoá học, sinh học của vật chất; điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội…đều thuộc về nghiên cứu nền tảng. Nghiên cứu chuyên đề (thematic research): là hoạt động nghiên cứu về một hiện tượng đặc biệt của sự vật. Chẳng hạn: điều tra cơ bản tài nguyên; nghiên cứu khí tượng; nghiên cứu bản chất vật lý, hoá học, sinh học của vật chất; điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội… đều thuộc về nghiên cứu nền tảng. Nghiên cứu chuyên đề (thematic research): là hoạt động nghiên cứu về một hiện tượng đặc biệt của sự vật. Chẳng hạn: trạng thái thứ tự (plasma) của vật chất, từ trường trái đất, bức xạ vũ trụ, gen di truyền… Nghiên cứu cơ bản là một hoạt động, một công việc không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Nó trở thành nền tảng, cơ sơ cho các hoạt động nghiên cứu khác như: nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai. b. Nghiên cứu ứng dụng (applied research) – Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng các quy luật đã được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo dựng các nguyên lý công nghệ mới, nguyên lý sản phẩm mới và nguyên lý dịch vụ mới, áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. – Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là những giải pháp mới về tổ chức, quản lý, công nghệ, vật liệu, sản phẩm. Một số giải pháp hữu ích về công 20 CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Khái Niệm Địa Lý Lớp 6 Ở Trường Thcs Ngọc Sơn
  • Tài Liệu Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Và Phát Triển Công Nghệ
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản Dành Cho Bác Sĩ Lâm Sàng
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Nhằm Hình Thành Những Biểu Tượng Về Hình Khối Cho Trẻ 5 6 Tuổi
  • Nghiên Cứu Khoa Học: Phương Pháp Tự Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng Trong Giáo Dục
  • Published on

    1. 1. Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Biên tập bởi: PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ
    2. 2. Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Biên tập bởi: PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ Các tác giả: unknown PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ Phiên bản trực tuyến: http://voer.edu.vn/c/d257fbec
    3. 3. MỤC LỤC 1. Mở đầu 2. Khái niệm Khoa học và Nghiên cứu Khoa học 3. Phương pháp khoa học 4. “Vấn đề” Nghiên cứu Khoa học 5. Thu thập tài liệu và đặt giả thuyết 6. Phương pháp thu thập số liệu 7. Cách trình bày kết quả số liệu nghiên cứu 8. Tài liệu tham khảo Tham gia đóng góp 1/81
    4. 4. Mở đầu Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học. Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao. Thực tế cho thấy, sinh viên khi bắt đầu làm luận văn tốt nghiệp và ngay cả những người mới ra trường làm việc trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi phải có kiến thức và có phương pháp NCKH. Vì vậy, môn học phương pháp NCKH học là nền tảng để trang bị cho các sinh viên tiếp cận NCKH. Giáo trình “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học” được biên soạn với nhiều nội dung cung cấp những thông tin, những kiến thức cơ bản, các bước trong NCKH, những kỹ thuật cần thiết để tiếp cận phương pháp thí nghiệm và cách trình bày các kết quả NCKH. Hy vọng rằng giáo trình này sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và những thông tin thiết thực cho sinh viên và những người bắt đầu làm công tác NCKH. Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của nhiều tác giả đã cung cấp sách tham khảo và gởi tài liệu thông tin qua mạng giúp chúng tôi biên soạn giáo trình này. Nhóm tác giả chúng tôi Nguyễn Bảo Vệ ThS. Nguyễn Huy Tài 2/81
    5. 5. Khái niệm Khoa học và Nghiên cứu Khoa học Khoa học Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới nầy, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. – Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình nầy giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. – Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. 3/81
    6. 7. phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu. * Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”. Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây. Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”. Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa. Mục tiêu của đề tài: 1. Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu. 2. Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu. 5/81
    7. 8. Phương pháp khoa học Thế nào là “khái niệm” “Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy của con người bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan. Như vậy, “khái niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy của con người về những thuộc tính, bản chất của sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau. Người NCKH hình thành các “khái niệm” để tìm hiểu mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành khái niệm nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận. Phán đoán Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán hay tiên đoán. Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự vật đó. Suy luận Có 2 cách suy luận: suy luận “suy diễn” và suy luận “qui nạp” Cách suy luận suy diễn Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Muốn suy luận phải có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận. Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ với kết luận rất rõ ràng. Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận đi từ cái chung tới cái riêng, về mối quan hệ đặc biệt. Thí dụ về suy luận suy diễn của Aristotle trong Bảng 2.1. Bảng 2.1 thí dụ về suy luận suy diễn Tiền đề chính: Tất cả sinh viên đi học đều đặn Tiền đề phụ: Nam là sinh viên Kết luận: Nam đi học đều đặn 6/81
    8. 9. Suy luận qui nạp Vào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra một phương pháp tiếp cận khác về kiến thức, khác với Aristotle. Ông ta cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng để đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui nạp. Phương pháp nầy cho phép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới. Thí dụ về suy luận qui nạp trong Bảng 2.2. Bảng 2.2 thí dụ về suy luận qui nạp Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã kết hợp hai phương pháp trên hay còn gọi là “phương pháp khoa học” (Bảng 2.3). Phương pháp khoa học cần phải xác định tiền đề chính (gọi là giả thuyết) và sau đó phân tích các kiến thức có được (nghiên cứu riêng) một cách logic để kết luận giả thuyết. Bảng 2.3 thí dụ về phương pháp khoa học * Tiền đề chính (giả thuyết): Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao * Tham dự lớp(nguyên nhân còn nghi ngờ): Nhóm 1: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn Nhóm 2: Lan, Anh, Kiều và Vân không tham dự lớp đều đặn * Điểm(ảnh hưởng còn nghi ngờ): Nhóm 1: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm 9 và 10 Nhóm 2: Lan, Anh, Kiều và Vân đạt được điểm 5 và 6 7/81
    9. 10. * Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao so với không tham dự lớp đều đặn (Vì vậy, tiền đề chính hoặc giả thiết được công nhận là đúng) Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học phải sử dụng PPKH: bao gồm chọn phương pháp thích hợp (luận chứng) để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề; cách đặt giả thuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin (luận cứ) để xây dựng luận đề. Luận đề Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu. Luận đề là một “phán đoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh. Thí dụ: Lúa được bón quá nhiều phân N sẽ bị đỗ ngã. Luận cứ Để chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng chứng hay luận cứ khoa học. Luận cứ bao gồm thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?”. Các nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứng minh một luận đề. Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học: * Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định luật, qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng. Luận cứ lý thuyết cũng được xem là cơ sở lý luận. * Luận cứ thực tiễn: dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thí nghiệm. Luận chứng Để chứng minh một luận đề, nhà nghiên cứu khoa học phải đưa ra phương pháp để xác định mối liên hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với luận đề. Luận chứng trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cách nào?”. Trong nghiên cứu khoa học, để chứng minh một luận đề, một giả thuyết hay sự tiên đoán thì nhà nghiên cứu sử dụng luận chứng, chẳng hạn kết hợp các phép suy luận, giữa suy luận suy diễn, suy luận qui nạp và loại suy. Một cách sử dụng luận chứng khác, đó là phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin làm luận cứ khoa học, thu thập số liệu thống kê trong thực nghiệm hay trong các loại nghiên cứu điều tra. 8/81
    10. 11. Phương pháp khoa học Phương pháp khoa học (PPKH). Những ngành khoa học khác nhau cũng có thể có những PPKH khác nhau. Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, nông nghiệp sử dụng PPKH thực nghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu, để giải thích và kết luận. Còn ngành khoa học xã hội như nhân chủng học, kinh tế, lịch sử… sử dụng PPKH thu thập thông tin từ sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra. Tuy nhiên, PPKH có những bước chung như: Quan sát sự vật hay hiện tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số lịệu để rút ra kết luận (Bảng 2.4). Nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu. Bảng 2.4 về các bước cơ bản trong phương pháp khoa học Bước Nội dung 1 Quan sát sự vật, hiện tượng 2 Đặt vấn đề nghiên cứu 3 Đặt giả thuyết hay sự tiên đoán 4 Thu thập thông tin hay số liệu thí nghiệm 5 Kết luận 9/81
    11. 12. “Vấn đề” Nghiên cứu Khoa học Bản chất của quan sát Trước đây, con người dựa vào niềm tin để giải thích những gì thấy được xảy ra trong thế giới xung quanh mà không có kiểm chứng hay thực nghiệm để chứng minh tính vững chắc của những quan niệm, tư tưởng, học thuyết mà họ đưa ra. Ngoài ra, con người cũng không sử dụng phương pháp khoa học để có câu trả lời cho câu hỏi. Thí dụ ở thời đại của Aristotle (thế kỷ IV trước công nguyên), con người (kể cả một số nhà khoa học) tin rằng: các sinh vật đang sống có thể tự xuất hiện, các vật thể trơ (không có sự sống) có thể biến đổi thành vật thể hay sinh vật sống, và cho rằng con trùn, bọ, ếch nhái,… xuất hiện từ bùn lầy, bụi đất khi ngập lũ xảy ra. Ngày nay, các nhà khoa học không ngừng quan sát, theo dõi sự vật, hiện tượng, qui luật của sự vận động, mối quan hệ, … trong thế giới xung quanh và dựa vào kiến thức, kinh nghiệm hay các nghiên cứu có trước để khám phá, tìm ra kiến thức mới, giải thích các qui luật vận động, mối quan hệ giữa các sự vật một cách khoa học. Bản chất của quan sát là cảm giác được cảm nhận nhờ giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, khướu giác và vị giác. Các giác quan nầy giúp cho nhà nghiên cứu phát hiện hay tìm ra “vấn đề” NCKH. Khi quan sát phải khách quan, không được chủ quan, vì quan sát chủ quan thường dựa trên các ý kiến cá nhân và niềm tin thì không thuộc lĩnh vực khoa học. Tóm lại, quan sát hiện tượng, sự vật là quá trình mà ý nghĩ hay suy nghĩ phát sinh trước cho bước đầu làm NCKH. Việc quan sát kết hợp với kiến thức có trước của nhà nghiên cứu là cơ sở cho việc hình thành câu hỏi và đặt ra giả thuyết để nghiên cứu. “Vấn đề” nghiên cứu khoa học Đặt câu hỏi Bản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đó đặt ra “vấn đề” nghiên cứu cho nhà khoa học và người nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra phải đơn giản, cụ thể, rõ ràng (xác định giới hạn, phạm vi nghiên cứu) và làm sao có thể thực hiện thí nghiệm để kiểm chứng, trả lời. Thí dụ, câu hỏi: “Có bao nhiêu học sinh đến trường hôm nay?”. Câu trả lời được thực hiện đơn giản bằng cách đếm số lượng học sinh hiện diện ở trường. Nhưng một câu hỏi khác đặt ra: “Tại sao bạn đến trường hôm nay?”. Rõ ràng cho thấy rằng, trả lời câu hỏi này thực sự hơi khó thực hiện, thí nghiệm khá phức tạp vì phải tiến hành điều tra học sinh. Cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như sau: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở đâu, nơi nào, khi nào, ai, tại sao, cái gì, …? Đặt câu hỏi hay đặt “vấn đề” nghiên cứu là cơ sở giúp nhà 10/81
    12. 16. luận văn, luận án, thông tin thống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, … Nguồn thu thập tài liệu Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu sau: * Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo, … * Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học, …. * Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cục thống kê, Tổng cục thống kê, …. * Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội. * Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học. Giả thuyết Định nghĩa giả thuyết Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm. Các đặc tính của giả thuyết Giả thuyết có những đặc tính sau: * Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu. * Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết. * Giả thuyết càng đơn giản càng tốt. * Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi. Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau: * Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin. * Phải có mối quan hệ nhân – quả. * Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu. 14/81
    13. 17. Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả thuyết). Ý tưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học. Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái nầy (vấn đề nghiên cứu). Người nghiên cứu sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, … như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc. Bởi vì NAA giống như kích thích tố Auxin nội sinh, là chất có vai trò sinh lý trong cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm lượng ABA hay giảm sự tạo tầng rời. NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây ăn trái như xoài Châu Hạng Võ, nhãn …, vậy thì việc phun NAA sẽ giúp cây xoài Cát Hòa Lộc đậu trái nhiều hơn so với cây không phun NAA. Cấu trúc của một “giả thuyết” * Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả” Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải là giả thuyết. Thí dụ: khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc “Tia ánh sáng cực tím gây ra đột biến”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết. Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thực hiện thí nghiệm để chứng minh. Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc “nếu tôi giữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”. Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mối quan hệ với nhau. Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn lại. Thí dụ: Cây trồng quang hợp tốt sẽ cho năng suất cao. Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường sử dụng từ ướm thử “có thể”. Thí dụ: giả thuyết “Phân bóncó thể làm gia tăng sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng”. Mối quan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân bón và sự sinh trưởng hoặc năng suất cây trồng, còn nguyên nhân là phân bón và kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng. 15/81
    14. 20. Hình 1. Năng suất đậu theo lượng N bón (không dựa trên kiến thức khoa học hay thực nghiệm) Rõ ràng trong thực tế cho thấy, năng suất chỉ có thể gia tăng đến một mức độ cung cấp phân N nào đó (Hình 2). Để xác định mức độ phân N cung cấp cho năng suất cao nhất (gần chính xác), thì nhà nghiên cứu cần có hiểu biết về “qui luật cung cấp dinh dưỡng” và một số tài liệu nghiên cứu trước đây về phân bón,… từ đó sẽ đưa ra một vài mức độ có thể để kiểm chứng. Hình 2. Sự đáp ứng năng suất theo cung cấp phân bón N 18/81
    15. 21. Phương pháp thu thập số liệu Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu Phương pháp nầy là dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết. Thí dụ, để chứng minh giả thuyết “không thể loại bỏ cây bạch đàn ra khỏi cơ cấu cây trồng rừng”, người ta đã dựa vào những nghiên cứu có trước như sau (Vũ Cao Đàm, 2003): * Kết quả nghiên cứu tại Nga cho thấy, chỉ trong 15 năm bạch đàn có sức tăng trưởng chiều cao gấp 5 lần so với cây dẻ và 10 lần so với cây sồi; * Sản lượng bạch đàn trên 1 ha hàng năm rất cao, tới 20 đến 25 m3 /ha/năm, trong khi cây mỡ chỉ đạt 15-20 m3 /ha/năm và cây bồ đề là 10-15 m3 /ha/năm; * Theo thống kê của FAO, từ năm 1.744 đến 1.975 đã có hơn 100 nước nhập khẩu bạch đàn, trong đó có 78 nước đã trồng rừng bạch đàn thành rừng kinh tế có sản lượng cao với qui mô lớn. Phương pháp thu thập số liệu từ những thực nghiệm Khái niệm Trong phương pháp nầy, số liệu được thực hiện bằng cách quan sát, theo dõi, đo đạc qua các thí nghiệm. Các thí nghiệm trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, vật lý, hóa học, kỹ thuật, nông nghiệp, kể cả xã hội thường được thực hiện trong phòng thí nghiệm, nhà lưới, ngoài đồng và cộng đồng xã hội. Để thu thập số liệu, các nhà NCKH thường đặt ra các biến để quan sát và đo đạc (thu thập số liệu). Các nghiệm thức trong thí nghiệm (có những mức độ khác nhau) thường được lặp lại để làm giảm sai số trong thu thập số liệu. Ví dụ: Người nghiên cứu muốn xem xét những mức độ phân bón (hay còn gọi nghiệm thức phân bón) nào đó để làm tăng năng suất, trong cách bố trí thí nghiệm thì mỗi mức độ phân bón thường được lặp lại nhiều lần. Kết quả thí nghiệm là các số liệu được đo từ các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất ở những mức độ phân bón khác nhau. Phương pháp khoa học trong thực nghiệm gồm các bước như: lập giả thuyết, xác định biến, bố trí thí nghiệm, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết. Định nghĩa các loại biến trong thí nghiệm Trong nghiên cứu thực nghiệm, có 2 loại biến thường gặp trong thí nghiệm, đó là biến độc lập (independent variable) và biến phụ thuộc (dependent variable). 19/81
    16. 22. * Biến độc lập (còn gọi là nghiệm thức): là các yếu tố, điều kiện khi bị thay đổi trên đối tượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Như vậy, đối tượng nghiên cứu chứa một hoặc nhiều yếu tố, điều kiện thay đổi. Nói cách khác kết quả số liệu của biến phụ thuộc thu thập được thay đổi theo biến độc lập. Thí dụ: Biến độc lập có thể là liều lượng phân bón, loại phân bón, lượng nước tưới, thời gian chiếu sáng khác nhau,… (hay còn gọi là các nghiệm thức khác nhau). Trong biến độc lập, thường có một mức độ đối chứng hay nghiệm thức đối chứng (chứa các yếu tố, điều kiện ở mức độ thông thường) hoặc nghiệm thức đã được xác định mà người nghiên cứu không cần tiên đoán ảnh hưởng của chúng. Các nghiệm thức còn lại sẽ được so sánh với nghiệm thức đối chứng hoặc so sánh giữa các cặp nghiệm thức với nhau . * Biến phụ thuộc (còn gọi là chỉ tiêu thu thập): là những chỉ tiêu đo đạc và bị ảnh hưởng trong suốt quá trình thí nghiệm, hay có thể nói kết quả đo đạc phụ thuộc vào sự thay đổi của biến độc lập. Thí dụ: khi nghiên cứu sự sinh trưởng của cây mía, các biến phụ thuộc ở đây có thể bao gồm: chiều cao cây, số lá, trọng lượng cây,… và kết quả đo đạc của biến phụ thuộc ở các nghiệm thức khác nhau có thể khác nhau. Thí dụ: Đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng phân N trên năng suất lúa Hè Thu” có các biến như sau: + Biến độc lập: liều lượng phân N bón cho lúa khác nhau. Các nghiệm thức trong thí nghiệm có thể là 0, 20, 40, 60 và 80 kgN/ha. Trong đó nghiệm thức “đối chứng” không bón phân N. + Biến phụ thuộc: có thể là số bông/m2 , hạt chắt/bông, trọng lượng hạt và năng suất hạt (t/ha). Xác định các biến trong thí nghiệm dựa trên mối quan hệ “nhân-quả” của giả thuyết Kết quả quan sát lệ thuộc vào nguyên nhân gây ảnh hưởng. Dựa vào mối quan hệ trong giả thuyết đặt ra, người nghiên cứu dễ dàng xác định được yếu tố nào ảnh hưởng đến sự kiện quan sát. Thí dụ, “Ảnh hưởng của nồng độ NAA trên sự đậu trái của xoài Cát Hòa Lộc”. Ở đây, tỷ lệ đậu trái (kết quả) khác nhau là do ảnh hưởng của các nồng độ NAA 20/81
    17. 23. (nguyên nhân) khác nhau. Như vậy, biến độc lập là biến mà người nghiên cứu có ý định làm thay đổi (nồng độ NAA khác nhau) và biến phụ thuộc ở đây là sự đậu trái hay tỷ lệ rụng trái ở các nghiệm thức có nồng độ NAA khác nhau. Bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu nghiên cứu Đối tượng khảo sát Để chọn đối tượng khảo sát trong thí nghiệm, công việc đầu tiên là phải xác định quần thể (population) mà người nghiên cứu muốn đo đạc để thu thập kết quả. Một quần thể bao gồm nhiều cá thể mang các thành phần và đặc điểm khác nhau mà ta muốn khảo sát. Đối tượng khảo sát thường được chia làm hai nhóm: a) Nhóm khảo sát: đối tượng được đặt ra trong giả thuyết. b) Nhóm đối chứng: so sánh với nhóm khảo sát. Khung mẫu (sample frame) Để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm nghiên cứu thì công việc trước tiên là thiết lập khung mẫu. Khung mẫu cần xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu (target population), cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu. Trong trường hợp thiết lập khung mẫu sai thì mẫu chọn sẽ không đại diện cho quần thể mục tiêu và số liệu thu thập sẽ không đại diện cho quần thể. Có ba trường hợp tạo ra khung mẫu sai: * Khung mẫu chứa quá nhiều cá thể, mà trong đó có cá thể không nằm trong quần thể mục tiêu. * Khung mẫu chứa quá ít cá thể, mà trong đó có cá thể nằm và không nằm trong quần thể mục tiêu. * Khung mẫu chứa tập hợp các cá thể không đúng hay khung mẫu không nằm trong quần thể mục tiêu. Hai giai đoạn tạo khung mẫu: 1. Xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu và cỡ mẫu. Thí dụ, cỡ mẫu của 100 hộ gia đình ở thành phố và 150 gia đình ở nông thôn. 2. Chọn phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên. Thí dụ: trong nghiên cứu điều tra, mẫu ngẫu nhiên thì vị trí chọn mẫu có thể dựa vào bản đồ ranh giới giữa các vùng, lập danh sách hộ gia đình theo số nhà, danh bạ điện thoại nếu có, … sau đó chọn phương pháp lấy mẫu. 21/81
    18. 25. * Các đơn vị mẫu được tự lựa chọn mà không có phương pháp. * Các đơn vị mẫu rất dễ dàng đạt được hoặc dễ dàng tiếp cận. Thí dụ chọn những hộ trên những con đường dễ đi. * Các đơn vị mẫu được chọn theo lý do kinh tế, thí dụ trả tiền cho sự tham dự. * Các đơn vị mẫu được quan tâm bởi người nghiên cứu trong cách “điển hình” của quần thể mục tiêu. Thí dụ người nghiên cứu chỉ quan tâm đến các nhân vật điển hình trong quần thể nghiên cứu, để so sánh với các nhân vật khác. * Các đơn vị mẫu được chọn mà không có sự thiết kế rõ ràng (thí dụ: chọn 50 người đầu tiên đến buổi sáng). Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin cậy thấp. Mức độ chính xác của cách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghiệm của người nghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng và không có cơ sở thống kê trong việc chọn mẫu. * Chọn mẫu xác suất Cơ bản của việc chọn mẫu xác suất là cách lấy mẫu trong đó việc chọn các cá thể của mẫu sao cho mỗi cá thể có cơ hội lựa chọn như nhau, nếu như có một số cá thể có cơ hội xuất hiện nhiều hơn thì sự lựa chọn không phải là ngẫu nhiên. Để tối ưu hóa mức độ chính xác, người nghiên cứu thường sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên. * Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên – Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random) Cách đơn giản nhất của việc chọn các cá thể của mẫu trong cách chọn mẫu ngẫu nhiên là sử dụng xác suất. Việc lựa chọn n các cá thể từ một quần thể sao cho các cá thể có cơ hội bằng nhau hay một xác suất bằng nhau trong phương pháp nầy. Thí dụ: Một trường học có 1.000 sinh viên, người nghiên cứu muốn chọn ra 100 sinh viên để nghiên cứu về tình trạng sức khỏe trong số 1.000 sinh viên. Theo cách chọn mẫu đơn giản thì chỉ cần viết tên 1.000 sinh viên vào trong mẫu giấy nhỏ, sau đó bỏ tất cả vào trong một cái thùng và rồi rút ngẫu nhiên ra 100 mẫu giấy. Như vậy, mỗi sinh viên có một cơ hội lựa chọn như nhau và xác suất chọn ngẫu nhiên một sinh viên trên dễ dàng được tính. Thí dụ trên ta có quần thể N = 1.000 sinh viên và cỡ mẫu n = 100 sinh viên. Như vậy, sinh viên của trường được chọn trong cách lấy mẫu ngẫu nhiên sẽ có xác suất là n/(N x 100) hay 100/(1000 x 100) = 10%. Một cách chọn mẫu ngẫu nhiên khác là sử dụng bảng số ngẫu nhiên trong sách thống kê phép thí nghiệm hoặc cách chọn số ngẫu nhiên bằng các chương trình thống kê trên máy tính. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong các thí nghiệm lấy mẫu trong thực tế được thể hiện trong hình 5.1. 23/81
    19. 27. Nếu như số hộ của 4 huyện gần như nhau, người nghiên cứu chỉ cần chọn 50 cuộc phỏng vấn trong mỗi huyện và sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên trong mỗi lớp. Cũng trong nghiên cứu trên, nếu người nghiên cứu không phân chia các huyện ra thành các lớp, thì phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phỏng vấn hộ gia đình trong vùng nghiên cứu sẽ sai và số liệu thu thập sẽ không đại diện cho vùng nghiên cứu, do mẫu có thể tập trung ở một huyện nào đó. Một số nghiên cứu thường được chia lớp trong quần thể mục tiêu gồm: * Phân lớp quần thể mục tiêu là các thành phố, tỉnh, huyện; * phân lớp theo vùng sinh thái khác nhau; * phân lớp quần thể mục tiêu là các hộ gia đình theo mức độ giàu nghèo, trình độ học vấn, …; * … Trong phương pháp chọn mẫu phân lớp, các quần thể phụ là các vùng chia phụ hay các lô được chia trong Hình 5.2 khi đã xác định các yếu tố như loại đất, dạng đời sống thực vật hoặc dạng địa hình, … Các điểm được chọn ngẫu nhiên trong mỗi vùng phụ được thể hiện trong Hình 5.2. Hình 5.2 Phương pháp chọn mẫu phân lớp – Chọn mẫu hệ thống (systematic samples) Đôi khi cách chọn đơn vị mẫu ngẫu nhiên không tốt hơn cách chọn mẫu hệ thống. Trong chọn mẫu hệ thống, cỡ mẫu n được chọn (có phương pháp tính xác suất tương tự) từ một quần thể N. Cách lấy mẫu hệ thống là khung mẫu giống như là 1 “hàng” của các đơn vị mẫu, và mẫu như là một chuổi liên tiếp của các điểm số có khoảng cách bằng nhau theo hàng dọc. Thí dụ chọn mẫu hệ thống như sau: muốn nghiên cứu 1 thành viên trong mỗi nhóm có 10 cá thể, quần thể có 10 nhóm (tổng cá thể của quần thể là 100), đánh số cá thể từ 1-100. 25/81
    20. 28. Lúc này nhóm 1 được đánh số từ 1-10; nhóm 2 từ 11-20; nhóm 3 từ 21-30; …nhóm 10 từ 91-100. Trước tiên cần sắp xếp thứ tự các đơn vị mẫu (thí dụ theo thứ tự gia tăng trong trường hợp này). Sau đó chọn điểm đầu tiên bất kỳ có giá trị < 10 (thí dụ chọn ngẫu nhiên một số trong khoảng từ 1-10 là 7. Số cá thể tiếp theo sẽ cộng thêm là 10. Như vậy các thành viên được chọn sẽ có số thứ tự là 7, 17, 27, 37, 47,… 97. Nhóm 1: 1. 93535459 2. 93781078 3. 93732085 4. 93763450 5. 93763450 6. 94407382 7. 94409687 <== (cá thể được chọn có số thứ tự là 7) 8. 94552345 9. 94768091 10. 94556321 Nhóm 2 : 11. 94562119 12. 94127845 13. 94675420 14. 94562119 15. 94127846 16. 94675442 26/81
    21. 29. 17. 94675411 < ==== (cá thể được chọn có số thứ tự là 17) 18. 94675420 19. 94675422 20. 94675416 Phương pháp chọn mẫu hệ thống tạo ra các ô có các điểm có khoảng cách đều nhau với các ô có cấu trúc khác nhau như hình vuông (Hình 5.3), chữ nhật, … Hình 5.3 Phương pháp chọn mẫu hệ thống – Chọn mẫu chỉ tiêu (quota sampling) Trong cách chọn mẫu chỉ tiêu, quần thể nghiên cứu được phân nhóm hoặc phân lớp như cách chọn mẫu phân lớp. Các đối tượng nghiên cứu trong mỗi nhóm được lấy mẫu theo tỷ lệ đã biết và sau đó tiến hành phương pháp chọn mẫu không sác xuất. Để thiết lập mẫu chỉ tiêu thì người nghiên cứu cần phải biết ít nhất các số liệu, thông tin trong quần thể mục tiêu để phân chia các chỉ tiêu muốn kiểm soát. Thí dụ, một cuộc phỏng vấn để biết được hoạt động hoặc lý do khách du lịch đến Cần thơ. Dựa trên số liệu nghiên cứu trước đây hoặc số liệu điều tra dân số cho biết lý do khách du lịch tới Cần thơ như sau: 60% với lý do đi nghĩ mát, vui chơi; 20% lý do thăm bạn bè, gia đình; 15% lý do kinh doanh và 5% lý do hội họp. Người nghiên cứu dự tính cỡ mẫu muốn phỏng vấn 500 khách du lịch, và chọn những nơi có nhiều khách du lịch như khách sạn, nơi hội họp, khu vui chơi giải trí,… Như vậy tỷ lệ mẫu để muốn phỏng vấn đạt được cho mỗi lý do (chỉ tiêu) nêu trên sẽ tương ứng tỷ lệ là 300, 100, 75 và 25 khách du lịch. Nếu như chỉ tiêu 300 khách du lịch đến với lý do vui chơi, giải trí được trả lời chưa đủ thì phải tiếp tục phỏng vấn cho tới khi đạt được đủ chỉ tiêu. Thuận lợi của lấy mẫu chỉ tiêu áp dụng trong một vài nghiên cứu là chi phí thực hiện nghiên cứu tương đối rẽ và dễ (do không cần phải thiết lập khung mẫu). Bất lợi của việc chọn mẫu chỉ tiêu là không đại diện toàn bộ quần thể, do lấy mẫu không xác suất như 27/81
    22. 30. chọn ưu tiên phỏng vấn khách du lịch đến trước, chọn nơi có nhiều khách lui tới, khách ở khách sạn, … và vì vậy mức độ tin cậy phụ thuộc vào kinh nghiệm hay sự phán đoán của người nghiên cứu và sự nhiệt tình của người trả lời phỏng vấn. Để tăng mức độ tin cậy, người nghiên cứu cần thực hiện cuộc phỏng vấn bước đầu để kiểm tra người trả lời có rơi vào các chỉ tiêu hay không. Chọn mẫu chỉ tiêu ít được áp dụng trong các nghiên cứu phát triển, nhưng đôi khi đựoc sử dụng trong một vài nghiên cứu nhỏ mang các đặc tính quan sát. * Chọn mẫu không gian (spatial sampling) Người nghiên cứu có thể sử dụng cách lấy mẫu nầy khi hiện tượng, sự vật được quan sát có sự phân bố mẫu theo không gian (các đối tượng khảo sát trong khung mẫu có vị trí không gian 2 hoặc 3 chiều). Thí dụ lấy mẫu nước ở sông, đất ở sườn đồi, hoặc không khí trong phòng. Cách chọn mẫu như vậy thường gặp trong các nghiên cứu sinh học, địa chất, địa lý. Lấy mẫu theo sự phân bố này yêu cầu có sự giống nhau về không gian qua các phương pháp ngẫu nhiên, hệ thống và phân lớp. Kết quả của một mẫu chọn có thể được biểu diễn như một loạt các điểm trong không gian hai chiều, giống như là bản đồ. Xác định cỡ mẫu Mục đích của việc xác định cỡ mẫu là để giảm đi công lao động và chi phí làm thí nghiệm và điều quan trọng là chọn cỡ mẫu như thế nào mà không làm mất đi các đặc tính của mẫu và độ tin cậy của số liệu đại diện cho quần thể. Việc xác định cỡ mẫu là một cách lấy thống kê theo độ ý nghĩa, nhưng đôi khi quá trình này cũng được bỏ qua và người nghiên cứu chỉ lấy cỡ mẫu có tỷ lệ ấn định (như cỡ mẫu 10% của quần thể mẫu). Dĩ nhiên, đối với quần thể tương đối lớn, thì việc chọn cỡ mẫu có tỷ lệ như vậy tương đối chính xác đủ để đại diện cho quần thể. Việc tính toán là làm sao xác định một kích cỡ mẫu tối thiểu mà vẫn đánh giá được tương đối chính xác quần thể. Chọn cỡ mẫu quá lớn hoặc lớn hơn mức tối thiểu thì tốn kém còn chọn cở mẫu dưới mức tối thiểu lại ít chính xác. Trước khi xác định cỡ mẫu, phải thừa nhận mẫu cần xác định từ quần thể có sự phân phối bình thường. Để xác định cỡ mẫu tối thiểu cần phải đánh giá trung bình quần thể μ. Khi chúng ta thu thập số liệu từ mẫu và tính trung bình mẫu. Trung bình mẫu này thì khác với trung bình quần thể μ. Sự khác nhau giữa mẫu và quần thể được xem là sai số. Sai số biên (The margin of error) d thể hiện sự khác nhau giữa trung bình mẫu quan sát và giá trị trung bình của quần thể μ được tính như sau: 28/81
    23. 31. d : sai số biên mong muốn Zα/2: giá trị ngưỡng của phân bố chuẩn n : cỡ mẫu σ: độ lệch chuẩn quần thể Sau đó chúng ta có thể tính cỡ mẫu cần thiết dựa trên khoảng tin cậy và sai số biên. Cỡ mẫu được tính qua chuyển đổi công thức trên là: Để tính được n thì phải biết σ , xác định khoảng tin cậy và giá trị trung bình μ trong khoảng ±d. Giá trị Zα/2 được tính qua Bảng 5.3. Bảng Giá trị Zα/2 1- α 0,80 0,85 0,90 0,95 0,99 Z α /2 1,28 1,44 1,645 1,96 2,85 Theo qui luật, nếu như cỡ mẫu n < 30, chúng ta có thể tính σ từ độ lệch chuẩn mẫu S theo công thức. Ngoài ra chúng ta củng có thể tính σ từ những quần thể tương tự hoặc từ cuộc thử nghiệm thí điểm, hoặc phỏng đoán. 29/81
    24. 32. Thí dụ: Một người nghiên cứu muốn đánh giá hàm lượng trung bình của phosphorus trong một ao hồ. Một nghiên cứu trong nhiều năm trườc đây có một độ lệch chuẩn quần thể σ có giá trị là 1,5 gram/lít. Bao nhiêu mẫu nước sẽ được lấy để đo hàm lượng phosphorus chính xác mà 95% mẫu có có sai số không vượt quá 0,1 gram. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu: Thay các tham số trên ta có: Như vậy, người nghiên cứu chỉ cần lấy 10 mẫu nước để phân tích hàm lượng trung bình của phosphorus trong ao hồ. Đánh giá sự biến động của quần thể Thậm chí khi chúng ta thật sự không biết sự biến động của quần thể, có một vài phương pháp tìm giá trị biến động: * Có thể ước lượng Sdựa trên các mẫu trước đây đã chọn có cùng quần thể nghiên cứu giống nhau. * Có thể phỏng đoán dựa trên các kinh nghiệm trước đây có cùng quần thể nghiên cứu giống nhau. * Tiến hành nghiên cứu thí điểm để tính giá trị của S. Phương pháp phi thực nghiệm Khái niệm Phương pháp phi thực nghiệm là phương pháp thu thập số liệu dựa trên sự quan sát các sự kiện, sự vật đã hay đang tồn tại, từ đó tìm ra qui luật của chúng. Phương pháp này gồm các loại nghiên cứu kinh tế và xã hội, nghiên cứu nhân chủng học, … 30/81
    25. 41. Tôi hơi đồng ý Tôi khá đồng ý Tôi hoàn toàn đồng ý Một cấu trúc giống như trên, nhưng có sự lựa chọn khác nữa mà không tìm thấy trong hộp lựa chọn thì chúng ta có thể thiết kế sau: 4. Vấn đề nào bạn nghĩ là quan trọng về quan cảnh chính trị ở nước Úc trong 5 năm tới? (vui lòng đánh dấu x vào 1 hộp ô hoặc hơn nếu chọn) Ô nhiễm Kiểm soát dân số Tôn giáo Sự nhập cư Thu nhập người dân Khác (vui lòng cho ý kiến): c/ Các mẫu câu hỏi có cấu trúc khác * Mẫu đánh dấu hộp lựa chọn Đúng Sai Không chắc * Mẫu đường thẳng chia độ 39/81
    26. 42. Đời sống của nông dân ngày càng ổn định hơn Rất đồng ý Hoàn toàn không đồng ý * Mẫu bảng hệ thống chia mức độ Thức uống Thích Bình thường Không thích Coca Cola Pepsi Cola Fanta Sprite * Mẫu bảng Dạng bảng này chứa các hạng mục có cấu trúc được sắp xếp theo hàng và cột trong bảng. Mức giáo dục Nhóm tuổi Cấp II Cấp III Sau cấp III 40/81
    27. 43. 20-30 30-40 40-50 50-60 Trên 60 – Phương pháp đóng vai trò Phương pháp này đôi khi được sử dụng để nghiên cứu các chỉ tiêu quan điểm và hành vi. Người nghiên cứu trình bày câu chuyện dưới các sự kiện bằng cách vẽ ra các hình tượng, tranh ảnh để hư cấu tình huống xã hội, sau đó tiếp tục hỏi người trả lời phỏng vấn để tìm ra câu trả lời thích hợp. Người trả lời được hỏi sao cho họ tưởng tượng ra câu hỏi và chọn lựa các sự kiện trong tranh ảnh đưa ra. Người nghiên cứu thường đưa ra câu chuyện có các sự kiện dưới hai hay nhiều cách khác nhau và cơ bản hình thành khái niệm cho người trả lời để trả lời đầy đủ. Điều cần thiết là đặt câu chuyện trong bảng câu hỏi làm sao gây kích thích cho người trả lời. Chú ý : không nên gởi loại bảng câu hỏi này qua thư bởi vì khó lòng kích thích người trả lời để hoàn thành việc trả lời câu hỏi. 41/81
    28. 45. * Khả năng thực sự của người trả lời phỏng vấn để kể toàn bộ sự thật: họ nằm trong vị trí để trả lời chỉ một mặt hay toàn bộ? Một số biện pháp để kích thích người trả lời phỏng vấn Động cơ thúc đẩy sự tích cực của người trả lời phỏng vấn là cách hiệu quả nhất để hoàn thành mục đích và rất quan trọng trong nghiên cứu trước khi đưa ra các câu hỏi nghiên cứu chính thức. Người nghiên cứu có lẽ cũng nhấn mạnh sự kiện mà cuộc phỏng vấn đem lại thông tin giá trị mình đạt được mà bất kỳ chỗ khác không có như vậy. Cách khác trong việc thúc đẩy người khác là làm sao gây ra càng ít phiền toái càng tốt cho người trả lời phỏng vấn trong bảng câu hỏi. Vì vậy, bảng câu hỏi và các câu hỏi không nên thiết kế quá dài dòng, làm cho người trả lời sợ và cảm thấy không thỏa mái để trả lời hay các câu hỏi nên cần trình bày ngắn gọn, rõ ý. Một số cách để cải tiến mức độ trả lời câu hỏi qua nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi được tóm tắt như sau: Cách thực hiện Ảnh hưởng mức độ trả lời Thông báo trước qua thư Tăng nghiên cứu khách hàng (người tiêu dùng). Thông báo trước qua điện thoại Tăng mức độ trả lời Kích thích bằng tiền, quà Tăng mức độ trả lời Bao thư gởi được dán tem sẵn Tăng mức độ trả lời Riêng tư cá nhân Ảnh hưởng thay đổi Bảng câu hỏi dài Ảnh hưởng ít trên mức độ trả lời Bảng câu hỏi màu Không ảnh hưởng mức độ trả lời Sự gia hạn Không ảnh hưởng mức độ trả lời Dạng câu hỏi Dạng câu hỏi kết thúc kín (Closed-ended) có mức độ trả lời cao hơn dạng câu hỏi mở (open-ended) Tiếp diễn tiếp theo Thư từ và điện thoại sau đó làm tăng mức độ trả lời Chú ý: nếu một số người trả lời phỏng vấn không gởi lại bảng trả lời câu hỏi, người nghiên cứu không nên tự động thay thế các câu hỏi đã đưa ra trong bảng câu hỏi bằng 43/81

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Bài Giảng Nghiên Cứu Khoa Học
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Hiện Nay
  • Để Viết “phần Phương Pháp” Của Một Bài Báo Nghiên Cứu Khoa Học Bằng Tiếng Anh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • Miễn Phí Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Các Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm 2022
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay Là Gì?
  • Khái niệm

    Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nhưmột phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

    Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

    Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.

    Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luậnchung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

    Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.

    Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản
  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép
  • Hướng Dẫn Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Sách Khó Hơn Bài Báo Quốc Tế: Quan Trọng Sách Nào?
  • Các Phương Pháp Dự Báo
  • Chương 3: Các Phương Pháp Dự Báo Định Tính
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học? Ý Nghĩa?
  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Published on

    Các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học

    1. 1. NHÓM 5 I. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG. III. PHƯƠNG PHÁP HỎI Ý KIẾN CHUYÊN GIA.
    2. 3. -Trong thực tiễn, người ta thường dùng các loại thực nghiệm: 2. CÁC LOẠI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM *Thực nghiệm thăm dò (phát hiện bản chất sự vật để xây dựng giả thuyết) *Thực nghiệm tác động *Thực nghiệm kiểm tra (kiểm chứng các giả thuyết khoa học) *Thực nghiệm ứng dụng *Thực nghiệm triển khai
    3. 4. Thực nghiệm thăm dò Xác định bản chất: không gian học tập, điều kiện học tập quyết định đến chất lượng dạy và học Dựa vào điều kiện thực tế để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
    4. 5. Kiểm tra lại tính xác thực của các giả thiết khoa học Thự c nghiệm kiểm tra Xác định, đánh giá tính hiệu quả của việc sự dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy
    5. 6. Thực nghiệm tác động Phương pháp dạy
    6. 7. Thực nghiệm ứng dụng-triển khai Thực hiện thí điểm Ứng dụng rộng rãi
    7. 8. -Từ mâu thuẫn giáo dục đề ra các giả thuyết khoa học và các biện pháp khắc phục. -Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về phương diện và tiến hành thực nghiệm trong điều kiện giống nhau. -Tiến hành thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và quan sát tỉ mỉ diễn biến kết quả của hai nhóm một cách khách quan. -Xử lí tài liệu thực nghiệm. -Kết quả xử lý tài liệu cho chúng ta những cơ sở khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế. 3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
    8. 9. -Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm điều cần chú ý là phải chọn đối tượng tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một đối tượng ở các thời điểm. Kết quả thực nghiệm sư phạm là kết quả khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu khoa học bằng các phương pháp khác .
    9. 10. a. Ưu điểm. -Thực nghiệm sư phạm là chiếc kính hiển vi giúp ta đi sâu vào bản chất của hiện tượng giáo dục, tìm ra mối quan hệ nhân quả của nhiều sự kiện giáo dục. 4. ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
    10. 11. -Thực nghiệm sư phạm tìm ra những cái mới trong hoạt động giáo dục.
    11. 13. -Thực nghiệm sư phạm tuy là kính hiển vi, nhưng không phải lúc nào cũng đeo kính vào mắt để đi đường mà ngắm cảnh được. Mặt khác, do nhiều điều kiện khó khăn, nên thông thường số lượng đơn vị trong tập mẫu không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu. Trong những hoàn cảnh như vậy, phải thận trọng phát biểu kết luận sư phạm thực nghiệm sư phạm cho phổ biến và đại trà. VD: Trong quá trình thực nghiệm chọn một số nơi thực nghiệm thích hợp với thực nghiệm nhưng những nơi khác thì không chắc sẽ làm được như vậy.
    12. 14. – Một là, xây dựng giả thuyết thực nghiệm trên cơ sở phân tích kĩ các biến số độc lập. – Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ và mọi điều kiện tương đương nhau về mọi phương diện, nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thực nghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm. -Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp, đo đầu vào và đầu ra sao cho khách quan. -Bốn là, xử lí kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng lẫn mặt định tính, đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận. 5. YÊU CẦU
    13. 15. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM: -Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà nhà nghiên cứu sẽ thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục, ..v.vv.) tạo ra như bài làm, bài chấm vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập, v.v.. để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tao ra các sản phẩm đó.
    14. 16. *Về nguyên tắc, thông qua những sản phẩm của con người tạo ra mà chúng ta có thể nhận ra tư tưởng tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng một sản phẩm hoạt động cũng có thể có hai cách sử dụng khó khăn. -Nếu sử dụng các sản phẩm hoạt động đó làm tài liệu để phân tích những đặc điểm tâm lý của những người được nghiên cứu, của hoạt động tạo ra những sản phẩm đó thì việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là đúng đắn. Nhưng nếu dùng những nhận xét vủa người khác làm cứ liệu về nhân cách của đối tượng được nghiên cứu qua sản phẩm qua hoạt động của mình, lúc này tính khách quan đã mất đi rất nhiều. Trong trường hợp này, đó là ý thức chủ quan của người ghi nhật kí chứ không còn là sự kiện khách quan nữa. Đó không phải là phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động mà chính là phương pháp trò chuyện gián tiếp (được viết ra).
    15. 17. a. Ưu điểm : -Giúp người nghiên cứu có thể khách quan hóa (trực quan hóa) nhưng đặc điểm tâm lí, sinh lí thông qua sản phẩm hoạt động của họ. -Sản phẩm hoạt động còn là một phương tiện thổ lộ tâm lí và tình cảm của người tạo ra nó. 2. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM:
    16. 18. b. Nhược điểm: -Người nghiên cứu chỉ biết kết quả cuối cùng, chứ không biết quá trình tạo ra sản phẩm đó như thế nào. -Đôi khi qua sản phẩm chúng ta không xác định một cách chính xác chiều hướng phát triển của người tạo ra sản phẩm như thế nào.
    17. 19. + Đầu tiên tìm cách xây dựng lại đầy đủ quá trình hoạt động để tạo nên sản phẩm mà ta nghiên cứu. Ví dụ, đối với, bài làm, bài soạn, bài giảng, sáng tác… có thể sử dụng những bản nháp, dự thảo được sắp đặt theo thời gian. Bằng cách đó nhiều khi sẽ giúp phát hiện những điểm quan trọng và tinh tế mà chỉ tìm hiểu sản phẩm cuối cùng thì không thể nhận thấy được. + Dựng lại hoàn cảnh thực tế mà sản phẩm tạo ra, đặc biệt khi tình trạng hoạt động mới bắt đầu. Làm được điều đó giúp ta hiểu về con người và hoạt động tạo ra sản phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc hơn nhiều, khác về chất. +Nên tìm hiểu đầy đủ về các mặt khác nhau của con người tạo ra sản phẩm. Làm được điều này sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về sản phẩm và quá trình tạo ra nó. 3. YÊU CẦU
    18. 20. *Để thực hiện các yêu cầu này cần sử dụng tài liệu thu được bằng những phương pháp khác nhau như trò chuyện, quan sát, điều tra, tự thuật, tiểu sử, tất nhiên cũng cần nắm vững lí luận tâm lí học về tâm lí học của con người.
    19. 21. Ví dụ: Khi tiến hành nghiên cứu khả năng đọc hiểu của học sinh trong môn tiếng Anh bằng cách cho học sinh làm một bài test hay tập hợp những bài tập trước để đánh giá mức độ của học sinh, nhưng nhận thấy kết quả không khả quan. Giáo viên nên điều chỉnh hay đưa ra phương án dạy học hiệu quả như khi đọc một đoạn văn, học sinh không nên dịch từng từ một, vì như vậy sẽ rất mất thì giờ, dẫn đến kết quả kém.
    20. 22. 2. PP LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA 1. KHÁI NIỆM: – Là phương pháp thu thập thông tin khoa học , nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa họ, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định.Ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau, cho ta một ý kiến tối ưu, khách quan về một vấn đề khoa học .
    21. 23. 2. MỤC ĐÍCH: Là phương pháp khai thác và vận dụng “chất xám” của các chuyên gia, nhằm mục đích : + Thu thập thông tin khoa học +Thu lượm những ý kiến đánh giá về tình hình giáo dục,về những sản phẩm giáo dục,về những sản phẩm khoa học ….. +Thu lượm những ý kiến về giải pháp giáo dục cho vấn đề muốn khai thác,không những vậy, mà còn có tính trung thực khoa học…
    22. 25. CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Tiêu Chuẩn 5S Trong Quản Lý Chất Lượng Nhân Sự
  • Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Chuyên Gia (Delphi) Xây Dựng Chỉ Số
  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Dạy Học
  • Các Phương Pháp Dạy Học, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100