Top 6 # Xem Nhiều Nhất Quan Vũ Vì Sao Mà Chết Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Quan Vũ Chết, Lưu Bị Chỉ Xử Tội Lưu Phong Mà Lờ Đi Mã Siêu?

Công Nguyên năm 219, trong trận chiến Tương Phàn, Đông Ngô Tôn Quyền phái Lã Mông, Lục Tốn tập kích hậu phương của Quan Vũ, lúc đó Quan Vũ đang thất bại trong trận giao chiến với Từ Hoảng, tiến thoái lưỡng nan, vào năm Công Nguyên 220 thì bại trận bị giết.

Sau cái chết của Quan Vũ, Lưu Bị trách tội hai người Lưu Phong và Mạnh Đạt. Mạnh Đạt sau đó phản Thục, cùng Từ Hoảng của Tào Ngụy cùng tập kích Lưu Phong, khuyên Lưu Phong đầu hàng. Lưu Phong không hàng, nhưng lại bị bộ hạ phản bội, bại trận chạy về Thành Đô.

Lưu Bị nghe theo ý kiến của Khổng Minh xử tử Lưu Phong. Lưu Phong sau đó tự vẫn, Lưu Bị trong thâm tâm cảm thấy rất đau lòng, đáng tiếc. Theo ý kiến của một số người, trước khi bị bắt và xử tử, Quan Vũ có chạy đến vùng đất Lâm Thư của Mã Siêu, nên cái chết của Quan Vũ Mã Siêu cũng phải chịu một phần trách nhiệm.

Lưu Bị truy cứu trách nhiệm những người đã không ứng cứu Quan Vũ

Trong “Tam Quốc chí-Quan Vũ Truyện” của Trần Thọ có ghi lại: “Tôn Quyền cho quân đánh úp Quan Vũ, chém cha con Quan Vũ và Quan Bình tại Lâm Thư”. Cũng trong “Tam Quốc Chí-Mã Siêu” của Trần Thọ có viết: “Tiên chủ (Lưu Bị) lấy Siêu (Mã Siêu) làm Bình Tây tướng quân, đốc xuất Lâm Thư, nhận tước Đô đình hầu”.

Vì thế Lâm Thư chính là vùng phong địa của Mã Siêu, nên nhiều người cho rằng Quan Vũ chết trong vùng đất của Mã Siêu, và Mã Siêu cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Nhưng thực tế là lúc Quan Vũ bị xử tử ở Lâm Thư, Mã Siêu không có mặt ở vùng đất đó, thế nên đối với cái chết của Quan Vũ, Mã Siêu không cần phải chịu trách nhiệm.

Lúc Quan Vũ bị giết, Mã Siêu không có mặt ở Lâm Thư nên không thể chi viện

Cụ thể hơn là, Công Nguyên năm 220, sau khi trận chiến Hán Trung kết thúc, Mã Siêu đã cùng với Lưu Bị trở về Thành Đô, vì vậy lúc Quan Vũ bị giết, Mã Siêu không hề có mặt tại Lâm Thư, nên đương nhiên Lưu Bị không thể truy cứu trách nhiệm Mã Siêu.

Nhưng với Lưu Phong thì khác, ông không thể chối cãi được trách nhiệm đối với cái chết của Quan Vũ. Thượng Dung Tam Quận cách chiến trường Tương Phàn rất gần. Trong lúc Quan Vũ vây hãm Tương Phàn, có nhờ Lưu Phong và Mạnh Đạt chi viện. Nhưng vì quan hệ không tốt nên Lưu Phong và Mạnh Đạt không xuất binh tiếp ứng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Quan Vũ thất bại tại trận chiến Tương Phàn.

Quan Vũ không được Lưu Phong và Mạnh Đạt chi viện, nên bị quân Đông Ngô bắt và xử tử tại Lâm Thư

Cuối cùng, vào năm Kiến An thứ 25 ( 220 ), Lưu Phong và Mạnh bất hòa, Mạnh Đạt viết một bức thư gửi cho Lưu Bị, sau đó dẫn quân đầu hàng Tào Ngụy. Vì thế, việc Mạnh Đạt phản bội Thục Hán có thể nói do Lưu Phong là một phần nguyên nhân.

Ngoài ra, theo một số nhà sử học ghi lại, thì sự tồn tại của Lưu Phong rất có thể uy hiếp trực tiếp đến sự tồn tại của Lưu Thiện về sau. Vì thế, dựa vào những tội danh không tiếp ứng Quan Vũ, khiến Mạnh Đạt phản Thục quy Tào, Gia Cát Lượng đã khuyên Lưu Bị xử tử Lưu Phong. Lưu Bị sau khi cân nhắc đã đồng ý với ý kiến của Gia Cát Lượng, xử Lưu Phong tội chết. Cuối cùng vào năm Công Nguyên 220, sau thời điểm Quan Vũ bị giết không lâu, Lưu Phong đã tự vẫn.

“Điều Tra Lại” Thủ Phạm Đích Thực Hại Chết Quan Vũ?

Miếu thờ ‘Quan Thánh Đế’

Các nhà nghiên cứu Tam Quốc nghiên cứu phân tích cho rằng, thực ra Lưu Bị hiểu, Gia Cát Lượng cũng hiểu, Quan Vũ cũng hiểu và ngay cả Tào Tháo, Tôn Quyền cũng đều hiểu:

Quan Vũ không chết thì mọi người chưa được yên ổn; Quan Vũ chết thì mọi người mới yên tâm. Vì vậy, hạt nhân của “Tam Quốc diễn nghĩa” chính là cái chết của Quan Vũ; kết luận là: Quan Vũ chết vì bị mưu sát! Vậy ai đã mưu sát Quan Vũ?

Từ cái chết của Tuân Úc

Tuân Úc là mưu sĩ theo Tào Tháo sớm nhất, trong số các quân sư chỉ xếp sau Quách Gia, hết lòng trung thành với Tào Tháo, lập nên nhiều công lớn. Tào Tháo cũng rất tôn trọng Tuân Úc. Gia tộc Tuân Úc “Tứ thế tam công”, vị thế cao sang hơn nhiều nhà Tào Tháo, vì vậy sự cống hiến của ông đối với Tào Tháo còn mang lại rất nhiều lợi ích từ địa vị gia tộc họ Tuân trong giang hồ.

Thế nhưng, mục đích Tuân Úc giúp Tào Tháo là để cùng Tào Tháo phò tá Hán thất. Về sau khi Tào Tháo lĩnh phong Ngụy Vương gia cửu tích thì Tuân Úc phát hiện Tháo có dã tâm thoán nghịch nên đã đứng ra phản kháng. Kết quả là bị Tháo dùng thuốc độc hại chết.

Quan Vũ cũng là người giống Tuân Úc. Quan Vũ là người “khi rảnh rỗi đọc Xuân Thu”, trọng đại nghĩa. Ông theo Lưu Bị cũng có phần do nghĩa khí huynh đệ, nhưng căn bản nhất là mong phò tá Hán thất, lưu danh thiên cổ.

Có một chuyện cho thấy rõ điều này: Khi Quan Vũ bị Tào Tháo bắt, Tháo phong ông là “Hán Thọ Đình hầu”. Về danh nghĩa là Hán Hiến đế phong, nhưng thực tế là Tào Tháo phong. Quan Vũ rất coi trọng tước phong này bởi về danh nghĩa đó là tước hầu của nhà Hán, ông đã là quan to của triều Hán.

Sau này Quan Vũ rời bỏ Tào Tháo, về lý thì ông nên tránh nhắc đến tước hiệu “Hán Thọ Đình hầu” để tránh kích nộ đại ca Lưu Bị, vì trong mắt Lưu Bị, tước hiệu đó là do Tào Tháo phong; thế nhưng Quan Vũ vẫn cứ xưng danh, thậm chí cho thêu hiệu kỳ “Hán Thọ Đình hầu Quan”.

Đối với ông, đó là niềm vinh dự, nhưng với Lưu Bị đó là “đạn bọc đường”, là mồi nhử. Sau khi Quan Vũ tha Tào Tháo ở đường Hoa Dung, trong lòng Lưu Bị đã nghi ngại, thấy người em này không còn đáng tin nữa.

Vì sao Quan Vũ tha Tào Tháo? Có phần về nghĩa khí, nhưng có người phân tích: Nếu Lưu Bị giết Tào Tháo thì chính Lưu Bị sẽ là người thế chỗ Tào Tháo. Gia Cát Lượng biết Quan Vũ nhất định tha Tào Tháo, ông biết mục tiêu của Quan Vũ là phò tá Hán thất.

Vì sao biết trước mà vẫn giao Quan Vũ giữ cửa ải cuối cùng này? Vì ông biết thế “ba chân vạc” là kết quả tốt nhất. Khi Lưu Bị lấy được Tây Xuyên, cánh Gia Cát Lượng, Pháp Chính ra sức khuyên Lưu Bị xưng đế, nhưng Lưu Bị từ chối, chỉ tự phong Hán Trung vương. Vì sao? Vì Quan Vũ đang ở Kinh Châu, nếu xưng đế, khác nào bức Quan Vũ đầu hàng Tào Tháo.

Nhưng việc Lưu Bị tự phong Hán Trung vương cũng khiến Quan Vũ bất bình: không được Hán Hiến đế tấn phong thì có khác nào tiếm quyền. Do đó, khi Lưu Bị phong Quan Vũ đứng đầu Ngũ Hổ Thượng tướng, ông đã từ chối, không nhận.

Quan Vũ trong phim truyền hình Tam Quốc

“Tam Quốc diễn nghĩa” viết, khi Phí Thi mang văn bản của Lưu Bị đến Kinh Châu, Quan Vũ hỏi ngay: “Hán Trung Vương phong ta tước gì?”. Ngữ khí thể hiện sự bất mãn và không phục. Vì ông biết rõ, là vương thì Lưu Bị không có tư cách phong tước. Sau đó nghe nói Lưu Bị phong mình đứng đầu Ngũ Hổ tướng, Quan Vũ nổi giận.

Phản ứng của Quan Vũ rất không bình thường. Tuy sau đó ông vẫn miễn cưỡng nhận phong hiệu, nhưng sự bất mãn vẫn còn đó. Phí Thi nhất định sẽ về bẩm báo lại với Lưu Bị và Gia Cát Lượng phản ứng của Quan Vũ. Tình thế lúc đó, Lưu Bị rất khó xử.

Để Quan Vũ vào Tứ Xuyên, sau này tất có chính biến, Quan Vũ e sẽ giống như Tuân Úc, còn mình sẽ bị tiếng qua cầu rút ván; cứ để Quan Vũ ở lại trấn thủ Kinh Châu, chưa biết chừng sau sẽ hàng Tào Tháo. Làm sao đây?

Cái gai trong mắt Lưu Bị, Tào Tháo và Tôn Quyền

Tôn Quyền lúc đó cũng rất đau đầu. Quan Vũ chiếm cứ Kinh Châu, lúc nào cũng có thể đánh thốc xuống Đông Ngô. Tào Tháo cũng đau đầu bới Kinh Châu là yếu địa chiến lược, lúc nào cũng có thể đánh vào Hứa Xương.

Đến thời điểm này, Quan Vũ đã trở thành nhân vật làm đau đầu cả 3 nước Ngụy, Thục, Ngô. Bản thân Quan Vũ cũng đau đầu: cứ theo Lưu Bị sẽ trở thành Hán tặc; đầu hàng Tào Tháo hay Đông Ngô, vẫn là Hán tặc; tự xưng vương thì cũng là Hán tặc. Điều Quan Vũ không muốn nhất là sợ bị coi là Hán tặc, nhưng mọi con đường đều dẫn tới Hán tặc.

Tào Tháo nghĩ ra một cách, cử người sang xúi Tôn Quyền đánh lấy Kinh Châu. Tôn Quyền không phải kẻ ngốc, biết rõ Quan Vũ không phải là dễ xơi, nên viết thư trả lời, đề nghị Tào Tháo đánh Kinh Châu. Kết quả, Tào Tháo và Tôn Quyền đều không đánh, mà đều bí mật chuẩn bị.

Gia Cát Lượng nham hiểm nhất. Ông xui Lưu Bị cho Quan Vũ làm Tiền tướng quân khởi binh đánh lấy Tương Dương. Quan Vũ không phải kẻ ngốc, biết rõ mình đem quân lấy Tương Dương khác nào mang quân đánh Tào Tháo, đằng sau thì Tôn Quyền đang như hổ ngồi rình mồi.

Vấn đề là trong tình thế Tào Tháo phía trước, Tôn Quyền đằng sau, đại ca Lưu Bị không cử thêm các tướng đến giúp người em, mà bắt Quan Vũ một mình một mình đối phó với cả Tào Tháo lẫn Tôn Quyền. Như thế liệu có ổn?

Trước khi đem quân Bắc phạt, Quan Vũ đã chuẩn bị cả hai tình huống: tốt, là một tay ông có thể tiêu diệt được Tào Tháo, sau đó phò tá Hán thất thống nhất thiên hạ; còn xấu là chết vì bại trận. Kết quả cả 2 tình huống đều không phải là Hán tặc, cho nên Quan Vũ quyết mang quân Bắc tiến.

Lưu Bị, Tôn Quyền, Tào Tháo thực ra đều có tâm trạng giống nhau: mong Quan Vũ không thắng. Quan Vũ đánh lấy Phàn Thành, sau đó dùng nước dìm ba quân, bắt Vu Cấm, chém Bàng Đức, uy chấn thiên hạ. Tào Tháo lo sợ đến mức chuẩn bị dời đô, nhưng Tư Mã Ý nhìn thấu mọi chuyện.

Ý biết rằng, trong tình thế cả Thục, Ngô, Ngụy đều không muốn Quan Vũ đi quá xa, ông nhất định sẽ không đi. Tôn Quyền hành động, Lã Mông áo trắng lẻn vào chiếm lấy Kinh Châu. Thử hỏi, nếu trước đó Gia Cát Lượng cho Triệu Vân đến giữ Kinh Châu thì 10 Lã Mông cũng không làm nên trò trống gì.

Ở phía trước, Quan Vũ thế như cung đang giương tên, cuối cùng bị Từ Hoảng đánh bại, phải chạy về giữ Mạch Thành. Liêu Hóa đến Thượng Dung cầu viện, tướng giữ thành là Lưu Phong, con nuôi Lưu Bị lại cự tuyệt không cứu.

Điều này khiến người ta thấy khó hiểu: nếu không có chỉ thị ngầm của Lưu Bị hay Gia Cát Lượng thì Lưu Phong liệu có dám không cứu Quan Vũ? Như thế là: phía trước là Tào Tháo, phía sau là Tôn Quyền, lại thêm Lưu Bị không cứu, Quan Vũ dù có ba đầu sáu tay cũng không thể không thua. Cuối cùng, Quan Vũ bị quân Ngô bắt sống. Đến lúc này, Quan Vũ tất phải chết. Cái chết của Quan Vũ thành niềm vui cho tất cả.

Quan Vũ dùng cái chết của mình để toàn vẹn lý tưởng của ông; còn Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền cũng đạt được điều họ muốn. Do đó, cái chết của Quan Vũ làm hài lòng tất cả. Ít lâu sau khi Quan Vũ chết, Tào Tháo cũng qua đời. Thế là Tào Phi, Lưu Bị, Tôn Quyền đua nhau xưng đế.

Quan Vũ, Chu Sương và Quan Bình (tranh thờ)

Gia Cát Lượng – chủ phạm mưu sát Quan Vũ?

Sau khi Quan Vũ chết, Lưu Bị chém Lưu Phong, chỉ là diễn kịch, Lưu Phong rõ ràng là con dê tế thần. Dù sao Lưu Bị cũng lương tâm cắn rứt, thấy không phải với Quan Vũ nên đem quân đánh Ngô để trả thù.

Trong sự kiện này, có lẽ Lưu Bị bất bình với Gia Cát Lượng nên khi Lượng dâng biểu can không nên phạt Ngô, Bị đã “ném biểu xuống đất”, không nghe theo – điều trước nay chưa từng có. Cũng vì bất bình với Gia Cát Lượng nên Lưu Bị không mang ông theo, thể hiện sự không tin tưởng.

Đương nhiên, những điều trên đều không được ghi trong chính sử, chỉ có quan hệ lợi hạ là rõ. La Quán Trung đã nhìn thấu mọi việc nên đã ngầm bày tỏ, có điều người đọc có nhận ra hay không mà thôi.

Có thể kết luận: Gia Cát Lượng đã mưu sát Quan Vũ, còn Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền đều là đồng lõa. Trong suốt thời kỳ Tam Quốc, họ chỉ có một việc cùng mưu tính chính là mưu sát Quan Vũ. Cũng chính vì vậy, Quan Vũ cao thượng vượt hẳn trên họ. Vì thế, Quan Vũ trở thành “Quan Thánh”, còn họ thì không…/.

Vì Sao Ung Thư Gây Chết Người?

Ung thư hình thành như thế nào

Ung thư (cancer) là tên dùng chung để mô tả một nhóm các bệnh phản ánh sự đột biến của tế bào. Thông thường, các tế bào sẽ tuân theo một quy trình: phát triển, phân chia thành tế bào mới rồi chết đi.

Nhưng tế bào ung thư thì khác – chúng là những tế bào… bất tử. Thay vì chết đi, tế bào ung thư sẽ tiếp tục sinh sôi nảy nở, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu.

Ung thư không chỉ là một bệnh mà là nhiều bệnh. Ước tính hiện nay có hơn 100 loại ung thư khác nhau.

Tại sao ung thư lại gây chết người?

Di căn là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Nhưng tại sao lại thế?

Đó là vì tế bào ung thư khi di căn tạo thành các khối u mới, xâm lấn các tế bào bình thường. Điều này đã làm tê liệt và ngăn cản các cơ quan trong cơ thể vận hành, dẫn đến việc cơ thể suy kiệt, đau đớn và bất lực trước các bệnh tật khác, cuối cùng dẫn đến hệ quả tất yếu là tử vong.

Vì sao chúng ta bị ung thư?

Với sự phát triển của y học ngày nay, chúng ta đã xác định được khá nhiều nguyên nhân có thể gây ra ung thư, được chia thành tác nhân bên trong và bên ngoài.

Yếu tố bên trong

Chính là yếu tố di truyền. Một số loại ung thư như ung thư đại trực tràng, ung thư nguyên bào võng mạc mắt… hình thành từ các gene bị lỗi và các gene này sẽ được di truyền qua từng thế hệ.

Ngoài ra, nội tiết tố quá dồi dào đôi khi cũng kích hoạt các loại ung thư, đặc biệt là ở nữ giới như ung thư vú, ung thư cổ tử cung…

5 – 10% số ca mắc ung thư là do di truyền

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 5 – 10% ung thư là do các nguyên nhân này.

Yếu tố bên ngoài

90% các trường hợp ung thư ngày nay đều do tác động từ yếu tố bên ngoài.

Đầu tiên phải kể đến thuốc lá – nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi, với tỉ lệ lên tới 90%. Hút thuốc cũng là thủ phạm cho khoảng 30% tổng số các trường hợp ung thư, như thanh quản, cổ, dạ dày, thận, bàng quang, tụy…

Khói thuốc là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư

Chế độ ăn uống không hợp lý cũng có thể gây ung thư. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, việc tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ và thịt hun khói sẽ làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng, ruột và dạ dày.

Việc tiếp xúc trực tiếp với các loại bức xạ như UV (có trong ánh sáng Mặt trời), tia X, tia gamma… sẽ tăng nguy cơ gây ung thư da, tuyến giáp và tủy xương

Tiếp xúc trực tiếp với ánh Mặt trời làm tăng nguy cơ ung thư da

Cuối cùng là các tác nhân đến từ virus và vi khuẩn. Ví dụ như virus HPV có thể gây ung thư cổ tử cung, Virus viêm gan B gây ung thư gan, hay Epstein-Barr, virus gây bệnh bạch cầu ở người.

Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến lối sống không lành mạnh. Sử dụng nhiều rượu bia hay đồ uống có cồn có thể gây ung thư gan và đường tiêu hóa.

Ngoài ra, việc ăn uống không lành mạnh, thiếu thể dục thể thao có thể gây thừa cân, khiến phụ nữ sản sinh thừa hormone, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như ung thư vú, ung thư cổ tử cung…

Kết

Bài viết này nhằm giúp các bạn có một cái nhìn rõ hơn về ung thư – nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới (theo thống kê từ WHO). Theo các chuyên gia, 40% các loại ung thư có thể phòng tránh được và 30% ung thư có thể chữa khỏi nếu được chữa trị kịp thời.

Ung thư là một trong những tác nhân gây chết người hàng đầu trên thế giới.

Theo thống kê từ Cancer Research của Anh, năm 2012 thế giới có thêm 14 triệu ca ung thư. Trong đó, 4 loại ung thư phổ biến nhất gồm có:

– Ung thư phổi

– Ung thư tiền liệt tuyến

– Ung thư ruột và đại trực tràng

– Ung thư vú

Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương

Bạn đang tìm tài liệu văn mẫu trình bày suy nghĩ về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương? Không cần tìm thêm nữa, Đọc Tài Liệu giới thiệu đến các bạn dàn ý chi tiết và những bài văn cảm nhận hay về cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương giúp bạn làm bài tốt hơn với đề tài này.

Đề bài: Có ý kiến cho rằng nguyên nhân cái chết của Vũ Nương là do Trương Sinh cả ghen. Lại có ý kiến khẳng định đó là do chiến tranh phong kiến… Trình bày suy nghĩ của em về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương khi đọc ” Chuyện người con gái Nam Xương“.

***

Hướng dẫn làm bài suy nghĩ về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương

1. Những nguyên nhân chính dẫn đến nỗi oan khuất và cái chết của Vũ Nương:

+ Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh.

+ Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra.

– Nguyên nhân gián tiếp:

+ Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do.

+ Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

2. Dàn ý chi tiết nêu suy nghĩ về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương

a) Mở bài

– Vũ Nương, nhân vật chính trong “Chuyện người con gái Nam Xương” là một người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh nhưng cuộc đời lại chịu nhiều nỗi oan khiên, ngang trái.

– Xung quanh nguyên nhân cái chết của Vũ Nương có khá nhiều ý kiến không thống nhất. Bài viết muốn nêu lên suy nghĩ của riêng em – về nguyên nhân cái chết oan khuất của người phụ nữ này.

b) Thân bài * Phân tích, khái quát những nét chính về nhân vật Vũ Nương

– Ngoại hình: dung nhan xinh đẹp.

– Tính cách, phẩm chất:

+ Nết na, thùy mị: nói năng nhỏ nhẹ, giữ gìn khuôn phép, lễ giáo, được mọi người yêu mến.

+ Đảm đang tháo vát, hiếu thảo, nhân hậu: một mình nuôi con; thương yêu, phụ dưỡng mẹ chồng, ma chay chu tất, trọn đạo hiếu.

+ Thủy chung son sắt: thương chồng thương con, giữ trọn phẩm tiết, một lòng thủy chung chờ chồng.

+ Trong sáng, ngay thẳng: bị oan khuất, tự vẫn để giải oan…

– Một phụ nữ xinh đẹp, phẩm hạnh như vậy lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc nhưng lại có một kết cục thảm thiết. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến cái chết của Vũ Nương?

* Nguyên nhân cái chết Vũ Nương

Xung quanh cái chết của Vũ Nương có rất nhiều cách lí giải khác nhau. Có hai ý kiến, một khẳng định do Trương Sinh cả ghen, một cho rằng do chiến tranh phong kiến là đều có cơ sở. Tuy nhiên, mỗi ý kiến mới chỉ đúng ở một khía cạnh.

– Trương Sinh cả ghen là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Vũ Nương: nếu Trương Sinh biết kìm chế nóng giận, sáng suốt suy xét, tin ở vợ chứ không tin vào sự ngây thơ của con trẻ… kết cục sẽ khác.

– Chiến tranh phong kiến là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cái chết của Vũ Nương: Có người nói, Vũ Nương chết khi Trương Sinh đã trở về, như vậy không thể nói là Vũ Nương chết do chiến tranh được. Hiểu như vậy là tách rời cái chết của Vũ Nương ra khỏi toàn bộ diễn biến câu chuyện. Chính Trương Sinh phải đi lính xa nhà nên mới xảy ra sự hiểu lầm đáng tiếc.

– Ngoài ra, do con thơ vô tình hại mẹ, do Vũ Nương yếu đuối, do lễ giáo phong kiến khắt khe… cũng góp phần đẩy Vũ Nương đến cái chết. Song, bao trùm vào sâu xa hơn cả, đó là do chế độ xã hội phong kiến đã không bảo đảm được quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ. Số phận họ mỏng manh: tai họa, oan khiên có thể giáng lên đầu họ bất cứ lúc nào vì những lí do không đâu mà không được bất kì sự bảo vệ nào. Chi tiết “cái bóng” rất ngẫu nhiên, phi lí nhưng chính cái ngẫu nhiên phi lí đó lại để quyết định số phận một con người. Như vậy, bi kịch của Vũ Nương đã vượt ra khỏi giới hạn bị kịch một gia đình. Đó là bi kịch số phận của một lớp người trong xã hội. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện cũng vì thế mà có tầm khái quát cao hơn.

c) Kết bài

– Cái chết của Vũ Nương gieo vào lòng người đọc nỗi thương xót những người phụ nữ bất hạnh trong xã hội cũ.

– Trong xã hội ta hôm nay, tuy phụ nữ được pháp luật bảo vệ, Đảng và Nhà nước tạo điều kiện, nhưng vẫn là giới chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh. Đó đây vẫn còn cảnh những người vợ bị chồng đánh đập tàn nhẫn; những cô gái bị mua bán, dụ dỗ vào con đường làm ăn bất lương; những phụ nữ bị coi thường, rẻ rúng vì tư tưởng trọng nam khinh nữ… Bởi vậy, đấu tranh vì sự bình đẳng nam nữ, sự phát triển của phụ nữ là cuộc cách mạng lớn của hôm nay. Yêu thương và giúp đỡ những phụ nữ bất hạnh là lương tâm, trách nhiệm của tất cả chúng ta.

3. Sơ đồ tư duy nguyên nhân cái chết của Vũ Nương

Suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương – Bài văn mẫu 1:

Truyền kỳ mạn lục là tập sách ghi chép những câu chuyện kỳ lạ trong dân gian. Nhưng mục đích cốt lõi của nó nhằm phản ánh bản chất của xã hội phong kiến đương thời. Qua các thiên truyện, Nguyễn Dữ đã bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão, phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm về nhiều vấn đề trong xã hội với thái độ nghiêm khắc, khách quan. Nổi bật trong 20 thiên truyện ấy, Chuyện người con gái Nam Xương là có giá trị hơn cả. Chỉ vì nỗi hoài nghi vô cớ mà Trương Sinh đã khiến cho Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh mình trong sạch. Mối oan tình của nàng mãi về sau mới được minh giải. Trương Sinh nhận ra lỗi lầm, chàng vô cùng hối hận nhưng đã muộn màng.

Câu chuyện diễn biến khá đơn giản. Cốt truyện không có gì mới so với những câu chuyện đương thời. Nhưng ở đây, Nguyễn Dữ đã chú trọng đến việc xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ khá toàn vẹn. Bút pháp tự sự cũng có nhiều chuyển biến rõ rệt. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch. Đó còn là sự hòa quyện giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động.

Nguyễn Dữ đã vận dụng cả tư tưởng Nho giáo lẫn tư tưởng Phật giáo để giải quyết vấn đề. Ông cũng tìm đến cách giải quyết của dân gian. Nhưng qua cái chết của Vũ Nương người đọc nhận thấy, nhà văn đã bất lực trước diễn biến phức tạp của hiện thực. Không còn cách nào khác, ông đành xác nhận nó một cách đớn đau, bế tắc.

Để cho Vũ Nương tìm đến cái chết là tìm đến giải pháp tiêu cực nhất. Nhưng dường như đó là cách thoát khỏi tình cảnh duy nhất của nàng. Đó cũng là cách duy nhất của nhà văn có thể lựa chọn. Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự. Bởi đối với nàng, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống.

Một phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền đức như thế ấy. Một người vợ thủy chung son sắt như thế ấy. Một người con dâu hiếu thảo hiếm có ở trên đời. Thế mà nàng bị chồng nghi oan bởi một câu chuyên không đâu ở một lời con trẻ. Một câu nói vui đùa lúc trống vắng của mẹ với con mà lại trở thành mầm mống của tai họa. Thái độ khinh bỉ, lời nói nhục mạ và hành động tàn bạo của Trương Sinh khiến nàng phải tìm đến cái chết. Dưới lòng sông thăm thẳm, ai oán, nàng cũng không thể ngờ được rằng chính tình yêu con tha thiết lại nguyên cớ làm hại chết nàng.

Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình. Đó là một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông thường thấy. Vũ Nương là người hiền đức, tâm hồn vốn rất đơn giản và chân thành. Chưa bao giờ nàng hoài nghi hay nghĩ xấu về người khác. Thế nhưng, số mệnh xui khiến nàng lấy phải người chồng cả ghen. Nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng tới cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Không phải chỉ là cái bóng trên tường mà chính là cái bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh đã giết chết Vũ Nương.

Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ của một gia đình. Nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ. Những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi không thể lường trước được.

Đó là xã hội phong kiến nam quyền bất công và tàn bạo ở nước ta. Cái xã hội đã sản sinh ra những chàng Trương Sinh. Cái xã hội tồn tại quá nhiều những người đàn ông mang nặng tư tưởng nam quyền, độc đoán. Họ đã nhẫn tâm chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ Nương. Ngoài Vũ Nương, trong cái xã hội đen tối ấy biết bao nhiêu người phụ nữ nhỏ bé cũng có cùng số phận như nàng.

Chiến tranh phong kiến cũng là một nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. Nó gây nên cảnh sinh li, rồi góp phần dẫn đến cảnh tử biệt. Lúc ở nhà, Trương Sinh vốn đã thiếu lòng tin tưởng ở vợ. Khi nơi biên ải, ngăn mặt cách lòng, tính ghen ấy càng thêm dữ dội. Đâu chỉ vì lời nói ngây thơ, mơ hồ, của con trẻ. Chính vì cái ngây thơ và mơ hồ của Trương Sinh đã khiến chàng hành động mù quáng đấy thôi.

Tác phẩm thấm nhuần tư tưởng nhân đạo cao cả. Áng văn là mẫu mực của tiếng nói trân trọng và bênh vực con người của nền văn học trung đại, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Cái chết của nhân vật Vũ Nương là lời tố cáo xã hội phong kiến đã dung túng cho cái ác xấu xa, tàn bạo. Đồng thời, qua hình tượng nhân vật, nhà văn bày tỏ niềm thông cảm sâu sắc đối với số phận người phụ nữ. Những con người nhỏ bé, yếu đuối trong xã hội phong kiến đương thời. Số phận của Vũ Nương đâu của chỉ riêng Vũ Nương. Nỗi đau số phận của Vũ Nương cũng chính là hình ảnh cuộc sống của người phụ nữ xưa.

Bi kịch của Vũ Nương đem đến bài học thấm thía về việc giữ gìn hạnh phúc gia đình. Nó là lời cảnh tỉnh đối với người phụ nữ khi gia đình xảy ra mâu thuẫn. Dù có chuyện gì xảy ra cũng phải bình tĩnh, kiên nhẫn và nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng tích cực. Đã có nhiều gợi mở để tránh cái chết cho Vũ Nương. Thế nhưng, vì lòng tự trọng, nàng đã không hề nhìn thấy.

Tác phẩm thể hiện sâu sắc tiếng nói trân trọng, cảm thông, thấu hiểu của tác giả với người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Ngoài việc chú trọng xây dựng nội dung hoàn chỉnh và sâu sắc, truyện cũng đã đạt được sự tiến bộ trong nghệ thuật tự sự. Trước hết là thành công trong nghệ thuật xây dựng chi tiết có ý nghĩa trong tác phẩm, tạo tình huống có vấn đề. Chỉ bằng một vài sự kiện, Nguyễn Dữ đã có thể tạo được kịch tính. Và cũng chỉ bằng một vài sự kiện, ông có thể đẩy mẫu thuẫn kịch lên đến đỉnh điểm. Cái tài của nhà văn là không nói nhiều. Ông cố lược bỏ hết mọi yếu tố dư thừa, rườm rà, để hình tượng nhân vật được sáng rõ.

Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là “thiên cổ kỳ bút”, là “áng văn hay của bậc đại gia”, tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian.

Suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương – Bài văn mẫu 2:

” Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm.

Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Sinh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lại đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Sinh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Sinh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Sinh làm cha. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”.

Tính Trương Sinh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn.

Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Sinh mới tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn trên đời nữa.

Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai họa này. Vũ Nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá!

Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ của một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ Nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.