Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học

--- Bài mới hơn ---

  • Những Vấn Đề Cần Quan Tâm Khi Vận Dụng Pp Bàn Tay Nặn Bột Vào Thực Tiễn
  • Qui Trình Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Quy Trình Tiết Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Phương Pháp Giá Bình Quân Gia Quyền (Avco) Cho Hàng Tồn Và Nhập
  • Hướng Dẫn Tính Giá Xuất Kho Bằng Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Chuẩn Nhất
  • Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, muốn đổi mới phương pháp dạy học thì phải đổi mới trước hết ở ý thức.Trong việc thực hiện đổi mới PPDH thì vai trò của giáo viên là rất quan trọng bởi khó mà chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH đạt kết quả cao khi giáo viên không muốn đổi mới. Đây là mâu thuẫn trong thực tế mà nhiều cán bộ quản lí cần phải giải quyết. Để nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

    không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?... Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây ?.... 1.2.5. Tiến trình dạy học môn Tự nhiên- Xã hội và môn khoa học ở trường Tiểu học theo phương pháp Bàn tay nặn bột: - Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề. - Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh. - Bước 3: Đề xuất câu hỏi (dự đoán/ giả thiết) và phương án tìm tòi. - Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi. - Bước 5: Kết luận kiến thức. 1.2.6. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" trong dạy học: - Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sáthọc sinh xem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. - Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và cũng không đưa ra câu trả lời. GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt HS đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay. Ví dụ; " Theo em, nó sẽ như thế nào"? " Em nghĩ (làm) thử xem"? "Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng không"?..... Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả vẫn đục Gv chỉ gợi ý " Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không"? " Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em".....Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác định được điều kiện của thí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ...). Điều này, bước đầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao. * Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau : - Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giải quyết. - Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suy nghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết. - Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm mà các em chưa biết. Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảm bảo HS hiểu được vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó. - Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm gì. - Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được. - Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học...Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và thực hành. - Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại. - Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm tòi trong học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học. - Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài). - Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này. 1.3. Cơ sở lý luận quản lý giáo dục: Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thực hiện tổ hợp các chức năng quản lý, đưa hệ quản lý tới mục tiêu. Quá trình quản lý bao gồm 4 chức năng: Kế hoach hoá Tổ chức Chỉ đạo Kiểm tra Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung vào chức năng chỉ đạo. 1.3.1. Khái niệm chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu chất lượng cao. 1.3.2. Vị trí, vai trò của chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là chức năng thứ 3 trong 1 quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu. Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu có chất lượng và hiệu quả. Thực chất của chức năng chỉ dạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực tự giác và mang hết khả năng để làm việc. Do đó chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động. 1.3.3. Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho việc hiện thực hoá các mục tiêu, do trong chỉ đạo giáo dục quán triệt phương châm "duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển" trong các hoạt động của nhà trường và cả hệ thống giáo dục, từ đó, chức năng chỉ đạo trong giáo dục cần thực hiện các nội dung sau: (1). Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ (2). Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích. (3). Giám sát và sửa chữa. (4). Thúc đẩy các hoạt động phát triển. Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ cũng như tác động ảnh hưởng tới các thành viên khác phảI đảm bảo phù hợp, thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức hay trong trường học. Việc thực hiện thường xuyên đôn đốc, động viện và kích thích lao động có tác dụng như quá trình tạo động cơ làm việc của mọi thành viên. Trong giai đoạn này, người quản lý cần có những tác động cần thiết tới các đối tượng nghiên cứu để biến các yêu cầu tập thể thành nhu cầu hoạt động của từng người. Khi đó mọi người sẽ thể hiện được hết khả năng và công sức của mình cho việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. Giám sát là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ của cấp dưới, khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì giúp sữa chữa hoặc hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Như vậy chỉ đạo đổi mới PPDH nằm trong mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân, chịu sự chỉ đạo chung và tuân thủ theo lý luận quản lý. Chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH của Hiệu trưởng ở trường THCS về thực chất là sự can thiệp của Hiệu trưởng trong toàn bộ quá trình dạy học, huy động lực lượng giáo viên tham gia thực hiện đổi mới PPDH, điều khiển hoạt động đổi mới PPDH, phối hợp các lực lượng trong nhà trường thực hiện kế hoạch đưa hoạt động đổi mới PPDH đạt tới mục tiêu đã định. Trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng chú ý tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cũng như các điều kiện khác cho hoạt động đổi mới PPDH. CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC CHỈ ĐẠO ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN- XÃ HỘI VÀ MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC Để tìm hiểu thực trạng chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học , tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thực trạng ở trường Tiểu học Linh Đàm và một số trường Tiểu học trên địa bàn quận . Trên cơ sở nghiên cứu thực tế cùng với phân tích và xử lý số liệu đã thu thập , tôi đã có được một số nét cơ bản về thực trạng việc chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học. 2.1.Thực trạng: Bảng kết quả điều tra về mức độ hiểu biết và kỹ năng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của giáo viên trường Tiểu học Linh Đàm( thời điểm tháng 11 năm 2013): Số lượng GV tham gia khảo sát Mức độ hiểu biết về PP Bàn tay nặn bột Kĩ năng vận dụng PP Bàn tay nặn bột Không hiểu Hiểu Hiểu rõ Chưa biết vận dụng Biết vận dụng Vận dụng thành thạo 30 8% 70% 22% 80% 13% 7% Bảng kết quả điều tra về năng lực của học sinh trường Tiểu học Linh Đàm ( thời điểm tháng 11 năm 2013): Số lượng HS tham gia khảo sát Kĩ năng làm thí nghiệm Kĩ năng diễn đạt Rất thành thạo Thành thạo Chưa đạt Rất thành thạo Thành thạo Chưa đạt 100 5% 15% 80% 20% 29% 51% Với kết quả như bảng trên chứng tỏ rằng đa số giáo viên đã hiểu biết về phương pháp Bàn tay nặn bột nhưng chưa mạnh dạn áp dụng phương pháp này vào dạy học dẫn đến kĩ năng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột còn hạn chế. 2.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng: Qua thực tế điều tra cho thấy giáo viên rất ít khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học với nhiều lí do khác nhau: STT Lí do Tỷ lệ % GV 1 Thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 2 Thiếu kĩ năng về phương pháp Bàn tay nặn bột 3 Mất nhiều thời gian chuẩn bị cho tiết dạy 4 Số học sinh/lớp đông 5 Ít tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập Qua điều tra, khảo sát thực tế cho thấy trường Tiểu học Linh Đàm và một số trường Tiểu học trên địa bàn quận đã triển khai áp dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH; đã tổ chức tập huấn cho100% giáo viên về phương pháp Bàn tay nặn bột. Đa số các đồng chí cán bộ quản lí đều cho rằng: Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực, giúp hình thành cho học sinh thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo giải quyết vấn đề. Tuy nhiên hiệu quả của việc chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học chưa cao vì việc chỉ đạo một số cán bộ quản lí còn nhiều bất cập, nhiều yếu tố không đồng bộ: - Hầu hết chỉ đạo theo phương pháp chung chung, thiếu trọng tâm, không theo qui trình.Tính kế hoạch trong chỉ đạo còn hạn chế nên việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học chưa thường xuyên, liên tục. - Công tác chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên còn nhiều hạn chế, nội dụng bồi dưỡng chưa cụ thể, một số nội dung cần thiết chưa được quan tâm, hình thức bồi dưỡng chưa hợp lý nên hiệu quả thấp. - Thiếu tác động nâng cao động lực làm việc đối với giáo viên trong việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học, chưa khuyến khích, động viên đúng mức tạo niềm say mê, hứng thú để giáo viên việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học. Tóm lại: Kết quả khảo sát thực trạng việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học cho thấy một bộ phận giáo viên đã có những cố gắng nhất định trong việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột nhằm giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa học và niềm say mê sáng tạo song chúng ta phải thừa nhận một thực tế: giáo viên vẫn chưa mạnh dạn sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học. Nguyên nhân của thực trạng trên là do nhiều yếu tố nhưng cần phải nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của cán bộ quản lí. Những thực trạng nêu trên cũng chính là điểm xuất phát để tìm ra những biện pháp phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nhà trường để việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành Giáo dục và Đào tạo. CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN-XÃ HỘI VÀ MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LINH ĐÀM 3.1 Chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên : 3.1.1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột: Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, muốn đổi mới phương pháp dạy học thì phải đổi mới trước hết ở ý thức.Trong việc thực hiện đổi mới PPDH thì vai trò của giáo viên là rất quan trọng bởi khó mà chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH đạt kết quả cao khi giáo viên không muốn đổi mới. Đây là mâu thuẫn trong thực tế mà nhiều cán bộ quản lí cần phải giải quyết. Để nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: -Tổ chức các buổi sinh hoạt tư tưởng, chính trị như tổ chức cho cán bộ giáo viên được nghe thời sự, được đọc sách báo, để nắm được sự biến chuyển của xã hội, sự phát triển về kinh tế, văn hoá giáo dục của địa phương của đất nước, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bám sát các chương trình hành động quốc gia của tỉnh, của huyện, để giúp mọi thành viên trong nhà trường nâng cao nhận thức hiểu biết về chính trị- xã hội, làm cho họ có ý thức quan tâm đến những vấn đề cấp thiết của cuộc sống, của thời đại. - Tổ chức cho cán bộ, giáo viên học tập các văn bản pháp quy Giáo dục và đào tạo: Làm cho mọi thành viên của nhà trường nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục, chính sách của Đảng và Nhà nước, qua việc tổ chức học tập các Nghị quyết, Chỉ thị, các giải pháp, mục tiêu Giáo dục và đào tạo- điều này rất quan trọng với bậc Tiểu học; làm cho cán bộ giáo viên hiểu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mọi người, ý thức được trách nhiệm của mình trong mỗi công việc được giao, xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết, nhất trí cộng đồng trách nhiệm, cùng nhau thực hiện nhiệm vụ, phấn đấu vì mục đích chung. Giúp giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học: Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc đổi mới , đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục hiện đại và đào tạo con người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với làn sóng đổi mới kinh tế và xã hội hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng với yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới cần phải có phương pháp dạy học mới phù hợp với yêu cầu tiến bộ của xã hội. Bởi thế việc áp dụng lí luận dạy học tích cực vào giảng dạy các môn học là rất quan trọng và cần thiết. 3.1.2. Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về phương pháp Bàn tay nặn bột: 3.1.2.1.Nội dung bồi dưỡng: - Giới thiệu chung về phương pháp Bàn tay nặn bột: + Khái niệm phương pháp Bàn tay nặn bột + Các nguyên tắc cơ bản của dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. + Ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột. + Khó khăn, hạn chế của phương pháp Bàn tay nặn bột. + Các bước dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. - Một số vấn đề về sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, môn Khoa học ở Tiểu học. - Thiết kế một vài tiết dạy Tự nhiên - Xã hội và Khoa học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. Hình thức bồi dưỡng: a.Tổ chức chuyên đề về phương pháp Bàn tay nặn bột theo hướng đổi mới: Để mang lại hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức chuyên đề, tôi đã chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn. Những năm trước đây, ở mỗi chuyên đề , giảng viên (người báo cáo) trình bày lí thuyết- học viên (giáo viên) nghe và ghi chép. Ở hình thức này, giáo viên thụ động tiếp nhận kiến thức dẫn đến hiệu quả chuyên đề không cao. Để có được hiệu quả cao trong việc tổ chức chuyên đề, cần phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên, giáo viên phải thực sự được nghiên cứu, được động não. Chính vì vậy , tôi đã tiến hành tổ chức chuyên đề về phương pháp Bàn tay nặn bột theo các bước sau: Bước 1: Giáo viên nghiên cứu tài liệu về phương pháp Bàn tay nặn bột; xem băng hình 1 tiết dạy có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột. (Để tránh lãng phí thời gian, có thể cung cấp tài liệu cho giáo viên nghiên cứu trước). - Cách nêu tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề: mức độ phù hợp và hấp dẫn của tình huống xuất phát. - Cách gợi ý để học sinh đưa ra các câu hỏi thắc mắc(giả thuyết). - Cách hợp tác học tập của học sinh trong nhóm. Tổ chức dạy minh họa theo phương pháp Bàn tay nặn bột: * Công tác chuẩn bị: - Lựa chọn bài dạy minh họa: - Lựa chọn người dạy minh họa: nên chọn những giáo viên dạy giỏi, nhiệt tình hăng hái và thích sáng tạo thì việc dạy thí điểm sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. - Giáo viên dạy minh họa chuẩn bị bài dạy: Trong qua trình chuẩn bị, nên trao đổi về kế hoạch bài học (giáo án) với người phụ trách chuyên đề. - Bố trí địa điểm dạy minh họa có đủ chỗ ngồi cho người dự giờ quan sát thuận lợi. * Tổ chức dạy minh họa phương pháp Bàn tay nặn bột : Cần lưu ý để người dự giờ tập trung quan sát hoạt động học của học sinh (thái độ, nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói,mối quan hệ giữa các học sinh, sản phẩm của học sinh). Định hướng tập trung quan sát để trả lời các câu hỏi sau: - Tình huống xuất phát của giáo viên đưa ra có phù hợp với nội dung bài học không? Có thực sự gây hứng thú học tâp cho học sinh không? - Câu hỏi nêu vấn đề có gần g

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học
  • – Tính chất hóa học của axit : Tác dụng với quì tím, với bazơ, oxit bazơ và kim loại.

    – Tính chất, ứng dụng, cách nhận biết axit HCl, H2SO4 loãng và H2SO4 đặc (tác dụng với kim loại, tính háo nước). Phương pháp sản xuất H2SO4 trong công nghiệp.

    – Quan sát thí nghiệm và rút ra kết luận về tính chất hóa học của axit nói chung.

    – Tính nồng độ hoặc khối lượng dung dịch axit HCl, H2SO4 trong phản ứng.

    – Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn và có ý thức cẩn thận khi làm thí nghiệm.

    II. NỘI DUNG HỌC TẬP:

    – Tính chất hóa học của axit.

    i là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Sự trao đổi, tranh luận giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự trao đổi định hướng trực tiếp với học sinh. Giáo viên là người tổ chức, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động học tập của học sinh, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của học sinh với tư liệu, sự trao đổi, tranh luận của học sinh với nhau. Theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học , giáo viên tổ chức hành động chiếm lĩnh tri thức của học sinh phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học.Ta có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học như sau: + Giáo viên tổ chức tình huống, nảy sinh vấn đề cần giải quyết, cần tìm tòi. + Học sinh tự chủ tìm tòi giải quết vấn đề đặt ra với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên. + Giáo viên chỉ đạo sự tranh luận của học sinh, bổ sung, tổng kết, kiểm tra kết quả học tập. Điểm tương đồng của phương pháp bàn tay nặn bột so với các phương pháp dạy học tích cực khác là ở chỗ đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề tuy nhiên điểm khác biệt của phương pháp BTNB so với các phương pháp khác là ở chổ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó. Đặc biệt còn chú trọng giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi giả thuyết, các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì đó là các thí nghiệm do chính các em đề xuất với các thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, dễ thực hiện. Thông qua các hoạt động như vậy phương pháp BTNB nhằm chiếm lĩnh dần các khái niệm khoa học, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết, nói. d. Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột: Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động. Học sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn. Học sinh học tập bằng hỏi đáp với các học sinh cùng lớp bằng cách trình bày quan điểm cá nhân của mình, đối lập với quan điểm của bạn và về các kết quả thực nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn và tính hiệu lực của nó. e. Không khí làm việc trong lớp học: Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh xây dựng kiến thức thông qua làm việc chung, tiến hành thí nghiệm, chia sẽ ý tưởng, khác với một số phương pháp dạy học, giáo viên luôn bận tâm học sinh phải đưa ra câu trả lời đúng. Để có một bầu không khí học tập sôi nổi trong lớp, giáo viên cần xây dựng không khí làm việc và mối quan hệ giữa các học sinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng giữa các học sinh trong lớp. Tránh tuyệt đối luôn khen ngợi quá mức một vài học sinh nào đó hoặc để học sinh khá, giỏi trong lớp luôn làm thay công việc của cả nhóm, tạo cơ hội làm việc cho các học sinh khác. Giáo viên cần chú ý bao quát lớp, khuyến khích các học sinh có ý tưởng tốt nhưng còn rụt rè không giám trình bày. Không khí làm việc tốt là giáo viên tạo được sự thoải mái cho tất cả các học sinh và việc học không trở nên là một điều gì đó căng thẳng, các học sinh tham gia và yêu thích hoạt động. 2. Cơ sở thực tiễn: 2.1. Về học sinh: Qua quan sát theo dõi tình hình học tập bộ môn, qua kháo sát chất lượng giữa học kỳ và kết quả các tiết kiểm tra ở khối 9 trường THCS Biên Giới tôi nhận thấy: * Ưu điểm: + Đa số học sinh có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực trong học tập bộ môn, có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp + Các em nắm vững kiến thức lý thuyết thông qua đó giải thích được một số hiện tượng hoặc vận dụng lý thuyết để giải bài tập + Một số học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày lưu loát, logic. * Tồn tại: Bên cạnh học sinh tích cực học tập thì còn rất nhiều học sinh: + Thái độ và ý thức học tập chưa cao do ý thức chủ quan. + Học sinh chưa đầu tư nhiều trong việc học lý thuyết. + Một bộ phận học sinh trung bình, yếu thường chưa nắm vững hoặc quên đi kiến thức lý thuyết cơ bản do các em chưa có kỹ năng tự tìm tòi, tự mình khám phá tri thức thông qua các phương pháp dạy học mới mà giáo viên áp dụng, từ đó chất lượng bộ môn còn thấp. + Đa số các em chưa chủ động trong việc tự mình tiếp cận tri thức mới, chưa tích cực nghiên cứu, chủ yếu trong chờ vào quá trình truyền đạt từ giáo viên. + Đây là môn học các em mới được làm quen ở lớp 8 chỉ với những kiến thức cơ bản là tìm hiểu khái niệm nhưng ở lớp 9 các em đi tìm hiểu chuyên sâu hơn, với lượng kiến thức nhiều vì vậy đa số các em hầu như không nhớ kiến thức lý thuyết để vận dụng từ đó các em rụt rè không giám đưa ra ý kiến tranh luận với các bạn, chất lượng bộ môn vì thế cũng chưa được nâng lên. + Đa số các em chưa tự mình hình dung ra những nội dung gì trong bài học (chưa có sự chuẩn bị tốt ở nhà), chưa được đưa ra các ý kiến đề xuất ban đầu, chủ yếu các nội dung mà các em biết được qua sự dẫn dắt, chuyển ý của giáo viên khi vào từng mục của bài học. 2.1. Về giáo viên - Việc đổi mới phương pháp dạy học đôi khi còn lúng túng về kỹ thuật thực hiện trong việc đổi mới phương pháp. - Thực hiện đổi mới phương pháp nhiều năm liền cùng với việc áp dụng rất nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học. Tuy nhiên bản thân giáo viên nhận thấy chưa phát huy hết năng lực tự học, khả năng sáng tạo ở các em. - Trong việc đổi mới phương pháp, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn tuy nhiên giáo viên chủ yếu là người thay thế các em diễn đạt thành lời, học sinh chưa thật sự được rèn luyện kỹ năng diễn đạt. - Một bộ phận giáo viên chưa thật sự chú tâm trong việc đổi mới phương pháp, năng lực giảng dạy còn yếu kém vì thế mà chưa chuẩn bị đầy đủ ĐDDH, hình ảnh tư liệu từ mạng Internet, nhất là các ĐDDH tự làm hoặc ĐDDH liên môn để phục vụ cho công tác giảng dạy, cũng chính từ đó các em chưa pát huy hết năng lực tự học, chưa bộc lộ hết quan điểm của các em. 2.3. Về phía gia đình học sinh: Do điều kiện kinh tế đa số các gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên các bậc phụ huynh chưa quan tâm sâu sát, chưa đôn đốc nhắc nhở các em trong học tập vì thế mà tinh thần tự học của các em chưa cao, chưa có tính tự giác. 2.4. Sự cần thiết của đề tài: Từ những cơ sở lý luận và thực tiển trên cho thấy để học sinh học tập tốt môn Hóa học, nâng cao chất lượng dạy và học cần thiết phải tổ chức cho các em tự chiếm lĩnh nguồn tri thức mới, phải có tinh thần tự học thông qua việc tự mình nghiên cứu thông tin, nêu ra được các vấn đề cần nghiên cứu, tự làm được các thí nghiệm đồng thời các em tranh luận, chất vấn nhau hoặc với giáo viên sau đó tự trình bày nội dung mà mình thu thập được. Điều này ta có thể bắt gặp được ở các phương pháp dạy học khác tuy nhiên điểm tương đồng của phương pháp bàn tay nặn bột so với các phương pháp dạy học tích cực khác là ở chổ đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, điểm khác biệt của phương pháp BTNB so với các phương pháp khác là ở chổ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó. Đặc biệt còn chú trọng giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi giả thuyết, các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì đó là các thí nghiệm do chính các em đề xuất với các thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, dễ thực hiện, chính điểm khác biệt của phương pháp BTNB cũng là sự cần thiết mà đề tài đưa ra nghiên cứu. 3. Nội dung vấn đề: Các giải pháp trong quá trình sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột như sau: + Ví dụ: Trong hoạt động 3 của bài "Một số Oxit quan trọng", Học sinh tự mình đưa ra các tình huống, thông qua đó các em tự tay tiến hành thí nghiệm đơn giản của bột vôi với nước, bột vôi với dung dịch Axit từ đó giải thích hiện tượng trong cuộc sống, thông qua một số hiện tượng trong cuộc sống các em tự lĩnh hội tri thức mới. Tuần: 2 Tiết : 3 Bài 2 MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG I. MỤC TIÊU: Kiến thức: Hs biết được: - Tính chất , ứng dụng, điều chế canxi oxit. Kỹ năng: - Dự đoán, kiểm tra và kết luận được về tính chất hóa học của canxi oxit. - Viết được các PTHH minh họa tính chất hóa học của canxi oxit. - Tính thành phần % về khối lượng của oxit trong hỗn hợp hai chất. 3. Thái độ: - Hs thấy được lợi ích của bộ môn và yêu thích môn học. II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Tính chất hóa học của canxi oxit, phản ứng điều chế canxi oxit. III. CHUẨN BỊ: 1. Giáo viên: - Hoá chất: CaO, H2O, HCl. - Dụng cụ: Ống nghiệm, muỗng thuỷ tinh, ống hút, kẹp gỗ. - Tranh sơ đồ lò nung vôi công nghiệp, thủ công. 2. Học sinh: Kiến thức về Oxit, phản ứng phân hủy. IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: Ổn định tổ chức và kiểm diện Kiểm tra miệng Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 3: Tìm hiểu hoá tính của CaO (10p) GV cho học sinh các nhóm tự nêu vấn đề xuất phát dưới sự điều khiển của một học sinh trong lớp được chọn bất kỳ. Học sinh này có nhiệm vụ ghi lại các câu hỏi nêu vấn đề của các bạn bằng sơ đồ trên bảng, sau đó nhờ giáo viên tiếp tục điều khiển tiết học.. - Vì sao vôi sống để lâu ngày trong không khí bị chết (cứng) ? - Vì sao trước khi nuôi tôm,cá lại phải bón vôi? - Ổ những nơi đất bị nhiễm phèn em thường thấy người ta rải vôi? - Nước vôi để lâu ngày sẽ có lớp màng mỏng, cứng trên mặt nước ? - Vôi chết là chết luôn hay do biến đổi chất? Có thể thực hiện các thí nghiệm nào để chứng minh tính chất CaO? HS: Để giải thích được những đề xuất đưa ra ta sẽ thực hiện thí nghiệm gì ? GV: Vậy theo các em để có dung dịch nước vôi ta cần làm gì? Làm bằng cách nào? Sử dụng dụng cụ gì cho thí nghiệm? HS: Hòa tan bột vôi vào trong nước bằng cách dùng chén sứ ( cốc thủy tinh) đựng bột vôi, dùng muỗng sắt lấy bột vôi, dùng ống nhỏ giọt nhỏ nước vào cốc hoặc chén sứ đựng bột vôi. - Để biết được vì sao nước bị nhiễm phèn ta thường bón vôi ta thực hiện thí nghiệm cho dung dịch Axit vào bột vôi. ¶HS: Nêu cách thực hiện các thí nghiệm, Các nhóm thực hiện hai thí nghiệm: đại diện nhóm đề xuất dụng cụ, hóa chất HS: Các nhóm tiến hành thí nghiệm. TN1: Cho CaO tác dụng với H2O. TN2: Cho CaO tác dụng với HCl. - Khi cho nước vào bột vôi ta thấy có hiện tượng gì? HS: Bột vôi tan chảy trong nước (tan chảy ít). - Ta rút ra được gì về có tính chất hóa học của CanxiOxit? HS: Tác dụng với nước - Giải thích vì sao dung dịch nước vôi để lâu ngày trong không khí lại có lớp màng ? HS: Giải thích theo sự hiểu biết của mình GV tổng kết, bổ sung . A. CANXI OXIT (CaO) I. CANXIOXIT CÓ NHỮNG TÍNH CHẤT GÌ ? 1. Tính chất vật lí: - Canxi oxit là chất rắn, màu trắng, nóng chảy ở 2.5850C. 2. Tính chất hóa học: a. Tác dụng với nước (phản ứng tôi vôi) Phương trình hoá học: CaO + H2O → Ca(OH)2 Canxi hiđroxit Ca(OH)2 tan ít trong nước. Phần tan tạo thành dung dịch bazơ (gọi là nước vôi trong). b. Tác dụng với Axit Phương trình hoá học: CaO + 2HCl → CaCl2 + H2O Canxi clorua c. Tác dụng với oxit axit Phương trình hoá học: CaO + CO2 → CaCO3 Kết luận: Canxi oxit là oxit bazơ Ví Dụ : Bài 3 Tuần: 3 Tiết: 5. TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA AXIT MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: - Tính chất hóa học của axit : Tác dụng với quì tím, với bazơ, oxit bazơ và kim loại. - Tính chất, ứng dụng, cách nhận biết axit HCl, H2SO4 loãng và H2SO4 đặc (tác dụng với kim loại, tính háo nước). Phương pháp sản xuất H2SO4 trong công nghiệp. 2. Kỹ năng: - Quan sát thí nghiệm và rút ra kết luận về tính chất hóa học của axit nói chung. - Tính nồng độ hoặc khối lượng dung dịch axit HCl, H2SO4 trong phản ứng. 3. Thái độ: - Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn và có ý thức cẩn thận khi làm thí nghiệm. II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Tính chất hóa học của axit. III. CHUẨN BỊ: 1. Giáo Viên: - Hoá chất: Dung dịch HCl, quỳ tím, dung dịch H2SO4, Zn, Cu(OH)2, NaOH, Fe2O3. - Dụng cụ: Đế sứ, ống hút, muỗng thuỷ tinh, kẹp sắt. 2. Học sinh : Kiến thức về axit, xem và soạn bài ở nhà IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Ổn định tổ chức và kiểm diện 2. Kiểm tra miệng: Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 1: Vào bài (5P) Giáo viên đưa ra tình huống: Các em biết được những thông tin gì về Axit? HS các nhóm lần lượt đưa ra các thông tin về axit, các nhóm bổ sung. ? Khái niệm axit. ? Tên gọi axit ? Tính chất hóa học . ? Ứng dụng ? Phân loại Thông qua các ý kiến đề xuất, giáo viên giới thiệu nội dung bài * Hoạt động 2: Tìm hiểu tính chất hóa học của axit (25P) GV giao cho các nhóm một số hóa chất ở thí nghiệm 1,2,3,4,5 (không giao dụng cụ) HS các nhóm sẽ luân phiên nhau trả lời kết quả, đưa ra ý kiến nhận xét, tranh luận, mỗi học sinh trả lời, hoặc nhận xét một lần theo thứ tự số chẳn, nếu hết sẽ đến số lẽ hoặc các em tự mời nhau tranh luận, GV nhận xét, tổng kết yêu cầu các nhóm làm thí nghiệm. HS : Các nhóm tiến hành thí nghiệm và báo cáo hiện tượng thí nghiệm. Rút ra kết luận qua thí nghiệm. Mỗi cá nhân đều ghi lại tính chất, sau đó cùng nhau thống nhất trong nhóm về tính chất hóa học của axit. Đại diện mỗi cá nhân trong nhóm trình bày một tính chất hóa học của Axit, Viết phương trình hóa học cho mỗi tính chất, mỗi nhiệm vụ là một học sinh. Bài tập: Trình bày phương pháp hoá học để phân biệt các dung dịch: NaCl, NaOH, HCl. ?.. Gọi 1 Hs trình bày phương pháp nhận biết. ¶- Rút ra kết luận chung. GV lưu ý: Một số kim loại không phản ứng với dung dịch axit: Cu, Ag, Hg, Au và HNO3, H2SO4 đặc, nóng tác dụng với nhiều kim loại nhưng không giải phóng khí H2. ? Vì sao những đồ vật bằng kim loại khi để ngoài sương hoặc trời mưa lại bị gỉ sét ? HS: trả lới cá nhân, do axit tác dụng với kim loại. GV yêu cầu học sinh viết PTHH của Al, Fe tác dụng dung dịch HCl. HS: Lên bảng viết PTHH GV nhận xét, bổ sung, sửa sai(nếu có). GV cho học sinh giải thích vì sao lại có mưa axit ? tác hại của mưa axit? cách khắc phục? GV cho học sinh tranh luận tìm ra câu trả lời, ưu tiên cho những học sinh trung bình, yếu có thể trả lời, sau đó đến học sinh khá, giỏi. Các nhóm cùng tranh luận, đưa ra nhận xét của từng cá nhân. GV nhận xét, tổng kết. I. TÍNH CHẤT HÓA HỌC 1. Axit làm đổi màu chất chỉ thị Dung dịch axit làm đổi màu quỳ tím thành đỏ. 2. Axit tác dụng với kim loại PTHH: Zn + H2SO4 → ZnSO4 + H2 Kẽm sunfat Mg + 2HCl → MgCl2 + H2 Magiê clorua Kết luận: Dd Axit + nhiều kim loại→ Muối + H2. 3. Aitx tác dụng với bazơ: (Phản ứng trung hoà) PTHH: Cu(OH)2 + 2HCl → CuCl2 + 2H2O NaOH + HCl → NaCl + H2O Kết luận: Axit + Bazơ →Muối + nước. 4. Axit tác dụng với Oxit bazơ: PTHH : Fe2O3 + 6HCl → 2FeCl3 + 3H2O Kết luận: Axit + Oxit bazơ →Muối + nước. Ví Dụ: Trước khi dạy bài " Một số muối quan trọng" giáo viên giới thiệu hình ảnh cho học sinh quan sát qua đó các em tự suy nghĩ để đề xuất vấn đề đặt ra - ? Phục vụ nhu cầu du lịch. - ? Sử dụng dùng làm gia vị. - ? Một số loại thức ăn có sử dụng muối. - ? Dùng sản xuất xà phòng. - ? Muối có ở đâu. - ? Phương pháp khai thác muối. - ? Ứng dụng của muối. - ? Cách sử dụng muối Iot. - ? Một số thức ăn dùng kèm với muối. - ? Một số loại thức ăn có chứa muối độc. Bài 10 Tuần: 8 Tiết : 15 MỘT SỐ MUỐI QUAN TRỌNG I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: HS biết được: - Một số tính chất và ứng dụng của natri clorua (NaCl) và kali nitrat (KNO3). 2. Kỹ năng: - Nhận biết được một số muối cụ thể. - Tính khối lượng hoặc thể tích dung dịch muối trong phản ứng. 3. Thái độ: Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn thông qua liên hệ thực tế II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Ứng dụng của NaCl. III. CHUẨN BỊ: Giáo viên: Muối NaCl hạt Học sinh: Kiến thức thực tế về muối NaCl, KNO3.. IV.TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: 1. Ổn định tổ chức và kiểm diện: 2. Kiểm tra miệng: 3. Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 1: Vào bài. (5p) - ? Phục vụ nhu cầu du lịch. - ? Sử dụng dùng làm gia vị. - ? Một số loại thức ăn có sử dụng muối. - ? Dùng sản xuất xà phòng. - ? Muối có ở đâu. - ? Phương pháp khai thác muối. - ? Ứng dụng của muối. - ? Cách sử dụng muối Iot. - ? Một số thức ăn dùng kèm với muối - ? Thức ăn có chứa muối độc. GV giới thiệu bài mới . Học sinh dự đoán nội dung kiến thức của bài bằng sơ đồ tư duy * Hoạt động 2: Tìm hiểu về muối natri clorua (30p) GV cho học sinh quan sát các hình ảnh giáo viên đã chiếu lên màn hình. Mỗi học sinh đều ghi lại thông tin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “Bàn tay nặn bột” là một chiến lược về giáo dục khoa học, được Giáo sư Georges Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu, cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB) đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

    Ở nước ta, đề án phương pháp “Bàn tay nặn bột” giai đoạn 2011 – 2021 được Bộ GD&ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai trong các trường phổ thông từ năm học 2013 – 2014 và đưa vào áp dụng đại trà từ năm học 2014 – 2021. Đây là phương pháp dạy học hiện đại, có nhiều ưu điểm trong việc: “Tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh” . Từ đó, giúp HS phát triển tư duy khoa học. Xác định phương pháp "Bàn tay nặn bột" là phương pháp dạy hình thành kiến thức cho học sinh (HS) bằng các thí nghiệm, thông qua cách HS chia nhóm để tự làm, tự trao đổi, nghiên cứu, quan sát để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống, người thầy chỉ đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn. Trong quá trình thực hiện phương pháp mới này, thầy và trò đều phải nỗ lực nhiều hơn. Dạy học theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên (GV) phải có tầm hiểu biết rộng, có sự chuẩn bị công phu cho mỗi giờ học từ dụng cụ thí nghiệm, trang thiết bị học tập đến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình HS làm thí nghiệm. Bởi lúc bắt tay vào làm thí nghiệm, khi thấy có bất cứ hiện tượng gì xảy ra, các em đều đặt ngay câu hỏi "Vì sao?". Điều này đòi hỏi GV phải vững kiến thức để cùng các em giải đáp các thắc mắc, lý giải các hiện tượng một cách khoa học. Tuy nhiên, khi tiến hành các tiết dạy theo phương pháp "Bàn tay nặn bột", bản thân tôi cũng như nhiều GV còn gặp rất nhiều khó khăn. Làm thế nào để giải đáp các thắc mắc của HS? Lí giải các hiện tượng cho HS như thế nào để đảm bảo tính khoa học, đảm bảo tính tự nhiên?... Trước những trăn trở đó, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi xây dựng "Một số kinh nghiệm nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Khoa học lớp 4". Minh họa qua bài: Nước có những tính chất gì? 1.2. Mục đích nghiên cứu Đề tài này nghiên cứu, đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học môn Khoa học ở lớp 4, minh họa qua bài: Nước có những tính chất gì? 1.3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học môn Khoa học cho học sinh khối 4 sao cho có hiệu quả nhất. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết; điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; thống kê, xử lí số liệu; quan sát; thực nghiệm; thực hành luyện tập; gợi mở, vấn đáp; giải thích. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm Theo quan điểm của Georges Charpar: "Bàn tay nặn bột" vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp và chương trình. Trong đó, trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kỹ thuật" . Cụ thể như sau: Các bước Nhiệm vụ của HS Nhiệm vụ của GV Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề . - Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết... bằng nhiều cách: nói, viết, vẽ. Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB. - GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ bằng nhiều cách: nói, viết, vẽ. - GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt. Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm . HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng thí nghiệm (Ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật) quan sát, điều tra nghiên cứu tài liệu. - HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ), - Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm - GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất. - GV không chỉnh sửa cho HS - HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu). Tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất. Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày Giúp HS phương pháp trình bày các kết quả. Bước 5: Kết luận và hợp thứchoá kiến thức . Gv cần nêu vấn đề: Nếu ăn thiếu chất dinh dưỡng cơ thể chúng ta sẽ bị mắc bệnh gì ? Nếu ăn thừa chất dinh dưỡng cơ thể con người sẽ như thế nào ? Bài 8: Sử dụng thức ăn sạch và an toàn, phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa (Trang 45 - Hướng dẫn học KH 4 - Tập 1) . Gv cần nêu vấn đề: Làm thế nào để tạo ra gió? Gió khác gì so với bão? b. Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh Làm bộc lộ quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Khi thực hiện bước này, GV cần lưu ý các vấn đề sau: - Biểu tượng ban đầu của HS thường là quan niệm hay khái quát chung chung về sự vật hiện tượng, có thể sai hoặc chưa thực sự chính xác về mặt khoa học. Vì là lần đầu tiên được hỏi đến nên HS ngại nói, sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó, GV cần khuyến khích HS trình bày ý kiến của mình. Cần biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của HS khi trình bày biểu tượng ban đầu. Biểu tượng ban đầu có thể trình bày bằng lời nói hay viết, vẽ ra giấy. Biểu tượng ban đầu là quan niệm cá nhân nên GV phải đề nghị HS làm việc cá nhân để trình bày biểu tượng ban đầu. - Nếu một vài HS nào đó nêu ý kiến đúng, GV không nên vội vàng khen ngợi hoặc có những biểu hiện chứng tỏ ý kiến đó là đúng vì nếu làm như vậy GV đã vô tình làm ức chế các HS khác tiếp tục muốn trình bày biểu tượng ban đầu. Biểu tượng ban đầu của HS càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với kiến thức đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho HS và ý đồ dạy học của GV càng dễ thực hiện hơn. - Khi HS làm việc cá nhân để đưa ra biểu tượng ban đầu bằng cách viết hay vẽ ra giấy thì GV nên tranh thủ đi một vòng quan sát và chọn nhanh những biểu tượng ban đầu không chính xác, sai lệch lớn với kiến thức khoa học. Nên chọn nhiều biểu tượng ban đầu khác nhau để đối chiếu, so sánh ở bước tiếp theo của tiến trình phương pháp. Làm tương tự khi HS nêu biểu tượng ban đầu bằng lời nói. Giáo viên tranh thủ ghi chú những ý kiến khác nhau lên bảng. Những ý kiến tương đồng nhau thì chỉ nên ghi lên bảng một ý kiến đại diện vì nếu ghi hết sẽ rất mất thời gian và ghi nhiều sẽ gây khó khăn việc theo dõi các ý kiến khác nhau của GV cũng như của HS. - Chú ý chỉ ghi những quan niệm nào phục vụ cho mục tiêu, nội dung yêu cầu hoạt động đang đề cập, tránh ý kiến "lạc" mục đích yêu cầu hoạt động đang tìm hiểu. - Sau khi có các biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý đồ dạy học, GV giúp HS phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa các ý kiến, từ đó hướng dẫn cho HS đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó. Ví dụ: Khi dạy: Bài 4: Các chất dinh dưỡng có vai trò gì? (Trang 18 - Hướng dẫn học KH 4 - Tập 1) . HS vẽ hình hoặc đưa ra ý kiến: Bệnh béo phì. Bệnh gầy còm, còi xương - Mẹ tớ nói thế. Bệnh quáng gà, mờ mắt. Bệnh suy nhược cơ thể Bài 13: Sự chuyển thể của nước (Trang 68 - Hướng dẫn học KH4 - Tập 1) [1]. Gv gợi mở: Nước trong tự nhiên tồn tại ở những thể nào? HS phát biểu hoặc vẽ: Nước ở thể lỏng. Nước đá. Nước bốc hơi. Nước tan chảy. Nước ở thể rắn, ... Lưu ý: Hs có thể nêu nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều thì GV phải kiên nhẫn lắng nghe, ghi nhanh hay bằng câu hỏi dẫn dắt để giúp HS tiếp tục khám phá bài học. c. Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm * Đề xuất câu hỏi: * Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS suy nghĩ đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó. Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương pháp thí nghiệm phù hợp. Trường hợp HS không đưa ra được phương án thích hợp, GV có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phương án (nếu gợi ý mà HS vẫn chưa nghĩ ra). Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời của HS cũng là một bước khá phức tạp, đòi hỏi GV phải có kỹ năng sư phạm để điều khiển tiết học, tránh để HS đi quá xa yêu cầu nội dung của bài học. Tùy từng trường hợp cụ thể mà GV có phương pháp phù hợp, tuy nhiên cần chú ý mấy điểm sau: - Đối với ý kiến ha

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Trong Dạy Học Có Làm Tăng Kết Quả Học Tập Môn Vật Lý Của Học Sinh Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Với “bàn Tay Nặn Bột”
  • Một Số Kết Quả Sau Thời Gian Vận Dụng ” Phương Pháp Bàn Tay Năn Bột” Vào Dạy Học
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • 10 Nguyên Tắc Khi Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Tiến Trình Tổ Chức Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • MỤC LỤC

    Trang

    I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI………………………………………………………………………… 2

    II. GIỚI THIỆU……………………………………………………………………………….. 4

    1. Hiện trạng ………………………………………………………………………………… 4

    2. Giải pháp thay thế ……………………………………………………………………… 5

    3. Vấn đề nghiên cứu …………………………………………………………………….. 6

    4. Giả thuyết nghiên cứu ………………………………………………………………… 6

    III. PHƯƠNG PHÁP …………………………………………………………………………7

    1. Khách thể nghiên cứu ………………………………………………………………… 7

    2. Thiết kế nghiên cứu……………………………………………………………………. 7

    3. Quy trình nghiên cứu………………………………………………………………….. 8

    4. Đo lường và thu thập dữ liệu ……………………………………………………… 11

    IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ ……………………………………… 13

    V. BÀN LUẬN ……………………………………………………………………………….. 14

    VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……………………………………………… 15

    1. Kết luận ………………………………………………………………………………….. 15

    2. Khuyến nghị…………………………………………………………………………….. 16

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………….. 17

    PHỤ LỤC …………………………………………………………………………………. 18

    Phụ lục 1: Kế hoạch bài học……………………………………………………… 18

    Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước và sau tác động ……………………………… 25

    Phụ lục 3: Bảng tính độ tin cậy …………………………………………………. 27

    Phụ lục 4: Bảng điểm ……………………………………………………………… 31

    Phụ lục 5: Bảng so sánh dữ liệu ………………………………………………… 33

    1

    3

    II. GIỚI THIỆU:

    1. Hiện trạng:

    Trong những năm gần đây, Ngành Giáo dục và Đà tạo đã tập trung chỉ đạo việc

    thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Kết quả

    đạt được rất khả quan nhưng không đồng đều. Chất lượng giáo dục ở một số địa

    phương vùng nông thôn, vùng xa,… chưa cao, chất lượng giảng dạy một số môn Toán,

    Vật lý,… còn hạn chế, vẫn còn nhiều học sinh bỏ học vì học yếu và không ham học.

    Thế nên, ngày 05/9/2014, phát biểu chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển – Thứ

    trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – khi đến dự Lễ Khai Giảng ở một trường Trung học,

    một lần nữa kêu gọi: Trong năm học này, mỗi giáo viên phải không ngừng tích cực đổi

    mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; chú trọng phương pháp hướng dẫn

    học sinh học tập tiếp thu kiến thức dựa trên các hoạt động trải nghiệm tìm tòi, nghiên

    cứu khoa học nhằm khơi dậy tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, tạo điều kiện thuận

    lợi cho học sinh phát triển kỹ năng, năng lực bản thân, góp phần đẩy mạnh chất lượng

    giáo dục… Thứ trưởng còn nói: Những đổi mới này chính là tiền đề cho việc đổi mới

    căn bản nền Giáo dục Việt Nam hiện đại những năm học sau – phát biểu còn được đưa

    lên “Diễn đàn Giáo dục” của báo Tuổi trẻ cùng ngày.

    Chất lượng giảng dạy chưa cao, học sinh chán học là trách nhiệm của ai? Chúng ta

    không hoàn toàn đổ lỗi cho học sinh, cũng không thể phủ nhận trách nhiệm đó là của

    mình.

    Như một số đơn vị bạn, thực trạng việc dạy học Vật lý ở nơi tôi đang công tác

    (trường Trung học cơ sở Chà Là) cũng thật đáng lo ngại, vẫn còn nhiều học sinh học

    yếu, nhiều em nắm kiến thức không vững không chắc nên mau quên bài. Và hệ lụy

    gây ra là làm chất lượng giảng dạy chưa cao, nhất là môn Vật lý lớp 8.

    Theo tôi, sở dĩ có thực trạng trên là do những nguyên nhân sau:

    Thứ nhất, học sinh chưa ý thức việc học, thích chơi game.

    Thứ hai, học sinh thiếu sự quan tâm và động cơ học tập từ phía gia đình.

    Thứ ba, học sinh không thích học môn Vật lý nên có thái độ học lệch vì cho

    rằng Vật lý là môn phụ, sẽ không còn được chọn thi tuyển 10 khi lên lớp 9, các em chỉ

    đầu tư học các môn Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh.

    Thứ tư, phương pháp dạy học bộ môn chưa phù hợp, giáo viên chưa thật sự đổi

    mới phương pháp dạy học.

    Làm sao để học sinh hứng thú, ham thích học môn Vật lý? Làm thế nào để đổi mới

    phương pháp dạy học một cách hiệu quả? Trăn trở này đã làm tôi suy nghĩ và tìm

    kiếm giải pháp.

    4

    Muốn học sinh học tích cực thì giáo viên cũng phải có phương pháp dạy tích cực.

    Cho nên, ngoài các phương pháp cần thiết thì phương pháp được tôi chọn làm điểm là

    việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý.

    3. Vấn đề nghiên cứu:

    Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết quả học tập

    môn Vật lý của học sinh lớp 8a2 ở trường THCS Chà Là không?

    4. Giả thuyết nghiên cứu:

    Có, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết

    quả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 8a2 trường THCS Chà Là trong 8 tuần

    nghiên cứu.

    6

    III. PHƯƠNG PHÁP:

    1. Khách thể nghiên cứu:

    Chọn hai nhóm tương đương:

    Lớp 8a1 là nhóm đối chứng.

    Lớp 8a2 là nhóm thực nghiệm.

    + Học sinh: Vì tổng số học sinh của hai lớp khác nhau: 8a1: 29/12nữ, 8a2: 32/17nữ

    nên ứng với mỗi lớp, tôi chọn 26 học sinh. 26 học sinh ở hai nhóm được chọn tham

    gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về số lượng, giới tính và dân tộc. Cụ

    thể như sau:

    Bảng 1: Giới tính, dân tộc của học sinh hai lớp 8 trường THCS Chà Là:

    Lớp

    Số học sinh

    Giới tính

    Dân tộc

    Nam

    Nữ

    Kinh

    Khác

    26

    14

    12

    26

    0

    26

    14

    12

    26

    0

    Về thành tích học tập của các em ở hai nhóm là tương đương nhau. Kết quả học

    tập của hai nhóm ở năm học trước tương đương nhau về điểm số.

    Bảng 2: Thống kê trung bình môn Vật lý cuối năm học 2013-2014:

    Lớp

    TSHS

    Giỏi

    Khá

    TB

    Yếu

    Kém

    8a1

    26

    7

    8

    10

    1

    0

    8a2

    26

    8

    8

    9

    1

    0

    + Giáo viên: Dạy cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng.

    2. Thiết kế nghiên cứu:

    Chọn hai nhóm của hai lớp: 8a1 là nhóm đối chứng, 8a2 là nhóm thực nghiệm. Tôi

    dùng bài kiểm tra 15 phút để kiểm tra năng lực nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến

    thức đã học của học sinh trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình

    của hai nhóm có sự khác biệt nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test độc lập để

    kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động.

    Kết quả:

    Bảng 3: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương (theo phụ lục 5

    trang 33):

    Giá trị trung bình

    Giá trị p

    Đối chứng

    Thực nghiệm

    6.46

    Kiểm tra

    dụng phương pháp

    trước tác

    Bàn tay nặn

    động

    Kiểm tra sau

    Tác động

    tác động

    bột8,0Nhóm

    Đối chứng6,31

    Dạy học không sử dụng phương

    (8a1)

    pháp Bàn tay nặn bột

    6,46

    Thực nghiệm

    6,5

    (8a2)

    Cho thấy điểm trung bình của lớp thực nghiệm trước và sau tác động có sự

    khác biệt, của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau tác động có sự chênh lệch.

    3. Quy trình nghiên cứu:

    3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên:

    Lớp đối chứng: Soạn kế hoạch bài học không sử dụng phương pháp Bàn tay

    nặn bột.

    Lớp thực nghiệm: Soạn kế hoạch bài học có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn

    bột.

    3.2. Tiến hành dạy thực nghiệm:

    Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà

    trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Cụ thể như sau:

    Bảng 5: Thời gian thực nghiệm (dạy lớp 8a2):

    Thời gian

    Tiết PPCT

    Tên bài dạy

    Tuần 23

    22

    Bài 16: Cơ năng

    Tuần 25

    24

    Bài 19: Các chất được cấu tạo như thế nào?

    Tuần 27

    26

    Bài 21: Nhiệt năng

    Cách thực hiện:

    Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề:

    Để thực hiện bước này, giáo viên chủ động đưa ra một tình huống ngắn

    gọn, dễ hiểu đối với học sinh (như một cách dẫn nhập vào bài học) rồi đặt câu hỏi nêu

    vấn đề.

    8

    4. Đo lường và thu thập dữ liệu:

    Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề,

    được tiến hành sau khi học xong bài 6: LỰC MA SÁT, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi

    (Xem phần phụ lục 2 trang 25).

    Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề, được

    tiến hành sau khi học xong bài 21: NHIỆT NĂNG, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi

    (Xem phần phụ lục 2 trang 25, 26).

    Hai bài kiểm tra được áp dụng cho cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

    Tôi tiến hành kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu bằng cách chia đôi dữ liệu: 4 câu

    hỏi của đề kiểm tra ở hai lần trước tác động và sau tác động được chia thành câu hỏi

    số chẵn và lẻ, sau đó tính tổng điểm các câu hỏi chẵn, lẻ, tôi được kết quả sau:

    Bảng 6: Bảng tính độ tin cậy (theo phụ lục 3 trang 27, 28, 29, 30):

    LỚP THỰC NGHIỆM

    Trước tác

    Sau tác động

    động

    LỚP ĐỐI CHỨNG

    Trước tác

    động

    Sau tác động

    Số học sinh

    Hệ số tương quan chẵn,

    lẻ rhh

    26

    26

    26

    26

    0,596

    0,553

    0,561

    0,579

    11

    Độ tin cậy SpearmanBrown rSB

    Kết luận

    0.747

    Đáng tin cậy

    0,712

    Đáng tin cậy

    0,718

    Đáng tin cậy

    0,733

    Đáng tin cậy

    Độ giá trị của dữ liệu được kiểm chứng bằng giá trị nội dung, những câu hỏi tôi

    đưa ra khái quát được nội dung môn học, phản ánh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên

    cứu.

    * Tiến hành kiểm tra và chấm điểm:

    Tôi đã tiến hành bài kiểm tra 15 phút trước tác động vào tuần 7 học kỳ I và bài

    kiểm tra 15 phút sau tác động vào tuần 27 học kỳ II. Đồng thời, thực hiện chấm bài

    theo đáp án (nội dung kiểm tra và đáp án được trình bày ở phụ lục 2, kết quả kiểm tra

    được trình bày ở phần phụ lục 3, 4).

    Thời điểm kiểm tra ở hai lớp như nhau (cùng thực hiện đồng loạt sau tiết sinh

    hoạt chủ nhiệm của tuần 7, 27). Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a1: Trần Thị Bích Tuyền –

    giáo viên bộ môn. Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a2: Nguyễn Thanh Hồng – giáo viên

    chủ nhiệm.

    Điểm kiểm tra được lấy vào cột 15 phút của quy chế điểm.

    12

    IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ

    Bảng 7: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (theo phụ lục 5 trang

    34):

    Đối chứng

    Thực nghiệm

    Mốt

    8

    9

    Trung vị

    7

    8,5

    Điểm trung bình

    6,5

    8,0

    Độ lệch chuẩn

    1,82

    1,55

    Giá trị p của T-test

    0,0012

    13

    6.46 6.31

    6.5

    8.0

    Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động

    của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

    14

    VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

    1. Kết luận:

    Tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo điều kiện thuận lợi để

    học sinh phát huy sự tự chủ động xây dựng kiến thức, đồng thời phát huy được vai trò

    tương tác của tập thể học sinh đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân học sinh.

    Như vậy kiến thức học sinh thu nhận được xây dựng một cách hệ thống và vững chắc,

    năng lực sáng tạo của học sinh từng bước được phát triển.

    Qua quá trình áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”, có thể nhận thấy sự ham

    thích của học sinh, các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới. Nhờ

    đó, giờ học trở nên chất lượng, hiệu quả, số học sinh học tập tiến bộ nhiều hơn.

    Như vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã nâng cao

    kết quả học tập Vật lý của học sinh.

    Khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học, giáo viên cần chú ý:

    sống mà học sinh cảm nhận và có ít nhiều quan niệm ban đầu về chúng.

    đầu hoặc đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu.

    Với phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thì

    phương án thí nghiệm phải đơn giản với các dụng cụ gần gũi, dễ tìm, dễ làm đối với

    học sinh. Ưu tiên phát triển thí nghiệm tự làm.

    15

    Nhóm làm việc lý tưởng là từ 4 đến 6 học sinh, trong đó có một thư ký và

    Mỗi học sinh phải có vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức

    và ngôn ngữ của các em.

    Việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý đã đem lại

    nhiều hiệu quả quan trọng. Tuy nhiên, giáo viên cũng gặp phải những khó khăn:

    Đây là phương pháp mới mẽ đối với học sinh nên có nhiều em còn e dè, ngại

    bộc lộ quan niệm ban đầu, đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu trước lớp. Do

    đó, giáo viên nên khuyến khích động viên hoặc chỉ định học sinh phát biểu.

    Với những học sinh còn lúng túng trong cách ghi vở thực hành thì giáo viên

    Với phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thì

    giáo viên (hoặc giáo viên cùng với học sinh) phải chuẩn bị, dự trù nhiều dụng cụ để

    học sinh làm thí nghiệm vì sẽ có nhiều phương án được học sinh đề xuất, thiết kế.

    Để tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột” người dạy phải đầu tư

    nhiều cho việc soạn giảng và mất thời gian nhiều cho việc chuẩn bị. Nhưng với lòng

    nhiệt tình với trẻ và sự tâm huyết với nghề, tôi nghĩ sẽ không có gì làm trở ngại quyết

    tâm nâng cao chất lượng, mong muốn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với

    yêu cầu mới của giáo dục hiện nay trong mỗi chúng ta.

    16

    Người thực hiện

    Trần Thị Bích Tuyền

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Sách giáo khoa Vật lý 8.

    Vũ Quang – Bùi Gia Thịnh.

    2. Tài liệu “Phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học Vật lý” cấp Trung học.

    Vụ Giáo dục Trung học.

    3. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo

    Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2011

    4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Vật lý THCS

    Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

    5. Website: http://violet.vn/tochuyenmon

    http://www.giaovien.net.vn

    17

    PHỤ LỤC

    Phụ lục 1: KẾ HOẠCH BÀI HỌC

    (Giáo án có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột)

    Ngày dạy: 25/02/2014

    Tuần: 27 (08 HKII)

    Tiết: 26

    Baø i 21 : NHIEÄ T NAÊ N G

    Ý thức học tập, tích cực tư duy.

    2. Trọng tâm:

    Các cách làm thay đổi nhiệt năng.

    3. Chuẩn bị:

    3.1 Giáo viên:

    Dụng cụ cho cả lớp:  Quả bóng.

     Nước nóng, cốc thủy tinh.

     Giấy nhám hoặc vải khô.

    3.2 Học sinh:

    + Học bài, làm bài tập về nhà, nghiên cứu bài mới, SGK.

    + Dụng cụ: 1 đồng tiền kim loại / 4HS.

    4. Tiến trình dạy học:

    4.1 Ổn định tổ chức và kiểm diện:

    + Giáo viên kiểm diện.

    – Cán sự bộ môn báo cáo việc chuẩn bị bài của các bạn.

    4.2 Kiểm tra miệng:

    Câu hỏi

    Trả lời

    1. + Nguyên tử, phân tử chuyển động hay

    1. + Nguyên tử, phân tử chuyển động không

    đứng yên? Chuyển động của phân tử phụ

    ngừng. Nhiệt độ càng cao thì các nguyên tử,

    thuộc gì?

    phân tử chuyển động càng nhanh

    + Bài tập 20.4 SBT.

    + Nhiệt năng là gì?

    + Bài tập 20.4: Vì phân tử nước hoa

    chuyển động không ngừng, một số phân tử

    nước hoa bức ra khỏi lọ chuyển động tới các

    vị trí khác nhau trong lớp. (4đ)

    + Tổng động năng của các phân tử cấu tạo

    nên vật gọi là nhiệt năng của vật.

    (2đ)

    4.3 Bài mới:

    Hoạt động của thầy và trò

    Nội dung bài học

    Hoạt động 1: Tạo tình huống học tập:

    + GV: Làm thí nghiệm thả quả bóng rơi như

    hình 21.1, yêu cầu HS quan sát độ cao của

    quả bóng sau mỗi lần nảy lên.

    – HS: Theo dõi, nêu hiện tượng.

    19

    + GV: Đặt vấn đề vào bài: Cơ năng của quả

    bóng đã biến mất hay được chuyển hóa

    thành dạng năng lượng khác?

    Hoạt động 2: Tìm hiểu về nhiệt năng:

    * Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi

    nêu vấn đề:

    + GV: Đưa ra một đồng tiền kim loại.

    ? Làm thế

    nào để đồng tiền kim loại này

    ý: GV không nhận xét đúng sai.

    * Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và

    thiết kế phương án thí nghiệm:

    + GV: Chọn phương án khả thi nhất: Cọ

    xát, cho vào nước nóng.

    – HS : Đề xuất câu hỏi: Liệu bằng cách cọ

    xát và cho vào nước nóng thì đồng tiền kim

    loại có nóng lên không?

    + GV: Nêu câu hỏi để HS đề xuất phương

    án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu: (1) Lấy

    đồng tiền kim loại cọ xát vào vải khô nhiều

    lần. (2) Lấy đồng tiền kim loại cho vào nước

    nóng.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Giảng Dạy Môn Vật Lí 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bộ Môn Vật Lí
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lồng Ghép Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Đối Với Một Số Bài Trong Giảng Dạy Môn Tự Nhiên Và Xã Hội Lớp 2
  • Giáo Án: Mây Được Hình Thành Như Thế Nào? Mưa Từ Đâu Ra? Theo Phương Pháp
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Dạy Học Khoa Học 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bộ Môn Vật Lí

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Giảng Dạy Môn Vật Lí 8
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Trong Dạy Học Có Làm Tăng Kết Quả Học Tập Môn Vật Lý Của Học Sinh Lớp 8
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Với “bàn Tay Nặn Bột”
  • Một Số Kết Quả Sau Thời Gian Vận Dụng ” Phương Pháp Bàn Tay Năn Bột” Vào Dạy Học
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • ọc chuẩn bị cho tiết học sau thì các em rất tích cực tham gia. Khi được phân công dạy môn Vật lý tại lớp 8A1, ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực tế, kết quả như sau: Số học sinh thích học môn vật lý là: 10 em Số học sinh thấy bình thường là : 18 em Số học sinh sợ học vật lý là : 17 em 3. Các giải pháp : Ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột hiệu quả trong giảng dạy môn vật lý * Đặc trưng cơ bản của Phương pháp BTNB: - Bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề đó như thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận. - Đặc trưng: + Dạy học phải tự nhiên như qúa trình tìm ra chân lý. + PPBTNB chú trọng đến quan niệm ban đầu của học sinh về kiến thức mới sẽ học. + Sử dụng PPBTNB không được nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai. Thông qua thí nghiệm, chính HS sẽ tự đánh giá đúng hay sai. + Trong CT hiện nay có bài áp dụng cả, có bài áp dụng một phần, * Ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy bài . "LỰC ĐẨY ÁC - SI - MÉT " Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề Khi thả các vật vào nước ta thường thấy có vật thì chìm vào trong nước nhưng có vật thì nổi trên mặt nước.Hãy lấy một số ví dụ trong thực tế về các vật nổi/chìm trong nước Với điều kiện nào thì một vật chìm trong nước? Với điều kiện nào thì một vật nổi trên mặt nước? Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh -Cá nhân tự ghi những quan niệm của mình về điều kiện vật nổi/chìm trong nước. Có thể có một số nhóm quan niệm ban đầu như sau: - Vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi; - Vật ngấm nước thì chìm, vật không ngấm nước thì nổi; - Vật đặc thì chìm, vật rỗng thì nổi; Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm -Chỉ đại diện vài nhóm phát biểu suy nghĩ vì sao mình lại có ý kiến như vậy (Làm cho quan niệm ban đầu lộ rõ hơn) Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi ,nghiên cứu -Y/C tiến hành TN theo nhóm với các TN cần làm cụ thể như sau: .TN1: - Thả quả bóng bàn vào nước trong bình chia độ, quan sát và đánh dấu phần bị ngập vào nước. - Dùng xilanh bơm một ít nước vào một trong các quả bóng bàn rồi thả vào nước, quan sát và đánh dấu phần ngập trong nước. - Bơm dần nước vào trong quả bóng bàn và lặp lại thí nghiệm, quan sát, ghi lại kết quả và nhận xét. .TN2: - Treo quả nặng hình trụ có vạch chia vào lực kế (treo trên giá thí nghiệm) để đo trọng lực của nó ngoài không khí, ghi lại kết quả đo. - Giữ nguyên vật trên lực kế, thả cho vật ngập dần vào trong nước, đọc số chỉ của lực kế tương ứng, ghi lại kết quả và suy ra lực đẩy của nước tác dụng lên quả nặng Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức -Y/C các các nhân nêu kết luận sau khi tiến hành TN. -Chuẩn hóa kiến thức và cho học sinh ghi vở. * Lực đẩy Ác - si - mét: - Một vật nhúng trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên gọi là lực đẩy Ác - si - mét. - Độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét tỷ lệ thuận với thể tích của phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ. - Ngoài ra, có thể chứng minh được lực đẩy Ác - si - mét phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng, cụ thể là trọng lượng riêng của chất lỏng. - Công thức tính lực đẩy Ác - si - mét là: FA = d.V (d.V chính là trọng lượng của chất lỏng bị vật chiếm chỗ. Sử dụng bộ thí nghiệm đã cho, em hãy đề xuất phương án thí nghiệm nhằm kiểm nghiệm lại công thức nói trên). 4. Minh hoạ bằng giáo án Chủ đề . LỰC ĐẨY ÁC - SI - MÉT VÀ SỰ NỔI (3 tiết) I. Mục tiêu của bài học: Sau bài học, học sinh: - Phát biểu và viết được biểu thức lực đẩy Ác - si - mét trong chất lỏng; - Xác định được độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét khi một vật nổi trên mặt thoáng của chất lỏng. - Nêu được điều kiện một vật chìm, nổi, lơ lửng trong chất lỏng. II. Thiết bị dạy học: - Bộ thí nghiệm về lực đẩy Ác - si - mét; - Bóng bàn: 3 quả; - Bình thủy tinh 500ml; - Xilanh và kim tiêm. III. Tiến trình dạy học cụ thể: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Pha 1: Tình huống xuất phát. GV gợi lại cho HS thấy rằng khi thả các vật vào nước ta thường thấy có vật thì chìm vào trong nước nhưng có vật thì nổi trên mặt nước. Yêu cầu HS lấy một số ví dụ trong thực tế về các vật nổi/chìm trong nước và nêu câu hỏi: Với điều kiện nào thì một vật chìm trong nước? Với điều kiện nào thì một vật nổi trên mặt nước? HS nêu được một số ví dụ trong thực tế như: - Hòn đá/sỏi/gạch... chìm trong nước; - Tàu, thuyền, xuồng... nổi trên mặt nước; - Cái lá, miếng bấc... nổi trên mặt nước; ... Pha 2: Hình thành câu hỏi của học sinh Trong khi HS viết ra các ý kiến của mình về điều kiện chìm/nổi của một vật, GV đi xuống và quan sát vở thực hành của một số HS để nắm bắt nhanh các khái niệm ban đầu của HS về sự chìm, nổi của các vật. Trong quá trình quan sát, cố gắng nắm bắt nhanh những quan niệm khác biệt của HS, chọn những HS có quan niệm "sai" nhiều nhất để yêu cầu lên trình bày trước, những HS có quan niệm "đúng" nhất cho trình bày sau. HS làm việc cá nhân, ghi những quan niệm của mình về điều kiện vật nổi/chìm trong nước. Có thể có một số nhóm quan niệm ban đầu như sau: - Vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi; - Vật ngấm nước thì chìm, vật không ngấm nước thì nổi; - Vật đặc thì chìm, vật rỗng thì nổi; - Vật có đáy hẹp thì chìm, vật có đáy rộng thì nổi; ... Pha 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm - Có vật rất nặng nhưng nổi, ngược lại có vật rất nhẹ nhưng lại chìm; - Các vật nổi luôn có một phần bị ngập trong nước. Vật càng nặng thì phần bị chìm vào nước càng nhiều; - Các vật nổi có thể nằm cân bằng trên mặt nước. ... Từ những quan niệm ban đầu, HS đưa ra các câu hỏi như: - Với các vật bị chìm vào trong nước thì có lực "đỡ" như đối với các vật nổi không? GV yêu cầu HS đề xuất các phương án thí nghiệm nhằm tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi mà HS nêu ra bằng cách nêu các câu hỏi: - Theo các em, làm thế nào để có thể kiểm tra xem lực "đỡ" của nước có phụ thuộc gì vào phần bị ngập trong nước hay không? - Theo các em, ta có thể kiểm tra xem vật bị ngập trong nước có chịu tác dụng của lực "đỡ" như trường hợp vật nổi hay không, bằng cách nào? nếu có thì lực đó có thể đo được độ lớn của nó không và đo bằng cách nào? HS đề xuất các phương án thí nghiệm: - Tìm hiểu xem phần bị ngập của vật trong nước phụ thuộc thế nào vào trọng lượng của vật, dùng quả bóng bàn, bơm dần nước vào trong và thả lên mặt nước để quan sát phần bị ngập vào trong nước. - Để tìm hiểu xem có lực nào tác dụng lên vật ngập trong nước hay không và nếu có thì độ lớn bằng bao nhiêu, dùng lực kế treo vật vào để đo trọng lượng khi ở ngoài không khí, sau đó nhúng vật ngập vào nước và quan sát số chỉ của lực kế. Pha 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu: GV phát cho HS các dụng cụ thí nghiệm: - Một số vật như: hòn sỏi, miếng sắt, miếng bấc hoặc nút nhựa... - Bóng bàn: 3 quả; - Xi lanh có kim tiêm; - Bộ thí nghiệm lực đẩy Ác - si - mét gồm: bình chia độ, bình tràn, lực kế và giá thí nghiệm, vật hình trụ có vạch chia, cốc nhựa hình trụ cùng thể tích với vật có vạch chia. Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, vẽ hình bố trí thí nghiệm và ghi các kết quả thí nghiệm vào vở thực hành. Trong quá trình HS làm thí nghiệm, GV đi đến từng nhóm để giúp đỡ HS khi cần, quan sát nhanh vở thực hành của HS để nắm bắt các kết quả thí nghiệm. Đưa ra những gợi ý, hướng dẫn cần thiết để các nhóm đi đúng hướng, tuy nhiên, không làm giúp HS. HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm nhỏ: TN1: - Thả quả bóng bàn vào nước trong bình chia độ, quan sát và đánh dấu phần bị ngập vào nước. - Dùng xilanh bơm một ít nước vào một trong các quả bóng bàn rồi thả vào nước, quan sát và đánh dấu phần ngập trong nước. - Bơm dần nước vào trong quả bóng bàn và lặp lại thí nghiệm, quan sát, ghi lại kết quả và nhận xét. TN2: - Treo quả nặng hình trụ có vạch chia vào lực kế (treo trên giá thí nghiệm) để đo trọng lực của nó ngoài không khí, ghi lại kết quả đo. - Giữ nguyên vật trên lực kế, thả cho vật ngập dần vào trong nước, đọc số chỉ của lực kế tương ứng, ghi lại kết quả và suy ra lực đẩy của nước tác dụng lên quả nặng. Pha 5: Kết luân và hợp thực hóa kiến thức Có thể yêu cầu mỗi nhóm ghi kết quả thí nghiệm của nhóm mình trên tờ giấy A0 để treo lên và so sánh. Nêu các câu hỏi để HS giải thích thêm về các kết quả thí nghiệm thu được. Đại diện các nhóm HS báo cáo kết quả thí nghiệm của nhóm mình, trả lời các câu hỏi của nhóm bạn. Ghi chép các kết luận về kiến thức sau khi thống nhất chung toàn lớp. PHIẾU TỔNG KẾT KIẾN THỨC 1. Lực đẩy Ác - si - mét: - Một vật nhúng trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên gọi là lực đẩy Ác - si - mét. - Độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét tỷ lệ thuận với thể tích của phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ. - Ngoài ra, có thể chứng minh được lực đẩy Ác - si - mét phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng, cụ thể là trọng lượng riêng của chất lỏng. - Công thức tính lực đẩy Ác - si - mét là: FA = d.V (d.V chính là trọng lượng của chất lỏng bị vật chiếm chỗ. Sử dụng bộ thí nghiệm đã cho, em hãy đề xuất phương án thí nghiệm nhằm kiểm nghiệm lại công thức nói trên). 2. Điều kiện chìm/nổi của vật: - Khi bị ngập hoàn toàn trong chất lỏng, nếu lực đẩy Ác - si - mét nhỏ hơn trọng lực tác dụng lên vật thì vật sẽ chìm trong chất lỏng, nếu lực đẩy Ác - si - mét lớn hơn trọng lực thì vật sẽ nổi lên trên mặt chất lỏng. - Khi đã nổi trên mặt chất lỏng thì lực đẩy Ác - si - mét (độ lớn chỉ còn bằng trọng lượng của phần thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ) cần bằng với trọng lực tác dụng lên vật. - Trường hợp đặc biệt, nếu khi vật bị ngập hoàn toàn trong chất lỏng mà lực đẩy Ác - si - mét đúng bằng trọng lực tác dụng lên vật thì vật sẽ lở lửng trong chất lỏng. Khi đó, trọng lượng riêng của chất làm vật đúng bằng trọng lượng riêng của chất lỏng. - Từ đó quy ra: Khi dv < dcl thì vật nổi; Khi dv = dcl thì vật lơ lửng; GV phát cho HS phiếu tổng kết kiến thức, giao cho HS tiếp tục đề xuất phương án thí nghiệm để nghiệm lại công thức tính lực đẩy Ác - si - mét và tìm cách làm cho quả bóng bàn lơ lửng trong nước. Nhận các phiếu tổng kết kiến thức và dán vào vở thí nghiệm. Đề xuất phương án thí nghiệm và chuẩn bị cho buổi thực hành tiếp theo. 5. Hiệu quả của sáng kiến: Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về việc học môn Vật lý có sự kết hợp việc thực hiện đề tài, giảng dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trường THCS Phương Trung, tôi thấy chất lượng học vật lý của các em có tiến bộ rõ rệt. Giờ đây không khí học tập của lớp đã sôi nổi, hào hứng. Môn Vật lý đã trở thành môn học bổ ích và lý thú đối với các em. Tôi đã tổ chức khảo sát và được biết: Số em thích học vật lý là: 38 em Số cảm thấy bình thường là : 7 em Không có em nào không thích học vât lý. Các em không còn có tâm lí sợ và ngại học vật lý Kết quả xếp loại môn Vật lý lớp 9A1 là: Sĩ số Thời gian Giỏi Khá T.Bình S.lượng % S.lượng % S.lượng % 45 Đầu năm, 15 em 33,3% 15 em 33,3% 5 11,1% 45 Cuối năm 44 em 97,7% 1 em 2,3% 0 0 III- KẾT LUẬN Dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và trong dạy học Vật lý nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả đòi hỏi sự nỗ lực ở cả thấy và trò. Và việc thực hiện nó không phải bài nào, không phải phần nào cũng thực hiện được. Ưu điểm của việc ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột -Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp. - Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; -Nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. -Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức. Con đường tìm ra kiến thức của học sinh cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học. Do vậy học sinh sẽ ghi nhớ sâu sắc, lâu dài những thí nghiệm do mình tự làm. Mặt khác, học sinh đã có những ý tưởng về một số hiện tượng từ rất sớm. Sẽ là không đủ nếu giáo viên dành phần lớn thời gian để giảng giải cho học sinh những thí nghiệm này sẽ cho ra những kết quả như thế nào (không làm thí nghiệm, chỉ mô tả thí nghiệm hoặc làm mẫu đơn giản thí nghiệm), hoặc nói với học sinh những gì các em nghĩ là sai; mà giáo viên phải có ý thức về sự cần thiết để học sinh tự làm thí nghiệm kiểm chứng những gì học sinh tưởng tượng (với điều kiện các thí nghiệm đó có thể thực hiện ở trong lớp) và để tự các học sinh biện luận với nhau. Khó khăn của việc ứng dụng CNTT: -Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập. -Ở một số bài lượng kiến thức cần truyền tải cho học sinh tương đối nhiều, thời gian 40- 45 phút dạy học theo phương pháp " Bàn tay nặn bột " là không đủ, đa phần kéo dài hơn so với quy định nên ảnh hưởng đến các tiết học khác. Ngoài ra, thiết bị phục vụ cho thí nghiệm ở các trường hiện nay chưa đầy đủ, việc sáng tạo thiết kế các đồ dùng dạy học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" còn gặp nhiều khó khăn với cả giáo viên và học sinh. Một số điểm cần lưu ý Không chọn hoàn toàn các quan niệm đúng Lựa chọn các quan niệm vừa đúng vứa sai Chọn vị trí thích hợp đề gắn các bài vẽ của học sinh + Không nên sử dụng SGK khi học bằng PP BTNB. + Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài). + Lựa chọn hoạt động phù hợp với PP BTNB để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng PP. Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi, để khắc phục tình trạng dạy- học Vật lý như hiện nay, không chỉ đổi mới phương pháp mà phải thay đổi cả cách suy nghĩ của mọi người, của xã hội về vị trí của môn Vật lý trong việc đào tạo con người. Hơn nữa, để cải thiện chất lượng dạy và học môn Vật lý hiện nay không phải chỉ có giáo viên cố gắng mà học sinh cũng phải ý thức hơn trong việc học tập. Thử hỏi giáo viên dạy hay, tiết học sinh động, hấp dẫn nhưng học sinh không học bài, không chuẩn bị bài, không đọc sách giáo khoa, vậy thì kết quả sẽ như thế nào? Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy - học môn Vật lý cũng như chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm của tất cả mọi người, của cả xã hội. IV- KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: Để tiến tới việc dạy học tích hợp các môn học trong nhà trường, cần: - Trước hết cần đào tạo bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia về dạy bằng PP BTNB theo hướng chung của nhiều nước. - Thiết kế lại nội dung chương trình - sách giáo khoa các môn học theo PP BTNB. - Bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên để đáp ứng được yêu cầu học tập. - Thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm từ mục tiêu đến nội dung, PP để chuẩn bị năng lực cho đội ngũ giáo viên khi thực hiện chương trình. - Đổi mới cách thức tổ chức quản lý trong Nhà trường, cách kiểm tra đánh giá theo hướng mới. - Tăng cường cơ sở vất chất, thiết bị dạy học theo hướng tích hợp PP BTNB - Tiếp tục khai thác nghiên cứu thử nghiệm nội dung PP BTNB theo các phương án khác nhau để có thể triển khai đại trà. Phương Trung ngày 17 tháng 3 năm 2021 Tác giả đề tài Nguyễn Thị Thanh Tâm XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hà Nội ,ngày tháng năm 2021 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết ,không sao chép nội dung của người khác. (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Thanh Tâm Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CỞ SỞ: -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Chủ tịch (Ký tên, đóng dấu) MỤC LỤC Trang Phần I. Đặt vấn đề 3 1.Lí do chọ đề tài 3 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm 4 3. Phương pháp nghiên cứu 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 5. Kế hoạch nghiên cứu 5 6.Tài liệu tham khảo 5 Phần II. Nội dung 6 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 6 Giải thích các thuật ngữ khoa học 6 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 6 2.1 Về phía học sinh 6 2.2 Về phía giáo viên 6 2.3. Về cơ sở vật chất 8 2.4. Những ưu điểm và bất cập khi thực hiện vấn đề nghiên cứu 8 3. Các giải pháp 9 4. Minh họa bằng giáo án 10-13 5. Hiệu quả của sáng kiến 14 Phần III.Kết luận 14 Phần IV. Kiến nghị, đề xuất 16 Ý kiến nhận xét đánh giá của hội đồng cơ sở 18 19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lồng Ghép Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Đối Với Một Số Bài Trong Giảng Dạy Môn Tự Nhiên Và Xã Hội Lớp 2
  • Giáo Án: Mây Được Hình Thành Như Thế Nào? Mưa Từ Đâu Ra? Theo Phương Pháp
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Dạy Học Khoa Học 4
  • Tập Huấn Về Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Đề Tài Áp Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Vào Một Số Tiết Học Trong Chương Trình Hóa Học 8
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Dạy Học Khoa Học 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án: Mây Được Hình Thành Như Thế Nào? Mưa Từ Đâu Ra? Theo Phương Pháp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lồng Ghép Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Đối Với Một Số Bài Trong Giảng Dạy Môn Tự Nhiên Và Xã Hội Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bộ Môn Vật Lí
  • Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Giảng Dạy Môn Vật Lí 8
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Trong Dạy Học Có Làm Tăng Kết Quả Học Tập Môn Vật Lý Của Học Sinh Lớp 8
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY

    HỌC KHOA HỌC 4″

    thể lớp, cô giáo và mọi người xung quanh chấp nhận. Khoa học chứa đựng nhiều điều thú

    vị kèm theo sự say mê, chinh phục, thắc mắc và đặt câu hỏi rồi đi tìm câu trả lời thuyết

    phục, làm cho hoạt động khám phá diễn ra không ngừng nơi đứa trẻ, dần dần hình thành

    ở các em phương pháp học, phương pháp tiếp cận tri thức khoa học để đáp ứng được xu

    thế thời đại – Thời đại bùng nổ thông tin, với một khối lương tri thức khổng lồ mà nhà

    trường không đủ khả năng truyền tải hết. Có như vậy mới phù hợp với bậc tiểu học là

    “Bậc học phương pháp”.

    B- Mục đích nghiên cứu:

    Đó là phương pháp ” Bàn tay nặn bột”. Phương pháp này là ý tưởng sáng tạo

    của nhà vật lý người Mỹ Leon Ledeman vào những năm 40 của thế kỷ XX. Năm 1995

    Giáo sư George Charpak cùng một số nhà khoa học Pháp đã nghiên cứu xây dựng

    chương trình thí điểm dạy học khoa học. Tôi đã được học trong chương trình đào tạo

    nâng chuẩn khóa học 2003 – 2006. Với tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tìm tòi, khám phá

    để có thêm kiến thức về phương pháp. Bản thân thấy rõ những ưu điểm vượt trội của

    phương pháp và đã vận dụng vào quá trình giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhiều

    năm qua bước đầu đã thu được kết quả đáng khích lệ. Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề

    tài này nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Khoa học ở Tiểu học, đặc

    biệt là với học sinh khối 4.

    C- Đối tượng nghiên cứu:

    – Tôi tiến hành nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng một phương pháp dạy học mới,

    phương pháp “Bàn tay nặn bột” có nhiều ưu điểm vào dạy môn khoa học ở Tiểu học.

    D- Phạm vi nghiên cứu :

    – Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng “Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn Khoa

    học cho học sinh khối 4.

    E- Khách thể nghiên cứu :

    – Giáo viên và học sinh khối 4 của trường Tiểu học Nguyên Hòa – Phù Cừ – Hưng

    Yên.

    G- Nhiệm vụ nghiên cứu:

    – Tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học môn Khoa học lớp 4, thực hành xác định

    phương pháp, hình thức tổ chức và các kiến thức cần thiết. Dự giờ, kiểm tra đánh giá kết

    quả học tập của học sinh trong quá trình học tập ở phân môn. Từ đó đề xuất cách thực

    hiện sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” phù hợp trong quá trình giảng dạy nhằm

    nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học cho học sinh.

    H- Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp đọc tài liệu.

    – Phương pháp điều tra.

    – Phương pháp phân tích, tổng hợp.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn.

    – Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.

    I – TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU:

    – Đối với đề tài này, tôi thực hiện nghiên cứu các nội dung chính theo tiến trình sau:

    1/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.

    2/ Một số đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    3/ Một số nguyên tắc khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học

    ở Tiểu học.

    4/ Bản chất của việc dạy – học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    5/ Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

    6/ Ứng dụng “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học.

    6.1. Quy trình dạy học của Bàn tay nặn bột.

    6.2. Đề xuất quy trình cụ thể trong dạy học Khoa học ở Tiểu học theo phương pháp Bàn

    tay nặn bột.

    6.3. Ví dụ minh hoạ.

    6.4. Một số trích đoạn trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của GV và

    HS trong dạy học Khoa học 4.

    7/ Những bài học trong chương trình Khoa học 4 có thể áp dụng phương pháp Bàn tay

    nặn bột.

    K- KẾT QUẢ ĐIỀU TRA:

    Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát thực

    trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh trường Tiểu học Nguyên Hòa.

    – Tôi tiến hành làm một đợt khảo sát chất lượng lớp. Tôi lựa chọn lớp thực nghiệm là lớp

    4A, lớp đối chứng là lớp 4B để đánh giá chất lượng ban đầu các khối lớp làm cơ sở để

    khảo sát thực nghiệm của đề tài.

    – Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kỹ năng vận

    dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu hỏi, Vận dụng

    thực tế…

    * Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ở hai lớp 4A và 4B của trường Tiểu học

    Nguyên Hòa như sau:

    Lớp

    Số

    Điểm giỏi

    Điểm khá

    Điểm TB

    Điểm yếu

    HS

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    4A

    32

    5

    15,6

    7

    21,9

    15

    53

    3

    9,5

    4B

    30

    6

    20

    6

    20

    16

    53,4

    2

    6,6

    Qua kết quả khảo sát thì thấy rằng chất lượng của hai lớp trong cùng một khối là

    tương đương, sự chênh lệch giữa trình độ hai lớp là không đáng kể. Môi trường sống

    tương đương nhau vì các em là học sinh thuộc địa bàn trong cùng một xã.

    PHẦN II- NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.

    SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY – HỌC KHOA

    HỌC CHO HS LỚP 4.

    Để ứng dụng giảng dạy đạt hiệu quả, trước hết, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ,

    hiểu và nắm vững những vấn đề sau:

    1/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.

    Theo Gioerges Charpak thì:

    “Bàn tay nặn bột” vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp và chương

    trình. Trong đó, trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi

    đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kỹ

    thuật.

    1.1. Giải thích về thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”.

    “Bàn tay nặn bột” nói vậy để cho ngắn gọn nhưng thực ra, nó huy động cả năm giác

    quan: xúc giác cũng như thị giác, thính giác và có cả khứu giác, vị giác nữa để phát triển

    trong các em sự tiếp xúc diệu kỳ với thế giới bao quanh, để các em học cách khám phá và

    tìm hiểu nó.

    1.2. Ý nghĩa của thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”:

    – Bàn tay- tượng trưng cho việc học sinh tự hành động, trực tiếp hành động.

    – Nặn bột – tượng trưng cho sản phẩm của chính các em trong hoạt động tự tìm tòi, sáng

    tạo.

    – Lòng bàn tay tượng trưng cho trái đất tròn. Năm ngón tay tượng trưng cho trẻ em ở năm

    châu lục khác nhau.

    Ý nói: Toàn trẻ em trên trái đất đều cùng nhau tham gia vào chương trình học tiên

    tiến, thú vị này để xây dựng một trái đất đẹp trong tương lai.

    2/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”của nhóm nghiên cứu:

    Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó, học

    sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một sô dụng cụ và những giác

    quan để nghiên cứu, tìm tò, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và kết quả được

    học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.

    được học sinh giữ suốt trong thời gian học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một

    tập vở ghi nhớ đặc biệt.

    Như vậy bản chất của ” Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới cho phép các

    em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lý độc lập, có

    phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử dụng giác quan

    và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ.

    Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng những dụng

    cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không quá tốn kém, đa số

    là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng nề. Nó được sử dụng hàng ngày với

    vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn

    giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của

    cây trồng bằng cách thay đổi các thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí,

    bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần

    thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình

    ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên

    cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất

    mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?… Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại

    sao lại bón phân cho cây ?….

    5/ Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

    – Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinh xem các

    em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không

    khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.

    – Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và

    cũng không đưa ra câu trả lời. GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt HS đi

    tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay. Ví dụ; ” Theo em, nó sẽ

    như thế nào”? ” Em nghĩ (làm) thử xem”? “Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng

    không”?….. Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả vẫn đục Gv chỉ gợi ý ” Các em thử

    xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không”? ” Xem lại các bước tiến hành lọc nước của

    các em”…..Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác

    định được điều kiện của thí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ…).

    Điều này, bước đầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen

    dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao.

    * Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau :

    – Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học và phù

    hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giải quyết.

    – Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suy nghĩ

    và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết.

    – Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm mà các em

    chưa biết. Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảm bảo HS hiểu được

    vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó.

    – Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm

    gì.

    – Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với phương

    pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được.

    – Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì

    chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng

    suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể

    cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực

    trong giờ học…Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới

    không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và

    thực hành.

    – Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại.

    – Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho

    các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi

    mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm

    tòi trong học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các

    kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học.

    – Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài).

    – Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất

    thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này.

    Đó là những lưu ý đối với Gv khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào giảng

    dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này đạt hiệu

    quả hơn.

    6/ Ứng dụng “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

    6.1.Quy trình chung khi sử dụng phương pháp” Bàn tay nặn bột” trong dạy – học

    Khoa học ở Tiểu học.

    Sơ đồ: Quy trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học

    môn Khoa học ở Tiểu học.

    GIÁO VIÊN

    Xác định mục tiêu bài h

    Chuẩn bị đồ dùng dạy h

    Lập kế hoạch dạy học

    Nêu ra tình huống có vấn

    Tổ chức HS TLN để đưa

    GT

    Yêu cầu các nhóm nêu G

    Lựa chọn những GT ph

    hợp

    Tổ chức các nhóm kiểm

    GT GGT

    Yêu cầu HS TLN để đ

    ra PA kiểm tra GT

    Yêu cầu các nhóm

    xuất PA kiểm tra GT; l

    chọn những PA có th

    tiến hành

    Yêu cầu các nhóm tiế

    hành kiểm tra GT

    Theo dõi, giúp đỡ học

    sinh

    Yêu cầu các nhóm báo

    kết quả; giúp HS chính

    hóa và chốt lại kiến

    trọng tâm.

    Đánh giá chung

    ” Tính chất của nước” ( Trang 42) Lớp 4.

     Kiến thức cần đạt: ( Học sinh đưa ra được các kết luận).

    1- Nước là chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, không vị, không có hình dạng

    nhất định .

     Phương tiện : Một viên phấn trắng, một viên bi, một cốc thuỷ tinh, nước trắng,

    thìa, muối, cát một cái chai.

     Giao nhiệm vụ :

    *Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để dấu đi một viên bi ?

    ( Học sinh tìm nhiều cách nhưng sẽ không có cách nào dấu được viên bi )

    * Kết luận : Nước trong suốt.

    *Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để làm đổi màu viên phấn?

    ( Viên phấn không đổi màu )

     Kết luận : Nước không màu.

    *Lệnh : Hãy chuyển cốc nước sang chai mà vẫn giữ nguyên hình dạng ?

    (Hs phát hiện : Hình dạng của nước là bình chứa nó)

    i. Kết luận : Nước không có hình dạng nhất định.

    2 – Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi phía, thấm qua một số vật, hoà tan một

    số chất.

     Phương tiện : – 1 tấm kính ( vẽ một vòng tròn)

    – 1 ít nước trong cốc.

    – Bông, muối, đường, cát.

    * Lệnh : Dùng ít nước trong cốc , hãy giữ nguyên lượng nước trong phạm vi vòng tròn

    tấm kính ?

    ( Học sinh sẽ không thể tìm được cách nào thoả mãn được yêu cầu trên)

    * Kết luận : Nước lan ra khắp mọi phía.

    * Lệnh : Làm thế nào để giữ nguyên được vị trí của giọt nước khi ta nghiêng tấm kính ?

    (Đó là điều vô lí không thể xảy ra).

    * Kết luận : Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi nơi.

    * Lệnh : Hãy làm giảm nước trong cốc bằng bông ?

    ( Nước thấm qua bông ) .

    * Kết luận : Nước thấm qua 1 số vật.

    * Lệnh : Đổ 1 thìa muối (đường) nhỏ vào cốc , lấy thìa khuấy đều .

    – Hãy tìm những hạt muối (đường) có trong cốc ?( Không tìm thấy).

    Hoặc : Điều gì sẽ xảy ra với những hạt đường khi ta bỏ chúng vào một côc nước? v.v..

     Kết luận : Muối (đường) tan trong nước.

    – Cho 1 ít cát vào cốc nước .

    * Lệnh : Hãy giấu những hạt cát vào cốc nước ?( Không dấu được. Cát không tan trong

    nước).

    * Kết luận : Nước hoà tan 1 số chất , không hoà tan một số chất.

    * Ví dụ 2: Bài 35 : Không khí cần cho sự cháy( Trang 70). Yêu cầu học sinh không

    được mở sách giáo khoa.

    * Lệnh : Có một ngọn nến đang cháy và một cốc thuỷ tinh . Hãy làm tắt ngọn nến bằng

    cốc thuỷ tinh mà không được chạm cốc vào ngọn lửa ?

    ( Học sinh thử các phương án, phát hiện ra cách làm đúng là: Úp cốc vào ngọn nến trong

    thời gian nhất định ).

    – Học sinh ghi lại quá trình thí nghiệm như cách làm và thời gian cần thiết .

    – Học sinh giải thích: Thành phần của không khí gồm có ôxi và nitơ. Khí ôxi duy trì

    sự cháy.

    * Ví dụ 3: Bài 50 : Nóng , lạnh và nhiệt độ. (Trang 102).

    * Lệnh : Hãy làm nóng chiếc thìa bằng ngọn nến mà không được chạm thìa vào ngọn

    lửa? (Cách làm đúng là để thìa gần ngọn lửa).

    * Lệnh : Hãy làm lạnh chiếc bơ bò (bằng sắt) bằng khay đá mà không chạm ống bơ bò

    vào khay đá đó? ( Cách làm đúng là chụp bơ bò lên đá).

    * Kết luận: Các vật ở gần vật nóng thì nóng lên, các vật ở gần vật lạnh hơn thì lạnh đi.

    6.4. Một số trích đoạn trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của

    GV và HS trong dạy học Khoa học 4.

    Tôi xin nêu ra một số tình tiết ấn tượng trong quá trình giảng dạy môn Khoa học áp

    dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong chương trình Khoa học lớp 4 mà thầy và trò

    chúng tôi đã trải nghiệm trong thời gian qua.

    * Ví dụ 1: Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?

    – Giáo viên đưa ra một túi ni lông màu đen trong đó đựng đầy không khí (miệng của túi

    ni lông đã cột chặt) cho học sinh sờ nắn và bảo các em đoán xem trong túi này có gì?

    * Học sinh sờ nắn và đưa ra các phương án:

    – Không có gì.

    – Có bông.

    – Có không khí.

    ………………………..

    * Giáo viên mở túi ni lông ra để cho học sinh xác định rằng trong đó có không khí. Sau

    đó đặt vấn đề : Theo các em, không khí có ở những nơi nào?

    – Học sinh:

    – Có ở khắp nơi.

    – Có trong cái chai rỗng.

    – Trong cục đất khô…..

    * GV : Để biết được không khí có ở trong chai rỗng, trong miếng đất khô và có ở khắp

    nơi hay không, chúng ta cần phải làm gì?

    – HS: Làm thí nghiệm.

    – Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết

    quả.

    Trong khi học bài này, có em học sinh lúc đầu lựa chọn dùng viên gạch để bỏ

    xuống chậu nước. Nhưng sau đó em đã gạch bỏ sự lựa chọn này thay vào đó là mẩu đất

    khô. Sau giờ học, tôi hỏi vì sao lại có sự thay đổi dó, em nói “miếng đất khô có nhiều chỗ

    rỗng hơn nên khi bỏ vào nước thì bong bóng khí bay lên nhiều hơn”… Có nhóm HS khác

    đã nghĩ ra một phương án thí nghiệm rất thuyết phục là” Nhấn chìm vỏ chai xuống một

    chậu nước, nước sẽ tràn vào trong chai đẩy không khí ra ngoài tạo ra những bong bóng.

    Có nhóm lại đưa ra phương án ” Vặn nắp chai thật chặt, sau đó đục một lỗ trên vỏ chai.

    Nếu chúng ta đưa lên và hướng lỗ thủng vào mặt và bóp thân chai thì sẽ cảm thấy được

    không khí từ trong đó bay ra”……

    Như vậy, qua kết quả trên ta thấy, điều đáng lưu ý và ấn tượng ở chỗ HS không

    chỉ đơn thuần thực hiện thành thạo với các dụng cụ thí nghiệm mà còn thể hiện sự thông

    minh, sáng tạo vận dụng linh hoạt trong việc đưa ra nhiều phương án để kiểm tra cùng

    một giả thuyết.

    * Ví dụ 2: Bài 27: Một số cách lọc nước.

    * Giáo viên đưa chai nước và nói: Đây là chai nước đã bị nhiễm bẩn. Vậy theo em trong

    chai nước này có những gì?( HS: Có cát bụi, đất, vi trùng, các chất độc hại…)

    * GV: Chúng ta có thể làm sạch chai nước này được không? Bằng cách nào?…

    – HS: Làm thí nghiệm.

    – Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết

    quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Huấn Về Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Đề Tài Áp Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Vào Một Số Tiết Học Trong Chương Trình Hóa Học 8
  • Ứng Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Vào Giảng Dạy
  • Chuyên Đề Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học “bàn Tay Nặn Bột” Vào Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Hội Thảo Phương Pháp Dạy Học “bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs.
  • Tin tức online tv