Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Giá trị thặng dư siêu ngạch?

    – Quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá

    – Quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá, nhờ đó thu dược giá trị thặng dư siêu ngạch.

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó.

    – Xét từng trường hợp, thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xót toàn bộ xã hội tư bản thân giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Tăng năng suất lao dộng, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng.

    – Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối cùng có một cơ sở chung đó là dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động cần thiết.

    – Điểm khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:

    + Giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt, còn giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng giá trị thặng dư tương đối khi trình độ kỹ thuật mới được áp dụng ở các tư bản cá biệt trở thành phổ biến trong xã hội. Vì thế, C. Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

    + Giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu dược. Nó biểu hiện sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng rộng rãi. Xét về mặt đó thì nó thể hiện quan hệ giữa giai cấp công nhân và toàn bộ giai cấp các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là mục đích trực tiếp mà mỗi nhà tư bản cố gắng đạt tới trong cuộc cạnh tranh với các nhà tư bản khác. Xét về mặt này, giá trị thặng dư siêu ngạch không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa công nhân làm thuê và nhà tư bản, mà còn biểu hiện mối quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau.

    Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng xuất lao động giảm giá trị của hàng hoá.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • So Sánh Giá Trị Thặng Dư Tương Đối À Giá Trị Thặng Du Siêu Nghạch

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Ưu Nhược Điểm Của 5 Loại Sơn Tốt Nhất Trên Thị Trường
  • So Sánh Siêu Thị Mini Và Cửa Hàng Tiện Lợi Khác Nhau Điểm Gì?
  • Top 7 Cửa Hàng Tiện Lợi Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • So Sánh 3 Chuỗi Cửa Hàng Tiện Lợi Lớn Tại Nhật Bản Bạn Nên Biết
  • Đánh Giá Apple Watch Series 5 Có Tốt Không? 8 Lý Do Nên Mua Dùng
  • Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là một biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng năng suất lao động xã hội, còn bên kia – bên giá trị thặng dư siêu ngạch – thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng công nghệ tiến bộ và các phương pháp quản lý hoàn thiện hơn trong tổ chức sản xuất. Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếm đoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê chống lại sự chiếm đoạt đó: Đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việc trong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu tranh chống việc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng lao động thặng dư để chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch. Cuộc đấu tranh chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch về thực chất là sự phản ứng lại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sáng kiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ và việc áp dụng những phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn . Thật ra, sự đấu tranh của giai cấp thợ thuyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để chống lại sự bóc lột giá trị thặng dư nói chung, là nhằm vào một chủ điểm: Chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư cụ thể là cả ba thứ giá trị thặng dư vừa nêu trên.

    giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là một biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng năng suất lao động xã hội, còn bên kia – bên giá trị thặng dư siêu ngạch – thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng công nghệ tiến bộ và các phương pháp quản lý hoàn thiện hơn trong tổ chức sản xuất. Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếm đoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê chống lại sự chiếm đoạt đó: Đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việc trong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu tranh chống việc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng lao động thặng dư để chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch. Cuộc đấu tranh chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch về thực chất là sự phản ứng lại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sáng kiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ và việc áp dụng những phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn… Thật ra, sự đấu tranh của giai cấp thợ thuyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để chống lại sự bóc lột giá trị thặng dư nói chung, là nhằm vào một chủ điểm: Chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư cụ thể là cả ba thứ giá trị thặng dư vừa nêu trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Các Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuơng Đối, Tuyệt Đối Và Siêu
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Bài Tập Tiếng Anh Lớp 6 Dạng So Sánh Của Tính Từ
  • Cấu Trúc & Bài Tập So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất Trong Tiếng Anh
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Nếu bạn thường xuyên đọc hoặc xem tin tức về kinh tế sẽ thấy người ta nhắc nhiều đến giá trị thặng dư. Chắc chắn đối với nhiều người, giá trị thặng dư sẽ là một điều gì đó rất trừu tượng và khó hiểu. Đại đa số đều không biết giá trị thặng dư là gì.

    Học thuyết giá trị thặng dư được xem là phát minh quan trọng chỉ đứng thứ 2 sau biện luận duy vật lịch sử của Mác. Vậy giá trị thặng dư là gì? Về cơ bản giá trị thặng dư chính là sự phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Việc sinh ra và chiếm đoạt giá trị thặng dư phản ánh bản chất quan hệ trong sản xuất tư bản chủ nghĩa (quan hệ bóc lột của nhà tư bản với người lao động làm thuê).

    Giá trị thặng dư là gì?

    Giá trị thặng dư chính là giá trị do công nhân làm thuê lao động sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt hết. Đối với hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào tư liệu sản xuất và mua sức lao động. Mục đích khi chi tiền là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà họ đã chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra chính là giá trị thặng dư.

    Như vậy phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm hết được gọi là giá trị thặng dư.

    Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động. Trong đó công nhân làm thuê sản xuất nhiều giá trị hơn chi phí được trả cho họ. Đây là yếu tố được quy định bởi tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách người lao động. Đối với Mác sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được loại bỏ khi nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra.

    Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:

    • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
    • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản. Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, năng suất lao động còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động công nhân làm thuê.

    Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết liệt đòi rút ngắn ngày lao động nên các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động vô thời hạn. Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn đến mức bằng thời gian lao động tất yếu.

    Một hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời gian lao động trong ngày nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Khi độ dài ngày lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản xuất giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội. Nếu xét từng nhà tư bản xuất thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời. Tuy nhiên xét về toàn xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực thúc đẩy mạnh nhất cho các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

    Cả giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều dựa vào cơ sở tăng năng suất lao động. Tuy nhiên cả 2 khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Trong khi giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên việc tăng năng suất lao động cá biệt.

    Sau khi tìm hiểu giá trị thặng dư là gì (bỏ qua yếu tố bóc lột) bạn sẽ thấy cả 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối đều có thể áp dụng vào nền kinh tế. Cả 2 đều thúc đẩy nhằm tạo ra nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội. Đây chính là tiền đề để tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô và tăng trưởng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch (Extra Surplus Value) Là Gì? Nguồn Gốc, Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Web So Sánh Giá Trực Tuyến ~ Reviews Mua Sắm Online Uy Tín, Tối Ưu Chi Phí
  • Bài Toán So Sánh Giá Trị Biểu Thức Ở Tiểu Học
  • So Sánh Giá Trị Của Một Biểu Thức Với Một Số
  • So Sánh Đánh Giá Uber Và Grab Nên Đi Xe Nào Rẻ Hơn 2022
  • Uber, Grab Và “cuộc Chiến” Với Taxi Truyền Thống
  • Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì

    Giá trị thặng dư siêu ngạch có lẽ là thuật ngữ không còn xa lạ với những ai làm kinh doanh, đặc biệt là các bạn sinh viên ngành kinh tế.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch tiếng Anh là Extra surplus value là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng khoa học công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của sản phẩm hàng hóa công ty này thấp hơn giá trị thị trường.

    Ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là tạo ra giá trị thặng dư một cách hợp lý và hiệu quả hơn, việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất hàng hóa cũ giúp cho doanh nghiệp đó ngày vàng tiến bộ hơn, phát triển hơn, sản xuất được nhiều hàng hóa hơn, đem lại các giá trị mới cho hàng hóa cũ của mình. Như vậy ý nghĩa đầu tiên đó chính là đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp.

    Một vấn đề nữa đó là khi công nghệ xem vào quá nhiều thì doanh nghiệp chỉ cần đội ngũ nhân công có chất lượng tốt chủ chốt còn lại không cần thiết, như vậy công nhân đối mặt với tình trạng mất việc.

    Nguồn gốc giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch mục đích cũng cùng cũng là đem lên lợi nhuận cho các nhà tư bản mà thôi. Nguồn gốc của giá trị này đó là do:

    Sự cạnh tranh, các nhà tư bản có doanh nghiệp sản xuất cùng sản phẩm cùng thị trường ra vậy nên để có nên sự khác biệt, để cạnh trang với đối thủ của mình buộc các nhà tư bản phải tìm đến phương pháp mới và phương pháp đó chính xác là công nghệ mới mà các doanh nghiệp kia chưa có.

    Căn bản của giá trị thặng dư chính là tạo ra sản phẩm có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội. Mà để giá trị cá biệt là giá trị riêng do 1 người tạo ra còn giá trị xã hội là giá trị do nhiều người cùng tạo ra, và để làm được điều đó thì đồng nghĩa bạn phải khiến cho 1 người lao động làm sao đó có thể tự tạo ra được 1 hàng hóa và đó chính là thông quá sự hỗ trợ của công nghệ mới/

    Ví dụ:

    Để làm 1 cái áo sơ mi thì thường các doanh nghiệp sẽ có nhiều khâu do nhiều người đảm nhận như cổ áo do 1 người làm, tay áo do 1 người làm và vạt áo do 1 người làm, rồi ráp lại các bộ phận khác thì của 1 người khác. Vậy thì nhà tư bản sẽ đưa công nghệ mới vào đó, giờ đây công nghệ mới sẽ chỉ cần 2 người để hoàn thiện chiếc áo mà không cần đến 5 người như trước đây. Như vậy là họ đã tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch cho doanh nghiệp của mình.

    Đặc điểm giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời

    Chắc rất nhiều người thắc mắc tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời ?

    Thì đây sẽ là giải đáp chính xác nhất cho mọi người, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ xuất hiện nhanh chóng và cũng nhanh chóng mất bị hay nói cụ thể hơn là thay thế. Bởi thị trường kinh tế hiện nay là cạnh tranh, nếu như doanh nghiệp của bản áp dụng dây chuyển sản xuất như vậy đem lại lợi nhuận cao thì ngay sau đó các doanh nghiệp khác cũng sẽ áp dụng cho mình để tạo ra giá trị riêng cho hàng hóa của mình.

    Với thị trường luôn luôn thay đổi như vậy thì hàng hóa phải có sự khác biệt, sự khác biệt đó sẽ đưa đến lợi nhuận khủng hơn những sản phẩm khác. Nên sớm muộn gì cũng phải áp dụng giá phương pháp công nghệ khác để tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của GTTD tương đối

    Giá trị thặng du tương đối – GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.

    So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch với GTTD tương đối

    Với giá trị thặng dư siêu ngạch:

    • Được tạo ra hay nói rõ nguồn gốc là do tăng năng suất lao động cá biệt
    • Do nhà tư bán cá biệt thu được
    • Là phần giá trị thặng dư dôi thêm do doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất, hỗ trợ người lao động giúp cho người lao động tạo ra năng suất lao động
    • Tuy là hiện tượng tạm thời nhưng lại xuất hiện nhiều trong xã hội

    Còn đối với giá trị thặng dư tương đối thì

    • Do doanh nghiệp do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện thời gian lao động của ngày lao động không đổi, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư.
    • Để tạo ra giá trị thặng dư tương đối thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động.

    Như vậy thì giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối bởi có nguồn gốc đều như nhau và giá trị thặng dư siêu ngạch là do áp dụng công nghệ mà áp dụng công nghệ cũng chỉ để rút ngắn thời gian lao động của công nhân nhưng vẫn tạo ra nhiều sản phẩm mà thôi. Hay nói cách khác là giá trị thặng dự siêu ngạch chính là 1 biện pháp để tạo ra giá trị thăng dư tương đối.

    Biện pháp để có giá trị thặng dư siêu ngạch

    Như đã đề cập ở trên rất nhiều là giá trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra là do áp dụng công nghệ mới vào sản xuất mới hơn các doanh nghiệp khác. Vậy nên cốt lõi ở đây chính là công nghê, biện pháp tạo ra giá trị chính là sử dụng công nghệ, tuy nhiên không phải công nghệ nào áp dụng cũng tạo ra được gúa trị thặng dư siêu ngạch.

    Để ứng dụng được công nghệ vào tạo giá trị thặng dư thì chủ doanh nghiệp nên tính toán kỹ, nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này.

    • Liệu rằng công nghệ mới được áp dụng vào thì tạo giá trị như thế nào so với hình thức công nghệ cũ trước đây.
    • Tính toán chính xác là việc áp dụng công nghệ mới vào có đem lại hiệu quả kinh tế/ lợi nhuận cao hơn so với hình thức sử dụng hiện tại hay không
    • Lựa chọn công nghệ mới nên nắm bắt nên chọn loại nào, phục vụ mục đích nào lưu ý chỉ dùng công nghệ ở khâu nào nhiều việc nhất, công nhân làm mất nhiều thời gian nhất là được.
    • Đừng nên áp dụng công nghệ như một con nghiện, cứ thấy công nghệ mới là áp dụng ngay mà không biết liệu có phù hợp hay không

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Samsung A11: Smartphone Sở Hữu Thiết Kế Vẻ Ngoài Cao Cấp
  • Đánh Giá Điện Thoại Samsung Galaxy A7 (2018)
  • Điện Thoại Di Động Samsung Galaxy A31
  • So Sánh Điện Thoại Samsung A51 Với Redmi Note 8
  • So Sánh Samsung Galaxy A51 Và Galaxy A50
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Đột Phá Trong Ứng Dụng Phương Pháp Giáo Dục Steam Tại Trường Mầm Non Mai Dịch Chất Lượng Cao
  • Cách Học Steam Cho Trẻ Mầm Non
  • Steam Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Học Stem Và Steam
  • Thặng dư có thể hiểu như là số tiền chênh lệch của giá trị hàng hóa mang lại cho chủ sở hữu trừ đi số tiền mà chủ sở hữu đã chi ra dùng trong việc sản xuất ra loại hàng hóa đó.

    Một ví dụ về thặng dư: Giả sử có một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng.

    Đến giờ thứ hai trở đi, người đó làm ra được giá trị sản phẩm là 1100 nhưng vẫn dựa trên cơ sở sức lao động mà người đó đã bỏ ra ở giờ thứ nhất thì có giá trị chênh lệch là 100. Và giá trị đó chênh lệch đó là thặng dư.

    Công thức thể hiện giá trị thăng dư là T – H – T’. Tức là ban đầu nhà tư bản sẽ có tiền và dùng số tiền có được để sản xuất tạo ra hàng hóa.

    Mục đích khi nhà tư bản chi tiền là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà họ đã chi ra trong quá trình sản xuất.

    Bản chất của thặng dư là gì?

    Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động. Trong đó người đi làm thuê sẽ sản xuất được nhiều giá trị hơn so với chi phí mà họ nhận được.

    Còn nhà tư bản bóc lột công sức lao động từ người lao động nhằm tạo ra nhiều thặng dư hơn cho mình và việc bóc lột càng nhiều sẽ cho ra giá trị thặng dư càng cao.

    Do đó mà người nghèo thì nghèo mãi, còn người giàu thì cứ giàu mãi. Và chỉ khi sực bóc lột được loại bỏ khi nhà tư bản chi trả cho người lao động toàn bộ giá trị mới được tạo ra.

    Những yếu tố xung quanh ảnh hưởng đến giá trị thặng dư là gì?

    Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư là:

    • Năng suất lao động
    • Cường độ lao động
    • Thời gian lao động
    • Công nghệ sản xuất
    • Thiết bị, máy móc
    • Vốn

    Khi xét riêng trong lĩnh vực kinh tế thì từ công thức T – H – T’ cho thấy cho dù là cá nhân hay tổ chức nào, chỉ cần có tiền vốn và vận dụng vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hoặc gián tiếp đều sẽ sinh lời.

    Công cụ để sinh lời ở đây chính là đồng tiền, khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh, bất kỳ cá nhân nào đều cũng sẽ trở thành nhà tư bản nếu như biết cách sử dụng hợp lý tiền khi đầu tư sản xuất kinh doanh.

    Nếu khi cá nhân đó chỉ tích lũy đơn thuần mà không làm gì thì đó là động tiền chết, bởi nó không mang lại lợi ích cụ thể cho cá nhân cũng như là lợi ích cho bất kỳ người nào cần vốn để đầu tư sản xuất.

    Dù là ở trong xã hội nào thì cũng cần phải tìm cách để gia tăng giá trị thặng dư, và hiện nay thì việc tập trung đầu tư vào các thiết bị máy móc, áp dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng tri thức vào trong quá trình sản xuất sẽ giúp làm tăng giá trị thặng dư.

    Chứ không còn giống như ngày trước chỉ mãi tập trung đầu tư vào giá trị lao động, kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động.

    Giá trị thặng dư sẽ vẫn phải tạo ra và tùy vào đặc điểm của mỗi thời ta sẽ có cách đầu tư khác nhau, đầu tư thông minh và đúng chỗ vì con người dù ở thời đại nào thì cũng cần phải tồn tại.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

    Hiện có hai phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dự tuyệt đối

    Trước hết chúng ta cần hiểu giá trị thặng dư tuyệt đối là gì? Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá tị thặng dư ta thu được từ việc kéo dài thời gian lao động vượt giới hạn thời gian lao động cần thiết.

    Ngày lao động kéo dài còn thời gian lao động không đổi sẽ dẫn đến thời gian lao động thặng dư tăng lên.

    Đây chính là phương pháp kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Tương tự thì giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư ta có thể thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.

    Việc tăng năng suất lao động làm cho giá trị sức lao động giảm xuống và thời gian lao động cần thiết cũng giảm.

    Một khi độ dài ngày lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm thì sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư.

    Đây là phương pháp rút ngắn thời gian lao động tất yếu nhờ vào việc hạ thấp giá trị sức lao động và tăng thời gian lao động thặng dư dựa trên giá trị ngày lao động và cường độ lao động không đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Trên thực tế nhà tư bản luôn luôn tìm cách nâng cao trình độ bóc lột để thu được thật nhiều giá trị thặng dư. Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân.

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư được tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động xã hội, trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

    Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giò, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

    Nếu nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 giờ. Khi đó ngày lao dộng được chia như sau:

    Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, thì bây giờ là 150%.

    – Xu hướng của các nhà tư bản là ra sức kéo dài ngày lao động đến cực độ. Nếu có thể thì họ bắt công nhân làm 24 giờ một ngày. Họ đã bỏ tiền ra mua sức lao động trong một ngày thì họ muốn sử dụng hàng hoá mua được suốt cả ngày đó. Nhưng ngày lao động không thể kéo dài quá 24 giờ và không có một ai có thể làm việc được suốt 24 giờ. Vì người công nhân cần phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí…. để phục hồi sức khoẻ. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân.

    – Giai cấp tư sản muốn kéo dài ngày lao động, còn giai cấp công nhân lại muốn rút ngắn thời gian lao động. Do đó, độ dài ngày lao động có thể co giãn và việc xác định độ dài ấy tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp nói trên. Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người lao động được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời.

    – Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao dộng hơn trong một khoảng thời gian nhất định, nên vẻ thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động là hai biện pháp để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Đột Phá Trong Ứng Dụng Phương Pháp Giáo Dục Steam Tại Trường Mầm Non Mai Dịch Chất Lượng Cao
  • PHÂN TÍCH HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ. NÊU Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ?

    1. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

    a. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Khái niệm: là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sưc lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi.

    VD: Ngày lao động là 8h, thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là m’=4/40×100%=100%.

    Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa mộ điều kiện khác vẫn như cũ , thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 và tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng lên thành m’=60/40×100%=150%

    Như vậy trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, ngày lao động kéo dài tức là thời gian lao động thặng dư tăng lên và kéo theo tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng theo. Bởi vậy mà các nhà tư bản đã tìm mọi cách kéo dài ngày lao động nhằm mục đích sản xuất ra ở mức độ tối đa nhất.

    Khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và tinh thần,đồng thời vấp phải sức đấu tranh càng mạnh me xcuar công nhân. Nha tư bản luôn cố gắng tìm mọi cách để kéo dài ngày làm việc của công nhân nhưng việc kéo dài ngày lao động không thể vượt qua giới hạn sinh lý ( vì công nhân còn phải có thời gian ngủ nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khỏe) thì gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. Điều này cũng chính là hạn chế của việc kéo dài ngày lao động của các nhà tư bản.

    Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tue bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    b. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Khái niệm: là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư.

    VD: ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao đọng thặng dư thì tỷ suất giá trị thặng dư là m’ = 4/4 x 100% =100%

    Gỉa định rằng ngày lao động không thay đổi nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h lđ đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi 3h gọi là thời gian lao động tất yếu và 3 thời gian là thời gian lao động thặng dư. Như vậy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 150%

    Phương pháp sản xuất giá trị tương đối là phương pháp nâng cao trình độ bóc lột, bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn như cũ gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ của người công nhân.

    Bởi vì việc kéo đai ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác,khi sản xuất TBCN phát triển trên giai đoạn công nghiệp cơ khí kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động bóc lột giá trị thặng dư tương đối

    Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động XH dưới CNTB đã trải qua 3 giai đoạn hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dựng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc tự đông hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

    Qúa trình nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho thấy khi gạt bỏ mục đích và tính chất bó clootj của chủ nghĩa tư bản thì sản xuất giá trị thặng dư chính là khoa học sử dụng lao động có hiệu quả nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng cần phải quan tâm. Bởi vậy, các phương phápsản xuất giá trị thặng dư có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kĩ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lí, tiết kiệm chi phí sản xuất.

    Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần tận dụng triệt để các nguồn lực nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, đẩy manh công nghiệp hoa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội.

    Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó đem lại những tiến bộ vượt bậc và thành tựu kinh tế cho CNTB. Nước ta nói riêng và các nước XHCN nói chung cần nỗ lực không ngừng trên con đường của mình để xây dựng XHCN trên thế giới. Riêng nước ta, đang trong giai đoạn độ lên CNXH từ chế độ PK bỏ qua giai đoạn TBCN với xuất phát điểm là một nền kinh tế lạc hậu chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Vì vậy, chúng ta phải học tập những thành tựu mà CNTB đã đjat được trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là giá trị thặng dư, suaqr chữa quan niệm sai lầm trước kia trong xây dựng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Của Mác
  • Thẩm Định Giá Bằng Phương Pháp So Sánh Theo Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá
  • Shadowing Technique: Luyện Nói Tiếng Anh Hiệu Quả Mà Không Cần Phải Đi Học Trung Tâm
  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Shadowing Giúp Luyện Nói Như Người Bản Ngữ
  • Xác Định Mục Tiêu Theo Nguyên Tắc Smart
  • Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

    Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân.

    Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

    Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

    Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 Khi đó ngày lao động được chia như sau:

    Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

    Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Trước đây, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%.

    Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân. Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động.

    Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố định và có nhiều mức khác nhau. Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ.

    b) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của nguời lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, tức là bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn như sau:

    Do đó, tý suất giá trị thặng dư là:

    Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lựơng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó được biểu diễn như sau:

    Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

    Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu. Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp.

    * Giá trị thặng dư siêu ngạch

    Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giám giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của háng hóa, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị củ biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.

    Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng. Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tứơng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối dều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao dộng xã hội).

    Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn bộ giai cấp các nhà tư bản đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê. Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do một số nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được. Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mà còn trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản.

    Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hóa.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Tử Cung
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Thật Sự Hoàn Hảo?
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 346:2006 Về Quy Trình Thí Nghiệm Xác Định Độ Chặt Nền, Móng Đường Bằng Phễu Rót Cát Do Bộ Giao Thông Vận Tải Ban Hành
  • Lý Thuyết Ramzi Có Đáng Tin Cậy?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Của Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Định Giá Bằng Phương Pháp So Sánh Theo Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá
  • Shadowing Technique: Luyện Nói Tiếng Anh Hiệu Quả Mà Không Cần Phải Đi Học Trung Tâm
  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Shadowing Giúp Luyện Nói Như Người Bản Ngữ
  • Xác Định Mục Tiêu Theo Nguyên Tắc Smart
  • Sơ Lược Về Phân Tích Swot
  • LỜI NÓI ĐẦU Trước khi đưa ra một nền sản xuất nào đó người sản xuất phải nghiên cứu sản xuất ra hàng hoá đó có giá trị, bên cạnh đó là có gía trị thặng dư. Vì sản xuất giá trị thặng dư là quy luật biểu hiện bản chất của phương thức sản xuất, phản ánh mục đích và phương hướng phát triển của nền sản xuất. Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển được, muốn đáp ứng nhu cầu của con người về điều kiện sống đều phải tái sản xuất mở rộng và phải tạo ra được nhiều sản phẩm thặng dư. Trong mọi xã hội, sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị nhưng chỉ có ở nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư. Do đó, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng dư ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác đã nghiên cứu khái quát đưa ra cơ sở giá trị thặng dư. Ông là người đầu tiên phát hiện tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và nghiên cứu sự phát triển của các hình thái giá trị. Đó là cơ sở,là chìa khoá để xây dựng và hoàn chỉnh lý luận về hàng hoá, giá trị và tiền tệ, giải thích một cách khoa học, triệt để để xây dựng lý luận về hàng hoá sức lao động. Đây là cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, là thàmh tựu vĩ đại của kinh tế học mác xít. Trên cơ sở đó, ông phát hiện toàn diện hệ thống phạm trù quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và các mâu thuẫn nội tại của nó. Ông hoàn chỉnh lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội (chia tổng sản phẩm xã hội thành ba phần tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư, chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực: sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng, mối liên hệ trao đổi giữa hai khu vực về giá trị và hiện vật) và nhiều vấn đề khác. Nhờ đó mà C.Mác đã đưa kinh tế chính trị tới đỉnh cao khoa học. I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG 1. Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị của hàng hoá trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào trong đó để bù lại tư bản khả biến đã được dùng để mua sức lao động (ngang với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra ngoài giá trị sức lao động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao động sống. Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó chỉ đúng trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu thế, còn ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị. Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: Là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. b. Giá trị hàng hoá Muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá. Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở tư liệu sản xuất) Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá. Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá. Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi. Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá. Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động có mục đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao động (quan trọng hơn cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian. Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị. Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất, trong đó có máy móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất. C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy, thiết bị, máy móc chỉ tạo điều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị. Ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế thị trường khắc nghiệt dựa trên nguyên tắc ” mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Kẻ thắng nhận được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị trừng phạt, không thu lại đủ số lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng bằng khoản ” cúp phạt” nghĩa là không vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư đã được tạp ra trong lĩnh vực sản xuất. Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi sâu vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là điều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh. Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa. Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và hỗ trợ những người nghèo. Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của người lao động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải bao giờ máy móc cũng là điều kiện để thu được nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế. Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh càng tốt, nhằm tránh hao mòn vô hình và hao mòn hứu hình do bảo quản kém hoặc sử dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khấu hao nhanh như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm 2. Lao động với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người dùng để sản xuất ra của cải vật chất. Trong bất cứ chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất. Nhưng sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định. Một là, người lao động phải là người có tự do về thân thể, do đó được tự do sử dụng sức lao động của mình, kể cả tự do bán sức lao động của mình cho người khác. Hai là, người lao động hoàn toàn mất hết mọi tư liệu sản xuất, chỉ còn lại sức lao động là tài sản duy nhất. Để khỏi chết đói, họ không có con đường nào khác là phải mang bán thứ tài sản duy nhất đó. Hai điều kiện đó vạch ra khả năng và tính tất yếu của sự chyển biến sức lao động thành hàng hoá. Hàng hoá sức lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của xã hội- giai đoạn mà sản xuất hàng hoá phát triển cao nhất và chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế, đó là sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do đó, hàng hoá sức lao động là một phạm trù lịch sử đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó sinh ra và mất đi cùng với phương thức sản xuất đó. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. a. Giá trị của hàng hoá sức lao động Là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Nói cách khác cụ thể thì giá trị của hàng hoá sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình họ, và những chi phí để đào tạo người công nhân có một trình độ chuyên môn nhất định phù hợp với yêu cầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giá trị sức lao động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nước và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp khác nhau. b. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: Là ở chỗ nó thoả mãn nhu cầu nào đó cuat người mua. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, hàng hoá sức lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử dụng thì giá trị và giá trị thặng dư cũng được tạo ra. 3. Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực Có người cho rằng “C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với C.Mác trong thời đại máy hơi nước, máy dệt. . . đều quan niệm của cải được lao động sáng tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị cho lao động thực thể” và chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động thực thể đồng thời đã có nêu luận điểm về của cải tinh thần và lao động khoa học. Sự kế tục, sáng tạo phải nối tiếp những gợi ý. Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm được phương pháp trình bày của C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá được đo bắng thời gian lao động trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. C.Mác đồng thời cũng đề cập đến lao động phức tạp coi lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn. Nói đúng hơn là lao động giản đơn nhân bội lên , thành thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn. Nhưng do áp dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, C.Mác đã giả định “từ nay về sau, để cho sự trình bày được đơn giản, chúng tôi sẽ trực tiếp coi mọi loại sức lao động như là một sức lao động giản đơn. Điều đó, sẽ tránh cho chúng ta khỏi phải quy lao động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trường hợp một”. Những ai vô tình hay hữu ý mà quên mất giả định trên sẽ cho rằng C.Mác chỉ quy công tạo ra giá trị cho lao động đơn giản cho lao động thể lực. II. SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Quá trình lao động trên cơ sở tư bản chủ nghĩa, trước hết,vẫn là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị sử dụng. Nhưng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, nhà tư bản chiếm hữu tư bản sản xuất,bóc lột công nhân làm thuê,quá trình lao động có đặc điểm là: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, sản phẩm do công nhân làm ra thuộc về nhà tư bản. Quá trình lao động trong chủ nghĩa tư bản còn là quá trình nhà tư bản sử dụng những hàng hoá tư liệu sản xuất và sức lao động đã mua để tạo ra giá trị thặng dư.Do đó,sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa sản xuất giá trị sử dụng và sản xuất giá trị thặng dư. Mác nói: “với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị, thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”. Quá trình sản xuất giá trị thăng dư đã diễn ra như:giả sử nhà tư bản mua sức lao động của công nhân theo đúng giá trị là 3 đồng đẻ dùng trong 10 giờ,và cứ 1 giờ lao động,người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 0,6 đồng. Giả sử với năng xuất lao động nhất định, trong 5 giờ người công nhân có thể chuyển một số tư liệu sản xuất co trị là 20 đồng thành hàng hoá mới. Kết quả sẽ là:sau 5 giờ laođộng ,người công nhân đã biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới và sản phẩm mới ấy chứa đựn một lượng giá trị là 23 đồng,trong đó gồm có 20 đồng giá trị tư liệu giá trị sản xuất chuyển sang và 3 đồng giá trị mới sáng tạo ra(0,60´5). Như vậy là sau 5 giờ lao động, đồng thời với việc tạo ra một số sản phẩm mới cho nhà tư bản, người công nhân còn tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng giá trị sức lao động của mình. Đến đây, nếu người công nhân được nghỉ thì anh ta không bị bóc lột. Nhưng như vậy thì nhà tư bản sẽ không đạt được mục đích của sản xuất. Nhà tư bản chi ra 23 đồng không phải để thu về 23 đồng,mà để thu một số tiền lớn hơn. Vả lại, nhà tư bản mua sức lao động của công nhân cốt để dùng trong 10 giờ, chứ không phải để dùng trong 5 giờ.Về mặt pháp lý mà nói, điều này đã có sự thoả thuận trước giữa kẻ mua và người bán dưới áp lực của quy luật cung cầu ở thị trường lao động. Như vậy, người công nhân bắt buộc phải lao động thêm 5 giờ nữa. Lần này, nhà tư bản chỉ cần chi ra một số tư liệu sản xuất có giá trị là 20 đồng, chứ không phải chi thêm tiền mua sức lao động. Sau 5 giờ lao động,đồng thới với việc chuyển số tư liệu sản xuất có giá trị 20 đồng thành sản phẩm mới, người công nhân vẫn sáng tạo ra một lượng giá trị mới là 3 đồng. Tổng cộng trong 10 giờ sản xuất, nhà tư bản chi 43 đồng (gồm 40 đồng về tư liệu sản xuất và 3 đồng mua sức lao động), nhưng lại thu về một số sản phẩm mới có giá trị là 46 đồng. Số tiền thu về lớn hơn số vốn ứng trước là 3 đồng. Hắn bỏ túi 3 đồng dôi ra đó mà không phải trả một vật ngang giá nào. Ba đồng đó là giá trị thặng dư. Như vậy là trong 10 giờ lao động, người công nhân chỉ dùng một phần thời gian để bù đắp lại giá trị sức lao động, còn một phần là thời gian lao động không còn cho nhà tư bản. Phần thời gian để người công nhân tái sản xuất giá trị sức lao động, tức là giá trị những tư liệu cần thiết cho người công nhân, là thời gian lao động cần thiết , còn phầnn thời gian dùng để sản xuất giá tri cho nhà tư bản,là thời gian lao động thặng dư. Trong ví dụ nói trên, ngoài 5 giờ lao động cần thiết để sản xuất một lượng giá trị ngang bằng giá trị sức lao động của mình (3 đồng), người công nhân còn phải thêm vào đó 5 giờ lao động thặng dư để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản (3 đồng ). Như vậy, giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhânlàm thuê sáng tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm không, là kết quả của lao động không công của người công nhân . Từ đó, chúng ta thấy rằng tư bản không phải là một số tiền, cũng không phải là tư liệu sản xuất mà là quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội nhất định trong lịch sử. Nó thể hiện quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân. Trong quan hệ đó, nhà tư bản nắm giữ toàn bộ công cụ và tư liệu sản xuất cũng như các tư liệu sinh hoạt chủ yếu, còn giai cấp công nhân – lực lượng sản xuất chính của xã hội, người trực tiếp làm ra của cải vật chất nuôi sống xã hội và làm giầu cho giai cấp tư sản thì chỉ có ” hai bàn tay trắng”, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống. Do đó có thể định nghiã nhà tư bản một cách chính xác hơn: tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. III. PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư. C.Mác đã khái quát thành hai phương pháp chủ yếu là phương ph

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Tử Cung
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Thật Sự Hoàn Hảo?
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 346:2006 Về Quy Trình Thí Nghiệm Xác Định Độ Chặt Nền, Móng Đường Bằng Phễu Rót Cát Do Bộ Giao Thông Vận Tải Ban Hành
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Trong Bối Cảnh Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp So Sánh Trong Phân Tích Tài Chính
  • Lập Kế Hoạch Làm Việc Hiệu Quả Với Phương Pháp Smart – Trung Tâm Đào Tạo Và Tư Vấn Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Viết Mục Tiêu Theo Công Thức Smart
  • Phương Pháp Shichida Dạy Con “Toàn Năng” Của Mẹ Nhật
  • Toán Học Và Cuộc Sống
  • Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”,…

    Giá trị lý luận của học thuyết giá trị thặng dư

    Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư (GTTD) của C. Mác có lỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của học thuyết GTTD.

    Học thuyết GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị – lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị – lao động một cơ sở khoa học thực sự.

    Trước C. Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị – lao động đạt tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.

    Các nhà kinh tế trước C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (quá trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.

    Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến… xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế… Với học thuyết GTTD, C. Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của cái gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.

    Học thuyết GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức lao động. Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra, vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước TBCN. Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản công nghiệp.

     

    Phương thức sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình thái GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.

    Như vậy, điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:

    Thứ nhất, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;

    Thứ hai, GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.

    Thứ ba, chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị.    

    Học thuyết GTTD của C. Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã vấp phải sự phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB. 

    Còn nguyên giá trị trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ

    Ngày nay, CNTB đương đại tuy đã có những bước phát triển mới, có sự điều chỉnh ở mức độ nào đó về chế độ sở hữu, quản lý và phân phối, về kiến trúc thượng tầng, nhất là về hệ thống pháp luật và sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản độc quyền,… để tồn tại và thích nghi với bối cảnh mới. Nhưng học thuyết GTTD của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị, bởi bản chất bóc lột của CNTB vẫn hiện hữu, không hề thay đổi.

    Từ nửa sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin,… đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học.

    Trong thời đại “hậu công nghiệp” hay “xã hội thông tin” ngày nay, lý lẽ đưa ra để bác bỏ lý luận GTTD có vẻ “thuyết phục” hơn. Ở các nước tư bản phát triển, mức sống của đại đa số công nhân được nâng cao hơn trước rất nhiều, một số công nhân đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty tư bản, xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo. Vì thế, nảy sinh luận điệu không còn có sự “phân biệt tư bản và lao động”, “không ai bóc lột ai”, CNTB nếu còn bóc lột thì chỉ bóc lột “người máy”. Vì trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân,…

    Những luận điểm “mới mẻ” ấy quả thật cũng có sự hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được sự thật. Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới, biến đổi về lượng và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi.

    Ngày nay, CNTB tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của CNTB tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế – xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm và luận điểm phản ánh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế – xã hội mới nhất bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra GTTD trong thời đại kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng vậy.

    Tuy nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột GTTD. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật GTTD ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột GTTD tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất GTTD có những đặc điểm mới: 

    Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng GTTD được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn. Hơn nữa, nhà tư bản thông qua sử dụng ồ ạt các thiết bị tự động hóa, đem khoa học  - kỹ thuật hiện đại ứng dụng với quy mô lớn vào sản xuất, đã nâng cao rất nhiều lần năng suất lao động. Vì thế, họ thuê ít công nhân hoặc không thuê công nhân điều khiển máy móc mà vẫn có thể giành được GTTD nhiều hơn. Sự thực đó cũng không thể phủ định lý luận giá trị lao động và nguyên lý cơ bản của lý luận GTTD, tức là giá trị và GTTD đều do lao động sống của người lao động sáng tạo ra, lao động sống là nguồn gốc duy nhất của giá trị và GTTD. Các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ,… kể cả người máy) đều không tạo ra giá trị và GTTD.

    Trong nền kinh tế công nghiệp trước đây đã như thế thì ngày nay, trong điều kiện kinh tế tri thức cũng như vậy. Ai cũng biết, khoa học – kỹ thuật và thiết bị tự động hóa, cùng yếu tố sản xuất khác đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc về TLSX và điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất TBCN. C. Mác chưa bao giờ phủ định “tác dụng quan trọng” của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Khi trình bày sự hình thành giá trị và làm tăng thêm giá trị, C. Mác khẳng định tiền đề của nó là TLSX (nguyên liệu và tư liệu lao động) không thể thiếu của sản xuất GTTD.

    Dù máy móc tự động hóa đã thay thế lao động trực tiếp và một bộ phận lao động trí óc của con người, nhưng không thay thế được địa vị lao động của con người, càng không thể thay đổi địa vị chủ thể của con người trong quá trình sản xuất.

    Do đó, bất cứ lao động nào, dù là lao động giản đơn hay lao động trí tuệ mà không được trả công tương xứng với giá trị mà lao động đó sáng tạo ra (sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết) trong TBCN đều bị bóc lột GTTD.

    Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập trình, nhà khoa học phát minh, sáng chế, nhà quản trị và công nghệ hiện đại), nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp, dẫn đến lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra GTTD. Thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ, nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối lượng GTTD đã tăng lên rất nhiều. 

    Sự điều chỉnh của CNTB độc quyền nhà nước và của CNTB độc quyền nhà nước quốc tế đã làm cho sự bóc lột GTTD mang tính hai mặt: vừa tăng cường, vừa hạn chế. Tăng cường vì có môi trường đầu tư thuận lợi: cung cấp TLSX, chỉ dẫn và định hướng quá trình sản xuất GTTD; điều chỉnh dòng chảy GTTD tư bản hóa,… Hạn chế vì sử dụng các luật lệ, chính sách để điều chỉnh khi sự bóc lột của các công ty tư bản “quá ngưỡng” có thể xảy ra nguy cơ xung đột về chính trị và xã hội. Ngày nay, sự điều tiết phân phối GTTD của các nhà tư bản qua thuế, quỹ phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,… cũng tạo nên một số thu nhập nào đó cho người lao động.

    Sự xuất hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX. Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời gian lao động trong tuần,… dường như là chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

    Nhưng đó là cách nhìn phiến diện, không thấy đằng sau, phía trước sự phát triển ấy là gì. Trước hết phải thấy rằng, CNTB đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này. Tê-ry I-gơ-le-tơn – học giả người Anh đã nhận định: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(1). Lật lại các trang lịch sử của nó là sẽ thấy những gì mà chế độ tư bản đã đối xử với đồng loại của mình. Vì chế độ thực dân xâm lược mà cuối thế kỷ XIX, hàng chục triệu người Ấn Độ, các nước châu Phi, Trung Quốc, Bra-xin, Triều Tiên, Nga, Việt Nam và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán, dịch bệnh. Và ngay trong lòng các nước tư bản giàu có hiện nay, ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp? Nếu khẳng định được thì tại sao ngay tại nước Mỹ hùng mạnh, phát triển, hiện đại, vẫn còn tồn tại các khu nhà ổ chuột của người da đen và người nhập cư?

    Ba là, điểm cần lưu ý, xem xét quan hệ bóc lột của CNTB ngày nay không chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê ở các nước TBCN, mà phải xem xét cả quan hệ thống trị, bóc lột của các nước phát triển với các nước kém và đang phát triển, thể hiện ở sự phân hóa hai cực: giàu, nghèo của thế giới. Bởi vì, sự bóc lột GTTD của CNTB đã mang “tính quốc tế”.

     

    Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này _Ảnh: Tư liệu

    Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, CNTB độc quyền nhà nước quốc tế, thông qua các hình thức, như xuất khẩu tư bản, di chuyển lao động từ nước này sang nước khác, việc bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế, sự xuất hiện cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế, sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo,… khiến cho việc sản xuất GTTD mang tính quốc tế, được tư bản hóa, được xuất khẩu để quốc tế hóa tư bản với sự đa dạng của các hình thức sản xuất ra nó.

    Bốn là, những sự “điều chỉnh” để thích ứng của CNTB tuy có tác động tới sự phát triển, song đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Tích tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng cường bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của C. Mác khi nói rằng đi kèm sự phát triển của CNTB là hiện tượng tăng tư bản bất biến (dùng để mua TLSX) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế “đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của CNTB. Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức phi chính phủ Oxfam được công bố trong bối cảnh các lãnh đạo chính trị và kinh tế thế giới tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra tại Đa-vốt, Thụy Sĩ từ ngày 21-1 đến ngày 25-1-2019, 26 tỷ phú giàu nhất thế giới đang nắm lượng tài sản tương đương tổng tài sản của 3,8 tỷ người nghèo nhất thế giới trong năm 2022. Báo cáo trên còn cho biết, ước tính 1% người giàu nhất thế giới đang nắm giữ 42% tài sản của thế giới; trong khi đó, 99% dân số còn lại chỉ nắm giữ 58% tài sản thế giới(2).

    Hiện nay, trong phạm vi quốc gia, CNTB hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá trình “điều chỉnh” của CNTB tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa các mâu thuẫn hiện tại của nó, CNTB tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này được tiến hành trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,… Vì thế, việc nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ 30%  - 60% thu nhập quốc dân và sử dụng một phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.

    Luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chế độ người bóc lột người trong xã hội tư bản vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Mặc dù đã có sự thay đổi và điều chỉnh, song có thể khẳng định: bản chất bóc lột của CNTB không thay đổi; khi nào những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản còn tồn tại thì khi ấy, học thuyết GTTD vẫn sẽ mãi là ánh sáng chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và loài người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột của CNTB./.

    (1) Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng?, Nxb. Chính trị – Hành chính, Hà Nội, 2012, tr. 40

    (2)  https://vietnam.oxfam.org/pss_release/b% báo-cáo-oxfam-tại-davos-lợi-ích-công-hay-tài-sản-tư

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Rfa Trị Viêm Lộ Tuyến Có Ưu Điểm Gì Nổi Bật?
  • Phương Pháp Kỹ Thuật Rfa Trong Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Hiệu Quả Không?
  • Phương Pháp Rice Và Các Bài Tập Giúp Bạn Phục Hồi Khi Bị Boong Gân
  • Rice – Phương Pháp Sơ Cứu Và Điều Trị Cơ Bản Các Chấn Thương Thể Thao
  • Những Dấu Hiệu Mang Thai Con Trai Chính Xác Đến 99%
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100