Top 4 # Xem Nhiều Nhất So Sánh Giữa Adn Và Protein Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

So Sánh Adn Arn Và Protein Sinh 10 Giống Và Khác Nhau

Sinh học lớp 10 là một môn học khó và vô cùng phức tạp, bởi vì ta phải học nhiều khái niệm hết sức phức tạp. đặc biệt là khái niệm về ARN và Protein, đây là hai khái niệm khó hiểu và khó phân biệt. để giúp bạn hiểu rõ hơn về hai khái niệm này, bài viết sau đây sẽ trình bày rõ về ARN và Protein. Bên cạnh đó, bài viết còn so sánh ARN và Protein để bạn phân biệt hai khái niệm này một cách chính xác hơn.

ARN

Axít ribonucleic viết tắt ARN là một trong hai loại axít nucleic, là cơ sở di truyền ở cấp độ phân tử. Thành phần: Mỗi ARN gồm 3 thành phần : – 1 gốc bazơ nitơ (A, U, G, X) khác ở phân tử ADN là không có T – 1 gốc đường ribolozo, ở ADN có gốc đường đêoxiribôz – 1 gốc axit photphoric Phân loại: – ARN thông tin ( mARN) : đây là ARN có chức năng sao chép thông tin di truyền từ gen cấu trúc đem đến nơi tổng hợp protein được gọi là Riboxom – ARN vận chuyển ( tARN): ARN này có chức năng vận chuyển các acid amin đến riboxom để tổng hợp protein. – ARn riboxom ( rARN): Là thành phần cấu tạo ribôxôm – nơi tổng hợp protein

Protein

Protein còn gọi là chất đạm, là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các đơn phân là axít amin. Chúng kết hợp với nhau thành một mạch dài nhờ các liên kết peptide (gọi là chuỗi polypeptide). Các chuỗi này có thể xoắn cuộn hoặc gấp theo nhiều cách để tạo thành các bậc cấu trúc không gian khác nhau của protein.

Cấu trúc: – Cấu trúc bậc 1: ở cấu trúc này các axit amin nối với nhau bởi liên kết peptit hình thành nên chuỗi polypeptide. Đầu mạch là nhóm amin và cuối mạch là nhóm carboxyl – Cấu trúc bậc 2: là sự sắp xếp các chuỗi polypeptide đều đặn trong không gian. – Cấu trúc bậc 3: ở cấu trúc này các protein có hình dạng lập thể – Cấu trúc bậc 4: cấu trúc này được tạo nên bởi protein có nhiều chuỗi polypeptide phối hợp với nhau Chức năng của Protein: – Cấu trúc, nâng đỡ – Xúc tác sinh học: tăng nhanh, chọn lọc các phản ứng sinh hóa – Điều hòa các hoạt động sinh lý – Vận chuyển các chất – Tham gia vào chức năng vận động của tế bào và cơ thể – Bảo vệ cơ thể chống bệnh tật – Cảm nhận, đáp ứng các kích thích của môi trường – Dự trữ chất dinh dưỡng

So sánh ARN và Protein:

Giống nhau: -Đều được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân -Đều đặc trưng cho loài về thành phần, cấu trúc, số lượng -Đều có khối lượng phân tử lớn -Thành phần đều có các nguyên tố C, H, O, N Khác nhau:

So Sánh Adn Arn Và Protein Giống Nhau Khác Nhau Ở Điểm Nào

So sánh ADN ARN và Protein giống nhau khác nhau ở điểm nào

So sánh ADN ARN và Protein giống nhau khác nhau ở điểm nào. Bài viết cung cấp thông tin hữu ích giúp bạn đọc có thể hiểu được như thế nào là ADN, ARN và Protein. Biết thông tin hữu ích sẽ giúp bạn đọc có được suy nghĩ khách quan hơn về cấu tạo và chức năng của từng bộ phận trên cơ thể.

ADN ARN và Protein giống nhau như thế nào?

ADN ARN và Protein có các điểm giống như như sau:

+ Được cấu tạo là các đơn phân theo nguyên tắc đa phân.

+ Đều có kích thước và khối lượng lớn, đều tham gia vào quá trình hình thành tính trạng.

+ Có cấu trúc dạng mạch xoắn.

+ Cả ADN ARN và Protein đều có liên kết hóa học giữa các đơn phân.

+ Các đơn phân đều có đặc trưng sắp xếp, có thành phần và số lượng nhất định.

+ ADN ARN và Protein đều là thành phần hóa học cấu tạo nên nhiễm sắc thể.

Đọc bài viết hữu ích: Đừng chủ quan với bệnh tan máu huyết tán Thalassemia

So sánh ADN ARN và Protein có những điểm khác nhau như thế nào

Nếu nói về điểm khác nhau, chúng ta nên phân biệt cả về cấu trúc và chức năng của ADN, ARN và Protein để hiểu rõ hơn về bản chất của chúng:

#1 Cấu tạo và chức năng của ADN

ADN được cấu tạo từ các nguyên tử C, H, O, N, P, đều có kích thước và khối lượng lớn, được tạo thành từ các nucleotit đơn phân. Có 4 loại nucleotit cấu tạo AND là A, T, G, X, gồm có 2 mạch xoắn song song với nhau.

ADN có liên kết H giữa các mạch đơn và liên kết Đ-P giữa các nucleotit. Chức năng của ADN chính là nơi lưu giữ thông tin di truyền.

#2 Cấu tạo và chức năng của ARN

ARN cũng được cấu tạo từ các nguyên tử C, H, O, N, P nhưng chúng có kích thước và khối lượng nhỏ hơn phân tử ADN. Đơn phân của ARN cũng là các nucleotit nhưng được cấu tạo từ 4 loại A, U, G, X, cấu trúc ARN chỉ gồm 1 mạch xoắn, không có liên kết H và có liên kết Đ-P giữa các nucleotit. Chức năng của ARN là bản sao của gen, mang thông tin quy định của Protein tương ứng.

#3 Cấu trúc và chức năng của Protein

Protein được cấu tạo từ nguyên tố C, H, O, N và có kích thước và khối lượng nhỏ hơn cả ADN và ARN. Đơn phân của Protein là các axit amin, gồm 20 aa và 4 bậc cấu trúc. Đồng thời, Protein cũng tồn tại liên kết peptit giữa các axit amin.

Chức năng của Protein trong cơ thể chính là cùng với môi trường biểu hiện thành tính trạng.

Thực hiện giám định ADN – Việc làm cần thiết và khoa học

Hiện nay, việc giám định ADN đã trở nên quen thuộc với đa số người thân. Trình độ khoa học cùng y học phát triển kèm theo đó sự hiểu biết và ý thức của người dân cũng tăng theo. Nếu như trước đây, giám định ADN được xem là phiền phức và tốn kém thì hiện nay, đây là một xét nghiệm gần gũi với mỗi người và hầu như chúng ta đều có thể đi làm giám định này khi có nhu cầu, khi được bác sĩ khuyên bảo.

Giám định ADN mang đến các lợi ích:

+ Giám định được các mối quan hệ huyết thống như cha con, mẹ con, ông bà và cháu, anh chị em ruột, chú bác và cháu trai,…..Các mẫu vật dùng giám định có thể là mẫu tóc có cả phần chân tóc, móng tay chân, mẫu máu, tế bào niêm mạc miệng,…..Việc giám định ADN huyết thống có thể phát hiện được chính xác đến 99,99% các mối quan hệ huyết thống, đồng thời giúp nhiều gia đình tìm lại hài cốt liệt sĩ, giúp phá án điều tra xác định danh tính tội phạm,….

+ Thực hiện xét nghiệm ADN còn có thể phát hiện được cha đứa bé ngay khi chưa chào đời bằng phương án sàng lọc trước sinh. Phương pháp này chỉ lấy 7-10ml máu tĩnh mạch người mẹ, lấy mẫu vật của người nghi ngờ là cha đứa bé là có thể xác định được mối quan hệ huyết thống. Phương pháp sàng lọc trước sinh có thể làm giấy khai sinh cho con trong các trường hợp đặc biệt.

So Sánh Adn Và Arn, Mối Liên Hệ Giữa Adn, Arn Trong Sự Sống

ADN và ARN có những điểm tương đồng về cấu tạo, khác nhau về cấu trúc, chức năng và quá trình hình thành.

Giống nhau

ADN và ARN đều là các axit hữu cơ, được cấu tạo bởi 5 nguyên tố hóa học là: C, H, O, N, P, có khối lượng và kích thước vô cùng lớn. Trong cấu tạo giống nhau gồm các đơn phân nucleotit: A, G, X liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị. So sánh ADN và ARN nhận thấy 2 đại phân tử này đều có cấu trúc xoắn, xảy ra trong nhân tế bào, tại các NST ở kì trung gian.

Khác nhau

Các nhà khoa học sau khi so sánh phân tử ADN và ARN đã tìm ra những điểm khác nhau về cấu trúc và chức năng của chúng, cụ thể như sau:

Cấu trúc

Theo Watson và Crick nghiên cứu năm 1953, ADN gồm 2 mạch polynucleotit dạng xoắn và nằm ngược chiều nhau, gồm 4 đơn phân chính là A, T, G, X. Đường kính vòng xoắn là 20A với chiều dài vòng xoắn là 34A bao gồm các cặp nucleotit cách nhau 3,4A. ADN là cấu trúc trong nhân, các mạch liên kết theo quy tắc bổ sung A với T, G liên kết với X.

ARN chỉ gồm một mạch polynucleotit, mạch này thẳng hay xoắn với số lượng ít hơn ADN lên đến hàng nghìn đơn phân. 4 đơn phân chính cấu thành ARN là:A, U, G, X; liên kết với nhau tại các điểm xoắn, A liên kết với U, G với X. ARN được chia làm 3 loại là mARN, tARN và rARN. Sau khi được tổng hợp trong nhân, các ARN sẽ ra khỏi nhân để thực hiện các chức năng.

Chức năng

ADN là đại phân tử có tính đa dạng và đặc thù, chính sự đa dạng và đặc thù này là cơ sở để hình thành nên sự khác biệt giữa các loài sinh vật. ADN có khả năng bảo quản, lưu giữ và truyền đại các thông tin di truyền trong mỗi loài sinh vật. Khi ADN bị đột biến sẽ làm cho kiểu hình sinh vật thay đổi.

ARN có chức năng truyền đạt các thông tin di truyền đến ADN, chức năng truyền đại này do mARN thực hiện. Các axit amin sẽ được ARN vận chuyển đến nơi tổng hợp protein và tiến hành dịch mã. Dịch mã xong, các mARN biến mất, vì vậy nó không làm ảnh hưởng đến tính trạng biểu hiện ra kiểu hình của sinh vật.

So sánh ADN và ARN trong quá trình tổng hợp

Quá trình nhân đôi ADN ở kì trung gian tại nhiễm sắc thể trong nhân tế bào. Phân tử ADN sẽ tiến hành tháo xoắn cả 2 mạch, 2 mạch này được sử dụng làm khuôn mẫu để hình thành các ADN con. Sau khi hình thành, các mạch mới và mạch khuôn mẫu sẽ xoắn lại, các ADN con nằm trong nhân tế bào. Trong quá trình hình thành, enzim polymeraza tham gia và tạo nên 2 ADN con.

Tổng hợp ARN diễn ra ở kì trung gian, trong nhân tế bào và tại nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, chỉ có một đoạn của phân tử ARN ứng với 1 gen thực hiện tháo xoắn. Sau khi tổng hợp, ARN sẽ tách khỏi gen, rời khỏi nhân tế bào và tham gia quá trình tổng hợp protein. Hệ enzim tham gia tổng hợp là enzim polimeraza.

Tổng hợp tất cả sự khác nhau giữa 2 đại phân tử này là câu trả lời cho câu hỏi “tại sao ADN có vai trò mã hóa sự sống mà không phải ARN”. Theo như nghiên cứu năm 1959 của Hoogsteen cho thấy ADN có sự biến đổi linh hoạt về cấu trúc phân tử.

Cụ thể là khi có protein gắn vào ADN hay có sự tổn thương về mặt hóa học từ các nucleotit thì ADN có khả năng tự sửa chữa và quay về liên kết ban đầu, các ADN có thể chịu và khắc phục được tổn thương hóa học, còn ARN lại cứng và tách ra bên ngoài. Vì vậy, ADN đảm nhận tốt vai trò truyền đạt các thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mối quan hệ giữa ADN và ARN

Thông qua việc so sánh ADN và ARN, người ta tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa 2 phân tử này quy định nên tính trạng của cơ thể sống.

ADN là khuôn mẫu để hình thành lên mARN, từ đó quy định ra cấu trúc của protein trong cơ thể, protein chịu các tác động từ môi trường biểu hiện ra các tính trạng.

ADN chứa nhiều gen cấu trúc, mỗi một gen cấu trúc lại mang thông tin khác nhau nên có thể hình thành lên nhiều kiểu mARN.

Trình tự sắp xếp các nucleotit trong ADN sẽ quy định trình tự sắp xếp các nucleotit trên mARN theo nguyên tắc bổ sung: A liên kết U, T liên kết với A, X liên kết với G và G liên kết với X.

Protein Hình Cầu So Với Protein Sợi

Nội Dung:

Nội dung: Sự khác biệt giữa Protein hình cầu và Protein sợi

Sự khác biệt chính

Biểu đồ so sánh

Protein hình cầu

Protein sợi

Sự khác biệt chính

Sự khác biệt chính

Loại protein được tìm thấy phổ biến nhất xung quanh và có tính chất hình cầu và dễ tan trong nước, không giống như các loại protein khác được gọi là protein hình cầu. Loại protein chỉ được tìm thấy ở động vật và có hình dạng giống hình que có thể trông giống như một sợi dây bị thương xung quanh cấu trúc trở thành protein dạng sợi.

Biểu đồ so sánh

Nền tảngProtein hình cầuProtein sợiĐịnh nghĩaLoại protein được tìm thấy phổ biến nhất xung quanh và có tính chất hình cầu và dễ dàng hòa tan trong nước, không giống như các loại khác.Loại protein chỉ được tìm thấy ở động vật và có hình dạng giống hình que có thể trông giống như một sợi dây bị thương xung quanh một cấu trúc.Phân biệtTên khác được sử dụng cho các loại protein như vậy bao gồm các spheroprotein vì chúng có hình dạng hình cầu và phong phú nhất cùng với các protein sợi, màng và rối loạn.Một tên khác được sử dụng cho các loại như vậy bao gồm các scleroprotein và chủ yếu được sử dụng làm protein lưu trữ trở nên hữu ích bất cứ khi nào thiếu dinh dưỡng như vậy trong cơ thể.Thiên nhiênKhông tan trong nước.Hòa tan trong nước, axit và bazơ.Thí dụLụa, len, và da.Trứng, sữa và những thứ khác.

Protein hình cầu

Loại protein được tìm thấy phổ biến nhất xung quanh và có tính chất hình cầu và dễ tan trong nước, không giống như các loại protein khác được gọi là protein hình cầu. Tên khác được sử dụng cho các loại protein như vậy bao gồm các spheroprotein vì chúng có hình dạng hình cầu và phong phú nhất cùng với các protein sợi, màng và rối loạn. Như trong tất cả các protein, cấu trúc thiết yếu của protein hình cầu bao gồm một polypeptide hoặc chuỗi axit amin được nối bằng các liên kết peptide. Liên kết hydro giữa các tập hợp carboxyl và amin của các axit amin thêm vào cấu trúc hỗ trợ, trong protein hình cầu có thể kết hợp các chuỗi xoắn alpha, tấm beta hoặc cả hai.

Các protein hình cầu bị sụp đổ đến mức cấu trúc bậc ba của chúng bao gồm các axit amin phân cực, hoặc ưa nước, được bố trí ở bên ngoài và các axit amin không phân cực, hoặc kỵ nước trong hình dạng ba chiều. Kế hoạch trò chơi này giám sát khả năng thanh toán của protein hình cầu trong nước. Protein hình cầu chỉ có thể ổn định vì sức sống tự do thải ra khi protein sụp đổ vào sự tuân thủ tại địa phương của nó là rất ít. Điều này là do sự sụp đổ protein đòi hỏi một chi phí entropic. Là một sự kế thừa thiết yếu của chuỗi polypeptide có thể định hình các sự thích nghi khác nhau, cấu trúc hình cầu cục bộ giới hạn sự tuân thủ của nó đối với một vài như vậy. Một phần của vấn đề sụp đổ protein là rất ít kết nối không cộng hóa trị, yếu ớt được đóng khung, ví dụ, liên kết hydro và hiệp hội Van der Waals. Sử dụng một vài hệ thống, thành phần của sự sụp đổ protein hiện đang được xem xét. Thật vậy, ngay cả trong trạng thái biến tính protein protein, nó có thể được thu gọn vào cấu trúc bên phải.

Protein sợi

Loại protein chỉ được tìm thấy ở động vật và có hình dạng giống hình que có thể trông giống như một sợi dây bị thương xung quanh cấu trúc được gọi là protein dạng sợi. Một tên khác được sử dụng cho các loại như vậy bao gồm các scleroprotein và chủ yếu được sử dụng làm protein lưu trữ trở nên hữu ích bất cứ khi nào thiếu dinh dưỡng như vậy trong cơ thể. Protein chuỗi, còn được gọi là scleroprotein, là các nguyên tử protein dạng sợi dài. Các chuỗi protein khung hình cực cực hay các dây có hình dạng giống như dây và là các protein phụ trợ hoặc tiềm năng. Chúng không tan trong nước. Protein Sinewy thường được sử dụng để xây dựng các mô liên kết, dây chằng, xương và sợi cơ.

Protein sợi là một protein có hình dạng kéo dài. Protein chuỗi cung cấp hỗ trợ phụ trợ cho các tế bào và mô. Có nhiều loại xoắn ốc đặc biệt có trong hai loại protein sợi α-keratin và collagen. Những protein này đóng khung các sợi dài phục vụ một phần cơ bản của cơ thể con người. Các protein Sinewy được công nhận bởi các protein hình cầu bởi khung dài, hình sợi của chúng. Ngoài ra, các protein chuỗi có khả năng hòa tan thấp trong nước tương phản và khả năng thanh toán cao trong nước của protein hình cầu.

Một phần đáng kể trong số chúng giả định các bộ phận thiết yếu trong các tế bào và mô sinh vật, giữ mọi thứ lại với nhau. Các protein Sinewy có các thành công ăn mòn amino hỗ trợ một loại cấu trúc tùy chọn cụ thể, như thế này, thể hiện các tính chất cơ học cụ thể của các protein. Tóc người cho một trường hợp hợp lý về cách thức các protein hình sin có khả năng chính. Protein nguyên tắc trong tóc được gọi là alpha-keratin. Mặc dù vẫn chưa rõ làm thế nào các protein tăng lên nói chung, xác nhận mới đã thúc đẩy sự hiểu biết.

Sự khác biệt chính

Loại protein được tìm thấy phổ biến nhất xung quanh và có tính chất hình cầu và dễ tan trong nước, không giống như các loại protein khác được gọi là protein hình cầu. Lớp protein chỉ được tìm thấy ở động vật và có hình dạng giống hình que có thể trông giống như một sợi dây bị thương xung quanh cấu trúc được gọi là protein dạng sợi.

Tên khác được sử dụng cho các loại protein như vậy bao gồm các spheroprotein vì chúng có hình dạng hình cầu và phong phú nhất cùng với các protein sợi, màng và rối loạn.

Một tên khác được sử dụng cho các loại như vậy bao gồm các scleroprotein và chủ yếu được sử dụng làm protein lưu trữ trở nên hữu ích mỗi khi thiếu dinh dưỡng như vậy trong cơ thể.

Các protein sợi không có đặc tính hòa tan trong nước và do đó không hòa tan. Mặt khác, các protein hình cầu không hòa tan trong nước và thậm chí cả axit và bazơ.

Lực hấp dẫn tồn tại giữa các phân tử đối với protein dạng sợi vẫn mạnh hơn nhiều. Mặt khác, sức mạnh của sự hấp dẫn tồn tại giữa các protein hình cầu có liên kết hydro yếu.

Loại protein sợi chính bao gồm lụa, len và da. Mặt khác, các loại protein hình cầu chính bao gồm trứng, sữa và các loại khác.