So Sánh Mô Hình Quản Lý Công Mới (Hành Chính Phát Triển) Với Mô Hình Hành Chính Truyền Thống

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Hộ Chiếu Và Visa
  • Phân Biệt Hộ Chiếu Và Visa
  • Đặc Điểm Mạng Máy Tính Intranet Và Mạng Extranet
  • Intranet Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Intranet, Internet Và Extranet?
  • So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén
  • Ngày đăng: 10/05/2014 02:44

    Hành chính công là khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệu quả những công việc xã hội của các tổ chức hành chính Nhà nước. Kể từ khi khoa học Hành chính công ra đời đã có nhiều mô hình lý thuyết khác nhau với các bước phát triển thăng trầm. Trong những năm gần đây (thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX) rất nhiều nước trên thế giới đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điều hành sự phát triển của đất nước, đặc biệt một số nước như Anh, Mỹ. Những nước này đã đưa ra mô hình Quản lý công mới (Hành chính phát triển) thay thế cho mô hình Hành chính công truyền thống. Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế của thế giới. Để hội nhập thành công, ngoài sự quyết tâm về mặt chính trị, Việt Nam cần phải tự xây dựng mô hình quản lý có hiệu quả. Ở Việt Nam, khoa học hành chính ra đời và phát triển rất muộn, lại phải chịu sự tác động trực tiếp của Chính trị, chính vì vậy tính độc lập của khoa học hành chính mờ nhạt. Chúng ta thực sự chưa có một mô hình hành chính công. Trong phạm vi bài viết này, với phương pháp hành chính so sánh, tác giả trình bày một cách hệ thống hai mô hình hành chính phổ biến trên thế giới hiện nay.

    Trong điều kiện kính tế – xã hội phát triển nhanh chóng như ngày nay, khi nền hành chính nhà nước có sự phát triển theo xu hướng tiến bộ tích cực (chuyển từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ): trong khoa học hành chính đã xuất hiện thuật ngữ “hành chính phát triển”. Từ đó, thuật ngữ “hành chính truyền thống” cũng được quan tâm, nghiên cứu trong mối tương quan với “Hành chính phát triển”

    Hành chính truyền thống được hiểu là cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc các kiểu nhà nước trong lịch sử, cũng như các cơ quan, tổ chức khác, trên cơ sở những nguyên tắc, quy tắc nhất định (bao gồm cả nguyên tắc chính trị – xã hội và nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật) do nhà nước hoặc các chủ thể đặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị”, phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biện pháp tối ưu mà ít quan tâm đến kết quả hoạt động của nhà nước, của các cơ quan, tổ chức hay của công chức nhà nước.

    Hành chính phát triển (Quản lý công mới) thường được sử dụng khi nói đến “Mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”

    Chuyển đổi từ Hành chính công truyền thống sang Quản lý công (Hành chính phát triển) là xu hướng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là những nước kinh tế thi trường phát triển. Vì sao lại vậy ? Nguyên nhân là: Thứ nhất: Về quy mô của Chính phủ, nhiều quốc gia cho rằng bộ máy của Chính phủ quá lớn, chi phí cho việc duy trì bộ máy đó ngày càng tăng trong khi đó hiêu quả hoạt động của nó ngày càng giảm đi. Do đó cần phải xem xét lại quy mô và vai trò của Chính phủ. Theo quan điểm mới, vai trò của Chính phủ chuyển từ “chèo thuyền” sang “lái thuyền”. Nhà nước không nên ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà nên dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Thứ hai, chất lượng dịch vụ công chất lượng thấp, loại hình kém đa dạng, phong phú giá cả lại cao hơn khu vực tư . Mặt khác, về bối cảnh và xu hướng thời đại tác động đến mô hình hành chính công truyền thống dẫn đến sự xuất hiện mô hình hành chính phát triển. Đó là: Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đòi hỏi sự điều chỉnh kinh tế và phát triển nền hành chính; sự phát triển nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế và do đó ảnh hưởng đến nền hành chính công của mỗi nước trong quá trình hội nhập. Xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội do trình độ dân trí được nâng cao; tình thế chung buộc Nhà nước phải một mặt xã hội hoá, tư nhân hoá, chấp nhận sự tham gia của công chúng vào công việc quản lý nhà nước, đồng thời phải can thiệp ngày càng sâu vào các quá trình kinh tế – xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người dân – những “khách hàng” của nền hành chính..

    Như vậy về bản chất, hành chính truyền thống và hành chính phát triển đều là đối tượng nghiên cứu của khoa học hành chính công được xây dựng bởi một hệ thống các khái niệm, hệ thống lý thuyết hành chính công với nhiều cách tiếp cận khác nhau . Sự khác nhau cơ bản ở đây là “mô hình”, mỗi “mô hình” có những thế mạnh và phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của các quốc gia. Đi sâu vào nghiên cứu hai “mô hình” dựa trên một số tiêu thức chúng ta nhận thấy những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

    So sánh tiêu thức mục tiêu: hành chính công truyền thống; bảo đảm đúng chu trình, đúng quy tắc, thủ tục hành chính (đầu vào). Đánh giá việc quản lý hành chính thông qua xem xét mức độ thực thi các quy tắc, thủ tục hành chính. Trong khi đó, mục tiêu của hành chính phát triển là: Bảo đảm kết qua tốt nhất, hiệu quả cao nhất (đầu ra); dùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả quản lý hành chính.

    Đối với công chức của hành chính công truyền thống: trách nhiệm của người công chức; nhà quản lý là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ tục. Những quy định, điều kiện để công chức thực thi công vụ theo một hệ thống thứ bậc rất chặt chẽ, cứng nhắc theo quy định. Thời gian làm việc của công chức được quy định chặt chẽ, có thời gian công (làm việc ở cơ quan) và thời gian tư (thời gian không làm việc ở cơ quan). Công chức mang tính trung lập, không tham gia chính trị, thực hiện một cách trung lập các chính sách do các nhà chính trị đề ra. Trong khi đó, đối với công chức của hành chính phát triển: Trách nhiệm của người công chức, nhà quản lý chủ yếu là bảo đảm thực hiện mục đích, đạt kết quả tốt, hiệu quả cao. Những quy định, điều kiện để công chức thực thi nhiệm vụ có hình thức linh hoạt, mềm dẻo hơn. Thời gian làm việc linh hoạt hơn, có thể họ làm việc trong một thời gian nhất định, có thể làm chính thức hoặc hợp đồng (có một phần thời gian làm công vụ tại nhà). Công chức cam kết về mặt chính trị cao hơn trong các hoạt động của mình, các hoạt động hành chính mang tính chính trị nhiều hơn.

    Đối với Chính phủ của hành chính công truyền thống: Mọi công vụ được Chính phủ thực thi, giải quyết theo pháp luật quy định. Chức năng của Chính phủ nặng về hành chính xã hội, trực tiếp tham gia các công việc công ích xã hội. Chức năng của Chính phủ thuần tuý mang tính hành chính không trực tiếp liên hệ đến thị trường. Trong khi đó, đối với Chính phủ của hành chính phát triển: Các công vụ mang tính chính trị nhiều hơn, ảnh hưởng của chính trị ngày càng lớn trong hành chính. Chức năng tham gia trực tiếp các dịch vụ công cộng ngày càng giảm bớt mà thông qua việc xã hội hoá các dịch vụ đó để quản lý xã hội, nhưng vẫn có sự quản lý của Nhà nước. Chức năng của Chính phủ đối mặt với những thách thức của thi trường. Nền hành chính phát triển của các nước đều phải quan tâm và gánh vác nghĩa vụ chung đối với những vấn đề của loài người như nghèo đói, dịch bệnh, môi truờng, ma tuý, tội phạm…..

    Nói tóm lại, Quản lý công mới (Hành chính phát triển) có cách tiếp cận mới đối với hành chính công truyền thống. Sự xuất hiện của mô hình này đã làm cho cách thức hoạt động của khu vực công có nhiều thay đổi đáng kể. Với các đặc tính của mô hình mới: hiệu quả hoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường, gắn bó với chính trị, tư nhân hoá một phần hoạt động của Nhà nước, vận dụng nhiều phương pháp quản lý doanh nghiệp, xu hướng quốc tế hoá ; mô hình hành chính phát triển xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém không phù hợp của mô hình hành chính truyền thống . Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thức của thị trường trong nước và thị trường thế giới. Vận dụng những nhân tố hợp lý của mô hình Quản lý công mới (Hành chính phát triển) để xây dựng một mô hình mang tính đặc sắc Việt Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh tế đang là câu hỏi đặt ra đối với các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học hành chính ./.

    Th.s Thái Xuân Sang – Gv Khoa Quản lý Nhà nước

    Theo: http://truongchinhtrina.gov.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Thì Hiện Tại Đơn Và Thì Hiện Tại Tiếp Diễn
  • Di Truyền Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Thủ Thuật Kiểm Tra Sai Lệch Dữ Liệu Trong Bảng Dữ Liệu Lớn Của Excel
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao
  • So Sánh Giữa Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Và Quản Lý Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Hộ Chiếu Và Visa Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt Passport Và Visa
  • Ưu Nhược Điểm Của Hệ Thống Điều Khiển Khí Nén
  • Hệ Thống Phanh Thủy Lực Và Phanh Khí Nén Trên Ô Tô Cái Nào Tốt
  • Sự Khác Nhau Giữa Fdi Và Oda 2022
  • Xuất phát từ khaí niệm quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước , ta thấy giữa 2 hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng ( tức là quan lý nhà nước chỉ trong lĩnh vực hành pháp đó là hoạt động chỉ đạo thực hiện pháp luật gọi là quản lý hành chính nhà nước). Có những điểm riêng sau:

    Tư vấn hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp

    Quản lý nhà nước

    Quản lý hành chính nhà nước

    * Khái niệm : rộng hơn

    Quản lý nhà nước = chỉ đạo hoạt động

    + lập pháp

    + Hành pháp

    + Tư pháp

    Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.

    * Chủ thể:

    – Nhà nước và các cơ quan nhà nước .

    – các tổ chức xã hội và cá nhân được trao quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước .

    * Khách thể :

    Trật tự quản lý nhà nước mới được xác định bởi quy phạm pháp luật.

    * Khái niệm : Hẹp hơn .

    Quản lý hành chính nhà nước= hoạt động chỉ đạo pháp luật ( hành pháp)

    Bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh

    nghị quyết, của cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan dân chủ)

    * chủ thể:

    – cơ quan hành chính nhà nước .

    – cán bộ nhà nước có thẩm quyền .

    *Khách thể :

    Đảm bảo hoạt động chấp hành, điều hành trên cơ sở pháp luật để chỉ đạo thực hiện pháp luật.

    *Tóm lại: Hoạt động quản lý hành chính nhà nước (tức là hoạt động hành pháp bằng chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật trên cơ sở pháp luật) là một hoạt động rộng lớn thường xuyên quan trọng trong quản lý nhà nước nhưng nằm trong khuôn khổ của nhà nước .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Sinh 12 Tiết 11: Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • So Sánh Cấu Trúc Tế Bào Prokaryote Và Eukaryote
  • Tìm Hiểu Về Sinh Vật Nhân Sơ Và Sinh Vật Nhân Chuẩn
  • Áo Sườn (Xường) Xám: Sức Hấp Dẫn “khó Cưỡng” Từ Trang Phục Truyền Thống
  • Phân Biệt Áo Dài Cách Tân Và Sườn Xám Cách Tân
  • So Sánh Và Phân Biệt Giữa Quản Lý Công Truyền Thống Với Quản Lý Công Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Intranet, Internet Và Extranet
  • Sự Khác Biệt Giữa Internet Intranet Và Extranet (Công Nghệ)
  • So Sánh Người Dùng Intranet Và Extranet
  • Tìm Hiểu Ưu Và Nhược Điểm So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén
  • So Sánh Giống Và Khác Nhau Giữa Khí Nén Và Thủy Lực
  • Bài viết này nhằm so sánh và phân biệt giữa Quản lý công truyền thống và Quản lý công mới, qua đó chỉ ra rằng Quản lý công mới là mô hình quản lý có thể khắc phục được nhiều hạn chế, yếu kém của phương thức Quản lý công truyền thống, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành trong lĩnh vực công.

    Hành chính công và Quản lý công

    Thuật ngữ ‘hành chính’ (administration) có nghĩa hẹp hơn so với thuật ngữ ‘quản lý’ (management). Trong lĩnh vực công, ‘hành chính công’ (public administration) và ‘quản lý công’ (public management) cũng có ý nghĩa khác nhau. Hành chính công đề cập đến thủ tục, quy trình để thực hiện chính sách đã được hoạch định bởi người khác thành hành động cụ thể trong thực tế quản lý, điều hành. Trong khi đó quản lý công được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ngoài việc bao gồm quy trình, thủ tục hành chính, quản lý công còn liên hệ tới việc xác định ai, tổ chức nào sẽ thực hiện và chịu trách nhiệm về việc đảm bảo đạt được mục tiêu, kết quả mà nhà hoạch định chính sách đã đề ra. Vì vậy, sự thay đổi từ ‘hành chính công’ sang ‘quản lý công’ được coi là sự thay đổi lớn về học thuyết và thực tế trong việc quản lý đối với lĩnh vực công. Ngày nay, thuật ngữ Quản lý công được sử dụng phổ biến, ngược lại Hành chính công ít được sử dụng hơn. Hành chính công cũng được dùng để chỉ Quản lý công truyền thống phát triển trong thể kỷ 20 đối lập với Quản lý công mới nỗi lên từ cuối những năm 1980.

    Quản lý công truyền thống (traditional public management)

    Hành chính công là khái niệm đã có từ thời xa xưa, song hành cùng với sự tồn tại của Nhà nước. Mặc dù hệ thống hành chính đã có từ lâu đời, nhưng mô hình truyền thống của hành chính công, còn gọi là quản lý công truyền thống chỉ thực sự được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19.

    Trong số nhiều học giả, Weber được xem là học giả có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hình thành và phát triển của Quản lý công truyền thống. Weber lập luận rằng có ba loại quyền lực khác nhau. Loại thứ nhất là quyền lực có được từ sự lôi cuốn, thuyết phục của các cá nhân đặc biệt như các vị vua, chúa. Loại thứ hai là quyền lực mang tính truyền thống như quyền lực của các tù trưởng, tộc trưởng, người đứng đầu các bộ lạc. Loại cuối cùng là quyền lực có được do pháp luật quy định. Trong ba loại truyền lực trên, Weber cho rằng quyền lực do pháp luật quy định là quan trọng nhất. Dựa trên loại quyền lực này, Weber thiết lập sáu nguyên tắc cơ bản của học thuyết quan liêu, nền tảng của phương thức quản lý công truyền thống.

    Nguyên tắc thứ nhất là quyền lực phải được hình thành bởi các quy định của pháp luật, ngoài ra không còn loại quyền nào khác có thể bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Từ nguyên tắc này, Weber hình thành nên nguyên tắc thứ hai, cũng là nguyên tắc phổ biến nhất, được gọi là nguyên tắc thứ bậc trong quản lý. Nguyên tắc này yêu cầu quyền lực phải được thiết lập và duy trì trong tổ chức theo một hệ thống thứ bậc nhất định. Thẩm quyền, quyền lực không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân nào trong tổ chức mà phụ thuộc vào vị trí, cấp bậc mà cá nhân nắm giữ trong hệ thống thứ bậc của tổ chức. Nguyên tắc thứ ba chỉ ra rằng tài liệu thành văn là nguồn hết sức quan trọng để đảm bảo hiệu quả quản lý và tính vô tư của nền hành chính, lập luận rằng các quy định của luật chỉ được áp dụng một cách thống nhất cho mọi trường hợp khi nó được viết và lưu trữ thành văn. Nguyên tắc thứ tư nhấn mạnh hành chính là một nghề đặc biệt, có được thông qua đào tạo nên không phải ai cũng có thể làm được. Nguyên tắc thứ năm yêu cầu hành chính phải là công việc được làm trọn thời gian, thay vì bán thời gian như trước đó. Nguyên tắc cuối cùng của Weber chỉ ra rằng quản lý công là công việc có thể được học, bởi vì nó tuân thủ theo những quy tắc chung nhất định. Những quy tắc này có thể được thực hiện theo cùng một cách bởi bất kỳ người nào nắm giữ một vị trí, công việc nhất định trong tổ chức.

    Điểm khác biệt căn bản và quan trọng nhất của quản lý công truyền thống so với các mô hình hành chính trước đó là sự thay thế của nền hành chính tồn tại dựa trên sự tin tưởng, trung thành đối với cá nhân bằng nền hành chính tồn tại dựa trên các quy định của pháp luật. Sự tồn tại của các quy định thành văn thực sự đã đóng góp quan trọng trong việc đảm bảo luật được áp dụng như nhau cho mọi người trong mọi tình huống, không phân biệt người đó là ai, làm gì. Sự bình đẳng trong xã hội nhờ vậy được củng cố. Thêm vào đó, các nguyên tắc của Weber còn góp phần quan trọng trong việc ổn định nền hành chính, bởi vì hệ thống tổ chức và các quy định của nó không lệ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào trong tổ chức, không bị mất đi khi bất cứ cá nhân nào, dù người đó là ai, rời khỏi tổ chức.

    Quản lý công truyền thống vì vậy được áp dụng rộng rãi bởi nhiều quốc gia trên thế giới và trên thực tế đã đạt được rất nhiều thành công trong suốt thời kỳ phát triển công nghiệp hóa. Tuy nhiên, từ cuối những năm 1970, các hạn chế, khuyết điểm của mô hình quản lý này dần bộc lộ, châm ngòi cho cuộc cải cách mạnh mẽ về phương thức quản lý trong lĩnh vực công ở nhiều nước phương Tây từ đầu những năm 1980.

    Từ Quản lý công truyền thống đến Quản lý công mới

    Hai học giả nổi tiếng người Mỹ là Osborne và Gaebler nói rằng, thuyết quan liêu của quản lý công truyền thống được hình thành và phát triển trong các điều kiện xã hội khác rất xa so với những gì mà chúng ta chứng kiến hôm nay. Chúng ta sống trong kỷ nguyên của sự thay đổi kỳ diệu, trong thời kỳ toàn cầu hóa với rất nhiều áp lực cạnh tranh đặt lên vai các tổ chức kinh tế, trong xã hội thông tin mà người lao động ở cấp thấp có thể tiếp cận được thông tin nhanh như các nhà lãnh đạo, trong xã hội mà nhu cầu của con người trở nên đa dạng, phong phú thay vì giống nhau như trước.

    Các nguyên tắc của quản lý công truyền thống bị cho là quá cứng nhắc, thiếu linh hoạt, là mầm mống tạo ra những kẻ xu thời, cơ hội thay vì khuyến khích những người năng động, sáng tạo. Nó cũng làm cho những người làm trong lĩnh vực công trở nên ì ạch, ngại thay đổi, sợ va chạm, không thích mạo hiểm và lãng phí các nguồn lực thay vì sử dụng chúng một cách hiệu quả. Bộ máy nhà nước do vậy chứa đựng quá nhiều người dư thừa, những người không làm được việc, nhưng cũng không thể cho nghỉ. Sự thăng tiến trong tổ chức theo hệ thống thứ bậc thường được xem xét dựa trên thâm niên công tác hơn là năng lực cá nhân. Điều này làm cho lĩnh vực công thiếu hấp dẫn đối với những người trẻ và những người thực sự có năng lực.

    Vì vậy, nhiều cuộc tấn công mạnh mẽ về quy mô và sự yếu kém trong việc quản lý đối với khu vực công bắt đầu diễn ra từ đầu những năm 1980. Kết quả của nó là mô hình mới của quản lý công được hình thành và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia từ cuối những năm 1980. Mô hình này có nhiều tên gọi khác nhau, thông thường được gọi là Quản lý công mới được đặt bởi Hood, học giả người Anh, để phân biệt với Quản lý công truyền thống.

    So sánh Quản lý công truyền thống và Quản lý công mới

    Quản lý công truyền thống và quản lý công mới có những cách tiếp cận khác nhau về phương thức quản lý, nên không khó để chỉ ra sự đối lập và những điểm khác biệt giữa hai mô hình quản lý này. Trong khi quản lý công truyền thống cho rằng lĩnh vực công và tư là hoàn toàn khác nhau, quản lý công mới phản đối sự phân biệt này, đồng thời thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các thành phần, khuyến khích các tổ chức công, tổ chức tư và các tổ chức phi lợi nhuận cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội. Quản lý công mới đo lường hiệu quả quản lý, chú trọng đến đầu ra thay vì đầu vào của công việc. So với quản lý công truyền thống, quản lý công mới đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, khuyến khích các cơ quan trong lĩnh vực công kiếm tiền thay vì chỉ biết tiêu tiền. Quản lý công truyền thống thúc đẩy các cơ chế thị trường hơn là đề cao các nguyên tắc quan liêu trong quản lý. Nội dung bài viết này tập trung chỉ ra ba điểm khác biệt cơ bản sau giữa quản lý công truyền thống và quản lý công mới.

    Thứ nhất: Quản lý dựa vào hiệu quả, chú trọng đến đầu ra thay vì đầu vào của công việc

    Theo cách truyền thống, các cơ quan của nhà nước thường dựa vào đầu vào để đo lường hiệu quả công việc. Ví dụ như việc phân bổ kinh phí cho các trường học thường căn cứ vào số lượng học sinh của nhà trường, công tác hỗ trợ xã hội được thực hiện dựa trên số lượng người nghèo trên địa bàn, hay việc đầu tư cho ngành cảnh sát được dựa vào số lượng tội phạm, không quan trọng các tổ chức này đạt được hiệu quả thế nào trong quản lý. Với cách làm này, các tổ chức công thường thiếu nhiệt huyết trong việc thực hiện chức trách của mình, thậm chí họ còn được phân phối nhiều nguồn lực hơn khi hiệu quả quản lý thấp hơn.

    Để khắc phục vấn đề này, quản lý công mới đòi hỏi phải dựa vào đầu ra để đo lường hiệu quả quản lý. Các nhà kinh tế cổ suý cho phương thức quản lý này lập luận rằng nếu nhà quản lý không biết được đầu ra của công việc, tức không xác định được họ làm được cái gì thì sẽ không thể biết được mình thành công hay thất bại. Kết quả là họ có thể cắt giảm chi phí đầu tư trong lĩnh vực công, nhưng không hiểu được liệu họ đang thực sự giảm các chi phí bị sử dụng lãng phí hay là đang cắt đi những chi phí đầu tư cần thiết để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nếu nhà quản lý không nhận ra được đâu là thành công, những cơ quan, cá nhân làm tốt có thể không được khen thưởng, nhưng ngược lại các đơn vị, cá nhân đạt hiệu quả thấp có thể được tán dương. Vì vậy, quản lý công mới sử dụng đầu ra của công việc như là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả quản lý thay vì quan tâm đến đầu vào của công việc.

    Thứ hai: Đẩy mạnh phân cấp, tăng cường làm việc theo nhóm

    Các tổ chức, cá nhân ở vị trí cấp cao trong mô hình quản lý công truyền thống theo học thuyết quan liêu của Weber đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì nguyên tắc thứ bậc đòi hỏi việc quản lý phải tuân thủ theo luật định, các vị trí ở cấp thấp phải tuân thủ chặt chẽ sự chỉ đạo, hướng dẫn của người ở vị trí cao hơn. Mô hình quản lý này có lẽ phù hợp trong xã hội khi mà dòng chảy thông tin trong hệ thống tổ chức còn quá chậm, trình độ của đội ngũ công chức nhìn chung còn khá thấp. Tuy nhiên, nó cũng làm cho những người làm trong lĩnh vực công trở nên quá nặng nề, cứng nhắc, thiếu đi sự năng động, sáng tạo cần thiết để đảm bảo được hiệu quả quản lý. Quản lý công mới vì vậy đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền cho địa phương, cho các tổ chức, cá nhân ở vị trí thấp hơn trong tháp quản lý, nhất là cho các bộ phận tiếp xúc và trực tiếp làm việc với công dân.

    Sở dĩ như vậy là vì so với các nhà quản lý ở vị trí tốp đầu trong hệ thống, các nhà quản lý và những người làm việc ở cấp thấp được xem là linh hoạt hơn, phản ứng mau lẹ hơn đến sự thay đổi, đến nhu cầu của công dân, những người còn được gọi là khách hàng của các cơ quan Nhà nước. Thêm vào đó, những người làm việc ở địa phương, ở cấp thấp thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ công dân, nên họ hiểu được cái gì đang xảy ra, người dân thực sự cần cái gì, từ đó họ có thể cung cấp nhiều lời khuyên bổ ích cho các nhà quản lý cấp cao hơn để đưa các các quyết định hành chính một cách phù hợp, đúng đắn.

    Từ quan điểm này, quản lý công mới thúc đẩy sự phân cấp, phân quyền cho địa phương, cho cấp dưới và tăng cường khuyến khích làm việc theo nhóm để phát huy được ý kiến, trí tuệ của tập thể. Nhưng một khi những người làm việc ở cấp thấp được giao thêm quyền lực, những nhà quản lý ở cấp trung gian (middle manager) trở nên dư thừa, không cần thiết, vai trò của họ được ví như là những kẻ nhàn rỗi, ngồi chặn thông tin từ dưới lên cũng như từ trên xuống. Bởi vì điều này, ngoài việc tăng cường phân cấp, phân quyền và thúc đẩy làm việc theo nhóm, quản lý công mới còn đòi hỏi phải giảm hệ thống thứ bậc trong quản lý bằng cách bỏ đi những cấp trung gian không cần thiết.

    Thứ ba: Thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức công và tư trong việc cung cấp dịch vụ công

    Chính phủ của mô hình quản lý truyền thống cho rằng lĩnh vực công và tư là hoàn toàn khác nhau. Các doanh nghiệp nhà nước vì vậy luôn được ưu ái, độc quyền trong việc cung cấp các dịch vụ công và được sử dụng như một công cụ đắc lực, không thể thiếu để giúp nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội. Ngược lại, quản lý công mới phản đối sự phân biệt này, lập luận rằng nền kinh tế luôn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, cả doanh nghiệp nhà nước, cũng như các tổ chức tư nhân và tổ chức từ thiện cùng hoạt động bình đẳng, phải cạnh tranh nhau trong việc cung cấp dịch vụ, cho nên sự phân biệt giữa doanh nghiệp công và tư nên bị loại trừ. Nói theo một cách khác là không có lý do gì để hạn chế sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp công và tư trong việc cung ứng dịch vụ, bởi vì sự cạnh tranh không chỉ làm giảm giá, nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn thúc đẩy các tổ chức công, doanh nghiệp công phải quan tâm hơn đến việc đáp ứng nhu cầu của công dân.

    Như vậy, Quản lý công mới hứa hẹn là một phương thức quản lý sẽ khắc phục được các hạn chế của quản lý công truyền thống và góp phần giúp nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành kinh tế – xã hội.

    Nguyễn Viết Vy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Chính Công, Dịch Vụ Công, Thủ Tục Hành Chính
  • Hàm So Sánh Trong Excel – Cách Sử Dụng Hàm So Sánh Và Ví Dụ Sử Dụng Hàm So Sánh
  • Tại Sao Các Biến Toàn Cục Không Tốt? » Cafedev.vn
  • Bài 3 (Tiếp Theo): Biến Toàn Cục, Biến Cục Bộ Và Phạm Vi Của Biến
  • Lập Trình C: Biến Tổng Thể Và Biến Cục Bộ
  • Hành Chính Công, Dịch Vụ Công, Thủ Tục Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Và Phân Biệt Giữa Quản Lý Công Truyền Thống Với Quản Lý Công Mới
  • Sự Khác Biệt Giữa Intranet, Internet Và Extranet
  • Sự Khác Biệt Giữa Internet Intranet Và Extranet (Công Nghệ)
  • So Sánh Người Dùng Intranet Và Extranet
  • Tìm Hiểu Ưu Và Nhược Điểm So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén
  • Hành chính công là gì?

    Khái niệm hành chính công

    Hành chính công (Public Administration) được hiểu là việc thực thi các chính sách của nhà nước. Ngày nay, hành chính công bao gồm cả trách nhiệm tham gia vào quá trình lập kế hoạch, xây dựng cũng như tổ chức thực hiện chính sách công, thông qua các hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính ở cả cấp chính quyền trung ương và chính quyền địa phương.

    Theo cách hiểu “cổ điển”, hành chính công đơn giản chỉ là việc thực thi chính sách của nhà nước đã được các chính trị gia quyết định. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, rất nhiều các quyết định chính sách công bắt nguồn từ kinh nghiệm hoạt động trong quá trình thực thi chính sách, thể hiện vai trò chủ động, tích cực của bộ máy hành chính trong quá trình hoạch định chính sách.

    Một cách hiểu rất phổ biến ở Việt Nam về khái niệm hành chính công, đó là những hoạt động thực thi quyền hành pháp, tiến hành bởi các chủ thể được sử dụng quyền lực công để tác động tới các quá trình kinh tế-xã hội cũng như hành vi của con người nhằm đạt mục tiêu phục vụ lợi ích chung và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

    Đặc điểm chung

    Mặc dù một số yếu tố của hành chính công bắt đầu xuất hiện trong lịch sử từ thời kỳ cổ đại, được ghi nhận ở các nhà nước Trung Quốc, Ai Cập, Hy Lạp, La Mã…, nhưng phải đến thế kỷ 19, ngành khoa học hành chính công mới thực sự có những bước phát triển độc lập và nghiên cứu một cách hệ thống trên nền tảng các nền hành chính nhà nước hiện đại (từ thế kỷ 17) như Đức, Pháp, Anh, Mỹ…; Và các hướng nghiên cứu lý thuyết hành chính công chỉ mới “bùng nổ” từ đầu thế kỷ 20, với những đóng góp và ảnh hưởng quan trọng từ nhà xã hội học, kinh tế chính trị học người Đức – Max Weber…

    Có thể có những điểm khác nhau trong nền hành chính của mỗi quốc gia, nhưng hệ thống hành chính ngày nay có một số đặc điểm chung là:

    Thứ nhất, Cấu trúc hành chính thứ bậc quan liêu (dạng hình tháp), phân cấp thứ bậc từ cao xuống thấp, tương ứng với các giới hạn thẩm quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm;

    Thứ hai, Được tổ chức chặt chẽ và khoa học trong quản lý hành chính theo sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong từng ngành, lĩnh vực, theo cả chiều ngang và chiều dọc;

    Thứ ba, Các công chức được bổ nhiệm có thời hạn – theo nhiệm kỳ đối với các chức vụ trong hệ thống, trên cơ sở các tiêu chuẩn phù hợp với từng vị trí việc làm, và có sự thăng tiến thứ bậc trong nghề nghiệp, công việc chuyên môn;

    Thứ tư, Hệ thống hành chính hoạt động theo đúng các trình tự, thủ tục, có sự phân công, phối hợp hoạt động giữa các tổ chức, cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ, thực thi chính sách, pháp luật hiệu lực, hiệu quả.

    Xu hướng

    Trong một thời gian dài, hệ thống hành chính được coi là cần thiết giữ vai trò trung lập với các nhà chính trị và hoạt động chính trị. Tuy nhiên, ứng dụng thực tế có thể khác rất nhiều, việc hành chính công tham gia, tác động đến quá trình hoạch định chính sách là một xu hướng thay đổi. Và chính quản lý hành chính công hiện nay đang dần thay đổi để có vai trò chủ động quản lý sự thay đổi trong xã hội…

    Cách tiếp cận chính sách công trong nghiên cứu hành chính công làm rõ hơn vai trò của hệ thống hành chính đối với sự thay đổi chính sách trong quản lý nhà nước hiện đại ngày nay, những cũng làm “mờ” hơn ranh giới giữa hành chính công, chính sách công và chính trị.  

    Nguyễn Anh Phương

    chúng tôi

    —————————————————–

    Một số nội dung chính:

    Khoa học hành chính.

    Khái niệm Hành chính.

    Quản lý hành chính. Quản lý nhà nước.

    Hệ thống hành chính nhà nước

    Chính phủ. 

    Hành pháp. 

    Chính quyền.

    Quyền lực công. Kiểm soát quyền lực nhà nước.

    Tổ chức nhà nước, tổ chức hành chính nhà nước. Lý thuyết tổ chức

    Thể chế. Thể chế hành chính. Hành chính – chính trị.

    Pháp luật hành chính

    Tài phán hành chính. Quyết định hành chính. Hành vi hành chính. Tố tụng hành chính. Luật Tố tụng hành chính. 

    Thủ tục hành chính. Pháp luật về thủ tục hành chính. Vi phạm hành chính. Xử lý vi phạm hành chính. Luật Xử lý vi phạm hành chính.

    Luật Hành chính công. Luật Dịch vụ công.

    Công chức, công vụ.

    Bộ tiêu chuẩn đạo đức. Bộ tiêu chuẩn ứng xử. Đạo đức công vụ

    Thực thi công vụ. Thực thi pháp luật

    Trách nhiệm. Trách nhiệm giải trình

    Quản lý công – Quản lý công mới – Quản lý tốt. Quản lý nguồn nhân lực

    Hiệu quả, hiệu suất, năng suất, cải tiến năng suất, chất lượng.

    Dịch vụ công – Dịch vụ hành chính công

    Dịch vụ công ích

    Hành chính tư. Khu vực công – Khu vực tư. Lĩnh vực công cộng.

    Tham nhũng

    Phòng chống tham nhũng

    Tham nhũng chính trị. Tham nhũng thể chế. Tham nhũng hành chính.

    Tham nhũng lớn. Tham nhũng nhỏ.

    Nghiên cứu hành chính

    Hành chính học. Hành chính học so sánh.

    Dân chủ. Dân chủ điện tử.

    Cải cách hành chính.

    Chính phủ điện tử.

    Nhà nước phục vụ. Nhà nước kiến tạo. Phát triển bền vững

    Wilson, W 1887, The study of administration, Politic. Sci. Q., 2, pp.197–222.

    Wilson, W 1984, The new meaning of government, Public Admin. Rev., 44, 193–195.

    Van Riper, P 1983, The American administrative state: Wilson and the founders – An unorthodox view, Public Admin. Rev., pp.477–490.

    Weber, M 1958, Bureaucracy, In From Max Weber: Essays in Sociology, Gerth, H. H. & Mills, C. W., Eds., Oxford University Press, New York, pp.196-244.

    Ostrom, V 1989, Some developments in the study of market choice, public choice and institutional choice, In Handbook of Public Administration, Rabin, J., Hildreth, W. B & Miller, G. J, Eds., Marcel Dekker, New York, pp.861-883. 

    Ostrom, E. and Ostrom, V 1971, Public choice: A different approach to the study of public administration, Public Admin. Rev., 31, pp.203-216.

    Waldo, D 1990, A theory of public administration means in our time a theory of politics also, In Public Administration: The State of the Discipline, Lynn, N & Wildavsky, A., Eds., Chatham House, Chatham, pp.73-84.

    http://hanhchinh.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàm So Sánh Trong Excel – Cách Sử Dụng Hàm So Sánh Và Ví Dụ Sử Dụng Hàm So Sánh
  • Tại Sao Các Biến Toàn Cục Không Tốt? » Cafedev.vn
  • Bài 3 (Tiếp Theo): Biến Toàn Cục, Biến Cục Bộ Và Phạm Vi Của Biến
  • Lập Trình C: Biến Tổng Thể Và Biến Cục Bộ
  • Phân Biệt “Bán Buôn”, “Bán Sỉ” Và “Bán Lẻ”
  • Ngành Hành Chính Công Là Gì? Tìm Hiểu Về Ngành Hành Chính Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Là Gì? Mô Tả Công Việc Hàng Ngày
  • Hành Chính Nhân Sự Là Gì? Công Việc Của Nhân Viên Hành Chính
  • Tuyển Trưởng Phòng Nhân Sự, Việc Làm Hành Chính Nhân Sự, Lương Hấp Dẫn
  • Hồ Xuân Hương Đà Lạt
  • Hồ Xuân Hương Đà Lạt Có Gì Chơi Và Cách Đi Đến Hồ Nhanh Nhất
  • Hành chính công được hiểu là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và là sự điều chỉnh bằng quyền lực của pháp luật nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của con người thông qua việc các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của công dân.

    Dưới góc độ pháp lý, hành chính công là luật tổng hành động đưa pháp luật vào đời sống, ban hành những văn bản dưới luật để thể hiện luật. triển khai những văn bản pháp luật của nhà nước và biến những ý tưởng đó thành sản phẩm cụ thể.

    2. Ngành Hành chính công học những gì?

    Sau khi tốt nghiệp, sinh viên ngành Hành chính công sẽ có khả năng nhận thức, phân tích, đánh giá những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, hành chính công cũng như tổ chức những hoạt động hành chính, trực tiếp làm công tác quản lý hành chính công từ cấp trung ương đến địa phương.

    Bên cạnh kiến thức, sinh viên cũng được trang bị đầy đủ những kỹ năng như kỹ năng tiếp cận và xử lý thông tin về hành chính, quản lý hành chính, hoạch định và tham mưu trong lĩnh vực hành chính công. Kỹ năng nhận biết và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong lĩnh vực chuyên môn hành chính công.

    Sinh viên cũng sẽ có kỹ năng hoạch định chính sách công của ngành, địa phương và kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả.

    3. Cơ hội nghề nghiệp của ngành Hành chính công

    Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ngành Hành chính công, sinh viên có thể đảm nhận công việc tại những vị trí sau:

    Cán bộ hành chính tại những cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương hay tham mưu cho công tác quản lý hành chính, hoạch định chính sách công.

    Làm việc cho những doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế về lĩnh vực rổ chức hành chính, những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ công.

    4. Tố chất cần có để theo học ngành Hành chính công

    Đây là vấn đề rất nhiều bạn sinh viên băn khoăn và thắc mắc. Vậy để theo học ngành Hành chính công, bạn cần có những tố chất gì:

    • Có ý thức pháp luật tốt và trách nhiệm cao của công dân, có ý thức, đạo đức và lối sống lành mạnh
    • Có đạo đức nghề nghiệp mẫn cán với công việc, có năng lực học tập suốt đời
    • Có trách nhiệm cá nhân trong những hoạt động xã hội và tinh thần phục vụ cộng đồng
    • Thái độ hợp tác và thân thiện trong giao tiếp với người dân. Đồng thời, cần có niềm đam mêm và trách nhiệm với công việc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vũ Trụ Và Hệ Mặt Trời
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Điện Mặt Trời Áp Mái Hòa Lưới
  • 8 Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời
  • Thứ Tự Của Các Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời: Hành Tinh Nào Gần Mặt Trời Nhất?
  • Vũ Trụ Là Gì? Hệ Mặt Trời Là Gì? Những Hiểu Biết Về Trái Đất
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Lý
  • Một Đời Quản Trị
  • Rùa Vàng Quý Hiếm Nhất Là Loại Nào? Cách Nhận Biết Rùa Vàng Đơn Giản
  • Cách Nhận Biết Rùa Vàng & Thực Trạng Bảo Tồn Loài Rùa Vàng Quý Hiếm
  • Rùa Núi Vàng Giá Bao Nhiêu Tiền Tại Hà Nội, Tphcm?
  • Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính – chính trị của nước ta. Hay nói một cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước.

    Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể. Quản lý toàn dân, toàn diện (chính trị, kinh tế, văn hóa, …), quản lý bằng pháp luật.

    Khách thể của quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính

    2. Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước

    2.1. Các nguyên tắc chính trị xã hội

    2.1.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

    Cơ sở pháp lý: Ðiều 4 – Hiến pháp 1992 quy định: Ðảng cộng sản Việt Nam-đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

    Nội dung nguyên tắc

    Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…

    Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn. Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình thức hoạt động của các tổ chức Ðảng:

    Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng. Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước.

    Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ. Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước.

    Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

    Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.

    Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên. Ðây là cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước.

    Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý.

    Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước.

    Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật hành chính, Ðảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước. Các nghị quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng.

    Việt Nam là nước có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ. Các dân tộc đều có quyền bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực. “Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam

    Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. (Ðiều 5- Hiến pháp 1992)

    Cơ sở pháp lý:

      Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ

    Nội dung nguyên tắc:

      Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội

    Nhà nước chú ý tới việc đầu tư xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở các vùng dân tộc ít người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc ít người.

    Nhà nước có những chính sách đúng đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chức phân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít người nâng cao về mọi mặt.

    Những ưu tiên cho các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù đắp phần nào cho việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều kiên để vươn lên trong xã hội. Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng nếu vượt khỏi phạm vi khuyến khích, động viên.

    Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn sẽ dẫn đến việc cùng một vị trí giống nhau, nhưng hai khả năng không tương đồng nhau. Ðiều này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong công việc chung cũng như cho chính bản thân người được ưu tiên đó.

    Ðây là nguyên tắc thể hiện một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp luật. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)

    Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước như sau:

    Cơ sở pháp lý

    Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hành chính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

    Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý theo pháp luật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn trọng những văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành.

    Nội dung nguyên tắc

    Ðể đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước đòi hỏi việc thực hiện pháp chế phải trở thành chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý và ngay trong bộ máy quản lý cũng phải có những tổ chức chuyên môn thực hiện chức năng này.

    Vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tổ chức là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước, vi phạm mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau.

    Mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân. Mọi quyết định hành chính và hành vi hành chính đều phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định.

      Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật

    Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm do những sai phạm của mình trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm đến lợi ích tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và phải bồi thường cho công dân. Chính vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước.

    Cụ thể hơn, yêu cầu của quản lý đặt dưới sự thanh tra, kiểm tra giám sát và tài phán hành chính để pháp chế được tuân thủ thống nhất, mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý theo đúng pháp luật. Sự kiểm tra và giám sát ấy, trước hết phải được bảo đảm thực hiện chính từ chủ thể quản lý. Tự kiểm tra với tư cách tổ chức chuyên môn vì thế cũng rất cần thiết như sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ quan nhà nước tương ứng, các tổ chức xã hội và công dân.

    2.2. Các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật

    2.2.1. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính

    Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng một cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích giống nhau. Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý theo ngành.

    Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội.

    Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước. Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta được thực hiện ở bốn cấp:

    • Cấp Trung ương (cấp nhà nước)
    • Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
    • Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
    • Xã, phường, thị trấn.

    Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương, chính sách, có quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh thổ. Bắt đầu từ quy hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư sống và làm việc trên lãnh thổ. Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, quản lý thống nhất về khoa học công nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội trên lãnh thổ…

    Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính. Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp. Sự kết hợp này là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan.

    Khi thực hiện hoạt động quản lý ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất nhiều việc chuyên môn khác nhau như lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản lý thực hiện các khoản thu chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật…Do khối lượng công việc quản lý ngày càng nhiều và mang tính chất phức tạp nên đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao, vì thế nhu cầu quản lý theo chức năng luôn được đặt ra.

    Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả từng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồng thời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả.

    Ví dụ: Trong lĩnh vực xây dựng, có sự kết hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Giao thông vân tải…Trong đó, Bộ Xây dựng có vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ và các cơ quan hữu quan lập nên các dự án qui hoạch xây dựng tương ứng.

    Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn được hình thành để thực hiện việc quản lý theo chức năng. Theo hệ thống dọc có bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chức năng, chịu sự quản lý của cơ quan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên. Nguyên tắc này thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong việc thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể:

    Các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ trương do mình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính sách, chủ trương đó theo quy định của pháp luật.

    Có thể nói nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một nguyên tắc có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó giúp cho hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau. Nếu thiếu sự liên kết này, hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính chất khách quan bởi vì chúng được xây dựng, đúc kết từ thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách quan. Tuy nhiên, các nguyên tắc trên cũng mang yếu tố chủ quan bởi vì chúng được xây dựng bởi con người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng.

    Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định cao nhưng không phải là nguyên tắc bất di bất dịch. Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh nghiệm, thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước.

    Tính độc lập tương đối với chính trị. Hệ thống chính trị của nhà nước Việt nam được thực hiện thông qua: các tổ chức chính trị xã hội (Ðảng, Mặt trận tổ quốc…), và bộ máy nhà nước (Lập pháp, hành pháp, tư pháp). Trong hệ thống nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có cả những nguyên tắc riêng, đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    Tuy nhiên giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước thực hiện tốt không chỉ đòi hỏi được trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm chính trị (chính sách).

    Mỗi nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác. Vì thế nên các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và đây là một thuộc tính vốn có của chúng.

    Xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước, ta thấy giữa 2 hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng có những điểm riêng sau:

    • Khái niệm : rộng hơn
    • Quản lý nhà nước bằng chỉ đạo hoạt động: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
    • Nhà nước và các cơ quan nhà nước .
    • Các tổ chức xã hội và cá nhân được trao quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước .
      Trật tự quản lý nhà nước mới được xác định bởi quy phạm pháp luật.

    • Khái niệm: Hẹp hơn
    • Quản lý hành chính nhà nước bằng hoạt động chỉ đạo pháp luật ( hành pháp) nhằm bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh nghị quyết, của cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan dân chủ)

    Quản lý nhà nước:

    • Cơ quan hành chính nhà nước .
    • Cán bộ nhà nước có thẩm quyền .

    * Chủ thể:

      Đảm bảo hoạt động chấp hành, điều hành trên cơ sở pháp luật để chỉ đạo thực hiện pháp luật.

    Quản lý hành chính nhà nước * Chủ thể: *Khách thể:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Doanh Nghiệp Khác Với Quản Lý Doanh Nghiệp?
  • Phân Biệt Giữa Quản Trị Kinh Doanh Và Marketing
  • Phân Biệt Giữa Vai Trò Của Quản Trị Doanh Nghiệp Và Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Quyền Con Người Và Quyền Của Công Dân
  • Ngữ Pháp Toeic: Thì Quá Khứ Hoàn Thành, Quá Khứ Hoàn Thành Tiếp Diễn
  • Tài Chính Hành Vi Và Quản Lý Rủi Ro

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Tính Vách Cứng Bê Tông Cốt Thép
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền – Wacc (File Excel)
  • Wacc Là Gì Và Được Tính Theo Công Thức Nào Chính Xác?
  • Chỉ Số Aqi Là Gì? Và Cách Tính Cụ Thể
  • Chỉ Số Chất Lượng Không Khí Aqi Được Tính Như Thế Nào?
  • View Full Version : Tài chính hành vi và quản lý rủi ro

    timchungkhoan

    1. Value at Risk (VaR)

    Ðể trình bày khái niệm cơ bản của Value at Risk (VaR), hãy lấy một ví dụ sau đây:

    1 – Ðặc điểm của VaR

    • độ tin cậy (ví dụ : nếu độ tin cậy là 99% thì có nghĩa có 1% trường hợp xấu nhất có thể xảy ra)

    • khoảng thời gian đo lường VaR

    • sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian này

    Hãy minh họa khái niệm VaR qua một ví dụ sau đây : một nhà đầu tư muốn đánh giá rủi ro của một chỉ số Nasdaq 100 Index được giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán Nasdaq. Từ tháng 6 năm N đến tháng 6 năm N+3, nếu ta tính tỷ suất sinh lợi mỗi ngày thì ta sưu tập được gần 1400 dữ liệu. Histogram sau đây biểu diễn sự phân bố các tỷ suất sinh lợi hàng ngày của Nasdaq 100 Index : http://aiquoc.org/FinancialMarket/VaR/var1.gif

    Trên biểu đồ này, các tỷ suất sinh lợi trên trục hoành được xếp từ trái sang phải, từ nhỏ nhất đến lớn nhất. Thanh cao nhất mô tả tỷ suất sinh lợi giữa 0% và 1% trong hơn 250 ngày giao dịch trong khi thanh ở phía cực phải mô tả 1 ngày trong một thời hạn 3 năm mà tỷ suất sinh lợi là 11.8%. Ở bên trái của biểu đồ, những thanh đỏ mô tả 5% tỷ suất sinh lợi thấp nhất mỗi ngày và chính là những khoản lỗ lớn nhất từ -4% đến -8%. Vậy ta có thể khẳng định rằng tổn thất trong 95% các trường hợp không vượt quá 4% khoản tiền đầu tư. Nói một cách khác, nếu ta đầu tư 100 € thì với mức độ tin cậy là 95%, ta hy vọng khoản lỗ tối đa không vuợt quá 100 € × 4% = 4 €.

    Ta phải luôn nhớ rằng VaR không có vai trò hay mục đích phản ánh một hiện tượng chắc chắn mà chỉ là một ước tính xác suất. Nếu ta muốn tăng mức tin cậy, ta chỉ cần hướng về phía cực trái của biểu đồ trong đó hai thanh đỏ, ở vị trí -8% và -7%, thể hiện 1% tỷ suất sinh lợi thấp nhất. Với mức tín nhiệm là 99%, ta có thể ước tính khoản lỗ lớn nhất sẽ không vượt quá 7%, hay là nếu ta đầu tư 100 € thì tổn thất tối đa không vượt quá 7 €.

    2 – Phương pháp ước tính VaR

    Hiện nay có bốn phương pháp thông dụng nhất để tính VaR :

    • phân tích quá khứ (historical method)

    • phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    • RiskMetrics

    • Monte Carlo

    – Phân tích quá khứ (historical method)

    Phương pháp đơn giản này đưa ra giả thuyết rằng sự phân bố tỷ suất sinh lợi trong quá khứ có thể tái diễn trong tương lai. Nói cụ thể, VaR được xác định như sau :

    3. xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất

    4. tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ. Ví dụ : nếu ta có một danh sách bao gồm 1400 dữ liệu quá khứ (historical data) và nếu độ tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 70 trong danh sách này = (1 − 0.95) × 1400. Nếu độ tin cậy là 99% thì VaR là giá trị thứ 14.

    – Phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    Phưong pháp này đưa ra giả thuyết rằng các tỷ suất sinh lợi và rủi ro tuân theo phân bố chuẩn. Đường cong màu xanh lá cây sau đây là phân bố chuẩn của những dữ liệu trên :

    http://aiquoc.org/FinancialMarket/VaR/var2.gif

    VaR được tính cụ thể như sau :

    1. tính giá trị hiện tại V0 của danh mục đầu tư

    3. VaR được xác định theo biểu thức sau đây :

    VaR = V0×(−m + zqσ)

    với zq bằng 1.65 nếu mức độ tin cậy là 95% và bằng 2.33 nếu độ tin cậy là 99%.

    Khi biết giá trị của độ lệch chuẩn σ là khoảng 2.64, và đồng thời tỷ suất sinh lợi trung bình xấp xỉ là 0 (phân bố chuẩn), vậy thì với mức tin cậy 95% ta có thể tin rằng khoản lỗ tối đa sẽ không vượt quá 1.65×2.64 = 4.36%, và với mức tin cậy 99%, khoản lỗ tối đa sẽ không lớn hơn 2.33×2.64 = 6.16%

    – RiskMetrics

    2. dùng các tỷ suất sinh lợi xếp theo thứ tự thời gian, tính độ lệch chuẩn bằng công thức sau đây : http://aiquoc.org/FinancialMarket/VaR/Pix01.jpg với σn−1 là độ lệch chuẩn, rn−1 là tỷ suất sinh lợi ở thời điểm n−1 và hằng số λ được cố định là 0.94.

    3. dùng giá trị ước tính mới nhất của độ lệch chuẩn σn , tính VaR theo biểu thức của phương pháp Phưong sai – hiệp phương sai.

    – Monte Carlo

    2. cho mỗi bước lặp i, i<N

    2.1. tạo ngẫu nhiên một kịch bản được căn cứ trên một phân bố xác suất về những hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ suất, vv) mà ta nghĩ rằng chúng mô tả những dữ liệu quá khứ (historical data). Ví dụ ta giả sử mỗi hệ số rủi ro được phân bố chuẩn với kỳ vọng là giá trị của hệ số rủi ro ngày hôm nay. Và từ một tập hợp số liệu thị trường mới nhất và từ mô hình xác suất trên ta có thể tính mức biến động của mỗi hệ số rủi ro và mối tương quan giữa các hệ số rủi ro.

    3. xếp các tỷ suất sinh lợi ri theo thứ tự giá trị từ thấp nhất đến cao nhất.

    4. tính VaR theo độ tin cậy và tỷ lệ phần trăm (percentile) số liệu ri. Ví dụ: nếu ta mô phỏng 5000 kịch bản và nếu độ tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 250. Nếu độ tin cậy là 99%, VaR là giá trị thứ 50.

    5. đồng thời tính sai số tương ứng cho mỗi VaR, nếu số lượng N càng cao thì sai số càng nhỏ.

    3 – Backtesting

    Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm Phân tích quá khứ

    (historical analysis) • thiết kế và áp dụng dễ dàng

    • không cần giả thuyết về quy luật phân bố • đòi hỏi một số liệu cực lớn

    • tương lai có thể không giống quá khứ Phương sai – hiệp phương sai /

    RiskMetrics • thiết kế và áp dụng dễ dàng

    • ít quan tâm đến trường hợp xấu nhất và như vậy không chứng minh được giả thuyết về phân bố chuẩn của các dữ liệu Monte Carlo • có khả năng tính VaR rất chính xác

    Phương pháp Giả thuyết VaR 95% VaR 99% Phân tích quá khứ 4%×200.5=17.88% 7%×200.5=31.30% Phương sai – hiệp phương sai phuân bố chuẩn với kỳ vọng = 0 và độ lệch chuẩn = 2.64% 4.36%×200.5=19.49% 6.16%×200.5=27.54% RiskMetrics kỳ vọng = 0 và độ lệch chuẩn biến động theo thời gian 21.25% 34.58% Monte Carlo phân bố chuẩn với kỳ vọng = 0 và độ lệch chuẩn = 2.64%. Mô phỏng 100 kịch bản 18.11% 26.73%

    4 – Kết luận

    timchungkhoan

    2. Tài chính học hành vi, tâm lý bầy đàn và TTCK Việt Nam

    TTCK Việt Nam trong năm 2006 có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với 145% và đầu năm 2007 tăng thêm 46% – cao nhất trên thế giới. Rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho sự phát triển mãnh liệt này, nhưng phần lớn ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân chính là do tâm lý đầu tư bầy đàn, đầu tư theo phong trào của các nhà đầu tư trong nước. Chơi chứng khoán đã được báo chí nói tới như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền với tốc độ cực nhanh.

    Tài chính học hành vi

    Các bằng chứng về “bong bóng” chứng khoán thế giới trong những năm 90 đã chứng minh rằng, các nhà đầu tư không phải luôn luôn hành động một cách sáng suốt và khôn ngoan như mong đợi. Trong những trường hợp như vậy, lý thuyết thị trường hiệu quả không thể giải thích, nhưng nghiên cứu của tài chính học hành vi dựa trên những lý thuyết cơ bản về tâm lý học có thể giúp chúng ta hiểu được thị trường tài chính. Một số miêu tả và giải thích của tài chính học hành vi khá thú vị, mô phỏng hành vi thị trường bằng các cuộc thử nghiệm rất đơn giản như sau:

    Cho ai đó một lựa chọn: hoặc là sẽ có chắc chắn 50.000 đồng hoặc là sẽ chơi trò đồng xu xấp ngửa, nếu thắng sẽ nhận được 100.000 đồng, và ngược lại sẽ không nhận được gì cả. Có vẻ như trò chơi này đầy may rủi, do đó người ta thường chọn việc bỏ túi chắc chắn 50.000 đồng. Ngược lại, nếu phải lựa chọn giữa việc mất chắc chắn 50.000 đồng hoặc cũng chơi trò đồng xu xấp ngửa và mất 100.000 đồng hoặc không mất gì cả. Họ có thể sẽ chọn chơi xấp ngửa. Sự may rủi trong việc tung đồng xu xấp ngửa trong cả hai trường hợp là tương đương nhau, nhưng con người lại thường chọn cách tham gia trò chơi để tiết kiệm những khoản lỗ, dù trò chơi này có thể sẽ mang đến một khoản lỗ lớn hơn. Điều này cho thấy khuynh hướng con người coi khả năng bù đắp một khoản lỗ còn quan trọng hơn khả năng kiếm được một khoản lợi lớn hơn.

    Trong kinh doanh, sự ưu tiên về việc tránh các khoản lỗ cũng đúng cho các nhà đầu tư. Khi giá cổ phiếu của Nortel Networks xuống giá thê thảm từ hơn 100 USD vào đầu những năm 2000 xuống còn chưa đầy 2 USD, bất chấp giá cổ phiếu xuống như thế nào, nhà đầu tư vẫn tin rằng nó có thể sẽ lên trở lại và họ tiếp tục nắm giữ cổ phiếu. Họ có khuynh hướng quá tự tin vào các phán đoán của mình, thậm chí còn thích chộp ngay lấy thông tin rỉ tai hơn là những thông tin công bố rõ ràng. Vì sao lại như vậy? Điều này chỉ có thể lý giải bằng cảm xúc (emotion) – một yếu tố quan trọng chi phối hành vi con người.

    TTCK được xem là một nhóm các nhà đầu tư với mục đích chung duy nhất là nắm bắt xu hướng tương lai của thị trường để từ đó có quyết định kinh doanh đúng đắn nhằm thu được lợi nhuận. Song, nhóm đông đó được hình thành bởi nhiều nhà đầu tư cá nhân khác nhau, mỗi nhà đầu tư lại thiên về các cảm xúc trái ngược nhau: Lạc quan có, bi quan có, hy vọng có, lo lắng có – tất cả mọi cảm giác đều có thể tồn tại trong cùng một nhà đầu tư tại các thời điểm khác nhau hoặc trong một nhóm nhà đầu tư tại cùng một thời điểm.

    Có lẽ quyển sách nổi tiếng của Charles Mackay: “Những ảo giác cực kỳ phổ biến và sự mất trí của đám đông” được nhắc đến nhiều nhất trong những cuộc bàn luận về các hiện tượng của TTCK, từ cơn sốt hoa tulip ở Hà Lan thế kỷ 17 cho đến những hiện tượng “bong bóng” gần nhất. Cốt truyện khá tương tự nhau: một TTCK giá lên (bull market) về một mặt hàng, đơn vị tiền tệ hoặc cổ phiếu nào đó khiến dân chúng thấy xu hướng tăng giá là không thể ngừng. Với cách suy nghĩ lạc quan như vậy, mọi người mua “đối tượng” của cơn sốt vượt quá nhu cầu thật sự của mình, cùng lúc đó những người cho vay thay phiên nhau đổ thêm dầu vào lửa. Đến khi nhà đầu tư nhận ra thị trường không mạnh như họ đã kỳ vọng, sự sợ hãi tăng lên. Và khi sự lo lắng chuyển thành cơn bán đổ bán tháo thì thị trường sụp đổ, tạo ra một vực xoáy nhấn chìm thị trường sâu hơn cả trước khi có cơn sốt, hậu quả là phải tốn nhiều năm trời thị trường mới có thể phục hồi trở lại.

    Do vậy, trong các quyết định đầu tư thông minh thì cảm xúc chính là kẻ thù số 1. Cảm xúc khiến chúng ta hành động trái với những gì mà chúng ta nên làm. Cảm xúc khiến chúng ta mua trong khi chúng ta nên bán, cảm xúc khiến chúng ta bán trong khi chúng ta nên mua.

    Tâm lý bầy đàn và TTCK Việt Nam

    Một sự thật hiển nhiên quen thuộc là vào bất kỳ thời điểm nào, các thị trường tài chính luôn luôn bị chi phối bởi lòng tham và sự sợ hãi. Bất cứ khi nào bạn bán cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổ phiếu đó. Bạn nghĩ nó sẽ giảm, người mua nghĩ nó sẽ lên. Hoặc bạn hoặc người mua sẽ đúng, nhưng chắc chắn chỉ thông qua sự tương tác của những thái độ khác nhau như vậy thì thị trường mới nhộn nhịp. Sự sôi động của TTCK Việt Nam thời gian qua phản ánh phần nào điều này.

    TTCK Việt Nam trong năm 2006 có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với 145% và đầu năm 2007 tăng thêm 46% – cao nhất trên thế giới. Rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho sự phát triển mãnh liệt này, nhưng phần lớn ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân chính là do tâm lý đầu tư bầy đàn, đầu tư theo phong trào của các nhà đầu tư trong nước. Chơi chứng khoán đã được báo chí nói tới như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền với tốc độ cực nhanh.

    Mọi lý thuyết, mọi mô hình của thị trường hiệu quả dường như vô nghĩa với TTCK Việt Nam. Mặc dù nhà đầu tư được cảnh báo rằng giá chứng khoán đã vượt quá giá trị thật hơn 30% nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn không ngừng sôi động.

    Có lẽ đã đến lúc dùng đến các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK:

    Bình thường, một nhóm các nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, nhưng cũng có lúc họ bị áp đảo bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu tư khác hành động theo một cách thức phổ biến nào đó. Hiểu một cách đơn giản nhất thì chính sự sợ hãi bị “bỏ rơi” hay thất bại khi bạn bè, người thân, hàng xóm của họ có thể kiếm tiền một cách nhanh chóng, đã đưa đến sức mạnh áp đảo của đám đông.

    Cảnh kiếm tiền trên TTCK quá dễ đã thôi thúc người ta lao vào chơi chứng khoán. Chứng khoán vượt quá giá trị thật – biết chứ – nhưng họ vẫn mua. Họ chấp nhận mua với giá cao vì tin rằng trên thị trường sẽ còn có người chấp nhận mua lại nó với giá cao hơn nữa. Lòng tham của con người khiến họ hành động. Còn nhìn thấy cơ hội kiếm lợi, họ còn nhảy vào.

    Sức nóng của TTCK còn “hút” cả anh hai lúa, bà bán đậu phộng đến ông xích lô… gom góp tiền dành dụm cả đời đổ vào chơi chứng khoán. Họ biết phân tích cổ phiếu, biết dự đoán khả năng hoạt động sinh lời của công ty? Không hề! Họ chơi theo tâm lý bầy đàn.Thậm chí có nhiều người còn mua bán theo cách hoàn toàn bắt chước các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên điều này cũng chẳng có gì là khó hiểu cả. Khuynh hướng (bản năng) bầy đàn giải thích tại sao con người lại thích bắt chước người khác. Khi thị trường lên hoặc xuống, nhà đầu tư cho rằng người khác sẽ có nhiều thông tin hơn. Và hệ quả của điều này, họ cảm thấy có sự thôi thúc ghê gớm đối với việc làm theo những gì người khác đang làm. Các nhà tâm lý học cũng đã đưa ra nghiên cứu cho thấy hành vi đám đông thường có khuynh hướng hành động theo một số người chủ chốt, có khả năng tiên đoán thị trường. Trong trường hợp của TTCK Việt Nam, “sứ mệnh” đó nhiều lúc được giao cho nhà đầu tư nước ngoài.

    Cần một cái nhìn đầy đủ về tâm lý bầy đàn

    Trong suy nghĩ của nhiều người, tâm lý bầy đàn là cái gì đó rất xấu, rất đáng khinh, loại bỏ nó càng sớm càng tốt. Do vậy, làm sao để chấm dứt tâm lý bầy đàn trong các nhà đầu tư là một câu hỏi được đặt ra? Không có gì khó khăn, bởi câu trả lời là không thể. Nhà đầu tư sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình theo thị trường, họ sẽ rút ra bài học từ chính những thành công và thất bại của mình. Không thể có giải pháp nào được đưa ra ở đây cả.

    Cho một người đứng ở một góc phố và nhìn lên bầu trời trống không trong 60 giây. Một số người đi đường đã dừng lại để xem người kia nhìn gì nhưng rồi đa số cũng bước qua. Lần tiếp theo, các nhà tâm lý học cho năm người làm như vậy ở góc phố đó. Lần này, số người dừng lại để quan sát đông gấp 4 lần. Khi cho 15 người đứng ở góc phố đó, có tới 45% số người qua đường dừng lại và khi tăng số người đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80% người đi đường phải ngẩng đầu quan sát theo. Vì sao lại như vậy? Người ta cho rằng, nếu có nhiều người cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải có cái gì đó. Đó là lý do vì sao càng có đông người, đám đông càng dễ bị ảnh hưởng: thêm một người là thêm một bằng chứng cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra. Họ tin tưởng rằng, nếu có rất nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó nhất định đúng. Bằng chứng này dường như cho thấy, nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chước những gì người khác đang làm.

    Và lâu nay vẫn có quan niệm sai lầm cho rằng chỉ ở Việt Nam mới có tâm lý bầy đàn trong đầu tư như thế. Sự thật thì tâm lý đám đông (tâm lý bầy đàn) xuất hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi, thậm chí ngay cả ở các thị trường phát triển vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý đám đông. Nếu không, lịch sử kinh tế thế giới đã không chứng kiến nhiều vụ nổ bong bóng và khoảng hoảng như khủng hoảng Hoa tulip – Hà Lan (1634-1637), bong bóng South Sea – Anh ( 1711-1720), khủng hoảng bất động sản Florida – Mỹ (1920-1922), đại suy thoái thế giới 1929, khủng hoảng 1987, khủng hoảng Châu Á 1997, khủng hoảng dotcom…

    Nhà đầu tư khôn ngoan nên hành xử ra sao trong một thị trường như vậy: Sẽ đi theo đám đông hay độc lập quyết định dựa vào các nghiên cứu, phân tích của mình? Câu trả lời ở đây khá đơn giản: Nên đi theo đám đông khi ý kiến của nó phù hợp với những phân tích của riêng bạn và nhanh chóng rời bỏ đám đông khi đám đông suy nghĩ ngược với bạn. Khi rời bỏ đám đông, nhà đầu tư nên kiếm lợi hoặc nhận ra các khoản lỗ và đứng ngoài đợi cho đến khi thị trường có dấu hiệu khả quan trở lại. Thà từ bỏ một khoản lời tiềm năng còn hơn là mất một khoản vốn trước mắt. Nhưng thật sự thì cái cảm giác bỏ lỡ một cơ hội kiếm tiền mười mươi là một tâm lý vô cùng khó chịu!

    timchungkhoan

    3. Định nghĩa chứng khoán phái sinh

    Định nghĩa chứng khoán phái sinh

    Một hợp đồng tài chính được gọi là một chứng khoán phái sinh (derivative security), hoặc một tài sản tài chính có giá trị phụ thuộc (contingent claim), nếu giá trị của hợp đồng tài chính đó tại thời điểm đáo hạn T có thể được xác định hoàn toàn bởi giá trị thị trường (thị giá) của công cụ tiền mặt (hay tài sản cơ bản).

    Đây là định nghĩa của Ingersoll, tác giả cuốn sách rất quan trọng về lý thuyết quyết định tài chính Theory of Financial Decision Making (1987), Rosman and Littlefield.

    Theo cách hiểu này, tại thời điểm đáo hạn của hợp đồng phái sinh chứng khoán, ta ký hiệu đó là thời điểm T, thì giá của tài sản phái sinh F(T) được xác định hoàn toàn bởi S(T) là giá thị trường của “tài sản cơ bản.” Sau thời điểm đáo hạn này, cuộc đời của phái sinh chứng khoán cũng kết thúc. Tính chất này rõ ràng và dễ hiểu, là việc con người quy ước với nhau qua hợp đồng. Tuy đơn giản như thế, nhưng nó lại có vai trò rất quan trọng trong công tác tính toán giá trị của tài sản phái sinh.

    Các loại chứng khoán phái sinh

    Có thể có nhiều loại chứng khoán phái sinh khác nhau, nhưng phân chia về nhóm tài sản phái sinh có các tính chất tương đồng, người ta thường thấy có 3 nhóm phái sinh sau:

    1. Futures và forwards

    2. Options

    3. Swap và swaptions

    Trong số này thì forwards và options được xem là các loại rất cơ bản. Swaps và các loại khác là các cấu trúc phức tạp và hỗn hợp có thể được lai tạp và chuyển biến tính chất từ forwards và options.

    Forwards và futures có tính chất rất tương tự nhau. Chúng ta sẽ phân biệt sau.

    Định nghĩa forward: Một hợp đồng forward là một thỏa thuận nghĩa vụ mua (hay bán) một tài sản cơ bản ở một mức giá forward đã biết vào một ngày đã xác định. Ngày đáo hạn và mức giá forward đều được ghi rõ từ đầu ngay khi hợp đồng forward được nhất trí. Nếu một hợp đồng mua forward được ký, người nắm giữ hợp đồng được gọi là ở vị thế mua (long position) đối với tài sản cơ bản. Nếu như tại thời điểm đáo hạn, giá trị tài sản cơ bản cao hơn giá forward, vị thế mua đó tạo ra lợi nhuận cho người nắm hợp đồng. Ngược lại thì lỗ.

    Sự khác biệt với futures: Như đã nói, forwards và futures khá giống nhau, ngoại trừ một số khác biệt đáng kể sau đây:

    Futures được giao dịch tại các sở giao dịch quy củ, định hình, tập trung và có quy chế rõ ràng. Sở giao dịch thậm chí còn soạn sẵn các hợp đồng có quy cách tiêu chuẩn và đặt một số kỳ hạn cho ngày đáo hạn rất cụ thể. Còn forwards thì tương đối tùy tình huống, và giao dịch OTC.

    Các giao dịch futures được thanh toán bù trừ thông qua các trung tâm bù trừ được ủy quyền. Sở giao dịch sẽ thiết kế một cơ chế bù trừ rất tinh tế-phức tạp để tối thiểu hóa mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán.

    Các hợp đồng futures được quyết toán theo thị giá cuối ngày. Mỗi ngày hợp đồng đều được khớp sổ quyết toán và cùng lúc đó một hợp đồng mới được phát

    hành vẫn theo các điều khoản ban đầu. Bất kỳ khoản lỗ hay lãi nào phát sinh trong ngày đều được ghi vào tài khoản của người nắm giữ hợp đồng.

    Options:

    Options (thỉnh thoảng tiếng Việt vẫn có tài liệu gọi là quyền chọn) là nhóm phái sinh cơ bản. Nếu như hợp đồng forward và futures có tính bắt buộc đối với người nắm giữ phải giao tài sản hoặc chấp nhận tài sản tại thời điểm đáo hạn, thì options ngược lại cho người nắm giữ quyền, chứ không phải nghĩa vụ, được mua hay bán một loại tài sản.

    Ta xét một định nghĩa của option kiểu Châu Âu:

    Option quyền mua kiểu Châu Âu đối với một chứng khoán S(t) là quyền được mua chứng khoán tại mức giá thực hiện (strike price) K được xác định trước. Quyền này có thể được thực hiện vào đúng ngày đáo hạn T của option. Option mua có thể được mua với giá C(t), gọi là pmium, tại thời điểm bất kỳ t<T.

    Swaps:

    Swaps và swaptions là những loại chứng khoán phái sinh khá phổ biến. Phương pháp phổ biến để tính giá các phái sinh này là phân tách chúng ra thành các forwards và options.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Var ( Value At Risk)
  • Vgm (Công Ước Solas) Là Gì?
  • 2 Phương Pháp Tính Thuế Vat Cho Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Giúp Học Sinh Lớp 4;5 Phân Loại Và Giải Bài Toán Bằng Phương Pháp Tính Ngược Từ Cuối (Kinh Nghiệm Được Xếp Bậc 4)
  • Công Ty Xây Dựng Và Sàn Phẳng Việt Nam
  • Các Công Cụ So Sánh Báo Cáo Tài Chính (Bctc)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Dạng Để So Sánh Phân Số
  • Các Cách Tiếp Cận Và Các Phương Pháp Thẩm Định Giá
  • Thẩm Định Giá Máy Móc Thiết Bị Bằng Phương Pháp So Sánh
  • Phân Tích Báo Cáo Tài Chính Bằng Phương Pháp So Sánh
  • Phong Cách Sống Của Người Đời :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Tuy nhiên, khi so sánh dữ liệu bảng báo cáo tài chính với một vài dữ liệu sau đây, công ty có thể đạt được sự hiểu biết tốt hơn về những khuynh hướng và đưa ra được những quyết định phù hợp về ý nghĩa của chúng. Mặc dù không ai trong chúng ta có thể thay đổi quá khứ. Nhưng công ty vẫn có thể sử dụng thành quả quá khứ như mốc so sánh hoặc so sánh chuẩn với tình hình hiện nay, để đưa ra những quyết định chính xác hơn trong tương lai. Những so sánh khả thi bao gồm:

    • Thành quả đã qua của chính doanh nghiệp (Những kết quả của thời kỳ trước đây).
    • Thành tích của các nhà cạnh tranh (Những doanh nghiệp tương tự khác).
    • Thành tích của ngành công nghiệp nói chung (Những doanh nghiệp khác trong cùng ngành công nghiệp).
    • Những mục đích, mục tiêu và kế hoạch chi tiết của tổ chức.
    • Tỉ lệ phần trăm xu hướng. Cũng có thể hoàn tất việc phân tích báo cáo tài chính qua cách sử dụng những tỉ lệ phần trăm xu hướng, vẫn được sử dụng để nêu lên một con số dữ liệu tài chính so với năm cơ sở. Qui tắc trong việc sử dụng những tỉ lệ phần trăm xu hướng là ít nhất phải xem xét 3 điểm dữ liệu, trước khi có thể xác định 1 xu hướng.

    1. Tiềm năng đối với sự tồn tại: Được đo lường bằng khả năng tiền mặt(khả năng đáp ứng những nghĩa vụ tài chính ngắn hạn), khả năng trả nợ (khả năng đáp ứng những nghĩa vụ tài chính dài hạn), và đòn bẫy vay nợ (tỉ lệ phần trăm những nguồn vốn bên ngoài so với nội bộ, được sử dụng để hình thành cơ cấu vốn của công ty).
    2. Thành quả: Đối với những việc đáp ứng mục đích tài chính và kinh doanh, được đo lường bằng những kết quả quản lý tài sản và khả năng sinh lợi.

    Tỉ số (ratio), tiêu biểu cho mối quan hệ toán học giữa hai tình trạng về số lượng, là phương pháp đầu tiên được sử dụng đối với cách phân tích này. Khi được đo lường trong suốt một thời kỳ, thì tỷ số cho thấy những thay đổi hoặc xu hướng hoạt động kinh doanh của công ty. Chúng cũng cung cấp thông tin có giá trị để nhận ra những dấu vết rắc rối về kinh doanh. Việc nhận ra các vấn đề kinh doanh thực sự của một tổ chức và những nguyên nhân cố hữu (không phải là những triệu chứng) có thể cực kỳ khó khăn, và đôi khi, chỉ một phương pháp sáng tạo sẽ bộc lộ tình hình cơ bản thực sự.

    Công ty nên triển khai và cung cấp một bảng báo cáo tài chính và báo cáo tổng hợp những hoạt động kinh doanh nội bộ nào:

    • Tích hợp các bảng báo cáo tài chính của công ty với những nhu cầu kinh doanh của tổ chức.
    • Sử dụng dữ liệu tài chính dưới dạng kinh doanh, để nhận ra các vấn đề và những nguyên nhân về kinh doanh trong tổ chức.
    • Sử dụng dữ liệu tài chính và kinh doanh để đưa ra quyết định hiệu quả hơn, hướng tới sự phát triển tích cực.

    Sự chuẩn bị và phân tích các báo cáo tài chính cơ bản chỉ là điểm khởi đầu để triển khai báo cáo tổng hợp về tài chính và kinh doanh. Nếu bảng báo cáo tài chính được thực hiện cách đúng đắn , thì nó có thể cung cấp thông tin hữu ích về thành tích tài chính trong quá khứ và trạng thái hiện nay của công ty. Tuy nhiên, khi không nhận ra những hoạt động kinh doanh nội bộ (và môi trường bên ngoài) của công ty, và cách thức công ty vận hành, thì riêng việc phân tích tài chính không thể kể lại toàn bộ câu chuyện. Các vấn đề bên ngoài và kinh doanh nội bộ cần xem xét có thể bao gồm như sau:

    • Phân tích sản phẩm. Bán gì , bán cho ai, những chi phí sản phẩm, và tính chi phí thế nào( những cơ cấu định giá).
    • Cơ sở khách hàng. Ở trong những thị trường gì, bán cho ai, bao nhiêu sản phẩm, phục vụ như thế nào.
    • Dự báo mức tiêu thụ. Bao nhiêu sản phẩm, cho ai, và làm thế nào để bán
    • Các quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ. Cung cấp cái gì, làm thế nào để cung cấp , hiệu suất sử dụng.
    • Các hệ thống tích hợp. Kinh doanh/tiếp thị, sản xuất, kỹ thuật, tài chính và nhân sự.
    • Các hệ thống lên kế hoạch và lập ngân sách. Các kế hoạch chiến lược, dài hạn, ngắn hạn và chi tiết.

    Các kiến thức thuế chuyên sâu kế toán cần nắm rõ Khóa học Kế toán thuế chuyên sâu Kinh nghiệm làm việc với đoàn kiểm tra Báo cáo tài chính truyền thống không đáp ứng nhu cầu vận hành Cán bộ thuế thường kiểm tra và xuất toán những gì?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Tạo Xanh: Cách So Sánh Hai Lũy Thừa Cùng Cơ Số
  • Một Vài Vấn Đề Nghiên Cứu So Sánh
  • Ý Nghĩa Từ Phương Pháp So Sánh
  • 4 Phương Pháp Cho Điểm Khi Đánh Giá Nhân Sự
  • Thẩm Đinh Giá Bất Động Sản Bằng Phương Pháp So Sánh
  • Hành Chính Nhân Sự Là Gì? Công Việc Của Nhân Viên Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Trưởng Phòng Nhân Sự, Việc Làm Hành Chính Nhân Sự, Lương Hấp Dẫn
  • Hồ Xuân Hương Đà Lạt
  • Hồ Xuân Hương Đà Lạt Có Gì Chơi Và Cách Đi Đến Hồ Nhanh Nhất
  • Hồ Xuân Hương: Cuộc Đời Huy Hoàng Nhưng Nhiều Sóng Gió
  • Khái Quát Về Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Của Hồ Xuân Hương
  • Nhắc đến sự thành công của một doanh nghiệp, người ta thường nhắc tới vai trò của nguồn lực con người, trước cả nguồn vốn, tài chính… Điều đó khẳng định tâm quan trọng của công việc quản trị nhân sự, quản lý nguồn lực công ty, quản lý các nhân viên và các cán bộ khác trong doanh nghiệp.

    Do đó, nhân sự hay nguồn lao động trong doanh nghiệp có vai trò hết sức to lớn và là yếu tố đặc biệt quan trọng quá trình hoạt động và sáng tạo của tổ chức. Và điều tất yếu để duy trì và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thì hoạt động quản lý hành chính nhân sự phải được ưu tiên hàng đầu.

    Làm hành chính thì dễ, nhưng để có một cán bộ quản trị hành chính – nhân sự đúng nghĩa thì khó. Điều đó đòi hỏi người làm hành chính nhân sự phải hiểu sâu sắc thế nào là quản trị hành chính quản lý nhân sự.

    Hiện nay, vẫn nhiều người có cái nhìn phiến diện, một chiều khi cho rằng quản lý nhân sự chỉ dừng lại ở việc tuyển dụng nhân sự và trả lương cho nhân sự đó. Tuy nhiên, quản lý hành chính nhân sự cần được hiểu là toàn bộ các hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành và quản lý công tác thông tin trong cơ quan, đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Trong đó, các hoạt động quan trọng bao gồm phân tích công việc, tuyển dụng nhân sự, đào tạo và phát triển nhân sự, đãi ngộ nhân sự, đánh giá kết quả thực hiện công việc…

    Cụ thể:

    1. Công việc hành chính:

    – Quản lý, sắp xếp văn bản, hồ sơ một cách khoa học;

    – Tổ chức lưu trữ văn bản, hồ sơ (bản cứng và bản mềm);

    – Cập nhật dữ liệu trong máy tính: thư đi, thư đến, hợp đồng…

    – Tạo các biểu mẫu phục vụ cho công việc quản lý một cách có hệ thống;

    – Thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp quản lý giao.

    – Kỹ năng quản lý;

    – Kỹ năng lập kế hoạch;

    – Chịu được áp lực công việc;

    – Sử dụng máy vi tính thành thạo;

    – Nhanh nhẹn, giao tiếp tốt. Cẩn thận, chịu khó, có tinh thần ham học hỏi;

    – Năng động, sáng tạo, trung thực và hòa đồng;

    – Có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc theo nhóm và độc lập;

    – Có kỹ năng quản lý.

    2. Công việc nhân sự:

    Vì lẽ đó, một nhân viên hành chính cần phải:

    – Am hiểu Luật lao động, bảo hiểm, quy chế lương thưởng, ngày phép là yêu cầu bắt buộc;

    – Có kinh nghiệm tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo;

    – Tính cách hướng ngoại, năng động, hòa đồng;

    – Có khả năng xử lý tình huống tốt.

    Ta có thể chia các hoạt động trong quản trị nhân sự ra làm 3 nhóm chính:

    Như vậy, thách thức của nghề quản lý hành chính – nhân sự càng lớn thì đòi hỏi đối với người làm quản lý nhân sự càng cao. Với sứ mệnh và tư duy phát triển của mình, VnResource đã đang và sẽ muốn tiếp tục cùng đồng hành và phát triển với những người làm công tác nhân sự nói riêng và nhà quản trị nói chung, hy vọng sẽ góp phần sức nhỏ vào công tác quản lý nhân sự cho những cán bộ quản lý hành chính – nhân sự chuyên nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Là Gì? Mô Tả Công Việc Hàng Ngày
  • Ngành Hành Chính Công Là Gì? Tìm Hiểu Về Ngành Hành Chính Công
  • Vũ Trụ Và Hệ Mặt Trời
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Điện Mặt Trời Áp Mái Hòa Lưới
  • 8 Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời
  • Sự Khác Biệt Giữa Hành Chính Công Và Tư Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Hộ Chiếu Và Visa?
  • Sự Khác Nhau Giữa Hộ Chiếu Và Visa
  • Passport Là Gì? Visa Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Passport Và Visa Bạn Cần Biết
  • Nguyên Nhân, Hoàn Cảnh Kí Kết Và Nội Dung Hiệp Ước Pa Tơ Nốt
  • Giao Thức Tcp/ip Là Gì? So Sánh Mô Hình Osi Với Mô Hình Tcp/ip
  • Quản trị có thể được xem là hành động quản lý hiệu quả các công việc của một tổ chức kinh doanh hoặc nhà nước. Nó ngụ ý việc sử dụng tối ưu con người, thông tin và các nguồn lực khác của tổ chức, trong việc đạt được mục tiêu cuối cùng của công ty. Chính quyền có thể được thực hiện bởi các quan chức công cộng hoặc cá nhân. Hành chính công là một nhánh của kinh tế làm việc với động lực dịch vụ. Mặt khác, quản trị tư nhân làm việc với trực giác kinh doanh.

    Hành chính công khác với chính quyền tư nhân, theo ba cách quan trọng, đó là tính chất chính trị, trách nhiệm và phạm vi hoạt động của họ. Ở đây một bài viết được trình bày để giúp bạn hiểu ý nghĩa và sự khác biệt giữa hành chính công và tư nhân.

    Biểu đồ so sánh

    Định nghĩa hành chính công

    Nó vừa là một kỷ luật cũng như một hoạt động. Trong khi là một ngành học, nó bao gồm tất cả các đối tượng, như ngân sách, lập kế hoạch, tổ chức, kiểm soát, báo cáo, chỉ đạo, nhân sự, vv Là một hoạt động, nó thực hiện các dịch vụ như dịch vụ phúc lợi, dịch vụ an sinh xã hội, quản lý chính phủ, quy định doanh nghiệp tư nhân, vân vân.

    Định nghĩa hành chính tư nhân

    Sự khác biệt chính giữa hành chính công và tư nhân

    1. Việc quản lý có hệ thống và có kế hoạch rõ ràng về các vấn đề của nhà nước để đạt được các mục đích do chính phủ thiết lập được gọi là Hành chính công. Thuật ngữ quản trị tư nhân dùng để chỉ hoạt động, quản lý và tổ chức các công việc của doanh nghiệp kinh doanh.
    2. Hành chính công là một quá trình chính trị. Mặt khác, hành chính tư nhân là một hoạt động kinh doanh.
    3. Hành chính công diễn ra trong thiết lập chính phủ, trong khi hành chính tư nhân hoạt động trong cấu trúc khác với thiết lập chính phủ.
    4. Hành chính công theo một cách tiếp cận quan liêu, trong khi chính quyền tư nhân có một cách tiếp cận bình đẳng.
    5. Ra quyết định trong hành chính công là đa nguyên, nhưng trong hành chính tư nhân, có những quyết định độc quyền được đưa ra.
    6. Trong hành chính công, doanh thu được tạo ra từ thuế, phí, nghĩa vụ, hình phạt và các khoản phí khác được trả bởi công chúng. Trái ngược với quản trị tư nhân, nơi lợi nhuận từ hoạt động điều hành là nguồn thu chính.
    7. Khi nói đến trách nhiệm, các quan chức công cộng có trách nhiệm với công chúng. Không giống như, quản trị tư nhân nơi các nhân viên có trách nhiệm với chủ sở hữu.
    8. Hành chính công là định hướng phúc lợi; nó hoạt động với động cơ dịch vụ. Ngược lại, chính quyền tư nhân là định hướng lợi nhuận.

    Phần kết luận

    Hành chính công hoạt động trong một môi trường chính phủ, và đó là lý do tại sao nó còn được gọi là hành chính chính phủ. Ngược lại, quản trị tư nhân là một quy trình kinh doanh, do đó được coi là quản trị kinh doanh. Cả hai đều đóng một vai trò quan trọng trong việc đóng góp cho sự phát triển của xã hội theo những cách khác nhau. Hơn nữa, việc đo lường hiệu suất, tiến độ và kết quả của chúng, có thể được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Public Administration Là Gì? Điểm Khác Của Hành Chính Công Với Tư
  • Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hoán Dụ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100