Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà

--- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • Sự Khác Biệt Giữa Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục
  • Biến Toàn Cục Và Biến Cục Bộ Trong C#
  • Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Lịch sử Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil. Sử gia Hy Lạp cổ đại là Herodote đã từng viết: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nil”. Điều đó nói lên rằng sông Nil có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của người Ai Cập thời cổ đại. Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10, nước sông Nil dâng cao gây nên những trận lụt lớn. Sang tháng 11, nước sông rút đi, để lại một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, rất thích hợp cho việc gieo trồng các loại ngũ cốc. Vì vậy, dân cư sống từ thời viễn cổ ở hai bên bờ sông Nil đã biết nghề nông rất sớm. Dọc hai bờ sông Nil và ven các hồ, đầm mọc rất nhiều một loại cây sậy – cây papyrut. Người Ai Cập thời xưa dùng vỏ cây papyrut để làm giấy viết.

    Giấy được làm từ vỏ cây Papyrut

    Ở những dãy núi phía đông và phía tây dọc thung lũng sông Nil, có rất nhiều loại đá khác nhau: đá vôi, đá huyền vũ, đá hoa cương, đá vân mẫu. Đây là những vật liệu kiến trúc quan trọng nhất của người Ai Cập thời cổ đại.

    Tài nguyên thiên nhiên có quan hệ đến việc ghi chép văn tự của người Ai Cập cổ đại. Văn tự Ai Cập cổ đại được ghi lại trên các cuốn giấy papyrut. Thân cây papyrut được người Ai Cập cổ đại dùng để làm giấy. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy. Chính các cuộn giấy papyrut này được lưu giữ ở các bảo tàng châu Âu(1) đã cho hậu thế biết được những trang sử, những thành tựu y học(2) và các thành tựu văn hóa khác của Ai Cập cổ đại.

    Văn tự Ai Cập cổ đại còn được khắc giữ trên các tường thành, các bia bằng đá. Văn tự cổ Ai Cập về sau đã trở thành “văn tự chết”, vì đã lâu người ta không dùng thứ văn tự này nữa và cũng quên cách đọc. Nhưng việc đọc lại được văn tự cổ đó sẽ rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử Ai Cập cổ đại. Chính là nhờ phát hiện được một tượng đá bằng phún thạch, trên mặt đá có ghi đầy đủ các loại chữ Ai Cập cổ, chữ Arập, chữ Hy Lạp cổ mà Jean Franςois Champollion đã có căn cứ để tìm cách đọc lại được văn tự Ai Cập cổ đại vào năm 1822(3).

    Bức tượng “Scribe accroupi”, viên thư lại ngồi xếp bằng

    Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Ai Cập cổ đại rất nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ kim. Những đền đài, cung điện, kim tự tháp còn bảo tồn đến ngày nay đều chứng minh điều đó. Những công trình văn hóa ấy đều gắn liền với đá – một tài nguyên dồi dào ở Ai Cập. Để xây những kim tự tháp, người ta phải dùng một khối lượng đá rất lớn gồm hàng chục triệu khối đá. Những khối đá ấy được mài nhẵn và ghép vào nhau rất sát. Những tác phẩm điêu khắc cũng thể hiện tài năng lỗi lạc của cư dân Ai Cập. Người ta đã khắc tượng các Pharaoh bằng đá. Bức tượng “người thư lại” ngồi xếp bàn được tạc bằng đá của thời Cổ vương quốc cũng khá nổi tiếng. Vẻ sinh động của các bức tượng cũng phải khiến người đời nay thán phục. Cũng nhờ được chế tác từ đá mà rất nhiều giá trị văn hóa cổ Ai Cập còn lưu lại được cho đến ngày nay. Nhờ vậy mà người Ai Cập có thể nói: Bất cứ cái gì đều sợ thời gian, nhưng bản thân thời gian thì phải sợ kim tự tháp.

    Giữa các kim tự tháp, trên cánh đồng Gize, gần Memfis, có tượng Sphinx dài 57 mét, cao 20 mét. Khi viễn chinh sang Ai Cập, Napoléon đã cho pháo binh bắn đại bác vào tượng đó, hòng mở một lối vào bên trong của tượng. Sau đó mới rõ bức tượng là một khối đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc thời bấy giờ tạc thành đầu người, mình sư tử để tượng trưng cho quyền lực Pharaoh “oai hùng và bất diệt”.

    Đại nhân sư Sphinx của Giza, bức tượng khổng lồ nửa người nửa sư tử nằm bên bờ tây sông Nile, gần Cairo

    Ở Ai Cập cổ đại, sự phát triển khoa học cũng gắn liền với điều kiện tự nhiên, với dòng sông Nil. Đúng như K. Marx đã nói: “Ở Ai Cập, trước hết là do sự cần thiết mới biết được mực nước sông Nil lên xuống nên đã đẻ ra thiên văn học Ai Cập…”. Vì muốn biết thời tiết và mực nước của sông Nil để sắp xếp công việc đồng áng nên người Ai Cập cổ đã sớm chú ý quan sát thiên văn. Các nhà thiên văn Ai Cập đã phát hiện các chòm sao và đã soạn ra bản đồ thiên thể được vẽ trên các cửa đền đài cổ. Còn truyền lại cho chúng ta ngày nay là bản đồ 12 cung hoàng đạo. Người ta đã vẽ chòm sao Bắc cực thành đầu một con bò. Họ cũng biết sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ và các hành tinh khác. Người Ai Cập cũng đã phát minh ra chiếc đồng hồ đo bóng mặt trời để tính thời gian trong một ngày. Họ chia một ngày ra làm 24 giờ rồi chiếu theo vị trí của bóng mặt trời ở trên đồng hồ đó mà đọc giờ, phút.

    Việc gieo trồng có quan hệ mật thiết với việc hiểu biết thời gian lên xuống của mực nước sông Nil. Muốn biết chắc chắn lúc nào nước sông Nil lên cao, người Ai Cập cổ phải quan sát bầu trời và làm lịch. Người Ai Cập nhận thấy đến một ngày nào đó, lúc sáng sớm mà có sao Lang (Sirius) mọc đúng ở đường chân trời thì đúng là lúc nước sông Nil bắt đầu dâng lên. Ở Ai Cập cổ đại, việc cần biết thời gian nào nước sông Nil lên cao, việc quan sát bầu trời để từ đó có tri thức về thiên văn học, việc làm lịch, ba việc đó có quan hệ mật thiết với nhau. Đơn vị “năm” trong lịch cổ Ai Cập là thời gian giữa hai lần lúc sáng sớm có sao Lang xuất hiện ở đường chân trời.

    Lịch sử văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil nên trong tín ngưỡng người Ai Cập cổ đã sùng bái thủy thần Osiris tức là thần sông Nil. Những lời ca tụng sông Nil đã xuất hiện rất sớm trong đời sống của văn hóa Ai Cập:

    Chào người, ta chào sông Nil

    Từ quả đất này Người xuất hiện

    Người đến để nuôi sống Ai Cập

    Người tạo ra lúa mì, lúa mạch

    Khi Người trào dâng, thì mặt đất hoan hỷ

    Mọi người vui mừng

    Mọi cái lưng rung lên, vì những tiếng cười

    Mọi cái răng cắn lấy thức ăn…(4)

    Bản đồ văn minh Lương Hà ( phần phủ màu xanh)

    Lưỡng Hà hay Mésoptamie (có nghĩa là miền đất giữa hai con sông) là khu vực do hạ lưu hai con sông Tigris và Euphrates tạo thành. Giống như miền thung lũng sông Nil, lưu vực Lưỡng Hà cũng là một khu vực phì nhiêu, rất thích hợp cho nghề nông. Ở Lưỡng Hà rất hiếm đá và các loại khoáng sản nhưng chất đất ở Lưỡng Hà chủ yếu là đất sét dùng để làm gạch và đồ gốm rất tốt. Điều đó đã tạo nên một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa ở Lưỡng Hà.

    Vào giữa thế kỷ XIX các nhà khảo cổ học người Anh đã khai quật được tại Niniv kinh đô của đế quốc Assyrie một thư viện đồ sộ – thư viện của Hoàng đế Assurbanipal. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 22000 bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ. Những bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ ấy đã giữ lại cho hậu thế những sự tích thần thoại, những tri thức khoa học và văn học nghệ thuật. Những bảng gạch bằng đất sét ấy bị chôn vùi dưới đất 2500 năm, đã được lửa làm cho rắn và…bền thêm nên đã không bị hủy hoại.

    Văn tự cổ còn lưu lại của nền văn minh Lưỡng Hà

    Các nhà khảo cổ học cho rằng có thể đây là bức thư đầu tiên của nhân loại. Bức thư này hiện đang được lưu giữ tại một viện bảo tàng ở Luân Đôn. Đó là một miếng đất sét nung, đào được ở vùng Caldée, có cả phong bì nặn theo hình cái túi cũng bằng đất sét nung. Theo các nhà khảo cổ thì người viết thư đó sống cách chúng ta khoảng 7000 năm ở vào thời vua Lacdu – vị vua thứ nhất của Vương quốc Babylone. Chữ viết trên bức thư là những nét gạch bằng que nhọn, khó khăn lắm người ta mới đọc được. Bức thư nói về việc bán hay cho thuê một mảnh đất do một người tên là A-ni-ni chuyển nhượng lại cho một người tên là Sim-đi-ha (5).

    Ở Lưỡng Hà vì hiếm đá nên đất sét cũng là vật liệu xây dựng chính. Ở đất nước Iraq ngày nay (thuộc vùng Lưỡng Hà xưa kia) có một địa danh hết sức nổi tiếng trong lịch sử: thành Babylone. Thành Babylone có tên trên bản đồ thế giới cổ đại vào nửa sau của thiên niên kỷ III trước công nguyên. Người Akkad đã đặt những nền móng đầu tiên cho nó vào những năm 2350 – 2150 TCN. Vào thời kỳ hưng thịnh của Babylone, Hoàng đế Nabochodonosor đã xây dựng lại trung tâm Babylone thành một đô thành nguy nga đồ sộ. Thành Babylone có mặt bằng hình chữ nhật. Toàn bộ tường thành có 9 cửa lớn. Ở phía bắc là cửa Ixta nổi tiếng ghép bằng gạch lưu ly màu, đó cũng chính là một sản phẩm độc đáo chỉ có ở vùng Lưỡng Hà. Theo nhà sử học Herodote thì Babylone “được chia làm hai phần bị cắt thẳng ở giữa bởi một con sông lớn, sâu và chảy xiết tên là sông Euphrates”.

    Những điều kiện đất đai, thủy văn, vật liệu xây dựng riêng biệt đã chi phối hoạt động kiến trúc của cư dân Lưỡng Hà cổ đại. Vùng đất này gần sông, nên đất không lấy gì làm chắc chắn, xung quanh là sa mạc, chỉ thỉnh thoảng mới có một vài khóm cọ…là những yếu tố đòi hỏi người thiết kế phải suy nghĩ từ kỹ thuật cho đến nghệ thuật.

    Vườn treo Babylon (cũng được gọi là vươn treo Semiramis)

    Ở Lưỡng Hà cổ đại, vượt lên trên tất cả thành quách, đền đài cung điện…được xây dựng công phu và đẹp đẽ là một công trình hết sức độc đáo: “vườn hoa không trung” hay còn gọi là “vườn treo” – là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Đây là món quà của vua Nabochodonosor tặng cho vợ của ông ta.

    “Vườn hoa không trung” này được xây dựng trên một quả đồi nhỏ. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát được cả thành Babylone.

    Điều đáng chú ý là vật liệu xây dựng thành Babylone cũng như xây dựng ngọn đồi nhân tạo để có một “vườn hoa không trung” chủ yếu là bằng gạch dựa trên cơ sở nguồn đất sét phong phú ở Lưỡng Hà. Vườn treo Babylone ngày nay chỉ để lại dấu vết là ít phần móng của công trình làm bằng đá, một loại vật liệu ít thấy và chỉ có ở cách Babylone hàng trăm km. Chính vì vậy mà các thành tựu kiến trúc của Lưỡng Hà cổ đại khó giữ lại gần nguyên vẹn như là ở Ai Cập cổ đại. Đứng trước Babylone, du khách không có cái “rợn ngợp” triết lý về mặt thời gian mà nhiều hơn là mối cảm hoài “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Cái tráng lệ và huy hoàng của Babylone xưa kia nay chỉ còn in dấu trên những bức tường, có bức được xây bằng gạch gốm tráng men ghép lại thành hình những con thú: sư tử, bò tót và con vật thần thoại – đầu rồng, mình cá, chân phượng hoàng hoặc là những hoa văn. Nhà hát Babylone, con đường “hành lễ” cũng chỉ còn lại những mảnh tường.

    Tại viện bảo tàng lịch sử Iraq hiện nay đang còn lưu giữ rất nhiều những hiện vật được chế tạo bằng đất sét từ thời kỳ cổ đại.

    Văn hóa là do con người sáng tạo ra trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Nhưng văn hóa cũng chịu ảnh hưởng của những điều kiện tự nhiên, khí hậu, tài nguyên, cảnh quan, sông núi…Những điều kiện tự nhiên ấy đã góp phần vào sự hình thành màu sắc và cả bản sắc văn hóa của một khu vực, một dân tộc…Con người sáng tạo văn hóa, dù muốn hay không cũng có mối quan hệ với hoàn cảnh tự nhiên, tìm thấy trong điều kiện tự nhiên những mặt thuận lợi và cả những mặt khó khăn, tìm thấy trong tự nhiên những gì có thể mang lại cho văn hóa những ảnh hưởng độc đáo, những nguồn cảm hứng sáng tạo.

    Chú thích:

    (1)Tại một viện bảo tàng ở Hà Lan có cuộn giấy papyrut ghi chép tác phẩm Lời khuyên răn của I-pu-xe; tại viện bảo tàng Saint Peterburg (Nga) còn lưu giữ cuộn giấy ghi chép tác phẩm Lời tiên đoán của Nê-phéc-ty.

    (2) Nhiều thành tựu y học được ghi lại trên các cuộn giấy papyrut của Ai Cập cổ đại (Chiêm Tế (1970), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 128).

    (3) Đặng Đức An chủ biên (1995), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.

    (4) Trích dịch từ sách Học tập lịch sử cổ đại, trung đại ở lớp 5, 6, E.I Nhi-ca-nô-ra-vôi chủ biên (1964), Mátxcơva. Bản dịch của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế.

    (5) Đắc Lê, “Bức thư đầu tiên”, Báo Quân đội Nhân dân, số 5187.

    Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Một nền văn minh vĩ đại đã hình thành ở Trung Đông từ các khu định cư ở vùng Crescent Màu Mỡ. Nơi an tọa của vị thánh siêu quần, chủ nghĩa siêu thực linh thiêng và chủ nghĩa thực dụng tàn nhẫn. Nơi chúng ta có thể tìm thấy cội nguồn luật pháp, buôn bán, tiền bạc và máu đổ tràn lan. “Vùng đồng bằng Lưỡng Hà” trong loạt phim Văn minh Phương Tây.

      Văn minh Lưỡng Hà được hình thành nhờ những nguy hiểm mà họ phải trãi qua. (thiên tai, chiến tranh) (Những cơn mưa xối xả và Con đường chiến trận thuận lợi)

    Khu vườn Địa đàng nhiều thảm họa thiên nhiên, những cơn mưa xối xả, vườn Địa đàng ở phía Đông của Eden: Nào thử bạn có nhận ra đoạn văn này không: ” Và Chúa đã tạo ra 1 khu vườn ở phía Đông của Eden, và ngài đặt ở đó con người ngài đã tạo nên, từ đất mà Chúa đã tạo ra con người. Người còn tạo ra các loài cây trông thì đẹp, ăn thì ngon,.. Và có 1 dòng sông chảy từ Eden tưới cho khu vườn và từ đó nó chia thành 4 nhánh. Nhánh thứ nhất là Pison, nhánh thứ 2 là Gikhon, nhánh thứ 3 là Hiddeken, nhánh này chảy vòng qua Assyria, ở đó chúng ta goi là Tigris, và nhánh thứ tư là Euphrates”. trong Sáng Thế ký. Nó mô phỏng lại hình ảnh của khu vườn giữa ốc đảo của dòng sông thứ 3 và 4 của Chúa. Khu vườn đầu tiên con người sống với các loài động vật ở giữa thiên nhiên hào phóng, và chưa mang lại 1 rắc rối nào. Đó là 1 phần của thiên đường. Và Vườn Địa đàng là 1 tên gọi khác của khu vườn. Và Vườn Địa đàng này chính là đồng bằng Lương Hà cổ đại. Vùng đất giữa những con sông. Nhưng vùng đb Lưỡng Hà và những vùng đất bao xung quanh nó, từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư, từ cao nguyên Iran đến Địa Trung Hải là 1 thiên đường bị bao trùm bởi các thảm họa thiên nhiên như khu vườn địa đàng là thiên đàng dưới bóng đen của sự sụp đổ. Vùng đất phải chịu những cơn mưa xối xả.

    Người Ai Cập đã nói về “dòng sông Nile của bầu trời”. Nó có những cơn cuồng phong và những trận bão cát khủng khiếp, những trận lũ điên cuồng như chúng ta biết về những dòng lũ lớn mà người Do Thái lấy ra từ sử thi Babylon. Dù khi thiên nhiên không còn làm cuộc sống khổ sở và khó lường trước nữa. Nhưng thung lũng sông Nile không bao giờ là lối đi thuận tiện cho những kẻ xâm lược. Một mặt hướng ra biển. Một mặt hướng ra vùng hoang vu ngổn ngang. Vì vậy Ai Cập có thể phát triển nền văn minh của mình, mà không phải chịu cảnh chiến tranh liên miên. Nhưng 2 con sông Tigris và Euphrates là những con đường tự nhiên tuyệt vời, không chỉ để buôn bán mà còn phục vụ cho quân đội di chuyển và sự di cư của loài người. Vì vậy những người ở Lưỡng Hà vừa là binh lính vừa là thương nhân. Chủ nghĩa hiện thực, sự hung ác, nhẫn tâm của họ, một phần là do hoàn cảnh địa lý của họ. Đó cũng là 1 trong những lý do khiến những vị thần của họ trở nên khủng khiếp, không thể dự đoán và có những cách hiển linh rất dễ sợ.

    Do thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh làm các phát minh vĩ đại ra đời: bánh xe, chữ viết trừu tượng, Toán học,…. Sợ thiên nhiên nên cần xây đền thờ.

    Việc xây dựng đền thờ cần nhu cầu có chữ viết để lưu việc thiết kế, thu, chi

    Nhiều thứ lớn lao bao quanh chúng ta ngày nay bắt nguồn từ 1 vùng đất nhỏ, không lớn hơn Đan Mạch, nằm trên châu thổ sông Tigris – Euphrates mà chúng ta biết với cái tên Sumer. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cộng với những cuộc chiến tranh triền miên của họ – đặc biệt là những cuộc chiến tranh do chính họ châm ngòi, đã mở đầu 1 loạt đột phá công nghệ và thúc đẩy chuyển biến về văn hóa, xã hội, kinh tế. Chính tại Sumer, qua hệ thống tưới tiêu và thoát nước, những ngôi làng đầu tiên từ lều tranh và gạch sống đã trở thành thành phố từ thiên niên kỷ IV TCN. Những con người sáng tạo ra nền VM Lưỡng Hà này được gọi là người Sumerian.

    Chính ở vùng đất này, chúng ta cho rằng bánh xe đầu tiên đã ra đời, phát triển từ bánh xe của thợ gốm, chúng đã thay thế các chiếc xe trượt tuyết, được vận chuyển để chở những hàng hóa nặng. Khoảng 2000 TCN, nan hoa được phát minh, làm những chiếc bánh xe nhẹ hơn nhiều. Và sau đó trục xe được phát minh. Và vì vậy những người ở Cận Đông là những người đầu tiên đi săn và đánh trận bằng xe ngựa. Công cụ này mang lại cho họ lợi thế rất lớn. Cho đến khi lịch sử bắt đầu, tức là khi những văn bản (chữ viết) đầu tiên xuất hiện, khoảng 3000 TCN, chúng ta tìm thấy ở Sumer không chỉ những thành phố mà cả những đền thờ rộng lớn và cấu trúc xã hội phức tạp được lãnh đạo bởi các thầy tu. Mối liên kết xã hội được tạo ra không chỉ bởi dòng sông và nguồn nước của nó như ở Ai Cập mà còn bởi ngôi đền. Ngôi đền điều khiển, thống trị cả cộng đồng, và các vùng quê. Quanh đền thờ 1 thành phố mọc lên.

    So sánh chữ viết của người Lưỡng Hà và Ai Cập, chữ viết LH trừu tượng hơn: Và chữ viết khi đã được người Lưỡng Hà phát triển, phản ảnh 1 trong những sự khác biệt chính giữa họ và người Ai Cập. Năng lực của họ về mức độ của sự trừu tượng hóa. Hãy nhớ rằng chữ tượng hình của người Ai Cập là 1 hình ảnh, là 1 bức tranh. Người Ai Cập là người tư duy cụ thể, nên kể cả khi họ đã sử dụng những ký hiệu để diễn tả 1 âm thanh hay 1 âm tiết, thì họ luôn muốn sử dụng hình vẽ. Kể cả khi ký hiệu Alphabe cũng không chỉ đơn thuần là những chữ cái trừu tượng, mà là những bức tranh nhỏ theo cách của chúng. Nhưng sau đó những người kế tục Sumerian, người Semite, tiến thêm 1 bước. Những người Semite đến từ sa mạc Ả Rập, họ đến châu thổ Lưỡng Hà vào thiên niên kỷ thứ III. Ngay sau đó họ tiếp thu được nền văn hóa Sumerian, họ đã kết hợp các dạng chữ cái Alphabe với những đường nét hình ảnh thành 1 hệ thống duy nhất với những ký hiệu trừu tượng thay thế những bức tranh cụ thể. Nhiều bức tượng Sumerian có xu hướng trừu tượng hóa.

    Người L Hà cũng rất giỏi Toán học, lĩnh vực mà người Ai cập tỏ ra cụ thể và chặt chẽ hơn nhiều. Đây là 1 phiến đất sét viết về 1 bài toán của những học viên L Hà.

    Tôn giáo siêu thực linh thiêng khác với tôn giáo Ai Cập bắt chước thần thánh: Trong tôn giáo cũng có những điểm khác biệt. Xã hội Ai Cập 1 mực bắt chước thần thánh. Nhưng trên thực tế, Ai Cập chính họ đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, 1 bản sao của thế giới thực, nhưng rộng lớn hơn và tốt đẹp hơn nhiều. Đây cũng là điều chúng ta tìm thấy ở Hy Lạp cổ đại. Mặt khác, người Simites đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, nó xa lạ với chính nó và tách biệt với tính thần thánh của nó. Họ đã cố ý sử dụng 1 dạng chủ nghĩa siêu thực linh thiêng để thoát ly khỏi chủ nghĩa hiện thực. Nhấn mạnh vào những khía cạnh siêu phàm của thần thánh, những đôi mắt to lớn biết thôi miên và những đặc điểm siêu nhiên của họ. Bạn có thể nói khi mà người Ai cập bắt được sự khác nhau giữa con người và thần thánh bằng cách mở rộng quy mô của mọi thứ, bằng cách xây dựng những ngôi mộ, bức tượng và hình ảnh lớn hơn, thì người Simites lại quan tâm đến chất lượng, sự bí mật, những ảo mộng và bản chất. Những ngôi đền của cư dân Lưỡng Hà và đời sống tôn giáo không chỉ phản ánh rõ ràng khuynh hướng trừu tượng này mà còn giúp tạo nên và tổ chức sự trừu tượng đó.

    Đó là do cuộc sống và xã hội người Lưỡng Hà tập trung phục vụ những ngôi đền, thần thánh và các thầy tu, ít nhất là vào giai đoạn đầu.

    – Hoạt động buôn bán, khuếch tán văn hóa: Thời gian. Nhưng những ngôi đền và những người phục vụ đền đài không tồn tại trong sự biệt lập. Thứ nhất, thành phố Sumerian cần nhiều hàng hóa nhập khẩu: gỗ, đá để xây dựng; kim loại để làm ra dụng cụ và vũ khí và sau đến là lễ vật dâng thần linh. Những viên đá quý giá từ Afganistan và Ấn Độ. Những viên ngọc trai từ vịnh Ba Tư. Và do đó họ buôn bán, buôn bán rộng rãi và nhộn nhịp. Một tầng lớp thương gia hỗn tạp và độc lập dần dần hình thành. Những đoàn dân buôn có vũ khí và các con tàu buôn thời bấy giờ là những tác nhân mạnh mẽ khuếch tán văn hóa của họ.

    Những thợ thủ công tự do có thể đi cùng những đoàn buôn tìm kiếm thị trường cho sản phẩm của họ. Nô lệ cũng là 1 phần trong hoạt động thương mại, bởi vì kẻ thù bại trận còn sống thì hữu ích hơn đã sống. Và những nô lệ này, cùng đi với đoàn buôn trên ngựa, hoặc trên tàu, sẽ phải được sắp xếp chổ ở khi tới các thành phố. Những người nước ngoài sẽ đòi hỏi, được đáp ứng về nhu cầu tôn giáo, giống như ngày nay có 1 nhà thờ Mỹ ở giữa Paris. Như thế những nghệ thuật và nghề thủ công đắc dụng được phát tán dễ dàng. Ví dụ cây rìu có chuôi của người Lưỡng Hà, là 1 sự phát triển lớn lao của cây rìu cổ xưa, được quấn quanh bởi những sợi thừng nhỏ. Những cây rìu của họ đã chu du tới Biển Đen và thành Troy. Những cái bánh xe quay tít của người thợ gốm, đã làm ra những cái lọ như thế này và được mang về phía Đông tới Ấn Độ, mang về phía Tây tới Hy Lạp, Ai Cập.

    Và Ai Cập đã tiếp thu những kỹ thuật làm chai lọ của người Lưỡng Hà 1000 năm sau khi chúng được phát minh ra. Khoảng 2500 TCN, Ai Cập mới tiếp thu làm chai lọ.

    – Nhưng quan trọng nhất có lẽ là những người thợ kim Lưỡng Hà và Anatonia (phía Bắc Lưỡng Hà) đã tìm cách sử dụng lò nung, để nung chảy các loại quặng: đồng đỏ vào khoảng thiên niên kỷ thứ tư, đồng vào thiên niên kỷ thứ 3 và sắt vào thiên niên kỷ thứ 2. Điều này đã làm ra các vạt dụng mới đẹp đẽ nhưng cùng làm ra các công cụ chiến tranh, giống như chiếc mũ sắt này. Kim loại cứng hơn tạo ra vũ khí mạnh hơn, dẫn đến áp đảo đối phương trong chiến tranh, và cũng áp đảo trong buôn bán vì bất cứ những gì bạn làm ra tốt hơn đối thủ của bạn, và bạn có thể bán chúng.

    – Buôn bán cũng làm cho dòng máu Sumerian pha trộn nhiều hơn, bởi vì những nhà buôn di chuyển, những nghệ nhân thợ thủ công di chuyển và nô lệ cũng đi từ nơi này tới nơi khác, vì vậy dòng máu nguyên thủy, mà tất cả người Sumerian bấy giờ thừa kế, từ 1 tổ tiên chung, ngày càng bị pha trộn mất. Kết quả là việc trông giữ ngôi đền trong thành phố lỏng lẻo dần. Và thánh nam thánh nữ trị vì thông qua các thầy tu cao nhất bị thay thế bằng 1 người thống trị thế tục hoặc 1 ông vua giống như thế này.

    – Quyền lực thế tục: Họ trị vì đất nước dưới danh nghĩa thần thánh. Bạn có thể nghĩ như thế cũng chẳng khác gì nhau, nhưng nó là bước đầu tiên tới sự quyền lực thế tục. Không thiêng liêng, ko cúng lễ, quyền lực giờ trong tay 1 người phàm trần. Mặc dù những ông vua thế tục này chỉ được coi như đại diện của thần thánh, được ủy thác để thực hiện ý chí của họ. Khi họ chiến đấu có thần chỉ huy, quân đội của họ và chính thần đánh trận chứ không phải họ. Điều đó có nghĩa là chiến thắng trong 1 trận chiến, xác định phận sự thiêng liêng của nhà vua. Và khi họ xây dựng luật pháp, họ chỉ đơn giản là diễn giải và áp dụng những nguyên tắc mà thần thánh đã nói cho họ, ngài muốn con người làm theo. Trong khi đó ở Ai Cập, công lý là 1 khía cạnh của trật tự thiêng liêng, trong đó pharaoh là 1 phần không thể tách rời. Ở đồng bằng L Hà cũng như Israel, công lý là biểu hiện các mệnh lệnh của thần thánh, ý chí của thần thánh, được viết ra bởi những người mà thần thánh tin tưởng. Ví dụ như cách mà Chúa tin tưởng Moses. Và vì vậy đấng thần linh tạo ra luật pháp, và những người truyền đạt luật pháp không còn là 1, và với sự tách biệt này, luật pháp có cuộc sống riêng của nó. Ví dụ 1 bộ luật thành văn là 1 giao kèo giữa 2 bên. Dân chúng phải tuân lệnh nhà vua, phải tuân theo luật của vua. Nhưng vua cũng phải tuân theo qui định dành riêng cho vua trong chính bộ luật đó. Và như thế, không ai đứng trên luật pháp, ít nhất trên lý thuyết là như vậy. Và mặc dù từ thời đó cho đến nay, lý thuyết thường bị phớt lờ. Đó vẫn là nguyên tắc cơ bản, có sức mạnh lớn lao, trường tồn. Bởi vì nó được tôn trọng thậm chí trong xung đột. Và vì vậy việc xây dựng và viết bộ luật thành văn bản sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và tư tưởng chính trị của cả xã hội qua các thời đại.

    – Chiến tranh tranh giành đất đai giữa các thành phố, hình thành đế chế: Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các vị vua của cư dân L Hà, chủ yếu là người điều hành quân đội và cương vị đó, chắc hẳn làm họ rất bận rộn. Bởi vì chiến tranh đóng 1 phần lớn trong cuộc sống của xã hội cổ xưa. Mặc dù những người nông dân này sản xuất thừa thải, nhưng chủ yếu nông sản tập trung vào tay 1 nhóm nhỏ trong xã hội. Điều này đã giới hạn khả năng mở rộng dân số nông thôn. Vì vậy nông dân nghèo phải tìm 1 vùng đất mới để sống. Thành phố Sumerian (chú trọng) việc khai hoang ở vùng sa mạc lẫn đầm lầy. Nhưng sau đó cũng như ngày nay, phần lớn những dụng cụ tiết kiệm lao động hiệu quả nhất bị ăn cắp. Vì vậy, có những cuộc chiến không ngừng giữa các thành phố, cố chiếm hoặc đoạt lại đất từ bên kia. Cuối cùng, chủ nghĩa đế quốc đúng nghĩa sẽ phát triển từ những cuộc chiến tranh như thế. Một số thành phố hoặc vùng đất sẽ mở rộng xa hơn, triệt tiêu các đối thủ xung quanh nó, và thiết lập sự thống trị của nó và sự thống trị của thần thánh mà nó đại diện lên những thành phố khác. Qua nhiều thế kỷ, bắt đầu khoảng 2400 TCN, có hàng loạt các đế chế, đầu tiên là các thành phố của người Ur hay Lagash và các thành phố ở phía Bắc như Akkad của người Semite (Sargon). Vị trí chính xác của Akkad vẫn chưa được xác định. Cuối cùng là Babylon, thủ đô của 1 dân tộc Semites, người Amorites. Babylon là 1 thành phố thương mại lớn nhất vùng. Có 1 lượng ngôn ngữ và phương ngữ khổng lồ được nói rất nhiều trên đường phố và các khu chợ. Nơi đã khơi dậy, truyền cảm hứng cho huyền thoại về tháp Baben. Mặc dù những ngôi đền bậc thang hay kim tự tháp bậc thang đầu tiên được tạo nên bởi người Sumerian.

    Bộ luật đầu tiên Hammurabi: Khoảng 1800 TCN, vua Babylon Hammurabi (1810 – trị vì 1792 – 1750 BC), đứng bên trái, đã công bố cho toàn dân 1 bộ luật viết tay, công và tư. Bộ luật Hammurabi đã được khắc ở đây, trên 1 bia tưởng niệm, đã trở thành nền tảng của luật thương mại quốc tế, làm xương sống cho các hợp đồng, lợi tức, các dạng thế chấp và tất cả các loại giao dịch thương mại. Nó cũng bao gồm cả mảng hình sự và khá nghiêm khắc trong lĩnh vực đó: “Luật thứ 8” nếu 1 người ăn trộm bò, cừu, lừa, lợn hay lạc đà của đền thờ hay cung điện sẽ bị phạt gấp 3 lần. Nếu lấy trộm của người bình thường, hắn sẽ bị phạt gấp 10 lần. Nếu tên trộm không thể trả tiền, hắn sẽ bị khép tội chết. Luật thứ 110: nếu 1 nữ tu sĩ, 1 người phụng sự cho thần thánh, mà không sống trong nhà tu kín, mở cửa 1 quán rượu hoặc đi vào quán rượu và uống rượu sẽ bị thiêu sống. Luật 196: nếu 1 người làm 1 quý ông mù mắt, hắn sẽ bị móc mắt. Vì vậy nền văn minh L Hà là nơi đầu tiên khai sinh ra những thứ mà ngày nay chúng ta cho là dĩ nhiên. Bao gồm cả luật nợ máu phải trả bằng máu. Cả bộ luật và các văn tự đã được chuẩn hóa dùng để lưu giữ bộ luật, đều đến từ hoạt động buôn bán.

    Cân đo đong đếm – Tiền: Bởi vì họ phải viết ra những thỏa thuận, và phải làm cho những thỏa thuận này thực sự có hiệu lực. Và cũng chính người đã phát minh ra việc cân đong đếm, rất cần thiết cho việc buôn bán và cực kỳ hữu ích để thống kê thu chi của đền thờ,và việc xây dựng các công trình công cộng. Và trong lúc ấy kiểu quan hệ có trật tự của cư dân thành thị, đã đòi hỏi cách chia thời gian chính xác hơn người nông thôn. Vì vậy người Sumerian đã chia ngày và đêm thành 2 giai đoạn 12 giờ, tức là 24 giờ như chúng ta có ngày nay. Họ đã chế tạo ra nhiều dụng cụ để đo những khoảng thời gian này. Họ và người Babylon cũng chia năm ra thành tuần, mỗi tuần có 7 ngày. Ý tưởng này sau đó được người Do Thái học tập và tiếp tục phát triển, bằng cách đưa ra 1 ngày nghỉ cuối tuần.

    Và cuối cùng những người Sumerian và những người bà con đầu nguồn của họ đã phát minh ra đơn vị đo mà ta gọi là tiền. Cho đến lúc đó thì sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ đã đóng 1 vai trò thực sự quan trọng trong nền kinh tế mới và 1 chuẩn mực chung là rất cần thiết để tất cả các loại hàng hóa đều được đo lường, đều được định giá. Cuối cùng thì 1 con bò đáng giá bao nhiêu? Hay 1 cái bình? Hoặc 1 tên nô lệ? và những chuẩn giá trị mang tính quy ước này sẽ được sử dụng như 1 vật ngang giá trong trao đổi, mà bạn có thể dùng để mua các vật dụng, và định giá công lao động – tức là trả lương.

    Vì vậy chuẩn đầu tiên được sử dụng có lẽ là lúa mạch, 1 thứ thiết yếu của cuộc sống. Trên thực tế, trả lương và trả tiền thuê nhà đất là hình thức chuyển đổi phổ biến nhất, dùng lúa mạch trong suốt 2000 năm, thậm chí cho đến khi Hammurabi ra đời, khoảng từ 1800 đến 1700 TCN. Nhưng sau đó là kim loại, cụ thể là bạc và đồng (cho những giao dịch nhỏ) đã được thừa nhận là vật ngang giá thuận tiện nhất. Thế kỷ thứ VIII TCN, vua Assyri đã bắt đầu đóng dấu trên những thanh bạc. Vào TK thứ VII TCN, các vị vua Lydian bắt đầu làm đồng xu như thế này. Nhưng ban đầu giá trị của bạc hay đồng trong trao đổi không phải là giá trị quy ước mà là lượng kim loại trong nó. Như vậy bạn phải cân, 1 chút bất tiện.

    Dù vậy, sự chấp nhận vật ngang giá bằng kim loại mang tính quy ước đã đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ nền kinh tế tự nhiên trong đó các vật dụng được đổi chác trực tiếp sang nền kinh tế tiền bạc, trong đó mọi thứ đều có thể được định giá, bằng rất nhiều đồng bạc hoặc nhiều bó lúa mạch. Và kết quả của việc này là bạn có thể đánh giá tài sản của ai đó không phải ở thực phẩm, ở nô lệ hay các vật dụng khác (chính chúng cũng có thể bị tiêu thụ, sử dụng hay thưởng thức) mà bằng 1 vật ngang giá trừu tượng chung thứ không thể được tiêu thụ mà chỉ có thể được trao đổi để lấy bất kỳ vật dụng hay dịch vụ hữu ích nào. Vì vậy người sản xuất có thể sản xuất chỉ để bán ra thị trường chứ không phải cho chính họ hoặc lao động cho 1 người có nhu cầu gì đó và sẵn sàng trả công cho anh ta. Bạn có thể sản xuất cho thị trường, bạn có thể tự định giá cho thị trường. Và bạn cũng có thể thể đổi nó đi, và dùng nó để lấy những gì bạn muốn ở 1 thời điểm khác. Thêm nữa vật ngang giá mới có thuộc tính như lúa mì, lúa mạch và gia súc: nó có thể tái tạo, nó có thể sinh sôi. Giống như ngũ cốc, giống như thú nuôi. Tiền có thể xem như nguồn vốn và có thể được sử dụng để đảm bảo nguồn thu tức là lợi nhuận và nếu bạn cho vay bạn sẽ được lãi. Vì vậy cho đến thời Hammurabi, khoảng 3800 năm trước, xã hội rất cần 1 hệ thống pháp luật, và bộ luật Hammurabi ra đời. Chúng ta sẽ xem xét nó trong chương trình tiếp theo….

    Ở các đế quốc Assyria, Persia và Neo-Babylon, kim loại đã làm một cuộc cách mạng không chỉ trong sản xuất dụng cụ mà còn trong cả xã hội.

    Vai trò to lớn của kim loại, nhất là sắt trong phát triển văn minh nhân loại

    Từ các cuộc chiến tranh đẫm máu của các đế chế cổ đại Assyria, Babylon, Ba Tư,…(1945 BC – 328 BC) hình thành nên nền văn minh. Khi 1 đế chế lật đổ 1 đế chế khác, thương mại và văn hóa phát triển, người man di bị chế ngự, những thành phố mới mọc quanh Địa Trung Hải. Nhờ vai trò của sắt.

    Chiến tranh tìm kiếm nguyên liệu, đã tạo sự thịnh vượng vùng Trung Đông: Vấn đề TIỀN: Ở vùng Lưỡng Hà, những nhà buôn ngày càng giàu có, ngân quỹ các ngôi đền ngày càng tăng. Họ còn cho vay tiền lấy lãi. Hoạt động như những Ngân hàng. Và thật sự, sự thịnh vượng này chỉ dành cho 1 phần nhỏ dân số. Thật kỳ quặc, 1 trong những nhân tố gây nên sự thịnh vượng và phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của kinh tế TNK 3, đó là những cuộc chiến tranh cướp bóc tàn bạo. Mà nhờ đó các hoàng đế của Akkad (2334 BC), sau đó là Babylon (1894 BC), Nineveh ghi danh vào lịch sử. Chính chiến tranh, chứ không phải hòa bình, đã dẫn tới bước nhảy vọt nhất của xã hội. Một phần mục đích của các cuộc chiến đấu này là kim cương và quặng kim loại mà họ không thể hoặc không muốn bỏ tiền ra mua của những bộ lạc thổ dân hay của ngoại quốc.

    Người Ai Cập thường hay tiến hành các cuộc viễn chinh để lấy quặng đồng trong sa mạc Sinai. Tương tự như thế người Sumer, và đặc biệt hơn là những vị vua Semitic ở Akkad và Babylon đã phái những đoàn thám hiểm tới phía Bắc và Tây để lấy những nguyên liệu thô họ cần: kim loại, đá, gỗ. Những cuộc chiến tranh cướp bóc của các vị hoàng đế như Sargon, Assyria khoảng 1850 TCN cũng gây thương vong khủng khiếp. Assyria, bắc Lưỡng Hà, các vị vua ngập chìm trong kiêu căng và máu. Những thành phố bị chiếm, cướp và thiêu cháy. Những tù nhân bị lột da sống hoặc đóng cọc xuyên qua người. Đầu, bàn tay và chân bị cắt ra nhiều vô kể.

    Chiến lợi phẩm quá dồi dào, chuyển thành hàng hóa làm phát triển kinh tế tiền tệ, phát triển giới thương nhân trung lưu: Nhưng bên cạnh sự cướp bóc, giết người và trấn áp là danh sách dài những chiến lợi phẩm vàng bạc, kim loại, nông sản, gia súc và nô lệ. Vua Arsurbanipal, Assyria, vào TK 7 BC đã khoe khoang như sau: con người, lừa, lạc đà, cừu ta mang về Assyria như hàng hóa. Khi Arsurbanipal phân phát lạc đà và cừu cho nhân dân, nhiều tới nỗi làm giá sụt xuống, cho tới khi chúng có 1 sự cân bằng trên thị trường. Những người chủ quán rượu được lạc đà. Những người nô lệ cũng có lạc đà. Sự phân phối những chiến lợi phẩm tràn lan (những thứ đáng lẽ cất trong kho nếu 1 đất nước không bị xâm lược) đã làm lan tỏa sức mua ra cả Lưỡng Hà. Điều đó khuyến khích cung và cầu đồng thời tù nhân bổ sung nguồn nô lệ và nhân công có tay nghề. Những nhà buôn ký giao kèo để được tùy ý sử dụng những của cướp được và đồ cống nạp sẽ kiếm nhiều lợi lộc. Và những người làm công cho họ cũng có lợi. Chúng ta gọi đó là giai cấp trung lưu, nằm giữa nhóm chính phủ và các thầy tu và bên kia là số đông người nghèo khổ. Nền kinh tế tiền tệ lan rộng cho đến khi cả đất đai không còn là riêng của Thượng đế hay vua, nó cũng có thể được mua bán giống như những vật phẩm khác.

    Công nghệ mới vũ khí đồng – kinh tế kim loại bền vững – thị trường thành thị: Chiến tranh giúp truyền bá cái ta gọi là có thể gọi là “văn hóa”. Ví dụ sự thành công của quân đội Akkadian là do họ có vũ khí và áo giáp bằng đồng. Muốn chống lại người Akkadian bắt buột phải có quân trang tương tự. Phải tìm thợ rèn và cung cấp nguyên liệu thô. Phải tổ chức thương mại. Những đế quốc như vậy ở Lưỡng Hà, có kẻ đi chinh phục và đồng hóa và có kẻ phản kháng lại. Và như vậy, sự phản kháng cũng làm nảy sinh các hình thái kinh tế thời đồng thau phụ thuộc vào thương mại. Cũng giống với kinh tế của kẻ xâm lược, người phản kháng có thể tạo ra. Trên thực tế, trong suốt lịch sử, tác nhân phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và kinh tế không phải cái cày mà chính là cổ chiến xa.

    Thực tế vào đầu Đồng thau, khoảng 2400 TCN, cũng là thực tế ở thời kỳ hỗn loạn, nhiều thế kỷ sau đó, khi các triều đại man di kế tiếp nhau ở Babylon và tài sản, cuộc sống của tất cả mọi người đều bị đe dọa trước những cuộc tấn công liên miên thời đó.

    Điều gì đã xảy ra trong những sự kiện đó? Là sự cướp bóc ở những làng quê. Sự sụp đổ của các khối bất động sản lớn. Điều đó nhấn mạnh 1 chân lý: nền kinh tế kim loại bền vững và cơ động có giá trị hơn nhiều so với kinh tế nông nghiệp thiết thực nhưng dễ phá hủy. Bảo vệ 1 túi bạc dễ hơn 1 cánh đồng lúa mạch. Trong suốt giai đoạn này, nền kinh tế tự nhiên đã sụp đỗ trong hỗn loạn hết lần này tới lần khác nhưng khuyến khích phát triển kinh tế tiền tệ. Kinh tế tiền tệ phát triển hay ít nhất sự trao đổi đã phát triển, thì việc sản xuất phục vụ thị trường trở nên thông dụng. Những thương nhân thấy họ có thể dùng thuyền nhập khẩu 1 số mặt hàng và họ kiếm được nhiều tiền hơn là làm đại lý mua 1 vài sản phẩm theo đặt hàng của Vua hay 1 đền thờ nào đó. Trên thị trường có nhiều người mua hơn. Ở Lưỡng Hà cũng như Ai Cập, cuối thiên niên kỷ thứ 2 đã chứng kiến sự lớn mạnh của 1 nhóm công chức trí thức được chính quyền chọn lựa, từ những thư lại nhỏ đến thẩm phán, làm nhiệm vụ thu thuế và tiền phạt và thống kê lại. Họ được trả công bằng tiền, họ không có đất đai riêng, không tự sản xuất ra nhu yếu phẩm. Cũng như những binh lính không sản xuất gì cả chỉ chinh chiến mang về các tù nhân và hàng hóa. Họ họp lại thành những người mua hàng ở thị trường. Có sự tăng số lượng giáo sỹ, thầy tu chuyên nghiệp đồng thời là nhà cầm quyền có thế lực, những công dân mộ đạo sẵn sàng cúng tiền cho đền thờ và nhà nguyện. Những thầy tu cũng là người mua hàng. Và như thế, thợ thủ công và nông dân có 1 thị trường ngày càng lớn (như những vại gốm). Như vậy bên cạnh việc đâm chém, bắt đầu chia sẻ lợi ích từ 1 nền văn minh chung.

    Sắt làm cuộc cách mạng – Mở rộng chiến tranh: Kim loại vươn tới làng quê, nông dân Ai Cập bắt đầu sử dụng công cụ kim loại. Vào khoảng 1700 hoặc 1600 TCN, đồ sắt hiếm đến nỗi nó đắt gấp 2 lần vàng. Sau 1200 TCN, họ biết hòa tan Các bon vào làm sắt cứng hơn, đồ sắt ngày càng rẻ hơn, cho phép tạo ra những cụ sắc nhọn dùng để cắt lông cừu, thiến súc vật hay con người. Sắt có sẵn và rẻ hơn đồng thau, nó dân chủ hóa (xã hội hóa?) nền công và nông nghiệp. Cho mãi đến khoảng 800 – 900 TCN kim loại rẻ mới hoàn chỉnh quá trình mà các đế quốc kinh tế đã bắt đầu từ 1000 năm trước đó. Người nông dân cuối cùng đã có thể mua rìu và lưỡi cày kim loại. Thợ thủ công bình thường có riêng bộ đồ nghề và không phụ thuộc vào Nhà thờ và ông chủ. Những người bình thường cũng có những vũ khí bằng sắt và trở thành hiệp sĩ thời đồ đồng. Kim loại đã dân chủ hóa (phát triển, mở rộng) chiến tranh. Những người nghèo và thổ dân lạc hậu bây giờ có thể thách thức quân đội của những đất nước văn minh, những người trước đó độc quyền binh khí đồng. Vai trò của sắt hay quá. Vậy 1 lần nữa, ảnh hưởng giữa chiến tranh và công nghệ trở nên rõ ràng. Thời đại đồng thau sụp đổ khoảng cuối TNK 2 và chúng ta thấy nổi lên những đế chế quân đội hùng mạnh có thể thực hiện ước mơ của các cường quốc Lưỡng Hà trước đó bằng cách gộp tất cả đất đai và nông sản mà nền kinh tế tự nhiên nghèo nàn của họ có thể cần tới. Tiếp theo là hàng thế kỷ của chết chóc và hổn độn.

    Nhưng lịch sử đã tiến thêm 1 bước. Khoảng giữa 1000 và 500 TCN, khu vực thuần túy thành thị đã mở rộng ra, lớn rất nhiều so với lúc nó mới xuất hiện vào TK 15 của thời đại đồng thau. Sự mở rộng chủ yếu nhờ những đế chế hùng hậu của Assyria và Tân Babylon và Ba tư. Mỗi đế chế đã hợp nhất những lãnh thổ vô cùng rộng lớn, mặc dù phải đánh đổi bằng rất nhiều tài nguyên và tính mạng.

    – Phát triển ngôn ngữ: Nhưng sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự giao thương chưa từng có, trên 1 vùng rộng lớn hơn trước rất nhiều. Khi quân đội, nô lệ, nghệ nhân và thương nhân di chuyển khắp khu vực rộng lớn này họ đã phát triển Alingua Franca, một thứ ngôn ngữ chung để giao tiếp. Nó là 1 ngôn ngữ Syrian từ vùng xung quanh Damascus và nó được gọi là Aramaic. Có chữ viết 22 ký tự, tất cả là phụ âm, giống như mọi ngôn ngữ Semitic khác. Sau đó nó được tiếp nhận bởi người Chadeal, chủ nhân Babylon, sau đó thành ngôn ngữ chính thức của đế quốc Ba Tư. Vào khoảng TK 6 TCN, trong quá trình nó đã thay thế tiếng Hebrew, trong 1 vài văn bản kinh Cựu ước. Và nó có lẽ chính là ngôn ngữ mà Chúa và các tông đồ của Người đã nói.

    – TK 5 BC, Hệ thống đường đưa thư, cống phẩm hình thành – Sự di dân – Phát triển các thành phố đa sắc tộc – Quân đội cũng cần nguồn từ các dân tộc thiện chiến – Phát triển văn minh hội tụ: Nhiều thế kỷ sau dó, người Assyria và nhiều hơn nữa, người Ba Tư, còn xây dựng những con đường đưa thư để thu thập cống phẩm hiệu quả hơn và những con đường này in vết chân của cả quân đội, viên chức, người đưa thư và các nhà buôn. Đến TK thứ 5 TCN, ngay cả những người bần cùng nhất, giống như Herodotus, nhà kí sự chuyên nghiệp đầu tiên, cũng đủ tiền để đi đến miền Viễn Đông châu Á. Người Assyria và người thừa kế của họ, Tân Babylon đã cưỡng chế di cư, những cộng đồng dông đúc từ đầu này sang đầu kia của đế chế. Họ đuổi dân chúng đi khỏi quê hương của họ để bớt nguy hiểm hơn. Hành động này mang lại 1 kết quả không được dự đoán trước: các thành phố lớn trở nên rất đa dạng về sắc tộc và văn hóa.

    Trong số các dân tộc nạn nhân của Assyria có Do Thái. Người Do Thái có lẽ tới từ Ur, Lưỡng Hà. Nhưng cuối cùng họ đã đến phía Tây, Canaan, sau khi vòng qua Ai Cập. Người Do Thái đã thiết lập 2 vương quốc ở Canan. Judah, kinh đô là Jerusalem. Và Israel. Israel bị phá hủy bởi người Assyria vào năm 722 TCN. Những văn bản Cựu ước Isaiah, được viết ngắn gọn sau đó: “Đất nước của ta chỉ còn là 1 đống đổ nát. Thành phố của ta bị thiêu cháy trong lửa; những kẻ ngoại bang tàn phá đất nước ngay trước mặt ta” “Vương quốc hoang tàn vì bị ngoại bang lật đổ, và đứa con gái của Zion bị bỏ lại, giống như 1 căn lều trong vườn nho, hay 1 túp lều giữa cánh đồng dưa, như 1 thành phố bị vây hãm”. Năm 586 TCN, vương quốc phía Bắc của người Do Thái, lại bị đánh bại, lần này bởi nhà vua Babylon Nebuchadnezzar II. Hàng ngàn tù nhân bị đem tới Babylon, biến thành nô lệ, cùng với các dân tộc khác. Có nhóm đưa vào phục vụ quân đội đế quốc.

    Vào TK 6 và 5 TCN, những hoàng đế Ba Tư đã thuê các cung thủ từ Trung Á và các đoàn chiến xa Ấn Độ để hợp binh cùng quân của Syri và lính đánh thuê Hy Lạp. Những người này đã trao đổi cho nhau mầm mống nền văn minh của họ, giống như đoàn xe hay đoàn thuyền buôn, đang di chuyển ngày 1 nhiều, trên khắp đế chế rộng lớn bao la, tương đối bình yên, tương đối an toàn. Đế chế lớn nhất trong số này, được thành lập vào TK 6 TCN khi Cyrus Đại đế liên kết với Babylon, sau đó ngài đã lãnh đạo 1 cuộc nổi dậy chống lại người Medes, lúc đó là thống trị của Ba Tư. Nhờ những cuộc chinh phạt sau đó, đế chế Ba Tư được mở rộng từ Ấn Độ tới biển Aegean.

    Người Ba Tư là những chiến binh trên lưng ngựa, thống trị 1 đế chế hổn tạp vô cùng. Với tư cách là kẻ chinh phục, Ba Tư và Medes có được đặc quyền là chủng tộc vượt trội. Hoàng đế của họ không phải là Chúa Trời, mà là đại diện cho Người. Những người địa phương đã bị lợi dụng để sai khiến, cách Chúa Trời lựa chọn Ngài cũng đặc biệt. Người lính chủ nhân của con ngựa, một động vật dễ hoảng sợ, đầu tiên cất tiếng hí chào bình minh sẽ trở thành Hoàng đế. Dù Hoàng đế vĩ đại là người thường hay thần thánh thì thần dân vẫn phải dâng cống phẩm, như hình trên thành Persepolis, thủ đô Ba Tư, nay thuộc Iran. Người Medes và Ba Tư chỉ phục vụ trong quân đội, nhưng khi đế chế mở rộng, không đủ người. Các dân tộc bị chinh phục cũng tòng quân. Điều đó họ bắt buột phải chiến đấu bảo vệ nhà nước đã biến họ thành nô lệ. Vì vậy người Ba Tư không thể tin họ hoàn toàn, thực tế đã chứng minh điều đó.

    Trong 1 thế kỷ hay dài hơn, nhà nước tập quyền và quan liêu Ba Tư đã giữ hòa bình, nhiều hay ít, không gì để chê trách. Sự hòa bình đó đã truyền bá văn minh từ Tiểu Á đến Địa Trung Hải.

    Dân man di tiếp thu văn minh tổng hợp làm phát sinh Văn minh La Mã: Tại vùng biển kín lớn nhất thế giới, vài trăm năm trước khi Chúa Giê – su ra đời, thấy những người dân man di vạm vỡ được khai hóa khi cọ sát với người Syri, người Phê ni xi, Assyri, Ai Cập. Chính những người dân man di này sắp tạo ra 1 thời kỳ phục hưng của trí tuệ và nghệ thuật, sự kết hợp giữa sức mạnh và 1 tầm nhìn mới, với những kỹ năng, cái mà họ đã học từ những nền văn hóa cổ xưa Cận Đông.

    Sau TK 9 TCN, người Phê ni xi lập những thành phố mới xung quanh Địa Trung Hải. Sau TK thứ 8, người Hy Lạp thành lập các thành phố của họ ven Bắc Địa Trung Hải và Biển Đen. Nhưng những TP đó không được xây dựng để trở thành thủ phủ hay đồn đóng quân hay trung tâm thu thuế cho chính quyền trung ương như những thành phố châu Á, Mà là, là nơi định cư ở nước ngoài, để nông dân ra ngoại quốc ở. Vì miền duyên hải chật hẹp của Phê ni xi hay những thung lũng nhỏ bé của Hy Lạp không đủ chổ cho họ. Cái mà những kẻ thực dân này muốn là đất mới để trồng trọt, khu nuôi cá mới, căn cứ mới để cướp biển và mua bán. Thế là người Phê ni xi chiếm Bắc Phi làm thuộc địa. Và từ Carthage họ tỏa ra chiếm Tây Sicile, Sardinia, bờ biển Tây Ban Nha làm thuộc địa. Trong khi người Hy Lạp tỏa ra xung quanh Biển Đen và miền Đông Sicile.

    Sau đó, chính người Etruscan (750 – 550 BC), 1 tộc nhỏ ở bán đảo Ý có thể thu nhận nền văn minh nhờ việc làm lính đánh thuê trong quân đội các đế quốc phía Đông và đã đặt được ách thống trị lên những người nông dân Ấn Âu xung quanh Florence. Người Etruscan áp đặt loại hình văn minh của họ lên những thổ dân bản địa và thành lập những thành phố nhỏ, những trung tâm của 1 nền kinh tế thành thị. Nhưng 1 số dân tộc bị họ thảo phạt quá tàn nhẫn có thể đánh bật họ ra khỏi đất nước và quay lại dùng văn minh như 1 vũ khí chống lại họ. Đáng chú ý nhất là 1 bộ tộc mông muội ở Trung Italya gọi là người La Mã.

    – Chữ viết: Dù sao đi nữa, 1 thứ những kẻ thực dân Phê ni xi và Hy Lạp đem tới đây là dạng chữ viết đơn giản, 22 ký tự phụ âm. Chữ viết này đã phát triển ở 1 số thành phố người Canaanite hay Phê ni xi và trở thành tổ tiên của chữ viết ngày nay. Cùng với bảng chữ cái để đơn giản hóa những công việc, việc đọc và viết đã trở nên đơn giản không kém ngày nay. Biết đọc, biết viết không còn độc quyền huyền bí của tầng lớp thầy tu và thơ lại cao quý. Những nhà quản lý, kỹ sư, thầy thuốc, thương lái, thậm chí 1 vài binh sĩ cũng biết đọc, biết viết. Vào TK 7 TCN, hầu hết lính đánh thuê cả Hy Lạp và Phê ni xi đều có thể viết nguệch ngoạc lên mũ sắt của họ. Những người Hy Lạp sau đó lấy chữ Phê ni xi thay đổi 1 số ký tự để phù hợp phụ âm Semite đặc trưng, sáng tạo thêm 1 vài ký tự để dùng tiếng Hy Lạp diễn đạt những nguyên âm mà người Semite bỏ đi, nhưng người Ấn Âu cần. Rõ ràng người Etruscan, sau đó người Rome đã học cách viết chữ từ thực dân Hy Lạp. Tất nhiên, những người biết đọc không nhiều, nhưng sự xuất hiện của họ có nghĩa có thêm tiêu chí mới củng cố thêm sự khác biệt sẵn có giữa người giàu và người nghèo, cao quý hay thấp hèn. Từ đó về sau, việc biết đọc biết viết mãi mãi tạo ra 1 khoảng cách giữa tầng lớp có học và vô học.

    – Lưu giữ thông tin: Nhưng việc biết đọc, biết viết cũng tạo phương tiện giao tiếp mới trường tồn với xuyên thời gian. Một công cụ giao tiếp không chỉ ổn định hóa mà còn tích lũy và phát triển nền văn hóa bằng những quyền lợi chung. Bởi kiến thức trước kia bị khóa chặt bởi chủ quyền, nếu có truyền miệng thì dễ bị sai lệch. Giờ đây có thể được ghi chép và bảo tồn, được tiếp thu bởi những thế hệ sau, được chuyển giao, được bổ sung, được tổng hợp lại thành kho ký ức và cảm hứng hoặc chỉ đơn giản là thông tin. Đây là nơi thế giới bắt đầu ở Trung Đông và Địa Trung Hải.

    Nếu bạn đang tìm về cội nguồn, có thể nói rằng nền văn minh Phương Tây là 1 nền văn minh châu Á, VM phương Tây có nguồn gốc trong 1 lớp bụi dày của lịch sử trãi từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư. Mảnh đất tối tăm và đẩm máu, không bao giờ thôi khuấy đảo trong những vị thần, trong những cuộc chiến tranh, trong sự hiếu thắng của chúng ta và cả óc sáng tạo, táo bạo và chủ nghĩa bành trường của mình. Và còn 1 chân lý lớn hơn nữa, lịch sử Địa Trung Hải là 1 lịch sử nhiều biến động, xung quanh nó những nền văn minh cổ xưa đã biến đổi và từ đó tưới mát cả nền văn minh Phương Tây.

    Nguồn : 52 tập phim Văn Minh Phương Tây

    GS Eugen Weber, Giảng viên môn Lịch sử, U.C.L.A., Los Angeles

    --- Bài cũ hơn ---

  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Bốn thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi Dabitum, người con gái tôi tớ bị phụ bạc gửi gắm tâm tư của mình đến người tình và cũng là ông chủ.

    “Nữ nô Dabitum hèn mọn xin kính cẩn thưa với đại chủ rằng điều thiếp nói trước với chàng nay đã xảy ra. Từ bảy tháng nay, tội nghiệp đứa con nhỏ đã chết mà không ai muốn lo cho thiếp cả. Xin chàng hãy thương hại mà ra tay, nếu không thiếp sẽ chết. Nếu số phận buộc thiếp phải chết thì thiếp cũng cam chịu, nhưng trước khi nhắm mắt, thiếp chỉ mong sao được nhìn thấy mặt chàng lần cuối.”

    Ngày nay, sở dĩ chúng ta vẫn có thể hiểu được tâm trạng của một thiếu nữ đã sống cách đây 4 ngàn năm, vẫn có thể thương cảm cho tình cảnh của nàng – bởi vì nàng đã dùng một phương tiện truyền thông độc đáo – đó là chữ viết có đã trên 5 ngàn năm.

    Chữ viết đầu tiên

    Chữ viết chắc chắn là một bước khởi đầu cho nền văn minh. Khi nàng Dabitum viết ra những hàng chữ tuyệt vọng đó thì văn tự đã hiện hữu trong nền văn hóa Nam Lưỡng Hà hơn một thiên niên kỷ.

    Lưỡng Hà, tiếng Âu châu là Mesopotamia, ngụ ý miền nằm giữa hai con sông. Ðó là sông Tigris và Euphrates nằm trong vùng mà nay là lãnh thổ Iraq. Di sản văn tự của nền văn hoá cổ xưa này được để lại nhiều hơn là những gì của các giai đoạn về sau.

    Người Lưỡng Hà viết bằng cách dùng một cái que để khắc hình hay dấu vào một mảnh đất sét còn dẻo chỉ nhỏ bằng bàn tay. Một khi đã được phơi khô hay nung, những văn tự bằng đất sét này rất bền.

    Theo chuyên gia Irving Finkel ở Viện Bảo Tàng Anh Quốc, những nổ lực ghi chép đầu tiên chưa thực sự có thể gọi là văn tự. “Ban đầu, khái niệm ghi chép rất là đơn giản. Ta có thể gọi đó là giai đoạn ‘ tiền văn tự’ . Người Lưỡng Hà cổ đại thường vẽ hình ảnh sơ sài để tượng trưng những gì mà họ muốn ghi chép.”

    “Chẳng hạn như khi muốn lập một danh sách các chum vại, họ cẩn thận vẽ hình cái chum trên một mảnh đất sét, rồi viết cạnh đó một con số. Mãi sau này mới có người chợt nghĩ ra là hình ảnh không những có thể chỉ vật đó mà còn diễn tả tên vật đó trong tiếng nói.”

    Như vậy, giả dụ tiếng Lưỡng Hà là tiếng Việt, ta có thể vẽ một cái ấm, và dùng cái đó để chỉ ra âm thanh ‘ ấm’ như trong chữ ‘ ấm ớ’ – tức là không có liên hệ gì với ấm nước cả. Người đầu tiên nghĩ ra việc dùng chữ chỉ tiếng gọi của một vật thay vì dùng hình ảnh của chính vật đó để mô tả nó chính là một thiên tài vĩ đại đã đóng góp lớn lao cho nền văn minh.

    Người này chắc hẳn thuộc dân tộc Sumer, vì Sumer nằm trong vùng Lưỡng Hà – nơi văn tự đầu tiên xuất hiện trong một ngôn ngữ gọi là tiếng Sumer. Nay ngôn ngữ học gọi văn tự của người Sumer là cuneiform – tdl là văn tự hình góc, vì chữ cunei của tiếng La tinh có nghĩa là một góc.

    Cũng học giả Irving Finkel cho biết, “Khi người Sumer bắt đầu dùng chữ viết, họ dùng rất nhiều đường cong. Nếu muốn viết chữ heo, họ vẽ một cái hình tiêu biểu là cái mõm, hai vành tai rồi vài sợi lông tua tủa. Nhưng đất sét không phải là một cái nền tốt để vẽ các đường cong.”

    ” Thành ra chẳng bao lâu các đường cong được quy ước hóa thành những đường thẳng mà người ta có thể nhanh chóng khắc hay nhấn vào đất sét bằng một cái que. Và văn tự hình góc phát triển theo lối đó.”

    Thoạt đầu, văn tự này được tạo ra không phải để viết thư hoặc để sáng tác một tác phẩm văn học. Nên biết chữ viết phát sinh từ hệ thống thư lại. Các nha lại – nôm na là thành phần thư ký kế toán – từ thời cổ đại đã muốn dùng ký tự để quản lý kinh tế hữu hiệu hơn – vì nhờ ký tự mà họ có thể kiểm soát các số liệu và lập ra những danh sách.

    Theo học giả Irving Finkel, những chứng tích cổ nhất về chữ viết còn tồn tại đến ngày nay là những bản kiểm kê tồn kho. “Nhưng chẳng bao lâu sau khi chữ viết được phát minh, người ta bắt đầu dùng nó vào các việc khác và ta thấy xuất hiện những văn bản nằm ngoài phạm vi hành chánh – đầu tiên là danh sách từ ngữ được thu lượm để dạy học và chẳng bao lâu sau đó, nền văn chương sơ khai dựa trên chữ viết bắt đầu ló dạng.”

    Đào tạo thư lại

    Trong nền văn minh Sumer, những bản từ vựng được soạn ra cốt để dạy các thiếu niên trở thành thư lại – đó là thành phần duy nhất trong xã hội Sumer biết đọc và viết. Ngay cả các vua chúa Sumer cũng hiếm có người biết chữ.

    “Buổi sáng tôi dậy sớm. Nhìn mẹ tôi nói: ‘Mẹ cho con đem gì theo để ăn trưa, con muốn đi đến trường’. Mẹ đưa cho tôi hai cái bánh và tôi lên đường. Mẹ cho tôi hai cái bánh và thế là tôi đi học. Ðến trường, thầy giám thị hỏi: ‘Sao con đến trễ?’ Tôi sợ quá, tim đập thình thình, tôi lật đật đi vào lớp trước cả ông thầy.”

    Giới thư lại Lưỡng Hà đã không tìm cách đơn giản hóa chuyện viết lách để khiến cho nhiều người có thể biết chữ hơn. Có thể là nhờ thói dấu nghề đó mà ít ai có thể cạnh tranh với họ về toán và viết.

    Toán học

    Người Sumer thời đó không có các mẫu tự để học. Mẫu tự chỉ xuất hiện mãi về sau vào khoảng năm 1000 B.C., tại vùng đất mà hiện nay là Syria. Nhưng học trình cho thư lại Sumer có cả môn toán cùng với môn đọc và viết. Bà Eleanor Robson thuộc trường đại học Oxford ở Anh Quốc giải thích rằng người Lưỡng Hà đếm theo hệ lục thập phân thay vì thập phân như chúng ta ngày nay.

    “Chúng ta còn thấy tàn dư của hệ lục thập phân này qua cách chúng ta tính thời gian – tức là 60 giây một phút và 60 phút một giờ. Và từ Lưỡng Hà cách đếm này đã đến với chúng ta một cách gián tiếp qua ngả thiên văn học của Hy Lạp.”

    Ngày nay chúng ta dùng 10 ký hiệu từ ” 0″ đến ” 9″ để viết các con số, nhưng người Sumer chỉ dùng hai ký hiệu mà thôi. Ðể viết con số 24 chẳng hạn họ vẽ hai mũi tên quay về phía trái để chỉ 20, rồi 4 vạch hình cọc thẳng để chỉ số 4. Ngoài mũi tên và cọc, họ không có một ký hiệu nào khác – không có dấu nhân, cũng không có ký hiệu đại số.

    Người Lưỡng Hà đã biết đến đại số học – thậm chí họ có thể giải cả phương trình với hai hoặc ba ẩn số nhưng tất cả đều được viết ra thành văn. Những phiến đất sét để lại từ thời 2000 năm trước Công Nguyên cho thấy các bài tóan mà học trò thời đó phải giải.

    Bà Eleanor Robson nhận xét có những bài toán của người Lưỡng Hà rất đáng chú ý – chẳng hạn như tính thể tích từ kích thước và hình dạng của một đống thóc. Ðó là những bài toán thực dụng. Họ cũng tính toán bằng phân số hay tỉ số. Nhưng cũng có những bài toán mà mục đích thuần túy là để tìm hiểu những logic của toán học.

    Ðiều đáng lưu ý nhất là họ phân biệt những bài toán thực tiễn và những bài toán lý thuyết. Dường như giới thư lại Sumer quan tâm đến toán học vì mê thích cái logic chứ không phải chỉ vì lợi ích thực tiễn của nó mà thôi. Rõ ràng đó là một dấu hiệu của văn minh.

    Nhưng học giả Irving Finkel thì cho rằng giới thư lại còn có một sở trường khác. “Họ luôn luôn ham thích những ngôn từ kỹ thuật. Ngay từ đầu họ đã soạn ra những quyển tự điển và họ luôn luôn luôn quan tâm đến góp nhặt ghi chú các từ ngữ và cách sử dụng cũng như phiên dịch chúng.”

    Bà Eleanor Robson cho biết các thư lại ứng dụng toán vào đo lường. “Ðó là khả năng cơ bản để quản lý nhân công và vật liệu ở tầm mức lớn. Tỷ như khi cần phải đào lại một con kênh, một nhà trắc địa phải đo đạc rồi tính toán để suy ra con số dân phu phải thuê.”

    “Rồi mỗi năm, tất cả công việc lại được thư lại tổng kê, để xem dân phu có làm đủ công hay chưa. Giới chủ nhân Lưỡng Hà cũng khôn lắm – nếu năm nay làm chưa đủ, thì dân phu phải làm bù trong năm tới, nhưng nếu năm nay họ làm quá mức thì họ ráng chịu – tức là năm tới không được nghỉ bù.”

    Ngoại ngữ

    Chữ viết lần đầu tiên được thông dịch sang một ngôn ngữ khác khi một tộc bộ Akkad thuộc giống nòi Semit đến Sumer. Người Akkad có một tiếng nói khác với người Sumer.

    Một số thư lại tại Lưỡng Hà chắc hẳn phải biết cả hai thứ tiếng – nhất là kể từ khi tiếng Akkad trở thành tiếng nói thường ngày của đại chúng, và tiếng Sumer chỉ còn là ngôn ngữ của sách vở và tôn giáo.

    Theo học giả Irving Finkel thành phần thư lại Lưỡng Hà nổi tiếng là có tài quan sát. “Quan sát là một điểm mạnh của họ – từ quan sát bệnh tật đến quan sát các vì sao – và họ còn ghi lại cẩn thận những gì thấy được. Các ghi chép của họ về sự di chuyển của các hành tinh quả thật là chính xác, vô cùng tỉ mỉ.”

    Lao động

    Đào kênh khơi ngòi là một công việc sống còn đối với một dân tộc cần phải có nguồn nước của các sông Tigris và Euphrates để tưới những cánh đồng khô cằn của họ. Quan hệ lao động trong mấy ngàn năm qua cũng không thay đổi gì mấy.

    Học giả Jeremy Black thuộc trường đại học Oxford cho biết tầm quan trọng của các công trình này được phản ảnh qua văn học Lưỡng Hà, nhất là trong huyền thoại sáng thế của họ.

    “Trong huyền thoại của người Lưỡng Hà, họ, các vị thần trẻ được mô tả như là những công nhân vô kỷ luật bị đưa đi lao động ở những công trường xây dựng, như được mô tả trong bài thơ ATRAHASIS.

    Thiên thần lam lũ

    đào kênh khơi ngòi

    khai thông huyết mạch

    làm đất phì nhiêu

    đào sông Tigris

    vét dòng Euphrates

    Thiên thần nhọc mệt

    đếm ngày đếm tháng

    hơn ba ngàn năm

    đêm đêm ngày ngày

    kêu lơn cải cọ

    còn đất còn đào

    Thấy các thiên thần quá khổ cực, Thượng Ðế bèn tạo ra con người để gánh bớt cái nợ đời cho họ. Huyền thoại sáng thế này còn phản ánh thời tiết, địa dư và sinh thái của vùng Lưỡng Hà nữa. Tỉ như truyền thuyết về lụt lội. Sông Tigris có thể gây ra những trận lụt khổng lồ vào mùa xuân. Vùng Lưỡng Hà mà nay là Iraq vốn rất bằng phẳng, thành ra nước sông không cần phải dâng cao lắm cũng có thể làm ngập toàn bộ vùng đất này”.

    Theo giáo sư Nicholas Postgate thuộc Ðại học Cambridge, có một giả thuyết cho rằng sở dỉ nền văn minh lại phát triển tại miền Nam Lưỡng Hà cũng như tại các nền văn minh cổ sơ khác như Ai Cập và Trung Quốc – là vì nhu cầu về nguồn nước của nông nghiệp.

    “Nông nghiệp càng phát triển thì càng cần phải có một cơ cấu hành chánh. Và văn minh nẩy sinh từ hệ thống hành chánh. Nhưng lúc gần đây các nhà nhân chủng và khảo cổ lại cho rằng vùng Nam Lưỡng Hà chỉ cần một hệ thống thủy lợi cỡ nhỏ cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu của họ. Nếu điều đó là đúng thì có lẽ xã hội đã trở nên phồn thịnh trước, rồi cơ cấu hành chánh phức tạp mới theo sau.”

    Văn minh

    Từ ” văn minh” như chúng ta biết có thể bao hàm các giá trị tinh thần cũng như vật chất. Về vật chất, nhờ văn minh mà cuộc sống được phồn thịnh hơn, xã hội được cai quản tốt hơn. Chữ viết cũng đã có vai trò trong chiến tranh. Trong số những văn bản cổ xưa đến từ Lưỡng Hà có một báo cáo của một chỉ huy trình lên cấp trên:

    “Ðã năm ngày nay bề tôi đóng ở chỗ như đã thoả thuận để chờ cho đám quân từ Hana tới, nhưng họ không chịu tập trung dưới cờ. Vậy rất mong tướng quân chấp thuận cho bề tôi đem một số phạm nhân trong ngục ra chém đầu để bêu chung quanh doanh trại để cho các binh sĩ kinh sợ mà mau chóng tập trung lại.”Dân Lưỡng Hà khá hiếu chiến và có vẻ cũng chẳng xem trọng tính mạng con người hơn những dân tộc cổ đại khác.

    Nhưng trong xã hội Lưỡng Hà vẫn có một cái gì đó mà ta có thể gọi là văn minh được.

    Chẳng hạn như có các vì vua đã dựng lên những tấm bia ghi lời tuyên bố cấm người giàu bóc lột người nghèo. Ðôi khi họ còn giúp đỡ dân nghèo bằng cách xóa nợ.

    Nhờ đó mà nhiều trẻ em bị đưa đi làm nô lệ đã được sớm về đoàn tụ với gia đình. Hành động nhân đạo đó đã được ghi lại trong các chiếu dụ của vua chúa Lưỡng Hà hồi 2400-2350 B.C

    Các từ ngữ nói lên các giá trị văn minh xuất hiện trong đủ mọi thứ văn bản của thời đó. Giáo sư Jeremy Black thuộc đại học Oxford đơn cử chữ ‘ nhân bản’ có từ thời Lưỡng Hà.

    “Trong một luận văn viết theo thể đối thoại mà các học trò thời đó phải học, ông thầy nói với học trò như thế này: ‘Ta đã cho con tất cả những gì con có. Khi con đến với ta, con như một con chó con chưa mở mắt. Ta đã giúp con nên người, ta đã cho con ‘ nhân bản’… Ðoạn văn này đã dùng đúng chữ ‘ nhân bản’ – danh từ trừu tượng chỉ đức tính của con người. Và đó ắt hẳn là một cái gì tương tự như khái niệm của chúng ta về một giá trị văn minh.”

    Những khái niệm trừu tượng

    Có một từ trong tiếng Sumer, một danh từ số nhiều, gọi là ” me” rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. ‘Me’ là sức mạnh điều hành vạn vật – kể cả văn minh của con người.

    Ðôi khi ” me” được mô tả như là một cái gì rất cụ thể – chẳng hạn như một ngôi đền hay một xã hội văn minh vì lý do nào đó bị suy đồi thì người ta nói cái ” me” của chúng bị gom lại và vứt một xó như là một đống dụng cụ vô dụng.

    Nhưng đôi khi ” me” cũng được liệt kê ra thành một danh sách, bao gồm công lý, trí khôn, hoà bình, chiến tranh, tiếng nói và yên lặng… như thể chúng là những yếu tố cấu thành của văn minh.Và ‘ me’ còn bao gồm vương chế và các cấp bậc tôn giáo, cùng những cơ cấu vô hình cần phải bảo trì.

    Trách nhiệm của nhà vua và các vị thần thánh là điều hành mọi chuyện sao cho đúng để bồi dưỡng cái ‘ me’ của xã hội và vũ trụ. Ðiều đó cho thấy người Lưỡng Hà xem văn minh là một cái gì rất mong manh mà sự tồn tại tùy thuộc vào ý chí và đạo đức của con người.

    Văn hóa thành thị

    Tại Lưỡng Hà, các đơn vị tổ chức chính trị đầu tiên là thành phố. Di tích các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà đã được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Ðông, nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng bằng Nam Lưỡng Hà.

    Chính văn hoá thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới cho loài người. Dù sao chăng nữa danh từ văn minh mà ta dùng để dịch chữ ‘civilisation’ của tiếng Anh vốn bắt nguồn từ chữ La tinh ” civis” có nghĩa là một người dân thành thị.

    Giáo sư Nichola Postgate thuộc đại học Cambridge giải thích mỗi thành thị Lưỡng Hà có một vị thần đở đầu. “Thần này ủy quyền cho một nhà chức trách để thay thần trông lo cho dân chúng.”

    ” Ðôi khi người lãnh đạo này được mô tả như một người chăn cừu, mà chủ của bầy cừu là vị thần đở đầu, còn dân chúng tất nhiên là bầy cừu.”

    “Mỗi thành phố có một huyền thoại như thế. Khi thành phố tập hợp lại thành một vương quốc thì người cai trị tối cao là vua. Vào khoảng các năm 2700, 2600 B.C. hay muộn hơn có một vị vua tên là Kish – người nắm quyền kiểm soát một số các đô thị Lưỡng Hà nhưng không nhân danh thần thánh nào cả.

    “Lại có một thành phố khác mà có vẻ như được coi là trung tâm tôn giáo của Nam Lưỡng Hà – đó là Nippur. Người cai trị Nippur hầu như không bao giờ có quyền lực chính trị, nhưng lại được chấp nhận là lãnh tụ tinh thần của toàn bộ Nam Lưỡng Hà.”

    Sau này, thành phố nổi tiếng nhất Lưỡng Hà là Babylon đã trở nên một trung tâm quyền lực. Tất cả các thành phố của vùng Lưỡng Hà đều sống nhờ vào nông phẩm thặng dư do các vùng quê chung quanh sản xuất. Việc phát minh ra một lưỡi cầy mới đã khiến cho Lưỡng Hà phồn thịnh về kinh tế và nhờ vậy đóng góp vào việc tạo dựng nền văn minh.

    Văn học

    Văn học Lưỡng Hà có những vần thơ tuyệt đẹp về khung cảnh đồng nội. Trong bài thơ sau đây, khi tân lang của nữ thần Inanna được các người hầu gái dẫn vào chiếc giường hợp cẩn, họ thỏ thẻ bên tai chàng như thế này:

    Mong chàng…

    như một nông phu – vun xới cánh đồng

    … như một kẻ chăn cừu – con chiên đầy đàn

    Mong thay…

    Trên giàn nho trổ thành chùm

    Ngoài đồng lúa mạch trổ bông

    Dưới sông cá chép tung tăng

    Trong đầm chim cò ríu rít

    Trong gió bải sậy rì rào

    Mong thay…

    Sa mạc đón mừng cây cỏ

    Rừng rú vui vầy hươu nai

    Những thửa vườn xanh mát

    sẽ cho mật ngon rượu nồng

    … và rau tươi trái ngọt ê hề

    Mong thay…

    với đức độ của chàng

    đời sống hoàng cung

    sẽ trở thành vĩnh cửu…

    Trong văn chương Lưỡng Hà, chất văn minh rỏ nét nhất là những quan tâm đối với thân phận con người, cũng như khả năng biến những quan tâm này thành những tác phẩm văn học có phẫm chất cao.

    Tất cả những tình cảm hỉ nộ ái ố được mô tả trong văn học Lưỡng Hà đã làm người ta ngạc nhiên vì cho dù hơn 4 ngàn năm đã trôi qua, chúng vẫn rất gần gủi với con người đương đại.

    Nền văn minh Lưỡng Hà là mốc cổ xưa nhất – mà di tích còn cho phép chúng ta tiếp cận được qua văn tự. Nếu đúng như ước đoán, ngôn ngữ con người đã hiện hữu cách đây khoảng một triệu năm. Nếu tính kể từ thời Lưỡng Hà cách đây khoảng 4, 5 ngàn năm, trên nhiều phương diện, người Sumer rất giống chúng ta.

    Trần Hạnh phóng viên BBC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.
  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • “so Sánh Văn Hóa Hai Nước Việt Nam Và Nhật Bản Với Tiêu Chí Cư Dân Và Đặc Trưng Văn Hóa”
  • So Sánh Giá Taxi Uber Và Grab Từ Hà Nội Đến Nội Bài, Ai Rẻ Hơn?

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Giá Taxi Uber Và Grab Từ Hà Nội Đến Nội Bài
  • So Sánh Chi Phí Hoàn Thiện Bộ Tủ Bếp Nhựa Và Tủ Bếp Gỗ
  • So Sánh Giá Hoàn Thiện Tủ Bếp Nhựa Và Tủ Bếp Gỗ
  • So Sánh Tủ Bếp Nhựa Và Gỗ
  • Tủ Lạnh Hitachi Fw690Pgv7 540L, Bảng Giá 12/2020
  • Trong mô hình chia sẻ xe hơi, Uber và Grab là hai hãng taxi công nghệ lớn nhất hiện nay, cạnh tranh trực tiếp thị trường với nhau. Với những quãng đường ngắn thì thật khó để so sánh mức giá của 2 hãng này. Nhưng nếu di chuyển xa hơn, bạn sẽ thấy được mức giá chênh lệch kha khá. Vậy chúng ta thử so sánh giá taxi Uber và Grab từ Hà Nội đến Nội Bài để thấy sự chênh lệch

    Khi di chuyển trong nội thành Hà Nội, chắc ít người dùng quan tâm đến việc giá giá taxi Uber và Grab có chênh lệch hay không. Tuy nhiên nếu bạn có ý định di chuyển đường dài, ví dụ ra sân bay Nội Bài chẳng hạn, bạn cần phải so sánh giá taxi Uber và Grab từ Hà Nội đến Nội Bài để tìm ra mức chi phí hợp lý nhất. Mỗi hãng Grab hay Uber lại có những ưu điểm khác nhau, chính vì thế việc so sánh giá taxi Uber và Grab từ Hà Nội đến Nội Bài là cần thiết khi bỏ khoản tiền không nhỏ để di chuyển.

    Mỗi dịch vụ đều có những điểm mạnh yếu khác nhau nhưng ở đây chúng tôi tập trung vào so sanh gia của 2 hãng này, các vấn đề khác như trải nghiệm chuyến đi, đẳng cấp thương hiệu chúng ta sẽ bàn ở một bài viết khác.

    So sánh giá taxi Uber và Grab từ Hà Nội đến Nội Bài: 1. Đối với Uber.

    Bước 1: Mở ứng dụng Uber trên điện thoại. Chọn Bạn muốn đến đâu để nhập địa điểm cần di chuyển.

    Bước 2: Nhập Nội Bài và mức giá ngay lập tức được hiển thị. Với Ubermoto mức phí là: 110.000VNĐ. Với UberX hay còn biết tới là UberTaxi có giá 150.000VNĐ. Còn muốn có xe sang đón thì người dùng chọn UberBLACK với mức phí dao động từ 266.000 VNĐ tới 354.000 VNĐ.

    2. Đối với Grab.

    Bước 1: Mở ứng dụng Grab trên điện thoại. Chọn điểm đến để nhập địa điểm cần di chuyển.

    Bước 2: Nhập địa chỉ Nội bài. Ngay lập tức bạn sẽ thấy giá GrabBike là 108.000VNĐ

    Grabtaxi là 287 – 315.000 VNĐ còn GrabCa r là 248.000 VNĐ

    3. So sánh giá taxi Uber và Grab từ Hà Nội đến Nội Bài

    Qua bài thử nghiệm đơn giản trên, có thể thấy đối với dịch vụ xe ôm thì Grab và Uber có giá tương đương nhau. Là 110.000 VNĐ cho Uber và 108.000 VNĐ cho Grab.

    Mức giá của Taxi thì Uber vượt trội khi chỉ với 150.000 bạn có thể di chuyển 23km tới Nội Bài. Còn với Grabtaxi mức phí khá đắt là 287 – 315.000 VNĐ.

    Ở chế độ xe riêng, xe sang đón thì GrabCar rẻ hơn với 248.000 VNĐ cước phí. Tương đương khoảng ~10.000 VNĐ/km. Còn với UberBLACK mức phí là 266.000 VNĐ tới 354.000 VNĐ.

    Đáp án đưa ra đó là nếu đi Taxi bạn nên chọn Uber. đi xe ôm công nghệ thì cả 2 hãng đều có chi phí tương đương. Còn với dịch vụ xe sang thì người dùng có thể tùy ý lựa chọn.

    Với Grab hãng này còn có một tính năng khác khá thú vị đó là giao hàng bằng Grab. Dịch vụ Grab giao hàng hoàn toàn khác với Grabbike đưa đón. Bạn có thể tìm hiểu Grabbike và Grab giao hàng để xem sự khác biệt của 2 dịch vụ này. Nên bỏ thời gian để tìm hiểu Grabbike và Grab giao hàng để lựa chọn được dịch vụ phù hợp với mức giá rẻ nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Tỷ Giá Usd (Đô La Mỹ) Tại Các Ngân Hàng Hôm Nay Từ 11 Ngân Hàng Lớn Trong Nước
  • Hàm So Sánh Trong Excel, Sử Dụng Hàm Exact
  • Top 8 Website So Sánh Giá Trực Tuyến Tốt Nhất 2022
  • Top 6 Website So Sánh Giá Trực Tuyến Tốt Nhất Hiện Nay
  • Vấn Đề 3: Trình Bày 2 Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư
  • Ai Cập Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyến Đi Trong Chế Độ Xem Phố: Ai Cập – Giới Thiệu – Google Maps
  • Công Cuộc Khẩn Hoang Nam Bộ Và Lịch Sử Địa Phương An Giang
  • Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Lịch Sử Địa Phương
  • Anh Hùng Giải Phóng Dân Tộc
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi, Giai Đoạn 1930 – 2022
  • Ai Cập cổ đại – Cái nôi của nền văn minh nhân loại

    Chúng ta đã biết đến Ai Cập cổ đại nổi tiếng với kim tự tháp, những lăng mộ cổ,…nhưng lịch sử hình thành của nó như thế nào chắc chắn vẫn là một điều bí ẩn. Mặc dù tồn đại hàng ngàn năm, nhưng nền văn minh này vẫn được xem là thước đo, là cái nôi cho nền văn minh hiện đại phải học tập. Bài viết này sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử hình thành, các nét đặc trưng văn hoá và những thành tựu mà người Ai Cập cổ đã phát minh ra và nó đã được ứng dụng cho ngày nay.

    1. Lịch sử hình thành

    Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong 4 nền văn minh phát sinh một cách độc lập và lâu đời nhất trên thế giới này. Nền văn minh Ai Cập mà được hình thành rõ nét là vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). 

    Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng. Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu.

    Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemaios I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemaios gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.

    2. Nét đặc trưng văn hoá

    Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.

    Di sản văn hoá cổ của người Ai Cập. Nguồn: Internet

    Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite.

    Kết luận:

    Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

    Bài viết được tham khảo từ wikipedia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Dấu Mốc Lịch Sử Hình Thành Tỉnh Nghệ An Trong Mộc Bản Triều Nguyễn
  • Công An Nghệ An: Đạt Giải Cao Tại Cuộc Thi Tìm Hiểu ‘lịch Sử Tỉnh Nghệ An
  • 990 Năm Danh Xưng Nghệ An: Những Dấu Mốc Của Tiến Trình Lịch Sử
  • Dấu Son Trong Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Đồng Nai
  • Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Ra Đời Là Bước Ngoặt To Lớn Trong Lịch Sử Cách Mạng Tỉnh Nhà
  • Kim Tự Tháp Ai Cập

    --- Bài mới hơn ---

  • Thánh Kinh Công Giáo Và Thánh Kinh Tin Lành: Nguyên Nhân Và Nguồn Gốc Của Sự Khác Biệt
  • Kiến Thức: Vài Nét Về Kinh Thánh
  • Bộ Giải Nghĩa Kinh Thánh Miễn Phí
  • Tìm Hiểu Về Kinh Tân Ước, Cực Ước Và Những Điều Căn Bản Trong Đạo Công Giáo
  • Khảo Cổ Học Về Kinh Thánh Cựu Ước
  • Du khách khi đến với tour Ai Cập chắc hẳn sẽ rất tò mò về những kim tự tháp – một trong những công trình vĩ đại của lịch sử loài người. Kim tự tháp là cách gọi chung cho các kiến trúc hình chóp với đáy là hình vuông và bốn mặt xung quanh là hình tam giác đều. Kim tự tháp không chỉ có riêng ở Ai Cập như theo suy nghĩ của nhiều người mà thực tế những công trình kiến trúc dạng này có ở khắp nơi trên thế giới và là tác phẩm của rất nhiều nền văn hóa khác nhau, với những đặc điểm và mục đích sử dụng khác nhau.

    Người Ai Cập cổ đại xây dựng Kim tự tháp để làm lăng mộ dàng cho các Pharaoh. Đây cũng là các kim tự tháp nổi tiếng và bí ẩn nhất thế giới cổ đại. Theo sử sách, sau khi lên ngôi, việc đầu tiên các vị vua làm là sẽ là bắt đầu xây dựng kim tự tháp cho chính mình. Ngoài ra, một số sách vở cũng chỉ ra rằng, kim tự tháp còn là nơi mà người Ai Cập cất giấu, bảo vệ các bí mật vĩ đại nhất của mình. Bất kì vị vua nào cũng đều muốn lưu dấu đến muôn đời sau, công trình kim tự tháp ra đời từ đó và trở thành kì quan hiếm có mà bạn phải chiêm ngưỡng khi tham gia .

    Đến với , ngoài các Kim tự tháp nổi tiếng ở Ai Cập thì các kim tự tháp của người Mesopotamia mà chúng ta hay gọi là Ziggurats cũng rất đặc biệt. Chúng được xây trong những ngôi đền thờ cúng thiêng liêng nhất của người Mesopotamia. Bên cạnh đó, các Kim tự tháp của các nền văn minh ở châu Mỹ mà nổi bật là người Maya được sử dụng làm nơi hiến tế (con người) cho thần linh cũng là những công trình hết sức đáng chú ý.

    Ngoài ra, các dân tộc khác của các quốc gia như Nigeria, Greece, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Roman, Ấn Độ và cả Indonesia cũng có cho mình những công trình kiến trúc dạng Kim tự tháp với những đặc điểm riêng biệt. Tuy nhiên, so về độ vĩ đại, kỳ bí thì khó có công trình nào sánh được với những công trình của người Ai Cập.

    Kim tự tháp Ai Cập và những bí ẩn

    Điểm bí ẩn mà hầu hết du khách đến với đều phải tờ mò đó là bằng cách nào người Ai CẬp lại có thể xây dựng các kim tự tháp hùng vĩ đến vậy. Hầu hết các công trình kim tự tháp đều được con người gần tìm hiểu, nghiên cứu và có câu trả lời chính xác về kích thước, cấu tạo và phương thức xây dựng thì riêng với những kim tự tháp Ai cập, đó còn là một đề tài gây nhiều tranh cãi. Những bí ẩn về trình độ phát triển khoa học và kỹ thuật của người Ai Cập xưa còn khiến các nhà khoa học phải đau đầu để đi tìm lời giải.

    Điểm đầu tiên và dễ phát hiện nhất là việc các Kim tự tháp được xây dựng bằng cách sắp xếp các khối đá thiên nhiên nguyên khối mà không hề sử dụng các vật liệu liên kết như cách chúng ta dùng xi măng trong công nghệ xây dựng hiện đại. Các khối đá có cân nặng đôi khi đến cả chục tấn được những người thợ đẽo gọt và ghép lại với nhau rất chính xác, thậm chí không thể luồn một lưỡi dao sắc mảnh vào giữa hai phiến đá. Chính vì vậy cùng với trọng lượng cực lớn của các khối đá mà cấu trúc của các Kim tự tháp được đảm bảo độ vững chắc, hoàn hảo và trường tồn với thời gian. Minh chứng là kim tự tháp lớn và nổi tiếng nhất của Ai cập hiện nay đã tồn tại được trên dưới 5000 năm tuổi. Để lấy được những loại đá này, đôi khi những người thợ phải đi lấy từ rất xa thậm chí hàng trăm, hàng ngàn km. Đặc biệt, cách mà người Ai Cập đưa được những tảng đá nặng hàng tấn này vào những vị trí chính xác để hình thành nên Kim tự tháp còn là điều bí ẩn.

    Thêm nữa, việc các kim tự tháp luôn có một tỷ lệ kích thước rất chuẩn dựa vào số Pi cho ta thấy thời kỳ đó người Ai Cập cổ đã biết đến số Pi – một hằng số mà sau này được Archimedes phát hiện ra. Công trình vĩ đại bậc nhất thê giới trong tour Ai Cập là minh chứng cho khả năng tính toán rất giỏi của người dân nơi đây. Điển hình là Kim tự tháp Kheops, nếu lấy hai lần chiều cao chia cho diện tích đáy sẽ cho kết quả là số Pi. Tỷ lệ này được coi là chuẩn và hiệu quả nhất để xây dựng những kiến trúc dạng như thế này. Tại kim tự tháp Kheops, mức độ chênh lệch giữa chiều cao của hai cạnh đối diện chỉ ở mức dưới 2cm – một độ chính xác đáng kinh ngạc trong điều kiện người Ai Cập không có các máy móc đo đạc chính xác như hiện nay.

    Kim tự tháp được xây dựng như thế nào?

    Như đã biết, quá trình xây dựng kim tự tháp còn là một bí ẩn chưa có lời giải xác đáng. Những nghiên cứu, chứng minh của các nhà khoa học hiện nay chỉ mang tính tương đối, giúp chúng ta hình dung được phần nào công trình kiến trúc độc đáo này.

    Đầu tiên là về cách thức người ta xây dựng Kim Tự Tháp. Mất tới hàng chục năm để hoàn thành một kim tự tháp với số lượng nhân công khoảng 20.000 đến 100.000 làm việc liên tục, số lượng nhân công phụ thuộc vào những yếu tố như thời tiết, lương thực, chiến tranh…. Trong thời gian này, một lượng nhân công khổng lồ sẽ được các vị vua của Ai Cập huy động để xây lăng mộ cho mình. Số lượng nhân công này sẽ được thay thế thường xuyên bởi xây dựng kim tự tháp là công việc rất khổ ải và làm sức khỏe những nhân công mau chóng kiệt quệ. Theo các tài liệu có được, một nhân công trung bình chỉ có thể phục vụ trong khoảng 3 năm là tối đa.

    Nguyên liệu được sử dụng trong các Kim Tự Tháp Kheops được lấy từ nhiều vùng khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng, chủ yếu từ mỏ đá nằm cách không xa Kim tự tháp này. Tuy nhiên, lớp đá bọc ngoài kim tự tháp phải lấy từ sông Tura về đến nơi xây dựng Kim tự tháp. Mỗi khối đá nặng chừng 2,5 đến 8 tấn được di chuyển vượt sông, vượt hàng trăm km để về đến nơi xây dựng. Ngoài ra, đá granite phải được lấy từ Aswan, một địa điểm cách rất công trình, chừng 935km. Để di chuyển được một khối đá về đến nơi người ta mất khoảng 2 tháng ròng rã. Quá trình vận chuyển phụ thuộc hoàn toàn sức người, tất nhiên người Ai Cập không thể kéo lê các tảng đá nặng hàng tấn này suốt một quãng đường dài như vậy. Ngoài việc sẽ cực kỳ tốn công sức, các khối đá đã được đẽo gọt này sẽ bị hư hại nghiêm trọng. Để giải quyết, họ đã khéo léo sử dụng các thanh trượt bằng gỗ để đặt những khối đá lên và kéo bằng dây thừng đến công trường. Mặc dù vậy, công sức bỏ ra để di chuyển một tảng đá cũng là rất lớn.

    Việc đưa những khối đá nặng hàng tấn đá lên cao là bước gây nhiều tranh cãi nhất trong việc nghiên cứu quá trình xây dựng một kim tự tháp. Việc nâng các khối đá nặng hàng tấn lên độ cao hàng chục mét vẫn là một thử thách lớn cho dù là thời đại bây giờ. Vậy tại sao, 4000 năm trước, người Ai Cập đã làm được việc đó?

    Giả thiết đầu tiên là việc người Ai Cập xưa đã sử dụng cần trục và ròng rọc để đưa các khối đá này lên cao. Giả thiết này có lẽ đúng nếu như kim tự tháp được xây bằng gạch hoặc những phiến đá nhỏ hơn. Còn với Kim tự tháp, việc đưa các khối đá nặng chừng 2,5 tấn lên cao và đặt đúng vào vị trí có vẻ khá khó khăn.

    Giả thiết thứ hai, có vẻ hợp lý hơn là người ai cập đã xây dựng những đường dốc bằng đất khổng lồ để đưa những viên đá lên cao. Những đường dốc này được xây dựng vòng quanh Kim tự tháp và sau khi hoàn thành được phá bỏ. Các đường dốc bằng đất này giúp giảm đáng kể lực cần thiết để đưa hòn đá lên cao đồng thời cũng cho phép nhiều người cùng kéo lên dễ dàng hơn.

    Xây dựng và hoàn thành

    Sau khi đưa đá lên cao, các nhân công sẽ đưa những hòn đá này vào đúng vị trí của nó. Các khối đá được liên kết với nhau dựa hoàn toàn vào trọng lực của chúng, người Ai Cập không phải sử dụng bất cứ loại vật liệu liên kết nào. Tùy vào kim tự tháp, thứ tự sắp đặt các viên đá, họ sẽ tạo nên các cấu trúc bên trong khác nhau. Nói chung, kiến trúc bên trong các kim tự tháp luôn hướng đến một điểm chung là tạo ra các hành lang ảo cho linh hồn nhà vua đi đến được các vì sao.

    Sau khi hoàn thành việc đặt các viên đá để tạo nên hình dáng của kim tự tháp. Người Ai Cập sẽ tiến hành trau chuốt mặt ngoài và mặt trong của kim tự tháp cho đến khi hoàn tất. Công việc chau chuốt được thực hiện từ trên xuống dưới. Họ sẽ lược bỏ các phần lồi ra của mặt Kim Tự tháp, các đường dốc được gỡ bỏ, mặt trong của kim tự tháp sẽ được khắc chữ…

    Kim tự tháp và quá trình hoàn thành nó vẫn là niềm tự hào của người dân Ai Cập. Sự vĩ đại và kỳ diệu của Kim Tự Tháp thể hiện rõ trình độ và sự sáng tạo của người dân Ai Cập. Cho đến nay, những bí ẩn trong quá trình xây dựng nó vẫn là một câu hỏi lớn của nhân loại, thôi thúc khách tour Ai Cập từ khắp nơi trên thế giới tìm đến chiêm ngưỡng và khám phá.

    Migola Travel Sưu tầm & Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Tỏ Bí Ẩn Của Kim Tự Tháp Lớn Nhất Ở Ai Cập
  • Phát Hiện Bất Ngờ Về Cách Người Ai Cập Chuyển Khối Đá 1,7 Vạn Tấn Xây Kim Tự Tháp
  • Khám Phá Cách Xây Dựng Kim Tự Tháp Ai Cập Cổ Đại
  • Bí Ẩn Kim Tự Tháp (Thuyết Minh,vietsub,bản Đẹp)
  • Bí Ẩn Về 3 Kim Tự Tháp Ai Cập Cổ Đại
  • So Sánh Phần Mềm Kế Toán Fast Và Misa Cập Nhật 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Giữa Các Dòng Máy Rửa Mặt Foreo Luna Mini Và Những Sai Lầm Khi Sử Dụng
  • Nhận Biết Gạo St25 Giả Từ Trung Quốc Tràn Lan Trên Thị Trường
  • Hướng Dẫn Cách Xác Định Địa Chỉ Ip Trên Máy Tính
  • Cách Nhận Biết Màn Hình Iphone 6 Plus Zin Hay “đã Bóc Tem”
  • Review: Sữa Bầu Similac Mom Có Tốt Không Và Cách Nhận Biết Sữa Similac Mom Giả
  • 1. Giới thiệu phần mềm kế toán Fast

    Phần mềm kế toán Fast Accounting ra đời từ năm 1997, đến nay Fast Accounting đã có trên 15.600 khách hàng trên toàn quốc. Phần mềm kế toán Fast Accounting là sản phẩm của Công ty Phần mềm FAST với hơn 22 năm phát triển và tư vấn ứng dụng cho trên 23.000 khách hàng. Fast Accounting không chỉ đáp ứng đầy đủ các nghiệp vụ kế toán thông thường mà còn được đánh giá là phần mềm kế toán tốt nhất trên thị trường cho việc quản trị và tính giá thành.

    Ngoài ra, phần mềm kế toán FAST còn có phiên bản Fast Accounting Online – đặc biệt không cần cài đặt phần mềm trên máy chủ hoặc cài các phần mềm hỗ trợ khác bạn cũng có thể sử dựng. Fasst Acounting Online phù hợp cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu sử dụng online.

    2. Giới thiệu phần mềm kế toán Misa

    • Phần mềm Misa SME là phần mềm kế toán được sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp bởi tính năng kế toán ưu việt, đầy đủ, chính xác giúp doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí và thời gian.
    • Được phát triển bởi Công ty Cố phần Misa với hơn 25 kinh nghiệm, phần mềm kế toán Misa SME đợc hơn 130.000 doanh nghiệp Việt Nam tin dùng. Kế toán hay chủ doanh nghiệp có thể truy cập và nắm bắt tức thời mọi hoạt động tài chính kê toán của doanh nghiệp của mình.
    • Phần mềm kế toán Misa SME cho phép doanh nghiệp dùng thử miễn phí phần mềm để trải nghiệm các tính năng hữu ích trước khi đưa ra quyết định mua.

    3. Ưu điểm của phần mềm Fast và Misa

    Đối với phần mềm Fast

    • Các giao diện, sổ sách chứng từ kế toán cập nhật và bám sát chế độ kế toán hiện hành. Fast có một hệ thống bẩm đa dạng, người dùng có thể yên tâm về đề nghị quản lý của mình (bẩm quản trị và báo cáo tài chính).
    • Phần mềm có tốc độ xử lý rất nhanh. Cho phép kết xuất mỏng ra Excell với mẫu biểu sắp đặt đẹp.
    • Có thể sử dụng làm việc mọi lúc, mọi nơi trên mọi thiết bị mà không cần cài đặt phần mềm trên máy chủ hay các phần mềm hỗ trợ khác. Dễ dàng truy xuất thông tin, bảo đảm tính xác thực.

    Đối với phần mềm Misa

    Các dòng sản phẩm của phần mềm kế toán MISA đều là các phần mềm đóng gói, mang tính phổ thông, thích hợp và dễ sử dụng đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không cần mỏng kiểu quản trị nhiều. Phần mềm Misa đơn giản, dễ học, dễ sử dụng, hình ảnh giao diện thân thiện.

    • Phần mềm tự động cập nhật phiên bản mới nhất giúp doanh nghiệp kịp thời cập nhật các quy định, thông tư mới nhất của Bộ tài chính. Do đó, kế toán viên sẽ không bỏ sót bất cứ điều khoản cũng như gặp phải những sai sót không đáng có trong quá trình thực hiện công việc.

    4. Nhược điểm của phần mềm kế toán Fast và Misa

    Đối với phần mềm Fast

    • Trong thao tác thường xảy ra lỗi nhỏ (tuy nhiên không đáng kể). Dung lượng lớn, người dùng khó phân biệt được data.
    • Fast có rất nhiều dòng sản phẩm đáp ứng cho doanh nghiệp có quy mô từ siêu nhỏ đến mô hình tập đoàn. Mỗi sản phẩm đáp ứng nhu cầu theo quy mô và đề nghị quản lý cũng như kế toán của từng DN vừa và nhỏ ít nghiệp vụ, DN lớn cần nhiều báo cáo về quản trị, DN về xây dựng thì nên dùng Fast …..

    Đối với phần mềm Misa

    • MISA đòi hỏi cấu hình máy tương đối cao vì có SQL. Tốc độ xử lý dữ liệu chậm, đặc biệt là khi cập nhật giá xuất hoặc bảo trì dữ liệu.
    • Phân hệ tính giá thành chưa được nhà sản xuất chú ý phát triển.
      • Các báo cáo khi kết xuất ra excel sắp xếp không theo thứ tự, điều này rất tốn công cho người dùng khi chỉnh sửa lại báo cáo.
      • Phân hệ lương không không xử lý được hoa hồng
      • Khó khăn khi in sổ chi tiết vì sổ chi tiết không được thiết kế tốt như sổ cái
      • Do Misa được phát triển với mục đích sử sụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ mang tính đơn giản, dễ hiểu, nhỏ gọn vì vậy 1 số yêu cầu nhỏ đặc thù của doanh nghiệp sẽ không được đáp ứng.
    • Misa là phần mềm kế toán đóng gói nên sẽ không tùy chỉnh theo người dùng, riêng phần mềm kế toán Fast có thể làm được điều này.

    Như vậy, nếu doanh nghiệp của bạn nằm ở quy mô vừa và nhỏ thì nên lựa chọn MISA . Về số tiền bỏ ra và những gì mà MISA đem lại cho doanh nghiệp thì không thể chê được. Còn đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, các doanh nghiệp hãy lựa chọn sử dụng phần mềm Fast

    Cả 2 phần mềm kế toán này đều đáp ứng đầy đủ nghiệp vụ quản trị tài chính kế toán cho mọi loại hình doanh nghiệp, thuộc mọi lĩnh vực. Sử dụng công nghệ hiện tại nhưng triển khai nhanh chóng và dễ sử dụng , giao diện phần mềm đơn giản, thân thiện người dùng, dễ sử dụng . Tuy còn nhiều khuyết điểm nhưng không có sản phẩm nào hoàn hảo cả các doanh nghiệp hãy lựa chon phần mềm kế toán tùy thuộc vào nhu cầu và quy mô doanh nghiệp mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nấu Mì Quảng Ếch Mềm Ngon, Chế Biến Chuẩn Vị Đà Nẵng
  • Cách Câu Ếch Đồng. Cách Làm Mồi Câu Ếch, Lưỡi Câu Và Bẫy Câu Ếch
  • Cách Nhận Biết Chính Hãng Đông Trùng Hạ Thảo Hector Collagen
  • Các Loại Đông Trùng Hạ Thảo: Cách Nhận Biết & Chọn Mua
  • Đông Trùng Hạ Thảo Giả: 3 Cách Nhận Biết Thật Giả Chính Xác Nhất
  • Kim Tự Tháp Ai Cập Là Gì? Tìm Hiểu Về Kim Tự Tháp Ai Cập Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • 25 Sự Thật Bất Ngờ Về Các Kim Tự Tháp Ai Cập
  • Khởi Động Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Hà Nội
  • Luật Giao Thông Đường Bộ Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Tìm Hiểu Tiếng Anh Là Gì? Đọc Để Biết Ngay Nhé Bạn!
  • Đáp Án Tìm Hiểu Luật Giao Thông Trực Tuyến Thái Nguyên 2022
  • 1 – Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    “Kim tự tháp Ai Cập” “các công trình cổ đại hình chóp bằng đá ở Ai Cập”. Có tất cả 138 kim tự tháp đã được khám phá ở Ai Cập tính đến năm 2008. Hầu hết đóng vai trò là lăng mộ cho các Pharaon và hoàng hậu trong hai thời kỳ Cổ vương quốc và Trung vương quốc.

    Hình 1: Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    1.1 – Những bí ẩn của Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    Những kim tự tháp Ai Cập đầu tiên được biết đến nằm ở Saqqara, phía tây bắc Memphis. Trong số đó, Kim tự tháp Djoser là lâu đời nhất, được xây dựng vào khoảng từ năm 2630 đến năm 2611 trước công nguyên ở Vương triều thứ ba.

    Kim tự tháp này cũng như khu phức hợp xung quanh do kiến trúc sư Imhotep thiết kế, và được xem là những công trình bằng đá nguyên khối cổ nhất thế giới. Số lượng nhân công để xây các kim tự tháp được ước tính vào khoảng từ vài nghìn, 20 nghìn cho tới 100 nghìn người.

    Những kim tự tháp Ai Cập nổi tiếng nhất nằm ở Giza, ngoại ô Cairo. Một số kim tự tháp Giza được xem là nằm trong số những công trình vĩ đại nhất từng được xây. Kim tự tháp Khufu tại Giza là kim tự tháp Ai Cập lớn nhất và là kỳ quan thế giới cổ đại duy nhất còn tồn tại.

    1.2 – Lịch sử phát triển và hình thành của Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    Đến thời kỳ Sơ triều đại trong lịch sử Ai Cập, những người có đủ điều kiện được mai táng trong một công trình gọi là lăng mastaba. Kim tự tháp Ai Cập thứ hai được ghi nhận do kiến trúc sư Imhotep thiết kế. Các nhà Ai Cập học tin rằng kim tự tháp này đã được sử dụng làm lăng mộ cho pharaon Djoser.

    Imhotep được xem là người đầu tiên phát minh ra phương pháp chồng các mastaba lên nhau để tạo ra một công trình bao gồm các “bậc” nhỏ dần từ dưới lên. Kết quả là Kim tự tháp Djoser – được thiết kế để tượng trưng cho một chiếc cầu thang khổng lồ mà linh hồn của vị pharaon đã mất dùng để bước lên thiên đường.

    Những thành tựu của Imhotep vĩ đại đến nỗi ông đã được người Ai Cập tôn thờ như một vị thần. Giai đoạn các kim tự tháp được xây dựng với quy mô lớn nhất cũng là lúc chế độ thống trị chuyên chế của các pharaoh ở mức độ cao nhất. Trong khoảng thời gian này, các kim tự tháp nổi tiếng nhất đã được xây dựng.

    Theo thời gian, do quyền lực trở nên ít tập trung hơn, khả năng và mong muốn khai thác những tài nguyên để xây dựng trên quy mô lớn cũng giảm đi, và các kim tự tháp cũng bắt đầu có kích thước nhỏ hơn, không được xây cầu kỳ như trước, thậm chí cẩu thả.

    Rất lâu sau thời kỳ xây dựng kim tự tháp ở Ai Cập, một sự bùng phát về việc xây kim tự tháp xảy ra ở khu vực mà ngày nay là Sudan, sau khi phần lớn Ai Cập rơi vào ách thống trị của các vị vua Napata. Mặc dù giai đoạn này rất ngắn và kết thúc vào năm 661 trước công nguyên, sự ảnh hưởng của Ai Cập là không thể phủ nhận.

    Trong suốt thời kỳ thống trị của vương quốc Sudan Meroe (khoảng từ năm 300 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên), hơn 200 lăng mộ có dạng kim tự tháp lấy ý tưởng từ kim tự tháp Ai Cập đã được xây dựng gần các thành phố lớn của vương quốc. Al-Aziz Uthman, con trai của Saladin người đã đánh bại các cuộc Thập Tự Chinh, cố gắng phá bỏ các kim tự tháp Giza nhưng đã phải từ bỏ bởi chúng có quy mô quá lớn. Tuy nhiên, Kim tự tháp Menkaure đã chịu một số thiệt hại.

    Hình 2: Lịch sử phát triển và hình thành của Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    1.3 – Ý nghĩa tượng trưng của Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    Hình dạng của kim tự tháp Ai Cập được cho là tượng trưng cho mô đất nguyên thủy mà người Ai Cập tin là từ đó Trái Đất được tạo ra, cũng như những tia nắng mặt trời chiếu xuống. Bề mặt của hầu hết các kim tự tháp được lát bằng đá vôi trắng đánh bóng để tạo nên một vẻ ngoài lộng lẫy khi quan sát từ xa.

    Tên của các kim tự tháp cũng có liên hệ tới ánh sáng mặt trời. Chẳng hạn như Kim tự tháp Cong tại Dahshur có tên là Kim tự tháp Tỏa sáng ở phía Nam, còn kim tự tháp Senwosret ở el-Lahun có tên là Senwosret đang Tỏa sáng. Mặc dù kim tự tháp được công nhận là các công trình mai táng, có nhiều ý kiến bất đồng về những nguyên lý thần học cụ thể đã dẫn đến việc xây dựng chúng.

    Một giả thuyết cho rằng chúng được thiết kể như một “cỗ máy hồi sinh.” Người Ai Cập tin rằng vùng tối trên bầu trời về đêm, nơi tất cả các ngôi sao có vẻ như đều xoay quanh, chính là cánh cổng lên thiên đường. Một trong những lối đi hẹp bắt nguồn từ buồng mai táng hướng thẳng tới trung tâm vùng tối này.

    1.4 – Số lượng và vị trí các Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    Năm 1842, Karl Richard Lepsius soạn thảo danh sách kim tự tháp đầu tiên với 67 kim tự tháp. Kể từ đó rất nhiều kim tự tháp khác đã được khám phá. Cho đến tháng 11 năm 2008, 118 kim tự tháp Ai Cập đã được tìm ra. Vị trí của Kim tự tháp 29, mà Lepsius gọi là “Kim tự tháp Không đầu”, bị mất lần thứ hai khi công trình này bị cát sa mạc vùi lấp sau cuộc khảo sát của Lepsius.

    Nó được tìm ra trong một cuộc khai quật vào năm 2008. Nhiều kim tự tháp hiện ở trong tình trạng xuống cấp hoặc bị cát sa mạc vùi lấp, nếu có thể nhìn thấy được thì cũng chỉ dưới dạng một đống gạch vụn. Vì vậy các nhà khảo cổ học vẫn đang tiếp tục xác định và nghiên cứu những kim tự tháp mà trước đây chưa được biết đến.

    Kim tự tháp được phát hiện gần đây nhất là của Hoàng hậu Sesheshet, mẫu thân của vị Pharaon Teti thuộc Vương triều thứ sáu, nằm ở Saqqara. Khám phá này được Zahi Hawass, Tổng thư ký Hội đồng Cổ vật Tối cao Ai Cập, công bố vào ngày 11 tháng 11 năm 2008.

    Hình 3: Số lượng và vị trí các Kim Tự Tháp Ai Cập là gì?

    Kết Luận: “Kim tự tháp Ai Cập” “các công trình cổ đại hình chóp bằng đá ở Ai Cập”. Có tất cả 138 kim tự tháp đã được khám phá ở Ai Cập tính đến năm 2008. Hầu hết đóng vai trò là lăng mộ cho các Pharaon và hoàng hậu trong hai thời kỳ Cổ vương quốc và Trung vương quốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sbt Vật Lý Lớp 6 Bài 7: Tìm Hiểu Kết Quả Tác Dụng Của Lực
  • Json Là Gì? Cấu Trúc Chuỗi Json
  • Tìm Hiểu Jack Balun Là Gì Ứng Dụng Trong Lắp Đặt Camera 2022
  • Tìm Hiểu Jack Balun Ứng Dụng Trong Lắp Đặt Camera Quan Sát
  • Java Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và Ứng Dụng Của Java
  • So Sánh Giữa Flutter Và React Native Ai Dùng Tốt Hơn?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Sự So Sánh Nhanh Về React Native Với Flutter Trong Nền Công Nghiệp Đa Nền Tảng ” Cafedev.vn
  • So Sánh Giữa Flutter Vs React Native Để Phát Triển Ứng Dụng Di Động
  • So Sánh 4 Máy Rửa Mặt Foreo Luna Mini 2 Vs Mini 3 Vs Luna 2 Và Luna 3
  • Máy Rửa Mặt Foreo Luna 3 Và Foreo Luna Mini 3
  • Nên Thiết Kế Ứng Dụng Bằng Flutter Hay React Native?
  • Flutter: Ưu điểm

    – Mạnh về animation, performance app rất cao.

    – Giao tiếp gần như trực tiếp với native

    – Static language nhưng với syntax hiện đại, compiler linh động giữa AOT (for archive, build prod) và JIT (for development, hot reload)

    – Có thể chạy được giả lập mobile ngay trên web, tiện cho development. Các metric measure performance được hỗ trợ sẵn giúp developer kiểm soát tốt performance của app.

    – Có thể dùng để build các bundle/framework gắn và app native để tăng performance.

    Flutter: Nhược điểm

    React Native: Ưu điểm

    – Thiên về development/hotfix nhanh (hot reload, bundle injection)

    – Sử dụng JS (quen thuộc với nhiều developer) và có thể share business logic codebase với frontend (js).

    – Back bởi Facebook, họ dùng cho product của họ hàng ngày nên developer hưởng lợi khá nhiều từ đây.

    – Hiện tại đã rất nhiều thư viện, gần như đã rất đầy đủ cho các nhu cầu app thông dụng.

    React Native: Nhược điểm

    – Giao tiếp với native thông qua các bridge, dễ bị bottleneck nếu không được kiểm soát tốt.

    – Dùng JS nên mang theo các đặc điểm của JS: rất dễ làm nhưng cũng dễ sai, dẫn tới khó maintain về sau.

    – HIệu năng animation là điểm yếu của RN, muốn làm tốt phải làm từ native, tầng js chỉ call vào, setup views. Tuy nhiên với các interactive animation thì rất đau khổ.

    – Không thích hợp cho các app cần năng lực tính toán cao (hash, crypto, etc).

    Video: Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào Mobile App

    Tóm lại:

    Flutter phù hợp với các dự án focus về animation, các layout phức tạp, với thế mạnh sử dụng bộ render tự làm, giao tiếp trực tiếp với GPU và một SDK để viết anim dễ dàng. Cực kỳ phù hợp với các team native (đang có nhu cầu làm thêm các UX có hiệu năng cao vào app native có sẵn). Flutter Developer hiện tại chưa nhiều, sẽ khó tìm người hơn.

    RN phù hợp với các team dùng JS as main language, không có quá nhiều animation phức tạp. RN hiện tại tuyển người khá/rất dễ so với Flutter.

    Về quan điểm cá nhân mình thiên về Flutter hơn, cũng tin tưởng vào khả năng phát triển của nó, dùng nó như một sự bổ trợ cho native. Tuy nhiên với sự phát triển của các cross platform hiện tại thì khả năng cao là chúng chỉ có 2 – 3 năm vòng đời, vì thế nếu đã chọn làm mobile thì nên nắm được native.

    (Người Viết: Việt Trần)

    Không chỉ React Native với Flutter, ngay cả Xamarin chen chân vào cuộc chiến cũng khiến các dev cân nhắc lựa chọn. Vậy dùng Flutter, React Native hay Xamarin phù hợp với dự án, với công ty hay với con đường sự nghiệp của bạn? Không có tốt nhất, chỉ có sự phù hợp nhất mới đem lại hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Kia Morning Mới, Vinfast Fadil Và Hyundai Grand I10
  • Vinfast Fadil 2022 Có Bao Nhiêu Phiên Bản? Nên Mua Xe Nào?
  • So Sánh Fadil Tiêu Chuẩn (Base) Và Fadil Nâng Cao (Plus)
  • So Sánh Vinfast Fadil Tiêu Chuẩn Và Fadil Nâng Cao: Giá Xe, Hình Ảnh …
  • So Sánh Vinfast Fadil 1.4L At Và Hyundai Grand I10 1.2 At (2021)
  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • Thành viên Việt Vân ghi lại từ bài đọc ” Nền văn minh nhân loại” Diễn đàn Sansangdethanhcong.com class="img-cus" data-src="//i0.wp.com/www.sansangdethanhcong.com/caches-images/https2dotxetxeti11dotwp1dotcomxethoangquang1dotfiles1dotwordpss1dotcomxet2009xet06xetls-11dotjpg.jpg?w=400">Lưỡng Hà là nền văn minh nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates, mà nay là lãnh thổ Iraq (nguồn: Sarissa)

    “… Nữ nô Dabitum hèn mọn xin kính cẩn thưa với Đại Chủ rằng điều thiếp nói trước với chàng nay đã xảy ra. Từ bảy tháng nay tội nghiệp đứa con nhỏ đã chết mà không ai muốn lo cho thiếp cả, xin chàng hãy thưong hại mà ra tay nếu không thiếp phải chết. Nếu số phận buộc thiếp phải chết thì thiếp cũng cam chịu, nhưng trước khi nhắm mắt thiếp chỉ mong sao được nhìn thấy mặt chàng lần cuối…” Bốn thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi Dabitum người con gái tôi tớ bị phụ bạc đó gửi gắm tâm tư của cô đến người tình và cũng là ông chủ. Cuộc tình ngang trái đó đã diễn ra tại miền nam Lưỡng Hà mà nay là lãnh thổ Iraq.

    Ngày nay sở dĩ chúng ta vẫn có thể hiểu được tâm trạng của một thiếu nữ đã sống cách đây 4000 năm và vẫn thương cảm cho tình cảnh của nàng bởi vì nàng đã dùng một phương tiện truyền thông độc đáo, đó là: chữ viết. Chữ viết giúp ta lưu truyền thông điệp qua không gian và thời gian, tổ chức xã hội, diễn tả những tư tưởng phức tạp, và cũng nhờ chữ viết mà văn học và khoa học mới nảy sinh. Tất cả những yếu tố đó đều quan trọng đối với cái ta gọi là Một Nền Văn Minh.

    Chữ viết chắc chắn là một bước khởi đầu cho nền Văn Minh. Dạng chữ viết được phát minh ra tại miền nam Lưỡng Hà cách đây trên 5000 năm. Khi nàng Dabitum viết ra những hàng chữ tuyệt vọng kia thì văn tự đã hiện hữu trong nền văn hoá nam Lưỡng Hà hơn một thiên niên kỷ.

    Lưỡng Hà tiếng Âu Châu là Mesopotamia, ngụ ý là miền nằm giữa hai con sông. Đó là hai con sông Tigris và Euphrates nằm trong vùng mà nay là lãnh thổ Iraq. Và điều đáng ghi nhớ là di sản văn tự của nền văn hóa cổ xưa này được để lại nhiều hơn là những gì phát xuất từ những giai đoạn về sau. Nguyên do là vì người Lưỡng Hà viết bằng cách dùng một cái que để khắc hình, hay dấu, vào một mảnh đất sét còn dẻo chỉ nhỏ bằng bàn tay. Một khi được phơi khô hay nung thì những văn tự bằng đất sét này rất bền.

    Theo chuyên gia Irvin Finco ở viện bảo tàng Anh Quốc những nổ lực ghi chép đầu tiên chưa thật sự có thể gọi là văn tự. “… Ban đầu khái niệm ghi chép rất là đơn giản, ta có thể gọi đó là giai đoạn “tiền văn tự”. Người Lưỡng Hà cổ đại thường vẽ hình ảnh sơ sài để tượng trưng những gì mà họ muốn ghi chép. Chẳng hạn như khi muốn lập một danh sách các chum vại họ cẩn thận vẽ hình một cái chum lên một mảnh đất sét rồi viết cạnh đó một con số. Mãi sau này mới có người chợt nghĩ ra là hình ảnh không những có thể chỉ vật đó mà còn diễn tả vật đó trong tiếng nói”. Như vậy giả dụ tiếng Lưỡng Hà là tiếng Việt ta có thể vẽ ra một cái ấm và dùng cái đó để chỉ ra âm thanh “ấm” như trong chữ “ấm ớ” nghĩa là không có liên hệ gì với chữ “ấm nước” cả.

    Người đầu tiên nghĩ ra việc dùng chữ chỉ tiếng gọi của một vật thay vì dùng hình ảnh của chính vật đó để mô tả nó chính là một thiên tài vĩ đại đã đóng góp lớn lao cho nền Văn Minh. Người này chắc hẳn thuộc dân tộc Sumer, vì Sumer nằm trong vùng Lưỡng Hà nơi văn tự đầu tiên xuất hiện trong một ngôn ngữ gọi là tiếng Sumer. Nay ngôn ngữ học gọi văn tự của người Sumer là: Cuneiform; tạm dịch là “văn tự hình góc” vì chữ cunei trong tiếng Latinh có nghĩa là “một góc”.

    Cũng học giả Irvin Finco cho biết “Khi người Sumer bắt đầu dùng chữ viết họ dùng rất nhiều đường cong. Nếu muốn viết chữ “heo” họ vẽ một cái hình tiêu biểu cái mõm, hai vành tai rồi vài sợi lông tua tủa. Nhưng đất sét không phải là một loại nền tốt để vẽ những đường cong cho nên chẳng bao lâu những đường cong được quy ước hóa thành những đường thẳng mà người ta có thể nhanh chóng khắc hay nhấn vào đất sét bằng cái que, và văn tự hình góc phát triển theo lối đó. Thoạt đầu văn tự này được tạo ra không phải để viết thư hoặc là để sáng tác một tác phẩm văn học. Nên biết chữ viết phát sinh từ hệ thống thư lại. Các nha lại, nôm na là thành phần thư ký kế toán từ thời cổ đại đã muốn dùng ký tự để quản lý kinh tế một cách hữu hiệu hơn. Vì nhờ ký tự mà họ có thể kiểm soát các số liệu và lập ra những danh sách. Những chứng tích cổ nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay là những bản kiểm kê tồn kho. Nhưng chẳng bao lâu sau khi chữ viết được phát minh người ta bắt đầu dùng nó vào những việc khác và ta thấy xuất hiện những văn bản nằm ngoài phạm vi hành chính. Đầu tiên là danh sách từ ngữ được thu lượm để dạy học và chẳng bao lâu sau đó nền văn chương sơ khai dựa trên chữ viết bắt đầu ló dạng”.

    “Buổi sáng tôi dậy sớm nhìn Mẹ tôi nói: Mẹ cho con cái gì mang theo để ăn trưa? Con muốn đi đến trường. Mẹ đưa cho tôi hai cái bánh và tôi lên đường. Mẹ cho tôi hai cái bánh và thế là tôi đi học. Đến trường thầy Giám Thị hỏi: sao con đến trể? Tôi sợ quá, tim đập thình thình, tôi lật đật đi vào lớp trước cả ông thầy”

    Và ta nên biết là người Sumer thời đó không có khắc mẫu tự để học đâu. Mẫu tự chỉ xuất hiện mãi về sau, tức là khoảng năm 1000 trước Công Nguyên tại vùng đất mà hiện nay là Syria. Nhưng học trình cho thư lại Sumer có cả môn toán cùng với môn đọc và viết.

    Bà Eleno Ropson thuộc trường đại học Oxford ở Anh Quồc cho biết: “Người Lưỡng Hà đếm theo hệ lục thập phân thay vì thập phân như chúng ta ngày nay và chúng ta còn thấy tàn dư của hệ lục thập phân này qua cách chúng ta tính thời gian tức là 60 giây một phút và 60 phút một giờ. Và từ Lưỡng Hà cách đếm này đã đến với chúng ta một cách gián tiếp qua ngã thiên văn học của Hy Lạp. Ngày nay chúng ta dùng 10 ký hiệu, từ số 0 đến số 9 để viết các con số, nhưng nguời Lưỡng Hà chỉ dùng hai ký hiệu mà thôi. Chẳng hạn để viết con số 24 thì họ vẽ hai mũi tên quay về phái trái để chỉ số 20 rồi vẽ thêm bốn vạch hình cọc thẳng để chỉ số bốn. Ngoài hai ký hiệu mũi tên và cọc thì họ không còn ký hiệu nào khác, không có dấu nhân mà cũng không có ký hiệu đại số.”

    Tưởng cũng nên biết máy điện toán cũng làm những bài toán khổng lồ phức tạp nhưng chỉ dựa trên hai số mà thôi, đó là số 0 và số 1. Nhưng người Lưỡng Hà đã biết đến đại số học, thậm chí họ có thể giải những phương trình với hai hoặc ba ẩn số, nhưng tất cả đều được viết ra thành văn. Những phiến đất sét để lại từ thời 2000 năm trước Công Nguyên cho thấy các bài toán mà học trò thời đó phải giải.

    Bà Ropson cho biết tiếp: “Có những bài toán rất đáng chú ý chẳng hạn như tính thể tích từ kích thước và hình dạng của một đống thóc, đó là những bài toán thực dụng. Họ cũng tính toán bằng phân số hay tỷ số, nhưng cũng có những bài toán mà mục đích thuần túy chỉ là để tìm hiểu những logic của toán học. Điều đáng lưu ý nhất là họ phân biệt những bài toán thực tiễn và những bài toán lý thuyết. Dường như giới thư lại Sumer quan tâm tới toán học vì họ mê thích cái logic của nó chứ không phải chỉ vì lợi ích thực tiễn mà thôi”. Rõ ràng đó là dấu hiệu của một nền văn minh.

    Nhưng Irvin Finco thì cho rằng giới thư lại còn có một sở trường khác: “Giới thư lại luôn luôn ham thích những ngôn từ kỹ thuật, ngay từ đầu họ đã soạn ra những quyển tự điển và họ luôn luôn quan tâm đến việc góp nhặt, ghi chú các từ ngữ và cách sử dụng cũng như phiên dịch chúng. Chữ viết lần đầu tiên được phiên dịch sang một ngôn ngữ khác khi một bộ tộc Akhart thuộc giống nòi Sumit đến Sumer. Người Akhart có tiếng nói khác với người Sumer. Một số thư lại tại Lưỡng Hà ắt hẳn đã phải biết cả hai thứ tiếng nhất là khi tiếng Akhart trở thành tiếng nói thường ngày của đại chúng và tiếng Sumer chỉ còn là ngôn ngữ của sách vở và tôn giáo”.

    Thành phần thư lại tại Lưỡng Hà nổi tiếng là có tài quan sát. Học giả Irvin Finco cho biết tiếp: “Quan sát là một điểm mạnh của họ, từ quan sát bệnh tật đến quan sát các vì sao và họ còn ghi lại cẩn thận những gì thấy được. Các ghi chép của họ về sự di chuyển của các hành tinh quả thật là chính xác. Cách liệt kê tỉ mỉ của họ thì quả thật không thể nào chê được. Giới thư lại Lưỡng Hà đã không tìm cách đơn giản hoá chuyện viết lách để khiến cho nhiều người biết chữ hơn. Có thể nhờ tính dấu nghề đó mà ít ai có thể cạnh tranh được với họ về toán và viết.”

    Bà Eleno Ropson: “Về căn bản hầu hết các ứng dụng về toán là đo lường vì đó là khả năng cơ bản để quản lý nhân công và vật liệu ở tầm mức lớn. Tỷ như khi phải đào lại một con kênh, một nhà trắc địa phải đo đạt rồi tính toán để suy ra con số dân phu phải thuê. Rồi mỗi năm tất cả công việc lại được thư lại tổng kết để xem dân phu có làm đủ công hay chưa. Gìới chủ nhân Lưỡng Hà cũng khôn lắm, nếu năm nay làm chưa đủ thì dân phu phải làm bù trong năm tới, nhưng nếu năm nay họ làm quá mức thì họ phải ráng chịu tức là năm tới họ không được nghỉ bù”!

    Quan hệ lao động trong mấy ngàn năm qua cũng không thay đổi gì mấy phải không quí vị?

    Bức tranh thế kỷ 16 của Martin Heemskerck miêu tả Vườn treo Babylon. Phía sau có thể thấy lờ mờ hình Tháp Babel (Nguồn: Wikipedia) Nên biết đào kênh khơi ngòi là một công việc sống còn đối với một dân tộc cần phải có nguồn nước của các sông Tigris và Euphrates để tưới những cánh đồng khô cằn của họ. Học giả Jeremy Black thuộc trường đại học Oxford giải thích tầm quan trọng của các công trình này được phản ánh qua văn học Lưỡng Hà như thế nào nhất là trong huyền thoại sáng thế của họ: “Trong huyền thoại của người Lưỡng Hà các vị Thần trẻ được mô tả như là những công nhân vô kỷ luật bị đưa đi lao động ở những công trường xây dựng như được mô tả trong bài thơ Atahashi:

    Thiên thần lam lũ đào kênh khơi ngòi

    Khai thông huyết mạch làm đất phì nhiêu

    Đào sông Tigris vét dòng EuphratesThiên thần nhọc mệt đếm ngày đếm tháng

    Hơn ba ngàn năm đêm đêm ngày ngày

    Kêu lên cãi cọ còn đất còn đào

    Thấy các thiên thần làm cu li quá khổ thượng đế bèn tạo ra con người để gánh bớt cái nợ đời cho họ. Huyền thoại sáng thế này còn phản ánh thời tiết, địa dư và sinh thái của vùng Lưỡng Hà nữa. Tỷ dụ như truyền thuyết về lụt lội. Nên biết sông Tigris có thể gây ra những trận lụt khổng lồ vào mùa xuân. Vùng Lưỡng Hà mà nay là Iraq vốn rất bằng phẳng thành ra nước sông không cần phải dâng cao cho lắm cũng có thể làm ngập toàn bộ vùng đất này”.

    “Có một giả thiết cho rằng sở dĩ nền văn minh đã phát triển tại miền nam Lưỡng Hà cũng như tại các nền văn minh cổ sơ khác nhu Ai Cập và Trung Quốc là vì nhu cầu về nguồn nước của nông nghiệp. Nông nghiệp càng phát triển thì cần phải có một cơ cấu hành chánh và văn minh nảy sinh từ hệ thống hành chánh. Nhưng lúc gần đây các nhà nhân chủng và khảo cổ lại cho rằng vùng nam Lưỡng Hà chỉ cần một hệ thống thủy lợi cỡ nhỏ cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu của họ. Nếu điều đó là đúng thì có lẽ xã hội đã trở nên phồn thịnh trước rồi cơ cấu hành chánh phức tạp mới theo sau”. Đó là lời của giáo sư Nicholas Pausecase thuộc đại học Cambrige.

    Từ “Văn Minh” như chúng ta biết có thể bao hàm các giá trị tinh thần cũng như vật chất. Về vật chất nhờ văn minh mà cuộc sống được phồn thịnh hơn, xã hội cũng được cai quản tốt hơn. Chữ viết cũng đã có vai trò trong chiến tranh. Trong số văn bản cổ xưa đến từ Lưỡng Hà có một báo cáo của một chỉ huy trình lên cấp trên như thế này:

    “Đã năm ngày nay bề tôi đóng ở chỗ như đã thỏa thuận để chờ cho đám quân từ Hana tới, nhưng họ không chịu tập trung dưới cờ. Vậy rất mong tướng quân chấp thuận cho bề tôi đem một số phạm nhân trong ngục ra chém đầu bêu quanh doanh trại để cho các binh sĩ kinh sợ mà mau chóng tập trung lại”.

    Dân Lưỡng Hà xem ra cũng khá hiếu chiến và có vẻ cũng chẳng xem trọng tính mạng con người hơn những dân tộc cổ đại khác. Nhưng trong xã hội Lưỡng Hà vẫn có một cái gì đó mà ta có thể gọi là văn minh được. Chẳng hạn như có các vị vua đã dựng lên những tấm bia ghi lời tuyên bố của họ cấm người giàu bóc lột người nghèo. Và đôi khi họ còn giúp đỡ dân nghèo bằng cách xóa nợ và nhờ đó mà nhiều trẻ em bị đưa đi làm nô lệ đã được sớm về đoàn tụ với gia đình. Hành động nhân đạo đó đã được ghi lại trong các Chiếu Dụ của vua chúa Lưỡng Hà hồi 2350 đến 2400 trước Công Nguyên. Các từ ngữ nói lên các giá trị văn minh xuất hiện trong đủ mọi thứ văn bản của thời đó.

    Giáo sư Jeremy Black thuộc đại học Oxford cho hay: “Tỷ như hai chữ “Nhân Bản”, ta có thể tưởng đây là một khái niệm hiện đại nhưng thực ra nó đã có từ thời Lưỡng Hà. Trong một luận văn viết theo thể đối thoại mà các học trò thời đó phải học, ông thầy nói với học trò như thế này:

    “Ta đã cho con tất cả những gì con có, khi con đến với ta con như một con chó con chưa mở mắt, ta đã giúp con nên người, ta đã cho con Nhân Bản.”

    Đoạn văn này đã dùng đúng chữ Nhân Bản, danh từ trừu tượng chỉ đức tính của con người. Và đó ắt hẳn như một cái gì tương tự như là khái niệm của chúng ta về một giá trị văn minh. Có một từ trong tiếng Sumer, một danh từ số nhiều gọi là “Mi”, rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. Mi là sức mạnh điều hành vạn vật kể cả văn minh của con người. Đôi khi Mi được mô tả như một cái gì rất cụ thể chẳng hạn như một ngôi đền hay một xã hội văn minh vì lý do nào đó bị suy đồi thì người ta nói cái Mi của chúng bị gom lại và vứt một xó như là một đống dụng cụ vô dụng. Nhưng đôi khi Mi cũng được liệt kê thành một danh sách bao gồm công lý, trí khôn, hòa bình, chiến tranh, tiếng nói và yên lặng như thể chúng là yếu tố cấu thành của văn minh. Và Mi còn bao gồm vương chế và các cấp bậc tôn giáo cùng những cơ cấu vô hình cần phải bảo trì. Trách nhiệm của nhà vua và các vị thần thánh là điều hành mọi chuyện sao cho đúng để bồi dưỡng cái Mi của xã hội và vũ trụ. Điều này cho thấy người Lưỡng Hà xem văn minh là một cái gì rất mong manh mà sự tồn tại tùy thuộc vào ý chí và đạo đúc của con người.”

    Điêu khắc hành lễ tìm thấy ở Tell Asmar (Iraq), có tuổi từ 2750 tới 2600 trước Công Nguyên (Nguồn: Wikipedia) Ở Lưỡng Hà các tổ chức chính trị đầu tiên chính là thành phố. Di tích của các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Đông nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng bằng nam Lưỡng Hà. Chính văn hóa thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới cho loài người. Dù sao đi nữa thì danh từ Văn Minh mà ta dùng để dịch chữ Civilization của tiếng Anh thì trong đó có chữ Latin “Civil” có nghĩa là “một người dân thành thị”.

    Giáo sư Nicholas Pausecase thuộc đại học Cambrige giải thích: “Mỗi thành thị Lưỡng Hà có một vị thần đỡ đầu, thần này ủy quyền cho nhà chức trách để thay thần chăm lo cho dân chúng. Đôi khi người lãnh đạo này được mô tả như một người chăn cừu mà chủ của bầy cừu là vị thần đỡ đầu, còn dân chúng tất nhiên là bầy cừu. Mỗi thành phố có một huyền thoại như thế. Khi thành phố tập hợp lại thành một Vương Quốc thì người cai trị tối cao là Vua. Vào khoảng các năm 2700 – 2600 trước Công Nguyên hay muộn hơn có một vị vua tên là Kist, người nắm quyền kiểm soát một số các đô thị Lưỡng Hà nhưng không nhân danh một thần thánh nào cả. Lại có một thành phố khác mà có vẻ như được coi là trung tâm tôn giáo của nam Lưỡng Hà, đó là Nipua. Người cai trị Nipua hầu như không bao giờ có quyền lực chính trị nhưng lại được chấp nhận như lãnh tụ tinh thần của toàn bộ nam Lưỡng Hà. Sau này thành phố nổi tiếng nhất Lưỡng Hà là Babylon đã trở nên một trung tâm quyền lực.”

    Nên biết tất cả các thành phố của vùng Lưỡng Hà đều sống nhờ vào nông phẩm thặng dư do các vùng quê chung quanh sản xuất. Việc phát minh ra lưỡi cày mới đã khiến cho Lưỡng Hà phồn thịnh về kinh tế và nhờ vậy đóng góp vào việc tạo dựng một nền văn minh.

    Văn học Lưỡng Hà có những vần thơ tuyệt đẹp về khung cảnh đồng nội. Trong bài thơ sau đây khi tân lang của nữ thần Inana được những người hầu gái dẫn vào chiếc giường hợp cẩn, họ thỏ thẻ bên tai chàng:

    Mong chàng như một nông phu vun xới cánh đồng Như một kẻ chăn cừu con chiên đầy đàn Mong thay trên giàn nho trổ thành chùm Ngoài đồng lúa mạch trổ bông Dưới sông cá chép tung tăng Trên đồng chim cò ríu rít Trong gió bãi sậy rì rào Mong thay, sa mạc đón mừng cây cỏ Rừng rú vui vầy hươu nai Những thửa vườn xanh mát sẽ cho mật ngon rượu nồng Và rau tươi trái ngọt ê hề Mong thay, với đức độ của chàng Đời sống hoàng cung sẽ trở thành vĩnh cửu

    Tất cả những thứ tình cảm, hỷ, nộ, ái, ố được mô tả trong văn học Lưỡng Hà đã làm cho người ta ngạc nhiên, vì cho dù hơn 4000 năm đã trôi qua chúng vẫn rất gần gũi với con người đương đại. Nền văn minh Lưỡng Hà là mốc cổ xưa nhất mà di tích còn cho phép chúng ta tiếp cận được qua văn tự. Nếu đúng như ước đoán ngôn ngữ con người đã hiện hữu cách đây khoảng một triệu năm, thì, nói một cách tương đối, bốn hay năm ngàn năm đó cũng chẳng cách xa chúng ta là bao nhiều. Và người Lưỡng Hà trên nhiều phương diện rất giống chúng ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)
  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.
  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100