So Sánh Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình?

--- Bài mới hơn ---

  • Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)
  • De Thi De Thi Hsg 12 Thpt 2022 Hai Duong
  • So Sánh Biên Dịch Viên Và Phiên Dịch Viên Đặc Điểm Giống Nhau Và Không Giống Nhau Giữa Họ
  • Vài Nét Về Hoạt Động Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám 2022
  • Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là hệthống các nguyên tắcđược sửdụngnhất quán trong hoạt động nói chung của con người. Phương pháp bao gồm có phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn. Phương pháp của triết học là phương pháp nhận thức thế giới hiện thực. Trong lịch sử phát triển của triết học, đã tồn tại hai phương pháp nhận thức đối lập nhau: đó làphương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    Phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbảncho rằng, sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan nói chung đều ở trong những mối liên hệ, trong sự vận động và phát triển theo những qui luật khách quan vốn có của nó.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbản chorằng, mọi sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất đều tồn tại cô lập lẫn nhau, cái này ở bên cạnh cái kia và nó luôn ở trong trạng thái tĩnh không có sự vận động và phát triển. Nhưng nếu như có thừa nhận sự phát triển thì chẳng qua chỉ là một quá trình tăng hoặc giảm về số lượng. Mặt khác, quan điểm này không thừa nhận mâu thuẫn bên trong bản thân các sự vật và hiện tượng.

    Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong lịch sửtriếthọc chủ yếu về mặt nguyên tắc và phương pháp nhận thức thế giới khách quan. Trong việc nghiên cứu của khoa học tự nhiên, thì vấn đề phân chia thế giới hiện thực thành các thuộc

    tính, bộ phận, hệ thống tĩnh tại và tách rời nhau đều là những điều kiện cần thiết cho nhận thức khoa học. Nhưng sẽ không đúng, nếu từ đó rút ra kết luận cho rằng phép siêu hình là thế giới quan khoa học và đúng đắn nhất. Cần phải phân biệt một bên là phương pháp trừu tượng hoá tạm thời cô lập sự vật và hiện tượng khỏi mối liên hệ chung, tách khỏi sự vận động và phát triển để nghiên cứu chúng, với một bên là phép siêu hình với tư cách là thế giới quan của triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    *. Ph­ương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    *. Ph­ương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Toán Bằng Định Luật Bảo Toàn Electron
  • Chuyên Đề: Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Tập Kim Loại Tác Dụng Với Dung Dịch Axit
  • Phương Pháp Giải Hóa Học
  • Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm? Ai Nên Áp Dụng?
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm
  • Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    a) Phương pháp siêu hình

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    b) Phương pháp biện chứng

    Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông
  • Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates
  • Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

    Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

    Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

    Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

    Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

    Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

    Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Bài soạn tuần 3

    Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình

    2. Phương pháp biện chứng.

    Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

    1. Phương pháp siêu hình

    Là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    2. Phương pháp biện chứng

    Là phương pháp

    Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

    VÍ DỤ

    Một viên phấn

    – Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

    – Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

    Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

    – Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

    – Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

    – Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

    Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

    Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

    Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

    Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

    Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

    Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

    VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

    Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

    Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

    Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

    Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

    Những câu ca dao về lượng và chất

    Lượng

    ”Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

    “Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

    Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

    “Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

    “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

    “Trăm năm bia đá cũng mòn

    Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

    “Thương em anh chẳng dám qua

    Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

    Chất

    “Trong tốt ngoài xấu”

    “Khẩu Phật , tâm xà”

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười

    Mà trong nham hiểm giết người không dao”

    “Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

    “Ở chi 2 dạ 3 bòng

    Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

    “Nhân chi sơ tính bản thiện”

    “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

    “Thấy sang bắt quàng làm họ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • 1. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Trong lịch sử triết học, bên cạnh vấn đề bản chất thế giới là vật chất hay tinh thần, còn một vấn đề quan trọng khác cần triết học giải quyết – đó là vấn đề về trạng thái tồn tại của thế giới. Vấn đề đó được biểu hiện qua các câu hỏi đặt ra: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại trong trạng thái biệt lập, tách rời, đứng im, bất biến hay có quan hệ, ràng buộc với nhau, không ngừng vận động, biến đổi? Giải đáp câu hỏi đó đã làm nảy sinh hai phương pháp (quan điểm) nhận thức đối lập nhau – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    a) Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tách rời với các sự vật khác; xem xét sự vật trong trạng thái không vận động, không biến đổi.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn nhận thức một đối tượng nào đó trước hết phải tách đối tượng đó ra khỏi mọi mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đồng thời phải nhận thức đối tượng trong trạng thái không vận động, không biến đổi. Việc xem xét đối tượng sự vật theo quan niệm như vậy cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, sai lầm căn bản của phương pháp siêu hình chính là đã tuyệt đối hoá trạng thái tĩnh tương đối của đối tượng sự vật. Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng không tồn tại trong trạng thái tĩnh, bất biến một cách tuyệt đối. Trái lại, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong những mối quan hệ và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng.

    Ph.Ăngghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là “Chỉ nhìn thấy những sự vật mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

    b) Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau với các sự vật khác xung quanh; xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó.

    Phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu của quan điểm biện chứng, – quan điểm khẳng định các sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn nhận thức đúng về sự vật, cần phải nhận thức, xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó, trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa nó với các sự vật khác xung quanh.

    Có thể kết luận rằng: Sự khác biệt căn bản giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng là ở chỗ, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật bằng một tư duy cứng nhắc, máy móc; còn phương pháp biện chứng nhìn nhận, xem xét sự vật với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng không chỉ nhìn thấy những sự vật cụ thể mà còn thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, sự diệt vong của chúng; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Đối với phương pháp siêu hình thì, sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; hoặc là thế này, hoặc là thế khác; “hoặc là… hoặc là…”, chứ không thể vừa là thế này vừa là thế khác; “vừa là… vừa là…”. Đối với phương pháp biện chứng thì, một sự vật vừa là thế này vừa là thế kia, “vừa là… vừa là…”. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan đúng như nó đang tồn tại. Vì vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.

    2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Với tư cách là một phương pháp nhận thức đúng đắn về thế giới, phương pháp biện chứng không phải ngay khi ra đời đã trở nên hoàn chỉnh, mà trái lại nó phát triển qua từng giai đoạn gắn liền với sự phát triển của tư duy con người. Trong lịch sử triết học, sự phát triển của phương pháp biện chứng được biểu hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    + Phép biện chứng tự phát là hình thức biện chứng tồn tại ở thời cổ đại. Các nhà biện chứng cổ đại cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thức được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi và trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà biện chứng cổ đại về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng chủ yếu vẫn chỉ là kết quả của sự quan sát, trực kiến thiên tài chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu và của thực nghiệm khoa học. Vì vậy, tư tưởng biện chứng thời kỳ này chủ yếu dừng ở những đánh giá về hiện tượng biến đổi, mối liên hệ giữa các sự vật chứ chưa thật sự đi sâu vào xem xét bản thân sự vật để có những nhận xét sâu sắc về sự vận động của sự vật. Theo Ph.Ăngghen, cách nhận xét thế giới của các nhà biện chứng cổ đại như trên là cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng.

    + Phép biện chứng duy tâm biểu hiện tập trung, rõ nét nhất trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là Ph.Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử của tư duy nhân loại, các nhà biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng. Các nhà biện chứng cổ điển Đức không chỉ nhìn thế giới trong quá ttrình vận động, phát triển, trong tính chỉnh thể thống nhất mà còn khẳng định về tính quy luật của sự phát triển đó. Tuy nhiên, phép biện chứng này lại mang tính duy tâm, biểu hiện ở việc khẳng định sự phát triển của thế giới xuất phát từ tinh thần và kết thúc cũng ở tinh thần. Theo Ph.Hêghen, sự phát triển thực chất là quá trình vận động, phát triển của yếu tố tinh thần gọi là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần tuyệt đối”. Trong quá trình phát triển của mình, “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá chuyển thành giới tự nhiên, xã hội để sau đó lại quay trở về bản thân mình. Như vậy, đối với phép biện chứng duy tâm này, sự vận động phát triển của giới hiện thực chẳng qua chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối”.

    +Phép biện chứng duy vật là hình thức biện chứng biểu hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở khắc phục tính chất duy tâm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Angghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí đồng thời kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Đúc Đặc Biệt Trong Cơ Khí.
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • – Biện chứng là gì?

    + Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

    Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủ quan là chỉ biện chứng của ý thức.

    Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Theo quan niệm duy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểm duy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan. Ph. Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

    Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    – Phép biện chứng là gì?

    Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới.

    Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn.

    – Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

    + Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”… Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

    + Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I. Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph. Hêghen. Ph. Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới – trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển. Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph. Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.

    + Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph. Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

    – Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong nhận thức

    Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới là ở chỗ: phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ phổ biến, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; còn phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức các sự vật, hiện tượng không trong mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; nó tuyệt đối hoá tính chất ổn định, cô lập của các sự vật, hiện tượng. Do đó, phương pháp siêu hình chỉ có giá trị trong một phạm vi nhất định. Chỉ có phương pháp biện chứng mới có thể cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong thực tế.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • So Sánh Phương Pháp Đốt Điện Và Phương Pháp Ala

    --- Bài mới hơn ---

  • Price Action Là Gì? Làm Sao Để Học Price Action Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Price Action Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Ăn Dặm Blw Là Gì? Thực Đơn Mẫu Ăn Dặm Bé Chỉ Huy Của Viện Dinh Dưỡng
  • Bảo Vệ Sự Sống Và Phương Pháp Billings
  • Huyết Thanh Kháng Uốn Ván (Sat 1500 Ui)
  • Tại sao phải chữa sùi mào gà?

    Các nốt sùi mào gà  mọc tập trung ở bộ phận sinh dục nam và nữ giới

    Sùi mào gà do virus HPV gây ra và những tổn thương biểu hiện chủ yếu ở bộ phận sinh dục bằng những nốt mụn sùi màu trắng hồng. Đây là vị trí đầu tiên bị tác động bởi sùi mào gà chủ yếu lây từ người này sang người khác bởi hoạt động quan hệ tình dục không an toàn.

    Ngoài ra, bệnh có thể xuất hiện ở những cơ quan khác khi vô tình người bệnh tiếp xúc với vết thương hở của nguồn bệnh. Hay người mẹ mang thai cũng thể lây sang cho con bằng hoạt động sinh thường.

    Như vậy, sùi mào gà đã len lỏi vào từng độ tuổi, từng giới tính. Và nếu không kịp thời thăm khám và điều trị, bệnh sẽ gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm. Cụ thể:

    • Ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, chất lượng cuộc sống suy giảm

    • Khả năng sinh lý và chức năng sinh sản bị ảnh hưởng

    • Mắc với các căn bệnh ung thư là rất cao. Điển hình: ung thư dương vật và ung thư cổ tử cung

    • Thậm chí, người bệnh còn phải đối diện với nguy cơ tử vong.

    Vì những nguy hiểm của sùi mào gà mang lại, người bệnh cần đi thăm khám và điều trị kịp thời để bệnh có thể chữa khỏi và mang lại hiệu quả cao. 

    Ưu và nhược điểm của PHƯƠNG PHÁP ĐỐT ĐIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ALA-PDT 

    Các bác sĩ Bệnh Viện Nam Học Sài Gòn cho biết, điều trị sùi mào gà bằng phương pháp đốt hay liệu pháp quang động học đều có những ưu và nhược điểm riêng. Cụ thể:

    Phương pháp đốt điện

    Phương pháp đốt điện loại bỏ nhanh nốt sùi mào gà

    Phương pháp đốt điện là phương pháp được sử dụng phổ biến cho những người mắc bệnh sùi mào gà. Công nghệ này sử dụng dòng điện cao tầng tác dụng trực tiếp lên nốt sùi, khiến chúng teo và rụng dần. 

    Phương pháp đốt điện loại bỏ khá nhanh những vết thương và cách thực hiện khác đơn giản. Tuy nhiên, nhược điểm của công nghệ này như sau:

    • Đòi hỏi bác sĩ phải có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm và đảm bảo trong quá trình thực hiện không để lại sai sót

    • Mức độ an toàn không cao, các vùng da xung quanh dễ bị tổn thương, gây đau đớn cho người bệnh

    • Sau khi điều trị có thể để lại sẹo và ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của bệnh nhân

    • Phương pháp chỉ khống chế được virus trong một thời gian ngắn, không thể loại bỏ hết được căn nguyên gây bệnh

    Phương pháp ALA- PDT

    Phương pháp ALA- PDT là phương pháp hiện đại nhất để điều trị sùi mào gà

    Đây được coi là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay để chữa sùi mào gà. Liệu pháp quang độc học sử dụng tia chiếu xạ để triệt tiêu các nốt sùi và có những ưu điểm vượt trội như sau:

    • An toàn, không đau và không để lại sẹo. Phương pháp này xác định một cách chính xác vùng mô chứa mầm bệnh rồi tiêu diệt. Bởi thế mà cùng khu vực da xung quanh không bị tổn thương. 

    • Kết quả điều trị cao, hồi phục nhanh chóng và áp dụng cho mọi giai đoạn của bệnh. 

    • Virus HPV được điều trị triệt để. Với khả năng dùng tia mẫn quang tác động sâu và trực tiếp đến tế bào mầm bệnh, ALA- PDT đã phá vỡ cấu trúc liên kết gen của virus và khả năng sinh sản của chúng. Vì vậy mà mục tiêu chữa bệnh được hoàn thành. 

    • Với những nốt sùi mọc phía sau bên trong ống niệu đạo hoặc cổ tử cung, hay những mảng sùi mào gà lớn, liệu pháp quang động học đều có thể điều trị được. 

    • Ngoài ra, phương pháp ALA- PDT còn bảo vệ được nhưng cơ quan quan trọng. Tuy xâm nhập vào sâu vị trí gây bệnh của virus, nhưng phương pháp này giữ nguyên.

    Phương pháp ALA- PDT là phương pháp hiện đại. Tuy nhiên, không phải cơ sở y tế chuyên khoa nào cũng có thể áp dụng để điều trị. Vì vậy, người bệnh nên lựa chọn địa chỉ y tế có đầy đủ trang thiết bị y tế, đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm và chuyên môn cao.

    Và tại Bệnh Viện Nam Học Sài Gòn hội tụ đầy đủ những yếu tố kể trên và đã áp dụng chữa trị thành công rất nhiều người bệnh mắc sùi mào gà.

    Người bệnh đến thăm khám sẽ được các bác sĩ chỉ định xét nghiệm để chẩn đoán bệnh cũng như tình trạng bệnh hiện tại một cách chính xác. Sau đó, dựa vào kết quả mà bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị thích hợp. Nhờ vậy, bệnh nhân luôn tin tưởng và an tâm, khi lựa chọn Viện Nam Học Sài Gòn là địa chỉ để chữa trị sùi mào gà.

    Bên cạnh đó, dịch vụ khám chữa nhanh chóng, ít thủ tục rườm rà của bệnh viện khiến bệnh nhân tới khám vô cùng hài lòng.

    • GỌI CHO BÁC SĨ

    • TƯ VẤN ZALO

    • TƯ VẤN TRỰC TIẾP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Làm Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Phương Pháp Giáo Dục Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Aac Không Gây Trở Ngại Cho Việc Phát Triển Lời Nói Tự Nhiên
  • Âm Ngữ Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ: Các Phương Pháp Giao Tiếp Tăng Cường
  • Tìm Hiểu Về Mô Hình Agile Và Quy Trình Scrum
  • Phương Pháp So Sánh Trong Luật So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật So Sánh Là Một Môn Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Dược Liệu
  • Phương Pháp Tiếp Cận Nguồn Gốc Lịch Sử Trong Nghiên Cứu Motif Truyện Kể Dân Gian
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý – Kipkis
  • Tâm Lý Trẻ Em Là Gì? Làm Sao Để Hiểu Được Chúng ?
  •     Nói cách khác, khi muốn tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt của hai hộ thống pháp luật thuần túy, người nghiên cửu không thể không dựa vào những tương đồng và khác biệt giữa các chế định, các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật đỏ và ngược lại, để tìm hiểu sự khác biệt trong nội dung của chế định nào đó ở các hệ thống pháp luật khác nhau, người nghiên cứu cũng không thể không xác định sự khác biệt về cách thức giải thích các quy định của pháp luật ở các hệ thống pháp luật hoặc tầm quan trọng cũng như vị trí của chế định pháp luật đó ở các hệ thống pháp luật này.

    PHƯƠNG PHÁP CỦA LUẬT SO SÁNH

        Những nguyên lí của phương pháp so sánh trong luật so sánh hoàn toàn không vượt ra ngoài nguyên lí chung của phương pháp so sánh được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học nói chung. Mặc dù các sự vật và hiện tượng đều có thể so sánh được với nhau nhưng việc so sánh chi thực sự có ý nghĩa khi các đối tượng so sánh (yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh) có những điểm chung nhất định. Điểm chung này được các nhà nghiên cứu so sánh gọi là yếu tố thứ ba của việc so sánh bên cạnh yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh. Yếu tố thứ ba này được xem là mẫu số so sánh chung.

        Việc tìm kiếm mẫu số so sánh chung này vẫn luôn là vấn đề được bàn luận khi sử dụng phương pháp so sánh trong các lĩnhvực khoa học khác nhau bao gồm cả lĩnh vực luật so sánh. Các nhả nghiên cứu luật so sánh cho rằng khả năng so sánh của các quy phạm pháp luật hay các chế định pháp luật tương đương vó nhân tô thứ ba của việc so sánh bởi vi khả năng so sánh của cá quy phạm hay các chế định pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác nhau phụ thuộc vào sự tồn tại của mẫu số so sánh chung- nhân tố làm cho việc so sánh các hiện tượng pháp lí có ý nghĩa.

        Vậy, nhân tố nào là mẫu số so sánh của các đối tượng so sánh trong luật so sánh? Nói cách khác, những hệ thống pháp luật nào; những chế định hay quy phạm pháp luật nào trong các hệ thống pháp luật khác nhau có thể được so sánh với nhau?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu, Phạm Vi, Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Báo Cáo
  • Nghiên Cứu Định Tính Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nghiên Cứu Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Cách Viết Và Cấu Trúc Chi Tiết Một Bài Báo Khoa Học
  • Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Phương pháp biện chứng với tư cách là toàn bộ những nguyên tắc, những yêu cầu được đào tạo dựa vào các quy luật phổ biến của hiện thực, dựa vào các quy luật hình thành và phát triển của nhận thức xã hội, của các nguyên tắc định hướng cho con người trong hoạt động nhận thức của mình, phương pháp ấy không loại bỏ việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp cũng như các thủ pháp nhận thức đặc thù khoa học chung. Các phương pháp và thủ pháp đó gắn liền với việc giải quyết những nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó. Chúng được vận dụng ở những giai đoạn rất xác định trong sự phát triển của nhận thức khoa học – những giai đoạn quy định sự xuất hiện của những nhiệm vụ đó.

    Việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp và thủ pháp đặc thù khoa học chung trong nghiên cứu khoa học có kết quả hơn cả khi chúng tính đến những yêu cầu của sự nhận thức biện chứng. Nói một cách khác, trong những yêu cầu của các phương pháp nói trên ở dạng loại bỏ cần có những yêu cầu tương ứng của phương pháp nhận thức biện chứng.

    Chúng ta sẽ xem xét các phương pháp và thủ pháp nhận thức khoa học chung được vận dụng cho những giai đoạn phát triển cơ bản của nhận thức khoa học.

    Bước thứ nhất, đầu tiên của nhận thức khoa học là việc có được những cứ liệu thích đáng về đối tượng được nghiên cứu, là việc xác định được những sự kiện cho những thông tin nhất định về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

    Các sự kiện – đó là các mặt, các khía cạnh nào đó của hiện thực được con người cảm thụ và ghi nhận dưới một hình thức xác định. Đặc điểm quan trọng nhất của một sự kiện khoa học là tính xác thực của nó cho phép kiểm tra bằng thực nghiệm. Các sự kiện là cơ sở kinh nghiệm của khoa học. Chỉ có dựa vào đó, nhà khoa học mới có thể đi sâu vào bản chất của hiện tượng được nghiên cứu. Theo cách diễn đạt của nhà sinh lý học Nga vĩ đại I.P. Pa-vlốp, sự kiện là không khí của nhà khoa học.

    Để nhận được các sự kiện cần thiết trong khoa học người ta sử dụng các phương pháp nhận thức như quan sát, thí nghiệm, mô hình hóa.

    Trong quan sát, các giác quan của con người đóng vai trò chủ chốt. Song, như đã biết, những khả năng của chúng trong tri giác các mặt nào đó của hiện thực còn hạn chế. Vì vậy, khi quan sát người ta sử dụng rộng rãi các dụng có khả năng tăng cường hiệu quả của việc quan sát và mở rộng phạm vi các hiện tượng có thể tri giác. Ví dụ, con người không thể tri giác trực tiếp các hạt cơ bản, cấu trúc của phân tử và nguyên tử, các thiên thể rất xa… Nhờ các loại dụng cụ mà con người đã có thể quan sát được tất cả những cái đó. Việc sử dụng có kết quả các dụng cụ để nghiên cứu các đối tượng hết sức khác nhau chứng tỏ rằng về mặt nguyên tắc là không tồn tại những hiện tượng không thể quan sát được.

    Do sử dụng các dụng cụ và các phương tiện kỹ thuật khác, người ta đã phân biệt những quan sát trực tiếp và những quan sát gián tiếp. Quan sát mà trong quá trình đó đối tượng tác động trực tiếp lên các giác quan của người quan sát, được gọi là quan sát trực tiếp, còn quan sát mà trong đó tác động của đối tượng lên các giác quan của người quan sát phải thông qua dụng cụ thì gọi là quan sát gián tiếp. Trong nghiên cứu khoa học hiện đại, hai loại quan sát đó thường không được sử dụng dưới dạng thuần túy của chúng, mà thể hiện với tư cách là các mặt trong một quá trình phức tạp thống nhất nhằm nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu.

    Trong một số trường hợp, việc sử dụng các dụng cụ dẫn tới những sai lệch hay thậm chí những thay đổi nhất định vào đối tượng được quan sát và như vậy làm cho người quan sát mất khả năng cảm thụ đối tượng đúng như nó đang tồn tại trong điều kiện tự nhiên. Ví dụ, ảnh hưởng của dụng cụ đối với các vi hạt được quan sát lớn đến mức vi hạt thực sự hiện ra trước mắt chủ thể quan sát dưới dạng đã thay đổi. Song trái hẳn với những người theo chủ nghĩa thực chứng, tình trạng đó không phải là trở ngại không thể khắc phục nổi để nhận thức được các thuộc tính khách quan của đối tượng vi mô. Chỉ có điều, nó buộc người quan sát khi đưa ra kết luận phải tính đến các tính năng của dụng cụ, các quy luật tương tác giữa dụng cụ với đối tượng được nghiên cứu.

    Một khía cạnh cần thiết trong quan sát khoa học là mô tả. Mô tả là sự ghi nhận dưới hình thức nào đó các kết quả quan sát được, những thông tin về đối tượng được nghiên cứu. Khi mô tả người ta sử dụng các phương tiện tự nhiên và nhân tạo để diễn đạt thông tin như khái niệm khoa học, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị… Những yêu cầu quan trọng nhất đối với mô tả khoa học là: độ chính xác, tính lôgích nghiêm ngặt và dễ hiểu. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học, những yêu cầu đó được thực hiện trên cơ sở sử dụng rộng rãi ngôn ngữ nhân tạo.

    Đo lường là một hoạt động nhận thức bảo đảm việc diễn đạt bằng số các đại lượng được đo. Đo lường được thực hiện nhờ mối tương quan, sự so sánh thuộc tính hoặc khía cạnh được đo của đối tượng được quan sát với một biểu mẫu nào đó lấy làm đơn vị đo lường, và vì thế nó cho phép ghi nhận không chỉ những thuộc tính, mà cả những mối quan hệ nhất định của đối tượng. Đo lường thường có hai dạng: trực tiếp và gián tiếp. Đo lường trực tiếp là đem so sánh trực tiếp hiện tượng, thuộc tính dược đo với mẫu chuẩn tương ứng, đo lường gián tiếp là xác định đại lượng của thuộc tính cần đo trên cơ sở tính toán sự phụ thuộc nhất định vào các đại lượng khác. Đo lường gián tiếp giúp cho việc tiến hành xác định các đại lượng trong những điều kiện khi việc đo lường trực tiếp trở nên quá phức tạp hoặc là không thể thực hiện được (đo lường các thuộc tính khác nhau của các đối tượng trong vũ trụ, của các vi thể…).

    Quan sát đòi hỏi phải vạch rõ và ghi nhận những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng ở trạng thái tự nhiên. Song, một điều quan trọng đối với chủ thể nhận thức là cũng phải biết cả những thuộc tính và các mối liên hệ khác của đối tượng không quan sát được trong điều kiện tự nhiên, song lại được thể hiện trong tình huống khác khi có những tương tác khác. Để nhận được thông tin về những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng không thể quan sát trong những điều kiện bình thường, người ta tiến hành thí nghiệm.

    Thí nghiệm là một phương pháp nghiên cứu khoa học đòi hỏi có sự thay đổi thích hợp của đối tượng hoặc tái tạo đối tượng trong những điều kiện được tạo ra một cách đặc biệt nhằm mục đích nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

    Khác với quan sát khi chủ thể không can thiệp vào hiện tượng được nghiên cứu mà chỉ giới hạn ở việc ghi nhận trạng thái tự nhiên của đối tượng, thí nghiệm đòi hỏi chủ thể phải can thiệp một cách tích cực, có mục đích rõ ràng vào phạm vi được nghiên cứu của các hiện tượng, vi phạm trạng thái tự nhiên của sự vật, đặt đối tượng vào những điều kiện được đặc biệt định trước. Do đó, người nghiên cứu buộc đối tượng phải thể hiện những thuộc tính mới không quan sát thấy ở trạng thái tự nhiên. Thay đổi những điều kiện đó theo hướng nào đó, người nghiên cứu theo dõi được khuynh hướng thay đổi các thuộc tính đang được quan sát và như vậy sẽ nhận được những tư liệu phong phú tiêu biểu cho hành vi của đối tượng trong các tình huống khác nhau. Vì trong khi thí nghiệm, đối tượng cần nghiên cứu được quan sát trong những điều kiện được kiểm soát và tạo ra từ trước, nên khi cần có thể lặp lại thí nghiệm và do đó kiểm tra được việc quan sát.

    Song, có những đối tượng mà chủ thể không thể tác động trực tiếp hoặc tác động như thế rất khó khăn, không có lợi về mặt kinh tế… Ví dụ, chúng ta không thể tác động trực tiếp vào quá trình tạo ra kim cương trong tự nhiên, sinh ra sự sống trên Trái Đất, những quá trình diễn ra trên Mặt trời,… Trong các trường hợp như vậy, người ta tiến hành thí nghiệm không phải ở chính đối tượng, mà ở một đối tượng khác mà trong mối quan hệ nào đó là giống với đối tượng được nghiên cứu, tái tạo được những thuộc tính hay các mối quan hệ khác nhau của nó. Dạng thí nghiệm này được gọi là thí nghiệm mô hình, còn bản thân phương pháp nghiên cứu thì được gọi là mô hình hóa.

    Mô hình hóa là tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ xác định của đối tượng được nghiên cứu trong một đối tượng khác, được tạo ra một cách đặc biệt – nghĩa là trong mô hình nhằm mục đích nghiên cứu chúng kỹ lưỡng hơn. Các máy xi-béc-nê-tíc mô phỏng những thuộc tính của bộ não con người, các thiết bị đặc biệt tái tạo ra tình trạng không trọng lượng, trạng thái phóng xạ cao dần, áp suất siêu cao và siêu thấp,… đều có thể coi là những ví dụ về mô hình.

    Các ô hình có thể là mô hình vật chất, cũng có thể là mô hình lý tưởng. Các mô hình vật chất là những đối tượng được con người tạo ra, hoặc lựa chọn một cách đặc biệt, về mặt vật lý tái tạo được những thuộc tính và các mối liên hệ khác nhau đặc trưng cho hiện tượng được nghiên cứu. Ví dụ, mô hình một cái cầu, một con đập, một trạm thủy điện, một con tàu, một chiếc máy bay, một chiếc xe đạp hiện nay được sử dụng rộng rãi trong khoa học kỹ thuật đều là những mô hình loại đó. Các mô hình lý tưởng là cấu trúc tư duy, các sơ đồ lý thuyết tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu dưới hình thức lý tưởng. Các mô hình này được ghi nhận nhờ các ký hiệu, hình vẽ xác định và các phương tiện vật chất.

    Đặc điểm quan trọng nhất của mô hình là sự giống nhau giữa mô hình với nguyên bản về những thuộc tính và các mối liên hệ được nghiên cứu. Chính điều đó là cơ sở để chuyển những kiến thức thu được khi nghiên cứu mô hình sang chính nguyên bản. Hình thức tư duy thực hiện việc chuyển sang như vậy là sự loại suy.

    TH: T.Giang – SCDRC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100