Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Thí Nghiệm Thực Hành Trong Bài “sự Hút Nước Và Muối Khoáng Ở Rễ”

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Hóa, Nguyên Vật Liệu
  • 3 Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Tồn Kho Kế Toán Cần Nắm Rõ
  • Hướng Dẫn Cách Tính Giá Xuất Kho Của Hàng Tồn Kho
  • Cách Tính Giá Xuất Kho Nguyên Vật Liệu, Công Cụ Dụng Cụ, Sản Phẩm, Hàng Hóa
  • Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Hoá, Công Cụ Dụng Cụ, Nguyên Vật Liệu
  • Việc sử dụng thí nghiệm thực hành trong môn sinh học nói chung và trong môn sinh học lớp 6 nói riêng là công việc thường xuyên của mỗi giáo viên dạy học môn sinh học. Song để đạt được điều đó không hề đơn giản chút nào. Nó đòi hỏi người học phải nỗ lực hết mình để có một trình độ kiến thức nhất định nào đó mới có thể đáp ứng được nhu cầu của việc học trong giai đoạn hiện nay.

    Như chúng ta đã biết, sinh học là môn học bao gồm nhiều nội dung như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáo dục phòng chống ma tuý, HIV – AIDS.

    Sinh học là một ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về sự sống. Đối tượng của sinh học là thế giới sống. Nhiệm vụ của sinh học là tìm hiểu cấu trúc, cơ chế và bản chất của các hiện tượng, quá trình, quan hệ trong thế giới sống và môi trường sống.

    Hiện nay, tôi là một giáo viên đang giảng dạy tại trường THCS Cao Bá Quát. Trong quá trình dạy học, bản thân tôi thấy có những ưu nhược điểm như sau :

    * Ưu điểm : Tôi được phân công giảng dạy đúng chuyên môn được đào tạo, nhà trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tranh ảnh, đồ dùng học tập cần thiết cho học sinh, trang thiết bị dạy học như mô hình, dụng cụ thực hành, hoá chất . cho giáo viên. Đặc biệt ở trường đã có phòng học thực hành riêng cho bộ môn. Ngoài ra đối tượng học sinh chăm ngoan, vâng lời, tích cực học tập.

    * Tồn tại : Bên cạnh những thuận lợi, bản thân tôi nhận thấy có rất nhiều khó khăn như: Phân công dạy ngày hai buổi, đi nhiều buổi, đối tượng học sinh lớp 6 còn nhỏ mới bắt đầu làm quen với môi trường mới, phương pháp dạy học mới, tiếp cận với môn học mới và đây cũng là môn học đặc thù cần phải có mẫu vật, tranh vẽ hoặc một số dụng cụ học tập khác tuỳ vào mục tiêu của bài học mới giúp cho học sinh tiếp cận với phương pháp học tập mới tốt hơn vì vậy mà học sinh chưa có khả năng thu thập mẫu vật, dẫn đến hiệu quả và chất lượng chưa cao nên trong tiết học chưa được sinh động gây hứng thú cho học sinh. Phần ít thì một số tranh ảnh, mô hình vẫn còn thiếu, nếu có thì độ chính xác chưa cao .

    Chính vì những khó khăn trên trong thực tế vẫn còn tồn tại một nghịch lí là không ít học sinh chán học môn sinh học. Đặc biệt là lúc lấy mẫu vật, làm các thí nghiệm hoặc tự thiết kế một thí nghiệm nào đó, số học sinh thực tế ham mê học tập tiết học thực hành còn ít. Đây chính là một bài toán khó giải, khiến cho những giáo viên tâm huyết với nghề rất lo lắng và chưa có câu trả lời.

    ạy học, bản thân tôi thấy có những ưu nhược điểm như sau : * Ưu điểm : Tôi được phân công giảng dạy đúng chuyên môn được đào tạo, nhà trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tranh ảnh, đồ dùng học tập cần thiết cho học sinh, trang thiết bị dạy học như mô hình, dụng cụ thực hành, hoá chất .... cho giáo viên. Đặc biệt ở trường đã có phòng học thực hành riêng cho bộ môn. Ngoài ra đối tượng học sinh chăm ngoan, vâng lời, tích cực học tập. * Tồn tại : Bên cạnh những thuận lợi, bản thân tôi nhận thấy có rất nhiều khó khăn như: Phân công dạy ngày hai buổi, đi nhiều buổi, đối tượng học sinh lớp 6 còn nhỏ mới bắt đầu làm quen với môi trường mới, phương pháp dạy học mới, tiếp cận với môn học mới và đây cũng là môn học đặc thù cần phải có mẫu vật, tranh vẽ hoặc một số dụng cụ học tập khác tuỳ vào mục tiêu của bài học mới giúp cho học sinh tiếp cận với phương pháp học tập mới tốt hơn vì vậy mà học sinh chưa có khả năng thu thập mẫu vật, dẫn đến hiệu quả và chất lượng chưa cao nên trong tiết học chưa được sinh động gây hứng thú cho học sinh. Phần ít thì một số tranh ảnh, mô hình vẫn còn thiếu, nếu có thì độ chính xác chưa cao .... Chính vì những khó khăn trên trong thực tế vẫn còn tồn tại một nghịch lí là không ít học sinh chán học môn sinh học. Đặc biệt là lúc lấy mẫu vật, làm các thí nghiệm hoặc tự thiết kế một thí nghiệm nào đó, số học sinh thực tế ham mê học tập tiết học thực hành còn ít. Đây chính là một bài toán khó giải, khiến cho những giáo viên tâm huyết với nghề rất lo lắng và chưa có câu trả lời. 2/ Lí do khách quan: Xuất phát từ tình hình thực tế trên, bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn sinh học lớp 6 bậc THCS. Trong phạm vi bài viết này, tôi không có tham vọng và cũng không đủ sức, đủ tài để làm một cuộc cách mạng trong cách dạy học môn sinh học nhằm giải quyết tất cả những nghịch lí trên để đạt được mục tiêu cuả bài học. Trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành tôi tìm hiểu đề tài " Sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong bài sự hút nước và muối khoáng ở rễ"(tiết 1, bài 11 sinh học 6). Đồng thời giúp đồng nghiệp tham khảo, hi vọng đáp ứng được phần nào nhu cầu thực tế của dạy - học hiện nay và áp dụng vào kĩ thuật trồng trọt trong ngành nông nghiệp. 3/ Đối tượng của đề tài: Giúp học sinh THCS biết cách và rèn kĩ năng học thí nghiệm thực hành môn sinh học. 4/ Phạm vi thực hiện: Lớp 6A1 và 6A6 trường THCS Cao Bá Quát từ đầu năm học 2008 - 2009 đến tháng 1 năm 2009. 5/ Mục đích nghiên cứu: Từ việc phân tích thực trạng nói trên, học sinh lớp 6A1 và 6A6 trường THCS Cao Bá Quát nói riêng về việc học tập của học sinh từ đó có những biện pháp cụ thể. 6/ Phương pháp nghiên cứu: - Đọc sách, nghiên cứu tài liệu. - Thống kê, phân tích, so sánh. - Tổng kết kinh nghiệm. PHẦN II: NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, TỔNG KẾT KINH NGHIỆM Trong dạy học vấn đề quan trọng và cấp thiết nhất là người giáo viên phải luôn thay đổi phương pháp và cần có trang thiết bị dạy học thì mới gây hứng thú trong giờ học cho học sinh, chính vì vây mà tiết học có thể đạt được kết quả cao hơn. Việc lựa chọn trang thiết bị dạy học phải căn cứ vào mục tiêu bài học, nội dung, kiến thức trong sách giáo khoa, căn cứ vào điều kiện, thời gian cho phép hay điều kiện mẫu vật có ở địa phương, cơ sở vật chất, đặc biệt là căn cứ vào chính loại trang thiết bị định chọn. Trong các loại trang thiết bị môn sinh học lớp 6 có nhiều loại như mô hình, tranh.... nhưng trong bài "Sự hút nước và muối khoáng ở rễ" phải dùng thí nghiệm thực hành. Qua đó, tôi nhận thấy phương pháp thí nghiệm thực hành có ưu điểm và nhược điểm sau: - Ưu điểm: Giúp học sinh nghiên cứu, củng cố, khắc sâu những kiến thức đã học. - Nhược điểm: Là đòi hỏi sự công phu tìm tòi, đôi khi mất nhiều thời gian mới có kết quả. Việc lựa chọn trang thiết bị dạy học là nguồn cung cấp tri thức mới, trang thiết bị đóng vai trò minh hoạ nội dung kiến thức mới, phương pháp giải thích dùng lời. Trang thiết bị nhằm kiểm tra kết quả đã học, giải thích tranh câm, mô tả hay sử dụng mô hình. * Việc dạy thực hành thí nghiệm cần tiến hành như sau: - Làm thực hành thí nghiệm: + Chuẩn bị thí nghiệm: Giáo viên phải có kế hoạch chi tiết, chuẩn bị dụng cụ, hoá chất, mẫu vật và các điều kiện cần thiết khác để thí nghiệm thành công. Có thể giao cho học sinh chuẩn bị nhưng giáo viên phải kiểm tra. + Tiến hành thí nghiệm gồm các bước sau: Bước 1: Giáo viên nêu mục tiêu thí nghiệm, phải đảm bảo cho học sinh nhận thức rõ mục tiêu làm thí nghiệm để làm gì? Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tiến hành thí nghiệm, phải đảm bảo mỗi học sinh nhận thức rõ, làm thí nghiệm như thế nào? Bằng cách nào? Bước 3: Mô tả kết quả thí nghiệm, học sinh nói ra hoặc viết ra các kết quả mà học sinh quan sát được trong quá trình làm thí nghiệm. + Giải thích được các hiện tượng quan sát được: Đây là giai đoạn có nhiều thuận lợi để tổ chức học sinh theo phương pháp tích cực. Giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo kiểu nêu vấn đề giúp học sinh tự giải thích các kết quả. + Rút ra kết luận cần thiết: Giáo viên yêu cầu học sinh căn cứ vào mục tiêu ban đầu trước khi làm thí nghiệm để đánh giá công việc đã làm. * Chú ý: Các thí nghiệm sinh học có thể là thí nghiệm định tính hay định lượng: Các thí nghiệm định tính thì không nên tiết kiệm nguyên liệu, sẽ khó quan sát kết quả. Các thí nghiệm định lượng thì cần chính xác hàm lượng các chất làm thí nghiệm mới có kết quả. Để có kết quả thí nghiệm rõ, trong quá trình tiến hành thí nghiệm cần chú trọng đến từng thao tác, nhiều khi chỉ sai sót trong một khâu là kết quả thí nghiệm sẽ không như mong muốn. Khi dạy học có sử dụng phương pháp thực hành trong bài "Sự hút nước và muối khoáng của rễ" giáo viên cần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sau: - Kĩ năng quan sát: + Xác định đúng mục tiêu bài học. + Quan sát các mẫu vật ngoài thiên nhiên: Giáo viên hướng dẫn học sinh nên chọn đối tượng là những cây trồng ngắn ngày, không nên làm thí nghiệm với cây gỗ lâu năm: Những cây có thể chọn làm thí nghiệm như cây đậu ve, cà chua, lúa, cải.... + Nội dung của thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm trên những đối tượng với điều kiện sống như nhau: Cùng một loại cây được gieo trồng trong cùng một ngày, có độ lớn như nhau, có số lá mầm bằng nhau, điều kiện đất đai, phân bón, nhiệt độ, độ ẩm hoàn toàn giống nhau. - Kĩ năng làm thí nghiệm: + Khi làm thí nghiệm giáo viên phải tiến hành đúng kĩ thuật, đúng thao tác, đúng các loại hoá chất và không làm cho cây dập nát. ChươngII: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1/ Các bước cần lưu ý trong quá trình tổ chức giờ lên lớp, dẫn dắt cho học sinh tự rút ra kiến thức cần thiết cho bài học: - Cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ cần sưu tầm ở địa phương trước khi tực hành. - Khi thực hành cần hướng dẫn cho học sinh quan sát các hiện tượng và giải thích được các hiện tượng đã làm. - Cần chuẩn bị trước các câu hỏi dẫn dắt hay các gợi ý cho học sinh suy nghĩ. - Phải thực hiện đầy đủ các bài thực hành đã quy định trong chương trình. - Giáo viên chuẩn bị trước và làm thành thạo các thí nghiệm thực hành có trong chương trình. - Phải hướng dẫn học sinh thực hiện đúng nội dung thực hành, an toàn trong phòng thực hành. Đặc biệt khi sử dụng hoá chất hay các loại trang thiết bị dễ vỡ. - Cần đánh giá và cho điểm kết quả thực hành, kĩ năng làm thí nghiệm của mỗi học sinh. 2/ Cơ sở giáo dục: - Đặc điểm sinh học của rễ thích nghi với sự hút nước và muối khoáng: + Rễ có khả năng đâm sâu: ví dụ rễ ngô 1, 2-2, 6m; nhiều cây gai ở sa mạc hơn 10m. + Rễ có khả năng phân nhánh rộng trên bề mặt và có độ dài lớn hơn gấp bội. Ví dụ: Rễ cây ngô không kể lông hút 50 - 70m. + Sự phát triển cuả lông hút làm bề mặt tiếp xúc của rễ với đất tăng lên gấp bội. Ví dụ: Cây lúa mạch (trong điều kiện đặc biệt) khi trổ bông có 143 rễ cấp 1; 35 nghìn rễ cấp 2; 2 triệu rễ cấp 3... + Nhờ khả năng hướng nước, hướng hoá, rễ cây có thể chủ động tìm nguồn nước và chất dinh dưỡng trong đất. - Hoạt động hút và bơm nước của rễ: Nước thẩm Tế bào thẩm Tế bào thẩm Tế bào Tế bào lên cao nhờ lực kéo trong lông biểu vỏ mạch đất thấu hút thấu bì thấu rễ gỗ của sự thoát hơi nước Nhìn chung rễ cây có hoạt động hút nước nhưng tuỳ thuộc vào loại cây mà khả năng hút nước khác nhau. Trong chương trình sách giáo khoa lớp 6 để phù hợp với đối tượng học sinh đầu cấp THCS nên tôi chỉ nêu một con đường chủ yếu hút nước và muối khoáng hoà tan: "Rễ hút nước và muối khoáng hoà tan nhờ lông hút. Nước và muối khoáng trong đất được lông hút hấp thụ chuyển qua vỏ đến mạch gỗ đi lên các bộ phận của cây" Nhưng sự hấp thụ nước và các Ion trong đất qua hai con đường: con đường hợp bào và con đường vô bào. Lượng nước chứa trong từng bộ phận của cây cũng khác nhau: Ví dụ: Các loại cây thuỷ sinh và nấm chứa 80% nước; rễ và củ 75 - 80%; lá cây cỏ 83 - 86%; lá cây gỗ 79 - 82%; thân cây gỗ tươi 40 - 50%; lá bắp cải, quả dưa 92 - 93%; lá rau xà lách, quả cà chua, quả dưa chuột 94 - 95%; hạt ngô 12 - 14%; đại y, rêu 5 - 7%. Lượng nước chứa trong cây tỉ lệ thuận với qúa trình sinh lí. Chẳng hạn cây lúa vào thời kì đẻ nhánh và lúc làm đòng hút nước và các chất dinh dưỡng hơn thời kì khác. Vì vậy trong thời gian này, ta nên bón phân thích hợp và đầy đủ cho cây. Chương III: CÁC GIẢI PHÁP Để dạy môn sinh học 6 cần áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã được học đạt hiệu quả cao. Trong bài "Sự hút nước và muối khoáng" ta sẽ tiến hành như sau: Bài11: SỰ HÚT NƯỚC VÀ MUỐI KHOÁNG CỦA RỄ (Tiết 1) I/ Mục tiêu bài học: 1/ Kiến thức: Qua bài học giúp học sinh: - Biết quan sát, nghiên cứu kết quả thí nghiệm để tự xác định được vai trò của nước và một số loại muối khoáng chính đối với cây. - Tập thiết kế một vài thí nghiệm đơn giản nhằm chứng minh cho mục đích nghiên cứu mà nội dung bài học đã đề ra. 2/Kĩ năng: Rèn cho học sinh kĩ năng làm thí nghiệm theo nhóm trước ở nhà hay làm thí nghiệm trên giấy hoặc tự thiết kế một thí nghiệm. 3/ Thái độ: Ý thức học tập tốt, yêu thích bộ môn, bảo vệ các loại thực vật quý hiếm, cải tạo thiên nhiên, cải tạo môi trường sống. II/ Phương tiện: Như đã trình bày với bài học dùng phương pháp thí nghiệm thực hành thì khâu chuẩn bị mẫu vật hết sức quan trọng. GV: Thí nghiệm 1 làm mẫu; bảng báo kết quả thí nghiệm 2; một thí nghiệm tự thiết kế (Thí nghiệm 3). HS: Thí nghiệm 1; báo cáo thí nghiệm 2, học bài cũ, soạn bài mới. III/ Tiến trình dạy - học: 1/ Ổn định lớp: 2/ Kiểm tra bài cũ: H: Có mấy loại rễ? Kể tên 3 loại cây rễ cọc và 3 loại cây rễ chùm? H: Nêu đặc điểm cấu tạo và chức năng của các phần của rễ? HS trả lời: GV nhận xét câu trả lời của HS và cho điểm. 3/ Bài mới : GV giới thiệu bài: Rễ không những giúp cây bám chặt vào đất mà còn giúp cây hút nước và muối khoáng hoà tan từ đất. Vậy cây cần nước và muối khoáng như thế nào? Nếu thiếu nước và muối khoáng thì đời sống và năng suất của cây trồng ra sao? Đó là lí do để nghiên cứu bài học này. 4/ Các hoạt động : HĐ 1: Tìm hiểu nhu cầu nước của cây. MT: Qua các thí nghiệm học sinh nắm được nước rất cần cho đời sống của cây. Thí nghiệm1: * GV yêu cầu học sinh tìm hiểu thí nghiệm 1: Thí nghiệm của Minh. Thí nghiệm này học sinh đã làm trước ở nhà, yêu cầu các nhóm đặt thí nghiệm của nhóm mình lên bàn để giáo viên kiểm tra. GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày cách thao tác tiến hành thí nghiệm (Chọn giống như thế nào? Công đoạn làm ra sao? Chăm sóc như thế nào...) và trả lời các câu hỏi sau: H: Theo em bạn Minh đã làm thí nghiệm trên nhằm mục đích gì? H: So sánh kết quả 2 chậu và giải thích? Các nhóm khác lắng nghe câu trả lời của nhóm bạn mình và nhận xét bổ sung ý kiến. GV: Nhận xét kết quả các nhóm và rút ra kết luận cho thí nghiệm 1. GV: Đưa mẫu thí nghiệm của giáo viên tự làm ở nhà (Thí nghiệm 2 chậu cà chua) cho học sinh quan sát và đối chứng với kết quả các em đã làm. GV: Yêu cầu học sinh mang thí nghiệm về nhà tiếp tục theo dõi trong thời gian dài hơn. H: Các em có nhận xét gì về thí nghiệm 1? Học sinh sẽ trả lời: Nếu thiếu nước thì cây không thể phát triển tốt và khả năng chết sẽ cao hơn. Thí nghiệm 2: Đây là một thí nghiệm đòi hỏi các em phải chuẩn bị trước ở nhà và cách tiến hành công phu mà học sinh phải ghi lại bằng báo cáo với nhiều loại cây và nhiều bộ phận khác nhau (Các bộ phận thuộc cơ quan sinh dưỡng thân, lá, rễ và cơ quan sinh sản, hoa, quả, hạt) GV: Yêu cầu các nhóm chuẩn bị sẵn mẫu báo cáo để giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh. GV: Mời đại diện học sinh lên bảng hoàn thành vào bảng phụ các kết quả đã làm như sau:(bảng 1) Đại diện nhóm lên ghi kết quả làm được vào bảng. Nhóm khác nhận xét kết quả và bổ sung. GV nhận xét và sửa chữa. Bảng 1: Tên cây Chủng loại Sắn (Kg) Lúa (kg) Đậu đen (kg) Rau muống (kg) Hạt 3 1,5 Củ 3 1 Thân 3 1,5 3 0,8 3 0,7 Quả 3 1,3 Lá 3 0,5 3 0,8 3 0,5 Dựa vào bảng trên, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi. H: Em có nhận xét gì về kết quả trên? H: Lượng nước trong tất cả các loại cây và trong các bộ phận cuả cây có giống nhau không? H: Hãy kể tên những cây cần nhiều nước và ít nước? Học sinh điền vào bảng 2: Cây cần nhiều nước ............................................ ............................................ ............................................ ............................................ ........................................... Cây cần ít nước ........................................... ............................................ ............................................ ............................................ ............................................ GV: Nhận xét câu trả lời của học sinh. H: Qua thí nghiệm 1 và 2 em có nhận xét gì về nhu cầu cần nước của cây? HS: Trả lời cây rất cần đến nước, nhưng các loại cây cần nước khác nhau, các bộ phận không giống nhau thì nhu cầu cần nước khác nhau. HĐ 2: Tìm hiểu nhu cầu muối khoáng của cây. MT: Học sinh nắm được ngoài nước thì cây cần các loại muối khoáng để phát triển tốt. Thí nghiệm 3: Ở thí nghiệm của bạn Tuấn, giáo viên không cần cho học sinh làm trước ở nhà mà chỉ cần dựa vào hình vẽ thì các em sẽ dự đoán, giải thích được kết quả thí nghiệm. H: So sánh sự phát triển của 2 chậu A và B? H: Theo em bạn Tuấn làm thí nghiệm trên nói lên điều gì? Các nhóm lần lượt trả lời câu hỏi trên. Nhóm khác nhận xét, bổ sung. GV: Nhận xét, bổ sung và rút ra kết luận: Bạn Tuấn làm thí nghiệm trên đã chứng minh được sự phát triển của cây thì cần có muối khoáng (Đạm, lân, kali....) GV: Yêu cầu học sinh tự thiết kế thí nghiệm để giải thích về tác dụng của muối lân và muối kali. GV: Có thể gợi ý cho các em thiết kế thí nghiệm trên 2 chậu cây. Nhưng điều kiện về muối khoáng phải khác nhau. HS: Các em sẽ tự thiết kế một thí nghiệm trên giấy như sau: Trồng chậu cây khoai lang (Chậu A, chậu B) khi 2 chậu cây trên đã phát triển ta tiến hành bón phân cho cây như sau: Chậu A: Bón phân kali. Chậu B: Không bón gì cả. Sau một thời gian, ta chăm sóc cho cây trồng đến thời kì thu hoạch đã có củ. Rồi lấy củ của cây trong 2 chậu đối chứng và so sánh kết quả như sau: Chậu A: Củ to, chắc, mẩy, chất lượng củ tốt hơn. Chậu B: Củ nhỏ, chất lượng kém. GV: Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: H: Qua thí nghiệm trên, em rút ra kết luận gì về vai trò của muối khoáng đối với cây trồng? H: Các loại cây trồng khác nhau thì nhu cầu muối khoáng có giống nhau không? H: Giai đoạn nào cây cần nhiều nước và muối khoáng? H: Hãy giải thích câu tục ngữ "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" trong ngành trồng trọt? HS: Trả lời các câu hỏi trên. GV nhận xét bổ sung: trong quá trình sống và lớn lên của cây mặc dù cây hút được muối khoáng trong đất nhưng chưa đủ .Vì vậy ta cần bổ sung lượng muối khoáng cho cây mà cây bị thiếu hụt. Từ những cơ sở khoa học và cách lập luận trên, nếu chúng ta làm như vậy có nghĩa là ta đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của phương pháp dạy học hiện nay (dạy học theo phương pháp tích cực và tích hợp). Qua đó phát huy được tính tích cực của học sinh, đồng thời cung cấp cho học sinh tự thiết kế những thí nghiệm đơn giản và cũng tạo cho các em thói quen để trang bị cho việc học tập sau này tốt hơn. 5/ Kết quả thử nghiệm: Từ phương pháp dạy học trên để chứng minh kết quả học tập của các em, tôi thử nghiệm trên 2 lớp. Lớp 6A6 chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Lớp 6A1 ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản trong SGK, giáo viên còn chuẩn bị nhiều thí nghiệm đã làm trước và trang bị thêm phương pháp dạy thí nghiệm thực hành thì các em học tốt hơn. Để đánh giá kết quả học tập thì giáo viên tiến hành làm phiếu học tập cho học sinh như sau: PHIẾU HỌC TẬP Hãy chọn câu trả lời đúng: 1/ Trong đời sống của cây giai đoạn nào cây cần nhiều nước nhất? a/ Giai đoạn đẻ nhánh, đâm chồi. b/ Giai đoạn chuẩn bị ra hoa. c/ Giai đoạn sắp thu hoạch. d/ cả a và b. 2/ Trong đời sống của cây giai đoạn nào cây cần nhiều muối khoáng nhất? a/ Khi mọc cành, đẻ nhánh. b/ Khi sắp ra hoa. c/ Khi quả bắt đầu chín . d/ Cả a và b. 3/ Em hãy thiết kế một thí nghiệm chứng minh cây cần muối lân? Qua bài tập trên thì kết quả đạt như sau: Lớp 6A6 (không sử dụng phương pháp dạy học thí nghiệm thực hành) các em chỉ làm được bài tập 1 và 2, còn bài tập 3 các em chưa thiết kế được thí nghiệm. Lớp 6A1 (có sử dụng phương pháp dạy học thí nghiệm thực hành) các em đã làm được bài tập 1, 2 và 3 các em tự thiết kế được thí nghiệm. Kết quả cho thấy 95% học sinh hiểu được phương pháp dạy học tích cực có hiệu quả cao. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1: Kết luận: 2: Kiến nghị: Để thực hiện việc dạy - học có chất lượng trong công tác giáo dục, tôi có một số kiến nghị như sau: Hàng năm phòng giáo dục mời đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm lâu năm về trường để dạy mẫu các bài thực hành hoặc các bài có sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành để những giáo viên ít kinh nghiệm được học hỏi. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Phương pháp dạy học môn sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục. 2/ Lí luận dạy học môn sinh học, GS-Tiến sĩ Đinh Quang Bảo, NXB Đại Học Huế. 3/ Sách giáo viên sinh học 6. Nguyễn Quang Vinh (tổng biên tập). NXB Giáo dục. MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ I/Lí do chọn đề tài. 1/Lí do chủ quan. 2/ Lí do khách quan. 3/Đối tượng nghiên cứu đề tài. 4/ Phạm vi thực hiện. 5/ Mục đích nghiên cứu. 6/ Phương pháp nghiên cứu. NỘI DUNG Chương I/ Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu . Chương II/ Thực trạng của vấn đề. Chương III/ Các giải pháp. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ `

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Viên Thực Nghiệm Trực Tiếp Trong Phòng Lab Di Động 4G
  • Phòng Lab Là Gì? Phòng Lab Như Nào Được Gọi Là Đạt Tiêu Chuẩn
  • Phương Pháp Kiểm Nghiệm Vi Sinh Trong Thực Phẩm
  • Bài Tập Một Số Phương Pháp Qui Hoạch Thực Nghiệm
  • Vật Lý Học Mới & Phương Pháp Thực Nghiệm (R. Blanché, 1969)
  • Phương Pháp Sử Dụng Thí Nghiệm Thực Hành Trong Dạy Học Tích Cực Môn Hóa Học Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Thông Qua Trải Nghiệm
  • Trung Tâm Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Chức Năng
  • Các Phương Pháp Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Phổ Biến
  • Cac Phuong Phap Kiem Nghiem Vi Sinh Thuc Pham
  • Cac Phuong Phap Kiem Nghiem Vi Sinh Vat Thuc Pham
  • Như Ăng ghen đã viết: “… trong nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng như lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có, phải xuất phát từ những hình thái hiện thực khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học lý luận về tự nhiên, chúng ta không thể cấu tạo ra mối liên hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ các sự thật đó, phát hiện ra mối liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm”. Do vậy việc dạy học hóa học có sử dụng thí nghiệm nghiên cứu ở trường THCS là rất cần thiết bởi lẽ:

    Thí nghiệm hóa học giúp HS làm quen với tính chất, mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết khai thác chúng từ đó tích lũy tư liệu về các chất và tính chất của chúng. Giúp HS dễ hiểu bài và hiểu bài sâu sắc.

    Thí nghiệm hóa học nghiên cứu giúp HS học tập kinh nghiệm, tư duy sáng tạo để tìm tòi khám phá ra các chất và những tính chất của chúng. Giúp nâng cao lòng tin của HS vào khoa học và phát triển tư duy của HS.

    Thí nghiệm hóa học giúp HS sáng tỏ mối liên hệ phát sinh giữa các sự vật, giải thích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất và đời sống.

    Đối với bộ môn hóa học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng như trong nhận thức, phát triển tư duy, giáo dục như một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học. Người ta coi thí nghiệm là cơ sở của việc học hóa học và để rèn luyện kĩ năng thực hành. Thông qua thí nghiệm hóa học, HS nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc và sâu hơn.

    Thí nghiệm hóa học còn có tác dụng giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và củng cố niềm tin khoa học cho HS, giúp hình thành những đức tính tốt: Thận trọng, ngăn nắp, trật tự gọn gàng…. Đặc biệt với việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS như hiện nay thì thí nghiệm càng được coi trọng, nhất là thí nghiệm được tiến hành thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu.

    Thí nghiệm nghiên cứu còn giúp tiết kiệm thời gian trên lớp mỗi tiết học, giúp GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS thuận lợi và có hiệu suất cao hơn. Do đó chúng góp phần hợp lí hoá quá trình hoạt động của GV và HS nâng cao hiệu quả dạy và học của thầy và trò.

    Qua các tiết học có sử dụng thí nghiệm thực hành tôi thấy rằng các em rất muốn được quan sát các thí nghiệm, được biểu diễn, được tự tay làm thí nghiệm để chứng minh kiến thức đã học nhằm khắc sâu kiến thức. Hơn nữa các em đã hứng thú tích cực chủ động hơn trong học tập, trong việc nắm bắt kiến thức, có ý thức học tập tiến bộ hơn, say mê tìm tòi, phát hiện kiến thức trong giờ học cũng như liên hệ thực tiễn nhiều hơn và đặc biết các em đã có sự nhận thức sâu hơn về môn hóa học.

    Một số hình ảnh áp dụng thử nghiệm chuyên đề

    :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Cho Trẻ Mầm Non Hoạt Động Giáo Dục Theo Hướng Thực Hành, Trải Nghiệm
  • Về Hội Thảo Các Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên 2013
  • Phương Pháp Dạy Thực Hành
  • Thực Nghiệm Điều Tra Là Hoạt Động Như Thế Nào
  • Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm
  • Những Kinh Nghiệm Trong Khi Thực Hành Phương Pháp Ohsawa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Là Gì?
  • Phương Pháp Ohsawa Với Đạo Đức Con Người?
  • Reactive Oxygen Species, Oxidative Stress Là Gì?
  • Hướng Dẫn Cơ Bản Oxygen Not Included
  • Không Gian Sống Thân Thiện Với Phong Cách Thiết Kế Organic
  • Những kinh nghiệm trong khi thực hành phương pháp Ohsawa

    KÍNH THƯA QUÝ VỊ:

    Trước hết chúng ta xác định phương pháp OHSAWA là gì?

    Phương pháp OHSAWA là phương pháp ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh, khai mở trí phán đoán để đạt tới sự giác ngộ, giải thoát dựa vào nguyên lý ÂM DƯƠNG ( vÔ SONG NGUYÊN LÝ ).

    Các nền giáo dục tiên tiến nhất của tây phương không thể nào biến đổi người ngu thành người khôn, không có cách nào làm gia tăng trí nhớ và khả năng nhận thức chân lý. Họ chỉ dạy cho sinh viên một số kiến thức, rèn luyện một số kỹ năng thực hành chuyên nghiệp mà thôi. Chỉ có phương pháp OHSAWA giúp ta đạt được sự phát triển trí tuệ cơ bản nhất, nhanh nhất. Thức ăn thiên nhiên đúng quân bình âm dương ( gạo lức + muối mè ) vào cơ thể. Người dưỡng sinh tiếp thu lượng thức ăn này một cách trân trọng ( không ăn nhiều, nhai kỹ ). Lượng thức ăn này biến thành máu huyết trong sạch, tốt tươi, nuôi dưỡng toàn bộ các tế bào trong cơ thể. Theo ngài OHSAWA, những bệnh thông thường sẽ hết sau 14 ngày, những bệnh ở cơ quan nội tạng, xương cốt sẽ hết sau 4,5 tháng. Các tế bào ở não được nuôi dưỡng bằng loại máu trong sạch tốt đẹp này sẽ trở nên nhạy bén, tinh tế nắm bắt được sự thật và phát ra những mệnh lệnh hành động đúng lúc, chính xác, tối ưu.

    Trong thời gian mang thai, thai phụ nên ăn vừa phải, ăn theo phương thức 4,5,6,7, không ăn thịt, cá, không ăn đồ chế biến, không uống nước đá ( quá âm ). Đứa bé sẽ sinh ra rất dễ dàng ( không sinh mổ, sinh hút ), khoẻ mạnh, dễ nuôi và cực kỳ thông minh. Đó là bí quyết tạo ra những đứa bé thần đồng mà tây phương cố công tìm kiếm mà không thấy được. Trường hợp con cái quý vị sinh ra kém thông minh, các bạn cũng có thể áp dụng phương pháp OHSAWA 1 cách kiên trì để biến đổi các em trở nên thông minh, có óc sáng tạo.

    Mọi thứ đều biến đổi được. Đây là phương pháp tuyệt vời chuyển hoá máu dơ bẩn, nhiểm độc hoá chất, nhiễm đường quá nhiều thành máu trong sạch, đấy chất bổ dưỡng! Mọi tế bào cơ thể chuyển đổi. Do đó con người bạn trở nên tốt đẹp hơn về thể chất và nhất là về tinh thần. Đau khổ chuyển đổi thành hạnh phúc. Phương pháp OHSAWA là con đường đưa tới tự do vô biên, công bằng tuyệt đối và hạnh phúc vĩnh viễn.

    TRI ƠN NGÀI OHSAWA !

    *Một số kinh nghiệm hỗ trợ điều trị bệnh bằng phương pháp OHSAWA :

    – Trước tiên, các bạn nên nhịn ăn hoàn toàn từ 1-3 ngày để loại trù chất độc ra khỏi cơ thể và tạo cảm giác thèm ăn. Lúc đó, ta ăn cái gì cũng ngon. Thực tế thì cơm lức ăn không ngon như cơm trắng chà xát với thịt cá…

    – Nhai kỹ, ít nhất 50 lần. Trường hợp người già, người không có răng tốt phải ăn cơm nhão, cháo đặc hoặc bột gạo lức.

    – Ăn càng ít càng mau hỗ trợ phòng chống. Nhịn ăn hoàn toàn và uống nước gạo lức rang là phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh mau nhất, hiệu quả nhất. Nhưng khi áp sụng phương pháp này, bạn phải nghỉ ngơi, giữ ấm cơ thể, làm việc nhẹ nhàng…Cách tốt nhất chỉ nên ăn sáng trưa, còn chiều, tối thì nhịn hoàn toàn. Vì nếu các bạn ăn quá nhiều sẽ không hết bệnh dù là gạo lức muối mè ( lượng chuyển đổi chất )

    – Uống ít nước, càng ít càng tốt, uống quá nhiều nước, tim và thận làm việc quá nhiều dễ bị suy kiệt.

    – Ăn theo phương thức số 7 ( gạo lức muối mè ) là phương thức dễ và hiệu quả nhất. Nhất là trong thời điểm này rau củ bị nhiễm hoá chất độc hại.

    – Nếu bạn ăn theo phương thức số 7, các bạn sẽ thấy những phản ứng của cơ thể trong những ngày đầu ( mệt, bủn rủn tay chân, đi hết nổi,…). Bệnh càng nặng, phản ứng càng ghê gớm. Đó là những triệu chứng tốt, cứ tiếp tục. Một số người áp dụng phương pháp OHSAWA thấy phản ứng như vậy thì sợ và bỏ ngay. Thật đáng tiếc!

    – Phương pháp OHSAWA chữa gốc, không chữa triệu chứng. Trong thời gian ăn gạo lứt hỗ trợ điều trị bệnh, triệu chứng có khi không giảm bao nhiêu, nhưng bệnh sẽ lành và chấm dứt triệu chứng ở cuối giai đoạn. Ví dụ trong bệnh tiểu đường, trong thời gian hỗ trợ điều trị bệnh , lượng đường có thể vẫn lên xuống bất thường. Các bạn cứ kiên trì theo phương thức số 7 thì cuối cùng bệnh cũng chấm dứt.

    – Không được phá giới trong thời gian hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu bạn liên tục phá giới thì bệnh nặng sẽ không bao giờ hết dù bạn áp dụng phương thức số 7. Ăn không đúng, bệnh sẽ kéo dài không baogiờ lành. Đó là lý do tại sao mà rất nhiếu người bỏ phương pháp OHSAWA và cho phương pháp này không hiệu quả. Trong thời gian thực hành công phu hỗ trợ điều trị bệnh, bạn chỉ biết gạo lứt muối mè mà thôi, ngoài ra không cần biết thức ăn nào khác.

    – Có niềm tin : Nếu bạn có niềm tin vững chắc, bệnh của bạn chắc chắn sẽ khỏi 100%. Nếu bạn còn hồ nghi thì bạn có thể bị dao động khi gặp phản ứng trong những ngày đầu và trước những lời nói ra nói vào của những người không hiểu biết về phương pháp OHSAWA , từ đó bạn không thực hành đấy đủ những hướng dẫn hỗ trợ điều trị bệnh. Việc hỗ trợ điều trị bệnh sẽ kém hiệu quả và có khi không bao giờ hỗ trợ phòng chống.

    * Có nhiều phương pháp giữ gìn sức khoẻ, ngừa bệnh, hỗ trợ điều trị bệnh như:

    – Phương pháp luyện tập TD,TT dành cho HS, SV, VĐV…

    – Phương pháp luyện tập gân cơ của các võ phái.

    – Phương pháp châm cứu mà ngài OHSAWA đã truyền qua các nước phương Tây lúc đầu.

    – Phương pháp luyện thở, luyện khí công của các nhà Yoga, các nhà luyện khí công, 1 số võ phái.

    – Phương pháp luyện Thái Cực Quyền Trung Quốc.

    – Phương pháp luyện nhân điện, trường sinh học.

    – Phương pháp thiền định của các tôn giáo.

    Nhưng tất cả đều là luyện tập phần ngọn, chỉ duy nhất phương pháp OHSAWA luyện tập cái gốc là ăn uống. Thức ăn quyết định số phận. Thức ăn là nền tảng của sự sống. Các phương pháp luyện tập khác là để hổ trợ mà thôi.

    NGŨ CỐC LỨT RAU CỦ XÀO, HẤP CANH RAU CỦ

    SỐ 7 100% 0% 0%

    SỐ 6 90% 10% 0%

    SỐ 5 80% 20% 0%

    SỐ 4 70% 20% 10%

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Dưỡng Ohsawa Là Gì? Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa
  • Công Nghệ Nano Là Gì Và Những Ứng Dụng Vượt Bậc Của Công Nghệ Này.
  • Nano Bạc Là Gì? Có Tác Dụng Gì, Có Độc Hại Không, Ứng Dụng Gì?
  • Vật Liệu Nano Và Màng Lọc Nano Là Gì? Chúng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Hướng Dẫn Cách Cài Đặt & Sử Dụng Ví Lạnh Ledger Nano S 2022
  • Phương Pháp Dạy Thực Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Hội Thảo Các Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên 2013
  • Tổ Chức Cho Trẻ Mầm Non Hoạt Động Giáo Dục Theo Hướng Thực Hành, Trải Nghiệm
  • Phương Pháp Sử Dụng Thí Nghiệm Thực Hành Trong Dạy Học Tích Cực Môn Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Dạy Học Thông Qua Trải Nghiệm
  • Trung Tâm Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Chức Năng
  • DANH SÁCH NHÓM 6

    LÊ ĐÌNH HIỂN 109325233

    ĐỖ MỘNG CẦM 109325231

    NGÔ THỊ HƠN 109325234

    NGUYỄN VĂN MỘT 109325235

    HÀ THỊ NGỌC NHI 109325185

    BÙI TIẾN PHƯƠNG 109325213

    LÊ THỊ XUÂN THẢO 109325230

    LÊ THỊ TRIỀU TIÊN 109325186

    NGUYỄN VĂN PHÚC 109325218

    BÙI THỊ BÍCH THUY 109325195

    CHÀO CÔ VÀ CÁC BẠN

    PHƯƠNG PHÁP DẠY THỰC HÀNH

    I/ Định nghĩa

    Nhóm phương pháp dạy thực hành là nhóm phương pháp tổ chức cho hs hoạt động để tìm tòi kiến thức mới hay vận dụng những điều đã học vào thực tiễn, vừa để cũng cố tri thức vừa tạo nên hệ thống các kĩ năng, kĩ xảo thực hành.

    Bao gồm : Phương pháp luyện tập

    Phương pháp thực hành thí nghiệm

    Phương pháp tổ chức thực hiện các bài tập sáng tạo

    Phương pháp trò chơi

    II/ Đặc điểm

    1. PP luyện tập

    c) Ý nghĩa – tác dụng

    Giúp hs hiểu kĩ, hiểu sâu những điều đã học, biết vận dụng chúng để thực hiện có kết quả công việc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, tìm tòi các phương án tối ưu giải quyết các loại bài tập

    b) Phương tiện

    Hệ thống các bài tập và phương án tối ưu giải quyết các bài tập, các tình huống trong thực tế

    a) Định nghĩa

    Giáo viên tổ chức cho hs vận dụng lí thuyết đã học để làm các bài tập, giải quyết các tình huống trong thực tế cuộc sống.

    d) Về PP luyện tập

    Khi vận dụng các pp luyện tập, cận chuẩn bị hệ thống các bài tập chu đáo, đảm bảo được các tiêu chuẩn sau:

    -Bài tập phải đa dạng

    -Bài tập có nhiều mức độ khác nhau và được sắp

    xếp theo trình tự từ dễ đến khó

    -Bài tập có nhiều cách giải quyết

    * Luyện tập trên lớp, cần theo đúng quy trình :

    -Làm mẫu một phần bài tập hoặc 1 ví dụ.

    -Học sinh tự lực giải tiếp phần còn lại.

    *Bài tập ở nhà thì có thể:

    -Giải miệng trên lớp, về nhà HS tự viết thành bài giải.

    -Hoặc hướng dẫn cho tìm ra hướng giải ngay trên lớp, còn về nhà hs tự giải lấy.

    2. PP thực hành thí nghiệm

    c) Ý nghĩa tác – tác dụng

    -Tạo lập cho hs thói quen sử dụng pp nghiên cứu khoa học để giải quyết các công việc thực tế. Kiểm tra lại lí thuyết , khẳng định những điều đã học.

    -Hình thành ý thức tìm tòi, óc quan sát, lòng yêu thích khoa học.

    -Thường được sử dụng ớ các môn khoa học tự nhiên

    b) Phương tiện

    Phương tiện, thiết bị và nguyên vật liệu, địa điểm.

    a) Định nghĩa

    Giáo viên tổ chức cho hs trực tiếp tiến hành các thí nghiệm trên lớp trong phòng thí nghiệm hoặc thực hiện ngoài vườn trường.

    d) Về pp thực hành thí nghiệm

    – Các bài tập sáng tạo đòi hỏi hs vận dụng kiến thức tổng hợp, kinh nghiệm sống, vốn có để giải quyết 1 tình huống mới.

    – Kích thích hs tìm tòi cái mới , năng lực sáng tạo

    – PP này áp dụng trong sáng tác văn học, cảm thụ văn học nghệ thuật. Cụ thể là ở phân môn Tập làm văn

    4. PP trò chơi

    a) Đình nghĩa

    Hình thức dạy học nhạ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn hs vào học tập tích cực

    b) Phương tiện

    Các loại trò chơi học tập có nội dung bài học phù hợp đặc điểm lứa tuổi

    c) Ý nghĩa – tác dụng

    HS vừa chơi vừa học có hiệu quả

    Giúp hs vận dụng các kiến thức vào thực tiễn một cách hứng thú, đầy sáng tạo.

    d) Về pp trò chơi

    -Về nội dung

    Trò chơi phải thực hiện được nội dung kiến thức cơ bản, kĩ năng cơ bản của bài học quy định trong chương trình

    -Về tính chất

    + Trò chơi phải đảm bảo được tính hứng thú, hấp dẫn với người chơi cũng như người chứng kiến. Đã chơi thì phải vui

    + Thực hiện trong không gian chật hẹp của lớp học, trong một thời gian có giới hạn của tiết học

    + Trò chơi phải tổ chức được cho số người chơi đông, lôi cuốn được nhiều người cùng tham gia.

    Về cách tổ : Trò chơi học tập cần tiến hành theo 2 bước :

    + Bước 1: Tổ chức chơi cho vui

    + Bước 2: Rút ra bài học

    Cần thực hiện 1 cách nhanh nhẹn về thới gian , khéo léo, nhe nhàng về cách thức.

    Về thời điểm tổ chức trò chơi

    Có thể tổ chức trò chơi ở bất cứ khâu nào trong qua trình dạy học. Có thể tổ chức chơi mà kiểm tra bài cũ. Có thể tổ chức chơi mà hình thành kiến thức mới. Cũng có thể cũng cố bài học thông qua trò chơi v.v…

    CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN THEO DÕI

    XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Nghiệm Điều Tra Là Hoạt Động Như Thế Nào
  • Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm Trong Tâm Lý Học: Phân Loại, Lựa Chọn Phương Pháp Và Xử Lý Kết Quả
  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Bài 12. Phương Pháp Thuyết Minh
  • Phương Pháp Dạy Học Thực Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Lựa Chọn Phương Pháp Tổ Chức Dạy Học Thực Hành Nghề
  • Nội Dung Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Dạy Học Toán Bằng Tranh Luận Khoa Học
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Khái Quát Một Số Phương Pháp Dạy Học Âm Nhạc Tại Hoa Kỳ Hiện Nay
  • Nơi giao lưu sinh hoạt của thành viên Kool-shop và những ai yêu pet

    Latest topics

    ” Câu 6 Nội dung cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng

    by hoangsieudk1993 31/5/2013, 5:07 pm

    ” Câu 5 : chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong những năm 1939 – 1945

    by hoangsieudk1993 31/5/2013, 5:00 pm

    ” Câu 4 : mục tiêu, quan điểm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới.

    by hoangsieudk1993 31/5/2013, 4:50 pm

    ” Câu 3 : bày kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

    by hoangsieudk1993 31/5/2013, 4:46 pm

    ” Câu 1: VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    by hoangsieudk1993 31/5/2013, 4:37 pm

    ” Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức

    by onlylove 15/12/2012, 10:01 am

    ” TT Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân.

    by onlylove 15/12/2012, 9:59 am

    ” Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc

    by onlylove 15/12/2012, 9:55 am

    ” TT Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

    by onlylove 15/12/2012, 9:52 am

    ” Câu : Các khâu của quá trình giáo dục(logic của quá trình GD)

    by onlylove 12/12/2012, 8:45 pm

    ” Câu 4: Phương pháp giáo dục( khái niệm , phương pháp luyện tập , pp khuyên bảo) ?

    by onlylove 12/12/2012, 5:30 pm

    ” Câu 3: Mục đích con người giáo dục đạo đức, thể chất cho HS THCS ?

    by onlylove 12/12/2012, 5:29 pm

    Affiliates

    Tác giả Thông điệp

    Đạikaonlylove

    Tổng số bài gửi : 45

    Join date : 06/12/2011

    Age : 28

    Đến từ : thế giới bên kia

    Tiêu đề: Phương pháp dạy học thực hành – Lý luận dạy học 10/12/2012, 7:29 pm

    Kim Hoàng – SP Lý – KTCN k37 – CĐSP Nha Trang

    Phương pháp dạy học thực hành – Lý luận dạy học

    Trang 1 trong tổng số 1 trang

    Permissions in this forum:

    Bạn không có quyền trả lời bài viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp
  • Xu Hướng Dạy Học Tích Hợp Đang Thịnh Hành Hiện Nay Là Gì?
  • Các Phương Pháp, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs
  • Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề Là Gì? Áp Dụng Như Nào?
  • Đáp Án 20 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tập Huấn Gdpt 2022 Môn Toán
  • Thực Hành Phương Pháp Psm – Stata

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Phương Pháp Xử Lý Hiếu Khí Và Kỵ Khí
  • Quá Trình Xử Lý Hiếu Khí Và Kỵ Khí Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • So Sánh Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Hiếu Khí Và Kỵ Khí • Tin Cậy 2022
  • Công Nghệ Sinh Học Yếm Khí
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Sản Phẩm, Dịch Vụ
  • Phương pháp so khớp điểm xu hướng

    Phương pháp so khớp điểm xu hướng (Propensity Score Matching – PSM) là một trong những phương pháp được sử dụng để đánh giá hiệu quả tác động của một chính sách. Về cơ bản, phương pháp điểm xu hướng dựa trên cơ sở xác suất để phân nhóm điều trị dựa trên các đặc điểm cơ bản quan sát được.

    Hiệu quả của một chính sách hoặc kết quả của một liệu pháp điều trị (outcome) có thể được đánh giá thông qua sự chênh lệch trong kết quả giữa nhóm bị tác động/điều trị và nhóm đối chứng (treatment) ở cùng kì quan sát. Để kết quả đánh giá được tin cậy thì đòi hỏi các đối tượng so sánh phải có sự tương đồng về một số đặc điểm cơ bản (thông qua các hiệp biến – covariates). Cụ thể, từ các đặc điểm cơ bản này của đối tượng chúng ta sử dụng các mô hình logit hoặc probit để ước tính điểm xu hướng (matching scores) cho các đối tượng, từ đó hình thành mẫu so khớp để tính toán hiệu quả tác động/điều trị trung bình của chính sách/liệu pháp điều trị.

    Có bốn phương pháp so khớp điểm xu hướng khác nhau là phương pháp so khớp điểm gần nhất (NNM), so khớp vùng/bán kính (caliper/radius matching), phương pháp so khớp Kernel (KM) hoặc tuyến tính cục bộ (LLM).

    Thông thường một quy trình đánh giá tác động theo phương pháp so khớp điểm xu hướng được thực hiện qua các bước cơ bản như sau:

    • Tính toán các điểm xu hướng từ mô hình hồi quy logit hoặc probit (trong trường hợp có nhiều biện pháp tác động thì có thể sử dụng mô hình hồi quy logit/probit đa bậc)
    • Kiểm tra vùng lặp và vùng hỗ trợ chung
    • Lựa chọn một phương pháp so khớp phù hợp: NNM, Caliper/Radius, Kernel Matching/Local Linear Matching.
    • Tính toán hiệu quả tác động ATT, ATE
    • Phân tích độ nhạy (sensitivity analysis).

    Phần nội dung bên dưới sẽ đi sâu minh họa cách thực hiện phân tích tác động chính sách bằng phương pháp so khớp điểm xu hướng trên phần mềm Stata. Cụ thể, bài viết sẽ tính toán thủ công hiệu quả tác động theo phương pháp trọng số của điểm xu hướng nhằm làm rõ quy trình tính toán theo phương pháp điểm xu hướng cũng như sẽ minh họa cách tiến hành các phương pháp còn lại theo câu lệnh pscore trên Stata.

    Phần nội dung có thu phí bên dưới đã được ẩn.

    Xin mời bạn đăng nhập để tiếp tục nội dung…

    Tài khoản hoặc Email

    Mật khẩu

    Ghi nhớ

    Quên mật khẩu?

    Chân thành cảm ơn sự quan tâm của bạn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Điểm Xu Hướng (Psm)
  • Tỷ Suất Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp
  • So Sánh Giá Xe Ô Tô Lắp Ráp Và Nhập Khẩu Năm 2022
  • So Sánh Rèn Dập Với Đúc
  • So Sánh Phương Pháp Đúc Và Gia Công Áp Lực Kim Loại
  • Phương Pháp Dạy Học Bài Tập Thí Nghiệm Vật Lí

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Trình Bày Những Hiểu Biết Của Anh Chị Về Phương Pháp Học Tập Ở Trường Đại Học
  • Tôi Ở Mỹ: Phương Pháp Học Tập Chủ Động Và Tư Duy Phản Biện
  • Những Phương Pháp Học Tập Của Người Mỹ Siêu Hiệu Quả
  • Cách Học Của Người Nhật Bản Đặc Biệt Như Thế Nào?
  • Bí Quyết Chung Của Các “thủ Khoa Tuyệt Đối”
  • Chuẩn bị kiến thức, kĩ năng cho học sinh trước khi vào bài học mới

    Việc củng cố trình độ xuất phát về tri thức và kĩ năng là một chức năng của quá trình dạy học.

    Nhấn mạnh điều này, cô Nguyễn Thị Mai Hương cho rằng, để thực hiện chức năng này, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có bài tập thí nghiệm.

    Tuy nhiên, khi sử dụng đòi hỏi phải có thời gian, vì muốn giải được bài tập thí nghiệm, ngoài việc sử dụng vốn kiến thức đã có vào tình huống cụ thể của bài toán, học sinh còn phải xây dựng phương án, tiến hành thí nghiệm mới rút ra được kết luận do đó khó sử dụng vào đầu giờ học.

    Giờ bài tập Vật lí có sử dụng bài tập thí nghiệm ở trên lớp

    Theo cô Nguyễn Thị Mai Hương, đa số các giờ học bài tập Vật lí được sử dụng sau khi học sinh học xong tài liệu mới.

    Giờ học bài tập Vật lí có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng phương pháp giải bài tập, giai đoạn rèn luyện kỹ năng (là quá trình luyện tập vận dụng phương pháp đã có để giải các bài tập tương tự).

    Các bài tập thí nghiệm được sử dụng trong giai đọan thứ hai. Sau khi học sinh đã làm thành thạo các bài tập, tỏ ra nắm vững các kiến thức cơ bản thuộc một phần nào đó và phương pháp vận dụng chúng giải các bài toán cụ thể thông thường, giáo viên cho học sinh các bài tập thí nghiệm về nhà.

    Quan sát, thí nghiệm Vật lí ở nhà, qua tham quan, dã ngoại

    Lưu ý thời gian trên lớp là rất hạn chế, mặt khác bài tập thí nghiệm thường chiếm thời gian lớn của tiết học, vì vậy cô Hương cho biết hầu hết các bài tập thí nghiệm được học sinh giải ở nhà; giờ bài tập trên lớp chỉ là giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn mà đa số các em gặp phải.

    Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của Vật lí học có mặt ở mọi nơi, mọi lúc. Vì vậy, nhận thức Vật lí cũng có thể tiến hành trong mọi hoàn cảnh nêu giáo viên biết gợi ý cho học sinh suy nghĩ, biết đặt câu hỏi phù hợp với hoàn cảnh.

    Phương pháp giải bài tập thí nghiệm Vật lí

    Bài tập thí nghiệm vừa là bài tập vừa là thí nghiệm việc giải nó có hiệu quả cao cho sự phát triển tư duy của học sinh.

    Để đạt được điều đó, cô Nguyễn Thị Mai Hương chia sẻ các bước giải bài tập thí nghiệm vật lý như sau:

    Bước 1: Đọc đề bài, hiểu rõ câu hỏi của bài toán, phân tích bản chất Vật lí của bài toán

    Bước 2: Phân tích nội dung bài tập:

    – Bài tập thuộc loại nào?

    – Nội dung đề cập đến những kiến thức Vật lí nào?

    – Đại lượng nào đã cho, đại lượng nào cần tìm?

    – Mối quan hệ giữa các đại lượng cần tìm?

    – Có những đặc trưng định tính, định lượng nào đã biết và chưa biết? Mối quan hệ đó biểu hiện ở những quy tắc, định luật, khái niệm nào?

    Bước 3: Thực hiện giải: Tính toán, lập luận, trình bày lời giải, (nếu có thể giải bằng lí thuyết). Hoặc lập phương án thí nghiệm, quan sát để thu thập số liệu.

    Bước 4: Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, ghi nhận số liệu và xử lí kết quả.

    Bước 5: Đánh giá kết quả và trả lời câu hỏi của bài toán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tiếng Trung Hiệu Quả Nhất
  • Công Tác Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Thúc Đẩy Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs
  • Lịch Sử Lớp 7 Su 7 Doc
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả : Sơ Đồ Tư Duy
  • Phương Pháp Học Tập Môn Ngữ Văn
  • Phương Pháp Giáo Dục Thực Nghiệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Trải Nghiệm Là Gì?
  • Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm
  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Một Số Kết Quả Nghiên Cứu Y Học Cổ Truyền Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm (1971
  • Xử Lý Số Liệu Thực Nghiệm Trong Kỹ Thuật
  • Hệ thống Giáo dục Thực nghiệm Victory áp dụng phương pháp giáo dục thực nghiệm trên cơ sở triết học, cơ sở tâm lí học và lịch sử phát triển Giáo dục thực nghiệm của John Dewey.

    John Dewey (1859 – 1952) là nhà triết học, nhà cải cách giáo dục Mỹ có tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới và là người khai sinh ra giáo dục thực nghiệm. Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, John Dewey đã có nhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ với mong muốn thay đổi và cải cách phương pháp giáo dục truyền thống được cho là còn nhiều hạn chế trong việc hình thành và phát triển năng lực của mỗi đứa trẻ. Sau gần 100 năm, các triết lý giáo dục của John Dewey đã và đang được áp dụng thành công tại hệ thống các trường thực nghiệm tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới. John Dewey tin rằng giáo dục nên dựa trên nguyên tắc học tập thông qua thực hành. Đó là cốt lỗi của tư tưởng triết học thực dụng được ông vận dụng vào lĩnh vực giáo dục.

    Giáo sư – TSKH Hồ Ngọc Đại đã đưa giáo dục thực nghiệm vào Việt Nam và phát triển thành Công nghệ giáo dục – Thương hiệu giáo dục Việt Nam. Từ năm 1978, giáo dục Việt Nam có thêm một triết lí giáo dục mới – Giáo dục Thực nghiệm.

    Nhà trường tổ chức các lớp học theo Mô hình Hội đồng tự quản học sinh, dạy học sinh biết tự phục vụ, tự quản, tự học, tự đánh giá, tự điều hành các hoạt động của lớp.

    Tất cả học sinh tự giác tham gia hoạt động của lớp, thay nhau đảm nhận các vị trí lãnh đạo tập thể, cùng hợp tác, chia sẻ suy nghĩ và công việc. Mục đích của hoạt động này là giúp học sinh tự tin, tự chủ trong học tập, ý thức được giá trị bản thân, có trách nhiệm trong công việc, hợp tác trong sinh hoạt ở trường và trong cuộc sống.

    Phương pháp dạy học ở Thực nghiệm Victory: Học qua thực hành – Trưởng thành qua trải nghiệm

    Phương pháp dạy học là đặc điểm nổi bật ở Victory. Việc dạy học được tổ chức theo cách:

    • Thầy giao việc – Trò làm việc;
    • Thầy là người hướng dẫn – Trò tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức.
    • Thầy không giảng giải, truyền thụ – Trò không thụ động tiếp thu.
    • Học sinh Tự học, học theo Dự án.
    • Tự giải quyết vấn đề, theo hướng từng bước tập dượt nghiên cứu khoa học.

    Việc học bắt đầu từ hoạt động vật chất bằng tay, đến hoạt động với mô hình và cuối cùng là hoạt động trí óc chuyển vào trong.

    Với phương châm: “Tôn trọng sự khác biệt”, mỗi học sinh tại Hệ thống Giáo dục Thực nghiệm Victory đều được tôn trọng và phát huy năng lực và tố chất riêng. Không có học sinh “giỏi” hay

    “kém”, không so sánh học sinh này với học sinh khác: tất cả đều có năng lực riêng, có thế mạnh riêng, tất cả đều được thể hiện và đánh giá công bằng trước những cơ hội và thách thức.

    Tại đây, học sinh được tôn trọng và phát huy ý kiến cá nhân; giáo viên không áp đặt quan điểm của mình đối với học sinh. Bình đẳng, tôn trọng là một trong những yếu tố được coi trọng hàng đầu trong triết lí giáo dục của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Skkn Vật Lí 6: Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Dạy Học Vật Lí Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Mô Hình Nghiên Cứu Thực Nghiệm
  • Trang Chủ :: I. Sách Tiếng Việt :: Giáo Trình
  • Trẻ Mầm Non Với Hoạt Động Trải Nghiệm
  • Hoạt Động Trải Nghiệm Cho Trẻ Mầm Non
  • Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Hàng Tồn Kho
  • Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Là Gì? Cách Tính Như Thế Nào?
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Máy Quang Phổ Hấp Thụ Uv
  • 4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

    4.1. Khái niệm

    4.2. Đặc điểm của phương pháp thực nghiệm

    4.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

    a. Các nội dung thực nghiệm sư phạm

    b. Qui trình thực nghiệm

    4.1. Khái niệm

    Thực nghiện khoa học (Experiment) là phương pháp đặc biệt quan trọng, một phương pháp chủ công trong nghiên cứu thực tiễn. Trong đó người nghiên cứu chủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến sự kiện mà đối tượng tham gia, để hướng dẫn sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến của mình.

    Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do người nghiên cứu tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra. Thực nghiệm sư phạm được dùng khi đã có kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra. Thực nghiệm sư phạm cũng là phương pháp được dùng để kiểm nghiệm khi nhà khoa học sư phạm, nhà nghiên cứu, đề ra một giải pháp về phương pháp giáo dục, một phương pháp dạy học mới, một nội dung giáo dục hay dạy học mới, một cách tổ chức dạy học mới, một phương tiện dạy học mới….

    Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm lớp – gọi là nhóm thực nghiệm – với một nhóm lớp tương đương không được tác động – gọi là nhóm đối chứng. Ðể có kết quả thuyết phục hơn, sau một đợt nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể đổi vai trò của hai nhóm lớp cho nhau, nghĩa là, các nhóm thực nghiệm trở thành các nhóm đối chứng và ngược lại.

    Vì là thực nghiệm trên con người nên từ việc tổ chức đến cách thực hiện phương pháp và lấy kết quả đều mang tính phức tạp của nó.

    4.2. Đặc điểm của phương pháp thực nghiệm

    Thực nghiệm khoa học được tiến hành xuất phát từ một giả thuyết (từ thực tế) hay một phán đoán (bằng tư duy) về một hiện tượng giáo dục để khẳng định hoặc bác bỏ chúng.. Thực nghiệm được tiến hành để kiểm tra, để chứng minh tính chân thực của giả thuyết vừa nêu. Như vậy, thực nghiệm thành công sẽ góp phần tạo nên một lý thuyết mới, qui luật mới hoặc một sự phát triển mới trong giáo dục

    Kế hoạch thực nghiệm đòi hỏi phải miêu tả hệ thống các biến số quy định diễn biến của hiện tượng giáo dục theo một chương trình. Đây là những biến số độc lập, có thể điều khiển được và kiểm tra được. Biến số độc lập là những nhân tố thực nghiệm, nhờ có chúng mà những sự kiện diễn ra khác trước. Sự diễn biến khác trước do các biến số độc lập quy định gọi là biến số phụ thuộc, đó là hệ quả sau tác động thực nghiệm.

    Theo mục đích kiểm tra giả thiết, các nghiệm thể được chia làm hai nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm chứng (đối chứng). Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng được lựa chọn ngẫu nhiên có số lượng, trình độ ngang nhau và được kiểm tra chất lượng ban đầu để khẳng định điều đó. Nhóm thực nghiệm sẽ được tổ chức thực nghiệm bằng tác động của những biến số độc lập hay gọi là nhân tố thực nghiệm, để xem xét sự diễn biến của hiện tượng có theo đúng giả thuyết hay không? Nhóm đối chứng là nhóm không thay đổi bất cứ một điều gì khác thường, nó là cơ sở để so sánh kiểm chứng hiệu quả những thay đổi ở nhóm bên. Nhờ có nó mà ta có cơ sở để khẳng định hay phủ định giả thuyết của thực nghiệm.

    4.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

    a. Các nội dung thực nghiệm sư phạm

      Thực nghiệm các kết luận của quan sát sư phạm.Ví dụ: (Khi quan sát một lớp học, nhà khoa học có nhận định rằng: học sinh lớp này có nhiều vấn đề chưa tốt như mất đoàn kết khó tổ chức sinh hoạt tập thể, không chăm học…. Tuy nhiên ông cũng nhận thấy đa số học sinh rất hiếu động, một số học sinh có khả năng về một số môn thể thao. Nhà nghiên cứu nhận định: nếu tổ chức cho các em chơi thể thao ngoài giờ (hoặc cả trong giờ giải lao), có chú ý vận động những em giỏi từng môn thể thao làm người phụ trách thì có thể tập hợp học sinh lớp này dễ hơn để giáo dục. (Ðó cũng là một giả thuyết).
      Nhà phương pháp muốn thực nghiệm vận dụng một phương pháp dạy học mới.
      Nhà nghiên cứu muốn khẳng định một nội dung dạy học mới.

    b. Qui trình thực nghiệm

    (1) Một thực nghiệm sư phạm các nhà khoa học phát hiện racác mâu thuẫn giáo dục nhưng chưa có biện pháp khắc phục. Từ mâu thuẩn này, đề xuất các giả thuyết khoa học và các biện pháp khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục.

    (2) Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về mọi phương diện.

    (3) Tiến hành thực nghiệm trong điều kiện hoàn toàn giống nhau cho cả hai nhóm và quan sát thật tỉ mỉ diễn biến và kết quả của hai nhóm một cách thật sự khách quan theo từng giai đoạn.

    (4) Xử lí tài liệu thực nghiệm là giai đoạn phân tích các kết quả khảo sát, theo dõi sự diễn biến của nhóm thực nghiệm, các tài liệu được phân tích, sắp xếp, phân loại và xử lí theo các công thức toán học, đánh giá trên cơ sở so sánh với kết quả của nhóm đối chứng.

    Nhờ sự thuần nhất trong tiến hành thực nghiệm, sử dụng một cách thích hợp các phương pháp phân tích, thống kê kết quả thực nghiệm, ta có thể khẳng định mối liên hệ của các biến số trong nghiên cứu không phải là ngẫu nhiên mà là mối liên hệ nhân quả, xét theo tính chất của nó.

    Kết quả xử lí tài liệu cho chúng ta những cơ sở để khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế. Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm, điều cần chú ý là phải chọn đối tượng tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau, và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một đối tượng ở các thời điểm.

    Kết quả thực nghiệm sư phạm là khách quan nhất so với các kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh
  • Top 3 Cách Trị Hôi Nách Dân Gian Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Cách Điều Trị Bệnh Hôi Nách Hiệu Quả Nhất Mùa Hè 2022
  • Phương Pháp Tăng Giảm Khối Lượng (Chi Tiết
  • 30 Bài Toán Phương Pháp Tính
  • So Sánh Phương Pháp Đốt Điện Và Phương Pháp Ala

    --- Bài mới hơn ---

  • Price Action Là Gì? Làm Sao Để Học Price Action Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Price Action Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Ăn Dặm Blw Là Gì? Thực Đơn Mẫu Ăn Dặm Bé Chỉ Huy Của Viện Dinh Dưỡng
  • Bảo Vệ Sự Sống Và Phương Pháp Billings
  • Huyết Thanh Kháng Uốn Ván (Sat 1500 Ui)
  • Tại sao phải chữa sùi mào gà?

    Các nốt sùi mào gà  mọc tập trung ở bộ phận sinh dục nam và nữ giới

    Sùi mào gà do virus HPV gây ra và những tổn thương biểu hiện chủ yếu ở bộ phận sinh dục bằng những nốt mụn sùi màu trắng hồng. Đây là vị trí đầu tiên bị tác động bởi sùi mào gà chủ yếu lây từ người này sang người khác bởi hoạt động quan hệ tình dục không an toàn.

    Ngoài ra, bệnh có thể xuất hiện ở những cơ quan khác khi vô tình người bệnh tiếp xúc với vết thương hở của nguồn bệnh. Hay người mẹ mang thai cũng thể lây sang cho con bằng hoạt động sinh thường.

    Như vậy, sùi mào gà đã len lỏi vào từng độ tuổi, từng giới tính. Và nếu không kịp thời thăm khám và điều trị, bệnh sẽ gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm. Cụ thể:

    • Ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, chất lượng cuộc sống suy giảm

    • Khả năng sinh lý và chức năng sinh sản bị ảnh hưởng

    • Mắc với các căn bệnh ung thư là rất cao. Điển hình: ung thư dương vật và ung thư cổ tử cung

    • Thậm chí, người bệnh còn phải đối diện với nguy cơ tử vong.

    Vì những nguy hiểm của sùi mào gà mang lại, người bệnh cần đi thăm khám và điều trị kịp thời để bệnh có thể chữa khỏi và mang lại hiệu quả cao. 

    Ưu và nhược điểm của PHƯƠNG PHÁP ĐỐT ĐIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ALA-PDT 

    Các bác sĩ Bệnh Viện Nam Học Sài Gòn cho biết, điều trị sùi mào gà bằng phương pháp đốt hay liệu pháp quang động học đều có những ưu và nhược điểm riêng. Cụ thể:

    Phương pháp đốt điện

    Phương pháp đốt điện loại bỏ nhanh nốt sùi mào gà

    Phương pháp đốt điện là phương pháp được sử dụng phổ biến cho những người mắc bệnh sùi mào gà. Công nghệ này sử dụng dòng điện cao tầng tác dụng trực tiếp lên nốt sùi, khiến chúng teo và rụng dần. 

    Phương pháp đốt điện loại bỏ khá nhanh những vết thương và cách thực hiện khác đơn giản. Tuy nhiên, nhược điểm của công nghệ này như sau:

    • Đòi hỏi bác sĩ phải có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm và đảm bảo trong quá trình thực hiện không để lại sai sót

    • Mức độ an toàn không cao, các vùng da xung quanh dễ bị tổn thương, gây đau đớn cho người bệnh

    • Sau khi điều trị có thể để lại sẹo và ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của bệnh nhân

    • Phương pháp chỉ khống chế được virus trong một thời gian ngắn, không thể loại bỏ hết được căn nguyên gây bệnh

    Phương pháp ALA- PDT

    Phương pháp ALA- PDT là phương pháp hiện đại nhất để điều trị sùi mào gà

    Đây được coi là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay để chữa sùi mào gà. Liệu pháp quang độc học sử dụng tia chiếu xạ để triệt tiêu các nốt sùi và có những ưu điểm vượt trội như sau:

    • An toàn, không đau và không để lại sẹo. Phương pháp này xác định một cách chính xác vùng mô chứa mầm bệnh rồi tiêu diệt. Bởi thế mà cùng khu vực da xung quanh không bị tổn thương. 

    • Kết quả điều trị cao, hồi phục nhanh chóng và áp dụng cho mọi giai đoạn của bệnh. 

    • Virus HPV được điều trị triệt để. Với khả năng dùng tia mẫn quang tác động sâu và trực tiếp đến tế bào mầm bệnh, ALA- PDT đã phá vỡ cấu trúc liên kết gen của virus và khả năng sinh sản của chúng. Vì vậy mà mục tiêu chữa bệnh được hoàn thành. 

    • Với những nốt sùi mọc phía sau bên trong ống niệu đạo hoặc cổ tử cung, hay những mảng sùi mào gà lớn, liệu pháp quang động học đều có thể điều trị được. 

    • Ngoài ra, phương pháp ALA- PDT còn bảo vệ được nhưng cơ quan quan trọng. Tuy xâm nhập vào sâu vị trí gây bệnh của virus, nhưng phương pháp này giữ nguyên.

    Phương pháp ALA- PDT là phương pháp hiện đại. Tuy nhiên, không phải cơ sở y tế chuyên khoa nào cũng có thể áp dụng để điều trị. Vì vậy, người bệnh nên lựa chọn địa chỉ y tế có đầy đủ trang thiết bị y tế, đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm và chuyên môn cao.

    Và tại Bệnh Viện Nam Học Sài Gòn hội tụ đầy đủ những yếu tố kể trên và đã áp dụng chữa trị thành công rất nhiều người bệnh mắc sùi mào gà.

    Người bệnh đến thăm khám sẽ được các bác sĩ chỉ định xét nghiệm để chẩn đoán bệnh cũng như tình trạng bệnh hiện tại một cách chính xác. Sau đó, dựa vào kết quả mà bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị thích hợp. Nhờ vậy, bệnh nhân luôn tin tưởng và an tâm, khi lựa chọn Viện Nam Học Sài Gòn là địa chỉ để chữa trị sùi mào gà.

    Bên cạnh đó, dịch vụ khám chữa nhanh chóng, ít thủ tục rườm rà của bệnh viện khiến bệnh nhân tới khám vô cùng hài lòng.

    • GỌI CHO BÁC SĨ

    • TƯ VẤN ZALO

    • TƯ VẤN TRỰC TIẾP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Làm Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Phương Pháp Giáo Dục Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Aac Không Gây Trở Ngại Cho Việc Phát Triển Lời Nói Tự Nhiên
  • Âm Ngữ Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ: Các Phương Pháp Giao Tiếp Tăng Cường
  • Tìm Hiểu Về Mô Hình Agile Và Quy Trình Scrum
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100