So Sánh Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Trong khi người phương Tây dùng dao-nĩa-thìa để ăn thì người phương Đông lại dùng đũa; nếu phương Tây chuộng thịt trong bữa ăn chính thì phương Đông lại không thể thiếu cơm;… Tuy nhiên, dù là văn hóa ẩm thực của quốc gia nào, thì cả người phương Đông và phương Tây đều có xu hướng chung, đó là quây quần bên gia đình và người thân.

    Ảnh nguồn Internet

    ►Bản so sánh văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây

    • Đa dạng trong sự kết hợp các thành phần nguyên liệu phổ biến, có sự tương đồng về vị
    • Hạt nêm, muối, đường, nước mắm,… là những gia vị được sử dụng nhiều nhất
    • Bữa ăn thường kèm theo nước mắm/ nước tương để chấm, có thể dùng chung cho tất cả món ăn
    • Luôn luôn kết hợp các thành phần nguyên liệu có hơi hướng mâu thuẫn và tránh ghép nối những thứ có hương vị tương tự
    • Bơ, sữa, trứng là những thành phần kết hợp được sử dụng nhiều nhất
    • Ăn kèm theo nước sốt, mỗi món ăn sẽ có một loại nước sốt riêng biệt

      “Quan niệm ẩm thực thẩm mỹ”: đánh giá món ăn bằng màu sắc, hương vị, hình thức, bát đĩa, ưu tiên tính ngon miệng, ít quan tâm đến chất lượng dinh dưỡng

      “Quan niệm ẩm thực lý tính”: ít quan tâm đến mùi vị, màu sắc, hình thức ra sao, chỉ chú trọng hàm lượng dinh dưỡng trong đó cung cấp cho một bữa ăn

    • Dùng đũa là chủ yếu
    • Ăn chung theo mâm, tức là món ăn được đựng chung trong một tô/ âu/ nồi lớn, những người trong bàn sẽ dùng vá/ thìa để lấy thức ăn vào chén của mình
    • Thường nói chuyện trong bữa ăn, tạo sự gần gũi, vui vẻ và thân mật
    • Ăn nhẹ nhàng, từ tốn, tránh phát ra tiếng động; tuy nhiên, với một số món ăn tại một số quốc gia, việc bạn ăn và phát ra tiếng động càng lớn thể hiện món ăn đó càng ngon và hành động này thể hiện sự biết ơn đầu bếp.
    • Một bộ dụng cụ gồm đôi đũa-cái thìa có thể được sử dụng cho toàn bộ bữa ăn (trừ món tráng miệng)
    • Chỉ dùng dao-thìa-nĩa
    • Ăn riêng theo từng phần
    • Tuyệt đối không nói chuyện trong khi ăn, tránh gây mất lịch sự, khiếm nhã
    • Ăn thật khéo léo, gọn gàng, không phát ra tiếng động, tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc về cách dùng dao-nĩa-thìa, khăn ăn, đồ uống,…
    • Mỗi món ăn sẽ yêu cầu một bộ dụng cụ ăn khác nhau và đảm bảo phù hợp với món ăn đó

    Nhiều điểm khác biệt là thế, cứ ngỡ văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây khó mà kết hợp với nhau để tạo nên “tiếng nói chung” trong thế giới ẩm thực đầy sắc màu. Vậy mà, khi thử kết hợp những gì độc đáo nhất của 2 “thái cực” ẩm thực này với nhau, các đầu bếp đã tạo nên những món ăn vô cùng hài hòa, vừa mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật, lại vẫn có nét truyền thống riêng mà vô cùng phóng khoáng.

    Ảnh nguồn Internet

    Sự kết hợp giao lưu văn hóa ẩm thực có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện hội nhập, kết nối giữa các quốc gia và khu vực; giúp quảng bá những nét đẹp truyền thống của quốc gia đó đến gần hơn với bạn bè quốc tế; mở rộng quan hệ, làm giàu thêm tình hữu nghị giữa các quốc gia.

    Ms. Smile

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Phân Biệt Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • Văn hóa ăn, mặc, ở của người phương Đông và phương Tây nói chung có rất nhiều điểm khác biệt thú vị, đặc biệt là văn hóa ăn uống. Nếu hỏi rằng hai nền văn hóa này có điểm khác biệt căn bản nào trong việc ăn uống, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ ngay đến việc người phương Tây dùng muỗng (thìa), dao và nĩa để ăn trong khi người phương Đông chủ yếu dùng đôi đũa.

    Người phương Tây luôn tự hào về văn hóa ăn uống của mình, văn hóa của họ là ăn thật khéo léo, không phát ra tiếng động, ăn uống gọn gàng không để bung thùa, kèm theo đó là một hệ quy tắc nghiêm ngặt và cầu kì trong việc dùng muỗng, dao, nĩa sao cho phù hợp. Ngoài những quy tắc căn bản mà ai cũng phải biết như dao được cầm ở tay phải, nĩa được cầm ở tay trái, thức ăn khô được đưa lên miệng bằng nĩa, ngược lại thức ăn nước (súp, cháo…) được ăn bằng muỗng thì cũng có những quy định phức tạp khác cho việc dùng khăn ăn, dùng đồ uống, v.v…thật khó bắt chước. Đó là chưa kể đến những bộ dao nĩa riêng được sử dụng rêng cho từng món ăn khác nhau, nào là bộ đồ ăn để ăn cá và ăn thịt là hoàn toàn khác nhau, không được lẫn lộn vì hình dạng khác nhau, bộ dao nĩa ăn cá hơi bẹp chỉ để khơi ra từng mảnh cá nhỏ chứ không sắc để cắt như bộ dao nĩa cắt thịt, rồi nữa, thịt và cá vị khác nhau không thể dùng chung một thứ được. Ăn xà lách, ăn tráng miệng, dùng bơ hay dùng bánh ngọt có bộ dao nĩa riêng. Nếu dùng hải sản có vỏ cứng như tôm, cua, ốc…còn phải cần đến bộ kìm, thọc, móc…vô cùng phức tạp. Ngay cả ly, chén, dĩa cũng phải thay đổi liên tục theo món, không dùng lại chén dĩa của món trước cho món sau.

    Trong khi đó, người phương Đông, cụ thể là những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Hán như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản thì dùng đũa. Đũa là một phát minh lớn của người TQ. Từ thời Ân Thương cách đây hơn 3000 năm đã bắt đầu biết dùng đũa, nhưng lúc ban đầu không gọi là “đũa”. Theo văn hiến thời cổ ghi chép, lúc đó người ta gọi “đũa” là “trợ” hoặc là “giáp”, đến thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước công nguyên đũa còn được gọi là “Cân”. Đến đời nhà Đường, trong thế kỷ 7, người ta lại ghép chữ trúc với chữ nhanh, bởi vì đũa thường là làm bằng trúc. Thế là, đôi đũa để ăn cơm mà TQ phát minh mà ai nấy đều biết mới có tên gọi là “đũa” . Đũa là một dụng cụ điều khiển (cybernétique) xưa nhất của thế gian và cũng rất hoàn hảo, dụng cụ này động (cinétique) chứ không tĩnh (statique). Đũa có 2 cây, một tĩnh một động, cây tĩnh có điểm tựa cân bằng và cây động có trục bản lề (articulation), hai cây hợp thành máy điều khiển, để cắt, xé, phân, cặp, kẹp, gắp, lùa, và,…cho nên đũa đa dạng đa dụng, ăn theo kiểu phương Đông, có thể thay thế nĩa, dao và cả thìa muỗng,… nữa. Và cách ăn đũa là ngồi thẳng người, gắp vừa ăn, vừa ăn uống vừa trò chuyện, làm nên văn hóa “mâm cơm” độc đáo, không như người phương Tây, ăn phần riêng, tránh trò chuyện trong khi ăn. Đôi đũa vì thế vô cùng quan trọng trong văn hóa của những nước Á Đông chúng ta, thậm chí theo một số nền văn hóa như ở Nhật Bản, cách cầm đũa còn thể hiện khí chất, tính tình và khả năng của con người. Theo đó, người cầm đũa bằng ba ngón tay là con người hiền hậu, bằng bốn ngón tay là người thông minh, còn bằng năm ngón tay là người có biệt tài. Tuy cách phân chia này không được hợp lí cho lắm (vì có ai dùng đũa mà cần dưới ba ngón tay đâu), nhưng nó phản ánh sự gắn bó giữa con người và đôi đũa trong các nền văn hóa. Ở Việt Nam, đôi đũa mang nhiều biểu trưng văn hóa, như biểu trưng lứa đôi “Bây giờ chồng thấp vợ cao/Như đôi đũa lệch so sao cho bằng” hay biểu tượng cho tình đoàn kết “chuyện bó đũa”. Thậm chí, như một nhà kinh tế học nước ngoài có nhận xét, “những nền kinh tế gây nhiều sự chú ý hiện nay trên thế giới là những nền kinh tế của các quốc gia dùng đũa”, thật thú vị. Xem ra, nền văn hóa dùng đũa này càng lúc càng được thế giới chú ý hơn.

    Phương Tây mang tính chất dương tính mạnh hơn,còn phương Đông thì thiên về tính chất âm tính hơn,có lẽ chính điểm khác biệt đó đã tạo nên cách ăn uống rất khác của người phương Đông và phương Tây.Dù cho ăn uống như thế nào đi nữa thì mỗi cách ăn uống của mỗi nước đều có một đặc điểm rất chung,đó là đều quây quần bên gia đình ……….thật ấm cúng

    Theo PNO

    Công trình kiến trúc trong Thủy Hử Truyền Kỳ Những đình chùa trong game được tái hiện sắc nét, mang đậm chất phương Đông. Thủy Hử Truyền Kỳ là MMORPG 3D sẽ cho game thủ nhập vai một vị anh hùng không thuộc nhóm 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc để tham gia hành hiệp. Trò…

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Phân Biệt Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • Nếu anh Mark tìm hiểu lịch sử Việt Nam về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, anh Mark sẽ hiểu rằng xã hội Việt Nam trong một thời gian dài là chế độ mẫu hệ, trong đó vai trò của người phụ nữ trong gia đình là rất lớn. Điều đó ít nhiều vẫn được duy trì đến ngay nay, với nhiều người phụ nữ Việt Nam có vị trí lớn trong xã hội. Vì thế, khi nói phụ nữ Việt Nam khổ cực thì xin hãy đưa ra những cơ sở để so sánh.

    Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tôi xin nói rằng phần nhiều vì muốn mưu cầu một cuộc sống vật chất tốt hơn ở Việt Nam. Ngược lại, không ít đàn ông nước ngoài tìm đến phụ nữ Việt Nam là vì họ không có tiền để lấy vợ bản địa và thấy người phụ nữ Việt Nam có rất nhiều nét truyền thống như phục vụ và biết chiều chuộng họ hơn phụ nữ bản địa. Chẳng hạn như đàn ông Đức rất thích lấy vợ Thái Lan cũng một phần bởi lý do này. Nhưng đó chỉ là một vế của vấn đề tổng thể. Người phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng ngoại cũng có rất nhiều cái khổ, chứ cũng không trọn vẹn, ví dụ như bất đồng ngôn ngữ văn hóa, lối sống…

    Về lý do tại sao phụ nữ Việt Nam và châu Á thường theo chồng và nhà chồng, trong cuộc sống phương Tây, tính tự lập của mỗi người là rất lớn, con cái trưởng thành, lập gia đình thường sống riêng và bố mẹ cô quạnh ở trong viện dưỡng lão. Nhưng trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu.

    Điều quan trọng ngược lại bù đắp thiếu sót đó của người phụ nữ nằm ở chỗ mức độ “phải” đến đâu, chồng và nhà chồng đối đãi thuận lợi ngược lại nhằm bù đắp với người vợ thế nào. Vì thế, tôi muốn nói rằng văn minh phương Tây ở điểm này không phải là văn minh phương Đông do yếu tố văn hóa và giá trị tinh thần lâu đời. Vì thế, mối quan hệ trong gia đình và giá trị tinh thần ở các nước phương Đông thường cao hơn các nước phương Tây.

    Ngoài ra, ví dụ về ngài thủ tướng Anh cho con bú, xin thưa rằng đàn ông Việt Nam và châu Á có cách thể hiện khác với con cái để thấy rằng nghĩa vụ chăm sóc con cái không phải chỉ riêng ở người phụ nữ. Đồng thời, các nước phương Tây có thể cho rằng phụ nữ hay con cái có quyền bình đẳng ngang với đàn ông, bố mẹ, để có thể đảm bảo rằng chỉ một cái bạt tai nhẹ khi nóng giận là có thể gọi đến cảnh sát thì đó là cái nhìn quá trần trụi, phá vỡ quy tắc đạo lý trong gia đình.

    Tôi đưa ra quan điểm đó để nhấn mạnh rằng đàn ông không phải có quyền muốn làm gì cũng được, nhưng cũng không thể có chuyện con cái, phụ nữ muốn thế nào cũng được theo ý thích của mình. Đó là lý do tại sao trong nhà phải có nóc, trên dưới trật tự. Nếu như vợ anh “ghét” và muốn mọi thứ theo ý thích của mình thì đó không còn là cuộc sống gia đình mà là cuộc sống của những cá nhân tự do với nhau.

    Trong hầu hết văn hóa phương Tây, người phụ nữ có vị thế rất lớn. Điều đó có được gắn liền với quá trình phát triển nền văn minh và tranh đấu quyền bình đẳng của nữ giới trong lâu dài. Đó là điều chúng tôi cũng muốn nhưng cũng không có thể thực hiện ngay được trong ngắn hạn do còn bị ràng buộc bởi các yếu tố văn hóa, lối sống, suy nghĩ, quan điểm, nhìn nhận và sự phát triển chung của xã hội.

    Về quan điểm nếu người vợ cũng có con với chồng cũ, tôi không có ý kiến vì điều đó tùy nhìn nhận của mỗi người đàn ông. Đó là bởi vì đàn ông và phụ nữ do yếu tố sinh và tự nhiên cần có những vị trí khác nhau. Điều này lý giải đàn ông thường phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc kiếm tiền cho gia đình, ra chiến trường khi có chiến tranh nên rõ ràng trách nhiệm lớn hơn. Khi người phụ nữ cũng làm được như thế thì sự so sánh sẽ đem lại một câu trả lời giống nhau.

    Với nhìn nhận như thế, sẽ thật là khiên cưỡng khi so sánh phụ nữ, đàn ông Việt Nam với nước ngoài do tồn tại nhiều sự khác biệt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Đánh Giá So Sánh Iphone 6 Và 6S
  • So Sánh Iphone 6S Plus Và Iphone 7, Cái Nào Vượt Trội Hơn Hẳn?
  • So Sánh Iphone 6S Và 6S Plus: Cùng Mức Giá Nên Chọn Loại Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Ẩm Thực Phương Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Khác Với Ẩm Thực Phương Đông?
  • So Sánh Giữa Chế Độ Phong Kiến Phương Đông Và Phương Tây
  • Luận Văn Tiểu Luận Sự Khác Biệt Âm Nhạc Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Nhau Giữa Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Nên Lựa Chọn Mua Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Nào Tốt Giữa Mono Và Poly
  • Món ăn ở các vùng khác nhau trên khắp thế giới đều có những câu chuyện kể về nguồn gốc, truyền thống và văn hoá của nó. Từ Trung Quốc, Lebanon đến Nhật Bản và Ấn Độ, tất cả những món ăn đều có hương vị riêng. Tuy nhiên, luôn có sự nhầm lẫn giữa ẩm thực phương Tây và phương Đông.

    Theo lời đầu bếp Irfan Pabaney từ The Sassy Spoon, Mumbai, “Sự khác biệt lớn giữa hai phong cách ẩm thực này nằm ở các khu vực mà chúng được chuẩn bị. Thực phẩm phương Tây được chế biến ở những vùng của Châu Âu và thực phẩm phương Đông bao gồm khu vực Đông Nam Á.”

    Ẩm thực phương Tây

    Đầu bếp Irfan cho biết: “Thực phẩm phương Tây được chuẩn bị ở những vùng của Châu Âu. Về cơ bản, bạn sẽ không thấy các món ăn Trung Quốc và Ấn Độ ở phương Tây, chỉ là đồ ăn Địa Trung Hải và Pháp”. Ẩm thực phương Tây bao gồm các món ăn được chế biến ở các nước Châu Âu. Tại Pháp, Ý và Tây Ban Nha, tất cả các món ăn ‘phương Tây’ được chế biến dùng nhiều dầu oliu, rượu vang, tỏi, các loại thảo mộc và gia vị khác nhau.

    Ảnh: chúng tôi

    Ẩm thực phương Đông

    Theo đầu bếp Irfan: “Ẩm thực phương Đông thuộc về các nước Đông Nam Á bao gồm Trung Quốc, Thái, Hàn Quốc, Nhật Bản…”. Phương Đông có thể trải dài đến Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam và các khu vực của Trung Quốc.

    Không giống như ẩm thực phương Đông, ẩm thực phương Tây chế biến ít rau hơn, nhưng ngày nay rau đã trở nên phổ biến ở cả hai vùng. Những thực phẩm như bắp non, cà chua và củ sen không bao giờ được sử dụng trong các món ăn vùng phương Tây nhưng bây giờ các đầu bếp đã không ngần ngại sử dụng chúng.

    Ảnh: Kunal Chandra

    Định nghĩa: Ẩm thực phương Đông là món ăn theo phong cách Châu Á và ẩm thực phương Tây là món ăn theo phong cách Châu Âu.

    Các loại gia vị và thảo mộc: Món ăn phương Đông sử dụng ít gia vị và thảo mộc hơn, trong khi thực phẩm phương Tây sử dụng nhiều loại cây như hương thảo, húng tây…

    Thực phẩm chủ đạo: Ẩm thực phương Đông sử dụng nhiều mì và gạo, trong khi thịt và thịt bò được sử dụng nhiều trong các món ăn phương Tây.

    Nước sốt: Nước sốt được sử dụng như một phần của món ăn trong ẩm thực phương Đông, trong khi ẩm thực phương Tây chúng được sử dụng làm gia vị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa ++ I Và I ++ Là Gì?
  • Come Over Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Come Over Và Overcome
  • Đàn Piano Điện Khác Đàn Organ Như Thế Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Điện Và Đàn Organ
  • Cách Để Phân Biệt “on Time” Và “in Time”
  • Văn Hóa Ẩm Thực Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Điểm Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Phương Tây
  • Những Điểm Khác Biệt Trong Hệ Thống Giáo Dục Ở Mỹ So Với Việt Nam
  • “so Sánh Văn Hóa Hai Nước Việt Nam Và Nhật Bản Với Tiêu Chí Cư Dân Và Đặc Trưng Văn Hóa”
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Phương Đông

    Phương Đông, đặc biệt là châu Á từ lâu đã xuất hiện “Nền văn minh lúa nước”. Chính vì vậy, buổi ăn chính của người phương Đông là cơm hoặc các sản phẩm được làm từ gạo như bún, phở, bánh canh… Bên cạnh đó, với hệ thống sông ngòi dày đặc, thủy sản, nhiều nhất là cá cũng nằm trong bữa ăn chính. Ở châu Á, khí hậu nhiệt đới giúp cho người dân có thể dễ dàng trồng trọt nên rau cũng là một thành phần tất yếu trong bữa cơm hàng ngày.

    Phương Tây

    Cây lúa mì là loại cây lương thực được trồng chủ yếu ở phương Tây nhờ vào khí hậu ôn đới. Vì vậy, bánh mì, sandwich luôn nằm trong những buổi ăn chính, đặc biệt là buổi sáng. Họ có thể ăn kèm với các loại sốt như socala, dâu, cà chua… Và đối với người phương Tây, thịt là thành phần quan trọng nhất của bữa ăn, phổ biến có thể nói đến thịt bò, cừu hay gà.

    Các thành phần kết hợp và gia vị

    Phương Đông

    Người phương Đông thường không chú trọng tính nổi trội của món ăn mà tập trung vào sự hài hòa của món đó. Chính vì vậy, họ nấu ăn bằng cách sử dụng nhiều thành phần với hương vị phổ biến và tương đồng. Họ thường nêm nếm đầy đủ các vị, sử dụng hạt nêm, muối, đường, bột ngọt, nước mắm… và hay rắc tiêu lên các món ăn cho thơm. Đặc biệt, trong một mâm cơm luôn hiện hữu các loại nước chấm như nước mắm, tương, chao…

    Phương Tây

    Trái ngược với người phương Đông, người phương Tây luôn muốn hương vị món ăn của mình phải thật đặc biệt nên đầu bếp thường kết hợp các nguyên liệu có thuộc tính mâu thuẫn với nhau. Họ hay kết hợp những thành phần như bơ, sữa, trứng và mỗi món ăn luôn ăn kèm với một loại nước sốt riêng biệt.

    Về quan niệm ẩm thực

    Phương Đông

    Người phương Đông có nền ẩm thực hướng đến “quan niệm ẩm thực thẩm mỹ”. Giá trị dinh dưỡng ít được quan tâm trong các bữa ăn phương Đông. Họ thường đánh giá món ăn bằng hương vị, màu sắc, hình thức, cách trình bày bát đĩa…Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa hai nền ẩm thực.

    Phương Tây

    Ngược lại với người phương Đông, người phương Tây đề cao chất lương bữa ăn lên hàng đầu. Vì vậy, thực đơn của họ được chọn lọc rất kỹ lưỡng cân bằng các hàm lượng dinh dưỡng cho bất cứ bữa ăn nào, đôi khi hương vị không quá thơm ngon. Đó chính là “quan niệm ẩm thực lý tính” ở các nước châu Âu. Thống kê chỉ ra rằng, 13 thành phần như bơ, sữa, trứng được sử dụng 74.4% thực đơn ở phương Tây.

    Văn hóa ăn uống

    Phương Đông

    Trong bữa ăn, người phương Đông chủ yếu dùng đũa. Họ thường dọn sẵn một mâm cơm có đầy đủ các mónnhư cơm, canh, đồ ăn.. trong một tô, dĩa hoặc nồi lớn, những người ngồi trong bàn sẽ dùng vá, thìa để múc thức ăn vào chén của mình.

    Đối với người phương Đông, buổi tối là thời gian tụ họp gia đình nên họ thường nói chuyện, tạo sự gần gũi, vui vẻ và thân mật. Trong bữa ăn, thường phải có ý tứ, ăn nói từ tốn, tránh phát ra tiếng động. Nhưng cũng có một số quốc gia ngoại lệ như Nhật Bản, khi ăn họ thường phát ra tiếng động để khen ngợi món ăn ngon và bày tỏ sự biết ơn đối với người đầu bếp.

    Phương Tây

    Người phương Tây dùng dao, nĩa để ăn từng phần, từng miếng nhỏ. Do ảnh hưởng bởi các quy tắc tầng lớp quý tộc châu Âu nên họ thường ăn thật khéo léo, gọn gàng, không phát ra tiếng động, đặc biệt tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc về dùng dao-nĩa-thìa, khăn ăn, đồ uống… và tuyệt đối không nói chuyện khi ăn, gây mất lịch sự, khiếm nhã.

    Hình thức trình bày món ăn

    Phương Đông

    Cách trình bày của người phương Đông rất đa dạng và khá phức tạp. Họ thường sử dụng thẩm mỹ hình học trong cách trang trí, ví dụ như cà rốt thường cắt hình tròn, củ hành thì cắt hình mo cau… Ngoài ra, họ thường kết hợp nhiều nguyên liệu cho một món ăn, thường để ớt, rau ngò cho nhiều màu sắc và rắc tiêu phía trên món ăn.

    Phương Tây

    Ẩm thực phương Tây đề cao sự đơn giản hóa khi bày biện, trang trí món ăn..Đối với thịt bò hay cừu họ thường để một miếng to, sau đó dùng dao, nĩa cắt miếng nhỏ để thức ăn dễ dàng lan tỏa trong miệng. Khác với người phương Đông, mỗi phần ăn của họ rất ít, cách trang trí đơn giản nhưng tỉ mĩ và khéo léo, họ cũng thường lấy nước sốt để trang trí.

    Xu hướng ăn uống

    Phương Đông

    Người phương Đông trong bữa ăn không chú trọng nhiều vào thịt mà là rau quả tự nhiên, thực phẩm trước khi chế biến phải tươi sống. Đa phần họ đều tự mình chế biến.

    Phương Tây

    Phương Tây được biết đến là thiên đường các quán ăn nhanh nên họ thường không tự mình chế biến mà mua sẵn về nhà. Đặc biêt, người phương Tây thường chọn mua đồ hộp và thức ăn nhanh để bớt tốn thời gian nấu nướng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Trong Khẩu Vị Người Phương Đông Và Phương Tây
  • Thị Trường Chứng Khoán Là Gì? So Sánh Thị Trường Chứng Khoán Sơ Cấp Và Thứ Cấp
  • Phân Biệt Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Nam Châm Điện Là Gì? So Sánh Nam Châm Điện Và Nam Châm Vĩnh Cửu
  • Sự Khác Biệt Giữa Nam Châm Vĩnh Cửu Và Nam Châm Điện
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • + Phương Đông: ĐKTN thuận lợi, mưa thuận gió hòa, ở gần lưu vực các con sông nên đất phù sa màu mỡ, khí hậu nóng ẩm. Khó khăn: lũ lụt, thiên tai,…

    + Phương tây: nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu.

    – Kinh tế:

    + Phương Đông: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và chăn nuôi.

    + Phương Tây: Kt chủ yếu là công nghiệp, thương nghiệp, buôn bán.

    – Về xã hôi:

    + Phương Đông có 3 giai cấp:

    _ Quý tộc (vua, quan lại): đứng đầu giai cấp thống trị bóc lột, có nhiều của cải và quyền thế.

    _ Nông dân công xã (nhận ruộng đất của làng xã về canh tác): là lực lương đông nhất trong xã hôi, có vai trò to lớn trong sản xuất và phải nộp thuế.

    _ Nô lệ (nông dân nghèo, không trả dc nợ): là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, phải làm việc nặng nhọc, hầu hạ cho quí tộc.

    + Phương Tây cũng có 3 giai cấp:

    _ Chủ nô: là những người rất giàu, có thế lực về kinh tế.

    _ Bình dân: dân tự do có nghề nghiệp, tài sản, tự sinh sống bằng lao động của bản thân.

    _ Nô lệ: là lực lương rất đông đảo, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của đời sống, hoàn toàn phụ thuộc vào người chủ của mình, không có chút quyền lợi cá nhân nào.

    – Về chính trị:

    + Phương Đông là chế độ quân chủ Trung Ương tập quyền. Vua là chủ tối cao của đất nước, có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Vua dựa vào quí tộc và tôn giáo đề cai trị đất nước, ngoài ra giúp việc cho vua còn là một bô máu hành chính quan liêu.

    + Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

    Nguồn:

    Nói nền kinh tế phát triển còn được bởi vì với điều kiện của phương Tây thuận lợi cho phát triển kinh tế (nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu). Trong khi kinh tế Châu Á chủ yếu là nông nghiệp, có buôn bán nhưng không bằng.

    Còn văn hóa ư ? Đều ngang nhau hết.

    Kiến trúc : thành Rome, đấu trường La Mã, tượng Zeus, đền thờ Athens, thành Babylon, tháp thông thiên, Vạn Lý trường thành, lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Cung A Phòng, lăng Li Sơn, Đền Taj Maha…

    Thành tựu : thuốc súng, la bàn, giả kim thuật, dụng cụ thiên văn học, chữ cái, con số,…

    Văn hóa : các tác phẩm quân sự chính trị như binh pháp Tôn Tử, Tam Thập Lục Kế, Cuộc chiến ở Gauls, còn nhiều nữa.

    + Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

    Cái này là thời Cộng Hòa La Mã, quyền lực tập trung vào viện Nguyên Lão do dân bầu, chứ thời La Mã Cổ đại với Hi Lạp nó khác hoàn toàn

    .

    . Đang nói thời Cổ Đại và so sánh văn hóa

    .

    Thay đổi nội dung bởi: abluediamond, 14-08-2013 lúc 23:06.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Đánh Giá So Sánh Iphone 6 Và 6S
  • So Sánh Iphone 6S Plus Và Iphone 7, Cái Nào Vượt Trội Hơn Hẳn?
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Khác Với Ẩm Thực Phương Đông?

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Giữa Chế Độ Phong Kiến Phương Đông Và Phương Tây
  • Luận Văn Tiểu Luận Sự Khác Biệt Âm Nhạc Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Nhau Giữa Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Nên Lựa Chọn Mua Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Nào Tốt Giữa Mono Và Poly
  • Sự Khác Biệt Giữa Các Tấm Pin Mặt Trời Mono Và Poly Là Gì?
  • Để có thể tạo ra các món ăn hoàn hảo mà chiến thắng trái tim, các đầu bếp phải chú ý đến các thành phần khác nhau và các loại gia vị. Vì vậy, nhiều người có thể nghĩ rằng có những quy tắc nhất định trong nghệ thuật ẩm thực. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi biết những quy tắc cơ bản không được khá nhiều đưa vào tài khoản trong việc tạo ra hương vị khác nhau trong các nền văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây.

    Theo thống kê, 13 thành phần chính trong ẩm thực phương Tây như bơ, sữa, trứng – được sử dụng trong 74,4% thực phẩm – vắng mặt trong hầu hết các món ăn phương Đông.

    Ẩm thực châu Âu, hoặc Ẩm thực phương Tây là một thuật ngữ tổng quát đề cập đến ẩm thực của châu Âu và các quốc phương Tây, bao gồm cả (tùy thuộc vào định nghĩa) Nga, cũng như ẩm thực không bản địa của Úc, châu Mỹ, Nam Phi và châu Đại Dương, mà có ảnh hưởng đáng kể từ những người định cư châu Âu ở các khu vực này. Thuật ngữ được sử dụng bởi người Đông Á để diễn tả sự trái ngược với phong cách nấu ăn châu Á. (điều này giống như người phương Tây đề cập chung các món ăn của các nước Đông Á là ẩm thực châu Á)

    Các món ăn phương Tây đa dạng, mặc dù có những đặc điểm chung để phân biệt với món ăn của các quốc gia châu Á và những loại khác. So với nấu ăn truyền thống của các nước châu Á, ví dụ, thịt được phục vụ nổi bật và quan trọng hơn.Bít tết và côtlet là các món ăn đặc biệt phổ biến ở phương Tây. Ẩm thực phương Tây cũng chú trọng rượu vang và các nước sốt như là gia vị, và các món ăn kèm (Vì các món Tây thường sử dụng miếng thịt to nên gia vị khó ngấm). Nhiều sản phẩm từ sữa được sử dụng trong quá trình nấu ăn, ngoại trừ trong ẩm thực nouvelle. Pho mát được sản xuất hàng trăm loại khác nhau, và các sản phẩm sữa lên men cũng có nhiều lựa chọn. Bánh mì từ lúa mì là nguồn tinh bột phổ biến nhất trong ẩm thực này từ lâu đời, cùng với pasta, bánh bao và bánh nướng, mặc dù khoai tây đã trở thành một nguồn trong bữa ăn của người châu Âu và sự lan truyền của nó kể từ thực dân châu Âu đô hộ châu Mỹ . Ngô ít phổ biến hơn nhiều trong hầu hết bữa ăn ở châu Âu so với ở châu Mỹ, tuy nhiên món ăn từ ngô (polenta hoặc mămăligă), là một phần quan trọng của các món ăn của nước Ý và Balkans. Mặc dù bánh dẹt (đặc biệt là với nhân phía trên mặt như pizza hoặc tarta flambée), và cơm được ăn ở châu Âu, chúng không phải món ăn thiết yếu. Salad trộn là một phần bổ sung của ẩm thực châu Âu.

    Cách trang trí & phục vụ

    Bữa tối châu Âu trang trọng được chia thành nhiều phần. Cách trình bày của châu Âu bao gồm mang tất cả các món ra cùng lúc hoặc mang lần lượt từng món. Thông thường các món lạnh, nóng và mặn, ngọt được phục vụ riêng biệt nghiêm ngặt theo thứ tự: khai vị hoặc súp, món chính và tráng miệng. Món ăn vừa ngọt vừa mặt phổ biến trong ẩm thực La Mã cổ đại, nhưng ngày nay không phổ biến, với các món ngọt chỉ được phục vụ là món tráng miệng. Một dịch vụ mà các hành khách có thể tự do lấy thức ăn mình muốn được gọi là buffet, và thường là trong những bữa tiệc hoặc kỳ nghỉ.

    Trong lịch sử, ẩm thực châu Âu đã được phát triển trong hoàng tộc và cung điện. Quý tộc châu Âu thường có các cử chỉ khác với ở vùng quê. Dao là dụng cụ cơ bản để ăn bist tết và các món khác. Ngược lại ở phương Đông, đồ ăn được cắt sẵn từ bếp và ăn bằng đũa. Dao được thay thế bằng thìa cho súp, trong khi dĩa đã được giới thiệu muộn hơn trong thời kỳ cận đại, thế kỷ 16. Ngày nay, ăn bốc bằng tay là không chấp nhận được.

    Sự khác nhau trong khu vực, thời tiết

    Với sự khác biệt về thời tiết và khu vực, mỗi quốc gia đều có lợi thế riêng của họ trong việc phát triển và sản xuất các thành phần khác nhau. Ví dụ: lúa mạch, lúa mì, các loại hạt, các loại đậu, rau và hải sản …, dẫn đến các phương pháp khác nhau và phong cách nấu ăn thực phẩm.

    Văn hóa khác nhau

    Ở châu Á, đặc biệt là Việt Nam, một bữa ăn truyền thống bao gồm cơm – rau – cá. Người châu Á không tiêu thụ thịt như món chính nhưng tập trung vào rau quả tự nhiên.

    Ngược lại, trong ẩm thực châu Âu, thịt là phần quan trọng nhất của bữa ăn. Các loại phổ biến nhất của thịt là thịt bò và thịt cừu. Đầu bếp châu u cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nước sốt miễn phí để nâng cao hương vị của thịt. Sản phẩm sữa thường được sử dụng trong quá trình nấu. Ngũ cốc và bánh mì từ lâu đã là món ăn ngon quen thuộc bên ngoài ăn với những món ăn chính cũng như mì và bánh ngọt. Đó là những khác biệt đã tạo ẩm thực châu Á luôn luôn hấp dẫn đối với những người châu Âu và ngược lại.

    Nếu bạn tò mò về những hương vị của các món ăn ngon châu Âu, đến với website chúng tôi để tìm hiểu và lựa chọn hương vị tinh tế cho bạn với danh sách rất nhiều nhà hàng sang trọng ở hà nội với các phong cách và hương vị khác nhau.

    Chúng tôi cung cấp những thông tin tốt nhất về các món ngon hà nội, nhà hàng sang trọng hà nội và các chương trình khuyến mại, sự kiện hấp dẫn nhất cho người dùng với hi vọng đem cả thế giới ẩm thực cao cấp vào trong nhà bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Ẩm Thực Phương Đông
  • Sự Khác Biệt Giữa ++ I Và I ++ Là Gì?
  • Come Over Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Come Over Và Overcome
  • Đàn Piano Điện Khác Đàn Organ Như Thế Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Điện Và Đàn Organ
  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)
  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Văn Hóa Mỹ Và Việt – Những Điểm Khác Biệt Trong Giao Tiếp
  • Phương Tây Với Văn Hóa Việt Nam – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • Sự Khác Biệt: Văn Hóa Việt Nam
  • Trong lĩnh vực quản trị nhân sự, hiện có những tranh cãi sôi nổi về những sự xung đột giữa các giá trị truyền thống của văn hóa quản l‎ý phương Tây và những giá trị về tinh thần, “giá trị chia sẻ” từ phần còn lại của thế giới, có hay không, việc giá trị phương Tây đã và đang phủ nhận tầm quan trọng của các nền văn hóa tinh thần trong một thế giới “phẳng” ngày nay. Bằng cách đi sâu vào phân tích “những tẳng băng chìm” của sự vận động xã hội và con người, bài viết sẽ phân tích những khái niệm quản trị nhân sự truyền thống và hiện đại của phương Tây, so sánh những khác biệt giữa mô hình của phương Đông và phương Tây, và nêu ra sự cần thiết cho một cách tiếp cận hài hòa nhằm hoàn thiện những hoạt động quản trị nhân sự ở cả cấp tổ chức doanh nghiệp cũng như quản lý vĩ mô. Bài viết cũng khái quát những cơ sở l‎ý luận từ nhiều học giả trên thế giới, và những ví dụ thực tế từ các quốc gia và doanh nghiệp để trình bày quan điểm của mình. Châu Âu sẽ là đối tượng được tập trung phân tích sâu trong nghiên cứu này.

    2. Cơ sở lý luận và phân tích

    Kinh tế và chính trị là hai động lực chính giúp cho xã hội loài người phát triển mạnh mẽ từ kỷ nguyên nông nghiệp đến công nghiệp, từ công nghệ đến tri thức. Kết quả của quá trình này là toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, quá trình giảm bớt các quy định luật lệ, sự thay đổi về công nghệ, hay sự vận động tự do của các luồng tài chính toàn cầu…

    Để đơn giản hóa quá trình này, có thể ví hiện tượng “toàn cầu hóa” giống như lời của nhà văn vĩ đại Lep Tolstoy trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”: “nó bắt đầu từ phương tây, tích tụ lại, phát triển ngày càng lớn hơn”, và cuối cùng lan truyền ra khắp thế giới nhanh như một virus máy tính. Tuy nhiên, trên chặng đường lan tỏa của mình, nó bắt đầu vấp phải rất nhiều sự chống cự từ những “cây Oliu” cũ kĩ đại diện cho hệ thống những giá trị truyền thống của lịch sử, địa lý, và ngôn ngữ riêng của mình (Friedman, 1999).

    Chính những khác biệt về địa l‎ý, văn hóa và hệ thống tôn giáo, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều giữa các khu vực và các quốc gia đã biến thế giới phát triển thành hai hệ thống tư tưởng hoàn toàn trái ngược nhau: giá trị phương tây (gồm có các nước Châu Âu, Bắc Mỹ) và giá trị phương Đông hay phần còn lại của thế giới (gồm các nước châu Á, Châu Phi, Ấn Độ…). Tác giả sẽ xem xét khái quát về hai trường phái này dựa trên cơ sở lý luận của quản trị nhân sự so sánh và hợp nhất.

    Theo Bratton (2003), có khá nhiều quan điểm khác nhau về phong cách quản l‎ý giữa các công ty của châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Bắc Mỹ đối với chiến lược quản trị nhân sự của họ, “nghiên cứu quản trị nhân sự so sánh” vì vậy sẽ tập trung làm rõ “bản chất bên trong” và “nguyên nhân” dẫn đến sự khác biệt này giữa các vùng địa l‎ý quốc gia.

    2.1 Văn hóa quản lý phương Tây:

    Nói chung, văn hóa quản l‎ý phương Tây vốn được dựa trên nền tảng các giá trị “Châu Âu cổ đại”, thể hiện ở các mặt của đời sống bao gồm các quy tắc xã hội, tục lệ truyền thống, niềm tin tôn giáo, và hệ thống chính trị. Khái niệm truyền thống về văn hóa Châu Âu gắn liền với các đế chế Châu Âu cổ đại với những “tiến bộ công nghệ và kinh tế vượt bậc” và hàng loạt những ‘cuộc xung đột quốc tế đẫm máu” ở thế kỉ 20 và trước đó.

    Phần nào đúng khi nói rằng, văn hóa quản lý phương Tây có xu thế “truyền bá và phổ biến văn hóa theo kiểu định hướng nhà nước, có tính chất đặc biệt, thực chứng, áp đặt từ trên xuống, hướng theo mô hình Bắc Âu, làm việc đúng giờ như máy móc và tiếp cận phổ quát”.

    Quan điểm này bắt nguồn từ thời kì “kỉ nguyên của cá nhân” khi xã hội châu Âu chứng kiến những nhà chính trị sử dụng các công cụ quản l‎ý để vận động những đám đông bằng cách khéo léo liên kết những sản phẩm sản xuất hàng loạt theo dây chuyền với những nhu cầu vô thức bên trong của con người (Curtis, 2002). Như đã đề cập ở trên, động lực phát triển của xã hội Châu Âu là kinh tế, định hướng thị trường, và cạnh tranh khốc liệt. Con người chỉ được đối xử và coi như những “cỗ máy vui vẻ” hay “đơn vị kinh tế” để đáp ứng những mục đích kinh tế và chính trị. L‎ý thuyết và quan điểm này vẫn còn được sử dụng trong phương pháp quản l‎ý của Châu Âu hiện đại, khi các cá nhân chỉ được coi như những “đơn vị kinh tế”, “có thể thay đổi được”, hay “hoán đổi được” trong những cỗ máy là các tổ chức kinh tế ngày nay (Elkin, 2007). 

    Do mục tiêu tối cao là lợi nhuận và kết quả, phương Tây đã xây dựng những mô hình kinh doanh rất hiệu quả tập trung vào xử l‎ý công việc và kết quả đầu ra. Những khái niệm quản l‎ý như “quản lý cá nhân” hay “làm việc nhóm” đã đươc áp dụng rất thành công nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả, tối đa hóa hoạt động kinh doanh, tạo ra nhiều lợi nhuận cũng như giảm thiểu các chi phí hoạt động.

    Tóm lại, văn hóa quản lý của châu Âu lấy động lực phát triển chính là kinh tế và chính trị. Điểm mạnh của mô hình này là tăng trưởng về lợi nhuận kinh tế, thích ứng nhanh nhạy với thay đổi của thị trường, phân phối hàng hóa và dịch vụ rộng rãi cho người tiêu dùng, tuy nhiên mặt thiếu sót của mô hình này là chưa chú trọng đầy đủ đến các khía cạnh an sinh xã hội và con người.

    2.2 Văn hóa phương Đông và phần còn lại của thế giới:

    Có những quan điểm tiếp cận khác về cách thức quản l‎ý từ phần còn lại của thế giới, như tại Châu Á, Châu Phi, hay Ấn Độ… Ưu tiên tối cao của văn hóa phương Đông là tập trung vào “toàn bộ con người” như  “suy nghĩ, cơ thể, xúc cảm và tinh thần” và các mối quan hệ của con người với cộng đồng xung quanh hơn là những mục tiêu đơn thuần về lợi nhuận kinh tế. Họ gọi tên chúng rất khác nhau, nhưng đều xoay quanh những giá trị cốt lõi của con người, và ‎ý nghĩa về cái tôi, cái bản thể trong đời sống xã hội.

     

    Chẳng hạn với một lịch sử lâu đời, và sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo, người Ấn Độ coi trọng những gắn kết truyền thống, cảm xúc con người và duy trì những mối quan hệ dài lâu trong cộng đồng (Chaudhuri, 2010), như những giá trị về gia đình, sự khiêm nhường, tôn trọng lẽ phải và kính trọng những người lớn tuổi, sự hài hòa về tinh thần, ít ganh đua, tinh thần hợp tác…Ngoài ra, họ quan niệm bản chất công việc là để phục vụ cho “thượng đế”, không nhằm mục đích về kinh tế cá nhân mà để tăng trưởng những giá trị về tinh thần. Trong môi trường làm việc, người Ấn Độ quan tâm tới sự đồng cảm về cảm xúc hơn là năng suất công việc. Đối với họ, tầm quan trọng của tổ chức là để đáp ứng nhu cầu xã hội và bày tỏ sự tự tôn giữa các cá nhân với nhau.

    Quan điểm “đạo Khổng” của người Trung Quốc chia sẻ nhiều điểm tương đồng với người Ấn Độ, họ đề cao lễ nghĩa, các giá trị thuộc về gia đình, cách đối nhân xử thế trong cộng đồng. “Một người muốn nhận được sự tôn trọng của mọi người, trước hết phải biết tôn trọng người khác”. Đạo Khổng dựa vào hai nguyên l‎ý căn bản: “Nhân” (humanism), “Lễ” (propriety). Theo người Trung Quốc, chủ nghĩa nhân văn được thể hiện một cách sâu sắc bằng lễ nghĩa. Và chủ nghĩa cá nhân cực đoan bỏ qua suy nghĩ, tình cảm của người khác được coi như bất lịch sự hay vô lễ ở Trung Quốc, thì điều này dường như lại được coi như là khá bình thường tại xã hội Bắc Mỹ. Trong môi trường kinh doanh, một nghiên cứu quy mô kinh doanh hộ gia đình cho thấy, những giá trị văn hóa của Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ ràng trong thực tiễn các hoạt động quản lý và tổ chức như việc trao quyền quyết định cao, thực hành phong cách lãnh đạo gia trưởng, chủ nghĩa tập thể và làm việc theo nhóm mạnh, và quản lý theo định hướng gia đình hay “lấy gia đình là trọng tâm” (Wah, 2001).    

    Châu Phi cũng có một thuật ngữ tương tự là “Ubuntu” với hàm nghĩa “chân giá trị con người” và “chia sẻ cộng đồng”, giá trị này đã bám rễ lâu đời vào các giá trị văn hóa Châu Phi. “Umuntu ungumuntu ngabantu” được tạm dịch là “con người chỉ thực sự trở thành con người đầy đủ thông qua những người xung quanh” có nghĩa là sự tồn tại của một con người phụ thuộc vào mối quan hệ xã hội của người đó với cộng đồng. Dưới ảnh hưởng những quan điểm như vậy, người Châu Phi không quan niệm làm việc chỉ vì đồng tiền, mà chân giá trị, lòng tự trọng, bổn phận, và tự do là những giá trị cần phải được thỏa mãn trước tiên. (Elkin, 2007)

    Tóm lại, những giá trị cốt lõi của văn hóa phương Đông hay phần còn lại của thế giới dựa trên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc về con người và gắn với cộng đồng. Điểm mạnh của nó là sự phát triển đầy đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỉ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan.

    2.3 So sánh giữa phương Đông và phương Tây

    Để có thể dung hòa hai giá trị phương đông và phương tây, đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu đâu là “căn nguyên cơ bản” dẫn đễn những sự khác biệt như vậy giữa hai nền văn hóa lớn của nhân loại. Bài viết sẽ phân tích hai “căn nguyên cơ bản” nhìn từ góc độ của kinh tế học và hệ tư tưởng.

    2.3.1 “Văn hóa nông nghiệp” phương Đông và “văn hóa công nghiệp” phương Tây: một góc nhìn từ kinh tế học   

    Một trong những sự khác biệt căn bản giữa văn hóa phương đông và phương tây theo góc nhìn của kinh tế học là “sự đúng giờ”. Hầu hết người châu Á (ngoại trừ Nhật Bản) và Châu Phi đều không có thói quen “đúng giờ” trong cả công việc lẫn đời sống hàng ngày. Điều này được giải thích một phần là do dấu ấn của nền kinh tế và xã hội nông nghiệp tự cung tự cấp, tiểu nông, vốn đã ăn sâu vào lề lối tập quán sinh hoạt của người châu Á (hay Châu Phi) từ hàng ngàn năm qua.

    Tại phương Tây, xã hội xem “đúng giờ” như là một đức tính cần thiết của mọi công dân, và “đồng hồ”, một sản phẩm tiêu biểu đại diện cho nền kinh tế công nghiệp cũng bắt nguồn từ phương Tây. Trong xã hội công nghiệp và phương thức sản xuất hàng loạt theo dây chuyền, người phương Tây ‎ý thức rất cao về giờ giấc và quản l‎ý thời gian. Người này đúng giờ, người kia cũng cần bắt kịp và cả guồng máy đều vận hành theo khung thời gian chuẩn mực. Một mắt xích chậm chạp có thể dẫn đến những hậu quả to lớn cho cả hệ thống, vì thế sự chính xác về thời gian được đòi hỏi rất cao, thậm chí đến từng giây.  

    Trong xã hội phương tây, ta có thể dễ dàng nhận thấy hình ảnh đồng hồ hiện diện ở mọi nơi. Nhịp điệu cuộc sống hối hả, đường cao tốc, ăn nhanh, café nhanh ngày nay của xã hội phương tây chính là hệ quả của một nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Đồng hồ Big Ben, biểu tương của nước Anh là đại diện cho nền công nghiệp đã sớm phát triển tại quốc gia phương Tây này. Ở trường học, từ bé học sinh đã được rèn luyện tính đúng giờ, và khả năng hoàn thành bài tập đúng hạn là một trong những yếu tố rất quan trọng để đánh giá sự thành công của trẻ trong tương lai.

    Ngược lại, tại các quốc gia Châu Á, Châu Phi hay Nam Mỹ, con người lại bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhịp điệu tự nhiên, điều này có nguyên nhân ảnh hưởng từ phương thức sản xuất của nền kinh tế nông nghiệp. Hàng nghìn năm qua, họ không cần “đồng hồ” mà làm việc và nhịp điệu sinh hoạt dựa trên những thay đổi của tự nhiên hay thời tiết, bởi mặt trăng và mặt trời (Quốc, 2010). Có một câu ca dao của Việt Nam đã mô tả đầy đủ tính chất này của nhà nông như sau: “trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Họ thức dậy lúc gà gáy, ra đồng lúc mặt trời lên, nghỉ trưa lúc mặt trời đứng bóng, và về nhà nghỉ ngơi ăn tối trước lúc mặt trời lặn. Yếu tố về địa lý khí hậu nóng, lạnh cũng là một nguyên nhân dẫn tới xu hướng lối sống gần với thiên nhiên hơn của người phương Đông so với người phương Tây.

     

     

    (Liu, 2010)

    Cách nhìn từ kinh tế học này lí giải thích vì sao người phương Đông có xu hướng sống gần với thiên nhiên hơn, còn người phương Tây thường tuân thủ quy chuẩn về thời gian một cách nghiêm khắc hơn. Điều này dẫn đến những hệ quả khác nhau: người phương Đông thường sử dụng cảm xúc, tư duy trực giác và kinh nghiệm chủ quan trong khi người phương Tây thường sử dụng tư duy logic, luận chứng và thực nghiệm.

    2.3.2 “Chủ nghĩa cộng đồng” phương Đông và “chủ nghĩa cá nhân” phương Tây: một góc nhìn từ hệ tư tưởng

    Trong bộ phim “giải cứu binh nhì Ryan”, Ryan là con trai của một gia đình Mỹ mà cha và hai anh trai vừa mới hy sinh trong khi phục vụ quân đội tại thế chiến thứ hai. Cùng thời điểm đó, Ryan bị rơi vào một trận địa nguy hiểm và nếu anh ta hy sinh, thì sẽ không còn ai sống sót để nối dõi cho dòng họ Ryan. Người mẹ của Ryan cùng một lúc nhận được tin xấu của chồng và con, và vì thế sẽ không chịu được nỗi đau nếu Ryan cũng phải hy sinh. Lãnh đạo quân đội Mỹ đã quyết định cử một tiểu đội bằng mọi giá phải cứu được binh nhì Ryan về với gia đinh. Kết thúc phim, Ryan được cứu sống và gần cả tiểu đội đã hy sinh vì sự sống của một binh nhì mới nhập ngũ. (Spielberg, 1998)

    Ở nửa bên kia quả địa cầu, tại cuộc chiến tranh Việt Nam, trong một trận chiến ác liệt của quân đội Mỹ tại thị xã Trà Lĩnh, hàng trăm người dân và bộ đội Việt Nam đang trú ẩn trong hang Hòn Kèm. Lính Mỹ vẫn tìm kiếm và bắn phá ác liệt bên ngoài hang, thì đứa bé mới ba tháng của bà Năm bỗng cứ khóc thét lên. Mọi người sợ tiếng khóc sẽ làm lính Mỹ phát hiện ra nơi trú ẩn và tính mạng của hơn 200 người dân và bộ đội sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm. Vào một đêm đông năm 1969, người mẹ này đã hy sinh đứa con rút ruột của mình để cứu sống hàng trăm người dân vô tội (Dien, 2008).

    Hai câu chuyện đều kể về chiến tranh, và sự hy sinh cao cả của con người nhưng mang những ý nghĩa rất khác nhau về hệ tư tưởng từ hai phía. Trong xã hội chủ nghĩa tập thể, con người coi trọng những cá nhân có thể sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình vì lợi ích của cả tập thể (Elkin, 2007), ngược lại tại xã hội phương Tây, vai trò của cá nhân được đặt lên trên hết, nhu cầu và ước muốn của cá nhân phải được thỏa mãn trước tiên.

    2.4 Sự cần thiết cho một cách tiếp cận hài hòa

    Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Friedman đã nhấn mạnh rằng vấn đề khó khăn nhất của bất kì một quốc gia hay cá nhân là có thể tìm kiếm được sự cân bằng lành mạnh nhất giữa việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị gốc rễ, gia đình và cộng đồng” và “thực hiện những gì cần thiết để tồn tại trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay”. Họ cần phải cố gắng làm ra chiếc Lexus tốt hơn cũng như gìn giữ những cây Oliu cổ kính của mình (Friedman, 1999).

    Sau khi thấy rõ sự khác biệt căn bản, nguyên nhân, cũng như điểm mạnh và điểm yếu của từng mô hình quản lý, chúng ta thấy sự cần thiết phải xây dựng một mô hình hài hòa bằng cách kết hợp những điểm tinh túy nhất của cả hai giá trị phương Đông và phương Tây trong một thế giới đa cực ngày nay.

    Trở lại câu hỏi rằng phương tây có xu hướng “truyền bá và phổ biến văn hóa theo kiểu định hướng nhà nước, có tính chất đặc biệt, thực chứng, áp đặt từ trên xuống, hướng vào mô hình Bắc Âu, làm việc đúng giờ như máy móc và tiếp cận phổ quát”. Điều nay là đúng một phần ở kỉ nguyên công nghiệp và công nghệ tại châu Âu, tuy nhiên văn hóa quản lí hiện đại ngày nay đặc biệt là những giá trị châu Âu cũ đã được thay đổi thành những mô hình mới chú trọng hơn vào các yếu tố xã hội với con người và lấy phúc lợi xã hội làm trung tâm. Các mô hình này khác xa với các mô hình “phương tây khác” như tại Mỹ hay Nhật Bản (Bowden and Mulnix, 2005). Tại châu Âu, có ít nhất bốn mô hình xã hội như: “dân chủ xã hội” (các nước Bắc Âu), “bảo thủ” (các nước Châu Âu lục địa), “tự do” (Anh quốc), “gia đình trung tâm” (các nước khu vực Địa Trung Hải như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) và khu vực Đông Âu (một số nước mới chuyển đổi mới gia nhập EU), trong đó mô hình “dân chủ xã hội” của Bắc Âu đang thể hiện tình ưu việt hơn cả trong viêc xóa đói nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp, cũng như duy trì sự phồn thịnh và phát triển của xã hội. Đặc điểm nổi bật của mô hình này dựa vào ba trụ cột vững chắc: phúc lợi xã hội, hệ thống y tế đảm bảo, phổ cập giáo dục với nhiều ưu tiên vào “phát triển nguồn lực con người” (Dinh, 2010).

    Thách thức của châu Âu là làm sao vẫn giữ vững được bản sắc quốc gia và thúc đẩy sự đa dạng của cả khối châu Âu, cân bằng được “những cơ hội hội nhâp” và “sự đa dạng” vốn có của cả khối (Boone and Bosch, 1997).

    Năm 2008 được Ủy ban châu Âu đặt tên là “năm châu Âu đối thoại liên văn hóa” với các hoạt động tăng cường sự đa dạng văn hóa, thúc đẩy quá trình cùng hợp tác và chung sống, khuyến khích công dân Châu Âu tích cực hơn nữa trong một liên minh châu Âu ngày càng hội nhập (Europa, 2008).

    2.5 Lý thuyết: “đặt con người vào trung tâm”

    Sự kết thúc của thời kì công nghiệp và sự ra đời của thời kì kinh tế tri thức đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong lý thuyết và thực tiễn của quản trị nhân sự phương Tây. Đã có sự chuyển dịch dần từ phong cách quản lý nhân sự “cứng” sang quản l‎ý nhân sự “mềm”, từ “cách thức phương tiện” khi xem con người chỉ đơn thuần là các “đơn vị kinh tế” tiến tới “chủ nghĩa phát triển nhân văn”, cộng tác tin cậy và phát triển các kĩ năng cá nhân.

            

    Chiến lược quản lý nhân sự hợp nhất hiện đại bao gồm hai yếu tố: kiểm soát (mức độ kiểm soát) và nguồn lực (mua lại và phát triển). Tùy thuộc vào mức độ sử dụng tỉ lệ giữa hai yêu tố trên, sẽ có bốn loại chiến lược nhân sự phù hợp là “trách nhiệm”, “hợp tác”, “mệnh lệnh”, và “cổ điển”. Mỗi một loại chiến lược sẽ được sử dụng phù hợp với từng loại tổ chức và ngành nghệ nhất định.

    Trong đó, chiến lược quản trị nhân sự “cổ điển” hay “truyền thống” như đã được phân tích ở trên, sử dụng phương thức “cứng”, bỏ qua những khía cạnh về con người, theo đó công tác quản trị nhân sự của tổ chức doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào giám sát và kiểm soát người lao động, và “mua lại” (tuyển dụng trực tiếp) từ thị trường lao động hơn là “tạo ra” (đầu tư vào phát triển và đào tạo) nguồn nhân sự của mình (Bratton and Gold 2007)  .

    Mô hình khác là chiến lược quản trị nhân sự có “trách nhiệm”, trong đó tổ chức dựa vào sự phát triển năng lực nhân sự từ các nguồn lực bên trong và không kiểm soát chặt chẽ nhân viên của mình trong một “tổ chức học hỏi và chia sẻ”

    Trong mô hình này, Phương Tây hiện đại một phần nào đó đã bổ sung những yếu tố rất quan trọng như “đạo đức kinh doanh”, “yếu tố tinh thần”, “những giá trị đa văn hóa” trong lý thuyết về lãnh đạo và quản lý của mình.

    Đầu tiên, ở mức độ cá nhân, con người sẽ làm việc tốt hơn và sáng tạo hơn nếu họ nhận ra được những ‎ỹ nghĩa về giá trị cuộc sống thông qua quá trình nhận thức và phát triển bản thân (Elkin, 2007). Những nội lực tinh thần thúc đẩy từ bên trong sẽ giúp cho cá nhân tìm được ‎ý nghĩa trong công việc của họ, biết cách cải thiện mối quan hệ với đồng nghiệp, và truyền cảm hứng về các trách nhiệm công việc. Trong bộ phim “Ngày thứ 3 với Morrie”, cận kề với cái chết, người học trò đã nhận ra được ý nghĩa đích thực của cuộc sống khi phát hiện ra những giá trị của sự tự nhận thức, tình yêu thương với mọi người, học cách chấp nhận với cái chết hơn là đề cao những mục đích về giá trị vật chất (Alborn, 1997).  

    Ở mức độ tổ chức, theo Elkin (2007), một nghiên cứu cho thấy những công ty nào tập trung vào “những giá trị cốt lõi” (những niềm tin phi kinh tế và văn hóa trao quyền), không quá chú trọng vào những “mục tiêu kinh doanh”, sẽ có nhiều cơ hội thể vượt qua những đối thủ cạnh tranh hơn. Thêm vào đó, những tổ chức với “sự thiết kế cơ cấu tập trung vào con người” sẽ đạt được sự hài lòng lớn hơn, cam kết lớn hơn, hiệu quả năng suất lao động cao trong hệ thống của mình. (Neal 1999 và Elkin 2007)

    Trong một nghiên cứu khác về thiết kế tổ chức cho thấy mặc dù những giá trị tinh thần không được thể hiện trực tiếp trong bất kỳ một lý thuyết về tổ chức quản lý nào, và không ảnh hưởng tới thực tiễn hoạt động của tổ chức trong ngắn hạn, nhưng chúng dần tạo ra sự chuyển hóa tổ chức tại một ngưỡng quan trọng như nhiều người thường gọi đó là “sự kỳ diệu”, “ơn chúa” hay “phép màu” (Neal 1999). Những giá trị vô hình đặc biệt này, bằng nhiều cách, sẽ tác động mạnh mẽ tới sự thành công của tổ chức trong triển vọng dài hạn. Hơn nữa, vai trò về giá trị cá nhân trong thiết kế tổ chức có ý nghĩa quan trọng vì những mối quan hệ và sự tương tác của con người mới chính là những hoạt động cốt lõi trong bất kỳ một mô hình tổ chức chính thức hay phi chính thức nào. Cơ cấu tổ chức nội bộ và đạo đức kinh doanh cũng được liên kết chặt chẽ và được thiết kế rõ ràng để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng, thúc đẩy hiệu quả công việc của nhân viên. Xét trên khía cạnh kinh tế, chính “hành vi đạo đức” cũng mang lại những lợi ích kinh tế hay “yếu tố bên ngoài có tác động tích cực” dựa vào danh tiếng của công ty, giúp nâng cao giá trị thương hiệu, tạo ra sự khác biệt và nâng cao nhu cầu của sản phẩm lên đáng kể (Brickley, 2002).

    Cũng có thể nhận thấy, bên cạnh những mục tiêu kinh tế, giá trị tinh thần đã được thể hiện rõ trong những tuyên ngôn về tầm nhìn và nhiệm vụ của nhiều tổ chức lớn, chẳng hạn như các tập đoàn Tata, Infosys (Ấn Độ) với những cam kết của họ đối với hỗ trợ xã hội, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, và những cơ hội được học tập của nhân viên…(Elkin, 2007). Một ví dụ khác nữa là người khổng lồ về công nghệ thông tin, như IBM từ lâu đã nổi tiếng về với những giá trị về sự đa dạng về lực lượng lao động, những giá trị chia sẻ, cơ hội phát triển bình đằng, sự cân bằng cuộc sống và công việc hay thực thi luật về người đồng tính (GLBT) tại môi trường làm việc.

    3. Kết luận:

    Những mặt mạnh và yếu của hai nền văn hóa lớn đã được đưa ra xem xét và phân tích. Có thể trên thực tế phần nào văn hóa quản lý của phương Tây cổ điển thường phổ biến những giá trị châu Âu và phủ nhận những giá trị tinh thần từ các nền văn minh khác trên thế giới. Văn hóa quản lý phương Tây hiện đại đã tiếp nhận, học hỏi và bổ sung những giá trị quan trọng này trong quan điểm quản lý, cả ở lý thuyết và trên thực tiễn tổ chức doanh nghiệp.

    “Thế giới phải là đa cực”, phát biểu của tổng thống Nga mang nhiều ý nghĩa, nhưng có một thông điệp chung về một sự “cân bằng lành mạnh hơn” giữa những chiếc Lexus hiện đại và những cây oliu cổ kính, giữa động lực kinh tế và động lực tinh thần, giữa những giá trị thực chứng của châu Âu và giá trị tinh thần của phương Đông trong một thế giới toàn cầu hóa mạnh mẽ như ngày nay.

     

    1. Alborn, M., (1997) Tuesday’s with Morrie film, Random House, United States

    2. Boone, P, and Van Den Bosch, A.J (1997) Discerning a key characteristics of a European Style of Management, International Studies of Management and Organization, Vol. 26, No.3, 109-127

    3. Bowden, R., Mulnix, M., (2005), Business Education: a view of U.S and European Management Styles, Problems and Perspectives in Management 2, 123-134.

    4. Bratton J., Gold J., (2007) Human resource management, chapter 2, 4th Edition, Palgrave Macmillan, London

    5. Brickley, A.J., Smith W.C., (2002) Zimmerman L.J, Business ethics and organization architecture, Journal of Banking & Finance, USA

    7. Chaudhuri, A., (2010) Yes: Indian Style of Management – Theory ‘i’ management.

    8. Curtis, A., (2002) The century of the self, Part 1, BBC Four, United Kingdom

    9. Dien, C.V., (2008) A night mare in Hon Kem cave, Tuoi Tre News, chúng tôi Vietnam

    10. Dinh C.T., (2010), European Social Model, Institute for European Studies Vietnam

    11. Elkin, G., Sharma, R. (2007)People, organization, management: lessons for the industrialized world from the rest of the world, Global Business and Economics Review, 9(4), 395-417

    12. Enote, (2010), Western Culture, Enote.com

    13. Europa, (2008), European Year of Intercultural dialogue 2008, Europa,

    14. Friedman, L.T., (1999) The Lexus and the Olive tree, Farrar, Straus, and Gioux, New York

    15. Hughes C.M.J., (2002) HRM and universalism: is there one best way?, International Journal of Contemporary Hospitality Management 14(5), Emerald

    16. Liu Y, (2010) Ost trifft West, Exhibition East meets West differences of Geman and Chinese, Yang Liu Design [http://www.yangliudesign.com]

    17. Neal, J.A., Lichtenstein, B.M.B., & Banner, D. (1999) Spiritual perspectives on inpidual, organizational and societal transformation, Journal of Organizational Change Management, 12, 175-185

    18. Quoc, H.N., (2010) Vietnamese people and “Clockwork” translated, Voice of America, VOAnews.com

    19. Spielberg S., (1998) Saving Private Ryan film, DreamWorks, United States

    20. The Associated Press.,(2008) Russia President: “The world must be multi-polar”The Associated Press,

    21. Wah, S.S., (2001) Chinese Culture values and their implications to Chinese Management, Singapore Institute of Management 

    22. Yum, J., (2007) Confucianism & Communication: Jen, Li and Ubuntu, China Media Research, 3(4)

     

     

    5. Phụ Lục:Ost trifft West (Yang Liu)

     

    Source: http://www.yangliudesign.com/

     

    1. Quan điểm (Đông- Tây)2. Lối sống

         

     

    3: Thời gian                       4: Xếp hàng

       

     

    5: “Cái tôi”                        6: Trong nhà hàng

       

     

    7: Stomatch Ache                     8: 3 bữa ăn

       

     

    9: Xe cộ                                 10: Thời gian tắm

       

     

    11: Thời tiết và cảm xúc       12: Đồ mới

       

     

    13: Giao tiếp                         14: Thể hiện  

       

     

    15: Ngày Chủ nhật trên đường 16: Trong bữa tiệc 

       

     

    17: Du lịch                        18: Trình bày ý tưởng

       

     

    19: Người già                    20: Người lãnh đạo

       

     

     

     

     

    21: Thị hiếu                      22: Trẻ con

       

     

    23: Sự hiểu biết lẫn nhau giữa phương Tây và phương Đông

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)
  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?
  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Nam Châm Phẳng Và Nam Châm Điện
  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)
  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu
  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)
  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Văn Hóa Mỹ Và Việt – Những Điểm Khác Biệt Trong Giao Tiếp
  • 1. Quan niệm ẩm thực

    Nếu quan niệm về ẩm thực của phương Tây đề cao chất lượng và được xem là “quan niệm ẩm thực lý tính” thì phương Đông ngược lại hướng đến “quan niệm ẩm thực cảm tính”. Điều này có thể được nhìn nhận rõ nét qua sự so sánh về hình thể của người phương Tây và người phương Đông.

    Người phương Tây có hình thể vượt trội hơn hẳn do thói quen ăn uống hàng ngày đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể về calo và vitamin,… Họ là những người quan tâm đến sức khỏe nên việc ăn uống đầy đủ là một yếu tố bắt buộc, nhưng cũng vì thế mà hương vị không quá ngon hoặc đôi khi không đa dạng. Những thành phần như bơ, sữa và trứng được sử dụng hầu hết ở mỗi món ăn vì mang lại một nguồn năng lượng và dinh dưỡng dồi dào – những thành phần này ít thấy trong thực đơn của người phương Đông vì độ béo ngậy.

    Ngược lại, người phương Đông coi trọng về mặt hình thức vì đã “ngấm vào máu” nhiều phong tục, tập quán và lễ giáo từ xưa đến nay. Có thể thấy rõ qua một bàn tiệc để cúng tổ tiên, thường bao gồm nhiều món với đầy đủ màu sắc và được trang trí bắt mắt. Người phương Đông ưu tiên tính ngon miệng nên luôn có sự phong phú trong món ăn nhưng lại thiếu đi sự quan tâm về dinh dưỡng vì vậy thường có thể hình thấp bé hơn hẳn.

    2. Thành phần nguyên liệu và gia vị

    Nguyên liệu thường được người phương Tây chọn lọc kỹ càng sao cho phù hợp với món ăn và đảm bảo chất dinh dưỡng nhất. Về gia vị thường chỉ sử dụng 1-2 loại chính là muối và tiêu xay, hạn chế hoặc thay thế việc sử dụng đường bằng cách dùng độ ngọt tự nhiên có trong thành phần nguyên liệu như rau, củ, quả, thịt, cá, tôm,… Họ tin rằng việc sử dụng quá nhiều gia vị khác nhau làm mất bản chất của món ăn, qua đó tạo nên một món ăn phương Tây có hương vị nhẹ, thoang thoảng mùi hương, không mạnh như phương Đông.

    Ngoài ra, nước sốt được xem là một nét đặc trưng nổi bật ở văn hóa ẩm thực phương Tây. Mỗi món ăn sẽ có một loại nước sốt riêng, ví dụ như beef steak sẽ được cắt thành nhiều mảng to dùng chung với sốt steak vị vang đỏ, ăn kèm với một ít salad để cân bằng.

    Trong khi đó, người phương Đông vốn được biết đến với sự đa dạng về nguyên liệu và gia vị. Một món ăn thường được nêm nếm với nhiều gia vị khác nhau từ muối, đường, bột ngọt, nước mắt, nước tương, sa tế,… Ngoài ra, khi sử dụng các món ăn, thay vì sử dụng nước sốt như phương Tây, họ có xu hướng kèm thêm một loại nước chấm để làm đậm đà món ăn.

    3. Văn hóa ăn uống

    Người phương Tây thường dùng bữa ăn theo thứ tự, mở đầu bằng một phần soup hoặc một món ăn khai vị nhẹ, tiếp theo đến món chính và cuối cùng có thể tráng miệng với một chiếc bánh táo. 

    Thịt là một phần quan trọng trong món ăn, thịt bò và thịt cừu là hai loại được ưa thích và sử dụng trong món chính ăn kèm với bánh mì. Họ cũng ưu tiên sử dụng các đồ ăn được làm sẵn hoặc đóng hộp để tiết kiệm thời gian nhưng vẫn cung cấp cho họ dinh dưỡng cần thiết. Văn hóa còn có sự khác biệt khi người phương Tây thường dùng dao, nĩa để có thể ăn từng miếng nhỏ và hạn chế tuyệt đối việc trò chuyện trên bàn ăn.

    Trái ngược hoàn toàn, người phương Đông thường ăn cùng nhau và nói chuyện về cuộc sống hàng ngày để tạo được sự gần gũi giữa các thành viên. Đũa và thìa là vật dụng chủ yếu giúp họ lấy thức ăn. Một bữa ăn truyền thống của người phương Đông sẽ bao gồm cơm, một món ăn mặn, rau và canh. Ngoài ra, các hoa quả tự nhiên vào cuối buổi ăn cũng được ưu tiên lựa chọn.

    4. Hình thức trình bày món ăn

    Người phương Tây ưu tiên sự đơn giản và nhanh gọn trong việc trang trí thức ăn cũng bởi vì họ có quan niệm về chất lượng hơn là thẩm mỹ. Ngược lại, người phương Đông lại rất tỉ mỉ và phục vụ đồ ăn sau khi đã có sự trang trí công phu. Họ thường sử dụng đa dạng nguyên liệu nên việc một món ăn có nhiều màu sắc, tạo hình bắt mắt là điều hiển nhiên.

    Ngày nay, ranh giới giữa các nước ngày càng mờ dần, việc giao thoa nhiều nền ẩm thực với nhau cũng bắt đầu rõ nét. Cả người phương Tây và phương Đông đều bắt đầu chấp nhận và học hỏi ẩm thực. Nhưng dù như thế nào đi chăng nữa, thì mỗi nền văn hóa ẩm thực đều mang đến một cái nhìn mới mẻ và đặc sắc cho thực khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?
  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Nam Châm Phẳng Và Nam Châm Điện
  • Nam Châm Vĩnh Cửu Là Gì? Cấu Tạo, Ứng Dụng Và Bảng Giá 2022
  • So Sánh Giữa Nam Châm Vĩnh Cửu Và Nam Châm Điện
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)
  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu
  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)
  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Sự khác biệt trong thành phần kết hợp

    Để có thể tạo ra các món ăn hoàn hảo mà chiến thắng trái tim, các đầu bếp phải chú ý đến các thành phần khác nhau và các loại gia vị. Vì vậy, nhiều người có thể nghĩ rằng có những quy tắc nhất định trong nghệ thuật ẩm thực. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi biết những quy tắc cơ bản không được khá nhiều đưa vào tài khoản trong việc tạo ra hương vị khác nhau trong các nền văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây.

    Trong khi các món ăn phương Tây luôn luôn kết hợp các thành phần có sở thích là mâu thuẫn và “tránh” ghép nối những người có hương vị tương tự, các đầu bếp Đông thường nấu từ sự kết hợp của các thành phần với nhiều hương vị phổ biến. Vậy nên có thể nhận thấy thành phần trong các món ăn phương Đông luôn rất dồi dào hương vị trong khi đó món ăn ngon phương Tây lại đơn giản hơn và có mùi vị nổi trội hơn

    Người phương Tây ăn uống hằng ngày, bất kể màu sắc, hương vị hình thức thực phẩm ra sao, nhưng họ vẫn đảm bảo chất dinh dưỡng, mỗi ngày phải có được bao nhiêu calo, vitamin,… Họ thường quan tâm tới sức khỏe thông qua việc ăn uống, dù đôi khi hương vị không quá thơm ngon. Người ta gọi đó là ‘quan niệm ẩm thực lý tính’.

    Theo thống kê, 13 thành phần chính trong ẩm thực phương Tây như bơ, sữa, trứng – được sử dụng trong 74,4% thực phẩm – vắng mặt trong hầu hết các món ăn phương Đông.

    Ẩm thực châu Âu, hoặc Ẩm thực phương Tây là một thuật ngữ tổng quát đề cập đến ẩm thực của châu Âu và các quốc phương Tây, bao gồm cả (tùy thuộc vào định nghĩa) Nga, cũng như ẩm thực không bản địa của Úc, châu Mỹ, Nam Phi và châu Đại Dương, mà có ảnh hưởng đáng kể từ những người định cư châu Âu ở các khu vực này. Thuật ngữ được sử dụng bởi người Đông Á để diễn tả sự trái ngược với phong cách nấu ăn châu Á. (điều này giống như người phương Tây đề cập chung các món ăn của các nước Đông Á là ẩm thực châu Á)

    Các món ăn phương Tây đa dạng, mặc dù có những đặc điểm chung để phân biệt với món ăn của các quốc gia châu Á và những loại khác. So với nấu ăn truyền thống của các nước châu Á, ví dụ, thịt được phục vụ nổi bật và quan trọng hơn.Bít tết và côtlet là các món ăn đặc biệt phổ biến ở phương Tây. Ẩm thực phương Tây cũng chú trọng rượu vang và các nước sốt như là gia vị, và các món ăn kèm (Vì các món Tây thường sử dụng miếng thịt to nên gia vị khó ngấm). Nhiều sản phẩm từ sữa được sử dụng trong quá trình nấu ăn, ngoại trừ trong ẩm thực nouvelle. Pho mát được sản xuất hàng trăm loại khác nhau, và các sản phẩm sữa lên men cũng có nhiều lựa chọn. Bánh mì từ lúa mì là nguồn tinh bột phổ biến nhất trong ẩm thực này từ lâu đời, cùng với pasta, bánh bao và bánh nướng, mặc dù khoai tây đã trở thành một nguồn trong bữa ăn của người châu Âu và sự lan truyền của nó kể từ thực dân châu Âu đô hộ châu Mỹ . Ngô ít phổ biến hơn nhiều trong hầu hết bữa ăn ở châu Âu so với ở châu Mỹ, tuy nhiên món ăn từ ngô (polenta hoặc mămăligă), là một phần quan trọng của các món ăn của nước Ý và Balkans. Mặc dù bánh dẹt (đặc biệt là với nhân phía trên mặt như pizza hoặc tarta flambée), và cơm được ăn ở châu Âu, chúng không phải món ăn thiết yếu. Salad trộn là một phần bổ sung của ẩm thực châu Âu.

    Cách trang trí & phục vụ

    Bữa tối châu Âu trang trọng được chia thành nhiều phần. Cách trình bày của châu Âu bao gồm mang tất cả các món ra cùng lúc hoặc mang lần lượt từng món. Thông thường các món lạnh, nóng và mặn, ngọt được phục vụ riêng biệt nghiêm ngặt theo thứ tự: khai vị hoặc súp, món chính và tráng miệng. Món ăn vừa ngọt vừa mặt phổ biến trong ẩm thực La Mã cổ đại, nhưng ngày nay không phổ biến, với các món ngọt chỉ được phục vụ là món tráng miệng. Một dịch vụ mà các hành khách có thể tự do lấy thức ăn mình muốn được gọi là buffet, và thường là trong những bữa tiệc hoặc kỳ nghỉ.

    Trong lịch sử, ẩm thực châu Âu đã được phát triển trong hoàng tộc và cung điện. Quý tộc châu Âu thường có các cử chỉ khác với ở vùng quê. Dao là dụng cụ cơ bản để ăn bist tết và các món khác. Ngược lại ở phương Đông, đồ ăn được cắt sẵn từ bếp và ăn bằng đũa. Dao được thay thế bằng thìa cho súp, trong khi dĩa đã được giới thiệu muộn hơn trong thời kỳ cận đại, thế kỷ 16. Ngày nay, ăn bốc bằng tay là không chấp nhận được.

    Sự khác nhau trong khu vực, thời tiết

    Với sự khác biệt về thời tiết và khu vực, mỗi quốc gia đều có lợi thế riêng của họ trong việc phát triển và sản xuất các thành phần khác nhau. Ví dụ: lúa mạch, lúa mì, các loại hạt, các loại đậu, rau và hải sản …, dẫn đến các phương pháp khác nhau và phong cách nấu ăn thực phẩm.

    Văn hóa khác nhau

    Ở châu Á, đặc biệt là Việt Nam, một bữa ăn truyền thống bao gồm cơm – rau – cá. Người châu Á không tiêu thụ thịt như món chính nhưng tập trung vào rau quả tự nhiên.

    Ngược lại, trong ẩm thực châu Âu, thịt là phần quan trọng nhất của bữa ăn. Các loại phổ biến nhất của thịt là thịt bò và thịt cừu. Đầu bếp châu u cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nước sốt miễn phí để nâng cao hương vị của thịt. Sản phẩm sữa thường được sử dụng trong quá trình nấu. Ngũ cốc và bánh mì từ lâu đã là món ăn ngon quen thuộc bên ngoài ăn với những món ăn chính cũng như mì và bánh ngọt. Đó là những khác biệt đã tạo ẩm thực châu Á luôn luôn hấp dẫn đối với những người châu Âu và ngược lại.

     

    Nếu bạn tò mò về những hương vị của các món ăn ngon châu Âu, đến với website chúng tôi để tìm hiểu và lựa chọn hương vị tinh tế cho bạn với danh sách rất nhiều nhà hàng sang trọng ở hà nội với các phong cách và hương vị khác nhau.

    Chúng tôi cung cấp những thông tin tốt nhất về các món ngon hà nội, nhà hàng sang trọng hà nội và các chương trình khuyến mại, sự kiện hấp dẫn nhất cho người dùng với hi vọng đem cả thế giới ẩm thực cao cấp vào trong nhà bạn.

    Lưu

    Lưu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Nam Châm Phẳng Và Nam Châm Điện
  • Nam Châm Vĩnh Cửu Là Gì? Cấu Tạo, Ứng Dụng Và Bảng Giá 2022
  • So Sánh Giữa Nam Châm Vĩnh Cửu Và Nam Châm Điện
  • Kim Loại Màu Là Gì? Kim Loại Đen Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100