Top 10 # Xem Nhiều Nhất So Sánh Văn Hóa Việt Nam Và Mỹ Bằng Tiếng Anh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam

Theo cách phân chia thông thường hiện nay thì Việt Nam và Nhật Bản ở vào hai khu vực văn hoá khác nhau. Nhật Bản là một nước Đông á, còn Việt Nam thuộc Đông Nam á. Không dễ gì đem văn hoá thuộc hai khu vực khác nhau để so sánh, nhưng chúng ta lại rất cần đến nghiên cứu so sánh để có thể hiểu sâu thêm từng đối tượng và hiểu rộng thêm mối quan hệ giữa các đối tượng này. Mặt khác, sự phân chia thành các khu vực văn hoá, thực chất cũng chỉ là một cách làm của các nhà khoa học nhằm phân lập một cách tương đối một thực thể nào đó, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chia cắt chúng một cách tuyệt đối. Hơn thế, do tác động của hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc thuộc các khu vực văn hoá khác nhau lại có nhiều mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, vì vậy so sánh để tìm ra những mối liên hệ, rút ra những điểm tương đồng và dị biệt lại là việc làm hết sức cần thiết và bổ ích. Nhật Bản và Việt Nam có thể coi là những trường hợp như thế. Hơn nữa, Việt Nam và Nhật Bản lại cùng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa, nên có không ít những điểm tương đồng, nhưng nếu nghiên cứu sâu hơn những biểu hiện của ảnh hưởng này lại tìm ra những khác biệt đáng kể.

Chọn Nhật Bản để so sánh, tác giả muốn đạt tới sự nhận thức sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam và qua đó, góp phần hiểu thêm về mối quan hệ Đông á và Đông Nam á.

Có nhiều phương pháp so sánh nhưng phương pháp được sử dụng trong bài này là so sánh theo tiêu chí. Theo chúng tôi có thể chọn 5 tiêu chí sau đây:

1. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái.

Với nhận thức của khoa học ngày nay, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến sáng tạo văn hoá của con người. Sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá.

2. Sự hình thành nhà nước đầu tiên.

Đây là sự kiện có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi dân tộc vì sự xuất hiện nhà nước vừa là cái mốc bước nhảy vọt của một cộng đồng cư dân đưa họ bước vào thời đại văn minh vừa là sự kết tinh của những thành tựu về văn hoá đã đạt được trước đó, bước đầu định hình một bản sắc văn hoá.

3. Những đặc điểm về cư dân và đặc trưng văn hoá truyền thống.

Nói tới văn hoá, không thể không xem xét chính chủ thể của văn hoá, nên nguồn gốc, quá trình tộc người và đặc điểm của cả cộng đồng là những yếu tố không thể bỏ qua. Còn đặc trưng của văn hoá truyền thống ở đây là xét trên những đặc trưng chung nhất của 4 thành tố cấu thành văn hoá.

4. Các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử.

Từ khi nhà nước hình thành, mặc dù là sản phẩm của văn hoá do chính con người tạo ra nhưng các hình thức tổ chức nhà nước có tác động rất mạnh mẽ đến chiều hướng phát triển của lịch sử và chi phối những đặc trưng của xã hội.

5. Ứng xử với văn hoá ngoại lai.

Văn hoá được sản sinh trong một không gian nhất định và giới hạn của nó thường là môi trường tự nhiên, nhưng văn hoá không bao giờ là đóng kín. Sự lan toả những giá trị của một nền văn hoá này tới những nền văn hoá khác là một hiện tượng tự nhiên, nhưng cách ứng xử trước hiện tượng tự nhiên ấy là phụ thuộc vào, và vì vậy, phản ánh đặc trưng của chính những nền văn hoá chịu những tác động ấy. Vì vậy đây có thể coi là một trong những tiêu chí để có thể xét sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hoá.

Xét theo tiêu chí thứ nhất về điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, có thể thấy Việt Nam là một bán đảo với diện tích tự nhiên hơn 33 vạn km2 và hơn 3000 km bờ biển. Chỉ số duyên hải (ISCL) tính được ” 106. Trong khi đó, Nhật Bản là một quần đảo với 3.600 hòn đảo lớn nhỏ quây quần xung quanh 4 hòn đảo lớn. Tổng diện tích tự nhiên ” 377.000 km2 và 29.000 km bờ biển, chỉ số ISCL ” 13 (1).

Do địa hình dốc, mưa theo mùa tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc (trên có tới gần 3.000 con sông lớn nhỏ), xoè theo hình nan quạt ở phía bờ biển. Do bồi lấp không hoàn chỉnh, vùng đồng bằng hay có úng lụt, tạo thành vùng sinh thái có nhiều mặt nước chiếm chỗ. Người Việt gọi Tổ quốc mình là nước.

Khí hậu Việt Nam tương đối đa dạng. ở miền Bắc có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Miền Nam chia thành 2 mùa Khô và Mưa. Đặc điểm chung là nóng, ẩm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho dịch bệnh. Cùng vớí chế độ nhiệt đới gió mùa, hằng năm có bão, thiên nhiên cũng đặt ra không ít những thử thách hiểm nghèo. Mưa, lũ, bão, ẩm, dịch bệnh là những thiên tai mà người Việt thường xuyên phải đối phó.

Do lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ tuyến, lại có nhiều mạch núi cắt ngang, tạo thành nhiều âu khí hậu khác nhau mà rõ nhất là Bắc, Trung, Nam Bộ. Cùng với sự đa dạng về địa hình, sự khác biệt về khí hậu là những yếu tố tự nhiên nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá phân bố theo vùng, miền.

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, nhưng nhìn chung trữ lượng không cao. Ưu thế tài nguyên chủ yếu là đất. Nông nghiệp đã xuất hiện sớm và là ngành kinh tế chủ đạo trong suốt mọi thời kỳ lịch sử.

Một đặc điểm nổi bật của điều kiện tự nhiên Việt Nam là vị trí địa lí giao tiếp, là nơi giao lưu của nhiều dòng văn hoá và là nơi luôn bị tác động của khu vực và thế giới. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng dần theo thời gian.

Tuy có diện tích tự nhiên rộng hơn, nhưng khác với Việt Nam, Nhật Bản có tới 75% diện tích là núi và 67% rừng xanh che phủ. Với lượng mưa không lớn (trung bình khoảng 300mm/năm) và do địa hình núi gần biển, Nhật Bản không có nhiều sông. 13 con sông được ghi trong các sách địa lý đều ngắn, nhỏ và nghèo phù sa. Nhật Bản hầu như không có đồng bằng châu thổ (2). Ngay cả những vùng được gọi là đồng bằng như vùng Kanto và Kansai, thực chất cũng chỉ là những thung lũng lớn được tạo thành bởi nham thạch của núi lửa. Nhật Bản có tới 200 núi lửa, 60 ngọn trong số đó vẫn còn đang hoạt động. Chính vì vậy mà biểu tượng của người Nhật là núi lửa Fuji.Cả nước có khoảng 300 thung lũng, bị chia cắt thành 7 vùng núi lửa.

Bù lại sự chật hẹp về đất đai cư trú và trồng trọt, Nhật Bản có hệ thống cảng biển dày đặc.

Khí hậu Nhật Bản có sự cách biệt khá xa. Có vùng lạnh như Siberi (đảo Hokkaido), lại có vùng ấm như Đông Nam á (Okinawa và các đảo cực nam). Quanh năm có 4 mùa rõ rệt nhưng độ ẩm không cao. Khí hậu nói chung không thật thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản được coi là nước thiên tai rất khắc nghiệt với sự hoành hành thường xuyên của động đất, lũ quét, sóng thần, bão biển và núi lửa.

Do địa hình chia cắt, văn hoá Nhật Bản có thể chia thành nhiều vùng – địa phương. Nghèo về tài nguyên (3) kể cả đất canh tác, Nhật Bản chỉ có khoảng 2,5 triệu ha đất có thể canh tác được nhưng chỉ trong một vụ xuân hè.

Nhật Bản nằm giữa biển, nhưng trong các giai đoạn lịch sử trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu, vị trí địa lý của quần đảo tương đối cách biệt nên ít chịu tác động tự nhiên mà thường chủ động du nhập các yếu tố văn minh từ bên ngoài.

Những nét tương đồng có thể thấy qua những đặc điểm mang tính hình thức như diện tích tự nhiên (33 vạn/38 vạn km2), địa hình, khí hậu đa dạng với đủ các vùng rừng núi, đồng bằng và duyên hải. Cả hai quốc gia đều phải đối phó với những thiên tai hiểm nghèo… Phân tích sâu hơn những tham số tự nhiên thì thấy những điểm dị biệt là rất đáng kể. Trước hết đó là sự khác nhau giữa một bán đảo với một quần đảo, do đó chỉ số ISCL chênh nhau tới hơn 8 lần (13/106). Do đặc điểm này mà tác động của yếu tố biển tới đời sống văn hoá của mỗi dân tộc rất khác nhau. Sự khác biệt còn thể hiện ở mức độ thuận lợi và thử thách do thiên nhiên đem lại như khắc nghiệt của thiên tai, sự phong phú giàu có về tài nguyên và ảnh hưởng của vị trí địa lý.

Trong tiêu chí thứ hai: cư dân và đặc trưng văn hoá, Việt Nam luôn được nhận diện như một quốc gia đa tộc người, ít nhất có tới 54 tộc người với ngôn ngữ và truyền thống văn hoá khác nhau, nhưng có một dân tộc chủ thể là người Kinh (hay Việt).

Đặc trưng văn hoá Việt được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài do tác động của nhiều nhân tố, nhưng về đại thể có thể coi những nhân tố sau đây có vai trò tác động chính yếu:

– Tác động của môi trường “nước”. Do tác động này mà hình thành các dạng thức văn hoá sông – nước với những tính cách của cư dân ở gần/trên sông, nước (can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng, giỏi xử lí tình huống…).

– Tác động của hoàn cảnh lao động sản xuất (nông nghiệp trồng lúa nước). Trong quá trình chinh phục đồng bằng châu thổ, đắp đê, điều tiết nước để sản xuất và hợp lực phòng chống lũ lụt, người Việt cần tới sức mạnh cộng đồng. Làng, một loại hình tụ cư đậm tính cố kết trở thành hội điểm của rất nhiều đặc trưng văn hoá. Trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng), hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão (trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Nhưng cũng do hoàn cảnh sản xuất mà người nông dân Việt không quen hạch toán và lường tính xa. Bình quân (chia đều) trở thành một phương thức hữu hiệu duy trì mối quan hệ hoà đồng trong làng xã.

– Tác động của hoàn cảnh lịch sử mà nổi bật là phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược. Tác động này đã tạo nên truyền thống bất khuất kiên cường, có ý thức độc lập tự chủ cao. Đồng thời cũng chính do tác động này mà thiết chế cộng đồng được gia cố thêm.

Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt coi trọng đạo thờ cúng tổ tiên. Trong quá trình tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, ấn Độ và phương Tây, Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo lần lượt được du nhập vào Việt Nam. Các tôn giáo ngoại lai và các loại hình tín ngưỡng bản địa đã dung hợp nhau cùng tồn tại và phát triển. Việt Nam trở thành một xứ sở hỗn dung tôn giáo.

Khác với Việt Nam, Nhật Bản là một quốc gia thuần chủng, có bản sắc chung rất rõ nét. Trong kết cấu cư dân hiện nay, 99,4% dân số là người Nhật, bộ phận những cư dân khác còn lại chỉ chiếm 0,6% (gồm 600.000 người Triều Tiên, 40.000 người Trung Quốc và khoảng 20.000 Ainu). Quá trình “thuần chủng hoá” này đã diễn ra trong một quá trình lịch sử lâu dài trong điều kiện quần đảo Nhật Bản sống tương đối tách biệt với thế giới bên ngoài. Địa hình bị chia cắt bởi núi non, thung lũng và đảo dẫn tới sự hình thành nhiều dạng thức văn hoá địa phương. Người ta đã từng chia Nhật Bản thành 6 vùng văn hoá là Bắc hải đạo (đảo Hokkaido), Bắc lục đạo (vùng núi phía bắc, giáp biển Nhật Bản, chủ yếu là các tỉnh Nigata, Kanazawa), Đông hải đạo (vùng đồng bằng Kanto), Kinki (vùng đồng bằng Kansai), Tây hải đạo (đảo Kyushu), Nam hải đạo (đảo Shinkoku và các đảo phía nam).

– Xét về tác động của môi trường có thể thấy biển, núi, thung lũng, khí hậu ôn đới, núi lửa và động đất là những nhân tố tự nhiên tác động mạnh mẽ và thường xuyên đến quá trình hình thành văn hoá truyền thống Nhật Bản. Do tác động đó mà tính cách Nhật Bản cứng rắn, tiết kiệm, trung thành với các giá trị truyền thống và rất cầu toàn. Vị trí địa lý tương đối biệt lập (của cả quần đảo và của từng vùng) đã tạo nên tính cách đóng kín nhưng lại luôn có mặc cảm “bị bỏ rơi” nên luôn mong muốn hội nhập và học tập cái hay ở người khác.

– Về hoàn cảnh lịch sử, có thể thấy trong suốt thời kỳ trung đại, ngoại trừ hai lần tấn công xâm lược nhưng không thành của quân Mông – Nguyên, Nhật Bản hầu như không phải đối phó với ngoại xâm. Thay vì các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, nội chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương diễn ra tương đối thường xuyên và kết cục dẫn đến sự hình thành thiết chế Mạc phủ mà thực chất là sự thống trị của chính quyền quân sự, đứng đầu là các dòng họ Shogun (Tướng quân) song song với sự tồn tại phần nhiều trên danh nghĩa một chính quyền dân sự do Thiên hoàng (Teno) đứng đầu. Hoàn cảnh lịch sử này đã tạo nên tính kỉ luật, đề cao vai trò người chỉ huy. Chuẩn mực đạo đức là đề cao giữ chữ tín. Sự phát triển mạnh mẽ của các phong kiến địa phương tại mỗi thung lũng đã dẫn tới sự hình thành các đơn vị thân binh (Samurai) sau thành trở thành một tầng lớp có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội dưới tên gọi Vũ sĩ (Bushi). Trong xã hội truyền thống, đại bộ phận cư dân sống ở nông thôn. Họ tụ cư thành các đơn vị gọi là mura (thôn). Khác với cấu trúc làng ở Việt Nam, trong các mura của Nhật Bản, xã hội có cấu trúc theo chiều dọc, nghĩa là có trật tự, lớp lang. Mọi thành viên đều có chức năng, bổn phận rất rõ ràng. Quan niệm “cá mè một lứa” hay “cá đối bằng đầu”, một kiểu dân chủ làng xã theo lối bình quân chủ nghĩa thường thấy ở Việt Nam, rất xa lạ với xã hội Nhật Bản.

Tôn giáo giữ vị trí độc tôn ở Nhật Bản là Shinto (Thần đạo). Tôn giáo này đã hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng thờ tổ tiên là nữ thần mặt trời. Các tôn giáo khác ở Nhật rất kém phát triển, trừ phật giáo Đại thừa. Nhật Bản đã có thời coi văn minh Trung Hoa là mẫu hình lý tưởng để học theo, nhưng Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản không phải là nguyên mẫu. Người Nhật đã chọn lựa từng bộ phận nhưng rất tuân thủ giáo lý. Hệ thống tuyển chọn quan lại bằng thi cử hoàn toàn không được người Nhật áp dụng.

Trên bình diện cư dân và đặc trưng văn hoá, những nét tương đồng của Việt Nam và Nhật Bản thể hiện ở chỗ cả hai cộng đồng đều thuộc chủng Mongoloid và có chung yếu tố Nam á.

Văn hoá truyền thống của cả hai dân tộc đều hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, kinh nghiệm đều có nhiều nét tương đồng. Cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nên Nho giáo, Đạo giáo và nhiều chuẩn mực Trung Hoa có thể tìm thấy trong văn hoá cả hai nước.

Tuy nhiên, tính chất đa dân tộc của cộng đồng cư dân Việt Nam rất khác với đặc điểm thuần chủng của người Nhật. Mặt khác sự trội vượt của yếu tố phương Nam và sự thiếu vắng hoàn toàn hoạt động không du mục của cư dân Việt và tính trội yếu tố phương Bắc với sự hiện diện của kinh tế du mục trong một thời kỳ lịch sử của Nhật Bản đã dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong hai nền văn hoá. Nếu như ở Việt Nam, ảnh hưởng từ dưới lên là đặc trưng chủ đạo thì với văn hoá Nhật Bản ảnh hưởng từ trên xuống lại là xu hướng chi phối.

Việt Nam không có quốc đạo trong khi đó ở Nhật Bản đạo Shinto được coi là quốc giáo. Sự khác biệt trong văn hoá còn thể hiện ở tính cách ứng xử của hai dân tộc. Một bên là mềm mỏng, linh hoạt, dễ thích ứng, một bên coi trọng nguyên tắc, kỉ luật. Trong bảng giá trị đạo đức, người Việt trọng hiếu còn người Nhật thì trọng tín.

Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam được xác định vào cuối thời Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2500 – 2700 năm. Như vậy là tương đối sớm. Tuy nhiên đây không phải là kết quả của một quá trình phân hoá xã hội sâu sắc mà trên cơ sở phát triển nhất định của các tiền đề kinh tế xã hội, những tác động khách quan của nhu cầu sản xuất và chống xâm lấn đã đẩy nhanh quá trình này. Ngay sau khi ra đời, nhà nước Văn Lang và sau đó là Âu Lạc đã phải liên tục đương đầu với quá trình bành trướng xuống phương Nam của các đế chế Trung Hoa. Đây là điểm khác biệt lớn của lịch sử Việt Nam so với Nhật Bản. Từ giai đoạn văn hoá Yayoi (thế kỷ III TCN – III SCN), kỹ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước du nhập vào Kyushu đã tạo nên bước nhảy vọt trong lịch sử Nhật Bản. Cùng với sự phát triển về kinh tế, phân hoá xã hội trở nên ngày càng sâu sắc. Vào giữa thế kỉ I SCN, tầng lớp Shucho (thủ lĩnh) giàu có xuất hiện. Sau đó hàng loạt Kuni (một loại hình nhà nước sơ khai) được hình thành, trong đó mạnh nhất là nước Wa. Ngay sau khi thành lập, vào năm 57 SCN, nước này đã xin thần phục nhà Hán mở ra một thời kỳ phát triển theo quỹ đạo của văn minh Trung Hoa.

Về các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử, mặc dù đã từng tồn tại nhiểu kiểu loại nhà nước khác nhau, nhưng xu hướng chủ đạo là sự thắng thế của hình thức nhà nước trung ương tập quyền. Dưới thời Lý-Trần (1009 – 1400), mô hình “tập quyền thân dân” tồn tại gần 4 thế kỷ. Cả thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của mô hình “tập quyền quan liêu” và thế kỷ XIX là thời kỳ thống trị của mô hình “tập quyền chuyên chế”. Duy có giai đoạn từ năm 1600 đến 1789 trong bối cảnh chiến tranh phe phái triền miên, ở đàng Ngoài tồn tại một thiết chế khá đặc biệt với sự tồn tại song song hai chính quyền: triều Lê trên danh nghĩa và Chúa Trịnh (chính quyền quân sự) nắm thực quyền.

Ở Nhật Bản, từ thế kỷ VII, dưới tác động của mô hình cai trị của nhà Đường, Nhật Bản cũng cố gắng xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn bị đứng đầu là Thiên hoàng. Tuy nhiên từ thế kỷ X, chính quyền trung ương suy yếu vì các vị Kokushi do chính quyền trung ương cử đến đứng đầu Kuni ngày càng có nhiều trang viên (Shoen) do được tặng biếu.

Trong thời kỳ này hình thức xin thầu khai khẩn đất hoang (Myo) rất phát triển. Người trúng thầu gọi là Tato. Người nhiều ruộng gọi là Daimyotato. Những người này có rất nhiều Samurai (người hầu cận) làm cơ sở cho việc hình thành lực lượng vũ trang riêng. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới những cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến địa phương và sự hình thành thể chế Mạc phủ (Bakkufu) từ năm 1192 và kéo dài cho đến tận cải cách Minh Trị (1868).

Những điểm tương đồng về tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có thể thấy ở 3 điểm:

– Cùng chịu ảnh hưởng từ mô hình Nho giáo của Trung Hoa

– Đều chú trọng pháp luật

– Đặc biệt là thiết chế hai chính quyền ở Việt Nam từ 1600 đến năm 1789 và thiết chế Mạc phủ ở Nhật Bản từ 1192 đến 1868.

Sự khác biệt thể hiện ở chỗ:

– Việt Nam luôn thiết lập được thiết chế tập quyền mạnh còn ở Nhật Bản, chính quyền ở các địa phương mới là thế lực chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Thể chế Mạc phủ chỉ có thể khống chế địa phương về mặt quân sự.

– Do cần tới một đội ngũ quan lại hùng hậu, các chính quyền phong kiến Việt Nam bắt đầu từ triều Lý (1076) đã tiến hành tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài, từ đó hình thành một hệ thống lưỡng ban (văn và võ). Chính quyền phong kiến Nhật Bản chưa bao giờ áp dụng hệ thống này. Vì vậy tầng lớp sĩ ở Nhật Bản chính là các Samurai văn võ kiêm toàn.

Trong quá trình tiếp xúc với văn hoá ngoại lai, Việt Nam có ưu thế về vị trí địa lý. Và trên thực tế đã tiếp thu không ít những giá trị từ những nền văn hoá khác. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng, ứng xử truyền thống của người Việt với văn hoá ngoại lai thường bắt đầu từ sự hoài nghi, rồi sau đó buộc phải chấp nhận nhưng tìm mọi cách cải biến theo chuẩn mực của mình. Trong khi đó, do hoàn cảnh lịch sử và những đặc trưng văn hoá khác biệt, người Nhật luôn cho rằng ở ngoài Nhật Bản có rất nhiều giá trị văn hoá cao hơn, nếu tiếp thu được sẽ tạo cho văn hoá của họ những bước nhảy vọt (kỹ thuật đúc đồng, lúa nước, các chuẩn mực văn minh Trung Hoa…), vì vậy ứng xử truyền thống của người Nhật là xác định đâu là đỉnh cao rồi cố chí học theo. Điều này còn bao hàm cả việc sau khi nhận ra một mô hình nào đó đã lỗi thời, họ sẵn sàng từ bỏ để đến với những chuẩn mực cao mới. Đó là trường hợp Nhật Bản quay lưng lại với mô hình Trung Hoa sau khi chiến tranh thuốc phiện chấm dứt với thắng lợi của người phương Tây. Từ đây chuẩn mực mà người Nhật quyết chí noi theo là văn minh phương Tây.

1. Ta thường nói đến sự tương đồng văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản (đồng văn, đồng chủng). Điều này đúng vì cả hai dân tộc đều có những giá trị chung của châu á lấy nghề trồng lúa nước làm nền tảng kinh tế, đều chịu ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và xét trên nhiều khía cạnh cụ thể cũng có thể tìm ra những điểm tương đồng, Chẳng hạn như sự tồn tại hai chính quyền quân sự và dân sự trong một thời kỳ lịch sử. Đấy là cơ sở thuận lợi trong quá trình giao lưu, hợp tác và học hỏi lẫn nhau.

2. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản lớn tới mức có thể dùng chuẩn mực của nền văn hoá này để suy ra những đặc điểm tương tự ở nền văn hoá kia. Chẳng hạn như tính cách nông dân trồng lúa nước của Việt Nam hoàn toàn không thể dùng để quy chiếu tính cách nông dân Nhật Bản.

3. Để có thể học tập và mở rộng hợp tác, nhất thiết phải có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc. Điều này không chỉ đúng với trường hợp Việt Nam và Nhật Bản mà còn đúng với các trường hợp khác. Nói rộng ra về sự tương đồng và khác biệt văn hoá của hai khu vực Đông á và Đông Nam á cũng cần tính tới việc phải xem xét thật cụ thể từng trường hợp và từng tác nhân dẫn tới sự tương đồng và khác biệt đó.

GS.TSKH Vũ Minh Giang

1. Chỉ số duyên hải được tính bằng công thức: ISCL = å A / å L (Tổng diên tích tự nhiên chia cho tổng chiều dài đường bờ biển). ở Nhật Bản ISCL ” 13, Việt Nam ” 106, có nghĩa là 1 km đường bờ biển chỉ che phủ tương ứng với mỗi nước là 13 km2 và 106 km2 diện tích lục địa. Theo đó, chỉ số ISCL càng thấp thì tác động của biển tới văn hoá càng mạnh.

2. Trong một số sách địa lý của Nhật Bản có nhắc đến châu thổ sông Ota, tức vùng có thành phố Hiroshima, nhưng thực ra đấy chỉ là nói về đặc trưng thành tạo chứ quy mô bồi tụ và chất lượng phù sa của vùng này không giống với châu thổ ở các nơi khác trên thế giới.

3. Thực ra Nhật Bản đã từng có những mỏ khoáng sản lớn như đồng, bạc, vàng… nhưng tất cả hầu như nhưng đã khai thác hết từ thế kỷ XVII.

Đôi Nét Về Văn Hóa Mỹ Và Việt Nam

Mỹ là một quốc gia đông dân, đa dạng về chủng tộc, văn hóa, xã hội,… chính vì thế tạo nên những nét đặc trưng mà không phải quốc gia nào cũng có.

Tính cá nhân: Người Mỹ luôn tôn trọng tự do cá nhân, điều này không có nghĩa là cô lập với cộng động xung quanh mà người Mỹ coi trọng tính cá nhân và độc lập của mỗi người, đảm bảo quyền bình đẳng con người. Đây là một nét đặc trưng trong văn hóa Mỹ.

Tính tự lập: Bên cạnh sự tôn trọng tự do cá nhân thì tính độc lập, tự lập cũng là một nét tiêu biểu của người Mỹ. Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được dạy để tự đứng trên đôi chân của mình. Đến khi đi học, phần lớn sinh viên Mỹ sẽ tự chọn ngành học, lớp học thậm chí là tự chi trả một phần hoặc toàn bộ học phí,… Khi ra trường sẽ tự tìm việc, chủ động cho cuộc sống,…

Tình bạn: Bởi tính độc lập của người Mỹ mà tình bạn của họ so với những nền văn hóa khác thường mang tính ngẫu nhiên nhiều hơn. Người Mỹ khá rõ ràng trong phân loại tình bạn như: bạn ở trường học, bạn nơi làm việc, bạn trong độ bóng,… hay bạn trong những mối quan hệ gia đình. Người Mỹ sẽ là một người bạn tốt và chân thành khi họ thấy được thiện ý từ đối phương.

Sự thoải mái: Trong văn hóa người Mỹ thì sự thoải mái luôn được coi trọng. Họ ăn mặc, giải trí và giao tiếp với nhau một cách thoải mái kể cả khi có sự khác biệt về tuổi tác, địa vị xã hội. Sinh viên và thầy cô có thể gọi nhau bằng tên khi giao tiếp (điều này có thể gây bất ngờ cho phần lớn sinh viên quốc tế khi đến đây, nhưng đây lại là một phần của văn hóa Mỹ).

Sự nhiệt tình: Bên cạnh việc thích đặt câu hỏi thì người Mỹ cũng rất nhiệt tình giải đáp những thắc mắc mà người đối diện đưa ra. Vì vậy khi đến Mỹ mà không hiểu vấn đề gì thì bạn cũng đừng ngần ngại khi đặt câu hỏi.

Sự năng động: Mỹ là một đất nước năng động, luôn vận chuyển và biến đổi. Nếu là một người có lối sống bình thản và chậm rãi thì bạn sẽ thấy chóng mặt với nhịp sống của người Mỹ, và bạn sẽ phải mất một thời gian để làm quen với nhịp độ này. Nếu là một người có lối sống năng động thì bạn sẽ rất hứng thú với nhịp sống ở nơi đây.

Không thích sự yên lặng: Ở một đất nước năng động như nước Mỹ tất nhiên người Mỹ cũng không thích sự yên lặng, họ thà nói về thời tiết (nói chuyện về thời tiết được coi là một việc nhàm chán) còn hơn là ngồi im lặng khi giao tiếp.

Coi trọng thành tích: Thành tích được coi là một cách để người Mỹ thể hiện bản thân, họ không ngần ngại khi chia sẻ và được người khác đánh giá những thành tích của mình, đây như là một sự tôn trọng lẫn nhau của người Mỹ. Một ví dụ tiêu biểu đó là sách báo, một bộ phim hay một tác phẩm âm nhạc thường ít được đánh giá dựa vào chất lượng mà dựa trên số lượng được bán ra và lợi nhuận thu được.

Sự cạnh tranh và hợp tác: Người Mỹ thường cạnh tranh với nhau một cách công khai. Khi người nước ngoài đến Mỹ sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy sự cạnh tranh xuất hiện ở mọi nơi, mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Bên cạnh đó người Mỹ cũng có tinh thần làm việc nhóm rất cao, sự hợp tác của các thành viên trong nhóm thường mang đến kết quả cao hơn của một cá nhân.

Coi trọng thời gian: Đối với văn hóa nước Mỹ thì đúng giờ là điều cực kỳ được coi trọng. Người Mỹ thích sắp xếp cuộc sống theo một thời gian biểu, họ luôn đúng giờ trong mỗi cuộc hẹn hay trong công việc. Đối với các quốc gia khác thì người mỹ có vẻ luôn vội vã, nhưng việc coi trọng thời gian lại giúp họ đạt được những thành quả cao trong công việc cũng như trong cuộc sống.

Đặt câu hỏi: Khi gặp những người lạ hay sự lạ lẫm thì người Mỹ thường đặt ra nhiều câu hỏi để hòa nhập với nhau. Những câu hỏi có thể vu vơ hoặc cũng có thể là câu hỏi riêng tư, sẽ không cần phải trả lời tất cả những câu hỏi mà bạn cảm thấy khó chịu. Những câu hỏi ở đây chỉ giúp mang lại sự thoải mái hơn trong giao tiếp.

Bị coi là thực dụng: Ở Mỹ, thành công của một người thường được đo đếm bằng số tiền mà người đó kiếm được, hay lượng tài sản mà người đó đang sở hữu. Nhưng khi đã đạt được sự thành công nhất định về mặt vật chất, người Mỹ thường dành thời gian để tìm hiểu những giá trị văn hóa, tinh thần trong cuộc sống.

Tips – phí dịch vụ: Tips là một trong những điểm đặc trưng trong văn hóa của người Mỹ, tiền dịch vụ sẽ không tính cùng hóa đơn do đó khách hàng thường phải trả thêm 10 – 15% tổng số tiền trong hóa đơn cho người phục vụ. Trong nhiều trường hợp thì tiền tips cũng là một khoản thu nhập của người phục vụ.

Văn hóa Mỹ và Việt Nam có gì khác biệt?

Người Mỹ rất coi trọng cái tôi và tính cá nhân trong nhiều mặt của cuộc sống. Họ lạc quan, không ngần ngại ca ngợi bản thân để thể hiện sự tự tin. Người Mỹ không ngại thể hiện quan điểm cá nhân cũng như cạnh tranh trong công việc.

Người Việt khi nói chuyện thường hạ mình xuống như một sự khiêm nhường. Người Việt chấp nhận sự lạc quan hay bi quan như một chuyện thường tình. Người Việt coi trọng sự nhường nhịn vì vậy trong một tập thể dễ bị người Mỹ lấn át. Nhưng cũng chính sự nhường nhịn và lối sống hòa nhập này giúp cộng đồng người Việt sống tình cảm hơn.

Người Mỹ thích đặt câu hỏi và coi đây như một phương thức giao tiếp, họ cũng tôn trọng và trả lời câu hỏi của người đối diện. Còn người Việt thì ngại hỏi, đặc biệt là với người lạ.

Người Mỹ rất hay khen nhau, họ có thể khen nhau về mọi phương diện từ kiểu tóc mới, chiếc áo đẹp, đôi giày thời trang,… Đặc biệt với người lạ thì họ coi lời khen như một cách bắt chuyện và càng được sử dụng nhiều hơn.

Trái lại, người Việt chỉ sử dụng lời khen khi thực sự cần thiết, lời khen nếu được sử dụng quá nhiều sẽ bị cho là khác sáo thậm chí là nịnh nọt hay giả dối.

Đặt vấn đề và giải quyết sự việc

Người Mỹ với tính cách thẳng thắn thường sẽ đi thẳng vào vấn đề. Họ coi trọng kết quả sau cùng, sẵn sàng đối đầu với mọi cản trở để đạt được kết quả nhanh và hiệu quả nhất.

Người Việt thì đề cao sự mềm mỏng, khéo léo nên khi đặt vấn đề thường vòng vo mà không đi thẳng vào vấn đề. Họ không thích xung đột nên có thể chấp nhận đi vòng một chút (có thể tốn thời gian hơn) để đạt được kết quả mà không mất quá nhiều sức lực.

Đối với người Việt Nam, cũng có sự trao đổi giữa sếp và nhân viên, nhưng thường sẽ dừng lại ở việc nhân viên đưa ra ý kiến để cấp trên xem xét, rất ít thấy trường hợp cấp trên và nhân viên tranh luận gay gắt trong công việc. Chính vì vậy hiệu quả công việc sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi năng lực cá nhân của người lãnh đạo.

Còn đối với người Việt thì việc xê dịch giờ hẹn một chút không phải là vấn đề gì quá lớn. Người Việt sẽ đến sớm hơn khi đó là một cuộc hẹn quan trọng.

Người Mỹ có tinh thần trọng luật rất cao, thậm chí trở lên máy móc. Đối với họ cứ đúng luật là được, còn có tình có nghĩa hay không thì không quan trọng.

Đối với người Việt, bên cạnh pháp luật thì còn rất chú trọng vào khuôn mẫu đạo đức. Chính vì vậy người Việt thường muốn giải quyết vấn đề theo hướng “hợp tình hợp lý”.

Xếp hàng là một nét nổi bật trong văn hóa của người Mỹ. Vào cơ quan hành chính, vào rạp chiếu phim, chờ thanh toán ở siêu thị, đi mua hàng, lấy đồ ăn,… họ luôn xếp hàng, không chen lấn xô đẩy. Đặc biệt là trong mùa bán hàng hạ giá, để mua được món hàng ưng ý người Mỹ có thể đến từ sáng sớm, xếp hàng rất dài trước cửa các siêu thị, shop bán hàng.

Ở Việt Nam, văn hóa xếp hàng đang dần hình thành và trở nên phổ biến hơn (được thể hiện rõ ở những thành phố lớn) nhưng nó vẫn chưa thực sự ăn sâu vào nếp sống của mỗi người. Chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh có người chen ngang hàng, chen lấn, xô đẩy và gây ồn ào nơi công cộng.

Ở Việt Nam (nhất là những thành phố lớn), người dân thường đổ ra đường, đến các trung tâm mua sắm và khu vui chơi để giải trí. Đặc biệt, chính quyền còn tổ chức các khu phố đi bộ vào dịp cuối tuần.

Trước đây, người Mỹ coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả nhất. Ngày nay, họ coi xe đạp là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất, vừa bảo vệ môi trường, vừa rèn luyện sức khỏe.

Ở Việt Nam, trước đây phương tiện di chuyển chủ yếu là xe đạp. Ngày nay, phương tiện di chuyển chủ yếu của người Việt là xe máy, nếu có điều kiện hơn thì là ô tô.

– Nuôi dạy trẻ em

Trẻ em ở Mỹ được dạy đi từ khi còn rất nhỏ, và được khuyến khích đi làm thêm ngay khi còn đi học để có tiền tiêu xài riêng. Khi đến 16 tuổi (tuổi trưởng thành) gia đình sẽ cho ra ở riêng với một khoản tiền nhất định, tự bươn trải cuộc sống chứ không dựa dẫm vào gia đình.

Ở Việt Nam, trẻ em được quan tâm, che chở bởi mọi thành viên trong gia đình. Nhưng cũng chính sự quan tâm quá mức này làm cản trở lối sống độc lập của trẻ từ nhỏ và trẻ thường có xu hướng dựa dẫm vào gia đình.

Ở Mỹ, người cao tuổi thường được đưa đến những viện dưỡng lão, ở đây người cao tuổi sẽ làm bạn với những người cao tuổi khác và được chăm sóc y tế đầy đủ. Người Mỹ cũng không có nghi thức cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Với họ, người mất là hết, làm gì cũng không có ý nghĩa nữa.

Người Việt Nam rất coi trọng truyền thống uống nước nhớ nguồn, ông bà được gia đình chăm sóc đầy đủ và sống quây quần bên con cháu. Khi cha mẹ, ông bà mất sẽ cúng giỗ để tưởng nhớ người đã mất và cũng là dịp để anh, chị, em và người thân trong gia đình quây quần. Đối với người Việt, không thể cúng giỗ ông bà, tổ tiên là nỗi bất hạnh lớn. Đây là truyền thống văn hóa rất đáng trân trọng của người Việt.

So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác

Dù đều mang nét văn hóa Á Châu, nhưng nền văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản lại có những điểm riêng độc đáo. Việt Nam và Nhật Bản là cư dân của khu vực Đông Nam Á, người Việt Nam có chủng tộc gốc là Mongoloid phương Nam với 2 đặc điểm là mũi tẹt và mắt to, trong khi đó người Nhật Bản có chủng tộc gốc là người Mongoloid phương Bắc mũi cao và mắt to.

Việc hiểu và lý giải được những nét khác biệt đó sẽ phần nào giúp các bạn có ý định du học Nhật bản tránh được cú sốc văn hóa cũng như dễ hòa nhập với môi trường sống mới.

Điểm khác biệt đầu tiên phải nói đến là văn hóa giao tiếp. Người Nhật thường xuyên sử dụng những câu như “cảm ơn” và “xin lỗi” khi nói chuyện với người khác. Điều này cũng gây nhiều bất ngờ cho những ai lần đầu đến Nhật Bản. Trong khi đó, người Việt chỉ nói cảm ơn khi bản thân mình nhận được một ân huệ hay sự giúp đỡ nào đó và chỉ xin lỗi khi họ cảm thấy đã khiến người khác thực sự cảm thấy phiền toái. Thậm chí, việc nói lời xin lỗi không phải xảy ra với mọi đối tượng và có những người còn cố tình trốn tránh lời xin lỗi. Theo họ, những lời nói đó mang lại cảm giác ngại ngùng, xa cách và có thể kéo dài khoảng cách giữa họ. Nói như vậy cũng không có nghĩa là người Việt không bao giờ nói ” cảm ơn”, ” xin lỗi”, mà chỉ xét về mức độ cũng như phạm vi đối tượng sử dụng mà thôi.

Cũng với lối tư duy tránh làm mất lòng người khác, người Nhật rất ít khi nói “không” với người không thân thiết. Thay vào đó, họ thường nói lấp lửng, vòng vo và mong muốn đối phương khi giao tiếp sẽ hiểu. Họ không bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình rõ ràng mà luôn giữ cảm xúc đó ở một giới hạn rất mơ hồ. Do đó, không phải dễ dàng để biết được liệu đối phương đang nghĩ gì, cảm nhận như thế nào. Đối với tư duy người Việt, nói thẳng vấn đề chính là cách chứng minh cho sự thành thật của mình đối với đối phương.

Đúng giờ là nhận định mà hầu hết người nước ngoài đưa ra khi tiếp xúc với người Nhật. Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đối chiếu lịch trình giờ tàu chạy với điểm thời gian thực tế mà tàu đến ga, hoặc khi bạn có một cuộc hẹn nào đó với người Nhật bạn sẽ thấy họ luôn tới trước so với giờ hẹn ít nhất là 5 phút. Việc đúng giờ đã trở thành thói quen ăn sâu vào mỗi cá nhân và dần trở thành một quy tắc ngầm, một ý thức cơ bản của người Nhật. Họ luôn tránh làm phiền người khác do đó việc bạn tới trễ hẹn được coi là hành vi thiếu lịch sự, làm tổn hại tới người khác. Việc đúng giờ là điều nên làm trong mọi tình huống.

Trong khi đó, ý thức tuân thủ nguyên tắc về thời gian ở Việt Nam dường như chưa được đề cao đúng mức. Việc trễ hẹn 5 hay 7 phút là chuyện bình thường. Và cũng chẳng mấy ai phàn nàn gì về điều đó vì nó đã ăn sâu vào nếp sống của người Việt. Và sự cố gắng để thay đổi một hành vi mà cả xã hội chấp nhận dường như không mấy được bận tâm.

Người Nhật khi làm việc đều có kế hoạch cụ thể và luôn tuân thủ theo kế hoạch đó để tiến hành công việc, điều này giúp họ có thể quản lý thời gian một cách khoa học dễ dàng tuy nhiên nếu chẳng may kế hoạch bị thay đổi đột xuất những người Nhật sẽ rất dễ bị lúng túng và khó linh hoạt trong việc quyết định.

Trong khi đó người Việt Nam lại khá nhanh nhạy trong việc thích ứng với sự thay đổi. Tuy nhiên một điều hạn chế trong cách làm việc của người Việt đó là họ không có sự chuẩn bị chu đáo công việc từ trước, thường có xu hướng bắt đầu công việc khi đã sát deadline. Ví dụ cùng với một công việc trong thời hạn thực hiện 2 tuần thì người Nhật sẽ hoàn thành trong tuần đầu tiên còn tuần thứ 2 sẽ dành để chỉnh sửa và hoàn thiện công việc. Còn với người Việt Nam họ sẽ không làm ngay trong tuần đầu mà làm hết sức mình ở tuần cuối. Dù cho có vấn đề phát sinh bất ngờ, họ có thể sẵn sàng thức đêm thức hôm để làm việc.

Văn hóa trong lối suy nghĩ của xã hội Nhật

Tại Nhật Bản phụ nữ thường rất ít đi làm, đặc biệt là sau khi lấy chồng và dù có đi làm thì cũng rất khó để lên được chức vụ cao như nam giới. Mặc dù trong những năm gần đây những người phụ nữ đã đi làm nhiều hơn tuy nhiên con số này vẫn rất thấp, chỉ có tới 10% phụ nữ Nhật làm quản lý, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác.

Ở Việt Nam phụ nữ thường rất độc lập và tự chủ về kinh tế vì họ có sự nghiệp riêng của mình. Tỷ lệ phụ nữ Việt đi làm sau khi lấy chồng rất cao và thậm chí những người làm quản lý hay tổng giám đốc đa phần là phụ nữ đã kết hôn.

Bài 16: So Sánh – Chuẩn Tiếng Anh – Chuyên Gia Tiếng Anh Hàng Đầu Việt Nam

Bài 16: So sánh – Chuẩn Tiếng Anh  – Chuyên Gia Tiếng Anh Hàng Đầu Việt Nam

1. So sánh bằng.

So sánh bằng chỉ ra 2 thực thể chính xác giống nhau (bằng nhau hoặc như nhau) và ngược lại nếu cấu trúc so sánh ở dạng phủ định.

Cấu trúc

S + verb + as + as noun/ pronoun/ S + V

– Nếu là cấu trúc phủ định “as” thứ nhất có thể thay bằng “so“.

Ví dụ: He is not so tall as his father.

Lưu ý: Ta cần phải nhớ rằng đại từ sau “as” luôn ở dạng đại từ tân ngữ.

Ví dụ:

Peter is as tall as me. You are as old as her.

Một số thí dụ về so sánh bằng.

My book is as interesting as yours.

                                                 Tính từ

His car runs as fast as a race car.

                                            Phó từ

– Danh từ cũng có thể  dùng để so sánh cho cấu trúc này nhưng trước khi so sánh phải xác định chắc chắn rằng danh từ đó có những tính từ tương đương như trong bảng sau:

Tính từ Danh từ

heavy, light wide, narrow deep, shallow long, short big, small weight width depth length size

Subject + verb + the same + (noun) + as noun/ pronoun

Ví dụ:

My house is as high as his

My house is the same height as his.

Lưu ý:

– Do tính chất phức tạp của loại công thức này nên việc sử dụng bó hẹp vào trong bảng trên.

– Trong tiếng Anh của người Mỹ có thể dùng “different than” nếu sau đó là cả một câu hoàn chỉnh (không phổ biến).

Ví dụ:

His appearance is different from what I have expected.

= His appearance is different than I have expected.

– “From” có thể thay thế bằng to.

Một số thí dụ về “the same” và “different from”:

These trees are the same as those.

He speaks the same language as her.

Their teacher is different from ours.

2.  So sánh hơn, kém

– Trong loại so sánh này, người ta phân ra làm 2 loại phó từ, tính từ ngắn và phó từ, tính từ dài.

– Đối với các phó từ và tính từ ngắn, ta chỉ cần cộng thêm đuôi ER vào tận cùng.

– Đối với những tính từ ngắn có 1 nguyên âm kẹp giữa 2 phụ âm, ta phải gấp đôi phụ âm cuối để không phải thay đổi cách đọc.

Chú ý:

– Tính từ ngắn là những tính từ  chỉ có một âm tiết, ví dụ: nice, great, cool, hot, short, poor, warm, clean, …).

– Tính từ dài là những tính từ có từ  hai ấm tiết trở lên, ví dụ: tired, sleepy, nervous, crowded, anxious, wonderful, exquisite, exorbitant,

Ví dụ:

big – bigger.

red – redder

hot – hotter

– Những tính từ có tận cùng bằng bán nguyên âm phải đổi thành ier (y – ier)

Ví dụ:

happy – happier

friendly – friendlier (hoặc more friendly than)

– Trường hợp ngoại lệ: strong – stronger.

– Đối với tất cả các phó từ và tính từ dài dùng MORE (nếu hơn) và dùng LESS ( nếu kém).

Ví dụ: more beautiful, more important, more believable.

S + V + less + adj dài + than + noun/ pronoun/ S + V

Ví dụ:

John’s grades are higher than his sister’s.

Today is hotter than yesterday.

This chair is more comfortable than the other.

He speaks Spanish more fluently than I do .

He visits his family less frequently than she does.

This year’s exhibit is less impressive than last year’s.

– Để nhấn mạnh cho tính từ và phó từ so sánh người ta dùng “far” hoặc “much“trước so sánh.

Subject + verb + far

much

Adv/ Adj (ngắn) +er + than Noun/ pronoun

Subject + verb + far/ much More/ less Adj/ Adv(dài) + than Noun/ pronoun

– Một số thành ngữ nhấn mạnh : much too much

Ví dụ:

Harry’s watch is far more expensive than mine.

That movie we saw last night was much less interesting than the one on television.

A watermelon is much sweeter than a lemon.

She dances much more artistically than her predecessor.

He speaks English much more rapidly than he does Spanish.

His car is far better than yours.

– Danh từ cũng có thể được dùng để so sánh trong các cấu trúc bằng hoặc hơn, kém.

– Trong cấu trúc so sánh bằng chỉ cần xác định xem danh từ đó là đếm được hay không đếm được vì trước chúng có một số định ngữ dùng với 2 loại danh từ đó.

S + V + as + many/ much/ little/ few + noun + as + noun/ pronoun

Hoặc

Subject + verb + more/ fewer/ less + noun + than + noun/ pronoun

Ví dụ:

I have more books than she does.

February has fewer days than March.

He earns as much money as his brother.

They have as few class as us.

Their job allows them less freedom than ours.

Before pay-day, I have as little money as my brother.

3. Các dạng so sánh đặc biệt

Tính từ và phó từ So sánh hơn kém So sánh nhất

far

little

much many

good well

bad badly

farther further lessmore

better

worse

the farthest the furthest the leastthe most

the best

the worst

Ví dụ:

I feel much better today than I did last week.

The university is farther than the mall.

He has less time now than he had before.

Marjorie has more books than Sue.

Lưu ý: further = more.

Ví dụ:

The distance from your house to school is farther than that of mine.

He will come to the US for further education next year.

4. So sánh bội số

Là loại so sánh gấp rưỡi, gấp đôi, gấp 3. Nên nhớ rằng trong cấu trúc này không được dùng so sánh hơn kém mà phải dùng so sánh bằng.

Subject + verb + bội số + as + much noun + as + many noun

pronoun

Ví dụ:

This encyclopedia costs twice as much as the other one.

At the clambake last week, Fred ate three times as many oysters as Barney.

Jerome has half as many records now as I had last year.

Lưu ý:

– Khi dùng so sánh loại này phải xác định rõ danh từ đó là đếm được hay không đếm được vì đằng trước chúng có “much” và “many”.

– Các cấu trúc:     twice that  much/ many (gấp đôi số đó) chỉ được dùng trong văn nói, tuyệt đối không được dùng trong văn viết.

Ví dụ:

We had expected eighty people at the rally, but twice that many showed up. (văn nói)

We had expected eighty people at the rally, but twice as many as that numbershowed up. (văn viết)

5. So sánh kép (càng ….thì càng)

Những câu này bắt đầu bằng một cấu trúc so sánh hơn, và do đó mệnh đề thứ 2 cũng phải bắt đầu bằng một cấu trúc so sánh hơn.

The + comparative + comparative + verb + the comparative + subject + verb

Ví dụ:

The hotter it is, the more miserable I feel.

The higher we flew, the worse Edna felt.

The bigger they are, the harder they fall.

The sooner you take your medicine, the better you will feel.

The sooner you leave, the earlier you will arrive at your destination.

The more + subject +verb + the + comparative + subject + verb

The more you study, the smarter you will become.

The more he rowed the boat, the farther away he got.

The more he slept, the more irritable he became.

6. So Sánh Hơn Nhất.

Subject + verb + the + Adj(ngắn)+est most + adj(dài) least + adj + Noun

– Ở cấp độ so sánh hơn nhất, 3 thực thể trở lên được so sánh với nhau, một trong chúng trội hơn  hoặc kém hơn so với các thực thể còn lại.

John is the tallest boy in the family.

Deana is the shortest of the three sisters.

These shoes are the least expensive of all.

Of the three shirts, this one is the prettiest.

Lưu ý:

– Sau thành ngữ “one of the + superlative“, danh từ phải để ở dạng số nhiều và động từ chia ở ngôi số ít.

Ví dụ:

One of the greatest tennis players in the world is Bjon Borg.

Kuwait is one of the biggest oil producers in the world.

– Các phó từ  không được đi kèm bởi “-er“ hoặc “-est“. Mà thay vì đó, khi được dùng trong câu so sánh chúng đi cùng “more” hoặc “less“ đối với cấp so sánh hơn, và với“most“ hoặc “least“ để thành lập nên dạng so sánh hơn nhất.

Dạng nguyên So sánh hơn So sánh hơn nhất

carefully

cautiously

more carefully less carefullymore cautiously less cautiously the most carefully the least carefullythe most cautiously the least cautiously

Ví dụ:

Sal drove more cautiously than Bob.

Joe dances more gracefully than his partner.

That child behaves the most carelessly of all.

Irene plays the most recklessly of all.

Bài tập so sánh

Question 1

CORRECT

A

badder

Hint:

so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

worse

C

bader

Hint:

so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

Question 1 Explanation:

Nghĩa: tệ, xấu – tệ hơn – tệ nhất so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

Question 2

CORRECT

A

the littlest

Hint:

sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

B

the most little

Hint:

sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

the least

Question 2 Explanation:

Nghĩa: ít – ít hơn – ít nhất sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

Question 3

WRONG

many

Hint:

tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

Both A and C

much

Hint:

tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

Question 3 Explanation:

Nghĩa: nhiều – nhiều hơn – nhiều nhất tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

Question 4

CORRECT

A

the

Hint:

dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

the most

C

most

Hint:

dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

Question 4 Explanation:

Nghĩa: đắt – đắt hơn – đắt nhất dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

Question 5

PARTIAL-CREDIT

There was a storm yesterday. Today, the weather’s ……………… ( beautiful )

A

more than beautiful

Hint:

dạng so sánh hơn với tính từ dài: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ.

the most

Hint:

so sánh 2 đối tượng: today – yesterday thì chỉ có thể là so sánh hơn, không thể là so sánh hơn nhất

more beautiful

Question 5 Explanation:

Nghĩa: Hôm qua có bão, hôm nay thời tiết đẹp hơn rồi. dạng so sánh hơn với tính từ dài: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ.

Question 6

PARTIAL-CREDIT

A

most

Hint:

dạng so sánh hơn nhất của tính từ dài là: the most + tính từ dài + N

more

Hint:

so sánh 3 vật thể với nhau không thể có so sánh hơn

the most

Question 6 Explanation:

Nghĩa: Trong ba cuốn sách này, bạn nghĩ cuốn nào hay nhất? dạng so sánh hơn nhất của tính từ dài là: the most + tính từ dài + N

Question 7

CORRECT

A

good

Hint:

tính từ “good” không thể theo sau động từ “sing” để bổ nghĩa được

B

best

Hint:

2 hiện tượng không thể có so sánh hơn nhất

C

goodly

Hint:

trạng ngữ đặc biệt của “good” là “well”

well

Question 7 Explanation:

Nghĩa: Cô ấy không thể hát hay nhưng có thể chơi piano giỏi. trạng ngữ đặc biệt của “good” là “well”. Thêm đó, tuân thủ quy tắc song song giữa 2 mệnh đề: sing well – play beautifully

Question 8

PARTIAL-CREDIT

difficult

Hint:

nghĩa: khó

intelligent

C

easy

Hint:

nghĩa: dễ, tính từ ngắn

D

tall

Hint:

nghĩa: cao, tính từ ngắn

Question 8 Explanation:

Nghĩa: Bạn của chúng tôi thông minh hơn chúng tôi. có 2 đối tượng so sánh: our friends – us, cấu trúc chung của so sánh hơn với tính từ dài là: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ

Question 9

CORRECT

A

like

Hint:

“Like” và “as” là hai từ cùng được dùng để nói về những sự vật, sự việc có nét tương đồng hay giống nhau.

B

as

Hint:

“Like” và “as” là hai từ cùng được dùng để nói về những sự vật, sự việc có nét tương đồng hay giống nhau.

than

D

to

Hint:

giới từ

Question 9 Explanation:

Nghĩa: Diana cao hơn nhiều so với Charles. trước đó có tính từ ngắn dạng so sánh hơn “taller”, theo cấu trúc so sánh hơn với tính từ ngắn: S + to be + tính từ ngắn + er + than + danh từ/ đại từ

Question 10

WRONG

easier than

Hint:

so sánh hơn với tính từ ngắn “easy”

more easier

most easiest

Hint:

2 đối tượng so sánh: This exercise – my expectation

Question 10 Explanation:

Nghĩa: Bài tập này không khó. Nó dễ hơn tôi tưởng. “easy” là tính từ ngắn, áp dụng công thức so sánh hơn với tính từ ngắn cho 2 đối tượng: S + to be + tính từ ngắn + er + than + danh từ/ đại từ

Question 11

CORRECT

much

B

many

Hint:

sau “many” danh từ đếm được số nhiều, “money” là danh từ không đếm được

C

less

Hint:

Câu dùng cấu trúc so sánh bằng

D

more

Hint:

Câu dùng cấu trúc so sánh bằng

Question 11 Explanation:

Nghĩa: Anh ấy có nhiều tiền hơn tôi. much dùng cho danh từ không đếm được

Question 12

WRONG

few

many

much

Hint:

danh từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó không thể là “much”

both B and A

Question 12 Explanation:

danh từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó là “many, few” theo công thức so sánh bằng: S + V + as + few/ much/ many/ little + danh từ đếm được/ không đếm được + as + noun/ pronoun

Question 13

WRONG

The more I study much, the more I know lots of.

Hint:

so sánh “càng…càng…” đã có “more” thì không có “much”, ‘”lots of”

The more I study, the more I know.

Question 13 Explanation:

2 mệnh đề đều bắt đầu bằng so sánh hơn, song song về cấu trúc: The +từ so sánh hơn + S1 +V1, the + từ so sánh hơn + S2 +V2

Question 14

PARTIAL-CREDIT

English

Hint:

Môn tiếng Anh

Literature

Hint:

Văn học

Maths

Hint:

Môn toán

D

Geography

Hint:

Địa lý

Question 14 Explanation:

Nghĩa: Cậu ấy học rất giỏi toán. Cậu ấy có thể tính tổng nhanh hơn tất cả các học sinh trong lớp cậu ấy.

Question 15

WRONG

The more water he drinks, the thirstier he becomes.

The more he drinks water, the more he becomes thirsty.

Hint:

Cấu trúc so sánh kép: the + từ so sánh hơn(more/ less) (+N) S + V, the + từ so sánh hơn(more/ less) + S +V

Question 15 Explanation:

Nghĩa: Càng uống nhiều nước, anh ta càng thấy khát. Cấu trúc so sánh kép: the + từ so sánh hơn(more/ less) (+N) S + V, the + từ so sánh hơn(more/ less) + S +V

Question 16

CORRECT

A

gooder

Hint:

tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”

better

C

good

Hint:

tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”, sau tính từ có “than” buộc trước đó phải là tính từ dạng so sánh hơn

D

best

Hint:

đang so sánh 2 hiện tượng: My English this term – My English last term

Question 16 Explanation:

Nghĩa: Tiếng Anh của tôi kỳ này tốt hơn kỳ trước. tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”, sau tính từ có “than” buộc trước đó phải là tính từ dạng so sánh hơn: S + to be + tính từ ngắn + er/ more + tính từ dài + than + noun/ pronoun

Question 17

CORRECT

A

happy/ good

Hint:

sau chỗ trống 1 có “than” dạng cấu trúc của so sánh hơn nên tính từ phải ở dạng so sánh

B

happier/ gooder

Hint:

dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “good” là “better”

C

more happy/ more good

Hint:

sau chỗ trống 1 có “than” dạng cấu trúc của so sánh hơn nên tính từ phải ở dạng so sánh, dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ “happy” là “happier”

happier/ better

Question 17 Explanation:

Nghĩa: Anh ấy cảm thấy vui hơn năm ngoái bởi kết quả học tập tốt hơn. dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ “happy” là “happier” đứng trước “than”

Question 18

CORRECT

A

fluent

Hint:

có “than” trước chỗ trống nên trạng từ phải ở dạng so sánh

B

more fluent

Hint:

động từ hành động “speak” buộc câu phải ở dạng so sánh trạng từ

more fluently

D

fluently

Hint:

Question 18 Explanation:

Nghĩa: Nam có thể nói tiếng Trung thành thạo hơn Minh.

Question 19

WRONG

quieter

Hint:

sau chỗ trống có “than” nên tính từ trước đó phải ở dạng so sánh hơn, “quiet” là tính từ dài

more quiet

more quietly

Hint:

động từ chính so sánh trong câu là ‘tobe” nên câu này phải ở dạng so sánh với tính từ không phải với trạng từ.

quietlier

Hint:

“quiet” là tính từ dài

Question 19 Explanation:

Nghĩa: Vùng quê yên tĩnh hơn thành phố. sau chỗ trống có “than” nên tính từ trước đó phải ở dạng so sánh hơn, “quiet” là tính từ dài, động từ chính so sánh trong câu là ‘tobe” nên câu này phải ở dạng so sánh với tính từ: S + to be + more + tính từ dài + than + noun/ pronoun

Question 20

CORRECT

A

more long

Hint:

“long” là tính từ ngắn, “more + tính từ dài + than”

long

C

longer

Hint:

“as…as’ dấu hiệu so sánh bằng không phải so sánh hơn.

D

longest

Hint:

“as…as’ dấu hiệu so sánh bằng không phải so sánh hơn nhất

Question 20 Explanation:

Nghĩa: Áo sơ mi xanh dài bằng áo sơ mi đỏ. “as…as’ dấu hiệu so sánh bằng: S + to be + as + tính từ + as + danh từ/ đại từ

Nghĩa: Tôi càng học nhiều tôi càng biết nhiều.2 mệnh đề đều bắt đầu bằng so sánh hơn, song song về cấu trúc: The +từ so sánh hơn + S1 +V1, the + từ so sánh hơn + S2 +V2

Nghĩa: Anh ấy và anh trai của anh ấy làm việc ít/ nhiều giờ như chúng tôi từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó là “many, few” theo công thức so sánh bằng: S + V + as + few/ much/ many/ little + danh từ đếm được/ không đếm được + as + noun/ pronoun

21.003118

105.820141

Bình chọn

Hanoi, Vietnam

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…