So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Theo cách phân chia thông thường hiện nay thì Việt Nam và Nhật Bản ở vào hai khu vực văn hoá khác nhau. Nhật Bản là một nước Đông á, còn Việt Nam thuộc Đông Nam á. Không dễ gì đem văn hoá thuộc hai khu vực khác nhau để so sánh, nhưng chúng ta lại rất cần đến nghiên cứu so sánh để có thể hiểu sâu thêm từng đối tượng và hiểu rộng thêm mối quan hệ giữa các đối tượng này. Mặt khác, sự phân chia thành các khu vực văn hoá, thực chất cũng chỉ là một cách làm của các nhà khoa học nhằm phân lập một cách tương đối một thực thể nào đó, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chia cắt chúng một cách tuyệt đối. Hơn thế, do tác động của hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc thuộc các khu vực văn hoá khác nhau lại có nhiều mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, vì vậy so sánh để tìm ra những mối liên hệ, rút ra những điểm tương đồng và dị biệt lại là việc làm hết sức cần thiết và bổ ích. Nhật Bản và Việt Nam có thể coi là những trường hợp như thế. Hơn nữa, Việt Nam và Nhật Bản lại cùng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa, nên có không ít những điểm tương đồng, nhưng nếu nghiên cứu sâu hơn những biểu hiện của ảnh hưởng này lại tìm ra những khác biệt đáng kể.

    Chọn Nhật Bản để so sánh, tác giả muốn đạt tới sự nhận thức sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam và qua đó, góp phần hiểu thêm về mối quan hệ Đông á và Đông Nam á.

    Có nhiều phương pháp so sánh nhưng phương pháp được sử dụng trong bài này là so sánh theo tiêu chí. Theo chúng tôi có thể chọn 5 tiêu chí sau đây:

    1. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái.

    Với nhận thức của khoa học ngày nay, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến sáng tạo văn hoá của con người. Sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá.

    2. Sự hình thành nhà nước đầu tiên.

    Đây là sự kiện có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi dân tộc vì sự xuất hiện nhà nước vừa là cái mốc bước nhảy vọt của một cộng đồng cư dân đưa họ bước vào thời đại văn minh vừa là sự kết tinh của những thành tựu về văn hoá đã đạt được trước đó, bước đầu định hình một bản sắc văn hoá.

    3. Những đặc điểm về cư dân và đặc trưng văn hoá truyền thống.

    Nói tới văn hoá, không thể không xem xét chính chủ thể của văn hoá, nên nguồn gốc, quá trình tộc người và đặc điểm của cả cộng đồng là những yếu tố không thể bỏ qua. Còn đặc trưng của văn hoá truyền thống ở đây là xét trên những đặc trưng chung nhất của 4 thành tố cấu thành văn hoá.

    4. Các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử.

    Từ khi nhà nước hình thành, mặc dù là sản phẩm của văn hoá do chính con người tạo ra nhưng các hình thức tổ chức nhà nước có tác động rất mạnh mẽ đến chiều hướng phát triển của lịch sử và chi phối những đặc trưng của xã hội.

    5. Ứng xử với văn hoá ngoại lai.

    Văn hoá được sản sinh trong một không gian nhất định và giới hạn của nó thường là môi trường tự nhiên, nhưng văn hoá không bao giờ là đóng kín. Sự lan toả những giá trị của một nền văn hoá này tới những nền văn hoá khác là một hiện tượng tự nhiên, nhưng cách ứng xử trước hiện tượng tự nhiên ấy là phụ thuộc vào, và vì vậy, phản ánh đặc trưng của chính những nền văn hoá chịu những tác động ấy. Vì vậy đây có thể coi là một trong những tiêu chí để có thể xét sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hoá.

    Xét theo tiêu chí thứ nhất về điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, có thể thấy Việt Nam là một bán đảo với diện tích tự nhiên hơn 33 vạn km2 và hơn 3000 km bờ biển. Chỉ số duyên hải (ISCL) tính được ” 106. Trong khi đó, Nhật Bản là một quần đảo với 3.600 hòn đảo lớn nhỏ quây quần xung quanh 4 hòn đảo lớn. Tổng diện tích tự nhiên ” 377.000 km2 và 29.000 km bờ biển, chỉ số ISCL ” 13 (1).

    Do địa hình dốc, mưa theo mùa tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc (trên có tới gần 3.000 con sông lớn nhỏ), xoè theo hình nan quạt ở phía bờ biển. Do bồi lấp không hoàn chỉnh, vùng đồng bằng hay có úng lụt, tạo thành vùng sinh thái có nhiều mặt nước chiếm chỗ. Người Việt gọi Tổ quốc mình là nước.

    Khí hậu Việt Nam tương đối đa dạng. ở miền Bắc có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Miền Nam chia thành 2 mùa Khô và Mưa. Đặc điểm chung là nóng, ẩm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho dịch bệnh. Cùng vớí chế độ nhiệt đới gió mùa, hằng năm có bão, thiên nhiên cũng đặt ra không ít những thử thách hiểm nghèo. Mưa, lũ, bão, ẩm, dịch bệnh là những thiên tai mà người Việt thường xuyên phải đối phó.

    Do lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ tuyến, lại có nhiều mạch núi cắt ngang, tạo thành nhiều âu khí hậu khác nhau mà rõ nhất là Bắc, Trung, Nam Bộ. Cùng với sự đa dạng về địa hình, sự khác biệt về khí hậu là những yếu tố tự nhiên nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá phân bố theo vùng, miền.

    Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, nhưng nhìn chung trữ lượng không cao. Ưu thế tài nguyên chủ yếu là đất. Nông nghiệp đã xuất hiện sớm và là ngành kinh tế chủ đạo trong suốt mọi thời kỳ lịch sử.

    Một đặc điểm nổi bật của điều kiện tự nhiên Việt Nam là vị trí địa lí giao tiếp, là nơi giao lưu của nhiều dòng văn hoá và là nơi luôn bị tác động của khu vực và thế giới. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng dần theo thời gian.

    Tuy có diện tích tự nhiên rộng hơn, nhưng khác với Việt Nam, Nhật Bản có tới 75% diện tích là núi và 67% rừng xanh che phủ. Với lượng mưa không lớn (trung bình khoảng 300mm/năm) và do địa hình núi gần biển, Nhật Bản không có nhiều sông. 13 con sông được ghi trong các sách địa lý đều ngắn, nhỏ và nghèo phù sa. Nhật Bản hầu như không có đồng bằng châu thổ (2). Ngay cả những vùng được gọi là đồng bằng như vùng Kanto và Kansai, thực chất cũng chỉ là những thung lũng lớn được tạo thành bởi nham thạch của núi lửa. Nhật Bản có tới 200 núi lửa, 60 ngọn trong số đó vẫn còn đang hoạt động. Chính vì vậy mà biểu tượng của người Nhật là núi lửa Fuji.Cả nước có khoảng 300 thung lũng, bị chia cắt thành 7 vùng núi lửa.

    Bù lại sự chật hẹp về đất đai cư trú và trồng trọt, Nhật Bản có hệ thống cảng biển dày đặc.

    Khí hậu Nhật Bản có sự cách biệt khá xa. Có vùng lạnh như Siberi (đảo Hokkaido), lại có vùng ấm như Đông Nam á (Okinawa và các đảo cực nam). Quanh năm có 4 mùa rõ rệt nhưng độ ẩm không cao. Khí hậu nói chung không thật thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản được coi là nước thiên tai rất khắc nghiệt với sự hoành hành thường xuyên của động đất, lũ quét, sóng thần, bão biển và núi lửa.

    Do địa hình chia cắt, văn hoá Nhật Bản có thể chia thành nhiều vùng – địa phương. Nghèo về tài nguyên (3) kể cả đất canh tác, Nhật Bản chỉ có khoảng 2,5 triệu ha đất có thể canh tác được nhưng chỉ trong một vụ xuân hè.

    Nhật Bản nằm giữa biển, nhưng trong các giai đoạn lịch sử trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu, vị trí địa lý của quần đảo tương đối cách biệt nên ít chịu tác động tự nhiên mà thường chủ động du nhập các yếu tố văn minh từ bên ngoài.

    Những nét tương đồng có thể thấy qua những đặc điểm mang tính hình thức như diện tích tự nhiên (33 vạn/38 vạn km2), địa hình, khí hậu đa dạng với đủ các vùng rừng núi, đồng bằng và duyên hải. Cả hai quốc gia đều phải đối phó với những thiên tai hiểm nghèo… Phân tích sâu hơn những tham số tự nhiên thì thấy những điểm dị biệt là rất đáng kể. Trước hết đó là sự khác nhau giữa một bán đảo với một quần đảo, do đó chỉ số ISCL chênh nhau tới hơn 8 lần (13/106). Do đặc điểm này mà tác động của yếu tố biển tới đời sống văn hoá của mỗi dân tộc rất khác nhau. Sự khác biệt còn thể hiện ở mức độ thuận lợi và thử thách do thiên nhiên đem lại như khắc nghiệt của thiên tai, sự phong phú giàu có về tài nguyên và ảnh hưởng của vị trí địa lý.

    Trong tiêu chí thứ hai: cư dân và đặc trưng văn hoá, Việt Nam luôn được nhận diện như một quốc gia đa tộc người, ít nhất có tới 54 tộc người với ngôn ngữ và truyền thống văn hoá khác nhau, nhưng có một dân tộc chủ thể là người Kinh (hay Việt).

    Đặc trưng văn hoá Việt được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài do tác động của nhiều nhân tố, nhưng về đại thể có thể coi những nhân tố sau đây có vai trò tác động chính yếu:

    – Tác động của môi trường “nước”. Do tác động này mà hình thành các dạng thức văn hoá sông – nước với những tính cách của cư dân ở gần/trên sông, nước (can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng, giỏi xử lí tình huống…).

    – Tác động của hoàn cảnh lao động sản xuất (nông nghiệp trồng lúa nước). Trong quá trình chinh phục đồng bằng châu thổ, đắp đê, điều tiết nước để sản xuất và hợp lực phòng chống lũ lụt, người Việt cần tới sức mạnh cộng đồng. Làng, một loại hình tụ cư đậm tính cố kết trở thành hội điểm của rất nhiều đặc trưng văn hoá. Trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng), hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão (trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Nhưng cũng do hoàn cảnh sản xuất mà người nông dân Việt không quen hạch toán và lường tính xa. Bình quân (chia đều) trở thành một phương thức hữu hiệu duy trì mối quan hệ hoà đồng trong làng xã.

    – Tác động của hoàn cảnh lịch sử mà nổi bật là phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược. Tác động này đã tạo nên truyền thống bất khuất kiên cường, có ý thức độc lập tự chủ cao. Đồng thời cũng chính do tác động này mà thiết chế cộng đồng được gia cố thêm.

    Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt coi trọng đạo thờ cúng tổ tiên. Trong quá trình tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, ấn Độ và phương Tây, Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo lần lượt được du nhập vào Việt Nam. Các tôn giáo ngoại lai và các loại hình tín ngưỡng bản địa đã dung hợp nhau cùng tồn tại và phát triển. Việt Nam trở thành một xứ sở hỗn dung tôn giáo.

    Khác với Việt Nam, Nhật Bản là một quốc gia thuần chủng, có bản sắc chung rất rõ nét. Trong kết cấu cư dân hiện nay, 99,4% dân số là người Nhật, bộ phận những cư dân khác còn lại chỉ chiếm 0,6% (gồm 600.000 người Triều Tiên, 40.000 người Trung Quốc và khoảng 20.000 Ainu). Quá trình “thuần chủng hoá” này đã diễn ra trong một quá trình lịch sử lâu dài trong điều kiện quần đảo Nhật Bản sống tương đối tách biệt với thế giới bên ngoài. Địa hình bị chia cắt bởi núi non, thung lũng và đảo dẫn tới sự hình thành nhiều dạng thức văn hoá địa phương. Người ta đã từng chia Nhật Bản thành 6 vùng văn hoá là Bắc hải đạo (đảo Hokkaido), Bắc lục đạo (vùng núi phía bắc, giáp biển Nhật Bản, chủ yếu là các tỉnh Nigata, Kanazawa), Đông hải đạo (vùng đồng bằng Kanto), Kinki (vùng đồng bằng Kansai), Tây hải đạo (đảo Kyushu), Nam hải đạo (đảo Shinkoku và các đảo phía nam).

    – Xét về tác động của môi trường có thể thấy biển, núi, thung lũng, khí hậu ôn đới, núi lửa và động đất là những nhân tố tự nhiên tác động mạnh mẽ và thường xuyên đến quá trình hình thành văn hoá truyền thống Nhật Bản. Do tác động đó mà tính cách Nhật Bản cứng rắn, tiết kiệm, trung thành với các giá trị truyền thống và rất cầu toàn. Vị trí địa lý tương đối biệt lập (của cả quần đảo và của từng vùng) đã tạo nên tính cách đóng kín nhưng lại luôn có mặc cảm “bị bỏ rơi” nên luôn mong muốn hội nhập và học tập cái hay ở người khác.

    – Về hoàn cảnh lịch sử, có thể thấy trong suốt thời kỳ trung đại, ngoại trừ hai lần tấn công xâm lược nhưng không thành của quân Mông – Nguyên, Nhật Bản hầu như không phải đối phó với ngoại xâm. Thay vì các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, nội chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương diễn ra tương đối thường xuyên và kết cục dẫn đến sự hình thành thiết chế Mạc phủ mà thực chất là sự thống trị của chính quyền quân sự, đứng đầu là các dòng họ Shogun (Tướng quân) song song với sự tồn tại phần nhiều trên danh nghĩa một chính quyền dân sự do Thiên hoàng (Teno) đứng đầu. Hoàn cảnh lịch sử này đã tạo nên tính kỉ luật, đề cao vai trò người chỉ huy. Chuẩn mực đạo đức là đề cao giữ chữ tín. Sự phát triển mạnh mẽ của các phong kiến địa phương tại mỗi thung lũng đã dẫn tới sự hình thành các đơn vị thân binh (Samurai) sau thành trở thành một tầng lớp có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội dưới tên gọi Vũ sĩ (Bushi). Trong xã hội truyền thống, đại bộ phận cư dân sống ở nông thôn. Họ tụ cư thành các đơn vị gọi là mura (thôn). Khác với cấu trúc làng ở Việt Nam, trong các mura của Nhật Bản, xã hội có cấu trúc theo chiều dọc, nghĩa là có trật tự, lớp lang. Mọi thành viên đều có chức năng, bổn phận rất rõ ràng. Quan niệm “cá mè một lứa” hay “cá đối bằng đầu”, một kiểu dân chủ làng xã theo lối bình quân chủ nghĩa thường thấy ở Việt Nam, rất xa lạ với xã hội Nhật Bản.

    Tôn giáo giữ vị trí độc tôn ở Nhật Bản là Shinto (Thần đạo). Tôn giáo này đã hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng thờ tổ tiên là nữ thần mặt trời. Các tôn giáo khác ở Nhật rất kém phát triển, trừ phật giáo Đại thừa. Nhật Bản đã có thời coi văn minh Trung Hoa là mẫu hình lý tưởng để học theo, nhưng Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản không phải là nguyên mẫu. Người Nhật đã chọn lựa từng bộ phận nhưng rất tuân thủ giáo lý. Hệ thống tuyển chọn quan lại bằng thi cử hoàn toàn không được người Nhật áp dụng.

    Trên bình diện cư dân và đặc trưng văn hoá, những nét tương đồng của Việt Nam và Nhật Bản thể hiện ở chỗ cả hai cộng đồng đều thuộc chủng Mongoloid và có chung yếu tố Nam á.

    Văn hoá truyền thống của cả hai dân tộc đều hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, kinh nghiệm đều có nhiều nét tương đồng. Cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nên Nho giáo, Đạo giáo và nhiều chuẩn mực Trung Hoa có thể tìm thấy trong văn hoá cả hai nước.

    Tuy nhiên, tính chất đa dân tộc của cộng đồng cư dân Việt Nam rất khác với đặc điểm thuần chủng của người Nhật. Mặt khác sự trội vượt của yếu tố phương Nam và sự thiếu vắng hoàn toàn hoạt động không du mục của cư dân Việt và tính trội yếu tố phương Bắc với sự hiện diện của kinh tế du mục trong một thời kỳ lịch sử của Nhật Bản đã dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong hai nền văn hoá. Nếu như ở Việt Nam, ảnh hưởng từ dưới lên là đặc trưng chủ đạo thì với văn hoá Nhật Bản ảnh hưởng từ trên xuống lại là xu hướng chi phối.

    Việt Nam không có quốc đạo trong khi đó ở Nhật Bản đạo Shinto được coi là quốc giáo. Sự khác biệt trong văn hoá còn thể hiện ở tính cách ứng xử của hai dân tộc. Một bên là mềm mỏng, linh hoạt, dễ thích ứng, một bên coi trọng nguyên tắc, kỉ luật. Trong bảng giá trị đạo đức, người Việt trọng hiếu còn người Nhật thì trọng tín.

    Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam được xác định vào cuối thời Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2500 – 2700 năm. Như vậy là tương đối sớm. Tuy nhiên đây không phải là kết quả của một quá trình phân hoá xã hội sâu sắc mà trên cơ sở phát triển nhất định của các tiền đề kinh tế xã hội, những tác động khách quan của nhu cầu sản xuất và chống xâm lấn đã đẩy nhanh quá trình này. Ngay sau khi ra đời, nhà nước Văn Lang và sau đó là Âu Lạc đã phải liên tục đương đầu với quá trình bành trướng xuống phương Nam của các đế chế Trung Hoa. Đây là điểm khác biệt lớn của lịch sử Việt Nam so với Nhật Bản. Từ giai đoạn văn hoá Yayoi (thế kỷ III TCN – III SCN), kỹ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước du nhập vào Kyushu đã tạo nên bước nhảy vọt trong lịch sử Nhật Bản. Cùng với sự phát triển về kinh tế, phân hoá xã hội trở nên ngày càng sâu sắc. Vào giữa thế kỉ I SCN, tầng lớp Shucho (thủ lĩnh) giàu có xuất hiện. Sau đó hàng loạt Kuni (một loại hình nhà nước sơ khai) được hình thành, trong đó mạnh nhất là nước Wa. Ngay sau khi thành lập, vào năm 57 SCN, nước này đã xin thần phục nhà Hán mở ra một thời kỳ phát triển theo quỹ đạo của văn minh Trung Hoa.

    Về các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử, mặc dù đã từng tồn tại nhiểu kiểu loại nhà nước khác nhau, nhưng xu hướng chủ đạo là sự thắng thế của hình thức nhà nước trung ương tập quyền. Dưới thời Lý-Trần (1009 – 1400), mô hình “tập quyền thân dân” tồn tại gần 4 thế kỷ. Cả thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của mô hình “tập quyền quan liêu” và thế kỷ XIX là thời kỳ thống trị của mô hình “tập quyền chuyên chế”. Duy có giai đoạn từ năm 1600 đến 1789 trong bối cảnh chiến tranh phe phái triền miên, ở đàng Ngoài tồn tại một thiết chế khá đặc biệt với sự tồn tại song song hai chính quyền: triều Lê trên danh nghĩa và Chúa Trịnh (chính quyền quân sự) nắm thực quyền.

    Ở Nhật Bản, từ thế kỷ VII, dưới tác động của mô hình cai trị của nhà Đường, Nhật Bản cũng cố gắng xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn bị đứng đầu là Thiên hoàng. Tuy nhiên từ thế kỷ X, chính quyền trung ương suy yếu vì các vị Kokushi do chính quyền trung ương cử đến đứng đầu Kuni ngày càng có nhiều trang viên (Shoen) do được tặng biếu.

    Trong thời kỳ này hình thức xin thầu khai khẩn đất hoang (Myo) rất phát triển. Người trúng thầu gọi là Tato. Người nhiều ruộng gọi là Daimyotato. Những người này có rất nhiều Samurai (người hầu cận) làm cơ sở cho việc hình thành lực lượng vũ trang riêng. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới những cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến địa phương và sự hình thành thể chế Mạc phủ (Bakkufu) từ năm 1192 và kéo dài cho đến tận cải cách Minh Trị (1868).

    Những điểm tương đồng về tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có thể thấy ở 3 điểm:

    – Cùng chịu ảnh hưởng từ mô hình Nho giáo của Trung Hoa

    – Đều chú trọng pháp luật

    – Đặc biệt là thiết chế hai chính quyền ở Việt Nam từ 1600 đến năm 1789 và thiết chế Mạc phủ ở Nhật Bản từ 1192 đến 1868.

    Sự khác biệt thể hiện ở chỗ:

    – Việt Nam luôn thiết lập được thiết chế tập quyền mạnh còn ở Nhật Bản, chính quyền ở các địa phương mới là thế lực chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Thể chế Mạc phủ chỉ có thể khống chế địa phương về mặt quân sự.

    – Do cần tới một đội ngũ quan lại hùng hậu, các chính quyền phong kiến Việt Nam bắt đầu từ triều Lý (1076) đã tiến hành tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài, từ đó hình thành một hệ thống lưỡng ban (văn và võ). Chính quyền phong kiến Nhật Bản chưa bao giờ áp dụng hệ thống này. Vì vậy tầng lớp sĩ ở Nhật Bản chính là các Samurai văn võ kiêm toàn.

    Trong quá trình tiếp xúc với văn hoá ngoại lai, Việt Nam có ưu thế về vị trí địa lý. Và trên thực tế đã tiếp thu không ít những giá trị từ những nền văn hoá khác. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng, ứng xử truyền thống của người Việt với văn hoá ngoại lai thường bắt đầu từ sự hoài nghi, rồi sau đó buộc phải chấp nhận nhưng tìm mọi cách cải biến theo chuẩn mực của mình. Trong khi đó, do hoàn cảnh lịch sử và những đặc trưng văn hoá khác biệt, người Nhật luôn cho rằng ở ngoài Nhật Bản có rất nhiều giá trị văn hoá cao hơn, nếu tiếp thu được sẽ tạo cho văn hoá của họ những bước nhảy vọt (kỹ thuật đúc đồng, lúa nước, các chuẩn mực văn minh Trung Hoa…), vì vậy ứng xử truyền thống của người Nhật là xác định đâu là đỉnh cao rồi cố chí học theo. Điều này còn bao hàm cả việc sau khi nhận ra một mô hình nào đó đã lỗi thời, họ sẵn sàng từ bỏ để đến với những chuẩn mực cao mới. Đó là trường hợp Nhật Bản quay lưng lại với mô hình Trung Hoa sau khi chiến tranh thuốc phiện chấm dứt với thắng lợi của người phương Tây. Từ đây chuẩn mực mà người Nhật quyết chí noi theo là văn minh phương Tây.

    1. Ta thường nói đến sự tương đồng văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản (đồng văn, đồng chủng). Điều này đúng vì cả hai dân tộc đều có những giá trị chung của châu á lấy nghề trồng lúa nước làm nền tảng kinh tế, đều chịu ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và xét trên nhiều khía cạnh cụ thể cũng có thể tìm ra những điểm tương đồng, Chẳng hạn như sự tồn tại hai chính quyền quân sự và dân sự trong một thời kỳ lịch sử. Đấy là cơ sở thuận lợi trong quá trình giao lưu, hợp tác và học hỏi lẫn nhau.

    2. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản lớn tới mức có thể dùng chuẩn mực của nền văn hoá này để suy ra những đặc điểm tương tự ở nền văn hoá kia. Chẳng hạn như tính cách nông dân trồng lúa nước của Việt Nam hoàn toàn không thể dùng để quy chiếu tính cách nông dân Nhật Bản.

    3. Để có thể học tập và mở rộng hợp tác, nhất thiết phải có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc. Điều này không chỉ đúng với trường hợp Việt Nam và Nhật Bản mà còn đúng với các trường hợp khác. Nói rộng ra về sự tương đồng và khác biệt văn hoá của hai khu vực Đông á và Đông Nam á cũng cần tính tới việc phải xem xét thật cụ thể từng trường hợp và từng tác nhân dẫn tới sự tương đồng và khác biệt đó.

    GS.TSKH Vũ Minh Giang

    1. Chỉ số duyên hải được tính bằng công thức: ISCL = å A / å L (Tổng diên tích tự nhiên chia cho tổng chiều dài đường bờ biển). ở Nhật Bản ISCL ” 13, Việt Nam ” 106, có nghĩa là 1 km đường bờ biển chỉ che phủ tương ứng với mỗi nước là 13 km2 và 106 km2 diện tích lục địa. Theo đó, chỉ số ISCL càng thấp thì tác động của biển tới văn hoá càng mạnh.

    2. Trong một số sách địa lý của Nhật Bản có nhắc đến châu thổ sông Ota, tức vùng có thành phố Hiroshima, nhưng thực ra đấy chỉ là nói về đặc trưng thành tạo chứ quy mô bồi tụ và chất lượng phù sa của vùng này không giống với châu thổ ở các nơi khác trên thế giới.

    3. Thực ra Nhật Bản đã từng có những mỏ khoáng sản lớn như đồng, bạc, vàng… nhưng tất cả hầu như nhưng đã khai thác hết từ thế kỷ XVII.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Đối với những bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa của cá quốc gia và đặc biệt là những bạn sắp sửa sang Hàn Quốc học tập và làm việc thì đều muốn thực hiện một phép so sánh văn hóa Hàn Quốc và Việt Nam. Việc tìm hiểu trước về văn hóa Hàn Quốc cũng như sự khác nhau giữa văn hóa Hàn Quốc và Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc sống văn hóa của họ.

    Đồng thời cũng là sự chuẩn bị trước để chúng ta có thể nhanh chóng hòa nhập với môi trường văn hóa mới này, tránh trường hợp bị sốc văn hóa khi mới sang Hàn Quốc.

    Những thói quen hàng ngày trong văn hóa của Hàn Quốc và Việt Nam

    Nếu bạn là một fan của những bộ phim truyền hình Hàn Quốc thì có thể nhận thấy được một điều rằng người Hàn Quốc thường sẽ chuẩn bị bữa ăn sáng cho mình và người thân tại nhà. Bắt đầu một ngày mới, cả gia đình sẽ quây quần bên bàn ăn sáng rồi sau đó mới đi học, đi làm. Còn đối với người Việt thì mọi thứ phóng khoáng hơn, chúng ta có thể tự nấu ăn sáng, mua đồ ăn ở ngoài hoặc ghé các quan ăn để thưởng thức bữa sáng. Ở Việt Nam có rất đa dạng các món ăn cho bữa sáng để bạn có thể lựa chọn như bún, phở, xôi, bánh mỳ,…

    Sự khác biệt về tính cách con người Việt Nam và Hàn Quốc

    Người Hàn Quốc thường rất thẳng thắn, bộc trực, họ nghĩ sao nói vậy còn người Việt Nam lại thường nói giảm nói tránh chứ không đi trực tiếp vào vấn đề. Những người đàn ông Hàn Quốc rất lịch lãm, ga lăng và điềm đạm, còn đàn ông Việt Nam lại chuộng sự mạnh mẽ, gai góc hơn. Người Việt thường sẽ coi trọng và đề cao tín ngưỡng tôn giáo hơn so với người Hàn.

    Văn hóa ẩm thực của Việt Nam và Hàn Quốc

    Ẩm thực của mỗi quốc gia đều có những điểm độc đáo riêng và đặc trưng cho đất nước của mình. Ngay cả trong cách sử dụng gia vị và chế biến các món ăn cũng có nhiều điểm khác biệt. Nếu như người Hàn chỉ sử dụng 1 hoặc 2 loại gia vị cho một món ăn thì người Việt Nam lại kết hợp rất nhiều loại gia vị khác nhau để tạo nên hương vị hấp dẫn hơn.

    Nhờ việc trao đổi qua lại giữa Việt Nam và Hàn Quốc mà sự trao đổi qua lại giữa hai nền văn hóa được diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Theo đó chúng ta có thể thấy được rất nhiều những nét văn hóa tiêu biểu của Hàn Quốc du nhập và ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam.

    Thứ nhất phải kể đến đó là văn hóa ăn mặc, thời trang Hàn Quốc: Thời trang của người Hàn nổi tiếng với sự đơn giản, năng động, cá tính, kín đáo nhưng vẫn rất sang trọng và thanh lịch. Chính vì vậy mà nhiều năm trở lại đây, chúng ta có thể thấy được những phong cách thời trang của người Hàn xuất hiện rất phổ biến trên đường phố Việt Nam, đặc biệt là trong bộ phận lớn các bạn trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Đôi Nét Về Văn Hóa Mỹ Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Việt Và Tiếng Anh
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Nga
  • Dấu Hiệu Phân Biệt Bong Gân, Trật Khớp Và Gãy Xương Không Thể Nhầm Lẫn
  • Đề Tài Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa C++, C# Và Java
  • Sự Khác Biệt Giữa Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ
  • Mỹ là một quốc gia đông dân, đa dạng về chủng tộc, văn hóa, xã hội,… chính vì thế tạo nên những nét đặc trưng mà không phải quốc gia nào cũng có.

    • Tính cá nhân: Người Mỹ luôn tôn trọng tự do cá nhân, điều này không có nghĩa là cô lập với cộng động xung quanh mà người Mỹ coi trọng tính cá nhân và độc lập của mỗi người, đảm bảo quyền bình đẳng con người. Đây là một nét đặc trưng trong văn hóa Mỹ.
    • Tính tự lập: Bên cạnh sự tôn trọng tự do cá nhân thì tính độc lập, tự lập cũng là một nét tiêu biểu của người Mỹ. Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được dạy để tự đứng trên đôi chân của mình. Đến khi đi học, phần lớn sinh viên Mỹ sẽ tự chọn ngành học, lớp học thậm chí là tự chi trả một phần hoặc toàn bộ học phí,… Khi ra trường sẽ tự tìm việc, chủ động cho cuộc sống,…
    • Tình bạn: Bởi tính độc lập của người Mỹ mà tình bạn của họ so với những nền văn hóa khác thường mang tính ngẫu nhiên nhiều hơn. Người Mỹ khá rõ ràng trong phân loại tình bạn như: bạn ở trường học, bạn nơi làm việc, bạn trong độ bóng,… hay bạn trong những mối quan hệ gia đình. Người Mỹ sẽ là một người bạn tốt và chân thành khi họ thấy được thiện ý từ đối phương.
    • Sự thoải mái: Trong văn hóa người Mỹ thì sự thoải mái luôn được coi trọng. Họ ăn mặc, giải trí và giao tiếp với nhau một cách thoải mái kể cả khi có sự khác biệt về tuổi tác, địa vị xã hội. Sinh viên và thầy cô có thể gọi nhau bằng tên khi giao tiếp (điều này có thể gây bất ngờ cho phần lớn sinh viên quốc tế khi đến đây, nhưng đây lại là một phần của văn hóa Mỹ).
    • Sự nhiệt tình: Bên cạnh việc thích đặt câu hỏi thì người Mỹ cũng rất nhiệt tình giải đáp những thắc mắc mà người đối diện đưa ra. Vì vậy khi đến Mỹ mà không hiểu vấn đề gì thì bạn cũng đừng ngần ngại khi đặt câu hỏi.
    • Sự năng động: Mỹ là một đất nước năng động, luôn vận chuyển và biến đổi. Nếu là một người có lối sống bình thản và chậm rãi thì bạn sẽ thấy chóng mặt với nhịp sống của người Mỹ, và bạn sẽ phải mất một thời gian để làm quen với nhịp độ này. Nếu là một người có lối sống năng động thì bạn sẽ rất hứng thú với nhịp sống ở nơi đây.
    • Không thích sự yên lặng: Ở một đất nước năng động như nước Mỹ tất nhiên người Mỹ cũng không thích sự yên lặng, họ thà nói về thời tiết (nói chuyện về thời tiết được coi là một việc nhàm chán) còn hơn là ngồi im lặng khi giao tiếp.
    • Coi trọng thành tích: Thành tích được coi là một cách để người Mỹ thể hiện bản thân, họ không ngần ngại khi chia sẻ và được người khác đánh giá những thành tích của mình, đây như là một sự tôn trọng lẫn nhau của người Mỹ. Một ví dụ tiêu biểu đó là sách báo, một bộ phim hay một tác phẩm âm nhạc thường ít được đánh giá dựa vào chất lượng mà dựa trên số lượng được bán ra và lợi nhuận thu được.
    • Sự cạnh tranh và hợp tác: Người Mỹ thường cạnh tranh với nhau một cách công khai. Khi người nước ngoài đến Mỹ sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy sự cạnh tranh xuất hiện ở mọi nơi, mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Bên cạnh đó người Mỹ cũng có tinh thần làm việc nhóm rất cao, sự hợp tác của các thành viên trong nhóm thường mang đến kết quả cao hơn của một cá nhân.
    • Coi trọng thời gian: Đối với văn hóa nước Mỹ thì đúng giờ là điều cực kỳ được coi trọng. Người Mỹ thích sắp xếp cuộc sống theo một thời gian biểu, họ luôn đúng giờ trong mỗi cuộc hẹn hay trong công việc. Đối với các quốc gia khác thì người mỹ có vẻ luôn vội vã, nhưng việc coi trọng thời gian lại giúp họ đạt được những thành quả cao trong công việc cũng như trong cuộc sống.
    • Đặt câu hỏi: Khi gặp những người lạ hay sự lạ lẫm thì người Mỹ thường đặt ra nhiều câu hỏi để hòa nhập với nhau. Những câu hỏi có thể vu vơ hoặc cũng có thể là câu hỏi riêng tư, sẽ không cần phải trả lời tất cả những câu hỏi mà bạn cảm thấy khó chịu. Những câu hỏi ở đây chỉ giúp mang lại sự thoải mái hơn trong giao tiếp.
    • Bị coi là thực dụng: Ở Mỹ, thành công của một người thường được đo đếm bằng số tiền mà người đó kiếm được, hay lượng tài sản mà người đó đang sở hữu. Nhưng khi đã đạt được sự thành công nhất định về mặt vật chất, người Mỹ thường dành thời gian để tìm hiểu những giá trị văn hóa, tinh thần trong cuộc sống.
    • Tips – phí dịch vụ: Tips là một trong những điểm đặc trưng trong văn hóa của người Mỹ, tiền dịch vụ sẽ không tính cùng hóa đơn do đó khách hàng thường phải trả thêm 10 – 15% tổng số tiền trong hóa đơn cho người phục vụ. Trong nhiều trường hợp thì tiền tips cũng là một khoản thu nhập của người phục vụ.

    Văn hóa Mỹ và Việt Nam có gì khác biệt?

    Người Mỹ rất coi trọng cái tôi và tính cá nhân trong nhiều mặt của cuộc sống. Họ lạc quan, không ngần ngại ca ngợi bản thân để thể hiện sự tự tin. Người Mỹ không ngại thể hiện quan điểm cá nhân cũng như cạnh tranh trong công việc.

    Người Việt khi nói chuyện thường hạ mình xuống như một sự khiêm nhường. Người Việt chấp nhận sự lạc quan hay bi quan như một chuyện thường tình. Người Việt coi trọng sự nhường nhịn vì vậy trong một tập thể dễ bị người Mỹ lấn át. Nhưng cũng chính sự nhường nhịn và lối sống hòa nhập này giúp cộng đồng người Việt sống tình cảm hơn.

    Người Mỹ thích đặt câu hỏi và coi đây như một phương thức giao tiếp, họ cũng tôn trọng và trả lời câu hỏi của người đối diện. Còn người Việt thì ngại hỏi, đặc biệt là với người lạ.

    Người Mỹ rất hay khen nhau, họ có thể khen nhau về mọi phương diện từ kiểu tóc mới, chiếc áo đẹp, đôi giày thời trang,… Đặc biệt với người lạ thì họ coi lời khen như một cách bắt chuyện và càng được sử dụng nhiều hơn.

    Trái lại, người Việt chỉ sử dụng lời khen khi thực sự cần thiết, lời khen nếu được sử dụng quá nhiều sẽ bị cho là khác sáo thậm chí là nịnh nọt hay giả dối.

      Đặt vấn đề và giải quyết sự việc

    Người Mỹ với tính cách thẳng thắn thường sẽ đi thẳng vào vấn đề. Họ coi trọng kết quả sau cùng, sẵn sàng đối đầu với mọi cản trở để đạt được kết quả nhanh và hiệu quả nhất.

    Người Việt thì đề cao sự mềm mỏng, khéo léo nên khi đặt vấn đề thường vòng vo mà không đi thẳng vào vấn đề. Họ không thích xung đột nên có thể chấp nhận đi vòng một chút (có thể tốn thời gian hơn) để đạt được kết quả mà không mất quá nhiều sức lực.

    Đối với người Việt Nam, cũng có sự trao đổi giữa sếp và nhân viên, nhưng thường sẽ dừng lại ở việc nhân viên đưa ra ý kiến để cấp trên xem xét, rất ít thấy trường hợp cấp trên và nhân viên tranh luận gay gắt trong công việc. Chính vì vậy hiệu quả công việc sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi năng lực cá nhân của người lãnh đạo.

    Còn đối với người Việt thì việc xê dịch giờ hẹn một chút không phải là vấn đề gì quá lớn. Người Việt sẽ đến sớm hơn khi đó là một cuộc hẹn quan trọng.

    Người Mỹ có tinh thần trọng luật rất cao, thậm chí trở lên máy móc. Đối với họ cứ đúng luật là được, còn có tình có nghĩa hay không thì không quan trọng.

    Đối với người Việt, bên cạnh pháp luật thì còn rất chú trọng vào khuôn mẫu đạo đức. Chính vì vậy người Việt thường muốn giải quyết vấn đề theo hướng “hợp tình hợp lý”.

    Xếp hàng là một nét nổi bật trong văn hóa của người Mỹ. Vào cơ quan hành chính, vào rạp chiếu phim, chờ thanh toán ở siêu thị, đi mua hàng, lấy đồ ăn,… họ luôn xếp hàng, không chen lấn xô đẩy. Đặc biệt là trong mùa bán hàng hạ giá, để mua được món hàng ưng ý người Mỹ có thể đến từ sáng sớm, xếp hàng rất dài trước cửa các siêu thị, shop bán hàng.

    Ở Việt Nam, văn hóa xếp hàng đang dần hình thành và trở nên phổ biến hơn (được thể hiện rõ ở những thành phố lớn) nhưng nó vẫn chưa thực sự ăn sâu vào nếp sống của mỗi người. Chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh có người chen ngang hàng, chen lấn, xô đẩy và gây ồn ào nơi công cộng.

    Ở Việt Nam (nhất là những thành phố lớn), người dân thường đổ ra đường, đến các trung tâm mua sắm và khu vui chơi để giải trí. Đặc biệt, chính quyền còn tổ chức các khu phố đi bộ vào dịp cuối tuần.

    Trước đây, người Mỹ coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả nhất. Ngày nay, họ coi xe đạp là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất, vừa bảo vệ môi trường, vừa rèn luyện sức khỏe.

    Ở Việt Nam, trước đây phương tiện di chuyển chủ yếu là xe đạp. Ngày nay, phương tiện di chuyển chủ yếu của người Việt là xe máy, nếu có điều kiện hơn thì là ô tô.

    – Nuôi dạy trẻ em

    Trẻ em ở Mỹ được dạy đi từ khi còn rất nhỏ, và được khuyến khích đi làm thêm ngay khi còn đi học để có tiền tiêu xài riêng. Khi đến 16 tuổi (tuổi trưởng thành) gia đình sẽ cho ra ở riêng với một khoản tiền nhất định, tự bươn trải cuộc sống chứ không dựa dẫm vào gia đình.

    Ở Việt Nam, trẻ em được quan tâm, che chở bởi mọi thành viên trong gia đình. Nhưng cũng chính sự quan tâm quá mức này làm cản trở lối sống độc lập của trẻ từ nhỏ và trẻ thường có xu hướng dựa dẫm vào gia đình.

    Ở Mỹ, người cao tuổi thường được đưa đến những viện dưỡng lão, ở đây người cao tuổi sẽ làm bạn với những người cao tuổi khác và được chăm sóc y tế đầy đủ. Người Mỹ cũng không có nghi thức cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Với họ, người mất là hết, làm gì cũng không có ý nghĩa nữa.

    Người Việt Nam rất coi trọng truyền thống uống nước nhớ nguồn, ông bà được gia đình chăm sóc đầy đủ và sống quây quần bên con cháu. Khi cha mẹ, ông bà mất sẽ cúng giỗ để tưởng nhớ người đã mất và cũng là dịp để anh, chị, em và người thân trong gia đình quây quần. Đối với người Việt, không thể cúng giỗ ông bà, tổ tiên là nỗi bất hạnh lớn. Đây là truyền thống văn hóa rất đáng trân trọng của người Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Đám Cưới Việt Nam Và Mỹ 2022
  • Phân Biệt Internet Và World Wide Web Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Hai Cụm Từ Này
  • Sự Khác Nhau Giữa Command Prompt Và Windows Powershell
  • Sự Khác Biệt Giữa Fdi Và Oda
  • What Is Firmware? Differences With Software, Operating System And Device Driver?
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Nếu chúng ta khám phá Nhật Bản qua lăng kính văn hóa xã hộicon người, chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về văn hóa Nhật Bản rất khác biệt so với các nền văn hóa thế giới khác. Đặc biệt là Việt Nam, tuy cùng chung châu lục các lịch sử văn hóa cũng có nhiều điểm giao thoa, tuy nhiên sự khác biệt vẫn là rất lớn.

    Nguồn: hofstede-insights.com

    1. Khoảng cách quyền lực

    Nhật bản với số điểm trung bình là 54, là một xã hội phân cấp biên giới. Vâng, người Nhật luôn ý thức về vị trí phân cấp của họ trong bất kỳ môi trường xã hội nào và hành động tương ứng. Tuy nhiên, nó không phân cấp như hầu hết các nền văn hóa châu Á khác. Một số người nước ngoài trải nghiệm Nhật Bản cực kỳ phân cấp vì kinh nghiệm kinh doanh của họ về quá trình ra quyết định chậm chạp: tất cả các quyết định phải được xác nhận bởi mỗi lớp phân cấp và cuối cùng là quản lý cấp cao ở Tokyo.

    Việt Nam đạt điểm cao về chiều này (điểm 70), điều đó có nghĩa là mọi người chấp nhận một trật tự thứ bậc trong đó mọi người đều có một vị trí và không cần biện minh thêm. Hệ thống phân cấp trong một tổ chức được coi là phản ánh sự bất bình đẳng vốn có, tập trung hóa là phổ biến, cấp dưới mong muốn được nói phải làm gì và ông chủ lý tưởng là một người chuyên quyền nhân từ. Những thách thức đối với các nhà lãnh đạo không được đón nhận.

    2. Chủ nghĩa cá nhân

    Chủ nghĩa cá nhân hay là sự đề cao tính cá nhân và tính tập thể trong một quốc gia, một xã hội. Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình. Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể. Cạnh tranh được đưa ra làm tiêu chuẩn để đo lường và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng. Các nước phương Tây như: Australia, Canada, Anh, Hoa Kỳ… là những đất nước đặc trưng theo chủ nghĩa cá nhân.

    Nhật Bản đạt 46 điểm trên khía cạnh Chủ nghĩa cá nhân, đây là một con số cao hơn nhiều so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Xã hội Nhật Bản cũng cho thấy nhiều đặc điểm của một xã hội tập thể: như sự tôn trọng với các quyết định của tập thể và khía cạnh đạo đức khi mọi người có cảm giác xấu hổ, mất mặt vì điều do một thành viên trong nhóm mình gây ra. Tuy nhiên, nó chặt chẽ như hầu hết những người hàng xóm châu Á khác. Giải thích cho điều này là xã hội Nhật Bản không có hệ thống gia đình mở rộng, tạo thành một cơ sở của các xã hội tập thể hơn. Nhật Bản đã là một xã hội gia trưởng và tên và tài sản gia đình được thừa kế từ cha cho con trai lớn nhất. Các em trai hoặc chị sẽ phải rời khỏi nhà và thành lập gia đình riêng của mình.

    Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác.

    Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân như quan hệ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp… đóng vai trò quan trọng hơn trong các mong muốn của từng cá nhân. Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng. Tập thể là quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là loạt các mối quan hệ hợp tác và rành buộc lẫn nhau. Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hoà hợp trong tập thể. Các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể.

    Trong các xã hội cá nhân, mọi người thường tự chăm sóc bản thân và gia đình trực tiếp của mình. Trong các xã hội tập thể, mọi người có chung một nhóm mối quan hệ sẽ chăm sóc lẫn nhau để đổi lấy sự quan tâm giúp đỡ lại, hoặc các lợi ích hoặc lòng trung thành.

    Việt Nam, với số điểm 20 là một xã hội tập thể. Điều này được thể hiện trong một cam kết ngầm, lâu dài chặt chẽ với nhóm tập thể mà họ tham gia, đó là một gia đình, họ hàng hoặc các mối quan hệ mở rộng như bạn bè, đồng nghiệp… Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan trọng và ghi đè lên hầu hết các quy tắc và quy định xã hội khác. Một xã hội như vậy thúc đẩy các mối quan hệ mạnh mẽ, nơi mọi người có trách nhiệm với các thành viên trong nhóm của họ. Trong các xã hội tập thể các hành vi phạm tội cá nhân cũng dẫn đến xấu hổ và mất mặt cho cả nhóm. Trong môi trường làm việc cũng thế, các cá nhân được đánh giá cả theo khía cạnh đạo đức (như liên kết gia đình), sự hòa đồng của họ với tập thể.

    3. Mức độ Nam tính hay Nữ tính?

    Nam tính/ Nữ tính là khái niệm chỉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính. Xã hội có tính nam tính cao được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác. Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Australia, Nhật Bản. Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao. Các nền văn hoá nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh.

    Điểm số cao (Nam tính cao) trên khía cạnh này cho thấy xã hội sẽ được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, với thành công được xác định bởi người chiến thắng / người giỏi nhất trong lĩnh vực. Những đặc điểm của một xã hội nam tính còn bao gồm can đảm, gia trưởng, độc lập và quyết đoán. Những đặc điểm này là rất khác nhau tùy vào địa điểm cũng như tình huống, và nó chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội và văn hóa đặc thù của từng quốc gia.

    Với 95 điểm, Nhật Bản là một trong những xã hội nam tính nhất trên thế giới. Các đặc điểm nổi bật về sự gia trưởng, quyết đoán và dũng cảm, sự trọng nam khinh nữ được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Tuy nhiên, tính nam tính này cũng được kết hợp với chủ nghĩa tập thể (thường nổi bật ở các xã hội nữ tính) của họ. Từ khi còn rất nhỏ ở trường mẫu giáo, trẻ em học cách thi đấu trong ngày thể thao cho các nhóm của mình (đội đỏ truyền thống chống lại đội trắng). Trong lao động, sự cạnh tranh mang tính tập thể rất gay gắt tại Nhật.

    Trong công ty Nhật Bản, bạn thấy rằng nhân viên có động lực nhất khi họ chiến đấu trong một đội chiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh. Những gì bạn cũng thấy là một biểu hiện của nam tính ở Nhật Bản là động lực cho sự xuất sắc và hoàn hảo trong sản xuất vật chất của họ (monodukuri) và trong các dịch vụ vật chất (khách sạn và nhà hàng) và thuyết trình (gói quà và trình bày thực phẩm) trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nghiện công việc là một biểu hiện phổ biến khác về nam tính của người Nhật. Phụ nữ ở Nhật thường ở nhà chăm lo con cái và nhà cửa. Họ khó có thể thăng tiến trong công ty ở Nhật Bản với các tiêu chuẩn cao về nam tính, về thời gian làm việc chăm chỉ và kéo dài.

    Ngược lại, trong các nền văn hoá nữ tính sẽ chú trọng hơn đến sự chăm sóc, phúc lợi, chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau. Các nước Scandinavia, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc và quan tâm đến những người kém may mắn hơn. Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp rất tốt cho giáo dục. Một xã hội nữ tính là nơi mà chất lượng cuộc sống được coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự thành đạt.

    Việt Nam đạt 40 điểm về chiều này và do đó được coi là một xã hội nữ tính. Ở các quốc gia nữ tính, trọng tâm là tập trung vào hoạt động để sống, các nhà quản lý cố gắng đồng thuận và đưa ra nhiều chính sách xã hội tốt, mọi người coi trọng sự bình đẳng, đoàn kết và chất lượng trong cuộc sống làm việc của họ. Xung đột được giải quyết bằng thỏa hiệp và đàm phán. Các ưu đãi như thời gian rảnh và tính linh hoạt được ưa chuộng. Tập trung vào hạnh phúc và hưởng thụ bên các mối quan hệ của mình.

    4. Mức độ e ngại rủi ro

    Sự e ngại rủi ro thể hiện mức độ mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ. Một xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, sẽ có nhiều tổ chức bảo hiểm để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính. Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minh bạch. Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro. Bỉ, Pháp và Nhật Bản là những nước có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao.

    Điểm số 92 Nhật Bản cho thấy là một trong những quốc gia có mức độ e ngại rủi do cao nhất trên trái đất. Điều này là do Nhật Bản liên tục bị đe dọa bởi thiên tai từ động đất, sóng thần, bão đến các vụ phun trào núi lửa. Nhật Bản đã học cách tự chuẩn bị cho mọi tình huống không chắc chắn, các kế hoạch khẩn cấp và biện pháp phòng ngừa không chỉ cho những thảm họa tự nhiên bất ngờ mà còn cho mọi khía cạnh khác của xã hội. Có thể nói ở Nhật Bản, bất cứ điều gì bạn làm đều được dự đoán tối đa và quy định thành các tục lệ, nghi thức bắt buộc. Cuộc sống mang tính nghi thức rất cao và bạn có rất nhiều nghi lễ. Tại đám cưới, đám tang, trong công sở, tại cuộc gặp quan trọng và các sự kiện xã hội khác, những gì mọi người mặc và cách mọi người nên cư xử được quy định rất chi tiết trong các sách xã giao.

    Người Nhật thường không muốn làm những việc không có tiền lệ. Nhật Bản tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực vào nghiên cứu tính khả thi và tất cả các yếu tố rủi ro phải được xử lý trước khi bất kỳ dự án nào có thể bắt đầu. Các nhà quản lý yêu cầu tất cả các sự kiện và số liệu chi tiết trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.

    Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen và chấp nhận sự không chắc chắn. Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khá nhanh. Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai. Họ có xu hưóng dung hoà được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ vì họ không cảm thấy sợ sệt. Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp.

    Việt Nam đạt 30 điểm về mức độ e ngại rủi ro được đánh giá có sự bao dung, ít quy tắc và chấp nhận đổi mới đi đôi với sai sót nhiều lần hơn. Xã hội duy trì một thái độ thoải mái hơn, chấp nhận nhiều sự sai lệch so với chuẩn mực. Trong các xã hội thể hiện UAI thấp, mọi người tin rằng không nên có nhiều quy tắc hơn mức cần thiết. Lịch trình thường linh hoạt, chính xác và đúng giờ không phải là yếu tố bắt buộc. Các lý do diễn giải cho sự chậm trễ, sai sót thường dễ được chấp nhận.

    5. Định hướng lâu dài

    Khía cạnh định hướng dài hạn hay ngắn hạn này thể hiện mức độ con người và các tổ chức trì hoãn sự thoả mãn trong ngắn hạn để đạt được thành công trong dài hạn. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp và con người trong các nền văn hoá định hưóng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập kế hoạch và cuộc sống. Họ chú trọng đến các kế hoạch cho khoảng thời gian trong nhiều năm hoặc thậm chí là nhiều thập kỉ. Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nét trong các giá trị đạo đức của người châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…

    Một phần, những giá trị này là dựa trên các học thuyết của Khổng từ, triết gia nổi tiếng người Trung Quốc sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Ngoài việc đưa ra các định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hoá cốt lõi khác mà cho đến bây giờ vẫn đang áp dụng cho nhiều nền văn hoá của châu Á. Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng kiểm soát ham muốn cá nhân. Học giả trên thế giới đã công nhận các giá trị này là điều làm nên sự kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hoá của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ qua.

    Nhật Bản với 88 điểm là một trong những xã hội định hướng dài hạn nhất. Cuộc sống đối với họ chỉ là một khoảnh khắc rất ngắn trong lịch sử của loài người. Bạn sống làm việc hết sức mình và đó là tất cả những gì bạn có thể làm. Nếu một người Nhật cả thấy mất định hướng, mất khả năng làm việc hoăc vô dụng đối với xã hội, họ thường tìm cách kết thúc cuộc sống của mình. Đây là lý do Nhật có số vụ tự tử cao nhất thế giới. Mọi người sống cuộc sống của họ và hướng tới đức hạnh và danh dự cao như là một phần thưởng hơn là một vị Chúa toàn năng hứa hẹn cho họ lên thiên đàng. Ở Nhật Bản, bạn thấy định hướng dài hạn về tỷ lệ đầu tư liên tục vào R&D ngay trong thời kỳ kinh tế khó khăn, ưu tiên tăng trưởng thị phần ổn định hơn là lợi nhuận hàng quý v.v. . Tất cả đều phục vụ cho độ bền của các công ty.

    Việt Nam đạt 57 điểm, tuy không phải là một nền văn hóa ngắn hạn hoàn toàn nhưng cũng không quá coi trọng sự dài hạn. Nguyên nhân có thể một phần ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh diễn ra liên tiếp trong lịch sử, các giá trị dài hạn chưa kịp xây dựng đã bị đập đi và xây dựng lại từ đầu khi một chế độ mới lên ngôi, điều này biến Việt Nam thành một nền văn hóa thực dụng. Trong các xã hội với định hướng thực dụng, mọi người tin rằng sự thật phụ thuộc rất nhiều vào tình huống, bối cảnh và thời gian. Chúng cho thấy khả năng thích ứng truyền thống dễ dàng cùng với các điều kiện thay đổi, xu hướng hội nhập mạnh mẽ để học hỏi phát triển trong thời gian nhanh nhất.

    Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn, các đích đến rõ ràng và cụ thể. Các định hướng ngắn hạn có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới, đồng nghĩa với việc bất chấp các rủi ro về lâu dài, sự tàn phá, hủy hoại về môi trường. Văn hóa đề cao thành tích và chủ nghĩa cá nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ ly hôn cao, ngại sinh con và suy thoái dân số diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây.

    6. Sự tự do cá nhân

    Những người sống trong môi trường có văn hóa tự do cá nhân cao (như phương Tây) sẽ luôn chủ động làm những gì mình thích, đôi khi việc đó vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Bên cạnh đó, văn hóa tự do cũng cho mỗi cá nhân tự do toàn quyền trong các quyết định mà không phải chịu sự kiểm soát quá nhiều của hệ thống quy tắc và mối quan hệ. Họ có xu hướng hưởng thụ thành quả một mình (ăn uống, du lịch, mua sắm…) hơn là đi chung với một tập thể hoặc gia đình.

    Ngược lại, các xã hội có đặc điểm văn hóa cá nhân kiềm chế hay có giới hạn (Restrained) thường có sự hoài nghi, đắn đo, lo lắng trong các quyết định và hành động. Trong xã hội này mọi người thường không chú trọng nhiều đến giải trí, hưởng thụ để thỏa mãn cá nhân mà gắn nó với các tập thể, mối quan hệ xung quanh. Những cá nhân sống trong xã hội hạn chế sẽ chấp nhận các hành động của mình bị giới hạn bởi những quy tắc và quan hệ. Văn hóa giới hạn bởi các yếu tố đạo đức, sự đánh giá của cộng đồng và truyền thống lịch sử lâu đời tiêu biểu nhất ở các nước đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc,Việt Nam.

    Nhật Bản, với số điểm 42 và Việt Nam với 35 điểm đều thuộc nhóm các nước có đặc điểm văn hóa kiềm chế. Tuy nhiên, Nhật bản có xu hướng thoáng hơn do tiếp thu sâu rộng văn hóa của phương Tây trong nhiều thập kỷ. Việt Nam thì do ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc và các nền văn hóa dựa trên nông nghiệp đề cao tính gia đình và cộng đồng xung quanh. Các nhu cầu về hưởng thụ cá nhân cũng bị phụ thuộc vào các mối quan hệ và đạo đức truyền thống rất nhiều. Tiêu biểu nhất có thể thấy các hoạt động giải trí mang tính cộng đồng phát triển rất mạnh. Các hình thức ăn mừng tiệc tùng, giải trí cá nhân thường được mở rộng ra rất nhiều ra bạn bè, gia đình, đồng nghiệp xung quanh.

    Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • So Sánh Sự Khác Biệt Văn Hóa Trung Quốc Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Tiếng Nhật Và Tiếng Hàn: Những Điểm Giống & Khác Kỳ Lạ
  • Đọc Chương 3 : Giống Nhau Như Hai Giọt Nước
  • Những Ngôi Sao Hollywood Giống Nhau Như Hai Giọt Nước
  • Truyện: Yêu Người Có Đủ Đậm Sâu
  • 5 Lý Do Tạo Nên Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh
  • Giới thiệu sơ lược về văn hóa Trung Quốc

    Là một đất nước rộng lớn với sự đa dạng của các dân tộc, khó ai có thể nhìn nhận văn hóa Trung Quốc một cách chính xác. Văn hóa Trung Quốc được đánh giá là phức tạp nhất thế giới. Nó ảnh hưởng rất lớn đến những nước lân cận như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản.

    Nơi đây là sự giao thoa của ít nhất 5 nền văn hóa mang những nét đặc trưng riêng biệt bao gồm: văn hoa du mục ở vùng sa mạc Tây Bắc, văn hóa mang tính chất Ấn Độ ở vùng Tây Tạng, văn hóa Đông Nam Á ở vùng Hoa Nam, văn hóa ảnh hưởng phương Tây ở ven biển Hoa Nam và văn hóa ở khu vực sông Hoàng Hà. Có thể nói rằng chính văn hóa ở lưu vực sông Hoàng Hà đã ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam.

    Tìm hiểu sự khác biệt văn hóa Trung Quốc và Việt Nam

    Sự khác biệt về chữ viết

    Chữ viết Trung Quốc còn nổi bật với cách viết thư pháp đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa đòi hỏi ở người viết rất nhiều yếu tố như cảm thụ, lực cầm bút, lực ngòi bút, thế cầm bút và cái hồn của người viết chữ. Trong khi cái đẹp của thư pháp Việt Nam nói riêng và tiếng Việt nói chung là cái đẹp về hoa tay được trao dồi. Ngày xưa ông cha ta tham gia khoa cử đều phải khổ luyện chữ viết rất khó khăn.

    Thời Khổng Tử ở Trung Quốc, học trò phải học đến 6 môn: Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số trong khi nhà Nho Việt Nam xưa hoàn toàn không có đủ điều kiện để học đầy đủ những bài học này.

    Nếu văn hóa Trung Quốc mang tính quy phạm đặc biệt thể hiện trong khoa cử thì điều này không đúng với Việt Nam. Nước ta chủ yếu là văn hóa làng xã, do vậy Việt Nam truyền thống chỉ nằm ở khu vực gia đình, thôn xóm với quy chế không được thắt chặt như Trung Quốc.

    Nghệ thuật hội họa

    Người Trung Quốc rất xem trọng thư pháp. Một bức thư pháp có thể gọi là tranh. Người Trung gọi đó là tả họa (viết tranh). Những bức tranh thư pháp được mở ra xem dần chứ không phô bày như hội họa của những quốc gia khác. Công bút ở thư pháp được xem là đỉnh cao của hội họa phép thuật thư pháp của Trung Quốc.

    Trong khi đó, hội họa Việt Nam lại cô cùng đơn giản khi dựa trên những chất liệu hiện có ở làng xã. Tranh Đông Hồ là một ví dụ. Có thể nói tranh Đông Hồ chính là kết tinh của làng xã truyền thống khi nó lấy đề tài, chất liệu vẽ hoàn toàn từ những thứ gần gũi với người dân. Không rắc rối và điều luật như Trung Quốc, nghệ thuật hội họa Việt Nam rất đơn giản và chân chất.

    Nghệ thuật ẩm thực

    Thức ăn Trung Quốc được chế biến rất cầu kỳ. Một ví dụ tiêu biểu đó chính là “ngũ long đại hội”, “Phượng hoàng chuyển cánh”,… được chế biến vô cùng cầu kỳ. Trong khi đó, ẩm thực Việt Nam lại khá đơn giản. Nhắc đến ẩm thực cầu kỳ nhất nhất theo chuẩn Việt Nam đó chính là ẩm thực cung đình Huế. Tuy nhiên, ẩm thực Huế thật sự không phải là cái chuẩn của cầu kỳ đối với Trung Quốc. Món Huế khác biệt ở chỗ nó làm sang những vật liệu nấu ăn thông thường mà thôi.

    Văn hóa Trung Quốc đề cao cái vô

    Khác với văn hóa Trung Quốc, văn hóa Việt Nam không tồn tại những thứ khiến người ta khiếp sợ. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rằng văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa bất bình thường, một nên văn hóa không biết đến mức độ.

    Nó không tuân theo những quy luật tự nhiên vốn có. Tất cả mọi thứ đều có thể xuất hiện trong nền văn hóa này. Từ thứ lớn nhất là Di Hoà Viên đến cái nhỏ nhất là những bài phú được khắc trên tấm ngọc nhỏ,… Cái vô bao trùm lên nền văn hóa Trung Quốc hoàn toàn trái ngược cái hữu trong văn hóa Việt Nam.

    Cá tính trong nền văn hóa Việt Nam

    Những trình bày ở trên không tránh khỏi những ý kiến cho rằng nền văn hóa Việt Nam vô cùng nhạt nhòa nhưng sự thật không phải vậy. Cái đặc biệt trong văn hóa Việt Nam chính là đỉnh cao của bình dị và gần gũi, nói không với cực đoan. Trong suốt quá trình phát triển của mình, văn hóa Việt Nam luôn mang trong nó bản chất riêng của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Nó như một viên ngọc tinh khôi được mài giũa trong nội tại của dân tộc.Đây là nền văn hóa của chính Việt Nam chứ không phải là bản sao của bất kỳ nền văn hóa nào khác.

    “Lực hấp dẫn” từ Trung Quốc

    Đất nước cùng con người Trung Quốc thu hút nguồn đầu tư rất lớn từ nước ngoài. Nó được xem như một thị trường béo bở trong rất nhiều lĩnh vực. Nhắc đến hành trình vượt đại dương hoành tráng nhất 2022 không thể không nhắc đến Lionel Messi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạ Dày Việt Thanh Không Phải Là Thuốc
  • So Sánh Sự Khác Biệt Giữa Thực Phẩm Chức Năng Và Thuốc
  • Sự Khác Nhau Giữa Thuốc Và Thực Phẩm Chức Năng
  • Sự Khác Biệt Giữa Thị Trường Vốn Sơ Cấp Và Thứ Cấp Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhà Lãnh Đạo Và Nhà Quản Lý
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Dù đều mang nét văn hóa Á Châu, nhưng nền văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản lại có những điểm riêng độc đáo. Việt Nam và Nhật Bản là cư dân của khu vực Đông Nam Á, người Việt Nam có chủng tộc gốc là Mongoloid phương Nam với 2 đặc điểm là mũi tẹt và mắt to, trong khi đó người Nhật Bản có chủng tộc gốc là người Mongoloid phương Bắc mũi cao và mắt to.

    Việc hiểu và lý giải được những nét khác biệt đó sẽ phần nào giúp các bạn có ý định du học Nhật bản tránh được cú sốc văn hóa cũng như dễ hòa nhập với môi trường sống mới.

    Điểm khác biệt đầu tiên phải nói đến là văn hóa giao tiếp. Người Nhật thường xuyên sử dụng những câu như “cảm ơn” và “xin lỗi” khi nói chuyện với người khác. Điều này cũng gây nhiều bất ngờ cho những ai lần đầu đến Nhật Bản. Trong khi đó, người Việt chỉ nói cảm ơn khi bản thân mình nhận được một ân huệ hay sự giúp đỡ nào đó và chỉ xin lỗi khi họ cảm thấy đã khiến người khác thực sự cảm thấy phiền toái. Thậm chí, việc nói lời xin lỗi không phải xảy ra với mọi đối tượng và có những người còn cố tình trốn tránh lời xin lỗi. Theo họ, những lời nói đó mang lại cảm giác ngại ngùng, xa cách và có thể kéo dài khoảng cách giữa họ. Nói như vậy cũng không có nghĩa là người Việt không bao giờ nói ” cảm ơn”, ” xin lỗi”, mà chỉ xét về mức độ cũng như phạm vi đối tượng sử dụng mà thôi.

    Cũng với lối tư duy tránh làm mất lòng người khác, người Nhật rất ít khi nói “không” với người không thân thiết. Thay vào đó, họ thường nói lấp lửng, vòng vo và mong muốn đối phương khi giao tiếp sẽ hiểu. Họ không bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình rõ ràng mà luôn giữ cảm xúc đó ở một giới hạn rất mơ hồ. Do đó, không phải dễ dàng để biết được liệu đối phương đang nghĩ gì, cảm nhận như thế nào. Đối với tư duy người Việt, nói thẳng vấn đề chính là cách chứng minh cho sự thành thật của mình đối với đối phương.

    Đúng giờ là nhận định mà hầu hết người nước ngoài đưa ra khi tiếp xúc với người Nhật. Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đối chiếu lịch trình giờ tàu chạy với điểm thời gian thực tế mà tàu đến ga, hoặc khi bạn có một cuộc hẹn nào đó với người Nhật bạn sẽ thấy họ luôn tới trước so với giờ hẹn ít nhất là 5 phút. Việc đúng giờ đã trở thành thói quen ăn sâu vào mỗi cá nhân và dần trở thành một quy tắc ngầm, một ý thức cơ bản của người Nhật. Họ luôn tránh làm phiền người khác do đó việc bạn tới trễ hẹn được coi là hành vi thiếu lịch sự, làm tổn hại tới người khác. Việc đúng giờ là điều nên làm trong mọi tình huống.

    Trong khi đó, ý thức tuân thủ nguyên tắc về thời gian ở Việt Nam dường như chưa được đề cao đúng mức. Việc trễ hẹn 5 hay 7 phút là chuyện bình thường. Và cũng chẳng mấy ai phàn nàn gì về điều đó vì nó đã ăn sâu vào nếp sống của người Việt. Và sự cố gắng để thay đổi một hành vi mà cả xã hội chấp nhận dường như không mấy được bận tâm.

    Người Nhật khi làm việc đều có kế hoạch cụ thể và luôn tuân thủ theo kế hoạch đó để tiến hành công việc, điều này giúp họ có thể quản lý thời gian một cách khoa học dễ dàng tuy nhiên nếu chẳng may kế hoạch bị thay đổi đột xuất những người Nhật sẽ rất dễ bị lúng túng và khó linh hoạt trong việc quyết định.

    Trong khi đó người Việt Nam lại khá nhanh nhạy trong việc thích ứng với sự thay đổi. Tuy nhiên một điều hạn chế trong cách làm việc của người Việt đó là họ không có sự chuẩn bị chu đáo công việc từ trước, thường có xu hướng bắt đầu công việc khi đã sát deadline. Ví dụ cùng với một công việc trong thời hạn thực hiện 2 tuần thì người Nhật sẽ hoàn thành trong tuần đầu tiên còn tuần thứ 2 sẽ dành để chỉnh sửa và hoàn thiện công việc. Còn với người Việt Nam họ sẽ không làm ngay trong tuần đầu mà làm hết sức mình ở tuần cuối. Dù cho có vấn đề phát sinh bất ngờ, họ có thể sẵn sàng thức đêm thức hôm để làm việc.

    Văn hóa trong lối suy nghĩ của xã hội Nhật

    Tại Nhật Bản phụ nữ thường rất ít đi làm, đặc biệt là sau khi lấy chồng và dù có đi làm thì cũng rất khó để lên được chức vụ cao như nam giới. Mặc dù trong những năm gần đây những người phụ nữ đã đi làm nhiều hơn tuy nhiên con số này vẫn rất thấp, chỉ có tới 10% phụ nữ Nhật làm quản lý, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác.

    Ở Việt Nam phụ nữ thường rất độc lập và tự chủ về kinh tế vì họ có sự nghiệp riêng của mình. Tỷ lệ phụ nữ Việt đi làm sau khi lấy chồng rất cao và thậm chí những người làm quản lý hay tổng giám đốc đa phần là phụ nữ đã kết hôn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)
  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • Nào, các tác giả Vnkings, chắc hẳn các bạn đã từng gặp phải tình huống. Màn hình trước mặt trắng tinh, hai mắt bạn dừng lại trước con trỏ chuột đang nhấp nháy, ngón tay bạn giơ lên thật lâu, trước khi chần chừ gõ xuống cái tên đầu tiên cho nhân vật của mình.

    Đặt tên nhân vật là một điều vô cùng quan trọng. Giống như bố mẹ cố gắng nghĩ cho con cái một cái tên hoàn hảo. Hay người chơi dành hàng giờ trước khi quyết định một cái tên chất lừ cho nhân vật game của mình. Chúng ta cũng muốn tên nhân vật của chúng ta thật hoàn hảo, ý nghĩa, nổi bật, song không quá kì dị. Nhưng vậy thế nào là một cái tên hoàn hảo?

    Một cái tên hoàn hảo đầu tiên phải dễ nhớ, giống như Harry Potter, thứ hai là nổi bật giống như Aragon, son of Arathorn vậy. Để đảm bảo một cái tên hoàn hảo, chúng ta phải đảm bảo đủ ba tính chất.

    Thứ nhất, tính dễ đọc. Không có gì lưu vào đầu người đọc dễ dàng hơn một cái tên dễ nghe.

    Trong tiếng Anh, các bạn hãy nhớ lại những cái tên nhân vật quen thuộc, lần đầu đọc chúng, bạn có cảm thấy dễ nghe không? Các tác giả tiếng Anh đã dùng ba kỹ thuật để tạo nên những cái tên dễ nghe đó. Một, tên nhân vật có âm tiết ngắn (1 – 2 âm tiết) và phổ thông như Harry, Ron, Malfoy (Harry Potter), Gandalf (LOTR), Bella, Edward (Twight Light). Hai, tên nhân vật có họ và tên cùng bắt đầu bằng một chữ cái như Severus Snape (Harry Potter), Bilbo Baggins (The Hobbit), Billy Baston (Justice League). Ba, tên nhân vật vần với thế hệ trước, Aragorn, son of Arathorn (LOTR), T’challa, son of T’chaka (Marvel).

    Trong tiếng Việt, các bạn cùng nhớ lại những cái tên nhân vật truyện quen thuộc. Các bạn có phải dễ dàng nhớ đến những cái tên như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, Thúy Kiều, Tấm, Cám, Lão Hạc, Chí Phèo, Chị Dậu? Tất cả những từ trên đều thỏa mãn một yếu tố, đó là âm tiết ngắn (1 – 2 âm tiết). Tên nhân vật với âm tiết ngắn dễ nhớ hơn tên từ ba âm tiết trở lên.

    Hiệp 1: Tiếng Anh do không có cấu trúc âm vần cố định, mỗi từ, mỗi ký tự lại có cách phiên âm khác nhau. Do đó, tên các nhân vật tuy đa dạng, dễ mở rộng song lại gây khó khăn trong việc đọc tên, ghi nhớ. Trong khi tiếng Việt bản thân mỗi từ đều có cấu trúc âm, vần, dấu chặt chẽ, do đó dễ dàng đọc hiểu, ghi nhớ cao hơn. Hiệp 1, tiếng Việt thắng.

    Thứ hai, tính ý nghĩa. Chỉ cần đọc tên nhân vật bạn có thể ngay lập tức liên tưởng được đặc điểm, tính cách của nhân vật.

    Trong tiếng Anh, đây là một việc rất khó khăn. Do tên trong tiếng Anh không mang nhiều ý nghĩa nội tại, mà chỉ tác dụng như một nhãn mác để nhận biết xưng hô trong xã hội. Các tác giả để đặt tên có ý nghĩa đã cố gắng lấy tên cho nhân vật trùng hoặc gần giống với từ mang ý nghĩa thật nhất. Ví dụ như Severus Snape (Harry Potter), Snape gần giống Snake (con rắn), thể hiện tính cách âm hiểm của nhân vật, Severus gần giống Severe (Nghiêm khắc), thể hiện đặc điểm bề ngoài nghiêm túc của nhân vật. Hay trong chuyện Bạch Tuyết và bảy chú lùn, bảy chú lùn được đặt tên theo tính cách của bản thân gồm: Doc (Bác sĩ), Grumpy (Càu nhàu), Happy (Hạnh phúc), Sleepy (Buồn ngủ), Bashful (Rụt rè), Sneezy (Hắt xì), và Dopey (Lảo đảo).

    Trong tiếng Việt, phần lớn các từ đều tự mình mang ý nghĩa nội tại (Dũng: Dũng cảm, Thịnh: Thịnh vượng, …). Mỗi cái tên, được cấu tạo từ hai hoặc nhiều từ, có thể mang từ một, hay nhiều ý nghĩa nội tại khác nhau. Ví dụ một nhân vật dũng cảm có thể lấy tên Anh Dũng hay một nhân vật thông minh lấy tên Tuệ Minh. Trong tác phẩm Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, sơn và thủy thể hiện đặc điểm sức mạnh năng lực của hai người. Đồng thời còn miêu tả tính cách, Sơn Tinh thì bình ổn, tĩnh lặng như núi, còn Thủy Tinh thì dễ giao động, nổi giận như sóng biển. Trong tác phẩm Tấm và Cám, nếu các bạn biết, tấm là phần hột mầm phía đầu hột gạo được tróc ra, là kết tinh của cây lúa, chứa lượng dinh dưỡng rất cao. Còn cám, bạn biết rồi đấy, người xưa đặt tên cũng ác thật. Chỉ đọc qua hai cái tên, chúng ta cũng có thể đánh giá được một phần đặc điểm, tính cách của hai nhân vật Tấm, Cám.

    Việc đặt tên nhân vật có ý nghĩa, đóng vai trò rất lớn trong việc khơi gợi trí nhớ của người đọc khi nhớ về một nhân vật. Đặc biệt khi tên nhân vật giống hoặc trái ngược hoàn toàn tính cách nhân vật đó. Tại sao tôi nói trái ngược, vì trái ngược cũng kích thích trí nhớ của người đọc nhớ rõ hơn về nhân vật đó. Nếu các bạn còn nhớ chương trình hoạt hình Courage Dog (Chú chó dũng cảm), song lại kể về một con chó nhút nhát sống với một bà chủ yêu thương và một ông chủ thích chơi khăm. Bất kể khi có chuyện, chú chó rất dễ hoảng sợ, nhút nhát. Song nội dung lại nằm ở chính những khoảnh khắc sợ hãi đó, chú chó phải vượt qua tính cách nhút nhát, bộc lộ tiềm năng dũng cảm ở sâu trong mình để giải quyết vấn đề.

    Hiệp 2: Xét về ý nghĩa tên nhân vật. Tên tiếng Anh rất khó để đặt tên có ý nghĩa nội tại. Ngược lại, tên tiếng Việt, mỗi từ trong tên đều có ý nghĩa, khi kết hợp lại, có thể sẽ mang một ý nghĩa nội tại kết hợp mới. Do đó, hiệp hai, tiếng Việt toàn thắng.

    Thứ ba, tính khác biệt. Đây là tính chất quan trọng khi viết những bộ truyện với dàn nhân vật lớn. Tên các nhân vật phải dễ phân biệt. Thật khó khăn cho người đọc khi trong truyện có tên hai nhân vật giống nhau, đúng không? Ví dụ, bạn hãy thử đổi hết ký tự đầu tên các nhân vật trong một bộ truyện sang vần B thử xem. Barry Botter, Bon, Bobby, Bagrid, Bermione, Buna, Braco, Beville. Khó khăn đúng không? Hay trong tiếng Việt Bí Bèo, Bị Nở, Búy Biều, Bơn Binh, Bủy Binh.

    Trong tiếng Anh, để đảm bảo người đọc có thể phân biệt các nhân vật khi đọc tên mỗi người. Các tác giả đã đặt tên cho dàn nhân vật của mình bằng những chữ cái đầu khác nhau. Ví dụ trong tác phẩm Lord of the ring với dàn nhân vật khổng lồ, tác giả đã đặt tên nhân vật như Aragon, Boromir, Celeborn, Elrond, Frodo, Gandalf, Legolas và nhiều nữa.

    Trong tiếng Việt, do số lượng âm vần có hạn, nếu số lượng nhân vật của bạn lớn, rất nhanh, bạn sẽ nhận ra hai nhân vật của mình có cùng tên là Linh, hoặc phát âm gần giống nhau, một người tên Ly, một người tên Lý. Để tránh gây hoang mang cho người đọc, tác giả Việt đã sử dụng thêm tên đệm, thậm chí nêu cả họ của nhân vật khi gọi tên nhân vật.

    Hiệp 3: Cả hai thứ tiếng đều có biện pháp làm nổi bật tên nhân vật. Nhưng xét về tính đa dạng và mở rộng, tiếng Việt với số lượng âm vần có hạn sẽ gặp khó khăn khi số lượng nhân vật ngày một lớn. Tiếng Anh ngược lại, không có sự gò bó về cấu trúc tên, có được sự dẻo dai, và khả năng mở rộng không giới hạn. Do đó, hiệp ba, tiếng Anh thắng.

    Tổng kết, bên trên là phân tích của mình về phương pháp đặt tên nhân vật, so sánh tiếng Anh và tiếng Việt. Xét trên ba tính chất, đặt tên nhân vật bằng tiếng Việt dễ đặt ra những cái tên dễ nhớ và ý nghĩa hơn so với đặt tên bằng tiếng Anh. Song tiếng Anh lại có khả năng đặt ra những cái tên nổi bật, dễ phân biệt hơn so với tiếng Việt.

    Song mục đích bài viết không có ý loại bỏ hay ưu tiên bất kỳ phương thức đặt tên nào. Tùy vào thể loại câu truyện, nguồn gốc nhân vật, mà các bạn áp dụng phương thức đặt tên khác nhau. Mình viết bài này, với mục đích chỉ ra điểm mạnh và điểm yếu trong cách đặt tên nhân vật sử dụng giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • “so Sánh Văn Hóa Hai Nước Việt Nam Và Nhật Bản Với Tiêu Chí Cư Dân Và Đặc Trưng Văn Hóa”
  • Những Điểm Khác Biệt Trong Hệ Thống Giáo Dục Ở Mỹ So Với Việt Nam
  • So Sánh Bằng Trong Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dùng Bếp Từ Hay Bếp Hồng Ngoại Là Tốt, An Toàn, Tiết Kiệm Hơn?
  • So Sánh Bếp Từ Và Bếp Hồng Ngoại, Nên Dùng Loại Nào Thì Tốt Hơn?
  • So Sánh Bếp Từ Và Bếp Hồng Ngoại Với 24+ Tiêu Chí Tốt Nhất
  • 100+ Sản Phẩm Bảo Hiểm Nhân Thọ Tốt Nhất Hiện Nay
  • So Sánh Các Gói Bảo Hiểm Nhân Thọ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Trong bài viết này, Thủy sẽ hướng dẫn bạn về cấu trúc và cách dùng của các dạng so sánh bằng trong tiếng Anh.

    Cấu Trúc So Sánh Bằng Trong Tiếng Anh

    1. Dạng Khẳng Định Của So Sánh Bằng

    a. Đối với tính từ/ trạng từ

    Ví dụ:

    • He is as tall as I .
    • I do not drive so carefully as my sister.

    Chú ý: Ở dạng phủ định, ta có thể dùng so thay cho từ as ở vị trí đầu tiên.

    b. Đối với danh từ

    Ví dụ:

    • Nam does not earn as much money as his wife.
    • An does not score as many points as Long.
    • Andrew is not the same age as Lily.
    • My opinion isn’t the same as yours.

    … not + as/so + many/much/little/few + noun + as + …… not + the same + (N) + as…

    1. The blue car chúng tôi red car. (fast)
    2. Peter is ………………Fred. (not/tall)
    3. The violin is………… the cello. (not/low)
    4. This copy is chúng tôi other one. (bad)
    5. Oliver is …………….Peter. (optimistic)
    6. Today is …………..yesterday. (not/windy)
    7. The tomato soup was………….. the mushroom soup. (delicious)
    8. Grapefruit juice is…………… lemonade. (not/sweet)
    9. Tom has……….. (almost/money) John.
    10. Peter…………. (not/have/children) John.
    11. Tom …………(not/drive/dangerously) John.
    12. Mrs chúng tôi Smith. (talk/loudly)
    13. Steve……………Melisa. (not/do/well)
    14. The impala run chúng tôi cheetah. (not/run/fast)
    15. Tom ……………..John. (funny)

    Bài Tập So Sánh Bằng Trong Tiếng Anh

    1. The blue car is as fast as the red car.
    2. Peter is not as tall as Fred.
    3. The violin is not as flow as the cello.
    4. This copy is as bad as the other one.
    5. Oliver is as optimistic as Peter.
    6. Today is not as windy as yesterday.
    7. The tomato soup was as delicious as the mushroom soup.
    8. Grapefruit juice is not sweet as lemonade.
    9. Tom has almost as much money as John.
    10. Peter does not have as many children as John.
    11. Tom does not drive as dangerously as John.
    12. Mrs Jones talks as loudly as Mrs. Smith.
    13. Steve did not do well as Melisa.
    14. The impala doesn’t run as fast as the cheetah.
    15. Tom is as funny as John.

    Solutions:

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Apple Watch 3 Và 4: Sự Khác Biệt Không Chỉ Nằm Ở Giá Bán
  • So Sánh Apple Watch 3 Và Apple Watch 5: Mua Dòng Nào?
  • So Sánh Apple Watch Series 4 Và Series 5
  • So Sánh Apple Watch Series 6, Apple Watch Se Và Apple Watch Series 5
  • So Sánh Airpods Pro Và Airpods 2
  • Bài 16: So Sánh – Chuẩn Tiếng Anh – Chuyên Gia Tiếng Anh Hàng Đầu Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Từ So Sánh Hơn Và So Sánh Hơn Nhất
  • More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest
  • Các Cấu Trúc Nâng Cao Trong Các Dạng So Sánh
  • Tính Từ Bất Quy Tắc Trong Tiếng Anh
  • Độ So Sánh Của Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • 1. So sánh bằng.

    So sánh bằng chỉ ra 2 thực thể chính xác giống nhau (bằng nhau hoặc như nhau) và ngược lại nếu cấu trúc so sánh ở dạng phủ định.

    Cấu trúc

     

    S

    + verb

    + as

    + as

    noun/ pronoun/ S + V

    – Nếu là cấu trúc phủ định “as” thứ nhất có thể thay bằng “so“.

    Ví dụ: He is not so tall as his father.

    Lưu ý: Ta cần phải nhớ rằng đại từ sau “as” luôn ở dạng đại từ tân ngữ.

    Ví dụ:

    Peter is as tall as me. You are as old as her.

    Một số thí dụ về so sánh bằng.

    My book is as interesting as yours.

                                                     Tính từ

    His car runs as fast as a race car.

                                                Phó từ

    – Danh từ cũng có thể  dùng để so sánh cho cấu trúc này nhưng trước khi so sánh phải xác định chắc chắn rằng danh từ đó có những tính từ tương đương như trong bảng sau:

    Tính từ

    Danh từ

    heavy, light

    wide, narrow

    deep, shallow

    long, short

    big, small

    weight

    width

    depth

    length

    size

    Subject

    + verb

    + the same

    + (noun)

    + as noun/ pronoun

    Ví dụ:

    My house is as high as his

    My house is the same height as his.

    Lưu ý:

    – Do tính chất phức tạp của loại công thức này nên việc sử dụng bó hẹp vào trong bảng trên.

    – Trong tiếng Anh của người Mỹ có thể dùng “different than” nếu sau đó là cả một câu hoàn chỉnh (không phổ biến).

    Ví dụ:

    His appearance is different from what I have expected.

    = His appearance is different than I have expected.

    – “From” có thể thay thế bằng to.

    Một số thí dụ về “the same” và “different from”:

    These trees are the same as those.

    He speaks the same language as her.

    Their teacher is different from ours.

     

    2.  So sánh hơn, kém

    – Trong loại so sánh này, người ta phân ra làm 2 loại phó từ, tính từ ngắn và phó từ, tính từ dài.

    – Đối với các phó từ và tính từ ngắn, ta chỉ cần cộng thêm đuôi ER vào tận cùng.

    – Đối với những tính từ ngắn có 1 nguyên âm kẹp giữa 2 phụ âm, ta phải gấp đôi phụ âm cuối để không phải thay đổi cách đọc.

    Chú ý:

    – Tính từ ngắn là những tính từ  chỉ có một âm tiết, ví dụ: nice, great, cool, hot, short, poor, warm, clean, …).

    – Tính từ dài là những tính từ có từ  hai ấm tiết trở lên, ví dụ: tired, sleepy, nervous, crowded, anxious, wonderful, exquisite, exorbitant,

    Ví dụ:

    big – bigger.

    red – redder

    hot – hotter

    – Những tính từ có tận cùng bằng bán nguyên âm phải đổi thành ier (y – ier)

    Ví dụ:

    happy – happier

    friendly – friendlier (hoặc more friendly than)

    – Trường hợp ngoại lệ: strong – stronger.

    – Đối với tất cả các phó từ và tính từ dài dùng MORE (nếu hơn) và dùng LESS ( nếu kém).

    Ví dụ: more beautiful, more important, more believable.

    S

    + V

    + less + adj dài

    + than

    + noun/ pronoun/ S + V

    Ví dụ:

    John’s grades are higher than his sister’s.

    Today is hotter than yesterday.

    This chair is more comfortable than the other.

    He speaks Spanish more fluently than I do .

    He visits his family less frequently than she does.

    This year’s exhibit is less impssive than last year’s.

     

    – Để nhấn mạnh cho tính từ và phó từ so sánh người ta dùng “far” hoặc “much“trước so sánh.

    Subject + verb +

    far

    much

    Adv/

    Adj

    (ngắn)

    +er

    + than

    Noun/

    pronoun

    Subject + verb +

    far/ much

    More/ less

    Adj/ Adv(dài)

    + than

    Noun/ pronoun

    – Một số thành ngữ nhấn mạnh : much too much

     

    Ví dụ:

    Harry’s watch is far more expensive than mine.

    That movie we saw last night was much less interesting than the one on television.

    A watermelon is much sweeter than a lemon.

    She dances much more artistically than her pdecessor.

    He speaks English much more rapidly than he does Spanish.

    His car is far better than yours.

    – Danh từ cũng có thể được dùng để so sánh trong các cấu trúc bằng hoặc hơn, kém.

    – Trong cấu trúc so sánh bằng chỉ cần xác định xem danh từ đó là đếm được hay không đếm được vì trước chúng có một số định ngữ dùng với 2 loại danh từ đó.

    S

    + V

    + as

    + many/ much/ little/ few

    + noun

    + as

    + noun/ pronoun

    Hoặc

    Subject

    + verb

    + more/ fewer/ less

    + noun

    + than

    + noun/ pronoun

    Ví dụ:

    I have more books than she does.

    February has fewer days than March.

    He earns as much money as his brother.

    They have as few class as us.

    Their job allows them less freedom than ours.

    Before pay-day, I have as little money as my brother.

    3. Các dạng so sánh đặc biệt

    Tính từ và phó từ

    So sánh hơn kém

    So sánh nhất

    far

    little

    much

    many

    good

    well

    bad

    badly

    farther

    further

    lessmore

    better

    worse

    the farthest

    the furthest

    the leastthe most

    the best

    the worst

    Ví dụ:

    I feel much better today than I did last week.

    The university is farther than the mall.

    He has less time now than he had before.

    Marjorie has more books than Sue.

    Lưu ý: further = more.

    Ví dụ:

    The distance from your house to school is farther than that of mine.

    He will come to the US for further education next year.

    4. So sánh bội số

    Là loại so sánh gấp rưỡi, gấp đôi, gấp 3. Nên nhớ rằng trong cấu trúc này không được dùng so sánh hơn kém mà phải dùng so sánh bằng.

    Subject + verb + bội số + as +

    much

    noun + as +

    many

    noun

    pronoun

    Ví dụ:

    This encyclopedia costs twice as much as the other one.

    At the clambake last week, Fred ate three times as many oysters as Barney.

    Jerome has half as many records now as I had last year.

    Lưu ý:

    – Khi dùng so sánh loại này phải xác định rõ danh từ đó là đếm được hay không đếm được vì đằng trước chúng có “much” và “many”.

    – Các cấu trúc:     twice that  much/ many (gấp đôi số đó) chỉ được dùng trong văn nói, tuyệt đối không được dùng trong văn viết.

    Ví dụ:

    We had expected eighty people at the rally, but twice that many showed up. (văn nói)

    We had expected eighty people at the rally, but twice as many as that numbershowed up. (văn viết)

    5. So sánh kép (càng ….thì càng)

    Những câu này bắt đầu bằng một cấu trúc so sánh hơn, và do đó mệnh đề thứ 2 cũng phải bắt đầu bằng một cấu trúc so sánh hơn.

    The

    + comparative

    + comparative

    + verb

    + the comparative

    + subject

    + verb

    Ví dụ:

    The hotter it is, the more miserable I feel.

    The higher we flew, the worse Edna felt.

    The bigger they are, the harder they fall.

    The sooner you take your medicine, the better you will feel.

    The sooner you leave, the earlier you will arrive at your destination.

    The more

    + subject

    +verb

    + the

    + comparative

    + subject

    + verb

    The more you study, the smarter you will become.

    The more he rowed the boat, the farther away he got.

    The more he slept, the more irritable he became.

    6. So Sánh Hơn Nhất.

    Subject

    + verb

    + the +

    Adj(ngắn)+est

    most + adj(dài)

    least + adj

    + Noun

    – Ở cấp độ so sánh hơn nhất, 3 thực thể trở lên được so sánh với nhau, một trong chúng trội hơn  hoặc kém hơn so với các thực thể còn lại.

    John is the tallest boy in the family.

    Deana is the shortest of the three sisters.

    These shoes are the least expensive of all.

    Of the three shirts, this one is the pttiest.

    Lưu ý:

    – Sau thành ngữ “one of the + superlative“, danh từ phải để ở dạng số nhiều và động từ chia ở ngôi số ít.

    Ví dụ:

    One of the greatest tennis players in the world is Bjon Borg.

    Kuwait is one of the biggest oil producers in the world.

    – Các phó từ  không được đi kèm bởi “-er“ hoặc “-est“. Mà thay vì đó, khi được dùng trong câu so sánh chúng đi cùng “more” hoặc “less“ đối với cấp so sánh hơn, và với“most“ hoặc “least“ để thành lập nên dạng so sánh hơn nhất.

    Dạng nguyên

    So sánh hơn

    So sánh hơn nhất

    carefully

    cautiously

    more carefully

    less carefullymore cautiously

    less cautiously

    the most carefully

    the least carefullythe most cautiously

    the least cautiously

    Ví dụ:

    Sal drove more cautiously than Bob.

    Joe dances more gracefully than his partner.

    That child behaves the most carelessly of all.

    Irene plays the most recklessly of all.

    Bài tập so sánh

    Question 1

    CORRECT

    A

    badder

    Hint:

    so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

    worse

    C

    bader

    Hint:

    so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

    Question 1 Explanation:

    Nghĩa: tệ, xấu – tệ hơn – tệ nhất

    so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “bad” không thêm đuôi “er” như thông thường mà ở dạng “worse”

    Question 2

    CORRECT

    A

    the littlest

    Hint:

    sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

    B

    the most little

    Hint:

    sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

    the least

    Question 2 Explanation:

    Nghĩa: ít – ít hơn – ít nhất

    sánh sánh hơn nhất của tính từ “little” có dạng đặc biệt là: the least

    Question 3

    WRONG

    many

    Hint:

    tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

    Both A and C

    much

    Hint:

    tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

    Question 3 Explanation:

    Nghĩa: nhiều – nhiều hơn – nhiều nhất

    tính từ “many/ much” có dạng so sánh hơn nhất đặc biệt cần ghi nhớ là “the most” và so sánh hơn là “more”

    Question 4

    CORRECT

    A

    the

    Hint:

    dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

    the most

    C

    most

    Hint:

    dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

    Question 4 Explanation:

    Nghĩa: đắt – đắt hơn – đắt nhất

    dạng so sánh hơn nhất chung của tính từ dài là: the + most + tính từ dài

    Question 5

    PARTIAL-CREDIT

    There was a storm yesterday. Today, the weather’s ……………… ( beautiful )

    A

    more than beautiful

    Hint:

    dạng so sánh hơn với tính từ dài: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ.

    the most

    Hint:

    so sánh 2 đối tượng: today – yesterday thì chỉ có thể là so sánh hơn, không thể là so sánh hơn nhất

    more beautiful

    Question 5 Explanation:

    Nghĩa: Hôm qua có bão, hôm nay thời tiết đẹp hơn rồi.

    dạng so sánh hơn với tính từ dài: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ.

    Question 6

    PARTIAL-CREDIT

    A

    most

    Hint:

    dạng so sánh hơn nhất của tính từ dài là: the most + tính từ dài + N

    more

    Hint:

    so sánh 3 vật thể với nhau không thể có so sánh hơn

    the most

    Question 6 Explanation:

    Nghĩa: Trong ba cuốn sách này, bạn nghĩ cuốn nào hay nhất?

    dạng so sánh hơn nhất của tính từ dài là: the most + tính từ dài + N

    Question 7

    CORRECT

    A

    good

    Hint:

    tính từ “good” không thể theo sau động từ “sing” để bổ nghĩa được

    B

    best

    Hint:

    2 hiện tượng không thể có so sánh hơn nhất

    C

    goodly

    Hint:

    trạng ngữ đặc biệt của “good” là “well”

    well

    Question 7 Explanation:

    Nghĩa: Cô ấy không thể hát hay nhưng có thể chơi piano giỏi.

    trạng ngữ đặc biệt của “good” là “well”. Thêm đó, tuân thủ quy tắc song song giữa 2 mệnh đề: sing well – play beautifully

    Question 8

    PARTIAL-CREDIT

    difficult

    Hint:

    nghĩa: khó

    intelligent

    C

    easy

    Hint:

    nghĩa: dễ, tính từ ngắn

    D

    tall

    Hint:

    nghĩa: cao, tính từ ngắn

    Question 8 Explanation:

    Nghĩa: Bạn của chúng tôi thông minh hơn chúng tôi.

    có 2 đối tượng so sánh: our friends – us, cấu trúc chung của so sánh hơn với tính từ dài là: S + to be + more + tính từ dài + than + danh từ/ đại từ

    Question 9

    CORRECT

    A

    like

    Hint:

    “Like” và “as” là hai từ cùng được dùng để nói về những sự vật, sự việc có nét tương đồng hay giống nhau.

    B

    as

    Hint:

    “Like” và “as” là hai từ cùng được dùng để nói về những sự vật, sự việc có nét tương đồng hay giống nhau.

    than

    D

    to

    Hint:

    giới từ

    Question 9 Explanation:

    Nghĩa: Diana cao hơn nhiều so với Charles.

    trước đó có tính từ ngắn dạng so sánh hơn “taller”, theo cấu trúc so sánh hơn với tính từ ngắn: S + to be + tính từ ngắn + er + than + danh từ/ đại từ

    Question 10

    WRONG

    easier than

    Hint:

    so sánh hơn với tính từ ngắn “easy”

    more easier

    most easiest

    Hint:

    2 đối tượng so sánh: This exercise – my expectation

    Question 10 Explanation:

    Nghĩa: Bài tập này không khó. Nó dễ hơn tôi tưởng.

    “easy” là tính từ ngắn, áp dụng công thức so sánh hơn với tính từ ngắn cho 2 đối tượng: S + to be + tính từ ngắn + er + than + danh từ/ đại từ

    Question 11

    CORRECT

    much

    B

    many

    Hint:

    sau “many” danh từ đếm được số nhiều, “money” là danh từ không đếm được

    C

    less

    Hint:

    Câu dùng cấu trúc so sánh bằng

    D

    more

    Hint:

    Câu dùng cấu trúc so sánh bằng

    Question 11 Explanation:

    Nghĩa: Anh ấy có nhiều tiền hơn tôi.

    much dùng cho danh từ không đếm được

    Question 12

    WRONG

    few

    many

    much

    Hint:

    danh từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó không thể là “much”

    both B and A

    Question 12 Explanation:

    danh từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó là “many, few” theo công thức so sánh bằng: S + V + as + few/ much/ many/ little + danh từ đếm được/ không đếm được + as + noun/ pronoun

    Question 13

    WRONG

    The more I study much, the more I know lots of.

    Hint:

    so sánh “càng…càng…” đã có “more” thì không có “much”, ‘”lots of”

    The more I study, the more I know.

    Question 13 Explanation:

    2 mệnh đề đều bắt đầu bằng so sánh hơn, song song về cấu trúc: The +từ so sánh hơn + S1 +V1, the + từ so sánh hơn + S2 +V2

    Question 14

    PARTIAL-CREDIT

    English

    Hint:

    Môn tiếng Anh

    Literature

    Hint:

    Văn học

    Maths

    Hint:

    Môn toán

    D

    Geography

    Hint:

    Địa lý

    Question 14 Explanation:

    Nghĩa: Cậu ấy học rất giỏi toán. Cậu ấy có thể tính tổng nhanh hơn tất cả các học sinh trong lớp cậu ấy.

    Question 15

    WRONG

    The more water he drinks, the thirstier he becomes.

    The more he drinks water, the more he becomes thirsty.

    Hint:

    Cấu trúc so sánh kép: the + từ so sánh hơn(more/ less) (+N) S + V, the + từ so sánh hơn(more/ less) + S +V

    Question 15 Explanation:

    Nghĩa: Càng uống nhiều nước, anh ta càng thấy khát.

    Cấu trúc so sánh kép: the + từ so sánh hơn(more/ less) (+N) S + V, the + từ so sánh hơn(more/ less) + S +V

    Question 16

    CORRECT

    A

    gooder

    Hint:

    tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”

    better

    C

    good

    Hint:

    tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”, sau tính từ có “than” buộc trước đó phải là tính từ dạng so sánh hơn

    D

    best

    Hint:

    đang so sánh 2 hiện tượng: My English this term – My English last term

    Question 16 Explanation:

    Nghĩa: Tiếng Anh của tôi kỳ này tốt hơn kỳ trước. tính từ “good” có dạng so sánh hơn đặc biệt là “better”, sau tính từ có “than” buộc trước đó phải là tính từ dạng so sánh hơn: S + to be + tính từ ngắn + er/ more + tính từ dài + than + noun/ pronoun

    Question 17

    CORRECT

    A

    happy/ good

    Hint:

    sau chỗ trống 1 có “than” dạng cấu trúc của so sánh hơn nên tính từ phải ở dạng so sánh

    B

    happier/ gooder

    Hint:

    dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ ngắn “good” là “better”

    C

    more happy/ more good

    Hint:

    sau chỗ trống 1 có “than” dạng cấu trúc của so sánh hơn nên tính từ phải ở dạng so sánh, dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ “happy” là “happier”

    happier/ better

    Question 17 Explanation:

    Nghĩa: Anh ấy cảm thấy vui hơn năm ngoái bởi kết quả học tập tốt hơn.

    dạng so sánh hơn đặc biệt của tính từ “happy” là “happier” đứng trước “than”

    Question 18

    CORRECT

    A

    fluent

    Hint:

    có “than” trước chỗ trống nên trạng từ phải ở dạng so sánh

    B

    more fluent

    Hint:

    động từ hành động “speak” buộc câu phải ở dạng so sánh trạng từ

    more fluently

    D

    fluently

    Hint:

    Question 18 Explanation:

    Nghĩa: Nam có thể nói tiếng Trung thành thạo hơn Minh.

    Question 19

    WRONG

    quieter

    Hint:

    sau chỗ trống có “than” nên tính từ trước đó phải ở dạng so sánh hơn, “quiet” là tính từ dài

    more quiet

    more quietly

    Hint:

    động từ chính so sánh trong câu là ‘tobe” nên câu này phải ở dạng so sánh với tính từ không phải với trạng từ.

    quietlier

    Hint:

    “quiet” là tính từ dài

    Question 19 Explanation:

    Nghĩa: Vùng quê yên tĩnh hơn thành phố.

    sau chỗ trống có “than” nên tính từ trước đó phải ở dạng so sánh hơn, “quiet” là tính từ dài, động từ chính so sánh trong câu là ‘tobe” nên câu này phải ở dạng so sánh với tính từ: S + to be + more + tính từ dài + than + noun/ pronoun

    Question 20

    CORRECT

    A

    more long

    Hint:

    “long” là tính từ ngắn, “more + tính từ dài + than”

    long

    C

    longer

    Hint:

    “as…as’ dấu hiệu so sánh bằng không phải so sánh hơn.

    D

    longest

    Hint:

    “as…as’ dấu hiệu so sánh bằng không phải so sánh hơn nhất

    Question 20 Explanation:

    Nghĩa: Áo sơ mi xanh dài bằng áo sơ mi đỏ.

    “as…as’ dấu hiệu so sánh bằng: S + to be + as + tính từ + as + danh từ/ đại từ

    Nghĩa: Tôi càng học nhiều tôi càng biết nhiều.2 mệnh đề đều bắt đầu bằng so sánh hơn, song song về cấu trúc: The +từ so sánh hơn + S1 +V1, the + từ so sánh hơn + S2 +V2

    Nghĩa: Anh ấy và anh trai của anh ấy làm việc ít/ nhiều giờ như chúng tôi từ “days” ở dạng số nhiều đếm được, đứng trước nó là “many, few” theo công thức so sánh bằng: S + V + as + few/ much/ many/ little + danh từ đếm được/ không đếm được + as + noun/ pronoun

    21.003118

    105.820141

    Bình chọn

    Hanoi, Vietnam

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Bằng Và So Sánh Nhất — Tiếng Anh Lớp 7
  • So Sánh Hơn ( The Comparative)
  • Sự Khác Nhau Giữa Farther Và Further
  • Bạn Đang Đau Đầu Trong Việc Phân Biệt Tính Từ Ngắn – Tính Từ Dài Trong Tiếng Anh?
  • Tính Từ Và Các Dạng So Sánh Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • So Sánh Bằng Và So Sánh Nhất — Tiếng Anh Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 16: So Sánh – Chuẩn Tiếng Anh – Chuyên Gia Tiếng Anh Hàng Đầu Việt Nam
  • Tính Từ So Sánh Hơn Và So Sánh Hơn Nhất
  • More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest
  • Các Cấu Trúc Nâng Cao Trong Các Dạng So Sánh
  • Tính Từ Bất Quy Tắc Trong Tiếng Anh
  • She sings

    as well as

    her sister.

    Is the film as interesting as you expected?

    So sánh bằng nhau hoặc như nhau với danh từ cấu trúc:

    the same as S + V + the same + (noun) + as + noun / pronoun

    Ex: My house is as high as his. = My house is the same height as his. = The height of my house is the same as his.

    – Khi nói gấp bao nhiêu lần ta dùng cấu trúc twice as…as / three times as … as, …

    Ex: Petrol is twice as expensive as it was a few years ago.

    2. SO SÁNH HƠN

    a. Tính từ / Trạng từ ngắn: (tính từ / trạng từ có một âm tiết và tính từ có hai âm tiết tận cùng bằng –er, -ow, -y, -le

    Ex: My sister is

    taller than

    me.

    She is

    happier than

    she used to be.

    b. Tính từ / Trạng từ dài:

    – Có thể thêm much, far, a lot, a bit, a little, rather, slightly trước hình thức so sánh hơn để chỉ cấp độ

    Ex: His watch is much / far more expensive than mine.

    I got up

    a little later than

    usual.

    3. SO SÁNH NHẤT

    a. Tính từ / Trạng từ ngắn:

    Ex: He is

    the youngest

    in his family.

    b. Tính từ / Trạng từ dài:

    Ex: Lan is the most intelligent in her class.

    4. Một số tính từ, trạng từ bất qui tắc:

    Good/well

    better

    the best

    Bad/badly

    worse

    the worst

    Far

    farther

    the farthest

    further

    the furthest

    Much/ many

    more

    the most

    Little

    less/ lesser

    the least

    Old

    older/ elder

    the eldest

    5. SO SÁNH KÉP

    a. So sánh đồng tiến (càng … càng):

    (thường so sánh hai tính từ, trạng từ khác nhau)

    The + so sánh hơn

    + S + V, +

    the + so sánh hơn

    + S + V

    Ex:

    The older

    I get,

    the happier

    I am.

    The more I know him, the less I like him.

    The more electricity you use, the higher your bill will be.

    – Dạng ngắn của cấu trúc này là

    the + so sánh hơn + the better

    Ex: What time shall we leave? – The sooner the better.

    How do you like your coffee? – The stronger the better.

    b. So sánh lũy tiến (càng ngày càng) (thường dùng khi so sánh cùng một tính từ, trạng từ)

    Ex: Betty is younger and younger.

    Her story was more and more attractive.

    Less and less được dùng để diễn tả sự giảm dần

    Ex: He played the piano less and less as he grew older.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Hơn ( The Comparative)
  • Sự Khác Nhau Giữa Farther Và Further
  • Bạn Đang Đau Đầu Trong Việc Phân Biệt Tính Từ Ngắn – Tính Từ Dài Trong Tiếng Anh?
  • Tính Từ Và Các Dạng So Sánh Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Less Và Fewer
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×