So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Theo cách phân chia thông thường hiện nay thì Việt Nam và Nhật Bản ở vào hai khu vực văn hoá khác nhau. Nhật Bản là một nước Đông á, còn Việt Nam thuộc Đông Nam á. Không dễ gì đem văn hoá thuộc hai khu vực khác nhau để so sánh, nhưng chúng ta lại rất cần đến nghiên cứu so sánh để có thể hiểu sâu thêm từng đối tượng và hiểu rộng thêm mối quan hệ giữa các đối tượng này. Mặt khác, sự phân chia thành các khu vực văn hoá, thực chất cũng chỉ là một cách làm của các nhà khoa học nhằm phân lập một cách tương đối một thực thể nào đó, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chia cắt chúng một cách tuyệt đối. Hơn thế, do tác động của hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc thuộc các khu vực văn hoá khác nhau lại có nhiều mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, vì vậy so sánh để tìm ra những mối liên hệ, rút ra những điểm tương đồng và dị biệt lại là việc làm hết sức cần thiết và bổ ích. Nhật Bản và Việt Nam có thể coi là những trường hợp như thế. Hơn nữa, Việt Nam và Nhật Bản lại cùng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa, nên có không ít những điểm tương đồng, nhưng nếu nghiên cứu sâu hơn những biểu hiện của ảnh hưởng này lại tìm ra những khác biệt đáng kể.

    Chọn Nhật Bản để so sánh, tác giả muốn đạt tới sự nhận thức sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam và qua đó, góp phần hiểu thêm về mối quan hệ Đông á và Đông Nam á.

    Có nhiều phương pháp so sánh nhưng phương pháp được sử dụng trong bài này là so sánh theo tiêu chí. Theo chúng tôi có thể chọn 5 tiêu chí sau đây:

    1. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái.

    Với nhận thức của khoa học ngày nay, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến sáng tạo văn hoá của con người. Sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá.

    2. Sự hình thành nhà nước đầu tiên.

    Đây là sự kiện có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi dân tộc vì sự xuất hiện nhà nước vừa là cái mốc bước nhảy vọt của một cộng đồng cư dân đưa họ bước vào thời đại văn minh vừa là sự kết tinh của những thành tựu về văn hoá đã đạt được trước đó, bước đầu định hình một bản sắc văn hoá.

    3. Những đặc điểm về cư dân và đặc trưng văn hoá truyền thống.

    Nói tới văn hoá, không thể không xem xét chính chủ thể của văn hoá, nên nguồn gốc, quá trình tộc người và đặc điểm của cả cộng đồng là những yếu tố không thể bỏ qua. Còn đặc trưng của văn hoá truyền thống ở đây là xét trên những đặc trưng chung nhất của 4 thành tố cấu thành văn hoá.

    4. Các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử.

    Từ khi nhà nước hình thành, mặc dù là sản phẩm của văn hoá do chính con người tạo ra nhưng các hình thức tổ chức nhà nước có tác động rất mạnh mẽ đến chiều hướng phát triển của lịch sử và chi phối những đặc trưng của xã hội.

    5. Ứng xử với văn hoá ngoại lai.

    Văn hoá được sản sinh trong một không gian nhất định và giới hạn của nó thường là môi trường tự nhiên, nhưng văn hoá không bao giờ là đóng kín. Sự lan toả những giá trị của một nền văn hoá này tới những nền văn hoá khác là một hiện tượng tự nhiên, nhưng cách ứng xử trước hiện tượng tự nhiên ấy là phụ thuộc vào, và vì vậy, phản ánh đặc trưng của chính những nền văn hoá chịu những tác động ấy. Vì vậy đây có thể coi là một trong những tiêu chí để có thể xét sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hoá.

    Xét theo tiêu chí thứ nhất về điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, có thể thấy Việt Nam là một bán đảo với diện tích tự nhiên hơn 33 vạn km2 và hơn 3000 km bờ biển. Chỉ số duyên hải (ISCL) tính được ” 106. Trong khi đó, Nhật Bản là một quần đảo với 3.600 hòn đảo lớn nhỏ quây quần xung quanh 4 hòn đảo lớn. Tổng diện tích tự nhiên ” 377.000 km2 và 29.000 km bờ biển, chỉ số ISCL ” 13 (1).

    Do địa hình dốc, mưa theo mùa tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc (trên có tới gần 3.000 con sông lớn nhỏ), xoè theo hình nan quạt ở phía bờ biển. Do bồi lấp không hoàn chỉnh, vùng đồng bằng hay có úng lụt, tạo thành vùng sinh thái có nhiều mặt nước chiếm chỗ. Người Việt gọi Tổ quốc mình là nước.

    Khí hậu Việt Nam tương đối đa dạng. ở miền Bắc có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Miền Nam chia thành 2 mùa Khô và Mưa. Đặc điểm chung là nóng, ẩm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho dịch bệnh. Cùng vớí chế độ nhiệt đới gió mùa, hằng năm có bão, thiên nhiên cũng đặt ra không ít những thử thách hiểm nghèo. Mưa, lũ, bão, ẩm, dịch bệnh là những thiên tai mà người Việt thường xuyên phải đối phó.

    Do lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ tuyến, lại có nhiều mạch núi cắt ngang, tạo thành nhiều âu khí hậu khác nhau mà rõ nhất là Bắc, Trung, Nam Bộ. Cùng với sự đa dạng về địa hình, sự khác biệt về khí hậu là những yếu tố tự nhiên nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá phân bố theo vùng, miền.

    Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, nhưng nhìn chung trữ lượng không cao. Ưu thế tài nguyên chủ yếu là đất. Nông nghiệp đã xuất hiện sớm và là ngành kinh tế chủ đạo trong suốt mọi thời kỳ lịch sử.

    Một đặc điểm nổi bật của điều kiện tự nhiên Việt Nam là vị trí địa lí giao tiếp, là nơi giao lưu của nhiều dòng văn hoá và là nơi luôn bị tác động của khu vực và thế giới. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng dần theo thời gian.

    Tuy có diện tích tự nhiên rộng hơn, nhưng khác với Việt Nam, Nhật Bản có tới 75% diện tích là núi và 67% rừng xanh che phủ. Với lượng mưa không lớn (trung bình khoảng 300mm/năm) và do địa hình núi gần biển, Nhật Bản không có nhiều sông. 13 con sông được ghi trong các sách địa lý đều ngắn, nhỏ và nghèo phù sa. Nhật Bản hầu như không có đồng bằng châu thổ (2). Ngay cả những vùng được gọi là đồng bằng như vùng Kanto và Kansai, thực chất cũng chỉ là những thung lũng lớn được tạo thành bởi nham thạch của núi lửa. Nhật Bản có tới 200 núi lửa, 60 ngọn trong số đó vẫn còn đang hoạt động. Chính vì vậy mà biểu tượng của người Nhật là núi lửa Fuji.Cả nước có khoảng 300 thung lũng, bị chia cắt thành 7 vùng núi lửa.

    Bù lại sự chật hẹp về đất đai cư trú và trồng trọt, Nhật Bản có hệ thống cảng biển dày đặc.

    Khí hậu Nhật Bản có sự cách biệt khá xa. Có vùng lạnh như Siberi (đảo Hokkaido), lại có vùng ấm như Đông Nam á (Okinawa và các đảo cực nam). Quanh năm có 4 mùa rõ rệt nhưng độ ẩm không cao. Khí hậu nói chung không thật thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản được coi là nước thiên tai rất khắc nghiệt với sự hoành hành thường xuyên của động đất, lũ quét, sóng thần, bão biển và núi lửa.

    Do địa hình chia cắt, văn hoá Nhật Bản có thể chia thành nhiều vùng – địa phương. Nghèo về tài nguyên (3) kể cả đất canh tác, Nhật Bản chỉ có khoảng 2,5 triệu ha đất có thể canh tác được nhưng chỉ trong một vụ xuân hè.

    Nhật Bản nằm giữa biển, nhưng trong các giai đoạn lịch sử trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu, vị trí địa lý của quần đảo tương đối cách biệt nên ít chịu tác động tự nhiên mà thường chủ động du nhập các yếu tố văn minh từ bên ngoài.

    Những nét tương đồng có thể thấy qua những đặc điểm mang tính hình thức như diện tích tự nhiên (33 vạn/38 vạn km2), địa hình, khí hậu đa dạng với đủ các vùng rừng núi, đồng bằng và duyên hải. Cả hai quốc gia đều phải đối phó với những thiên tai hiểm nghèo… Phân tích sâu hơn những tham số tự nhiên thì thấy những điểm dị biệt là rất đáng kể. Trước hết đó là sự khác nhau giữa một bán đảo với một quần đảo, do đó chỉ số ISCL chênh nhau tới hơn 8 lần (13/106). Do đặc điểm này mà tác động của yếu tố biển tới đời sống văn hoá của mỗi dân tộc rất khác nhau. Sự khác biệt còn thể hiện ở mức độ thuận lợi và thử thách do thiên nhiên đem lại như khắc nghiệt của thiên tai, sự phong phú giàu có về tài nguyên và ảnh hưởng của vị trí địa lý.

    Trong tiêu chí thứ hai: cư dân và đặc trưng văn hoá, Việt Nam luôn được nhận diện như một quốc gia đa tộc người, ít nhất có tới 54 tộc người với ngôn ngữ và truyền thống văn hoá khác nhau, nhưng có một dân tộc chủ thể là người Kinh (hay Việt).

    Đặc trưng văn hoá Việt được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài do tác động của nhiều nhân tố, nhưng về đại thể có thể coi những nhân tố sau đây có vai trò tác động chính yếu:

    – Tác động của môi trường “nước”. Do tác động này mà hình thành các dạng thức văn hoá sông – nước với những tính cách của cư dân ở gần/trên sông, nước (can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng, giỏi xử lí tình huống…).

    – Tác động của hoàn cảnh lao động sản xuất (nông nghiệp trồng lúa nước). Trong quá trình chinh phục đồng bằng châu thổ, đắp đê, điều tiết nước để sản xuất và hợp lực phòng chống lũ lụt, người Việt cần tới sức mạnh cộng đồng. Làng, một loại hình tụ cư đậm tính cố kết trở thành hội điểm của rất nhiều đặc trưng văn hoá. Trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng), hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão (trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Nhưng cũng do hoàn cảnh sản xuất mà người nông dân Việt không quen hạch toán và lường tính xa. Bình quân (chia đều) trở thành một phương thức hữu hiệu duy trì mối quan hệ hoà đồng trong làng xã.

    – Tác động của hoàn cảnh lịch sử mà nổi bật là phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược. Tác động này đã tạo nên truyền thống bất khuất kiên cường, có ý thức độc lập tự chủ cao. Đồng thời cũng chính do tác động này mà thiết chế cộng đồng được gia cố thêm.

    Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt coi trọng đạo thờ cúng tổ tiên. Trong quá trình tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, ấn Độ và phương Tây, Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo lần lượt được du nhập vào Việt Nam. Các tôn giáo ngoại lai và các loại hình tín ngưỡng bản địa đã dung hợp nhau cùng tồn tại và phát triển. Việt Nam trở thành một xứ sở hỗn dung tôn giáo.

    Khác với Việt Nam, Nhật Bản là một quốc gia thuần chủng, có bản sắc chung rất rõ nét. Trong kết cấu cư dân hiện nay, 99,4% dân số là người Nhật, bộ phận những cư dân khác còn lại chỉ chiếm 0,6% (gồm 600.000 người Triều Tiên, 40.000 người Trung Quốc và khoảng 20.000 Ainu). Quá trình “thuần chủng hoá” này đã diễn ra trong một quá trình lịch sử lâu dài trong điều kiện quần đảo Nhật Bản sống tương đối tách biệt với thế giới bên ngoài. Địa hình bị chia cắt bởi núi non, thung lũng và đảo dẫn tới sự hình thành nhiều dạng thức văn hoá địa phương. Người ta đã từng chia Nhật Bản thành 6 vùng văn hoá là Bắc hải đạo (đảo Hokkaido), Bắc lục đạo (vùng núi phía bắc, giáp biển Nhật Bản, chủ yếu là các tỉnh Nigata, Kanazawa), Đông hải đạo (vùng đồng bằng Kanto), Kinki (vùng đồng bằng Kansai), Tây hải đạo (đảo Kyushu), Nam hải đạo (đảo Shinkoku và các đảo phía nam).

    – Xét về tác động của môi trường có thể thấy biển, núi, thung lũng, khí hậu ôn đới, núi lửa và động đất là những nhân tố tự nhiên tác động mạnh mẽ và thường xuyên đến quá trình hình thành văn hoá truyền thống Nhật Bản. Do tác động đó mà tính cách Nhật Bản cứng rắn, tiết kiệm, trung thành với các giá trị truyền thống và rất cầu toàn. Vị trí địa lý tương đối biệt lập (của cả quần đảo và của từng vùng) đã tạo nên tính cách đóng kín nhưng lại luôn có mặc cảm “bị bỏ rơi” nên luôn mong muốn hội nhập và học tập cái hay ở người khác.

    – Về hoàn cảnh lịch sử, có thể thấy trong suốt thời kỳ trung đại, ngoại trừ hai lần tấn công xâm lược nhưng không thành của quân Mông – Nguyên, Nhật Bản hầu như không phải đối phó với ngoại xâm. Thay vì các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, nội chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương diễn ra tương đối thường xuyên và kết cục dẫn đến sự hình thành thiết chế Mạc phủ mà thực chất là sự thống trị của chính quyền quân sự, đứng đầu là các dòng họ Shogun (Tướng quân) song song với sự tồn tại phần nhiều trên danh nghĩa một chính quyền dân sự do Thiên hoàng (Teno) đứng đầu. Hoàn cảnh lịch sử này đã tạo nên tính kỉ luật, đề cao vai trò người chỉ huy. Chuẩn mực đạo đức là đề cao giữ chữ tín. Sự phát triển mạnh mẽ của các phong kiến địa phương tại mỗi thung lũng đã dẫn tới sự hình thành các đơn vị thân binh (Samurai) sau thành trở thành một tầng lớp có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội dưới tên gọi Vũ sĩ (Bushi). Trong xã hội truyền thống, đại bộ phận cư dân sống ở nông thôn. Họ tụ cư thành các đơn vị gọi là mura (thôn). Khác với cấu trúc làng ở Việt Nam, trong các mura của Nhật Bản, xã hội có cấu trúc theo chiều dọc, nghĩa là có trật tự, lớp lang. Mọi thành viên đều có chức năng, bổn phận rất rõ ràng. Quan niệm “cá mè một lứa” hay “cá đối bằng đầu”, một kiểu dân chủ làng xã theo lối bình quân chủ nghĩa thường thấy ở Việt Nam, rất xa lạ với xã hội Nhật Bản.

    Tôn giáo giữ vị trí độc tôn ở Nhật Bản là Shinto (Thần đạo). Tôn giáo này đã hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng thờ tổ tiên là nữ thần mặt trời. Các tôn giáo khác ở Nhật rất kém phát triển, trừ phật giáo Đại thừa. Nhật Bản đã có thời coi văn minh Trung Hoa là mẫu hình lý tưởng để học theo, nhưng Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản không phải là nguyên mẫu. Người Nhật đã chọn lựa từng bộ phận nhưng rất tuân thủ giáo lý. Hệ thống tuyển chọn quan lại bằng thi cử hoàn toàn không được người Nhật áp dụng.

    Trên bình diện cư dân và đặc trưng văn hoá, những nét tương đồng của Việt Nam và Nhật Bản thể hiện ở chỗ cả hai cộng đồng đều thuộc chủng Mongoloid và có chung yếu tố Nam á.

    Văn hoá truyền thống của cả hai dân tộc đều hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, kinh nghiệm đều có nhiều nét tương đồng. Cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nên Nho giáo, Đạo giáo và nhiều chuẩn mực Trung Hoa có thể tìm thấy trong văn hoá cả hai nước.

    Tuy nhiên, tính chất đa dân tộc của cộng đồng cư dân Việt Nam rất khác với đặc điểm thuần chủng của người Nhật. Mặt khác sự trội vượt của yếu tố phương Nam và sự thiếu vắng hoàn toàn hoạt động không du mục của cư dân Việt và tính trội yếu tố phương Bắc với sự hiện diện của kinh tế du mục trong một thời kỳ lịch sử của Nhật Bản đã dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong hai nền văn hoá. Nếu như ở Việt Nam, ảnh hưởng từ dưới lên là đặc trưng chủ đạo thì với văn hoá Nhật Bản ảnh hưởng từ trên xuống lại là xu hướng chi phối.

    Việt Nam không có quốc đạo trong khi đó ở Nhật Bản đạo Shinto được coi là quốc giáo. Sự khác biệt trong văn hoá còn thể hiện ở tính cách ứng xử của hai dân tộc. Một bên là mềm mỏng, linh hoạt, dễ thích ứng, một bên coi trọng nguyên tắc, kỉ luật. Trong bảng giá trị đạo đức, người Việt trọng hiếu còn người Nhật thì trọng tín.

    Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam được xác định vào cuối thời Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2500 – 2700 năm. Như vậy là tương đối sớm. Tuy nhiên đây không phải là kết quả của một quá trình phân hoá xã hội sâu sắc mà trên cơ sở phát triển nhất định của các tiền đề kinh tế xã hội, những tác động khách quan của nhu cầu sản xuất và chống xâm lấn đã đẩy nhanh quá trình này. Ngay sau khi ra đời, nhà nước Văn Lang và sau đó là Âu Lạc đã phải liên tục đương đầu với quá trình bành trướng xuống phương Nam của các đế chế Trung Hoa. Đây là điểm khác biệt lớn của lịch sử Việt Nam so với Nhật Bản. Từ giai đoạn văn hoá Yayoi (thế kỷ III TCN – III SCN), kỹ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước du nhập vào Kyushu đã tạo nên bước nhảy vọt trong lịch sử Nhật Bản. Cùng với sự phát triển về kinh tế, phân hoá xã hội trở nên ngày càng sâu sắc. Vào giữa thế kỉ I SCN, tầng lớp Shucho (thủ lĩnh) giàu có xuất hiện. Sau đó hàng loạt Kuni (một loại hình nhà nước sơ khai) được hình thành, trong đó mạnh nhất là nước Wa. Ngay sau khi thành lập, vào năm 57 SCN, nước này đã xin thần phục nhà Hán mở ra một thời kỳ phát triển theo quỹ đạo của văn minh Trung Hoa.

    Về các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử, mặc dù đã từng tồn tại nhiểu kiểu loại nhà nước khác nhau, nhưng xu hướng chủ đạo là sự thắng thế của hình thức nhà nước trung ương tập quyền. Dưới thời Lý-Trần (1009 – 1400), mô hình “tập quyền thân dân” tồn tại gần 4 thế kỷ. Cả thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của mô hình “tập quyền quan liêu” và thế kỷ XIX là thời kỳ thống trị của mô hình “tập quyền chuyên chế”. Duy có giai đoạn từ năm 1600 đến 1789 trong bối cảnh chiến tranh phe phái triền miên, ở đàng Ngoài tồn tại một thiết chế khá đặc biệt với sự tồn tại song song hai chính quyền: triều Lê trên danh nghĩa và Chúa Trịnh (chính quyền quân sự) nắm thực quyền.

    Ở Nhật Bản, từ thế kỷ VII, dưới tác động của mô hình cai trị của nhà Đường, Nhật Bản cũng cố gắng xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn bị đứng đầu là Thiên hoàng. Tuy nhiên từ thế kỷ X, chính quyền trung ương suy yếu vì các vị Kokushi do chính quyền trung ương cử đến đứng đầu Kuni ngày càng có nhiều trang viên (Shoen) do được tặng biếu.

    Trong thời kỳ này hình thức xin thầu khai khẩn đất hoang (Myo) rất phát triển. Người trúng thầu gọi là Tato. Người nhiều ruộng gọi là Daimyotato. Những người này có rất nhiều Samurai (người hầu cận) làm cơ sở cho việc hình thành lực lượng vũ trang riêng. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới những cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến địa phương và sự hình thành thể chế Mạc phủ (Bakkufu) từ năm 1192 và kéo dài cho đến tận cải cách Minh Trị (1868).

    Những điểm tương đồng về tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có thể thấy ở 3 điểm:

    – Cùng chịu ảnh hưởng từ mô hình Nho giáo của Trung Hoa

    – Đều chú trọng pháp luật

    – Đặc biệt là thiết chế hai chính quyền ở Việt Nam từ 1600 đến năm 1789 và thiết chế Mạc phủ ở Nhật Bản từ 1192 đến 1868.

    Sự khác biệt thể hiện ở chỗ:

    – Việt Nam luôn thiết lập được thiết chế tập quyền mạnh còn ở Nhật Bản, chính quyền ở các địa phương mới là thế lực chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Thể chế Mạc phủ chỉ có thể khống chế địa phương về mặt quân sự.

    – Do cần tới một đội ngũ quan lại hùng hậu, các chính quyền phong kiến Việt Nam bắt đầu từ triều Lý (1076) đã tiến hành tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài, từ đó hình thành một hệ thống lưỡng ban (văn và võ). Chính quyền phong kiến Nhật Bản chưa bao giờ áp dụng hệ thống này. Vì vậy tầng lớp sĩ ở Nhật Bản chính là các Samurai văn võ kiêm toàn.

    Trong quá trình tiếp xúc với văn hoá ngoại lai, Việt Nam có ưu thế về vị trí địa lý. Và trên thực tế đã tiếp thu không ít những giá trị từ những nền văn hoá khác. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng, ứng xử truyền thống của người Việt với văn hoá ngoại lai thường bắt đầu từ sự hoài nghi, rồi sau đó buộc phải chấp nhận nhưng tìm mọi cách cải biến theo chuẩn mực của mình. Trong khi đó, do hoàn cảnh lịch sử và những đặc trưng văn hoá khác biệt, người Nhật luôn cho rằng ở ngoài Nhật Bản có rất nhiều giá trị văn hoá cao hơn, nếu tiếp thu được sẽ tạo cho văn hoá của họ những bước nhảy vọt (kỹ thuật đúc đồng, lúa nước, các chuẩn mực văn minh Trung Hoa…), vì vậy ứng xử truyền thống của người Nhật là xác định đâu là đỉnh cao rồi cố chí học theo. Điều này còn bao hàm cả việc sau khi nhận ra một mô hình nào đó đã lỗi thời, họ sẵn sàng từ bỏ để đến với những chuẩn mực cao mới. Đó là trường hợp Nhật Bản quay lưng lại với mô hình Trung Hoa sau khi chiến tranh thuốc phiện chấm dứt với thắng lợi của người phương Tây. Từ đây chuẩn mực mà người Nhật quyết chí noi theo là văn minh phương Tây.

    1. Ta thường nói đến sự tương đồng văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản (đồng văn, đồng chủng). Điều này đúng vì cả hai dân tộc đều có những giá trị chung của châu á lấy nghề trồng lúa nước làm nền tảng kinh tế, đều chịu ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và xét trên nhiều khía cạnh cụ thể cũng có thể tìm ra những điểm tương đồng, Chẳng hạn như sự tồn tại hai chính quyền quân sự và dân sự trong một thời kỳ lịch sử. Đấy là cơ sở thuận lợi trong quá trình giao lưu, hợp tác và học hỏi lẫn nhau.

    2. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản lớn tới mức có thể dùng chuẩn mực của nền văn hoá này để suy ra những đặc điểm tương tự ở nền văn hoá kia. Chẳng hạn như tính cách nông dân trồng lúa nước của Việt Nam hoàn toàn không thể dùng để quy chiếu tính cách nông dân Nhật Bản.

    3. Để có thể học tập và mở rộng hợp tác, nhất thiết phải có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc. Điều này không chỉ đúng với trường hợp Việt Nam và Nhật Bản mà còn đúng với các trường hợp khác. Nói rộng ra về sự tương đồng và khác biệt văn hoá của hai khu vực Đông á và Đông Nam á cũng cần tính tới việc phải xem xét thật cụ thể từng trường hợp và từng tác nhân dẫn tới sự tương đồng và khác biệt đó.

    GS.TSKH Vũ Minh Giang

    1. Chỉ số duyên hải được tính bằng công thức: ISCL = å A / å L (Tổng diên tích tự nhiên chia cho tổng chiều dài đường bờ biển). ở Nhật Bản ISCL ” 13, Việt Nam ” 106, có nghĩa là 1 km đường bờ biển chỉ che phủ tương ứng với mỗi nước là 13 km2 và 106 km2 diện tích lục địa. Theo đó, chỉ số ISCL càng thấp thì tác động của biển tới văn hoá càng mạnh.

    2. Trong một số sách địa lý của Nhật Bản có nhắc đến châu thổ sông Ota, tức vùng có thành phố Hiroshima, nhưng thực ra đấy chỉ là nói về đặc trưng thành tạo chứ quy mô bồi tụ và chất lượng phù sa của vùng này không giống với châu thổ ở các nơi khác trên thế giới.

    3. Thực ra Nhật Bản đã từng có những mỏ khoáng sản lớn như đồng, bạc, vàng… nhưng tất cả hầu như nhưng đã khai thác hết từ thế kỷ XVII.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Đối với những bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa của cá quốc gia và đặc biệt là những bạn sắp sửa sang Hàn Quốc học tập và làm việc thì đều muốn thực hiện một phép so sánh văn hóa Hàn Quốc và Việt Nam. Việc tìm hiểu trước về văn hóa Hàn Quốc cũng như sự khác nhau giữa văn hóa Hàn Quốc và Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc sống văn hóa của họ.

    Đồng thời cũng là sự chuẩn bị trước để chúng ta có thể nhanh chóng hòa nhập với môi trường văn hóa mới này, tránh trường hợp bị sốc văn hóa khi mới sang Hàn Quốc.

    Những thói quen hàng ngày trong văn hóa của Hàn Quốc và Việt Nam

    Nếu bạn là một fan của những bộ phim truyền hình Hàn Quốc thì có thể nhận thấy được một điều rằng người Hàn Quốc thường sẽ chuẩn bị bữa ăn sáng cho mình và người thân tại nhà. Bắt đầu một ngày mới, cả gia đình sẽ quây quần bên bàn ăn sáng rồi sau đó mới đi học, đi làm. Còn đối với người Việt thì mọi thứ phóng khoáng hơn, chúng ta có thể tự nấu ăn sáng, mua đồ ăn ở ngoài hoặc ghé các quan ăn để thưởng thức bữa sáng. Ở Việt Nam có rất đa dạng các món ăn cho bữa sáng để bạn có thể lựa chọn như bún, phở, xôi, bánh mỳ,…

    Sự khác biệt về tính cách con người Việt Nam và Hàn Quốc

    Người Hàn Quốc thường rất thẳng thắn, bộc trực, họ nghĩ sao nói vậy còn người Việt Nam lại thường nói giảm nói tránh chứ không đi trực tiếp vào vấn đề. Những người đàn ông Hàn Quốc rất lịch lãm, ga lăng và điềm đạm, còn đàn ông Việt Nam lại chuộng sự mạnh mẽ, gai góc hơn. Người Việt thường sẽ coi trọng và đề cao tín ngưỡng tôn giáo hơn so với người Hàn.

    Văn hóa ẩm thực của Việt Nam và Hàn Quốc

    Ẩm thực của mỗi quốc gia đều có những điểm độc đáo riêng và đặc trưng cho đất nước của mình. Ngay cả trong cách sử dụng gia vị và chế biến các món ăn cũng có nhiều điểm khác biệt. Nếu như người Hàn chỉ sử dụng 1 hoặc 2 loại gia vị cho một món ăn thì người Việt Nam lại kết hợp rất nhiều loại gia vị khác nhau để tạo nên hương vị hấp dẫn hơn.

    Nhờ việc trao đổi qua lại giữa Việt Nam và Hàn Quốc mà sự trao đổi qua lại giữa hai nền văn hóa được diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Theo đó chúng ta có thể thấy được rất nhiều những nét văn hóa tiêu biểu của Hàn Quốc du nhập và ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam.

    Thứ nhất phải kể đến đó là văn hóa ăn mặc, thời trang Hàn Quốc: Thời trang của người Hàn nổi tiếng với sự đơn giản, năng động, cá tính, kín đáo nhưng vẫn rất sang trọng và thanh lịch. Chính vì vậy mà nhiều năm trở lại đây, chúng ta có thể thấy được những phong cách thời trang của người Hàn xuất hiện rất phổ biến trên đường phố Việt Nam, đặc biệt là trong bộ phận lớn các bạn trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • Sự Khác Biệt Giữa Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục
  • Sự đối lập văn hóa ngàn đời giữa Đông và Tây vẫn rất rõ ràng trong nội tại, chỉ là vì chúng ta lướt qua chúng quá nhanh và không để ý đến những điều đó. Chỉ khi bước chân ra khỏi đất nước hình chữ S này thì chúng ta mới bỡ ngỡ nhận ra sự khác biệt mà bấy lâu nay vô tình bị lãng quên.

    Việt Nam nằm ngay vùng trung tâm hàng hải và giao thương kinh tế giữa Ấn ĐộDương và Thái Bình Dương, đâylà một trong những nguyên nhân chính khiến Việt Namcàng trở nên hội nhập với các quốc gia khác với những nền văn hóa đa dạng. Tại những trung tâm du lịch, tài chính, văn hóa như Sài Gòn, , Đà Nẵng hay Nha Trang thì chúng ta khó có thể thấy được sự khác biệt trong văn hóa giữa người bản địa cũng như du khách vì dường như quá trình giao thoa văn hóa diễn ra từng ngày khiến chúng trở nên quá quen thuộc. Tuy nhiên, sự đối lập văn hóa ngàn đời giữa Đông và Tây vẫn rất rõ ràng trong nội tại, chỉ là vì chúng ta lướt qua chúng quá nhanh và không để ý đến những điều đó. Chỉ khi bước chân ra khỏi đất nước hình chữ S này thì chúng ta mới bỡ ngỡ nhận ra sự khác biệt mà bấy lâu nay vô tình bị lãng quên. Do đó, việc tìm hiểu sự khác biệt văn hóa rất quan trọng, giúp chúng ta có thể sẵn sàng tinh thần với những cú shock văn hóa.

    Bài viết sau đây của ELLE MAN là danh sách liệt kê những sự khác nhau cơ bản giữa văn hóa phương Tây và Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

    1. Chuyện tình cảm yêu đương và gia đình:

    Phương Tây: Nam, nữ nắm tay nhau hoặc hôn nhau tại chốn công cộng là chuyện hoàn toàn bình thường. Những người xung quanh cũng chẳng hề bận tâm về chuyện đó.

    Thậm chí đối với những người là bạn bè thân lâu năm, đàn ông hay đàn bà vẫn có thể dành cho nhau những cái nắm tay, khoác lên vai nhau hoặc trao cho nhau những nụ hôn phớt lên má hoặc cả lên môi.

    Trong một gia đình, vợ chồng trao nhau những cái ôm hoặc những chiếc hôn trước mặt lũ trẻ một cách rất vô tư và những đứa trẻ thích nhìn bố mẹ chúng làm vậy. Bố mẹ cũng rất thương xuyên trao những nụ hôn cho con trẻ, họ xem đó là sự biểu hiện tình cảm yêu thương và con cái cũng như những người bạn thân.

    Việt Nam: Thường thì ta ít thấy những cặp đôi hôn nhau tại chốn công cộng trừ thế hệ trẻ ngày nay, những người có cái nhìn thoáng hơn trong chuyện yêu đương. Tuy nhiên, họ sẽ nhận được những cái nhìn “ái ngại” từ người lớn xung quanh.

    Đối với bạn bè, việc đụng chạm thân thể nhau là cực kì hạn chế dù là những người bạn thân lâu năm, bởi không khéo sẽ đưa cả 2 từ friendzone chuyển sang love affair tự lúc nào không hay.

    Vợ chồng cũng ít khi hôn nhau trước mặt con cái, mà họ thường làm chuyện ấy khi không có ai như cái thuở trốn ông bà để cùng nhau đi hẹn hò. Những người bố thườngít khi hôn con trẻ, họ rất yêu thương chúngnhưng cách thể hiện thường đôi khi “ít gần gũi” hơn người phương Tây.

    2. Tiệc tùng và lễ hội:

    Phương Tây: Giáng sinh và Tết Dương lịch là những ngày lễ quan trọng nhất trong một năm. Họ thường đi nghỉ lễ xa nhà hoặc chỉ quây quần cùng nhau.

    Đối với một người châu Âu, sinh nhật và đám cưới là những dịp quan trọng nhất trong đời. Tại sinh nhật, người thân sẽ tụ tập ca hát, nhảy múa, tặng quà và ăn tiệc nhẹ. Trong đám cưới, người phương Tây thường tổ chức tiệc ngồi lẫn buffet, nhưng họ thường ăn nhẹ, ca hát và nhận quà tặng từ người thân và bạn bè. Ít khi nhận tiền mừng, trừ một số vùng văn hóa đặc biệt như Sicily của Ý.

    Việt Nam: Tết Âm lịch là dịp lễ hội quan trọng nhất trong một năm. Là dịp để mọi người xa xứ tụ họp về quê hương, quây quần bên nhau bên mâm cỗ gia đình và bái cúng tổ tiên.

    Người Việt Nam tổ chức đám giỗ lớn hơn cả sinh nhật, đây là dịp để họ hàng cùng họp mặt nhau trong mâm cơm. Họ bàn về những kí ức xưa của người đã khuất, những điều tốt đẹp về họ. Đối với đám cưới, người Việt Nam cũng tổ chức rất cầu kì, bao gồm nhiều công đoạn tùy vào từng địa phương nhưng thường sẽ có Lễ Đám Hỏi trước Lễ Đính Hôn, là ngày để gia đình họ trai bưng mâm quả qua nhà gái để hỏi cưới. Họ tổ chức tiệc cưới khá long trọng và người đi dự đám cưới thường phải biếu tiền mừng.

    3. Ăn uống

    Phương Tây: Người phương Tây, điển hình là người Mỹ, không dành quá nhiều thời gian cho việc nấu nướng thường nhật, trừ khi họ là một đầu bếp hoặc một người sành ăn. Họ thường có thói quen mua dự trữ lương thực cho cả một tuần do tính chất cuộc sống, công việc hối hả và bận rộn. Đa phần theo Cơ Đốc giáo nên họ thường sẽ cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa trước khi ăn (không khác biệt lắm so với những người Việt Nam theo Cơ Đốc giáo).

    Cách chế biến món ăn cũng rất khác người châu Á, điển hình là Việt Nam, với thức ăn không quá dậy mùi gia vị và không hề cay, ngoại trừ những nền ẩm thực chú trọng gia vị sau chế biến như Hy Lạp, Ý hay Pháp.

    Dao, muỗng, nĩa là những vật dụng thường thấy trên bàn ăn, thức ăn thường là thực phẩm khô nguội và súp thì được đựng trong dĩa. Người Mỹ chỉ có một bữa ăn chính là ăn chiều, khi các thành viên trong gia đình quây quần cùng nhau. Thức ăn được chia đều cho mọi thành viên gia đình, và khi ăn họ thường không gây nên tiếng sột soạt (lý do vì sao, tôi sẽ giải thích sau).

    Việt Nam: Người Việt chúng ta dành rất nhiều thời gian để chế biến và nấu nướng bởi tính chất ẩm thực Việt Nam khá cầu kì với muôn vàncác loại gia vị. Họ thường mua sắm lương thực hàng ngày tại những khu chợ truyền thống hay trong siêu thị bởi tính chất của ẩm thực Á Đông là nền ẩm thực tươi ngon và nóng hổi khi chế biến, nên sẽ không phù hợp lắm khi dự trữ thức ăn cho cả tuần.

    Cách chế biến thức ăn của Việt Nam khá nồng mùi gia vị và rất cay, đây cũng chính là đặc điểm chung của nền ẩm thực Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

    Người Việt thường ăn bằng đũa và muỗng, thức ăn được đặt trong đĩa và tô, đặt chung trên mâm cơm và mọi người gắp vào chén (bát) của mình để ăn, canh (súp) thường được đặt giữa mâm cơm. Lý giải cho điều này chính là văn hóa cộng đồng trong cách ăn ở và sinh hoạt có từ ngàn năm trước. Trước khi ăn, các hậu bối(người nhỏ tuổi) phải mời các trưởng bối trong gia đình xơi (ăn) cơm rồi mới đượcđụng đũa. Khi ăn một món ăn ngon, đặc biệt là canh hay những món nước, thường thì họ gây ra tiếng sột soạt khi húp.

    Tôi sẽ lý giải một chút ở phần này, do bị ảnh hưởng quá nhiều của văn hóa Tây phương mà ngày nay nhiều người xem việc ăn ra tiếng là bất lịch sự và mất vệ sinh. Điều này đúng mà cũng không đúng, vì sao? Bởi đặc tínhcủa cả 2 nền ẩm thực là hoàn toàn khác nhau, thức ăn phương Tây vốn dĩ lấy lúa mạch làm nền tảng nên trên bàn ăn sẽ thường xuất hiện bánh mì cùng nhiều loại thức ăn khô nguội, việc ăn không gây tiếng động là điều hiển nhiên; còn ẩm thực Việt Nam thường rất cay nồng và chỉ thực sự ngon khi được dùng ngay lúc nóng, điều này tạo ra cử động chóp chép và hít hà khi ăn để làm dịu thức ăn trong miệng. Cũng giống như người Nhật và Hàn Quốc, khi được gia chủ mời dùng bữa, việc gây tiếng động sột soạt sẽ tạo cho họ cảm giác vui vẻ vì chứng tỏ họ nấu ăn ngon.

    Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là cổ súy việc ăn uống gây quá nhiều tiếng động và vương vãi lung tung, như vậy thật sự là bất lịch sự và không vệ sinh.

    4. Cung cách chào hỏi

    Phương Tây: Trong cách chào hỏi, người phương Tây có xu hướng bình đẳng giới nên bắt tay giữa 2 người khác giới là điều rất bình thường. Đối với những người bạn, họ thường trao nhau những nụ hôn lên má hoặc hôn phớt trên môi khi chào hỏi lúc gặp mặt hoặc chia tay.

    Họthường vẫy tay chào hỏingười khác kể cả với người lớn hơn, và việc vỗ nhẹ vào lưng từ đằng sau để chào hỏi đối với những người thân quen là điều hoàn toàn bình thường. Khi trở về nhà hoặc viếng thăm nhà bạn bè, người phương Tâythường chào hỏi bất cứ thành viên nào trong gia đình mà họ gặp đầu tiên.

    Việt Nam: Rất ít khi thấy những người khác giới bắt tay nhau, đàn ông Việt thường không chủ động bắt tay với người lớn tuổi hơn hay với phụ nữ mà sẽ đợi hành động đó từ họ. Khi bắt tay, họ chỉ nắm vừa đủ và không quá lâu,dùng cả hai tay và cúi đầu chào để thể hiện sự kính trọng với người lớn tuổi hơn. Phụ nữ thường không bao giờ bắt tay nhau.

    NgườiViệt chẳng bao giờ dành cho nhau những nụ hôn bạn bè, đặc biệt là giữa hai người khác giới, thậm chí đó còn là điều cấm kị đối với những phụ nữ đã có gia đình.

    Chỉ có người lớn mới được dùng động tác vẫy tay để kêu trẻ nhỏ, hoặc bạn bè cùng trang lứa kêu lẫn nhau. Việc vỗ nhẹ vào lưng chỉ được chấp nhận đối với bạn bè với nhau, nhưng đối với những người lớn thì điều đó hoàn toàn bị cấm kị, đặc biệt là đàn ông không được làm điều đó với một phụ nữ trưởng thành.Khi vào nhà một gia đình Việt, bạn cần chào hỏi người trưởng tộc hay người lớn tuổi nhất, vào chào từ lớn đến nhỏ.

    Bài viết: Đức Nguyễn – Hình ảnh: Sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • Nếu anh Mark tìm hiểu lịch sử Việt Nam về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, anh Mark sẽ hiểu rằng xã hội Việt Nam trong một thời gian dài là chế độ mẫu hệ, trong đó vai trò của người phụ nữ trong gia đình là rất lớn. Điều đó ít nhiều vẫn được duy trì đến ngay nay, với nhiều người phụ nữ Việt Nam có vị trí lớn trong xã hội. Vì thế, khi nói phụ nữ Việt Nam khổ cực thì xin hãy đưa ra những cơ sở để so sánh.

    Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tôi xin nói rằng phần nhiều vì muốn mưu cầu một cuộc sống vật chất tốt hơn ở Việt Nam. Ngược lại, không ít đàn ông nước ngoài tìm đến phụ nữ Việt Nam là vì họ không có tiền để lấy vợ bản địa và thấy người phụ nữ Việt Nam có rất nhiều nét truyền thống như phục vụ và biết chiều chuộng họ hơn phụ nữ bản địa. Chẳng hạn như đàn ông Đức rất thích lấy vợ Thái Lan cũng một phần bởi lý do này. Nhưng đó chỉ là một vế của vấn đề tổng thể. Người phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng ngoại cũng có rất nhiều cái khổ, chứ cũng không trọn vẹn, ví dụ như bất đồng ngôn ngữ văn hóa, lối sống…

    Về lý do tại sao phụ nữ Việt Nam và châu Á thường theo chồng và nhà chồng, trong cuộc sống phương Tây, tính tự lập của mỗi người là rất lớn, con cái trưởng thành, lập gia đình thường sống riêng và bố mẹ cô quạnh ở trong viện dưỡng lão. Nhưng trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu.

    Điều quan trọng ngược lại bù đắp thiếu sót đó của người phụ nữ nằm ở chỗ mức độ “phải” đến đâu, chồng và nhà chồng đối đãi thuận lợi ngược lại nhằm bù đắp với người vợ thế nào. Vì thế, tôi muốn nói rằng văn minh phương Tây ở điểm này không phải là văn minh phương Đông do yếu tố văn hóa và giá trị tinh thần lâu đời. Vì thế, mối quan hệ trong gia đình và giá trị tinh thần ở các nước phương Đông thường cao hơn các nước phương Tây.

    Ngoài ra, ví dụ về ngài thủ tướng Anh cho con bú, xin thưa rằng đàn ông Việt Nam và châu Á có cách thể hiện khác với con cái để thấy rằng nghĩa vụ chăm sóc con cái không phải chỉ riêng ở người phụ nữ. Đồng thời, các nước phương Tây có thể cho rằng phụ nữ hay con cái có quyền bình đẳng ngang với đàn ông, bố mẹ, để có thể đảm bảo rằng chỉ một cái bạt tai nhẹ khi nóng giận là có thể gọi đến cảnh sát thì đó là cái nhìn quá trần trụi, phá vỡ quy tắc đạo lý trong gia đình.

    Tôi đưa ra quan điểm đó để nhấn mạnh rằng đàn ông không phải có quyền muốn làm gì cũng được, nhưng cũng không thể có chuyện con cái, phụ nữ muốn thế nào cũng được theo ý thích của mình. Đó là lý do tại sao trong nhà phải có nóc, trên dưới trật tự. Nếu như vợ anh “ghét” và muốn mọi thứ theo ý thích của mình thì đó không còn là cuộc sống gia đình mà là cuộc sống của những cá nhân tự do với nhau.

    Trong hầu hết văn hóa phương Tây, người phụ nữ có vị thế rất lớn. Điều đó có được gắn liền với quá trình phát triển nền văn minh và tranh đấu quyền bình đẳng của nữ giới trong lâu dài. Đó là điều chúng tôi cũng muốn nhưng cũng không có thể thực hiện ngay được trong ngắn hạn do còn bị ràng buộc bởi các yếu tố văn hóa, lối sống, suy nghĩ, quan điểm, nhìn nhận và sự phát triển chung của xã hội.

    Về quan điểm nếu người vợ cũng có con với chồng cũ, tôi không có ý kiến vì điều đó tùy nhìn nhận của mỗi người đàn ông. Đó là bởi vì đàn ông và phụ nữ do yếu tố sinh và tự nhiên cần có những vị trí khác nhau. Điều này lý giải đàn ông thường phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc kiếm tiền cho gia đình, ra chiến trường khi có chiến tranh nên rõ ràng trách nhiệm lớn hơn. Khi người phụ nữ cũng làm được như thế thì sự so sánh sẽ đem lại một câu trả lời giống nhau.

    Với nhìn nhận như thế, sẽ thật là khiên cưỡng khi so sánh phụ nữ, đàn ông Việt Nam với nước ngoài do tồn tại nhiều sự khác biệt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Đánh Giá So Sánh Iphone 6 Và 6S
  • So Sánh Iphone 6S Plus Và Iphone 7, Cái Nào Vượt Trội Hơn Hẳn?
  • So Sánh Iphone 6S Và 6S Plus: Cùng Mức Giá Nên Chọn Loại Nào?
  • So Sánh Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Trong khi người phương Tây dùng dao-nĩa-thìa để ăn thì người phương Đông lại dùng đũa; nếu phương Tây chuộng thịt trong bữa ăn chính thì phương Đông lại không thể thiếu cơm;… Tuy nhiên, dù là văn hóa ẩm thực của quốc gia nào, thì cả người phương Đông và phương Tây đều có xu hướng chung, đó là quây quần bên gia đình và người thân.

    Ảnh nguồn Internet

    ►Bản so sánh văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây

    • Đa dạng trong sự kết hợp các thành phần nguyên liệu phổ biến, có sự tương đồng về vị
    • Hạt nêm, muối, đường, nước mắm,… là những gia vị được sử dụng nhiều nhất
    • Bữa ăn thường kèm theo nước mắm/ nước tương để chấm, có thể dùng chung cho tất cả món ăn
    • Luôn luôn kết hợp các thành phần nguyên liệu có hơi hướng mâu thuẫn và tránh ghép nối những thứ có hương vị tương tự
    • Bơ, sữa, trứng là những thành phần kết hợp được sử dụng nhiều nhất
    • Ăn kèm theo nước sốt, mỗi món ăn sẽ có một loại nước sốt riêng biệt

      “Quan niệm ẩm thực thẩm mỹ”: đánh giá món ăn bằng màu sắc, hương vị, hình thức, bát đĩa, ưu tiên tính ngon miệng, ít quan tâm đến chất lượng dinh dưỡng

      “Quan niệm ẩm thực lý tính”: ít quan tâm đến mùi vị, màu sắc, hình thức ra sao, chỉ chú trọng hàm lượng dinh dưỡng trong đó cung cấp cho một bữa ăn

    • Dùng đũa là chủ yếu
    • Ăn chung theo mâm, tức là món ăn được đựng chung trong một tô/ âu/ nồi lớn, những người trong bàn sẽ dùng vá/ thìa để lấy thức ăn vào chén của mình
    • Thường nói chuyện trong bữa ăn, tạo sự gần gũi, vui vẻ và thân mật
    • Ăn nhẹ nhàng, từ tốn, tránh phát ra tiếng động; tuy nhiên, với một số món ăn tại một số quốc gia, việc bạn ăn và phát ra tiếng động càng lớn thể hiện món ăn đó càng ngon và hành động này thể hiện sự biết ơn đầu bếp.
    • Một bộ dụng cụ gồm đôi đũa-cái thìa có thể được sử dụng cho toàn bộ bữa ăn (trừ món tráng miệng)
    • Chỉ dùng dao-thìa-nĩa
    • Ăn riêng theo từng phần
    • Tuyệt đối không nói chuyện trong khi ăn, tránh gây mất lịch sự, khiếm nhã
    • Ăn thật khéo léo, gọn gàng, không phát ra tiếng động, tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc về cách dùng dao-nĩa-thìa, khăn ăn, đồ uống,…
    • Mỗi món ăn sẽ yêu cầu một bộ dụng cụ ăn khác nhau và đảm bảo phù hợp với món ăn đó

    Nhiều điểm khác biệt là thế, cứ ngỡ văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây khó mà kết hợp với nhau để tạo nên “tiếng nói chung” trong thế giới ẩm thực đầy sắc màu. Vậy mà, khi thử kết hợp những gì độc đáo nhất của 2 “thái cực” ẩm thực này với nhau, các đầu bếp đã tạo nên những món ăn vô cùng hài hòa, vừa mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật, lại vẫn có nét truyền thống riêng mà vô cùng phóng khoáng.

    Ảnh nguồn Internet

    Sự kết hợp giao lưu văn hóa ẩm thực có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện hội nhập, kết nối giữa các quốc gia và khu vực; giúp quảng bá những nét đẹp truyền thống của quốc gia đó đến gần hơn với bạn bè quốc tế; mở rộng quan hệ, làm giàu thêm tình hữu nghị giữa các quốc gia.

    Ms. Smile

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Phân Biệt Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Văn Hóa Mỹ Và Việt – Những Điểm Khác Biệt Trong Giao Tiếp
  • Phương Tây Với Văn Hóa Việt Nam – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • Sự Khác Biệt: Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hoá Việt Nam Với Văn Hoá Nhật Bản
  • http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/11/111102_vietnamese_west_kimhuynh.shtml

    Hiện nay nhiều thanh niên Việt Nam muốn đi du học và sinh sống ở các nước Phương Tây, nhất là những nước nói Tiếng Anh như Úc, Mỹ, Anh và Canada.

    Nhưng ấn tượng của họ về xã hội và con người phương Tây nhiều khi sai lầm, hạn hẹp hoặc giản đơn. Một số người nghĩ Phương Tây giống như thiên đàng: một nơi mà mình chắc hẳn được giàu có, hạnh phúc và tự do.

    Một số khác thấy xã hội ở các nước Phương Tây nguy hiểm, xa lạ và không bao giờ hợp với cách sống của người Việt. Ai đúng hơn? Phương Tây sự thật như thế nào?

    Điểm riêng

    Trước hết, chúng ta không nên định kiến cho rằng Phương Tây là một. Mỗi xã hội và mỗi cá nhân đều có tính cách riêng biệt. Ví dụ, lịch sử nước Anh có lâu dài và trước đây là một đế quốc vinh quang, nhưng hiện nay đã suy tàn. Như vậy, người Anh có xu hướng nhìn về quá khứ.

    Họ hay kính trọng truyền thống, phong tục và giai cấp quý tộc. Sự hài hước của người Anh là nhăn nhó và mỉa mai, đôi khi khiến mình cười cợt và khóc lóc cùng lúc (bạn nên xem The Office, Extras, Psychoville và những phim của Christopher Morris).

    Còn người Mỹ hay nhìn về phía trước. Theo họ, Hoa Kỳ là miền đất hứa và là quốc gia quan trọng nhất đã chống chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản và cứu thế giới. Nhiều khi họ tin tưởng mình như Chúa cứu thế, một cách nghĩ được phản ánh trong văn hóa của họ.

    Biết bao nhiêu phim Mỹ nói về một người có xuất thân khiêm tốn nhưng đã trở thành vị cứu tinh của thế giới do vận số, đạo đức và sự can đảm (The Matrix, Transformers, Rocky, Shrek…).

    Còn nếu bạn muốn đi Úc, nên nhớ, ‘Australia rhymes with failure’ (trong tiếng Anh từ ‘Úc’ có vần với từ ‘thất bại’). Vì người da trắng đầu tiên định cư ở Úc là các tù nhân từ Anh, nên Châu Úc không phải là miền đất hứa mà là miền đất bị bỏ rơi. Đó là một lục địa vắng vẻ dưới cùng của quả địa cầu.

    Bởi vậy nhiều câu chuyện trọng đại của Úc ca tụng những con người và sự kiện thất bại một cách dũng cảm (ví dụ trận đánh và bộ phim Gallipoli và bài hát ca ngợi quốc gia không chính thức ‘Waltzing Matilda’).

    Người Úc hay chọc ghẹo nhau vì bản năng của họ là thích công bằng, không thích ai kiêu căng quá.

    Điểm chung

    Mặc dù có nhiều khác biệt, nhưng cũng có những đặc tính chung mà mỗi xã hội Phương Tây đều chia sẻ. Khi hiểu điều cơ bản này, chúng ta có thể bắt đầu hiểu sâu hơn về những đặc tính riêng biệt của mỗi người. Và có thể trong tương lai mình sẽ hiểu xã hội, văn hóa và chính trị của người Tây hơn họ hiểu chính họ.

    “Mặc dù có nhiều khác biệt, nhưng cũng có những đặc tính chung mà mỗi xã hội Phương Tây đều chia sẻ. Khi hiểu điều cơ bản này, chúng ta có thể bắt đầu hiểu sâu hơn về những đặc tính riêng biệt của mỗi người.”

    Một điểm quan trọng mà chúng ta phải biết về người Tây là họ thường thường tắm vào buổi sáng. Khi tôi là thanh niên, phát hiện ra điều này, tôi đã rất ngạc nghiên. Vì trong các gia đình nói chung ở Châu Á người ta có xu hướng tắm vào buổi chiều. Tôi đã không hiểu vì sao người Tây chịu đi ngủ sau khi làm việc suốt ngày, người đầy mồ hôi và có vẻ hơi dơ dáy.

    Giờ đây tôi hiểu việc tắm của Tây và Ta khác nhau vì lịch sử kinh tế của mỗi phương trời không giống nhau. Theo truyền thống, người Châu Á là nhà nông và hiện nay ở Việt Nam đa số còn theo chu kỳ sản xuất nông nghiệp: thức dậy sớm, ngủ trưa và khi làm đồng về tắm vào buổi chiều. Trái ngược lại, nhiều Người Tây cần tắm vào buổi sáng để giúp họ tỉnh táo và chuẩn bị quần áo công sở để đi làm.

    Xã hội của họ là hậu công nghiệp và chủ yếu là thành phần trung lưu. Ở Úc khoảng 20% dân số là giàu, 30% là nghèo và giai cấp trung lưu chiếm 50% (nghĩa là được học trường cao đẳng hay đại học và thường thường làm trong văn phòng). Những người này không cần tắm vào buổi tối vì họ ít ra mồ hôi ban ngày.

    Các nước Phương Tây trở nên giàu có ít nhất là từ sau Thế chiến Hai. Điều này không có nghĩa là người Tây tốt hơn người Việt. Cũng không có nghĩa là sống ở các nước Phương Tây sướng hơn sống ở Việt Nam. Chỉ có điều hoàn cảnh giàu có không chỉ ảnh hưởng việc tắm mà thôi, mà còn ảnh hưởng đến quan điểm và cơ cấu xã hội của người Tây.

    Nghịch lý

    Một điều mà có thể làm cho bạn ngạc nghiên là ở Phương Tây, người mập nhất nhiều khi lại là người thuộc giai cấp nghèo và là người lao động. Lý do là dù hầu hết mọi người có khả năng mua xe hơi và có đầy đủ đồ ăn, nhưng nhiều người không có đủ cơ hội để tập thể dục và không hiểu biết về ăn uống để tạo ra lối sống lành mạnh. Khi đến Phương Tây, bạn sẽ thấy ngay, không phải là tất cả người Tây trông đẹp đẽ và có vóc dáng mảnh khảnh như diễn viên trong Glee và Desperate Housewives.

    Hơn nữa, có một vấn đề rất lớn ở các nước nói tiếng Anh mà giàu có. Khi người ta lo về tiền bạc, vật chất quá mức, họ không thể lo về cuộc sống của cộng đồng xã hội. Francis Fukuyama, nhà trí thức gốc Châu Á nổi tiếng nhất tại Phương Tây, đã nhận xét: chủ nghĩa cá nhân làm cho nền văn minh Phương Tây trở nên sáng tạo và thịnh vượng, và đồng thời cũng làm mòn dần hầu hết những loại quyền uy trong xã hội. Không ai kính trọng ai. Vì vậy, hiện nay ở Phương Tây gia đình, hàng xóm và quốc gia trở nên yếu đi so với trước đây.

    Vào thập kỷ 1970 người Mỹ đi dã ngoại (picnic) trung bình mỗi năm năm lần (nghĩa là họ hay đi chơi ở ngoài trời và san sẻ đồ ăn mà mỗi người có). Vào cuối thế kỷ 20 người Mỹ trung bình chỉ đi picnic khoảng hai lần mỗi năm thôi. Đây là một trong nhiều chỉ số chứng tỏ các nước nói Tiếng Anh bị thiếu ‘vốn xã hội’.

    Trong trường hợp này người ta không có hy vọng và lòng tin vào cộng đồng. Hiển nhiên nhất đối với thanh niên: bệnh trầm cảm và việc tự tử trong giới thanh niên càng ngày càng cao hơn.

    Chắc nhiều người Việt cũng biết rằng việc phát triển nền kinh tế nhiều khi gắn liền với những vấn đề xã hội. Tôi có những người quen ở Việt Nam trước đây nghèo khó, nhà cửa dột nát và chật chội vì nhiều bà con và bạn bè đến ở. Vào thập kỷ 80 cả nhà phải góp tiền mua một máy truyền hình đen trắng. Nhưng nay gia đình họ cất nhà mới cao tầng, mỗi phòng ngủ đều có tivi LCD.

    Không có ai tranh cãi nữa vì không có ai tiếp xúc với nhau. Họ thoải mái hơn, nhưng không chắc đã hạnh phúc hơn. Phương Tây đã trải qua nhiều vấn đề như thế này rồi. Người Việt nên chú ý đến kinh nghiệm của người Tây để tránh những vấn đề mà họ đã gặp phải.

    Nhãn quan chính trị

    Hệ thống chính trị khác nhau cũng có thể khiến người Việt khó hiểu khi ở Phương Tây

    Vị trí trung tâm của giai cấp trung lưu và điều kiện sống thoải mái trong xã hội Phương Tây cũng định hình nhãn quan chính trị. Ở Việt Nam, chiếu theo lý thuyết Marx và tư tưởng Hồ Chí Minh, việc đấu tranh của phái tả là vì công lý cho giai cấp vô sản và nông dân. Ở Phương Tây, hai giai cấp này thường có điều kiện sống đầy đủ nên họ sẽ không tham gia đấu tranh.

    Thông thường, họ cảm thấy có lỗi với lịch sử thực dân của phương Tây và cách tiêu thụ quá mức mà đã đóng góp vào khủng hoảng biến đổi khí hậu. Vì vậy, nhiều người thanh niên phái tả bi quan về xã hội của họ và cảm thấy hơi tội lỗi và ngại ngùng về sự thịnh vượng. Những người này thèm muốn một đời sống đơn giản. Họ mặc quần áo cũ rích, hay ăn chay, đạp xe đạp và hay làm việc ở các tổ chức viện trợ. Gia đình họ nhiều khi giàu có nhưng lại phải giả bộ nghèo khó.

    Ngược lại, người theo phái hữu nhìn thấy bổn phận chính của họ là bảo vệ nền văn hóa và văn minh Phương Tây, chống lại người theo phái tả và những đe dọa khác. Bất chấp khủng hoảng tài chính toàn cầu, những người này kiêu hãnh vì sự giàu có và sự thành công của những nước tự do tư bản. Họ nghĩ từ khi Phương Tây chiến thắng Chiến Tranh Lạnh, nhất định không có tư tưởng nào tốt hơn và có thể đe dọa chủ nghĩa dân chủ tự do.

    “Dĩ nhiên, đa số người ở Phương Tây không hoàn toàn thuộc phái tả hay phái hữu và nhiều khi không theo phái nào. Tuy nhiên, khi bạn hiểu những điểm này, bạn sẽ bắt đầu hiểu thêm những lực lượng và vấn đề ảnh hưởng tới mỗi người.”

    Họ nhìn lại 30 năm và cho rằng sự phát triển ở các nước Châu Á có được là nhờ quyết định giống Tây phương hơn, như mở rộng thị trường và đôi khi kể cả hệ thống chính trị và xã hội.

    Về văn hóa, quan điểm và sự hy vọng, người phái hữu nhận xét thanh niên ở nhiều nước – bao gồm Việt Nam và cả nước Trung Đông đang cách mạng – càng ngày càng Tây hóa.

    Họ muốn mặc quần áo Tây, dùng kỹ thuật Tây, tiêu thụ sản phẩm Tây và đoạn tuyệt với những sự bắt ép của xã hội cũ. Trong sự biển đổi đồ sộ này, không có ai bị bắt buộc và không dân tộc nào bị chiếm làm thuộc địa. Nghĩa là văn minh và văn hóa Phương Tây đang có duyên rõ rệt với mỗi người. Bởi vậy, theo phái hữu, người Tây nên bảo vệ và phổ biến tư tưởng của họ để có lợi cho lối sống khắp mọi nơi.

    Người thanh niên phái hữu nhiều khi cũng lo về vấn đề đề cao cá nhân, giữ gìn môi trường và bảo vệ quyền cho những người bị đè nén bóc lột. Nhưng họ khác phái tả vì họ tin tưởng vào cách giải quyết những vấn đề này được phát hiện trong sáng kiến, tự tin và sự phát đạt Tây Phương.

    Theo họ, người Mỹ, Anh và Úc nên tự tin và tích cực hơn trên trường quốc tế, không được quỵ lụy theo các tư tưởng, văn hóa khác hay cũng trở nên bất an như người phái tả.

    Dĩ nhiên, đa số người ở Phương Tây không hoàn toàn thuộc phái tả hay phái hữu và nhiều khi không theo phái nào. Tuy nhiên, khi bạn hiểu những điểm này, bạn sẽ bắt đầu hiểu thêm những lực lượng và vấn đề ảnh hưởng tới mỗi người. Sự hiểu biết này có lẽ làm cho bạn bớt bị ‘sốc văn hóa’ và mở rộng suy nghĩ về những câu hỏi rất quan trọng như, “Tôi sẽ thích ở Phương Tây không? Phương Tây sẽ thay đổi tôi như thế nào? Và tôi sẽ tắm vào buổi sáng hay buổi chiều?”

    Tiến sĩ Kim Huỳnh là giảng viên tại Đại Học Quốc Gia Úc, đã đăng tiểu sử về gia đình mình trong cuốn Where the Sea Takes Us: A Vietnamese-Australian Story (HarperCollins 2008) và là một trong hai chủ bút của cuốn sách The Culture Wars: Australian and American Politics in the 21st Century (Palgrave MacMillan 2009). Bản gốc tiếng Việt được bà Hà Thị Thu Hương từ Trung tâm Integrated Culture and Language Studies (ICLS) chỉnh sửa đôi chút và BBC biên tập lại.

     

     

     

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/11/111111_kimhuynh_west_asia.shtml

     

    Phương Tây nhìn người Châu Á thế nào?

    Trong bài Bấm tiểu luận trước, tôi đã đề cập đến những vấn đề, góc nhìn và sự phát triển gần đây mà người Việt cần biết trước khi họ mạo hiểm sang Phương Tây.

    Tuy nhiên, tôi đã sao nhãng một câu hỏi rất quan trọng: “Nói chung, người Tây nhìn và đối xử với người Việt và người Châu Á như thế nào?”

    Tin mừng là người Tây nói chung nhìn người Châu Á cũng giống như mọi người khác. Vì đạo đức tự do được phổ biến và cá nhân được đề cao, nhiều nước Phương Tây tin tưởng rằng mọi người nên được đối đãi bình đẳng và công bằng. Có pháp luật ở mỗi nước khuyến khích và bảo vệ lý tưởng này, tức là trong việc làm và cả trong đời sống công cộng, không phân biệt nam hay nữ, gia đình, giới tính, tôn giáo, dân tộc hoặc là chủng tộc. Quan trọng nữa là những đạo luật này phản ánh sự cởi mở và quyết tâm có công bằng xã hội mà đã giúp cho phương Tây thành công và đáng được đến thăm hay định cư.

    Nhưng dĩ nhiên, xã hội phương Tây, như bất cứ xã hội nào, không phải lúc nào cũng sống đúng theo lý tưởng của mình. Mặc dù những vụ phân biệt chính thức hay quá khích ít xảy ra, nhưng sự phân biệt thực sự vẫn còn. Theo kinh nghiệm của tôi sau khi ở Úc hơn 30 năm, rất hiếm khi xảy ra các vụ tấn công bạo lực do kỳ thị chủng tộc. Vì vậy, mỗi người đi nước ngoài, dù phải lo về an toàn cá nhân, nhưng không phải vì thế mà ngần ngại làm chuyến “Tây du ký”.

    Tệ phân biệt mà người Châu Á nên chú ý hơn là sự phân biệt “tinh tế hơn”, hiện hữu trong những cửa hàng và quán ăn nơi mà người bán hàng và hầu bàn có vẻ đối xứ với mình cộc lốc và uể oải hơn những khách không phải là người Châu Á. Đôi khi chúng ta bị bắt gặp đang nói chuyện to bằng tiếng Việt và người qua đường nhìn chúng ta với thái độ khinh miệt. Và chúng ta có thể nhận ra khi người khác cười khẩy vì những điều bình thường đại loại như râu tóc, ngón tay nhỏ dài, một món ăn không quen hay cách ta đậu xe hơi.

    Hình mẫu rập khuôn

    “Người Châu Á ở các nước phương Tây nhiều khi bị coi như hoàn toàn khác biệt với người Tây và đồng thời hoàn toàn đồng nhất đối với tất cả người Châu Á khác. Tóc “ta” luôn luôn đen và thẳng, mắt luôn luôn nghiêng, làm việc luôn luôn vất vả, học toán luôn luôn giỏi và luôn luôn có hiếu. Đương nhiên, ấn tượng bất di bất dịch này không phải là vấn đề xấu thực chất; vấn đề ở đây là vấn đề rập khuôn.”

    Ở nhiều nước phương Tây người Châu Á được xem như di dân thành công và hòa nhập tốt với cộng đồng mới. Vì vậy, sự phân biệt không phải là thách thức hay bất công to lớn nhất. Thay vào đó, nhà trí thức Úc, Waleed Aly, đã nói rất đúng khi miêu tả rằng ở Úc (và có lẽ ở nhiều nước khác), “có mức độ cao của sự phân biệt chủng tộc mức thấp”. Có nghĩa là người Châu Á bị ép buộc một cách vô hình sống theo sự mong chờ của người phương Tây và bị phê bình hay nhạo báng khi họ không tuân theo.

    Người Châu Á ở các nước phương Tây nhiều khi bị coi như hoàn toàn khác biệt với người Tây và đồng thời hoàn toàn đồng nhất đối với tất cả người Châu Á khác. Tóc “ta” luôn luôn đen và thẳng, mắt luôn luôn nghiêng, làm việc luôn luôn vất vả, học toán luôn luôn giỏi và luôn luôn có hiếu. Đương nhiên, ấn tượng bất di bất dịch này không phải là vấn đề xấu thực chất; vấn đề ở đây là vấn đề rập khuôn.

    Quan hệ tình yêu

    Có nhiều điều đáng kính trọng về mối quan hệ giữa người châu Á và người phương Tây. Quan hệ này có thể là cầu nối ở giữa hai xã hội khác nhau.

    Cơ bản là, và chắc chắn là việc này không làm ai ngạc nhiên, phụ nữ Châu Á hấp dẫn với nam giới Tây hơn nam giới Châu Á hấp dẫn với phụ nữ Tây. Theo số liệu điều tra dân số ở Mỹ, khả năng phụ nữ Mỹ gốc Châu Á kết hôn với người ngoài chủng tộc cao gấp đôi nam giới Mỹ gốc Châu Á lấy vợ ngoài chủng tộc.

    Một lý do giải thích sự chênh lệch này là hình tượng của phụ nữ Châu Á ở phương Tây là thanh lịch, quyến rũ và đẹp kỳ lạ. Một bằng chứng hiển nhiên là trong những phim nổi tiếng như Rambo: First Blood Part II, Good Morning Vietnam, Đông Dương và Người Mỹ Thầm Lặng (cả hai bản làm 1958 và 2002), các diễn viên nữ Việt Nam chính trong phim này rất xinh, nhưng cũng thần bí và có nhiều trắc trở trong đời sống.

    Các học giả về giới và Châu Á học khẳng định rằng việc Tây Phương ham thích phụ nữ Châu Á gắn liền với cái nhìn cho rằng họ mềm mỏng và dễ phục tùng. Vì vậy, việc đàn ông Tây theo đuổi đàn bà Châu Á gắn với mộng tưởng cứu giúp, thuần hoá và truyền bá văn minh cho xã hội Châu Á. Ngoài ra, mẫu đàn bà hiền lành và nghiêm trang dễ thu hút những đàn ông Tây có quan niệm truyền thống – họ ngờ vực ảnh hưởng của chủ nghĩa nữ quyền lên sắc đẹp và vai trò về giới.

    Cần nói rõ là tôi không có ý cho rằng mọi đàn ông Tây quan hệ với phụ nữ Châu Á đều có mộng tưởng thuộc địa hoặc luyến tiếc quá khứ. Tôi chỉ muốn nói là hai sự thôi thúc này đã đóng góp đưa tới hình tượng thống trị của phụ nữ Châu Á ở Phương Tây và có thể giúp giải thích tại sao quan hệ giữa “nữ Ta” và “nam Tây” phổ biến hơn quan hệ giữa “nữ Tây” và “nam Ta”.

    Đàn ông Á Châu tương đối không hấp dẫn ở phương Tây nói chung vì bị xem là quá yểu điệu về cơ thể và quá gia trưởng về xã hội. Trong văn hóa phương Tây, tính điển hình của đàn ông Châu Á là đầy sát khí và thủ đoạn (nổi tiếng nhất là Hoàng Đế Nhà Minh tàn ác trong Flash Gordon). Những đàn ông Châu Á đáng yêu thường là hơi lập dị và tức cười (Jackie Chan, Pat Morita hay John Cho). Trong cả hai trường hợp (kẻ hung ác và bạn tri kỷ), nhân vật Châu Á không bao giờ bằng được anh hùng Phương Tây rắn chắc và tự tin, và ít khi giành được người đẹp.

    Trong khi đàn bà Châu Á có thể đáp ứng quan niệm truyền thống của Tây Phương về phụ nữ, đàn ông Châu Á trở nên kém hấp dẫn hơn khi được so với quan niệm truyền thống ở Tây Phương về nam giới. Người đàn ông Phương Tây lý tưởng là vạm vỡ và quả quyết, còn người đàn ông Châu Á lý tưởng là khéo léo và kín đáo.

    Quan niệm của Phương Tây về đàn ông Châu Á có thể thay đổi trong tương lai, nhất là nếu thế kỷ này tiến triển thành “Thế kỷ của Châu Á”. Tuy thế, cũng giống như không có môn thể thao hay trò chơi nào lại cao cấp hơn môn thể thao hay trò chơi khác, có lẽ nam giới Châu Á thực ra không khá hơn hay kém hơn đàn ông phương Tây, tối thiểu là về mỹ học? Có lý do nào trong thế kỷ 21 để ta tin rằng to lớn hơn thì luôn luôn tốt hơn?

    Như vậy, quan trọng hơn là ta đối đầu với định kiến rằng đàn ông Châu Á không hấp dẫn vì nó không sáng tỏ và có tính chất sô vanh. Chúng ta cũng nên nghi ngờ tư tưởng Nho giáo đặt đàn ông vào vị trí cao nhất trong gia đình và cộng đồng. Những hệ thống cấp bậc gia trưởng đã lỗi thời và bất công, không chỉ làm phụ nữ Tây phát chán, mà phụ nữ Châu Á cũng thấy thế khi họ “đoạn tuyệt” với những truyền thống và đạo đức đã bắt họ ở nhà và sống dưới quyền hành của đàn ông.

    Trong Tạp chí Châu Á và Hoa Kỳ Học nhà nghiên cứu Kumiko Nemoto đã phỏng vấn vài chục phụ nữ Hoa Kỳ gốc Châu Á, những người đã từng hẹn hò hay lấy chồng da trắng. Tất cả những phụ nữ này thể hiện sự buồn giận với đàn ông Châu Á vì họ nhìn thấy sự lạc hậu, thiếu thông cảm và hờ hững. Theo một người được phỏng vấn, đàn ông Châu Á, “không phải là người hào hoa phong nhã…Họ không trìu mến…Tôi nghĩ cá tính của tôi không phù hợp với nhiều đàn ông Châu Á vì tôi quá tự lập.…tôi có tinh thần hướng ngoại quá cao.”

    Tôi đã từng nghe những người phụ nữ Việt Nam ở những độ tuổi khác nhau và ở những nơi khác nhau thể hiện sự buồn giận tương tự về đàn ông Việt. Mới đây, khi tôi ráng “làm mối” một người bạn nam cho một người nữ, tôi nhấn mạnh anh này chu đáo và hiện đại, anh ấy trưởng thành trong hoàn cảnh khó khăn nên biết lo cho mình và chăm sóc cho người khác, anh ấy nấu ăn ngon lành và lau nhà sạch sẽ.

    “Các học giả về giới và Châu Á học khẳng định rằng việc Tây Phương ham thích phụ nữ Châu Á gắn liền với cái nhìn cho rằng họ mềm mỏng và dễ phục tùng. Vì vậy, việc đàn ông Tây theo đuổi đàn bà Châu Á gắn với mộng tưởng cứu giúp, thuần hoá và truyền bá văn minh cho xã hội Châu Á. Ngoài ra, mẫu đàn bà hiền lành và nghiêm trang dễ thu hút những đàn ông Tây có quan niệm truyền thống – họ ngờ vực ảnh hưởng của chủ nghĩa nữ quyền lên sắc đẹp và vai trò về giới.”

    Chị ấy trả lời, “Tất cả điều đó sẽ thay đổi khi anh ấy có vợ.” Câu này làm cho tôi phải cân nhắc rằng đàn ông Châu Á nên suy nghĩ lại thái độ của mình đối với tình bạn và tình yêu, công việc trong nhà và công việc nuôi con nếu muốn tránh cảnh cô đơn suốt đời.

    Cái trần bằng tre

    Tác giả Mỹ gốc Hàn Quốc, Wesley Yang, mới viết bài tranh luận trong New York Magazine khẳng định nhiều phòng làm việc ở Mỹ đã xuất hiện cái “trần bằng tre” có khả năng trấn áp một cách kín đáo người Châu Á không cho họ vươn lên. Ông Yang xác nhận trong những nghề làm ăn qua nhiều thập kỷ, người gốc Châu Á đã chiếm ưu thế như kinh doanh, luật, y khoa và công nghệ thông tin. Nhưng hiện nay có rất ít người Châu Á giành được vị trí quản lý và giám đốc.

    Ông Yang tố cáo cái “thành kiến vô thức” này, nhưng lại phê bình nặng nề hơn những người Châu Á làm cho thành kiến kéo dài. Đặc biệt, sự bất tài của người Đông Á trong thể hiện tình cảm, sáng kiến và ý chí của họ, có nghĩa là có định kiến nhìn người Châu Á như người máy hơn là con người.

    Nói cách khác, người Châu Á ở Phương Tây được đánh giá như xe máy Honda chắc chắn và bền, nhưng còn thiếu điểm đặc trưng hiện đại và mốt của xe máy Vespa và thua xa xe hơi BMW mạnh mẽ và sang trọng. Nghĩa là ở phương Tây nhân viên Châu Á được đánh giá xuất sắc, miễn là họ cúi đầu làm việc chăm chỉ và không đòi hỏi nhiều quá.

    Tôi cũng thích sự hăng hái của ông Yang, nhưng tự hỏi liệu có phải ông Yang chống đối đạo đức Châu Á chỉ để phục tùng lý tưởng Mỹ về công việc và sự lãnh đạo. Hình như ông Yang đang kêu inh ỏi, “Chúng ta người Châu Á cũng trở thành phương Tây được!”

    Điều này đưa ra một câu hỏi, “Người Châu Á có thể đạt được thành công và đóng góp cho phương Tây trong lúc còn trung thành với Châu Á không?” Tôi hy vọng câu trả lời là “Có thể”.

    Châu Á hơn nữa

    Tôi thường nghe nói những loại suy nghĩ và học hành kiểu Châu Á (cụ thể ở Việt Nam) là quá bị động, nên phải cải tạo cho năng động và sáng tạo hơn. Có thể ý kiến này đúng, tuy nhiên có mâu thuẫn trong việc đấu tranh để cho năng động và sáng tạo hơn nhưng rốt cuộc chỉ thành ra “như phương Tây thôi”.

    Cuốn sách gây tranh cãi và bán chạy như tôm tươi của bà Amy Chua, Khúc chiến ca của Hổ mẹ, thăm dò những sự khác biệt rõ ràng trong phương pháp nuôi con của người Trung Quốc và người Tây. Bà Chua mô tả những chuyện kinh khiếp và hài hước khi nuôi hai đứa con gái: bắt chúng thi điểm cao nhất, từ chối niềm vui phù phiếm và bắt buộc học bài và tập chơi nhạc vài tiếng mỗi ngày.

    “Người thanh niên Việt Nam chuyển đến phương Tây không cần sợ bị ô nhiễm văn hóa xa lạ làm cho mình mất thiêng. Chúng ta tồn tại ở giữa phương Đông, phương Tây và những nơi khác, và đồng thời vẫn là người Việt đầy kiêu hãnh.”

    Bà Chua nói học gạo “bị đánh giá thấp ở Hoa Kỳ”, trong khi bà cho rằng học gạo giúp làm tăng tiến trí óc, dũng cảm chịu đựng và cho ta cảm giác mình đạt thành tích nhờ gắng sức. Sau khi con mình trở nên xuất sắc – trong trường học, khi chơi piano, bơi lội – con mình sẽ thấy hoạt động ấy vui hơn và giá trị hơn (ý niệm này cũng được thể hiện rõ trong loạt phim TheKarate Kid và Kung Fu Panda). Bà mẹ hổ cho rằng: hổ con kiên tâm chứ không yếu đuối, bà mẹ luôn chuẩn bị chúng cho tương lai và chứng minh tình yêu của mẹ hổ qua hy sinh lớn lao.

    Khi làm việc với vài trăm sinh viên Tây mỗi năm, tôi thấy là họ cũng nên mang tính Châu Á hơn một chút. Nhiều khi họ bỏ quên hai bổn phận chính của sinh viên: im lặng và nghe lời. Sinh viên Tây thường nghĩ họ có lợi khi tweet, blog, SMS, hơn là cần phải học từ thầy cô giáo hoặc trong sách vở. Đôi khi vì họ rất bận “multi-tasking” (làm nhiều công việc trong một lúc), họ không thu được kết quả gì. Đương nhiên, hiện nay nhiều sinh viên Châu Á cũng thiếu tập trung và thiếu sự rèn luyện trí óc; những người này cũng nên mang tính Châu Á hơn.

    Để hiểu người Tây thấy người Ta như thế nào, bạn nên biết là mỗi bên không phải là hoàn hảo và mỗi bên đều có những điểm và tính cách có thể giúp bên kia. Dĩ nhiên người Việt đã biết điều này từ lâu. Trong lịch sử lâu dài, người Việt nhiều lần phải vay mượn, thích nghi, và pha trộn ảnh hưởng từ nước ngoài, những ảnh hưởng mà sau một thời gian người Việt xem chúng là “của mình”.

    “Không có văn hóa tinh khiết,” là lời nhắc của nhà nghiên cứu Hữu Ngọc. “Tất cả là sự pha trộn.” Quan niệm này được chứng minh trong thần thoại nguồn gốc dân tộc (“con Rồng cháu Tiên”), ngôn ngữ (quốc ngữ), tôn giáo (tam giáo), thời trang (áo dài) và thức ăn (phở). Vì vậy, nếu quá khứ là hướng dẫn cho hiện tại, thì người thanh niên Việt Nam chuyển đến phương Tây không cần sợ bị ô nhiễm văn hóa xa lạ làm cho mình mất thiêng. Chúng ta tồn tại ở giữa phương Đông, phương Tây và những nơi khác, và đồng thời vẫn là người Việt đầy kiêu hãnh.

    Tiến sĩ Kim Huỳnh là giảng viên tại Đại Học Quốc Gia Úc, đã đăng tiểu sử về gia đình mình trong cuốn Where the Sea Takes Us: A Vietnamese-Australian Story (HarperCollins 2008) và là một trong hai chủ bút của cuốn sách The Culture Wars: Australian and American Politics in the 21st Century (Palgrave MacMillan 2009). Bản gốc tiếng Việt được bà Hà Thị Thu Hương từ Trung tâm Integrated Culture and Language Studies (ICLS) chỉnh sửa đôi chút và BBC biên tập lại.

     

     

    Kim Huỳnh và Trần Hoàng Tuấn

    Gửi cho chúng tôi từ Canberra và Hà Nội

    Stan sống ở tầng trên cùng trong khu căn hộ của tôi ở Việt Nam và anh được coi là một người thành đạt. Trông anh cao ráo và ưa nhìn. Anh đã sống ở nhiều nước và là một bác sĩ kiêm nhà quản lý được đánh giá cao. Stan không đến Việt Nam để kiếm tiền mà để giúp người Việt, vì thế anh kỳ vọng rất nhiều.

    Mặc dù công việc của Stan thành công mỹ mãn nhưng anh vẫn thường nản lòng khi về đến căn hộ của mình. Mùi hôi thối tỏa ra từ ống dẫn trong nhà tắm, điều hòa nhiệt độ thường xuyên hỏng và hơn nữa là anh không bao giờ bắt được kênh BBC World trên TV.

    Hầu hết những người sống cùng khu này đều gặp phải vấn đề tương tự, nhưng mà từ lâu mọi người đã từ bỏ ý định thay đổi gì đó. Chúng tôi chấp nhận những mùi mẽ ấy, thời tiết nóng điên người và mọi thứ không được sửa sang.

    Nhưng Stan thì khác: anh ấy nghĩ rằng đó là vấn đề nguyên tắc. Anh trả tiền thuê nhà theo giá quốc tế với suy nghĩ rằng sẽ nhận được dịch vụ và chất lượng theo chuẩn quốc tế. Hơn nữa, Stan cũng tin rằng bằng việc giữ tiêu chuẩn của mình, anh cũng đang giúp Việt Nam. Làm sao mà người Việt có thể đạt được chuẩn quốc tế ở bất kì lĩnh vực nào đó nếu ai cũng từ bỏ kỳ vọng của chính mình?

    Đôi lúc Stan đúng. Sau khi khăng khăng là mùi trong nhà tắm không thể chấp nhận được, người ta đã cử một nhóm thợ ống nước đến và rồi vấn đề cũng được giải quyết theo hướng có lợi cho tất cả mọi người.

    Nhưng đôi khi tính cố chấp của anh chỉ khiến anh thêm thất vọng. Đơn giản là anh không thể có một chiếc điều hòa nhiệt độ mới trong khi cái anh đang dùng có thể được sửa lại. Tín hiệu BBC ở phòng anh chập chờn là vì đường dây cáp loằng ngoằng dẫn lên tầng áp mái nơi anh ở. Vì chuyện nọ chuyện kia cùng những vấn đề cố hữu ở đây mà mối quan hệ giữa Stan và quản lý khu nhà ngày càng căng thẳng và xấu đi trông thấy.

    Nhưng Stan cũng xây dựng được một số mối quan hệ thân tình với những người làm trong khu nhà, như chàng trai tên Sơn trẻ trung nhanh nhẹn.

    Stan hướng dẫn Sơn cách ngồi thẳng lưng trên ghế khi sử dụng máy vi tính, anh bảo Sơn rằng chiếc mũ bảo hiểm nhãn Manchester United của cậu chẳng có công dụng bảo vệ gì hết, không khác gì cái hộp nhựa. Và nhất là Stan còn giật thuốc lá ra khỏi miệng Sơn và ném đi khi anh bắt gặp Sơn hút thuốc.

    Gần đây, tôi có cơ hội hỏi Sơn về cảm giác của cậu về cách mà Stan đối xử với cậu. Tôi bảo: “Anh ta hành xử như thể cậu là một đứa trẻ không thể tự đưa ra quyết định được vậy.”

    Sơn đưa ra phản ứng của mình. “Cả lời nói và cách ứng xử của Stan đều đúng. Tư thế của tôi sai nên lưng tôi bị đau, tôi thực sự nên mang một chiếc mũ bảo hiểm tốt hơn và lái xe cẩn thận hơn, và ai cũng biết là hút thuốc lá có hại cho sức khỏe nữa. Nhưng đôi lúc tôi không thể tự nhắc mình những điều ấy.”

    Mối quan hệ của Sơn và Stan cho thấy vẫn còn một hố sâu ngăn cách giữa Việt Nam và phương Tây.

    Văn minh Phương Tây và Phương Đông

    Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc xem xét nền văn minh và sự văn minh nghĩa là thế nào. Văn hóa và văn minh có mối liên hệ rất gần gũi. Tuy nhiên, nếu như văn hóa được xem là nhân dạn và tính cách của một xã hội thì văn minh có thể được coi là dân trí và đạo đức của xã hội ấy.

    Ở phương Tây, văn minh đồng nghĩa với hiện đại hóa cho nên trở nên văn minh là tiến từ đói khổ lên giàu có, từ tĩnh thành động, từ định hướng nhóm sang định hướng cá nhân, từ bó buộc trong phạm vi địa phương sang những biên giới phổ quát hơn. Quan niệm của phương Tây về văn minh vì thế tập trung vào sự tiến lên và nhu cầu bỏ lại đằng sau những tập tục cũ, cách nghĩ cũ và giá trị cũ.

    Người Việt và nói chung người Đông Á hiểu về văn minh khác, nhấn mạnh đến mở rộng thay vì tiến lên. Trong khi cá nhân ở phương Tây tìm kiếm sự độc lập thì cá nhân ở phương Đông lại tìm kiếm sự hòa nhập. Theo Khổng Tử việc phát triển bản ngã (tu thân) là cái điều kiện tiên quyết để điều hành gia đình (tề gia), và gia đình làm nền tảng cho việc trị quốc và bình thiên hạ. Theo mô hình này, việc mở rộng dần dần cho phép duy trì tính liên kết xã hội trong khi có biến.

    Gia trưởng

    Quan điểm của Stan

    Theo tôi, đầu tiên là phụ nữ Việt cần được giải phóng khỏi những áp bức ở nhà và cả ngoài xã hội.

    “Theo tôi, đầu tiên là phụ nữ Việt cần được giải phóng khỏi những áp bức ở nhà và cả ngoài xã hội.”

    Niềm tin cho rằng chỉ đàn ông mới có thể nối dõi tông đường khiến người phụ nữ Việt bị phân biệt đối xử ngay từ trước khi lọt lòng mẹ. Đây không chỉ là tàn tích từ thời phong kiến Nho giáo của Việt Nam. Có thể thấy rõ điều này qua tỉ lệ trẻ sơ sinh nam nữ chênh lệch hiện nay, và nhà nước đã phải cấm bác sĩ tiết lộ giới tính thai nhi cho các cặp vợ chồng có thai.

    Người vợ hầu như bị phụ thuộc toàn bộ vào chồng. Tôi gần như không bao giờ thấy đàn ông làm việc nhà và thường là ít hoặc không chịu trách nhiệm nuôi dưỡng con cái.

    Ngoài xã hội, tôi thấy phụ nữ phải quét tước, mang vác và bán hàng, làm bất cứ việc gì để trợ giúp gia đình; trong khi đàn ông ngồi hàng giờ uống bia, chè và cà phê, nói chuyện bóng đá, chơi bài hay chơi cờ. Những người phụ nữ học vấn cao mà tôi biết cũng không khá khẩm hơn, họ cũng phải đối mặt với áp lực và thách thức trong công việc chuyên môn rồi về nhà vẫn phải hoàn thành tất cả những nghĩa vụ truyền thống trong gia đình.

    Vì thế, tôi cho rằng không gì khiến xã hội Việt văn minh hơn là dành tự do và công bằng hơn nữa cho phụ nữ Việt.

    Quan điểm của Sơn

    “Chỉ đơn giản là vì phụ nữ Việt không giống phụ nữ phương Tây không có nghĩa là họ bị áp bức.”

    Sơn

    Chỉ đơn giản là vì phụ nữ Việt không giống phụ nữ phương Tây không có nghĩa là họ bị áp bức. Ở Việt Nam phụ nữ cũng được tôn vinh như anh hùng (Hai Bà Trưng và Bà Triệu), nhà thơ (Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan) và những vị thần thánh (thánh mẫu). Việt Nam có Hội Phụ nữ hoạt động mạnh và rộng khắp, đồng thời là nước có tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội lớn hơn cả Anh và Mỹ.

    Không phải cái gì thuộc về gia trưởng cũng xấu và cần loại bỏ ngay lập tức. Người đàn ông và đàn bà Việt có những vai trò khác nhau bởi vì về cơ bản họ có những mong muốn, phẩm chất, và tính khí khác nhau.

    Sự khác biệt này không hẳn là đồng nghĩa với sự nô dịch; mà hơn hết, sự tổng hòa đàn bà và đàn ông, âm và dương, là nền tảng để xây dựng cộng đồng hòa hợp.

    Vì thế trước khi phá bỏ hoàn toàn cấu trúc gia đình phụ hệ là nền tảng cho văn hóa Việt bao thế kỉ nay thì chúng ta cần xem xét thận trọng xem hành động đó có ý nghĩa như thế nào đối với các giá trị gia đình vốn tồn tại làm nền tảng cho xã hội Việt Nam.

    Ăn thịt chó

    Quan điểm của Stan

    Người văn minh không ăn thịt chó vì chúng gần gũi với con người. Chó là “người bạn thân cận nhất của con người.” Nhiều người trong chúng ta lớn lên cùng với loài vật này và xem chúng như là anh chị em. Khi chúng ta lập gia đình, chúng ta thường nuôi chó như “những đứa trẻ có lông” của chúng ta.

    Là động vật có vú ăn thịt, chó là loài rất gần gũi với con người. Thịt của chúng “ô uế” vì rằng chúng ăn thịt của các loại động vật khác. Ngoài ra, (đây không phải là điều tôi muốn nghĩ đến!), thịt chó thật kinh tởm vì chúng ăn cả phân.

     

    Ở Hàn Quốc người ta vẫn đôi khi đánh chó để giết thịt, nhưng làm thế để làm tăng mùi vị của thịt là rất tàn bạo và cần dừng lại ngay, trong trường hợp không thể cấm việc tiêu thụ thịt chó.

    Quan điểm của Sơn

    Việc nuôi chó làm thú cảnh không phải truyền thống ở Việt Nam nên người ta cũng chỉ coi chúng như lợn mà thôi, thứ thực phẩm mà người phương Tây tiêu thụ với một ý thức rõ ràng. Mà trên thực tế lợn còn gần gũi với con người hơn chó về nhiều mặt vì lợn đặc biệt thông minh, và tình cảm nữa và các bộ phận của lợn thậm chí còn được dùng để cấy ghép cho người.

    Đánh chó trước khi đem giết thịt là vô nhân đạo. Nhưng mà người phương Tây nhốt những con vật ấy cả đời trong những cũi bé tí trong những trại tập trung thì cũng vô nhân đạo chẳng kém.

    Tất nhiên với nhiều người, ăn chay là cách ăn duy nhất lành mạnh và có đạo đức. Đứng từ góc độ đó thì người dân Việt không hẳn là chay tịnh, nhưng vẫn còn tiêu thụ ít thịt và có nhiều tín đồ Phật giáo ăn chay hơn bất cứ nước phương Tây nào.

    Karaoke

    Quan điểm của Stan

    Ở Việt Nam, tôi không sợ gì bằng đi công cán hay dự hội nghị và được mời – hay đúng hơn là bị “ép” – hát karaoke. Điều đó thậm chí còn tồi tệ hơn cả việc xung quanh đầy rẫy những vodka, cognac và gái gọi.

    Như thế không phải là tôi không thích nhạc, ngược lại là đằng khác. Vấn đề là ở chỗ karaoke không thực sự là nhạc, kể cả khi hát đúng chăng nữa. Nó giống như ảnh cưới của nhiều người Việt , sắp đặt và chỉnh sửa quá nhiều, không thật, lòe loẹt, khoa trương và ngớ ngẩn.

    Khái niệm kitsch (tạm dịch là lòe loẹt, giả tạo) có vẻ tương đối lạ lẫm đối với người Việt, nhưng lại rất phổ biến ở phương Tây. Hát karaoke có thể được coi là một biểu hiện của khoe mẽ bởi lẽ đó là hành động giả làm ngôi sao chứ không phải là phát triển kĩ năng và tính sáng tạo cần thiết để trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp.

    Nó thổi phồng cái tôi của những kẻ nghiệp dư trong khi tôn vinh cái ăn theo. Nên khi tôi hát hay nghe hát karaoke, tôi thấy nó đúng là kiểu giả tạo và khoe mẽ, thế nên tôi chẳng thích karaoke tí nào cả.

    Quan điểm của Sơn

    Tiếng Việt với những dấu lên xuống dập dờn rất giàu tính nhạc. Tất cả mọi thứ từ lời chào, đến thơ phú hay thậm chí cả những câu chửi cũng được cất lên như những bài ca khi chúng thoát ra khỏi miệng người nói. Chúng tôi không thấy việc đó có gì sai trái mà trái lại nhà cửa và đường phố tràn ngập lời ca tiếng hát lại rất hay. Ở Việt Nam hát là cách biểu hiện đầy đủ và chân thật những gì trong trái tim và khối óc; karaoke không gì khác là một sự biểu hiện ở mức cao hơn quá trình đó.

    Tôi cũng không thích việc có đầy rẫy gái gọi và những cách hành xử thô lỗ ở các quán karaoke, nhưng tôi cũng biết là ở phương Tây cũng chẳng thiếu nạn mại dâm, kích dục và bất lịch sự. Trước tiên người Tây nên tập trung vào việc là hình mẫu cho chính xã hội của mình trước khi áp đặt đánh giá lên người khác.

    Vậy nên nếu người Tây cho rằng ai đó hát hết sức bình sinh ở chốn công cộng là điên rồ thì chính họ mới là có vấn đề. Nếu người Tây không thể thưởng thức karaoke mà không hề nghi ngại thì đó chính là vấn đề của họ. Và nếu người Tây không biết hát thì đó cũng lại là vấn đề của họ.

    Giao thông hỗn loạn

    Quan điểm của Stan

    “Nếu nhìn lướt qua giao thông ở Hà Nội hay Sài Gòn thì thấy người Việt đang ngày một kém văn minh.”

    Stan

    Nếu nhìn lướt qua giao thông ở Hà Nội hay Sài Gòn thì thấy người Việt đang ngày một kém văn minh. Đường thì càng ngày càng tắc, người đi đường tranh giành nhau từng tấc đường một, họ leo lên cả vỉa hè, đi sai đường, không chú ý đèn đỏ, và chẳng để ý gì đến lối đi cho người đi bộ hay cả người đi bộ. Buổi tối thì càng kinh khủng hơn khi có người say rượu lái xe và những tay hooligan trẻ măng lao ra đường hàng loạt.

    Tình trạng thiếu văn hóa giao thông cho thấy Việt Nam ngày càng thịnh vượng không đi cùng với văn minh được nâng lên hay dân trí tăng.

    Quan điểm của Sơn

    An toàn giao thông là vấn đề lớn với tất cả người Việt. Tuy nhiên, thủ phạm là thiếu vốn và kế hoạch đầu tư thiếu sát thực và tầm nhìn chứ không phải do dân trí.

    Mặc dù lộn xộn nhưng giao thông Việt Nam cũng có những điểm kì diệu khiến việc lái xe không đến nỗi kinh khủng lắm. Đôi khi tôi rất ngạc nhiên khi thấy dòng xe cộ lưu thông được (nếu nhìn vào áp lực lên những con đường và cơ sở hạ tầng). Nhưng mọi thứ vẫn đang diễn ra, đôi lúc còn tốt là đằng khác. Nó giống như thể mỗi một người lái xe là một con cá bơi trong một đàn lớn, một thành viên trong dàn nhạc giao hưởng hỗn loạn. Nếu bạn đào sâu hơn thì có thể thấy là giao thông chỉ là một dấu hiệu của dân trí và sự hòa hợp trong xã hội Việt Nam vì đó là lạc hậu và lộn xộn.

    “An toàn giao thông là vấn đề lớn với tất cả người Việt. Tuy nhiên, thủ phạm là thiếu vốn và kế hoạch đầu tư thiếu sát thực và tầm nhìn chứ không phải do dân trí.”

    Sơn

    Tất nhiên là tôi quan tâm đến trẻ em và tương lai và mong muốn góp lời khuyên để giúp bảo vệ chúng tốt hơn nữa.

    Tiến sĩ Kim Huỳnh, giảng viên tại Đại Học Quốc Gia Úc, đã viết tiểu sử về gia đình mình trong cuốn Where the Sea Takes Us: A Vietnamese-Australian Story (HarperCollins 2008). Trần Hoàng Tuấn là một dịch giả tự do và hiện đang viết tiểu thuyết đầu tay về người đồng tính nam ở Việt Nam.

    Bấm Bản gốc tiếng Việt được bà Hà Thị Thu Hương từ Trung tâm Integrated Culture and Language Studies (ICLS) chỉnh sửa đôi chút và BBC biên tập lại.

     

    Bình chọn

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu
  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)
  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?
  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Nếu chúng ta khám phá Nhật Bản qua lăng kính văn hóa xã hộicon người, chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về văn hóa Nhật Bản rất khác biệt so với các nền văn hóa thế giới khác. Đặc biệt là Việt Nam, tuy cùng chung châu lục các lịch sử văn hóa cũng có nhiều điểm giao thoa, tuy nhiên sự khác biệt vẫn là rất lớn.

    Nguồn: hofstede-insights.com

    1. Khoảng cách quyền lực

    Nhật bản với số điểm trung bình là 54, là một xã hội phân cấp biên giới. Vâng, người Nhật luôn ý thức về vị trí phân cấp của họ trong bất kỳ môi trường xã hội nào và hành động tương ứng. Tuy nhiên, nó không phân cấp như hầu hết các nền văn hóa châu Á khác. Một số người nước ngoài trải nghiệm Nhật Bản cực kỳ phân cấp vì kinh nghiệm kinh doanh của họ về quá trình ra quyết định chậm chạp: tất cả các quyết định phải được xác nhận bởi mỗi lớp phân cấp và cuối cùng là quản lý cấp cao ở Tokyo.

    Việt Nam đạt điểm cao về chiều này (điểm 70), điều đó có nghĩa là mọi người chấp nhận một trật tự thứ bậc trong đó mọi người đều có một vị trí và không cần biện minh thêm. Hệ thống phân cấp trong một tổ chức được coi là phản ánh sự bất bình đẳng vốn có, tập trung hóa là phổ biến, cấp dưới mong muốn được nói phải làm gì và ông chủ lý tưởng là một người chuyên quyền nhân từ. Những thách thức đối với các nhà lãnh đạo không được đón nhận.

    2. Chủ nghĩa cá nhân

    Chủ nghĩa cá nhân hay là sự đề cao tính cá nhân và tính tập thể trong một quốc gia, một xã hội. Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình. Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể. Cạnh tranh được đưa ra làm tiêu chuẩn để đo lường và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng. Các nước phương Tây như: Australia, Canada, Anh, Hoa Kỳ… là những đất nước đặc trưng theo chủ nghĩa cá nhân.

    Nhật Bản đạt 46 điểm trên khía cạnh Chủ nghĩa cá nhân, đây là một con số cao hơn nhiều so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Xã hội Nhật Bản cũng cho thấy nhiều đặc điểm của một xã hội tập thể: như sự tôn trọng với các quyết định của tập thể và khía cạnh đạo đức khi mọi người có cảm giác xấu hổ, mất mặt vì điều do một thành viên trong nhóm mình gây ra. Tuy nhiên, nó chặt chẽ như hầu hết những người hàng xóm châu Á khác. Giải thích cho điều này là xã hội Nhật Bản không có hệ thống gia đình mở rộng, tạo thành một cơ sở của các xã hội tập thể hơn. Nhật Bản đã là một xã hội gia trưởng và tên và tài sản gia đình được thừa kế từ cha cho con trai lớn nhất. Các em trai hoặc chị sẽ phải rời khỏi nhà và thành lập gia đình riêng của mình.

    Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác.

    Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân như quan hệ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp… đóng vai trò quan trọng hơn trong các mong muốn của từng cá nhân. Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng. Tập thể là quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là loạt các mối quan hệ hợp tác và rành buộc lẫn nhau. Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hoà hợp trong tập thể. Các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể.

    Trong các xã hội cá nhân, mọi người thường tự chăm sóc bản thân và gia đình trực tiếp của mình. Trong các xã hội tập thể, mọi người có chung một nhóm mối quan hệ sẽ chăm sóc lẫn nhau để đổi lấy sự quan tâm giúp đỡ lại, hoặc các lợi ích hoặc lòng trung thành.

    Việt Nam, với số điểm 20 là một xã hội tập thể. Điều này được thể hiện trong một cam kết ngầm, lâu dài chặt chẽ với nhóm tập thể mà họ tham gia, đó là một gia đình, họ hàng hoặc các mối quan hệ mở rộng như bạn bè, đồng nghiệp… Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan trọng và ghi đè lên hầu hết các quy tắc và quy định xã hội khác. Một xã hội như vậy thúc đẩy các mối quan hệ mạnh mẽ, nơi mọi người có trách nhiệm với các thành viên trong nhóm của họ. Trong các xã hội tập thể các hành vi phạm tội cá nhân cũng dẫn đến xấu hổ và mất mặt cho cả nhóm. Trong môi trường làm việc cũng thế, các cá nhân được đánh giá cả theo khía cạnh đạo đức (như liên kết gia đình), sự hòa đồng của họ với tập thể.

    3. Mức độ Nam tính hay Nữ tính?

    Nam tính/ Nữ tính là khái niệm chỉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính. Xã hội có tính nam tính cao được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác. Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Australia, Nhật Bản. Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao. Các nền văn hoá nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh.

    Điểm số cao (Nam tính cao) trên khía cạnh này cho thấy xã hội sẽ được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, với thành công được xác định bởi người chiến thắng / người giỏi nhất trong lĩnh vực. Những đặc điểm của một xã hội nam tính còn bao gồm can đảm, gia trưởng, độc lập và quyết đoán. Những đặc điểm này là rất khác nhau tùy vào địa điểm cũng như tình huống, và nó chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội và văn hóa đặc thù của từng quốc gia.

    Với 95 điểm, Nhật Bản là một trong những xã hội nam tính nhất trên thế giới. Các đặc điểm nổi bật về sự gia trưởng, quyết đoán và dũng cảm, sự trọng nam khinh nữ được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Tuy nhiên, tính nam tính này cũng được kết hợp với chủ nghĩa tập thể (thường nổi bật ở các xã hội nữ tính) của họ. Từ khi còn rất nhỏ ở trường mẫu giáo, trẻ em học cách thi đấu trong ngày thể thao cho các nhóm của mình (đội đỏ truyền thống chống lại đội trắng). Trong lao động, sự cạnh tranh mang tính tập thể rất gay gắt tại Nhật.

    Trong công ty Nhật Bản, bạn thấy rằng nhân viên có động lực nhất khi họ chiến đấu trong một đội chiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh. Những gì bạn cũng thấy là một biểu hiện của nam tính ở Nhật Bản là động lực cho sự xuất sắc và hoàn hảo trong sản xuất vật chất của họ (monodukuri) và trong các dịch vụ vật chất (khách sạn và nhà hàng) và thuyết trình (gói quà và trình bày thực phẩm) trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nghiện công việc là một biểu hiện phổ biến khác về nam tính của người Nhật. Phụ nữ ở Nhật thường ở nhà chăm lo con cái và nhà cửa. Họ khó có thể thăng tiến trong công ty ở Nhật Bản với các tiêu chuẩn cao về nam tính, về thời gian làm việc chăm chỉ và kéo dài.

    Ngược lại, trong các nền văn hoá nữ tính sẽ chú trọng hơn đến sự chăm sóc, phúc lợi, chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau. Các nước Scandinavia, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc và quan tâm đến những người kém may mắn hơn. Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp rất tốt cho giáo dục. Một xã hội nữ tính là nơi mà chất lượng cuộc sống được coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự thành đạt.

    Việt Nam đạt 40 điểm về chiều này và do đó được coi là một xã hội nữ tính. Ở các quốc gia nữ tính, trọng tâm là tập trung vào hoạt động để sống, các nhà quản lý cố gắng đồng thuận và đưa ra nhiều chính sách xã hội tốt, mọi người coi trọng sự bình đẳng, đoàn kết và chất lượng trong cuộc sống làm việc của họ. Xung đột được giải quyết bằng thỏa hiệp và đàm phán. Các ưu đãi như thời gian rảnh và tính linh hoạt được ưa chuộng. Tập trung vào hạnh phúc và hưởng thụ bên các mối quan hệ của mình.

    4. Mức độ e ngại rủi ro

    Sự e ngại rủi ro thể hiện mức độ mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ. Một xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, sẽ có nhiều tổ chức bảo hiểm để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính. Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minh bạch. Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro. Bỉ, Pháp và Nhật Bản là những nước có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao.

    Điểm số 92 Nhật Bản cho thấy là một trong những quốc gia có mức độ e ngại rủi do cao nhất trên trái đất. Điều này là do Nhật Bản liên tục bị đe dọa bởi thiên tai từ động đất, sóng thần, bão đến các vụ phun trào núi lửa. Nhật Bản đã học cách tự chuẩn bị cho mọi tình huống không chắc chắn, các kế hoạch khẩn cấp và biện pháp phòng ngừa không chỉ cho những thảm họa tự nhiên bất ngờ mà còn cho mọi khía cạnh khác của xã hội. Có thể nói ở Nhật Bản, bất cứ điều gì bạn làm đều được dự đoán tối đa và quy định thành các tục lệ, nghi thức bắt buộc. Cuộc sống mang tính nghi thức rất cao và bạn có rất nhiều nghi lễ. Tại đám cưới, đám tang, trong công sở, tại cuộc gặp quan trọng và các sự kiện xã hội khác, những gì mọi người mặc và cách mọi người nên cư xử được quy định rất chi tiết trong các sách xã giao.

    Người Nhật thường không muốn làm những việc không có tiền lệ. Nhật Bản tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực vào nghiên cứu tính khả thi và tất cả các yếu tố rủi ro phải được xử lý trước khi bất kỳ dự án nào có thể bắt đầu. Các nhà quản lý yêu cầu tất cả các sự kiện và số liệu chi tiết trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.

    Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen và chấp nhận sự không chắc chắn. Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khá nhanh. Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai. Họ có xu hưóng dung hoà được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ vì họ không cảm thấy sợ sệt. Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp.

    Việt Nam đạt 30 điểm về mức độ e ngại rủi ro được đánh giá có sự bao dung, ít quy tắc và chấp nhận đổi mới đi đôi với sai sót nhiều lần hơn. Xã hội duy trì một thái độ thoải mái hơn, chấp nhận nhiều sự sai lệch so với chuẩn mực. Trong các xã hội thể hiện UAI thấp, mọi người tin rằng không nên có nhiều quy tắc hơn mức cần thiết. Lịch trình thường linh hoạt, chính xác và đúng giờ không phải là yếu tố bắt buộc. Các lý do diễn giải cho sự chậm trễ, sai sót thường dễ được chấp nhận.

    5. Định hướng lâu dài

    Khía cạnh định hướng dài hạn hay ngắn hạn này thể hiện mức độ con người và các tổ chức trì hoãn sự thoả mãn trong ngắn hạn để đạt được thành công trong dài hạn. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp và con người trong các nền văn hoá định hưóng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập kế hoạch và cuộc sống. Họ chú trọng đến các kế hoạch cho khoảng thời gian trong nhiều năm hoặc thậm chí là nhiều thập kỉ. Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nét trong các giá trị đạo đức của người châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…

    Một phần, những giá trị này là dựa trên các học thuyết của Khổng từ, triết gia nổi tiếng người Trung Quốc sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Ngoài việc đưa ra các định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hoá cốt lõi khác mà cho đến bây giờ vẫn đang áp dụng cho nhiều nền văn hoá của châu Á. Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng kiểm soát ham muốn cá nhân. Học giả trên thế giới đã công nhận các giá trị này là điều làm nên sự kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hoá của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ qua.

    Nhật Bản với 88 điểm là một trong những xã hội định hướng dài hạn nhất. Cuộc sống đối với họ chỉ là một khoảnh khắc rất ngắn trong lịch sử của loài người. Bạn sống làm việc hết sức mình và đó là tất cả những gì bạn có thể làm. Nếu một người Nhật cả thấy mất định hướng, mất khả năng làm việc hoăc vô dụng đối với xã hội, họ thường tìm cách kết thúc cuộc sống của mình. Đây là lý do Nhật có số vụ tự tử cao nhất thế giới. Mọi người sống cuộc sống của họ và hướng tới đức hạnh và danh dự cao như là một phần thưởng hơn là một vị Chúa toàn năng hứa hẹn cho họ lên thiên đàng. Ở Nhật Bản, bạn thấy định hướng dài hạn về tỷ lệ đầu tư liên tục vào R&D ngay trong thời kỳ kinh tế khó khăn, ưu tiên tăng trưởng thị phần ổn định hơn là lợi nhuận hàng quý v.v. . Tất cả đều phục vụ cho độ bền của các công ty.

    Việt Nam đạt 57 điểm, tuy không phải là một nền văn hóa ngắn hạn hoàn toàn nhưng cũng không quá coi trọng sự dài hạn. Nguyên nhân có thể một phần ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh diễn ra liên tiếp trong lịch sử, các giá trị dài hạn chưa kịp xây dựng đã bị đập đi và xây dựng lại từ đầu khi một chế độ mới lên ngôi, điều này biến Việt Nam thành một nền văn hóa thực dụng. Trong các xã hội với định hướng thực dụng, mọi người tin rằng sự thật phụ thuộc rất nhiều vào tình huống, bối cảnh và thời gian. Chúng cho thấy khả năng thích ứng truyền thống dễ dàng cùng với các điều kiện thay đổi, xu hướng hội nhập mạnh mẽ để học hỏi phát triển trong thời gian nhanh nhất.

    Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn, các đích đến rõ ràng và cụ thể. Các định hướng ngắn hạn có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới, đồng nghĩa với việc bất chấp các rủi ro về lâu dài, sự tàn phá, hủy hoại về môi trường. Văn hóa đề cao thành tích và chủ nghĩa cá nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ ly hôn cao, ngại sinh con và suy thoái dân số diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây.

    6. Sự tự do cá nhân

    Những người sống trong môi trường có văn hóa tự do cá nhân cao (như phương Tây) sẽ luôn chủ động làm những gì mình thích, đôi khi việc đó vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Bên cạnh đó, văn hóa tự do cũng cho mỗi cá nhân tự do toàn quyền trong các quyết định mà không phải chịu sự kiểm soát quá nhiều của hệ thống quy tắc và mối quan hệ. Họ có xu hướng hưởng thụ thành quả một mình (ăn uống, du lịch, mua sắm…) hơn là đi chung với một tập thể hoặc gia đình.

    Ngược lại, các xã hội có đặc điểm văn hóa cá nhân kiềm chế hay có giới hạn (Restrained) thường có sự hoài nghi, đắn đo, lo lắng trong các quyết định và hành động. Trong xã hội này mọi người thường không chú trọng nhiều đến giải trí, hưởng thụ để thỏa mãn cá nhân mà gắn nó với các tập thể, mối quan hệ xung quanh. Những cá nhân sống trong xã hội hạn chế sẽ chấp nhận các hành động của mình bị giới hạn bởi những quy tắc và quan hệ. Văn hóa giới hạn bởi các yếu tố đạo đức, sự đánh giá của cộng đồng và truyền thống lịch sử lâu đời tiêu biểu nhất ở các nước đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc,Việt Nam.

    Nhật Bản, với số điểm 42 và Việt Nam với 35 điểm đều thuộc nhóm các nước có đặc điểm văn hóa kiềm chế. Tuy nhiên, Nhật bản có xu hướng thoáng hơn do tiếp thu sâu rộng văn hóa của phương Tây trong nhiều thập kỷ. Việt Nam thì do ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc và các nền văn hóa dựa trên nông nghiệp đề cao tính gia đình và cộng đồng xung quanh. Các nhu cầu về hưởng thụ cá nhân cũng bị phụ thuộc vào các mối quan hệ và đạo đức truyền thống rất nhiều. Tiêu biểu nhất có thể thấy các hoạt động giải trí mang tính cộng đồng phát triển rất mạnh. Các hình thức ăn mừng tiệc tùng, giải trí cá nhân thường được mở rộng ra rất nhiều ra bạn bè, gia đình, đồng nghiệp xung quanh.

    Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu
  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)
  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Văn Hóa Mỹ Và Việt – Những Điểm Khác Biệt Trong Giao Tiếp
  • Phương Tây Với Văn Hóa Việt Nam – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • 1. Chào hỏi

    Người Phương Tây

    thường bắt tay, ôm hoặc hôn má.

    Người Việt Nam

    khi gặp cô, dì, chú, bác, cụ già, hay những người lớn tuổi hơn thì chúng ta thường lên tiếng chào hỏi trước để thể hiện sự lễ phép, và theo truyền thống thì thường hơi cúi người khi chào. Ở những nước phương Đông khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, vv… họ cũng cúi người khi chào. Người phương Đông quan niệm rằng khi chào hỏi càng cúi người thấp có nghĩa là sự tôn trọng dành cho người đối diện càng nhiều.

    2. Làm quen

    Người phương Tây

    : Nam, nữ thường rất bạo dạn và tư duy thoáng.

    Người Việt Nam:

    Nữ – e thẹn và ngại ngùng, nam – bối rối và lúng túng.

    3.Cách thể hiện ý kiến cá nhân  

    Bên trái(màu xanh)-phương Tây; bên phải(màu đỏ)-phương Đông. 

    Bên trái(màu xanh)-phương Tây; bên phải(màu đỏ)-phương Đông.

    Người Phương Tây

    quan trọng sự thẳng thắn. 

    Người Việt Nam

    đề cao sự khéo léo, mềm mỏng.

    Cách đặt vấn đề và c

    ách giải quyết vấn đề 

    Người Phương Tây

    luôn đi thẳng vào vấn đề.

    Người Phương Đông 

    thường vòng vo, né tránh.

    Người phương Tây

    thường coi trọng kết quả sau cùng, vì vậy, họ sẵn sàng đương đầu với những vấn đề cản trở, cốt sao đạt được mục tiêu nhanh nhất. 

    Người Phương Đông

     thì quan trọng quá trình thực hiện. Vốn không thích đối đầu, xung đột, nên người phương Đông có thể chấp nhận đi vòng một chút, tuy mất thời gian hơn nhưng đôi khi vẫn đạt được kết quả sau cùng và không tổn hao quá nhiều sức lực.

    4. Phong cách sống  

    Người phương Tây

    đề cao cái Tôi, năng lực cá nhân, cá tính riêng… vì vậy phong cách sống của họ thiên về lối sống tự lập, cá nhân.

    Người Việt Nam

    trân trọng cái Ta, con người phải luôn biết hòa nhập với môi trường xung quanh để tạo nên sự hài hòa. Người Việt mình luôn sống có cộng đồng, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau vì thế phong cách sống của người Việt tình cảm hơn rất nhiều so với ở phương Tây.

    Các mối quan hệ và sự kết nối trong xã hội  

    Các mối quan hệ trong thế giới phương Tây thì rất là rõ ràng chứ không phức tạp và mang nặng tính “dắt dây” như trong xã hội phương Đông.

    Nhìn nhận về bản thân 

    Người phương Tây

    rất quan trọng cái Tôi, đề cao tính cá nhân trong một số khía cạnh của đời sống. Họ đòi hỏi những người xung quanh phải tôn trọng những gì thuộc về vấn đề cá nhân. 

    Ở phương Đông

    thì cái Tôi thường nhỏ bé, dễ bị khỏa lấp và việc quên đi cái Tôi được cho là một đức tính đáng khen ngợi của người Việt Nam hay người phương Đông nói chung.

    Cách nói chuyện:

    Phương Tây:

     Người Mỹ khi nói chuyện thì thường không ngại ca ngợi bản thân và thường nâng mình lên và điều đó thể hiện sự tự tin của họ.

    Việt Nam:

    khi nói chuyện thường khiêm tốn, hạ mình xuống một chút để thể hiện sự khiêm nhường.

     

    Người Việt thường chú trọng sự nhường nhịn, kính trên nhường dưới. Trong khi người Mỹ thì chú trọng sự cạnh tranh. Vì vậy, trong một tập thể, người Việt thường hay bị người Mỹ lấn át.

    Người Mỹ có tinh thần trọng luật rất cao, đôi khi trở nên máy móc. Cứ đúng luật là được, còn có tình nghĩa hay không thì không quan trọng. Người Việt thì thường chú tâm vào các khuôn mẫu đạo đức chung hơn là luật, để sao cho hợp tình hợp lý.

    Người Mỹ thích đặt câu hỏi, vì họ quan niệm rằng trong cuộc đối thoại nếu như người đối diện không đặt ra những câu hỏi thì có nghĩa là họ không quan tâm đến vấn đề mà người kia đề cập hay không quan tâm đến họ. Còn người Việt thì lại rất ngại hỏi.

    5. Cấp trên/Sếp 

    Phương Tây:

    sếp cũng là người đi làm kiếm sống như nhân viên và bao người khác, chỉ có điều cấp bậc, tầm nhìn và lương bổng của sếp thì cao hơn một chút. 

    Phương Đông:

    sếp được coi là “người khổng lồ”.

    6.Vấn đề đúng giờ

    Phương Tây

    : Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc hẹn ở phương Tây. Tính chính xác và đúng giờ đối với người phương Tây là cực kỳ quan trọng. Người ta không cần thiết phải đến sớm để thể hiện sự tôn trọng nhưng họ sẽ không đến muộn, vì họ quan niệm đó là hành động bất lịch sự. 

    Việt Nam:

    Chúng ta có thể xê dịch giờ hẹn đôi chút và đôi khi điều đó không trở thành vấn đề lớn. Vì thế mà ở Việt Nam mới có danh từ “giờ cao su”.

    : Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc hẹn ở phương Tây. Tính chính xác và đúng giờ đối với người phương Tây là cực kỳ quan trọng. Người ta không cần thiết phải đến sớm để thể hiện sự tôn trọng nhưng họ sẽ không đến muộn, vì họ quan niệm đó là hành động bất lịch sự.Chúng ta có thể xê dịch giờ hẹn đôi chút và đôi khi điều đó không trở thành vấn đề lớn. Vì thế mà ở Việt Nam mới có danh từ “giờ cao su”.

    Ví dụ ở Mỹ khi bạn mua vé xem phim, vé kịch hoặc các hoạt động giải trí có giờ giấc quy định cụ thể như các tour tham quan … bạn phải đến sớm 5 phút hoặc đến đúng giờ. Nếu bạn đến trễ thì sẽ gây khó chịu cho những người xung quanh. Và đặc biệt, nhân viên gác cửa hoặc nhân viên phục vụ có quyền từ chối phục vụ hoặc không cho bạn vào. 

    7. Văn hóa xếp hàng 

    Phương Tây

    : Chờ tính tiền ở siêu thị, vào rạp chiếu phim, cơ quan hành chính, các văn phòng của trường đại học, kể cả ra chợ trời… chỗ nào họ cũng xếp hàng, xếp hàng dài trên đường phố, xếp hàng khi lấy thức ăn … Chỉ hai người cũng xếp hàng và không chen lấn, xô đẩy.

    Phương Đông:

    Thực tế văn hóa xếp hàng đã dần hình thành tại nhiều nước phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn. Tuy vậy, nhìn chung, nó vẫn chưa ăn sâu vào nếp sống của người phương Đông ở mọi lúc mọi nơi. Chúng ta thấy là ở nhiều nơi mọi người vẫn thường xếp hàng ngang, rất ồn ào, và còn xô đẩy và chen lấn nữa.

    Văn hóa xếp hàng ở Mỹ thể hiện rõ nhất trong mùa bán hàng đại hạ giá. Để mua được món hàng ưng ý với giá “trong mơ”, mọi người phải thức dậy từ 5 giờ sáng, xếp hàng rồng rắn lên mây trước cửa các shop, siêu thị chờ đến giờ mở cửa để mua được món hàng “độc” mà mình yêu thích, như trường hợp các bạn trẻ xếp hàng mua máy điện tử PlayStation 3, điện thoại I-Phone, Ipad …

    8. Văn hóa xin lỗi

    Phương Tây:

    Ở phương Tây thì việc nói “xin lỗi” là chuyện hết sức bình thường. Chẳng hạn khi họ vừa bước vào cửa một nhà hàng nào đó hay là trên xe buýt, vô tình chạm phải một người khác thì chưa cần biết lỗi thuộc về ai, có khi cả hai người đều cùng lên tiếng xin lỗi. Họ quan niệm xin lỗi là hành vi nhận lỗi về bản thân mình để tiến tới hòa giải, vui vẻ và không chạm tự ái người ta. Tại Mỹ, nhiều chính trị gia phạm lỗi gì đó, cứ biện minh mãi, cuối cùng phải xin lỗi, khi đó mới được dân chúng bỏ qua. Xin lỗi là hành vi can đảm.

    Phương Đông:

    Đôi khi vẫn còn rất khó khăn trong việc nói từ “xin lỗi”.

    9. Văn hóa cảm ơn

    Phương Tây:

    “Cám ơn” là câu nói rất phổ thông của xã hội Phương Tây. Khi vợ tặng chồng một món quà, chồng nói cám ơn. Khi con cái biếu quà cha mẹ, cha mẹ nói cám ơn. Vào nhà hàng, bồi bàn đưa đồ ăn ra, khách nói cám ơn. Vào siêu thị mua hàng, khách trả tiền xong, người tính tiền nói cám ơn. Lên thang máy hay trên xe buýt, khi người này đứng nhích qua 1 bên cho người kia đứng, người kia nói cám ơn. Họ quan niệm rằng chỗ nào, lúc nào cũng cần lời nói “cám ơn” để thể hiện sự hài hòa và vui vẻ. 

    Phương Đông:

     Vẫn còn tiết kiệm lời nói “cám ơn”. Vào các siêu thị của người Việt ở Mỹ (thực ra là của người Tàu) cũng ít nghe thấy tiếng “cám ơn”. Không phải người Việt hay người Phương Đông không biết ơn người khác, mà là văn hóa Phương Đông thường ít bộc lộ ra bên ngoài mà dấu kín ở bên trong. Những người ngoại quốc sang sinh sống và làm việc ở Việt Nam lâu năm thì cũng hiểu và thông cảm với người Việt mình vì họ hiểu rằng đó là tính cách của người Việt.

    10. Văn hóa đổ lỗi

    Phương Tây:

    Tinh thần trách nhiệm của họ rất cao. Khi họ lãnh đạo một đất nước, cộng đồng, cơ quan, đoàn thể…thành công thì họ hưởng, thất bại họ phải chịu trách nhiệm chứ không thể đổ lỗi cho ai hết. 

    Việt Nam:

    Thường hay biện minh, đổ thừa tại Trời, tại số, tại người này, người kia và cả trăm thứ khác. Chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc tự nhận trách nhiệm về bản thân.

    11. Cách thể hiện cảm xúc của người phương Tây và người Việt Nam cũng khác nhau.

     

    Người phương Tây

    : vui buồn đều thể hiện khá rõ ràng.

    Người phương Đông:

    thường che giấu cảm xúc thật của mình, có thể “trong héo ngoài tươi”.

    12. Cách ứng xử nơi công cộng 

    Phương Tây:

    Người phương Tây rất ngại gây ồn ào, nói chuyện quá to ở những nơi công cộng như nhà hàng, khách sạn, tiệm cà phê, cửa hàng, siêu thị… nhất là ở những nơi tham quan mang tính trang nghiêm như bảo tàng, nhà lưu niệm, đài tưởng niệm…

    Vì thế ở nhà hàng, quán ăn thì họ thường ăn nhẹ nói khẽ, nói sao chỉ đủ để những người đối diện nghe thấy mà thôi. Ngay cả trong việc gọi nhân viên phục vụ cũng được thể hiện bằng ánh mắt hay động tác tay một cách rất khéo léo và tinh tế.

    Phương Đông:

    chúng ta thường rất là vô tư trong vấn đề này, có thể gọi nhau í ới nơi đông người hay nói chuyện ồn ào.

    Tiệc tùng: Tại những bữa tiệc trang trọng, người phương Tây thích đứng thành nhóm nhỏ, rủ rỉ trò chuyện. Người Việt mình thì thích ngồi thành những nhóm lớn, trò chuyện ồn ào, và đó được coi là biểu hiện của sự hào hứng, vui vẻ. Vì thế mà ở Việt Nam tiệc nào càng ồn có nghĩa là tiệc đó tổ chức thành công.

    13. Vai trò vợ chồng trong gia đình

    Ở Phương Tây

    sự bình đẳng thể hiện khá rõ nét. Người chồng và người vợ đều có trách nhiệm đối với gia đình như nhau. Đàn ông thường san sẻ với phụ nữ công việc nhà và việc nuôi dạy con cái. Ở Mỹ thì dù có là tổng thống, quan chức cấp cao hay là ai đi chăng nữa, thì khi về nhà họ vẫn vào bếp và chia sẻ công việc nhà với vợ. 

    Ở Việt Nam

    vai trò của người chồng quan trọng hơn, người chồng đi làm kiếm tiền là chủ yếu. Người vợ dù có đi làm hay không đi chăng nữa thì hầu như công việc gia đình thường được giao nghiễm nhiên cho phụ nữ.

    14. Trẻ em trong gia đình

    Phương Tây:

    Trẻ em không được cả gia đình chăm lo, ưu ái như trẻ em ở Việt Nam. Trẻ em phương Tây có vị trí ngang bằng như những thành viên khác trong gia đình, có quyền lợi và nghĩa vụ riêng. Trẻ em ở phương Tây thường được dạy cách tự lập từ khi còn rất nhỏ, được khuyến khích đi làm thêm ngay trong lúc còn đi học để có tiền tiêu xài riêng. Khi trẻ em tới tuổi trưởng thành, cha mẹ hết trách nhiệm. Ở Mỹ thì trẻ em đến 16 tuổi là gia đình cho ra ở riêng, cho một số tiền nhất định, rồi muốn làm gì thì làm, muốn sống sao thì sống, phải tự bươn trải chứ không được dựa dẫm vào gia đình.

    Việt Nam:

    Trẻ em được bao bọc và che chở bởi rất nhiều người thân trong gia đình, được chiều chuộng và yêu thương hết mực. Ở Việt Nam, trẻ em thường được coi là trung tâm thú vị của cả nhà và các thành viên sẽ xoay quanh “tâm điểm” này.

    15. Cuộc sống của người già

    Phương Tây:

    Dạo chơi công viên ở phương Tây, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh các cụ già dắt thú cưng đi dạo.

    Việt Nam:

    Ông bà thì thường sống quây quần bên con cháu, rất tình cảm. Ở Việt Nam thì bạn sẽ thường bắt gặp hình ảnh những cụ già dắt cháu đi chơi.

    Vì thế mà ở phương Tây không có chuyện cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Vì họ quan niệm là người đã mất thì dù có làm gì đi chăng nữa cũng không còn ý nghĩa gì cả. 

    Người Việt thường có truyền thống uống nước nhớ nguồn, nên thường cúng giỗ ông bà, cha mẹ để nhớ lại cội nguồn, và cũng là để anh chị em trong họ hàng có dịp quây quần, ôn lại những kỷ niệm xưa cũ rất thân thương đã qua. Đối với người Việt Nam, gia đình mà thiếu thốn, nghèo quá mà không làm giỗ cha mẹ mình, ngày 30 Tết không nhang khói rước ông bà về là nỗi bất hạnh lớn. Thờ cúng tổ tiên là văn hóa truyền thống rất đáng trân trọng của Việt Nam.

    16. Các bữa ăn trong ngày 

    Phương Tây

    : thường ăn sáng vội vàng, ăn tối qua loa, thường ăn đồ ăn nhanh, vì thế nên bữa trưa- bữa ăn thư thái nhất trong ngày, họ có thể mời bạn bè ra tiệm dùng bữa.

    Việt Nam:

    đề cao tầm quan trọng của cả 3 bữa ăn trong ngày, thích sự nóng sốt. Ăn uống qua loa theo kiểu “cơm đường cháo chợ” là điều không người Việt nào  thích cả.

    Vì thế mà ở Việt Nam “bữa cơm gia đình” là rất quan trọng. Đó là dịp để các thành viên trong gia đình có thể quây quần bên nhau sau khi trở về nhà từ cơ quan, nơi làm việc hay trường học. Đó thật sự là những giây phút rất là ấm cúng.

    17. Ẩm thực sành điệu (hình ảnh 14)

    Người phương Tây

    sành điệu sẽ tìm tới các món ăn Châu Á (món ăn Nhật, Trung Hoa hay Việt Nam..) 

    Người phương Đông

    “ăn chơi” thì sẽ tìm tới các món ăn Châu Âu.

    sành điệu sẽ tìm tới các món ăn Châu Á (món ăn Nhật, Trung Hoa hay Việt Nam..)“ăn chơi” thì sẽ tìm tới các món ăn Châu Âu.

    18. Đường phố ngày cuối tuần (hình ảnh 15)

    Những ngày cuối tuần, đường phố phương Tây thường vắng vẻ, họ không đổ ra đường mà thường có hai lựa chọn: một là ở nhà ngủ bù cho cả tuần lao động vất vả, hai là về miền quê vui chơi, hít thở không khí trong lành. 

    Ở phương Đông

    , đặc biệt tại các thành phố lớn, người dân thường đổ ra đường, tới các khu vui chơi và trung tâm mua sắm để giải trí.

    19. Phương tiện di chuyển

    Trước đây, khi người phương Tây coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả nhất, người phương Đông còn đi xe đạp. Giờ đây, người phương Tây lại coi xe đạp là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất vì nó vừa giúp rèn luyện sức khỏe và vừa có thể bảo vệ môi trường, trong khi đó, người phương Đông đã chuyển sang đi ô tô (nếu có điều kiện)

     20. Tắm táp

    Người phương Tây

    thích tắm sáng rồi mới đi làm để bắt đầu 1 ngày mới với tinh thần sảng khoái. 

    Người phương Đông

    thì thích tắm tối trước khi đi ngủ để gột rửa những vết bẩn và những muộn phiền trong ngày sau khi đi làm về.

    20.Vẻ đẹp lý tưởng

    Người phương Tây

    thích da nâu.

    Người Việt Nam

    thích da trắng. Vì thế mà ở Việt Nam vào mùa hè, phụ nữ khi ra đường thường trang bị cho mình áo chống nắng, kem chống năng, kính râm, khẩu trang…

    21. Đông Tây trong mắt nhau

    Trong mắt người phương Tây, người phương Đông đặc trưng với nón lá, thích uống trà và ăn cơm. Trong khi đó người phương Đông ấn tượng với người phương Tây bởi mũ nồi cao, xúc xích và bia.

    Kết luận: 

    Mỗi đất nước có nền văn hóa khác nhau nên sẽ có sự khác biệt trong thói quen, phong tục tập quán, cách tư duy,vv… Một nền văn hóa có thể thích hợp với nước này, nhưng không có gì đảm bảo rằng nó sẽ thích hợp với nước khác. Bản thân mình nghĩ chúng ta nên gìn giữ những truyền thống tốt đẹp và đáng trân trọng từ ngàn đời xưa của ông cha ta, của những thế hệ đi trước. Nhưng… những gì chưa tốt, những gì cần thay đổi, thì chúng ta nên thay đổi chứ không nên bảo thủ. Và thay đổi ở đây là thay đổi theo chiều hướng tích cực và có chọn lọc. Hơn nữa chúng ta đã và vẫn đang hướng đến sự hội nhập với thế giới, nên cái sự cập nhật và thay đổi là điều hết sức cần thiết.

    *Trong bài viết có sử dụng một số hình ảnh trong bộ ảnh đồ họa có tên “East Meets West” (Đông Tây gặp gỡ) của nữ nghệ sĩ trẻ Yang Liu- người sinh ra và lớn lên tại Trung Quốc nhưng đã có thời gian sinh sống và học tập tại Đức. 

     

    Nguyễn Hải Trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?
  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Nam Châm Phẳng Và Nam Châm Điện
  • Nam Châm Vĩnh Cửu Là Gì? Cấu Tạo, Ứng Dụng Và Bảng Giá 2022
  • So Sánh Sự Khác Biệt Văn Hóa Trung Quốc Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Tiếng Nhật Và Tiếng Hàn: Những Điểm Giống & Khác Kỳ Lạ
  • Đọc Chương 3 : Giống Nhau Như Hai Giọt Nước
  • Những Ngôi Sao Hollywood Giống Nhau Như Hai Giọt Nước
  • Truyện: Yêu Người Có Đủ Đậm Sâu
  • 5 Lý Do Tạo Nên Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Anh
  • Giới thiệu sơ lược về văn hóa Trung Quốc

    Là một đất nước rộng lớn với sự đa dạng của các dân tộc, khó ai có thể nhìn nhận văn hóa Trung Quốc một cách chính xác. Văn hóa Trung Quốc được đánh giá là phức tạp nhất thế giới. Nó ảnh hưởng rất lớn đến những nước lân cận như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản.

    Nơi đây là sự giao thoa của ít nhất 5 nền văn hóa mang những nét đặc trưng riêng biệt bao gồm: văn hoa du mục ở vùng sa mạc Tây Bắc, văn hóa mang tính chất Ấn Độ ở vùng Tây Tạng, văn hóa Đông Nam Á ở vùng Hoa Nam, văn hóa ảnh hưởng phương Tây ở ven biển Hoa Nam và văn hóa ở khu vực sông Hoàng Hà. Có thể nói rằng chính văn hóa ở lưu vực sông Hoàng Hà đã ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam.

    Tìm hiểu sự khác biệt văn hóa Trung Quốc và Việt Nam

    Sự khác biệt về chữ viết

    Chữ viết Trung Quốc còn nổi bật với cách viết thư pháp đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa đòi hỏi ở người viết rất nhiều yếu tố như cảm thụ, lực cầm bút, lực ngòi bút, thế cầm bút và cái hồn của người viết chữ. Trong khi cái đẹp của thư pháp Việt Nam nói riêng và tiếng Việt nói chung là cái đẹp về hoa tay được trao dồi. Ngày xưa ông cha ta tham gia khoa cử đều phải khổ luyện chữ viết rất khó khăn.

    Thời Khổng Tử ở Trung Quốc, học trò phải học đến 6 môn: Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số trong khi nhà Nho Việt Nam xưa hoàn toàn không có đủ điều kiện để học đầy đủ những bài học này.

    Nếu văn hóa Trung Quốc mang tính quy phạm đặc biệt thể hiện trong khoa cử thì điều này không đúng với Việt Nam. Nước ta chủ yếu là văn hóa làng xã, do vậy Việt Nam truyền thống chỉ nằm ở khu vực gia đình, thôn xóm với quy chế không được thắt chặt như Trung Quốc.

    Nghệ thuật hội họa

    Người Trung Quốc rất xem trọng thư pháp. Một bức thư pháp có thể gọi là tranh. Người Trung gọi đó là tả họa (viết tranh). Những bức tranh thư pháp được mở ra xem dần chứ không phô bày như hội họa của những quốc gia khác. Công bút ở thư pháp được xem là đỉnh cao của hội họa phép thuật thư pháp của Trung Quốc.

    Trong khi đó, hội họa Việt Nam lại cô cùng đơn giản khi dựa trên những chất liệu hiện có ở làng xã. Tranh Đông Hồ là một ví dụ. Có thể nói tranh Đông Hồ chính là kết tinh của làng xã truyền thống khi nó lấy đề tài, chất liệu vẽ hoàn toàn từ những thứ gần gũi với người dân. Không rắc rối và điều luật như Trung Quốc, nghệ thuật hội họa Việt Nam rất đơn giản và chân chất.

    Nghệ thuật ẩm thực

    Thức ăn Trung Quốc được chế biến rất cầu kỳ. Một ví dụ tiêu biểu đó chính là “ngũ long đại hội”, “Phượng hoàng chuyển cánh”,… được chế biến vô cùng cầu kỳ. Trong khi đó, ẩm thực Việt Nam lại khá đơn giản. Nhắc đến ẩm thực cầu kỳ nhất nhất theo chuẩn Việt Nam đó chính là ẩm thực cung đình Huế. Tuy nhiên, ẩm thực Huế thật sự không phải là cái chuẩn của cầu kỳ đối với Trung Quốc. Món Huế khác biệt ở chỗ nó làm sang những vật liệu nấu ăn thông thường mà thôi.

    Văn hóa Trung Quốc đề cao cái vô

    Khác với văn hóa Trung Quốc, văn hóa Việt Nam không tồn tại những thứ khiến người ta khiếp sợ. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rằng văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa bất bình thường, một nên văn hóa không biết đến mức độ.

    Nó không tuân theo những quy luật tự nhiên vốn có. Tất cả mọi thứ đều có thể xuất hiện trong nền văn hóa này. Từ thứ lớn nhất là Di Hoà Viên đến cái nhỏ nhất là những bài phú được khắc trên tấm ngọc nhỏ,… Cái vô bao trùm lên nền văn hóa Trung Quốc hoàn toàn trái ngược cái hữu trong văn hóa Việt Nam.

    Cá tính trong nền văn hóa Việt Nam

    Những trình bày ở trên không tránh khỏi những ý kiến cho rằng nền văn hóa Việt Nam vô cùng nhạt nhòa nhưng sự thật không phải vậy. Cái đặc biệt trong văn hóa Việt Nam chính là đỉnh cao của bình dị và gần gũi, nói không với cực đoan. Trong suốt quá trình phát triển của mình, văn hóa Việt Nam luôn mang trong nó bản chất riêng của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Nó như một viên ngọc tinh khôi được mài giũa trong nội tại của dân tộc.Đây là nền văn hóa của chính Việt Nam chứ không phải là bản sao của bất kỳ nền văn hóa nào khác.

    “Lực hấp dẫn” từ Trung Quốc

    Đất nước cùng con người Trung Quốc thu hút nguồn đầu tư rất lớn từ nước ngoài. Nó được xem như một thị trường béo bở trong rất nhiều lĩnh vực. Nhắc đến hành trình vượt đại dương hoành tráng nhất 2022 không thể không nhắc đến Lionel Messi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạ Dày Việt Thanh Không Phải Là Thuốc
  • So Sánh Sự Khác Biệt Giữa Thực Phẩm Chức Năng Và Thuốc
  • Sự Khác Nhau Giữa Thuốc Và Thực Phẩm Chức Năng
  • Sự Khác Biệt Giữa Thị Trường Vốn Sơ Cấp Và Thứ Cấp Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhà Lãnh Đạo Và Nhà Quản Lý
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà
  • Dù đều mang nét văn hóa Á Châu, nhưng nền văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản lại có những điểm riêng độc đáo. Việt Nam và Nhật Bản là cư dân của khu vực Đông Nam Á, người Việt Nam có chủng tộc gốc là Mongoloid phương Nam với 2 đặc điểm là mũi tẹt và mắt to, trong khi đó người Nhật Bản có chủng tộc gốc là người Mongoloid phương Bắc mũi cao và mắt to.

    Việc hiểu và lý giải được những nét khác biệt đó sẽ phần nào giúp các bạn có ý định du học Nhật bản tránh được cú sốc văn hóa cũng như dễ hòa nhập với môi trường sống mới.

    Điểm khác biệt đầu tiên phải nói đến là văn hóa giao tiếp. Người Nhật thường xuyên sử dụng những câu như “cảm ơn” và “xin lỗi” khi nói chuyện với người khác. Điều này cũng gây nhiều bất ngờ cho những ai lần đầu đến Nhật Bản. Trong khi đó, người Việt chỉ nói cảm ơn khi bản thân mình nhận được một ân huệ hay sự giúp đỡ nào đó và chỉ xin lỗi khi họ cảm thấy đã khiến người khác thực sự cảm thấy phiền toái. Thậm chí, việc nói lời xin lỗi không phải xảy ra với mọi đối tượng và có những người còn cố tình trốn tránh lời xin lỗi. Theo họ, những lời nói đó mang lại cảm giác ngại ngùng, xa cách và có thể kéo dài khoảng cách giữa họ. Nói như vậy cũng không có nghĩa là người Việt không bao giờ nói ” cảm ơn”, ” xin lỗi”, mà chỉ xét về mức độ cũng như phạm vi đối tượng sử dụng mà thôi.

    Cũng với lối tư duy tránh làm mất lòng người khác, người Nhật rất ít khi nói “không” với người không thân thiết. Thay vào đó, họ thường nói lấp lửng, vòng vo và mong muốn đối phương khi giao tiếp sẽ hiểu. Họ không bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình rõ ràng mà luôn giữ cảm xúc đó ở một giới hạn rất mơ hồ. Do đó, không phải dễ dàng để biết được liệu đối phương đang nghĩ gì, cảm nhận như thế nào. Đối với tư duy người Việt, nói thẳng vấn đề chính là cách chứng minh cho sự thành thật của mình đối với đối phương.

    Đúng giờ là nhận định mà hầu hết người nước ngoài đưa ra khi tiếp xúc với người Nhật. Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đối chiếu lịch trình giờ tàu chạy với điểm thời gian thực tế mà tàu đến ga, hoặc khi bạn có một cuộc hẹn nào đó với người Nhật bạn sẽ thấy họ luôn tới trước so với giờ hẹn ít nhất là 5 phút. Việc đúng giờ đã trở thành thói quen ăn sâu vào mỗi cá nhân và dần trở thành một quy tắc ngầm, một ý thức cơ bản của người Nhật. Họ luôn tránh làm phiền người khác do đó việc bạn tới trễ hẹn được coi là hành vi thiếu lịch sự, làm tổn hại tới người khác. Việc đúng giờ là điều nên làm trong mọi tình huống.

    Trong khi đó, ý thức tuân thủ nguyên tắc về thời gian ở Việt Nam dường như chưa được đề cao đúng mức. Việc trễ hẹn 5 hay 7 phút là chuyện bình thường. Và cũng chẳng mấy ai phàn nàn gì về điều đó vì nó đã ăn sâu vào nếp sống của người Việt. Và sự cố gắng để thay đổi một hành vi mà cả xã hội chấp nhận dường như không mấy được bận tâm.

    Người Nhật khi làm việc đều có kế hoạch cụ thể và luôn tuân thủ theo kế hoạch đó để tiến hành công việc, điều này giúp họ có thể quản lý thời gian một cách khoa học dễ dàng tuy nhiên nếu chẳng may kế hoạch bị thay đổi đột xuất những người Nhật sẽ rất dễ bị lúng túng và khó linh hoạt trong việc quyết định.

    Trong khi đó người Việt Nam lại khá nhanh nhạy trong việc thích ứng với sự thay đổi. Tuy nhiên một điều hạn chế trong cách làm việc của người Việt đó là họ không có sự chuẩn bị chu đáo công việc từ trước, thường có xu hướng bắt đầu công việc khi đã sát deadline. Ví dụ cùng với một công việc trong thời hạn thực hiện 2 tuần thì người Nhật sẽ hoàn thành trong tuần đầu tiên còn tuần thứ 2 sẽ dành để chỉnh sửa và hoàn thiện công việc. Còn với người Việt Nam họ sẽ không làm ngay trong tuần đầu mà làm hết sức mình ở tuần cuối. Dù cho có vấn đề phát sinh bất ngờ, họ có thể sẵn sàng thức đêm thức hôm để làm việc.

    Văn hóa trong lối suy nghĩ của xã hội Nhật

    Tại Nhật Bản phụ nữ thường rất ít đi làm, đặc biệt là sau khi lấy chồng và dù có đi làm thì cũng rất khó để lên được chức vụ cao như nam giới. Mặc dù trong những năm gần đây những người phụ nữ đã đi làm nhiều hơn tuy nhiên con số này vẫn rất thấp, chỉ có tới 10% phụ nữ Nhật làm quản lý, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác.

    Ở Việt Nam phụ nữ thường rất độc lập và tự chủ về kinh tế vì họ có sự nghiệp riêng của mình. Tỷ lệ phụ nữ Việt đi làm sau khi lấy chồng rất cao và thậm chí những người làm quản lý hay tổng giám đốc đa phần là phụ nữ đã kết hôn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Về Văn Hoá Giữa Việt Nam Và Phương Tây
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100