Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà

--- Bài mới hơn ---

  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Một nền văn minh vĩ đại đã hình thành ở Trung Đông từ các khu định cư ở vùng Crescent Màu Mỡ. Nơi an tọa của vị thánh siêu quần, chủ nghĩa siêu thực linh thiêng và chủ nghĩa thực dụng tàn nhẫn. Nơi chúng ta có thể tìm thấy cội nguồn luật pháp, buôn bán, tiền bạc và máu đổ tràn lan. “Vùng đồng bằng Lưỡng Hà” trong loạt phim Văn minh Phương Tây.

      Văn minh Lưỡng Hà được hình thành nhờ những nguy hiểm mà họ phải trãi qua. (thiên tai, chiến tranh) (Những cơn mưa xối xả và Con đường chiến trận thuận lợi)

    Khu vườn Địa đàng nhiều thảm họa thiên nhiên, những cơn mưa xối xả, vườn Địa đàng ở phía Đông của Eden: Nào thử bạn có nhận ra đoạn văn này không: ” Và Chúa đã tạo ra 1 khu vườn ở phía Đông của Eden, và ngài đặt ở đó con người ngài đã tạo nên, từ đất mà Chúa đã tạo ra con người. Người còn tạo ra các loài cây trông thì đẹp, ăn thì ngon,.. Và có 1 dòng sông chảy từ Eden tưới cho khu vườn và từ đó nó chia thành 4 nhánh. Nhánh thứ nhất là Pison, nhánh thứ 2 là Gikhon, nhánh thứ 3 là Hiddeken, nhánh này chảy vòng qua Assyria, ở đó chúng ta goi là Tigris, và nhánh thứ tư là Euphrates”. trong Sáng Thế ký. Nó mô phỏng lại hình ảnh của khu vườn giữa ốc đảo của dòng sông thứ 3 và 4 của Chúa. Khu vườn đầu tiên con người sống với các loài động vật ở giữa thiên nhiên hào phóng, và chưa mang lại 1 rắc rối nào. Đó là 1 phần của thiên đường. Và Vườn Địa đàng là 1 tên gọi khác của khu vườn. Và Vườn Địa đàng này chính là đồng bằng Lương Hà cổ đại. Vùng đất giữa những con sông. Nhưng vùng đb Lưỡng Hà và những vùng đất bao xung quanh nó, từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư, từ cao nguyên Iran đến Địa Trung Hải là 1 thiên đường bị bao trùm bởi các thảm họa thiên nhiên như khu vườn địa đàng là thiên đàng dưới bóng đen của sự sụp đổ. Vùng đất phải chịu những cơn mưa xối xả.

    Người Ai Cập đã nói về “dòng sông Nile của bầu trời”. Nó có những cơn cuồng phong và những trận bão cát khủng khiếp, những trận lũ điên cuồng như chúng ta biết về những dòng lũ lớn mà người Do Thái lấy ra từ sử thi Babylon. Dù khi thiên nhiên không còn làm cuộc sống khổ sở và khó lường trước nữa. Nhưng thung lũng sông Nile không bao giờ là lối đi thuận tiện cho những kẻ xâm lược. Một mặt hướng ra biển. Một mặt hướng ra vùng hoang vu ngổn ngang. Vì vậy Ai Cập có thể phát triển nền văn minh của mình, mà không phải chịu cảnh chiến tranh liên miên. Nhưng 2 con sông Tigris và Euphrates là những con đường tự nhiên tuyệt vời, không chỉ để buôn bán mà còn phục vụ cho quân đội di chuyển và sự di cư của loài người. Vì vậy những người ở Lưỡng Hà vừa là binh lính vừa là thương nhân. Chủ nghĩa hiện thực, sự hung ác, nhẫn tâm của họ, một phần là do hoàn cảnh địa lý của họ. Đó cũng là 1 trong những lý do khiến những vị thần của họ trở nên khủng khiếp, không thể dự đoán và có những cách hiển linh rất dễ sợ.

    Do thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh làm các phát minh vĩ đại ra đời: bánh xe, chữ viết trừu tượng, Toán học,…. Sợ thiên nhiên nên cần xây đền thờ.

    Việc xây dựng đền thờ cần nhu cầu có chữ viết để lưu việc thiết kế, thu, chi

    Nhiều thứ lớn lao bao quanh chúng ta ngày nay bắt nguồn từ 1 vùng đất nhỏ, không lớn hơn Đan Mạch, nằm trên châu thổ sông Tigris – Euphrates mà chúng ta biết với cái tên Sumer. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cộng với những cuộc chiến tranh triền miên của họ – đặc biệt là những cuộc chiến tranh do chính họ châm ngòi, đã mở đầu 1 loạt đột phá công nghệ và thúc đẩy chuyển biến về văn hóa, xã hội, kinh tế. Chính tại Sumer, qua hệ thống tưới tiêu và thoát nước, những ngôi làng đầu tiên từ lều tranh và gạch sống đã trở thành thành phố từ thiên niên kỷ IV TCN. Những con người sáng tạo ra nền VM Lưỡng Hà này được gọi là người Sumerian.

    Chính ở vùng đất này, chúng ta cho rằng bánh xe đầu tiên đã ra đời, phát triển từ bánh xe của thợ gốm, chúng đã thay thế các chiếc xe trượt tuyết, được vận chuyển để chở những hàng hóa nặng. Khoảng 2000 TCN, nan hoa được phát minh, làm những chiếc bánh xe nhẹ hơn nhiều. Và sau đó trục xe được phát minh. Và vì vậy những người ở Cận Đông là những người đầu tiên đi săn và đánh trận bằng xe ngựa. Công cụ này mang lại cho họ lợi thế rất lớn. Cho đến khi lịch sử bắt đầu, tức là khi những văn bản (chữ viết) đầu tiên xuất hiện, khoảng 3000 TCN, chúng ta tìm thấy ở Sumer không chỉ những thành phố mà cả những đền thờ rộng lớn và cấu trúc xã hội phức tạp được lãnh đạo bởi các thầy tu. Mối liên kết xã hội được tạo ra không chỉ bởi dòng sông và nguồn nước của nó như ở Ai Cập mà còn bởi ngôi đền. Ngôi đền điều khiển, thống trị cả cộng đồng, và các vùng quê. Quanh đền thờ 1 thành phố mọc lên.

    So sánh chữ viết của người Lưỡng Hà và Ai Cập, chữ viết LH trừu tượng hơn: Và chữ viết khi đã được người Lưỡng Hà phát triển, phản ảnh 1 trong những sự khác biệt chính giữa họ và người Ai Cập. Năng lực của họ về mức độ của sự trừu tượng hóa. Hãy nhớ rằng chữ tượng hình của người Ai Cập là 1 hình ảnh, là 1 bức tranh. Người Ai Cập là người tư duy cụ thể, nên kể cả khi họ đã sử dụng những ký hiệu để diễn tả 1 âm thanh hay 1 âm tiết, thì họ luôn muốn sử dụng hình vẽ. Kể cả khi ký hiệu Alphabe cũng không chỉ đơn thuần là những chữ cái trừu tượng, mà là những bức tranh nhỏ theo cách của chúng. Nhưng sau đó những người kế tục Sumerian, người Semite, tiến thêm 1 bước. Những người Semite đến từ sa mạc Ả Rập, họ đến châu thổ Lưỡng Hà vào thiên niên kỷ thứ III. Ngay sau đó họ tiếp thu được nền văn hóa Sumerian, họ đã kết hợp các dạng chữ cái Alphabe với những đường nét hình ảnh thành 1 hệ thống duy nhất với những ký hiệu trừu tượng thay thế những bức tranh cụ thể. Nhiều bức tượng Sumerian có xu hướng trừu tượng hóa.

    Người L Hà cũng rất giỏi Toán học, lĩnh vực mà người Ai cập tỏ ra cụ thể và chặt chẽ hơn nhiều. Đây là 1 phiến đất sét viết về 1 bài toán của những học viên L Hà.

    Tôn giáo siêu thực linh thiêng khác với tôn giáo Ai Cập bắt chước thần thánh: Trong tôn giáo cũng có những điểm khác biệt. Xã hội Ai Cập 1 mực bắt chước thần thánh. Nhưng trên thực tế, Ai Cập chính họ đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, 1 bản sao của thế giới thực, nhưng rộng lớn hơn và tốt đẹp hơn nhiều. Đây cũng là điều chúng ta tìm thấy ở Hy Lạp cổ đại. Mặt khác, người Simites đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, nó xa lạ với chính nó và tách biệt với tính thần thánh của nó. Họ đã cố ý sử dụng 1 dạng chủ nghĩa siêu thực linh thiêng để thoát ly khỏi chủ nghĩa hiện thực. Nhấn mạnh vào những khía cạnh siêu phàm của thần thánh, những đôi mắt to lớn biết thôi miên và những đặc điểm siêu nhiên của họ. Bạn có thể nói khi mà người Ai cập bắt được sự khác nhau giữa con người và thần thánh bằng cách mở rộng quy mô của mọi thứ, bằng cách xây dựng những ngôi mộ, bức tượng và hình ảnh lớn hơn, thì người Simites lại quan tâm đến chất lượng, sự bí mật, những ảo mộng và bản chất. Những ngôi đền của cư dân Lưỡng Hà và đời sống tôn giáo không chỉ phản ánh rõ ràng khuynh hướng trừu tượng này mà còn giúp tạo nên và tổ chức sự trừu tượng đó.

    Đó là do cuộc sống và xã hội người Lưỡng Hà tập trung phục vụ những ngôi đền, thần thánh và các thầy tu, ít nhất là vào giai đoạn đầu.

    – Hoạt động buôn bán, khuếch tán văn hóa: Thời gian. Nhưng những ngôi đền và những người phục vụ đền đài không tồn tại trong sự biệt lập. Thứ nhất, thành phố Sumerian cần nhiều hàng hóa nhập khẩu: gỗ, đá để xây dựng; kim loại để làm ra dụng cụ và vũ khí và sau đến là lễ vật dâng thần linh. Những viên đá quý giá từ Afganistan và Ấn Độ. Những viên ngọc trai từ vịnh Ba Tư. Và do đó họ buôn bán, buôn bán rộng rãi và nhộn nhịp. Một tầng lớp thương gia hỗn tạp và độc lập dần dần hình thành. Những đoàn dân buôn có vũ khí và các con tàu buôn thời bấy giờ là những tác nhân mạnh mẽ khuếch tán văn hóa của họ.

    Những thợ thủ công tự do có thể đi cùng những đoàn buôn tìm kiếm thị trường cho sản phẩm của họ. Nô lệ cũng là 1 phần trong hoạt động thương mại, bởi vì kẻ thù bại trận còn sống thì hữu ích hơn đã sống. Và những nô lệ này, cùng đi với đoàn buôn trên ngựa, hoặc trên tàu, sẽ phải được sắp xếp chổ ở khi tới các thành phố. Những người nước ngoài sẽ đòi hỏi, được đáp ứng về nhu cầu tôn giáo, giống như ngày nay có 1 nhà thờ Mỹ ở giữa Paris. Như thế những nghệ thuật và nghề thủ công đắc dụng được phát tán dễ dàng. Ví dụ cây rìu có chuôi của người Lưỡng Hà, là 1 sự phát triển lớn lao của cây rìu cổ xưa, được quấn quanh bởi những sợi thừng nhỏ. Những cây rìu của họ đã chu du tới Biển Đen và thành Troy. Những cái bánh xe quay tít của người thợ gốm, đã làm ra những cái lọ như thế này và được mang về phía Đông tới Ấn Độ, mang về phía Tây tới Hy Lạp, Ai Cập.

    Và Ai Cập đã tiếp thu những kỹ thuật làm chai lọ của người Lưỡng Hà 1000 năm sau khi chúng được phát minh ra. Khoảng 2500 TCN, Ai Cập mới tiếp thu làm chai lọ.

    – Nhưng quan trọng nhất có lẽ là những người thợ kim Lưỡng Hà và Anatonia (phía Bắc Lưỡng Hà) đã tìm cách sử dụng lò nung, để nung chảy các loại quặng: đồng đỏ vào khoảng thiên niên kỷ thứ tư, đồng vào thiên niên kỷ thứ 3 và sắt vào thiên niên kỷ thứ 2. Điều này đã làm ra các vạt dụng mới đẹp đẽ nhưng cùng làm ra các công cụ chiến tranh, giống như chiếc mũ sắt này. Kim loại cứng hơn tạo ra vũ khí mạnh hơn, dẫn đến áp đảo đối phương trong chiến tranh, và cũng áp đảo trong buôn bán vì bất cứ những gì bạn làm ra tốt hơn đối thủ của bạn, và bạn có thể bán chúng.

    – Buôn bán cũng làm cho dòng máu Sumerian pha trộn nhiều hơn, bởi vì những nhà buôn di chuyển, những nghệ nhân thợ thủ công di chuyển và nô lệ cũng đi từ nơi này tới nơi khác, vì vậy dòng máu nguyên thủy, mà tất cả người Sumerian bấy giờ thừa kế, từ 1 tổ tiên chung, ngày càng bị pha trộn mất. Kết quả là việc trông giữ ngôi đền trong thành phố lỏng lẻo dần. Và thánh nam thánh nữ trị vì thông qua các thầy tu cao nhất bị thay thế bằng 1 người thống trị thế tục hoặc 1 ông vua giống như thế này.

    – Quyền lực thế tục: Họ trị vì đất nước dưới danh nghĩa thần thánh. Bạn có thể nghĩ như thế cũng chẳng khác gì nhau, nhưng nó là bước đầu tiên tới sự quyền lực thế tục. Không thiêng liêng, ko cúng lễ, quyền lực giờ trong tay 1 người phàm trần. Mặc dù những ông vua thế tục này chỉ được coi như đại diện của thần thánh, được ủy thác để thực hiện ý chí của họ. Khi họ chiến đấu có thần chỉ huy, quân đội của họ và chính thần đánh trận chứ không phải họ. Điều đó có nghĩa là chiến thắng trong 1 trận chiến, xác định phận sự thiêng liêng của nhà vua. Và khi họ xây dựng luật pháp, họ chỉ đơn giản là diễn giải và áp dụng những nguyên tắc mà thần thánh đã nói cho họ, ngài muốn con người làm theo. Trong khi đó ở Ai Cập, công lý là 1 khía cạnh của trật tự thiêng liêng, trong đó pharaoh là 1 phần không thể tách rời. Ở đồng bằng L Hà cũng như Israel, công lý là biểu hiện các mệnh lệnh của thần thánh, ý chí của thần thánh, được viết ra bởi những người mà thần thánh tin tưởng. Ví dụ như cách mà Chúa tin tưởng Moses. Và vì vậy đấng thần linh tạo ra luật pháp, và những người truyền đạt luật pháp không còn là 1, và với sự tách biệt này, luật pháp có cuộc sống riêng của nó. Ví dụ 1 bộ luật thành văn là 1 giao kèo giữa 2 bên. Dân chúng phải tuân lệnh nhà vua, phải tuân theo luật của vua. Nhưng vua cũng phải tuân theo qui định dành riêng cho vua trong chính bộ luật đó. Và như thế, không ai đứng trên luật pháp, ít nhất trên lý thuyết là như vậy. Và mặc dù từ thời đó cho đến nay, lý thuyết thường bị phớt lờ. Đó vẫn là nguyên tắc cơ bản, có sức mạnh lớn lao, trường tồn. Bởi vì nó được tôn trọng thậm chí trong xung đột. Và vì vậy việc xây dựng và viết bộ luật thành văn bản sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và tư tưởng chính trị của cả xã hội qua các thời đại.

    – Chiến tranh tranh giành đất đai giữa các thành phố, hình thành đế chế: Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các vị vua của cư dân L Hà, chủ yếu là người điều hành quân đội và cương vị đó, chắc hẳn làm họ rất bận rộn. Bởi vì chiến tranh đóng 1 phần lớn trong cuộc sống của xã hội cổ xưa. Mặc dù những người nông dân này sản xuất thừa thải, nhưng chủ yếu nông sản tập trung vào tay 1 nhóm nhỏ trong xã hội. Điều này đã giới hạn khả năng mở rộng dân số nông thôn. Vì vậy nông dân nghèo phải tìm 1 vùng đất mới để sống. Thành phố Sumerian (chú trọng) việc khai hoang ở vùng sa mạc lẫn đầm lầy. Nhưng sau đó cũng như ngày nay, phần lớn những dụng cụ tiết kiệm lao động hiệu quả nhất bị ăn cắp. Vì vậy, có những cuộc chiến không ngừng giữa các thành phố, cố chiếm hoặc đoạt lại đất từ bên kia. Cuối cùng, chủ nghĩa đế quốc đúng nghĩa sẽ phát triển từ những cuộc chiến tranh như thế. Một số thành phố hoặc vùng đất sẽ mở rộng xa hơn, triệt tiêu các đối thủ xung quanh nó, và thiết lập sự thống trị của nó và sự thống trị của thần thánh mà nó đại diện lên những thành phố khác. Qua nhiều thế kỷ, bắt đầu khoảng 2400 TCN, có hàng loạt các đế chế, đầu tiên là các thành phố của người Ur hay Lagash và các thành phố ở phía Bắc như Akkad của người Semite (Sargon). Vị trí chính xác của Akkad vẫn chưa được xác định. Cuối cùng là Babylon, thủ đô của 1 dân tộc Semites, người Amorites. Babylon là 1 thành phố thương mại lớn nhất vùng. Có 1 lượng ngôn ngữ và phương ngữ khổng lồ được nói rất nhiều trên đường phố và các khu chợ. Nơi đã khơi dậy, truyền cảm hứng cho huyền thoại về tháp Baben. Mặc dù những ngôi đền bậc thang hay kim tự tháp bậc thang đầu tiên được tạo nên bởi người Sumerian.

    Bộ luật đầu tiên Hammurabi: Khoảng 1800 TCN, vua Babylon Hammurabi (1810 – trị vì 1792 – 1750 BC), đứng bên trái, đã công bố cho toàn dân 1 bộ luật viết tay, công và tư. Bộ luật Hammurabi đã được khắc ở đây, trên 1 bia tưởng niệm, đã trở thành nền tảng của luật thương mại quốc tế, làm xương sống cho các hợp đồng, lợi tức, các dạng thế chấp và tất cả các loại giao dịch thương mại. Nó cũng bao gồm cả mảng hình sự và khá nghiêm khắc trong lĩnh vực đó: “Luật thứ 8” nếu 1 người ăn trộm bò, cừu, lừa, lợn hay lạc đà của đền thờ hay cung điện sẽ bị phạt gấp 3 lần. Nếu lấy trộm của người bình thường, hắn sẽ bị phạt gấp 10 lần. Nếu tên trộm không thể trả tiền, hắn sẽ bị khép tội chết. Luật thứ 110: nếu 1 nữ tu sĩ, 1 người phụng sự cho thần thánh, mà không sống trong nhà tu kín, mở cửa 1 quán rượu hoặc đi vào quán rượu và uống rượu sẽ bị thiêu sống. Luật 196: nếu 1 người làm 1 quý ông mù mắt, hắn sẽ bị móc mắt. Vì vậy nền văn minh L Hà là nơi đầu tiên khai sinh ra những thứ mà ngày nay chúng ta cho là dĩ nhiên. Bao gồm cả luật nợ máu phải trả bằng máu. Cả bộ luật và các văn tự đã được chuẩn hóa dùng để lưu giữ bộ luật, đều đến từ hoạt động buôn bán.

    Cân đo đong đếm – Tiền: Bởi vì họ phải viết ra những thỏa thuận, và phải làm cho những thỏa thuận này thực sự có hiệu lực. Và cũng chính người đã phát minh ra việc cân đong đếm, rất cần thiết cho việc buôn bán và cực kỳ hữu ích để thống kê thu chi của đền thờ,và việc xây dựng các công trình công cộng. Và trong lúc ấy kiểu quan hệ có trật tự của cư dân thành thị, đã đòi hỏi cách chia thời gian chính xác hơn người nông thôn. Vì vậy người Sumerian đã chia ngày và đêm thành 2 giai đoạn 12 giờ, tức là 24 giờ như chúng ta có ngày nay. Họ đã chế tạo ra nhiều dụng cụ để đo những khoảng thời gian này. Họ và người Babylon cũng chia năm ra thành tuần, mỗi tuần có 7 ngày. Ý tưởng này sau đó được người Do Thái học tập và tiếp tục phát triển, bằng cách đưa ra 1 ngày nghỉ cuối tuần.

    Và cuối cùng những người Sumerian và những người bà con đầu nguồn của họ đã phát minh ra đơn vị đo mà ta gọi là tiền. Cho đến lúc đó thì sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ đã đóng 1 vai trò thực sự quan trọng trong nền kinh tế mới và 1 chuẩn mực chung là rất cần thiết để tất cả các loại hàng hóa đều được đo lường, đều được định giá. Cuối cùng thì 1 con bò đáng giá bao nhiêu? Hay 1 cái bình? Hoặc 1 tên nô lệ? và những chuẩn giá trị mang tính quy ước này sẽ được sử dụng như 1 vật ngang giá trong trao đổi, mà bạn có thể dùng để mua các vật dụng, và định giá công lao động – tức là trả lương.

    Vì vậy chuẩn đầu tiên được sử dụng có lẽ là lúa mạch, 1 thứ thiết yếu của cuộc sống. Trên thực tế, trả lương và trả tiền thuê nhà đất là hình thức chuyển đổi phổ biến nhất, dùng lúa mạch trong suốt 2000 năm, thậm chí cho đến khi Hammurabi ra đời, khoảng từ 1800 đến 1700 TCN. Nhưng sau đó là kim loại, cụ thể là bạc và đồng (cho những giao dịch nhỏ) đã được thừa nhận là vật ngang giá thuận tiện nhất. Thế kỷ thứ VIII TCN, vua Assyri đã bắt đầu đóng dấu trên những thanh bạc. Vào TK thứ VII TCN, các vị vua Lydian bắt đầu làm đồng xu như thế này. Nhưng ban đầu giá trị của bạc hay đồng trong trao đổi không phải là giá trị quy ước mà là lượng kim loại trong nó. Như vậy bạn phải cân, 1 chút bất tiện.

    Dù vậy, sự chấp nhận vật ngang giá bằng kim loại mang tính quy ước đã đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ nền kinh tế tự nhiên trong đó các vật dụng được đổi chác trực tiếp sang nền kinh tế tiền bạc, trong đó mọi thứ đều có thể được định giá, bằng rất nhiều đồng bạc hoặc nhiều bó lúa mạch. Và kết quả của việc này là bạn có thể đánh giá tài sản của ai đó không phải ở thực phẩm, ở nô lệ hay các vật dụng khác (chính chúng cũng có thể bị tiêu thụ, sử dụng hay thưởng thức) mà bằng 1 vật ngang giá trừu tượng chung thứ không thể được tiêu thụ mà chỉ có thể được trao đổi để lấy bất kỳ vật dụng hay dịch vụ hữu ích nào. Vì vậy người sản xuất có thể sản xuất chỉ để bán ra thị trường chứ không phải cho chính họ hoặc lao động cho 1 người có nhu cầu gì đó và sẵn sàng trả công cho anh ta. Bạn có thể sản xuất cho thị trường, bạn có thể tự định giá cho thị trường. Và bạn cũng có thể thể đổi nó đi, và dùng nó để lấy những gì bạn muốn ở 1 thời điểm khác. Thêm nữa vật ngang giá mới có thuộc tính như lúa mì, lúa mạch và gia súc: nó có thể tái tạo, nó có thể sinh sôi. Giống như ngũ cốc, giống như thú nuôi. Tiền có thể xem như nguồn vốn và có thể được sử dụng để đảm bảo nguồn thu tức là lợi nhuận và nếu bạn cho vay bạn sẽ được lãi. Vì vậy cho đến thời Hammurabi, khoảng 3800 năm trước, xã hội rất cần 1 hệ thống pháp luật, và bộ luật Hammurabi ra đời. Chúng ta sẽ xem xét nó trong chương trình tiếp theo….

    Ở các đế quốc Assyria, Persia và Neo-Babylon, kim loại đã làm một cuộc cách mạng không chỉ trong sản xuất dụng cụ mà còn trong cả xã hội.

    Vai trò to lớn của kim loại, nhất là sắt trong phát triển văn minh nhân loại

    Từ các cuộc chiến tranh đẫm máu của các đế chế cổ đại Assyria, Babylon, Ba Tư,…(1945 BC – 328 BC) hình thành nên nền văn minh. Khi 1 đế chế lật đổ 1 đế chế khác, thương mại và văn hóa phát triển, người man di bị chế ngự, những thành phố mới mọc quanh Địa Trung Hải. Nhờ vai trò của sắt.

    Chiến tranh tìm kiếm nguyên liệu, đã tạo sự thịnh vượng vùng Trung Đông: Vấn đề TIỀN: Ở vùng Lưỡng Hà, những nhà buôn ngày càng giàu có, ngân quỹ các ngôi đền ngày càng tăng. Họ còn cho vay tiền lấy lãi. Hoạt động như những Ngân hàng. Và thật sự, sự thịnh vượng này chỉ dành cho 1 phần nhỏ dân số. Thật kỳ quặc, 1 trong những nhân tố gây nên sự thịnh vượng và phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của kinh tế TNK 3, đó là những cuộc chiến tranh cướp bóc tàn bạo. Mà nhờ đó các hoàng đế của Akkad (2334 BC), sau đó là Babylon (1894 BC), Nineveh ghi danh vào lịch sử. Chính chiến tranh, chứ không phải hòa bình, đã dẫn tới bước nhảy vọt nhất của xã hội. Một phần mục đích của các cuộc chiến đấu này là kim cương và quặng kim loại mà họ không thể hoặc không muốn bỏ tiền ra mua của những bộ lạc thổ dân hay của ngoại quốc.

    Người Ai Cập thường hay tiến hành các cuộc viễn chinh để lấy quặng đồng trong sa mạc Sinai. Tương tự như thế người Sumer, và đặc biệt hơn là những vị vua Semitic ở Akkad và Babylon đã phái những đoàn thám hiểm tới phía Bắc và Tây để lấy những nguyên liệu thô họ cần: kim loại, đá, gỗ. Những cuộc chiến tranh cướp bóc của các vị hoàng đế như Sargon, Assyria khoảng 1850 TCN cũng gây thương vong khủng khiếp. Assyria, bắc Lưỡng Hà, các vị vua ngập chìm trong kiêu căng và máu. Những thành phố bị chiếm, cướp và thiêu cháy. Những tù nhân bị lột da sống hoặc đóng cọc xuyên qua người. Đầu, bàn tay và chân bị cắt ra nhiều vô kể.

    Chiến lợi phẩm quá dồi dào, chuyển thành hàng hóa làm phát triển kinh tế tiền tệ, phát triển giới thương nhân trung lưu: Nhưng bên cạnh sự cướp bóc, giết người và trấn áp là danh sách dài những chiến lợi phẩm vàng bạc, kim loại, nông sản, gia súc và nô lệ. Vua Arsurbanipal, Assyria, vào TK 7 BC đã khoe khoang như sau: con người, lừa, lạc đà, cừu ta mang về Assyria như hàng hóa. Khi Arsurbanipal phân phát lạc đà và cừu cho nhân dân, nhiều tới nỗi làm giá sụt xuống, cho tới khi chúng có 1 sự cân bằng trên thị trường. Những người chủ quán rượu được lạc đà. Những người nô lệ cũng có lạc đà. Sự phân phối những chiến lợi phẩm tràn lan (những thứ đáng lẽ cất trong kho nếu 1 đất nước không bị xâm lược) đã làm lan tỏa sức mua ra cả Lưỡng Hà. Điều đó khuyến khích cung và cầu đồng thời tù nhân bổ sung nguồn nô lệ và nhân công có tay nghề. Những nhà buôn ký giao kèo để được tùy ý sử dụng những của cướp được và đồ cống nạp sẽ kiếm nhiều lợi lộc. Và những người làm công cho họ cũng có lợi. Chúng ta gọi đó là giai cấp trung lưu, nằm giữa nhóm chính phủ và các thầy tu và bên kia là số đông người nghèo khổ. Nền kinh tế tiền tệ lan rộng cho đến khi cả đất đai không còn là riêng của Thượng đế hay vua, nó cũng có thể được mua bán giống như những vật phẩm khác.

    Công nghệ mới vũ khí đồng – kinh tế kim loại bền vững – thị trường thành thị: Chiến tranh giúp truyền bá cái ta gọi là có thể gọi là “văn hóa”. Ví dụ sự thành công của quân đội Akkadian là do họ có vũ khí và áo giáp bằng đồng. Muốn chống lại người Akkadian bắt buột phải có quân trang tương tự. Phải tìm thợ rèn và cung cấp nguyên liệu thô. Phải tổ chức thương mại. Những đế quốc như vậy ở Lưỡng Hà, có kẻ đi chinh phục và đồng hóa và có kẻ phản kháng lại. Và như vậy, sự phản kháng cũng làm nảy sinh các hình thái kinh tế thời đồng thau phụ thuộc vào thương mại. Cũng giống với kinh tế của kẻ xâm lược, người phản kháng có thể tạo ra. Trên thực tế, trong suốt lịch sử, tác nhân phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và kinh tế không phải cái cày mà chính là cổ chiến xa.

    Thực tế vào đầu Đồng thau, khoảng 2400 TCN, cũng là thực tế ở thời kỳ hỗn loạn, nhiều thế kỷ sau đó, khi các triều đại man di kế tiếp nhau ở Babylon và tài sản, cuộc sống của tất cả mọi người đều bị đe dọa trước những cuộc tấn công liên miên thời đó.

    Điều gì đã xảy ra trong những sự kiện đó? Là sự cướp bóc ở những làng quê. Sự sụp đổ của các khối bất động sản lớn. Điều đó nhấn mạnh 1 chân lý: nền kinh tế kim loại bền vững và cơ động có giá trị hơn nhiều so với kinh tế nông nghiệp thiết thực nhưng dễ phá hủy. Bảo vệ 1 túi bạc dễ hơn 1 cánh đồng lúa mạch. Trong suốt giai đoạn này, nền kinh tế tự nhiên đã sụp đỗ trong hỗn loạn hết lần này tới lần khác nhưng khuyến khích phát triển kinh tế tiền tệ. Kinh tế tiền tệ phát triển hay ít nhất sự trao đổi đã phát triển, thì việc sản xuất phục vụ thị trường trở nên thông dụng. Những thương nhân thấy họ có thể dùng thuyền nhập khẩu 1 số mặt hàng và họ kiếm được nhiều tiền hơn là làm đại lý mua 1 vài sản phẩm theo đặt hàng của Vua hay 1 đền thờ nào đó. Trên thị trường có nhiều người mua hơn. Ở Lưỡng Hà cũng như Ai Cập, cuối thiên niên kỷ thứ 2 đã chứng kiến sự lớn mạnh của 1 nhóm công chức trí thức được chính quyền chọn lựa, từ những thư lại nhỏ đến thẩm phán, làm nhiệm vụ thu thuế và tiền phạt và thống kê lại. Họ được trả công bằng tiền, họ không có đất đai riêng, không tự sản xuất ra nhu yếu phẩm. Cũng như những binh lính không sản xuất gì cả chỉ chinh chiến mang về các tù nhân và hàng hóa. Họ họp lại thành những người mua hàng ở thị trường. Có sự tăng số lượng giáo sỹ, thầy tu chuyên nghiệp đồng thời là nhà cầm quyền có thế lực, những công dân mộ đạo sẵn sàng cúng tiền cho đền thờ và nhà nguyện. Những thầy tu cũng là người mua hàng. Và như thế, thợ thủ công và nông dân có 1 thị trường ngày càng lớn (như những vại gốm). Như vậy bên cạnh việc đâm chém, bắt đầu chia sẻ lợi ích từ 1 nền văn minh chung.

    Sắt làm cuộc cách mạng – Mở rộng chiến tranh: Kim loại vươn tới làng quê, nông dân Ai Cập bắt đầu sử dụng công cụ kim loại. Vào khoảng 1700 hoặc 1600 TCN, đồ sắt hiếm đến nỗi nó đắt gấp 2 lần vàng. Sau 1200 TCN, họ biết hòa tan Các bon vào làm sắt cứng hơn, đồ sắt ngày càng rẻ hơn, cho phép tạo ra những cụ sắc nhọn dùng để cắt lông cừu, thiến súc vật hay con người. Sắt có sẵn và rẻ hơn đồng thau, nó dân chủ hóa (xã hội hóa?) nền công và nông nghiệp. Cho mãi đến khoảng 800 – 900 TCN kim loại rẻ mới hoàn chỉnh quá trình mà các đế quốc kinh tế đã bắt đầu từ 1000 năm trước đó. Người nông dân cuối cùng đã có thể mua rìu và lưỡi cày kim loại. Thợ thủ công bình thường có riêng bộ đồ nghề và không phụ thuộc vào Nhà thờ và ông chủ. Những người bình thường cũng có những vũ khí bằng sắt và trở thành hiệp sĩ thời đồ đồng. Kim loại đã dân chủ hóa (phát triển, mở rộng) chiến tranh. Những người nghèo và thổ dân lạc hậu bây giờ có thể thách thức quân đội của những đất nước văn minh, những người trước đó độc quyền binh khí đồng. Vai trò của sắt hay quá. Vậy 1 lần nữa, ảnh hưởng giữa chiến tranh và công nghệ trở nên rõ ràng. Thời đại đồng thau sụp đổ khoảng cuối TNK 2 và chúng ta thấy nổi lên những đế chế quân đội hùng mạnh có thể thực hiện ước mơ của các cường quốc Lưỡng Hà trước đó bằng cách gộp tất cả đất đai và nông sản mà nền kinh tế tự nhiên nghèo nàn của họ có thể cần tới. Tiếp theo là hàng thế kỷ của chết chóc và hổn độn.

    Nhưng lịch sử đã tiến thêm 1 bước. Khoảng giữa 1000 và 500 TCN, khu vực thuần túy thành thị đã mở rộng ra, lớn rất nhiều so với lúc nó mới xuất hiện vào TK 15 của thời đại đồng thau. Sự mở rộng chủ yếu nhờ những đế chế hùng hậu của Assyria và Tân Babylon và Ba tư. Mỗi đế chế đã hợp nhất những lãnh thổ vô cùng rộng lớn, mặc dù phải đánh đổi bằng rất nhiều tài nguyên và tính mạng.

    – Phát triển ngôn ngữ: Nhưng sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự giao thương chưa từng có, trên 1 vùng rộng lớn hơn trước rất nhiều. Khi quân đội, nô lệ, nghệ nhân và thương nhân di chuyển khắp khu vực rộng lớn này họ đã phát triển Alingua Franca, một thứ ngôn ngữ chung để giao tiếp. Nó là 1 ngôn ngữ Syrian từ vùng xung quanh Damascus và nó được gọi là Aramaic. Có chữ viết 22 ký tự, tất cả là phụ âm, giống như mọi ngôn ngữ Semitic khác. Sau đó nó được tiếp nhận bởi người Chadeal, chủ nhân Babylon, sau đó thành ngôn ngữ chính thức của đế quốc Ba Tư. Vào khoảng TK 6 TCN, trong quá trình nó đã thay thế tiếng Hebrew, trong 1 vài văn bản kinh Cựu ước. Và nó có lẽ chính là ngôn ngữ mà Chúa và các tông đồ của Người đã nói.

    – TK 5 BC, Hệ thống đường đưa thư, cống phẩm hình thành – Sự di dân – Phát triển các thành phố đa sắc tộc – Quân đội cũng cần nguồn từ các dân tộc thiện chiến – Phát triển văn minh hội tụ: Nhiều thế kỷ sau dó, người Assyria và nhiều hơn nữa, người Ba Tư, còn xây dựng những con đường đưa thư để thu thập cống phẩm hiệu quả hơn và những con đường này in vết chân của cả quân đội, viên chức, người đưa thư và các nhà buôn. Đến TK thứ 5 TCN, ngay cả những người bần cùng nhất, giống như Herodotus, nhà kí sự chuyên nghiệp đầu tiên, cũng đủ tiền để đi đến miền Viễn Đông châu Á. Người Assyria và người thừa kế của họ, Tân Babylon đã cưỡng chế di cư, những cộng đồng dông đúc từ đầu này sang đầu kia của đế chế. Họ đuổi dân chúng đi khỏi quê hương của họ để bớt nguy hiểm hơn. Hành động này mang lại 1 kết quả không được dự đoán trước: các thành phố lớn trở nên rất đa dạng về sắc tộc và văn hóa.

    Trong số các dân tộc nạn nhân của Assyria có Do Thái. Người Do Thái có lẽ tới từ Ur, Lưỡng Hà. Nhưng cuối cùng họ đã đến phía Tây, Canaan, sau khi vòng qua Ai Cập. Người Do Thái đã thiết lập 2 vương quốc ở Canan. Judah, kinh đô là Jerusalem. Và Israel. Israel bị phá hủy bởi người Assyria vào năm 722 TCN. Những văn bản Cựu ước Isaiah, được viết ngắn gọn sau đó: “Đất nước của ta chỉ còn là 1 đống đổ nát. Thành phố của ta bị thiêu cháy trong lửa; những kẻ ngoại bang tàn phá đất nước ngay trước mặt ta” “Vương quốc hoang tàn vì bị ngoại bang lật đổ, và đứa con gái của Zion bị bỏ lại, giống như 1 căn lều trong vườn nho, hay 1 túp lều giữa cánh đồng dưa, như 1 thành phố bị vây hãm”. Năm 586 TCN, vương quốc phía Bắc của người Do Thái, lại bị đánh bại, lần này bởi nhà vua Babylon Nebuchadnezzar II. Hàng ngàn tù nhân bị đem tới Babylon, biến thành nô lệ, cùng với các dân tộc khác. Có nhóm đưa vào phục vụ quân đội đế quốc.

    Vào TK 6 và 5 TCN, những hoàng đế Ba Tư đã thuê các cung thủ từ Trung Á và các đoàn chiến xa Ấn Độ để hợp binh cùng quân của Syri và lính đánh thuê Hy Lạp. Những người này đã trao đổi cho nhau mầm mống nền văn minh của họ, giống như đoàn xe hay đoàn thuyền buôn, đang di chuyển ngày 1 nhiều, trên khắp đế chế rộng lớn bao la, tương đối bình yên, tương đối an toàn. Đế chế lớn nhất trong số này, được thành lập vào TK 6 TCN khi Cyrus Đại đế liên kết với Babylon, sau đó ngài đã lãnh đạo 1 cuộc nổi dậy chống lại người Medes, lúc đó là thống trị của Ba Tư. Nhờ những cuộc chinh phạt sau đó, đế chế Ba Tư được mở rộng từ Ấn Độ tới biển Aegean.

    Người Ba Tư là những chiến binh trên lưng ngựa, thống trị 1 đế chế hổn tạp vô cùng. Với tư cách là kẻ chinh phục, Ba Tư và Medes có được đặc quyền là chủng tộc vượt trội. Hoàng đế của họ không phải là Chúa Trời, mà là đại diện cho Người. Những người địa phương đã bị lợi dụng để sai khiến, cách Chúa Trời lựa chọn Ngài cũng đặc biệt. Người lính chủ nhân của con ngựa, một động vật dễ hoảng sợ, đầu tiên cất tiếng hí chào bình minh sẽ trở thành Hoàng đế. Dù Hoàng đế vĩ đại là người thường hay thần thánh thì thần dân vẫn phải dâng cống phẩm, như hình trên thành Persepolis, thủ đô Ba Tư, nay thuộc Iran. Người Medes và Ba Tư chỉ phục vụ trong quân đội, nhưng khi đế chế mở rộng, không đủ người. Các dân tộc bị chinh phục cũng tòng quân. Điều đó họ bắt buột phải chiến đấu bảo vệ nhà nước đã biến họ thành nô lệ. Vì vậy người Ba Tư không thể tin họ hoàn toàn, thực tế đã chứng minh điều đó.

    Trong 1 thế kỷ hay dài hơn, nhà nước tập quyền và quan liêu Ba Tư đã giữ hòa bình, nhiều hay ít, không gì để chê trách. Sự hòa bình đó đã truyền bá văn minh từ Tiểu Á đến Địa Trung Hải.

    Dân man di tiếp thu văn minh tổng hợp làm phát sinh Văn minh La Mã: Tại vùng biển kín lớn nhất thế giới, vài trăm năm trước khi Chúa Giê – su ra đời, thấy những người dân man di vạm vỡ được khai hóa khi cọ sát với người Syri, người Phê ni xi, Assyri, Ai Cập. Chính những người dân man di này sắp tạo ra 1 thời kỳ phục hưng của trí tuệ và nghệ thuật, sự kết hợp giữa sức mạnh và 1 tầm nhìn mới, với những kỹ năng, cái mà họ đã học từ những nền văn hóa cổ xưa Cận Đông.

    Sau TK 9 TCN, người Phê ni xi lập những thành phố mới xung quanh Địa Trung Hải. Sau TK thứ 8, người Hy Lạp thành lập các thành phố của họ ven Bắc Địa Trung Hải và Biển Đen. Nhưng những TP đó không được xây dựng để trở thành thủ phủ hay đồn đóng quân hay trung tâm thu thuế cho chính quyền trung ương như những thành phố châu Á, Mà là, là nơi định cư ở nước ngoài, để nông dân ra ngoại quốc ở. Vì miền duyên hải chật hẹp của Phê ni xi hay những thung lũng nhỏ bé của Hy Lạp không đủ chổ cho họ. Cái mà những kẻ thực dân này muốn là đất mới để trồng trọt, khu nuôi cá mới, căn cứ mới để cướp biển và mua bán. Thế là người Phê ni xi chiếm Bắc Phi làm thuộc địa. Và từ Carthage họ tỏa ra chiếm Tây Sicile, Sardinia, bờ biển Tây Ban Nha làm thuộc địa. Trong khi người Hy Lạp tỏa ra xung quanh Biển Đen và miền Đông Sicile.

    Sau đó, chính người Etruscan (750 – 550 BC), 1 tộc nhỏ ở bán đảo Ý có thể thu nhận nền văn minh nhờ việc làm lính đánh thuê trong quân đội các đế quốc phía Đông và đã đặt được ách thống trị lên những người nông dân Ấn Âu xung quanh Florence. Người Etruscan áp đặt loại hình văn minh của họ lên những thổ dân bản địa và thành lập những thành phố nhỏ, những trung tâm của 1 nền kinh tế thành thị. Nhưng 1 số dân tộc bị họ thảo phạt quá tàn nhẫn có thể đánh bật họ ra khỏi đất nước và quay lại dùng văn minh như 1 vũ khí chống lại họ. Đáng chú ý nhất là 1 bộ tộc mông muội ở Trung Italya gọi là người La Mã.

    – Chữ viết: Dù sao đi nữa, 1 thứ những kẻ thực dân Phê ni xi và Hy Lạp đem tới đây là dạng chữ viết đơn giản, 22 ký tự phụ âm. Chữ viết này đã phát triển ở 1 số thành phố người Canaanite hay Phê ni xi và trở thành tổ tiên của chữ viết ngày nay. Cùng với bảng chữ cái để đơn giản hóa những công việc, việc đọc và viết đã trở nên đơn giản không kém ngày nay. Biết đọc, biết viết không còn độc quyền huyền bí của tầng lớp thầy tu và thơ lại cao quý. Những nhà quản lý, kỹ sư, thầy thuốc, thương lái, thậm chí 1 vài binh sĩ cũng biết đọc, biết viết. Vào TK 7 TCN, hầu hết lính đánh thuê cả Hy Lạp và Phê ni xi đều có thể viết nguệch ngoạc lên mũ sắt của họ. Những người Hy Lạp sau đó lấy chữ Phê ni xi thay đổi 1 số ký tự để phù hợp phụ âm Semite đặc trưng, sáng tạo thêm 1 vài ký tự để dùng tiếng Hy Lạp diễn đạt những nguyên âm mà người Semite bỏ đi, nhưng người Ấn Âu cần. Rõ ràng người Etruscan, sau đó người Rome đã học cách viết chữ từ thực dân Hy Lạp. Tất nhiên, những người biết đọc không nhiều, nhưng sự xuất hiện của họ có nghĩa có thêm tiêu chí mới củng cố thêm sự khác biệt sẵn có giữa người giàu và người nghèo, cao quý hay thấp hèn. Từ đó về sau, việc biết đọc biết viết mãi mãi tạo ra 1 khoảng cách giữa tầng lớp có học và vô học.

    – Lưu giữ thông tin: Nhưng việc biết đọc, biết viết cũng tạo phương tiện giao tiếp mới trường tồn với xuyên thời gian. Một công cụ giao tiếp không chỉ ổn định hóa mà còn tích lũy và phát triển nền văn hóa bằng những quyền lợi chung. Bởi kiến thức trước kia bị khóa chặt bởi chủ quyền, nếu có truyền miệng thì dễ bị sai lệch. Giờ đây có thể được ghi chép và bảo tồn, được tiếp thu bởi những thế hệ sau, được chuyển giao, được bổ sung, được tổng hợp lại thành kho ký ức và cảm hứng hoặc chỉ đơn giản là thông tin. Đây là nơi thế giới bắt đầu ở Trung Đông và Địa Trung Hải.

    Nếu bạn đang tìm về cội nguồn, có thể nói rằng nền văn minh Phương Tây là 1 nền văn minh châu Á, VM phương Tây có nguồn gốc trong 1 lớp bụi dày của lịch sử trãi từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư. Mảnh đất tối tăm và đẩm máu, không bao giờ thôi khuấy đảo trong những vị thần, trong những cuộc chiến tranh, trong sự hiếu thắng của chúng ta và cả óc sáng tạo, táo bạo và chủ nghĩa bành trường của mình. Và còn 1 chân lý lớn hơn nữa, lịch sử Địa Trung Hải là 1 lịch sử nhiều biến động, xung quanh nó những nền văn minh cổ xưa đã biến đổi và từ đó tưới mát cả nền văn minh Phương Tây.

    Nguồn : 52 tập phim Văn Minh Phương Tây

    GS Eugen Weber, Giảng viên môn Lịch sử, U.C.L.A., Los Angeles

    --- Bài cũ hơn ---

  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Bốn thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi Dabitum, người con gái tôi tớ bị phụ bạc gửi gắm tâm tư của mình đến người tình và cũng là ông chủ.

    “Nữ nô Dabitum hèn mọn xin kính cẩn thưa với đại chủ rằng điều thiếp nói trước với chàng nay đã xảy ra. Từ bảy tháng nay, tội nghiệp đứa con nhỏ đã chết mà không ai muốn lo cho thiếp cả. Xin chàng hãy thương hại mà ra tay, nếu không thiếp sẽ chết. Nếu số phận buộc thiếp phải chết thì thiếp cũng cam chịu, nhưng trước khi nhắm mắt, thiếp chỉ mong sao được nhìn thấy mặt chàng lần cuối.”

    Ngày nay, sở dĩ chúng ta vẫn có thể hiểu được tâm trạng của một thiếu nữ đã sống cách đây 4 ngàn năm, vẫn có thể thương cảm cho tình cảnh của nàng – bởi vì nàng đã dùng một phương tiện truyền thông độc đáo – đó là chữ viết có đã trên 5 ngàn năm.

    Chữ viết đầu tiên

    Chữ viết chắc chắn là một bước khởi đầu cho nền văn minh. Khi nàng Dabitum viết ra những hàng chữ tuyệt vọng đó thì văn tự đã hiện hữu trong nền văn hóa Nam Lưỡng Hà hơn một thiên niên kỷ.

    Lưỡng Hà, tiếng Âu châu là Mesopotamia, ngụ ý miền nằm giữa hai con sông. Ðó là sông Tigris và Euphrates nằm trong vùng mà nay là lãnh thổ Iraq. Di sản văn tự của nền văn hoá cổ xưa này được để lại nhiều hơn là những gì của các giai đoạn về sau.

    Người Lưỡng Hà viết bằng cách dùng một cái que để khắc hình hay dấu vào một mảnh đất sét còn dẻo chỉ nhỏ bằng bàn tay. Một khi đã được phơi khô hay nung, những văn tự bằng đất sét này rất bền.

    Theo chuyên gia Irving Finkel ở Viện Bảo Tàng Anh Quốc, những nổ lực ghi chép đầu tiên chưa thực sự có thể gọi là văn tự. “Ban đầu, khái niệm ghi chép rất là đơn giản. Ta có thể gọi đó là giai đoạn ‘ tiền văn tự’ . Người Lưỡng Hà cổ đại thường vẽ hình ảnh sơ sài để tượng trưng những gì mà họ muốn ghi chép.”

    “Chẳng hạn như khi muốn lập một danh sách các chum vại, họ cẩn thận vẽ hình cái chum trên một mảnh đất sét, rồi viết cạnh đó một con số. Mãi sau này mới có người chợt nghĩ ra là hình ảnh không những có thể chỉ vật đó mà còn diễn tả tên vật đó trong tiếng nói.”

    Như vậy, giả dụ tiếng Lưỡng Hà là tiếng Việt, ta có thể vẽ một cái ấm, và dùng cái đó để chỉ ra âm thanh ‘ ấm’ như trong chữ ‘ ấm ớ’ – tức là không có liên hệ gì với ấm nước cả. Người đầu tiên nghĩ ra việc dùng chữ chỉ tiếng gọi của một vật thay vì dùng hình ảnh của chính vật đó để mô tả nó chính là một thiên tài vĩ đại đã đóng góp lớn lao cho nền văn minh.

    Người này chắc hẳn thuộc dân tộc Sumer, vì Sumer nằm trong vùng Lưỡng Hà – nơi văn tự đầu tiên xuất hiện trong một ngôn ngữ gọi là tiếng Sumer. Nay ngôn ngữ học gọi văn tự của người Sumer là cuneiform – tdl là văn tự hình góc, vì chữ cunei của tiếng La tinh có nghĩa là một góc.

    Cũng học giả Irving Finkel cho biết, “Khi người Sumer bắt đầu dùng chữ viết, họ dùng rất nhiều đường cong. Nếu muốn viết chữ heo, họ vẽ một cái hình tiêu biểu là cái mõm, hai vành tai rồi vài sợi lông tua tủa. Nhưng đất sét không phải là một cái nền tốt để vẽ các đường cong.”

    ” Thành ra chẳng bao lâu các đường cong được quy ước hóa thành những đường thẳng mà người ta có thể nhanh chóng khắc hay nhấn vào đất sét bằng một cái que. Và văn tự hình góc phát triển theo lối đó.”

    Thoạt đầu, văn tự này được tạo ra không phải để viết thư hoặc để sáng tác một tác phẩm văn học. Nên biết chữ viết phát sinh từ hệ thống thư lại. Các nha lại – nôm na là thành phần thư ký kế toán – từ thời cổ đại đã muốn dùng ký tự để quản lý kinh tế hữu hiệu hơn – vì nhờ ký tự mà họ có thể kiểm soát các số liệu và lập ra những danh sách.

    Theo học giả Irving Finkel, những chứng tích cổ nhất về chữ viết còn tồn tại đến ngày nay là những bản kiểm kê tồn kho. “Nhưng chẳng bao lâu sau khi chữ viết được phát minh, người ta bắt đầu dùng nó vào các việc khác và ta thấy xuất hiện những văn bản nằm ngoài phạm vi hành chánh – đầu tiên là danh sách từ ngữ được thu lượm để dạy học và chẳng bao lâu sau đó, nền văn chương sơ khai dựa trên chữ viết bắt đầu ló dạng.”

    Đào tạo thư lại

    Trong nền văn minh Sumer, những bản từ vựng được soạn ra cốt để dạy các thiếu niên trở thành thư lại – đó là thành phần duy nhất trong xã hội Sumer biết đọc và viết. Ngay cả các vua chúa Sumer cũng hiếm có người biết chữ.

    “Buổi sáng tôi dậy sớm. Nhìn mẹ tôi nói: ‘Mẹ cho con đem gì theo để ăn trưa, con muốn đi đến trường’. Mẹ đưa cho tôi hai cái bánh và tôi lên đường. Mẹ cho tôi hai cái bánh và thế là tôi đi học. Ðến trường, thầy giám thị hỏi: ‘Sao con đến trễ?’ Tôi sợ quá, tim đập thình thình, tôi lật đật đi vào lớp trước cả ông thầy.”

    Giới thư lại Lưỡng Hà đã không tìm cách đơn giản hóa chuyện viết lách để khiến cho nhiều người có thể biết chữ hơn. Có thể là nhờ thói dấu nghề đó mà ít ai có thể cạnh tranh với họ về toán và viết.

    Toán học

    Người Sumer thời đó không có các mẫu tự để học. Mẫu tự chỉ xuất hiện mãi về sau vào khoảng năm 1000 B.C., tại vùng đất mà hiện nay là Syria. Nhưng học trình cho thư lại Sumer có cả môn toán cùng với môn đọc và viết. Bà Eleanor Robson thuộc trường đại học Oxford ở Anh Quốc giải thích rằng người Lưỡng Hà đếm theo hệ lục thập phân thay vì thập phân như chúng ta ngày nay.

    “Chúng ta còn thấy tàn dư của hệ lục thập phân này qua cách chúng ta tính thời gian – tức là 60 giây một phút và 60 phút một giờ. Và từ Lưỡng Hà cách đếm này đã đến với chúng ta một cách gián tiếp qua ngả thiên văn học của Hy Lạp.”

    Ngày nay chúng ta dùng 10 ký hiệu từ ” 0″ đến ” 9″ để viết các con số, nhưng người Sumer chỉ dùng hai ký hiệu mà thôi. Ðể viết con số 24 chẳng hạn họ vẽ hai mũi tên quay về phía trái để chỉ 20, rồi 4 vạch hình cọc thẳng để chỉ số 4. Ngoài mũi tên và cọc, họ không có một ký hiệu nào khác – không có dấu nhân, cũng không có ký hiệu đại số.

    Người Lưỡng Hà đã biết đến đại số học – thậm chí họ có thể giải cả phương trình với hai hoặc ba ẩn số nhưng tất cả đều được viết ra thành văn. Những phiến đất sét để lại từ thời 2000 năm trước Công Nguyên cho thấy các bài tóan mà học trò thời đó phải giải.

    Bà Eleanor Robson nhận xét có những bài toán của người Lưỡng Hà rất đáng chú ý – chẳng hạn như tính thể tích từ kích thước và hình dạng của một đống thóc. Ðó là những bài toán thực dụng. Họ cũng tính toán bằng phân số hay tỉ số. Nhưng cũng có những bài toán mà mục đích thuần túy là để tìm hiểu những logic của toán học.

    Ðiều đáng lưu ý nhất là họ phân biệt những bài toán thực tiễn và những bài toán lý thuyết. Dường như giới thư lại Sumer quan tâm đến toán học vì mê thích cái logic chứ không phải chỉ vì lợi ích thực tiễn của nó mà thôi. Rõ ràng đó là một dấu hiệu của văn minh.

    Nhưng học giả Irving Finkel thì cho rằng giới thư lại còn có một sở trường khác. “Họ luôn luôn ham thích những ngôn từ kỹ thuật. Ngay từ đầu họ đã soạn ra những quyển tự điển và họ luôn luôn luôn quan tâm đến góp nhặt ghi chú các từ ngữ và cách sử dụng cũng như phiên dịch chúng.”

    Bà Eleanor Robson cho biết các thư lại ứng dụng toán vào đo lường. “Ðó là khả năng cơ bản để quản lý nhân công và vật liệu ở tầm mức lớn. Tỷ như khi cần phải đào lại một con kênh, một nhà trắc địa phải đo đạc rồi tính toán để suy ra con số dân phu phải thuê.”

    “Rồi mỗi năm, tất cả công việc lại được thư lại tổng kê, để xem dân phu có làm đủ công hay chưa. Giới chủ nhân Lưỡng Hà cũng khôn lắm – nếu năm nay làm chưa đủ, thì dân phu phải làm bù trong năm tới, nhưng nếu năm nay họ làm quá mức thì họ ráng chịu – tức là năm tới không được nghỉ bù.”

    Ngoại ngữ

    Chữ viết lần đầu tiên được thông dịch sang một ngôn ngữ khác khi một tộc bộ Akkad thuộc giống nòi Semit đến Sumer. Người Akkad có một tiếng nói khác với người Sumer.

    Một số thư lại tại Lưỡng Hà chắc hẳn phải biết cả hai thứ tiếng – nhất là kể từ khi tiếng Akkad trở thành tiếng nói thường ngày của đại chúng, và tiếng Sumer chỉ còn là ngôn ngữ của sách vở và tôn giáo.

    Theo học giả Irving Finkel thành phần thư lại Lưỡng Hà nổi tiếng là có tài quan sát. “Quan sát là một điểm mạnh của họ – từ quan sát bệnh tật đến quan sát các vì sao – và họ còn ghi lại cẩn thận những gì thấy được. Các ghi chép của họ về sự di chuyển của các hành tinh quả thật là chính xác, vô cùng tỉ mỉ.”

    Lao động

    Đào kênh khơi ngòi là một công việc sống còn đối với một dân tộc cần phải có nguồn nước của các sông Tigris và Euphrates để tưới những cánh đồng khô cằn của họ. Quan hệ lao động trong mấy ngàn năm qua cũng không thay đổi gì mấy.

    Học giả Jeremy Black thuộc trường đại học Oxford cho biết tầm quan trọng của các công trình này được phản ảnh qua văn học Lưỡng Hà, nhất là trong huyền thoại sáng thế của họ.

    “Trong huyền thoại của người Lưỡng Hà, họ, các vị thần trẻ được mô tả như là những công nhân vô kỷ luật bị đưa đi lao động ở những công trường xây dựng, như được mô tả trong bài thơ ATRAHASIS.

    Thiên thần lam lũ

    đào kênh khơi ngòi

    khai thông huyết mạch

    làm đất phì nhiêu

    đào sông Tigris

    vét dòng Euphrates

    Thiên thần nhọc mệt

    đếm ngày đếm tháng

    hơn ba ngàn năm

    đêm đêm ngày ngày

    kêu lơn cải cọ

    còn đất còn đào

    Thấy các thiên thần quá khổ cực, Thượng Ðế bèn tạo ra con người để gánh bớt cái nợ đời cho họ. Huyền thoại sáng thế này còn phản ánh thời tiết, địa dư và sinh thái của vùng Lưỡng Hà nữa. Tỉ như truyền thuyết về lụt lội. Sông Tigris có thể gây ra những trận lụt khổng lồ vào mùa xuân. Vùng Lưỡng Hà mà nay là Iraq vốn rất bằng phẳng, thành ra nước sông không cần phải dâng cao lắm cũng có thể làm ngập toàn bộ vùng đất này”.

    Theo giáo sư Nicholas Postgate thuộc Ðại học Cambridge, có một giả thuyết cho rằng sở dỉ nền văn minh lại phát triển tại miền Nam Lưỡng Hà cũng như tại các nền văn minh cổ sơ khác như Ai Cập và Trung Quốc – là vì nhu cầu về nguồn nước của nông nghiệp.

    “Nông nghiệp càng phát triển thì càng cần phải có một cơ cấu hành chánh. Và văn minh nẩy sinh từ hệ thống hành chánh. Nhưng lúc gần đây các nhà nhân chủng và khảo cổ lại cho rằng vùng Nam Lưỡng Hà chỉ cần một hệ thống thủy lợi cỡ nhỏ cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu của họ. Nếu điều đó là đúng thì có lẽ xã hội đã trở nên phồn thịnh trước, rồi cơ cấu hành chánh phức tạp mới theo sau.”

    Văn minh

    Từ ” văn minh” như chúng ta biết có thể bao hàm các giá trị tinh thần cũng như vật chất. Về vật chất, nhờ văn minh mà cuộc sống được phồn thịnh hơn, xã hội được cai quản tốt hơn. Chữ viết cũng đã có vai trò trong chiến tranh. Trong số những văn bản cổ xưa đến từ Lưỡng Hà có một báo cáo của một chỉ huy trình lên cấp trên:

    “Ðã năm ngày nay bề tôi đóng ở chỗ như đã thoả thuận để chờ cho đám quân từ Hana tới, nhưng họ không chịu tập trung dưới cờ. Vậy rất mong tướng quân chấp thuận cho bề tôi đem một số phạm nhân trong ngục ra chém đầu để bêu chung quanh doanh trại để cho các binh sĩ kinh sợ mà mau chóng tập trung lại.”Dân Lưỡng Hà khá hiếu chiến và có vẻ cũng chẳng xem trọng tính mạng con người hơn những dân tộc cổ đại khác.

    Nhưng trong xã hội Lưỡng Hà vẫn có một cái gì đó mà ta có thể gọi là văn minh được.

    Chẳng hạn như có các vì vua đã dựng lên những tấm bia ghi lời tuyên bố cấm người giàu bóc lột người nghèo. Ðôi khi họ còn giúp đỡ dân nghèo bằng cách xóa nợ.

    Nhờ đó mà nhiều trẻ em bị đưa đi làm nô lệ đã được sớm về đoàn tụ với gia đình. Hành động nhân đạo đó đã được ghi lại trong các chiếu dụ của vua chúa Lưỡng Hà hồi 2400-2350 B.C

    Các từ ngữ nói lên các giá trị văn minh xuất hiện trong đủ mọi thứ văn bản của thời đó. Giáo sư Jeremy Black thuộc đại học Oxford đơn cử chữ ‘ nhân bản’ có từ thời Lưỡng Hà.

    “Trong một luận văn viết theo thể đối thoại mà các học trò thời đó phải học, ông thầy nói với học trò như thế này: ‘Ta đã cho con tất cả những gì con có. Khi con đến với ta, con như một con chó con chưa mở mắt. Ta đã giúp con nên người, ta đã cho con ‘ nhân bản’… Ðoạn văn này đã dùng đúng chữ ‘ nhân bản’ – danh từ trừu tượng chỉ đức tính của con người. Và đó ắt hẳn là một cái gì tương tự như khái niệm của chúng ta về một giá trị văn minh.”

    Những khái niệm trừu tượng

    Có một từ trong tiếng Sumer, một danh từ số nhiều, gọi là ” me” rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. ‘Me’ là sức mạnh điều hành vạn vật – kể cả văn minh của con người.

    Ðôi khi ” me” được mô tả như là một cái gì rất cụ thể – chẳng hạn như một ngôi đền hay một xã hội văn minh vì lý do nào đó bị suy đồi thì người ta nói cái ” me” của chúng bị gom lại và vứt một xó như là một đống dụng cụ vô dụng.

    Nhưng đôi khi ” me” cũng được liệt kê ra thành một danh sách, bao gồm công lý, trí khôn, hoà bình, chiến tranh, tiếng nói và yên lặng… như thể chúng là những yếu tố cấu thành của văn minh.Và ‘ me’ còn bao gồm vương chế và các cấp bậc tôn giáo, cùng những cơ cấu vô hình cần phải bảo trì.

    Trách nhiệm của nhà vua và các vị thần thánh là điều hành mọi chuyện sao cho đúng để bồi dưỡng cái ‘ me’ của xã hội và vũ trụ. Ðiều đó cho thấy người Lưỡng Hà xem văn minh là một cái gì rất mong manh mà sự tồn tại tùy thuộc vào ý chí và đạo đức của con người.

    Văn hóa thành thị

    Tại Lưỡng Hà, các đơn vị tổ chức chính trị đầu tiên là thành phố. Di tích các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà đã được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Ðông, nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng bằng Nam Lưỡng Hà.

    Chính văn hoá thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới cho loài người. Dù sao chăng nữa danh từ văn minh mà ta dùng để dịch chữ ‘civilisation’ của tiếng Anh vốn bắt nguồn từ chữ La tinh ” civis” có nghĩa là một người dân thành thị.

    Giáo sư Nichola Postgate thuộc đại học Cambridge giải thích mỗi thành thị Lưỡng Hà có một vị thần đở đầu. “Thần này ủy quyền cho một nhà chức trách để thay thần trông lo cho dân chúng.”

    ” Ðôi khi người lãnh đạo này được mô tả như một người chăn cừu, mà chủ của bầy cừu là vị thần đở đầu, còn dân chúng tất nhiên là bầy cừu.”

    “Mỗi thành phố có một huyền thoại như thế. Khi thành phố tập hợp lại thành một vương quốc thì người cai trị tối cao là vua. Vào khoảng các năm 2700, 2600 B.C. hay muộn hơn có một vị vua tên là Kish – người nắm quyền kiểm soát một số các đô thị Lưỡng Hà nhưng không nhân danh thần thánh nào cả.

    “Lại có một thành phố khác mà có vẻ như được coi là trung tâm tôn giáo của Nam Lưỡng Hà – đó là Nippur. Người cai trị Nippur hầu như không bao giờ có quyền lực chính trị, nhưng lại được chấp nhận là lãnh tụ tinh thần của toàn bộ Nam Lưỡng Hà.”

    Sau này, thành phố nổi tiếng nhất Lưỡng Hà là Babylon đã trở nên một trung tâm quyền lực. Tất cả các thành phố của vùng Lưỡng Hà đều sống nhờ vào nông phẩm thặng dư do các vùng quê chung quanh sản xuất. Việc phát minh ra một lưỡi cầy mới đã khiến cho Lưỡng Hà phồn thịnh về kinh tế và nhờ vậy đóng góp vào việc tạo dựng nền văn minh.

    Văn học

    Văn học Lưỡng Hà có những vần thơ tuyệt đẹp về khung cảnh đồng nội. Trong bài thơ sau đây, khi tân lang của nữ thần Inanna được các người hầu gái dẫn vào chiếc giường hợp cẩn, họ thỏ thẻ bên tai chàng như thế này:

    Mong chàng…

    như một nông phu – vun xới cánh đồng

    … như một kẻ chăn cừu – con chiên đầy đàn

    Mong thay…

    Trên giàn nho trổ thành chùm

    Ngoài đồng lúa mạch trổ bông

    Dưới sông cá chép tung tăng

    Trong đầm chim cò ríu rít

    Trong gió bải sậy rì rào

    Mong thay…

    Sa mạc đón mừng cây cỏ

    Rừng rú vui vầy hươu nai

    Những thửa vườn xanh mát

    sẽ cho mật ngon rượu nồng

    … và rau tươi trái ngọt ê hề

    Mong thay…

    với đức độ của chàng

    đời sống hoàng cung

    sẽ trở thành vĩnh cửu…

    Trong văn chương Lưỡng Hà, chất văn minh rỏ nét nhất là những quan tâm đối với thân phận con người, cũng như khả năng biến những quan tâm này thành những tác phẩm văn học có phẫm chất cao.

    Tất cả những tình cảm hỉ nộ ái ố được mô tả trong văn học Lưỡng Hà đã làm người ta ngạc nhiên vì cho dù hơn 4 ngàn năm đã trôi qua, chúng vẫn rất gần gủi với con người đương đại.

    Nền văn minh Lưỡng Hà là mốc cổ xưa nhất – mà di tích còn cho phép chúng ta tiếp cận được qua văn tự. Nếu đúng như ước đoán, ngôn ngữ con người đã hiện hữu cách đây khoảng một triệu năm. Nếu tính kể từ thời Lưỡng Hà cách đây khoảng 4, 5 ngàn năm, trên nhiều phương diện, người Sumer rất giống chúng ta.

    Trần Hạnh phóng viên BBC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.
  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • “so Sánh Văn Hóa Hai Nước Việt Nam Và Nhật Bản Với Tiêu Chí Cư Dân Và Đặc Trưng Văn Hóa”
  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • Thành viên Việt Vân ghi lại từ bài đọc ” Nền văn minh nhân loại” Diễn đàn Sansangdethanhcong.com class="img-cus" data-src="//i0.wp.com/www.sansangdethanhcong.com/caches-images/https2dotxetxeti11dotwp1dotcomxethoangquang1dotfiles1dotwordpss1dotcomxet2009xet06xetls-11dotjpg.jpg?w=400">Lưỡng Hà là nền văn minh nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates, mà nay là lãnh thổ Iraq (nguồn: Sarissa)

    “… Nữ nô Dabitum hèn mọn xin kính cẩn thưa với Đại Chủ rằng điều thiếp nói trước với chàng nay đã xảy ra. Từ bảy tháng nay tội nghiệp đứa con nhỏ đã chết mà không ai muốn lo cho thiếp cả, xin chàng hãy thưong hại mà ra tay nếu không thiếp phải chết. Nếu số phận buộc thiếp phải chết thì thiếp cũng cam chịu, nhưng trước khi nhắm mắt thiếp chỉ mong sao được nhìn thấy mặt chàng lần cuối…” Bốn thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi Dabitum người con gái tôi tớ bị phụ bạc đó gửi gắm tâm tư của cô đến người tình và cũng là ông chủ. Cuộc tình ngang trái đó đã diễn ra tại miền nam Lưỡng Hà mà nay là lãnh thổ Iraq.

    Ngày nay sở dĩ chúng ta vẫn có thể hiểu được tâm trạng của một thiếu nữ đã sống cách đây 4000 năm và vẫn thương cảm cho tình cảnh của nàng bởi vì nàng đã dùng một phương tiện truyền thông độc đáo, đó là: chữ viết. Chữ viết giúp ta lưu truyền thông điệp qua không gian và thời gian, tổ chức xã hội, diễn tả những tư tưởng phức tạp, và cũng nhờ chữ viết mà văn học và khoa học mới nảy sinh. Tất cả những yếu tố đó đều quan trọng đối với cái ta gọi là Một Nền Văn Minh.

    Chữ viết chắc chắn là một bước khởi đầu cho nền Văn Minh. Dạng chữ viết được phát minh ra tại miền nam Lưỡng Hà cách đây trên 5000 năm. Khi nàng Dabitum viết ra những hàng chữ tuyệt vọng kia thì văn tự đã hiện hữu trong nền văn hoá nam Lưỡng Hà hơn một thiên niên kỷ.

    Lưỡng Hà tiếng Âu Châu là Mesopotamia, ngụ ý là miền nằm giữa hai con sông. Đó là hai con sông Tigris và Euphrates nằm trong vùng mà nay là lãnh thổ Iraq. Và điều đáng ghi nhớ là di sản văn tự của nền văn hóa cổ xưa này được để lại nhiều hơn là những gì phát xuất từ những giai đoạn về sau. Nguyên do là vì người Lưỡng Hà viết bằng cách dùng một cái que để khắc hình, hay dấu, vào một mảnh đất sét còn dẻo chỉ nhỏ bằng bàn tay. Một khi được phơi khô hay nung thì những văn tự bằng đất sét này rất bền.

    Theo chuyên gia Irvin Finco ở viện bảo tàng Anh Quốc những nổ lực ghi chép đầu tiên chưa thật sự có thể gọi là văn tự. “… Ban đầu khái niệm ghi chép rất là đơn giản, ta có thể gọi đó là giai đoạn “tiền văn tự”. Người Lưỡng Hà cổ đại thường vẽ hình ảnh sơ sài để tượng trưng những gì mà họ muốn ghi chép. Chẳng hạn như khi muốn lập một danh sách các chum vại họ cẩn thận vẽ hình một cái chum lên một mảnh đất sét rồi viết cạnh đó một con số. Mãi sau này mới có người chợt nghĩ ra là hình ảnh không những có thể chỉ vật đó mà còn diễn tả vật đó trong tiếng nói”. Như vậy giả dụ tiếng Lưỡng Hà là tiếng Việt ta có thể vẽ ra một cái ấm và dùng cái đó để chỉ ra âm thanh “ấm” như trong chữ “ấm ớ” nghĩa là không có liên hệ gì với chữ “ấm nước” cả.

    Người đầu tiên nghĩ ra việc dùng chữ chỉ tiếng gọi của một vật thay vì dùng hình ảnh của chính vật đó để mô tả nó chính là một thiên tài vĩ đại đã đóng góp lớn lao cho nền Văn Minh. Người này chắc hẳn thuộc dân tộc Sumer, vì Sumer nằm trong vùng Lưỡng Hà nơi văn tự đầu tiên xuất hiện trong một ngôn ngữ gọi là tiếng Sumer. Nay ngôn ngữ học gọi văn tự của người Sumer là: Cuneiform; tạm dịch là “văn tự hình góc” vì chữ cunei trong tiếng Latinh có nghĩa là “một góc”.

    Cũng học giả Irvin Finco cho biết “Khi người Sumer bắt đầu dùng chữ viết họ dùng rất nhiều đường cong. Nếu muốn viết chữ “heo” họ vẽ một cái hình tiêu biểu cái mõm, hai vành tai rồi vài sợi lông tua tủa. Nhưng đất sét không phải là một loại nền tốt để vẽ những đường cong cho nên chẳng bao lâu những đường cong được quy ước hóa thành những đường thẳng mà người ta có thể nhanh chóng khắc hay nhấn vào đất sét bằng cái que, và văn tự hình góc phát triển theo lối đó. Thoạt đầu văn tự này được tạo ra không phải để viết thư hoặc là để sáng tác một tác phẩm văn học. Nên biết chữ viết phát sinh từ hệ thống thư lại. Các nha lại, nôm na là thành phần thư ký kế toán từ thời cổ đại đã muốn dùng ký tự để quản lý kinh tế một cách hữu hiệu hơn. Vì nhờ ký tự mà họ có thể kiểm soát các số liệu và lập ra những danh sách. Những chứng tích cổ nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay là những bản kiểm kê tồn kho. Nhưng chẳng bao lâu sau khi chữ viết được phát minh người ta bắt đầu dùng nó vào những việc khác và ta thấy xuất hiện những văn bản nằm ngoài phạm vi hành chính. Đầu tiên là danh sách từ ngữ được thu lượm để dạy học và chẳng bao lâu sau đó nền văn chương sơ khai dựa trên chữ viết bắt đầu ló dạng”.

    “Buổi sáng tôi dậy sớm nhìn Mẹ tôi nói: Mẹ cho con cái gì mang theo để ăn trưa? Con muốn đi đến trường. Mẹ đưa cho tôi hai cái bánh và tôi lên đường. Mẹ cho tôi hai cái bánh và thế là tôi đi học. Đến trường thầy Giám Thị hỏi: sao con đến trể? Tôi sợ quá, tim đập thình thình, tôi lật đật đi vào lớp trước cả ông thầy”

    Và ta nên biết là người Sumer thời đó không có khắc mẫu tự để học đâu. Mẫu tự chỉ xuất hiện mãi về sau, tức là khoảng năm 1000 trước Công Nguyên tại vùng đất mà hiện nay là Syria. Nhưng học trình cho thư lại Sumer có cả môn toán cùng với môn đọc và viết.

    Bà Eleno Ropson thuộc trường đại học Oxford ở Anh Quồc cho biết: “Người Lưỡng Hà đếm theo hệ lục thập phân thay vì thập phân như chúng ta ngày nay và chúng ta còn thấy tàn dư của hệ lục thập phân này qua cách chúng ta tính thời gian tức là 60 giây một phút và 60 phút một giờ. Và từ Lưỡng Hà cách đếm này đã đến với chúng ta một cách gián tiếp qua ngã thiên văn học của Hy Lạp. Ngày nay chúng ta dùng 10 ký hiệu, từ số 0 đến số 9 để viết các con số, nhưng nguời Lưỡng Hà chỉ dùng hai ký hiệu mà thôi. Chẳng hạn để viết con số 24 thì họ vẽ hai mũi tên quay về phái trái để chỉ số 20 rồi vẽ thêm bốn vạch hình cọc thẳng để chỉ số bốn. Ngoài hai ký hiệu mũi tên và cọc thì họ không còn ký hiệu nào khác, không có dấu nhân mà cũng không có ký hiệu đại số.”

    Tưởng cũng nên biết máy điện toán cũng làm những bài toán khổng lồ phức tạp nhưng chỉ dựa trên hai số mà thôi, đó là số 0 và số 1. Nhưng người Lưỡng Hà đã biết đến đại số học, thậm chí họ có thể giải những phương trình với hai hoặc ba ẩn số, nhưng tất cả đều được viết ra thành văn. Những phiến đất sét để lại từ thời 2000 năm trước Công Nguyên cho thấy các bài toán mà học trò thời đó phải giải.

    Bà Ropson cho biết tiếp: “Có những bài toán rất đáng chú ý chẳng hạn như tính thể tích từ kích thước và hình dạng của một đống thóc, đó là những bài toán thực dụng. Họ cũng tính toán bằng phân số hay tỷ số, nhưng cũng có những bài toán mà mục đích thuần túy chỉ là để tìm hiểu những logic của toán học. Điều đáng lưu ý nhất là họ phân biệt những bài toán thực tiễn và những bài toán lý thuyết. Dường như giới thư lại Sumer quan tâm tới toán học vì họ mê thích cái logic của nó chứ không phải chỉ vì lợi ích thực tiễn mà thôi”. Rõ ràng đó là dấu hiệu của một nền văn minh.

    Nhưng Irvin Finco thì cho rằng giới thư lại còn có một sở trường khác: “Giới thư lại luôn luôn ham thích những ngôn từ kỹ thuật, ngay từ đầu họ đã soạn ra những quyển tự điển và họ luôn luôn quan tâm đến việc góp nhặt, ghi chú các từ ngữ và cách sử dụng cũng như phiên dịch chúng. Chữ viết lần đầu tiên được phiên dịch sang một ngôn ngữ khác khi một bộ tộc Akhart thuộc giống nòi Sumit đến Sumer. Người Akhart có tiếng nói khác với người Sumer. Một số thư lại tại Lưỡng Hà ắt hẳn đã phải biết cả hai thứ tiếng nhất là khi tiếng Akhart trở thành tiếng nói thường ngày của đại chúng và tiếng Sumer chỉ còn là ngôn ngữ của sách vở và tôn giáo”.

    Thành phần thư lại tại Lưỡng Hà nổi tiếng là có tài quan sát. Học giả Irvin Finco cho biết tiếp: “Quan sát là một điểm mạnh của họ, từ quan sát bệnh tật đến quan sát các vì sao và họ còn ghi lại cẩn thận những gì thấy được. Các ghi chép của họ về sự di chuyển của các hành tinh quả thật là chính xác. Cách liệt kê tỉ mỉ của họ thì quả thật không thể nào chê được. Giới thư lại Lưỡng Hà đã không tìm cách đơn giản hoá chuyện viết lách để khiến cho nhiều người biết chữ hơn. Có thể nhờ tính dấu nghề đó mà ít ai có thể cạnh tranh được với họ về toán và viết.”

    Bà Eleno Ropson: “Về căn bản hầu hết các ứng dụng về toán là đo lường vì đó là khả năng cơ bản để quản lý nhân công và vật liệu ở tầm mức lớn. Tỷ như khi phải đào lại một con kênh, một nhà trắc địa phải đo đạt rồi tính toán để suy ra con số dân phu phải thuê. Rồi mỗi năm tất cả công việc lại được thư lại tổng kết để xem dân phu có làm đủ công hay chưa. Gìới chủ nhân Lưỡng Hà cũng khôn lắm, nếu năm nay làm chưa đủ thì dân phu phải làm bù trong năm tới, nhưng nếu năm nay họ làm quá mức thì họ phải ráng chịu tức là năm tới họ không được nghỉ bù”!

    Quan hệ lao động trong mấy ngàn năm qua cũng không thay đổi gì mấy phải không quí vị?

    Bức tranh thế kỷ 16 của Martin Heemskerck miêu tả Vườn treo Babylon. Phía sau có thể thấy lờ mờ hình Tháp Babel (Nguồn: Wikipedia) Nên biết đào kênh khơi ngòi là một công việc sống còn đối với một dân tộc cần phải có nguồn nước của các sông Tigris và Euphrates để tưới những cánh đồng khô cằn của họ. Học giả Jeremy Black thuộc trường đại học Oxford giải thích tầm quan trọng của các công trình này được phản ánh qua văn học Lưỡng Hà như thế nào nhất là trong huyền thoại sáng thế của họ: “Trong huyền thoại của người Lưỡng Hà các vị Thần trẻ được mô tả như là những công nhân vô kỷ luật bị đưa đi lao động ở những công trường xây dựng như được mô tả trong bài thơ Atahashi:

    Thiên thần lam lũ đào kênh khơi ngòi

    Khai thông huyết mạch làm đất phì nhiêu

    Đào sông Tigris vét dòng EuphratesThiên thần nhọc mệt đếm ngày đếm tháng

    Hơn ba ngàn năm đêm đêm ngày ngày

    Kêu lên cãi cọ còn đất còn đào

    Thấy các thiên thần làm cu li quá khổ thượng đế bèn tạo ra con người để gánh bớt cái nợ đời cho họ. Huyền thoại sáng thế này còn phản ánh thời tiết, địa dư và sinh thái của vùng Lưỡng Hà nữa. Tỷ dụ như truyền thuyết về lụt lội. Nên biết sông Tigris có thể gây ra những trận lụt khổng lồ vào mùa xuân. Vùng Lưỡng Hà mà nay là Iraq vốn rất bằng phẳng thành ra nước sông không cần phải dâng cao cho lắm cũng có thể làm ngập toàn bộ vùng đất này”.

    “Có một giả thiết cho rằng sở dĩ nền văn minh đã phát triển tại miền nam Lưỡng Hà cũng như tại các nền văn minh cổ sơ khác nhu Ai Cập và Trung Quốc là vì nhu cầu về nguồn nước của nông nghiệp. Nông nghiệp càng phát triển thì cần phải có một cơ cấu hành chánh và văn minh nảy sinh từ hệ thống hành chánh. Nhưng lúc gần đây các nhà nhân chủng và khảo cổ lại cho rằng vùng nam Lưỡng Hà chỉ cần một hệ thống thủy lợi cỡ nhỏ cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu của họ. Nếu điều đó là đúng thì có lẽ xã hội đã trở nên phồn thịnh trước rồi cơ cấu hành chánh phức tạp mới theo sau”. Đó là lời của giáo sư Nicholas Pausecase thuộc đại học Cambrige.

    Từ “Văn Minh” như chúng ta biết có thể bao hàm các giá trị tinh thần cũng như vật chất. Về vật chất nhờ văn minh mà cuộc sống được phồn thịnh hơn, xã hội cũng được cai quản tốt hơn. Chữ viết cũng đã có vai trò trong chiến tranh. Trong số văn bản cổ xưa đến từ Lưỡng Hà có một báo cáo của một chỉ huy trình lên cấp trên như thế này:

    “Đã năm ngày nay bề tôi đóng ở chỗ như đã thỏa thuận để chờ cho đám quân từ Hana tới, nhưng họ không chịu tập trung dưới cờ. Vậy rất mong tướng quân chấp thuận cho bề tôi đem một số phạm nhân trong ngục ra chém đầu bêu quanh doanh trại để cho các binh sĩ kinh sợ mà mau chóng tập trung lại”.

    Dân Lưỡng Hà xem ra cũng khá hiếu chiến và có vẻ cũng chẳng xem trọng tính mạng con người hơn những dân tộc cổ đại khác. Nhưng trong xã hội Lưỡng Hà vẫn có một cái gì đó mà ta có thể gọi là văn minh được. Chẳng hạn như có các vị vua đã dựng lên những tấm bia ghi lời tuyên bố của họ cấm người giàu bóc lột người nghèo. Và đôi khi họ còn giúp đỡ dân nghèo bằng cách xóa nợ và nhờ đó mà nhiều trẻ em bị đưa đi làm nô lệ đã được sớm về đoàn tụ với gia đình. Hành động nhân đạo đó đã được ghi lại trong các Chiếu Dụ của vua chúa Lưỡng Hà hồi 2350 đến 2400 trước Công Nguyên. Các từ ngữ nói lên các giá trị văn minh xuất hiện trong đủ mọi thứ văn bản của thời đó.

    Giáo sư Jeremy Black thuộc đại học Oxford cho hay: “Tỷ như hai chữ “Nhân Bản”, ta có thể tưởng đây là một khái niệm hiện đại nhưng thực ra nó đã có từ thời Lưỡng Hà. Trong một luận văn viết theo thể đối thoại mà các học trò thời đó phải học, ông thầy nói với học trò như thế này:

    “Ta đã cho con tất cả những gì con có, khi con đến với ta con như một con chó con chưa mở mắt, ta đã giúp con nên người, ta đã cho con Nhân Bản.”

    Đoạn văn này đã dùng đúng chữ Nhân Bản, danh từ trừu tượng chỉ đức tính của con người. Và đó ắt hẳn như một cái gì tương tự như là khái niệm của chúng ta về một giá trị văn minh. Có một từ trong tiếng Sumer, một danh từ số nhiều gọi là “Mi”, rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. Mi là sức mạnh điều hành vạn vật kể cả văn minh của con người. Đôi khi Mi được mô tả như một cái gì rất cụ thể chẳng hạn như một ngôi đền hay một xã hội văn minh vì lý do nào đó bị suy đồi thì người ta nói cái Mi của chúng bị gom lại và vứt một xó như là một đống dụng cụ vô dụng. Nhưng đôi khi Mi cũng được liệt kê thành một danh sách bao gồm công lý, trí khôn, hòa bình, chiến tranh, tiếng nói và yên lặng như thể chúng là yếu tố cấu thành của văn minh. Và Mi còn bao gồm vương chế và các cấp bậc tôn giáo cùng những cơ cấu vô hình cần phải bảo trì. Trách nhiệm của nhà vua và các vị thần thánh là điều hành mọi chuyện sao cho đúng để bồi dưỡng cái Mi của xã hội và vũ trụ. Điều này cho thấy người Lưỡng Hà xem văn minh là một cái gì rất mong manh mà sự tồn tại tùy thuộc vào ý chí và đạo đúc của con người.”

    Điêu khắc hành lễ tìm thấy ở Tell Asmar (Iraq), có tuổi từ 2750 tới 2600 trước Công Nguyên (Nguồn: Wikipedia) Ở Lưỡng Hà các tổ chức chính trị đầu tiên chính là thành phố. Di tích của các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Đông nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng bằng nam Lưỡng Hà. Chính văn hóa thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới cho loài người. Dù sao đi nữa thì danh từ Văn Minh mà ta dùng để dịch chữ Civilization của tiếng Anh thì trong đó có chữ Latin “Civil” có nghĩa là “một người dân thành thị”.

    Giáo sư Nicholas Pausecase thuộc đại học Cambrige giải thích: “Mỗi thành thị Lưỡng Hà có một vị thần đỡ đầu, thần này ủy quyền cho nhà chức trách để thay thần chăm lo cho dân chúng. Đôi khi người lãnh đạo này được mô tả như một người chăn cừu mà chủ của bầy cừu là vị thần đỡ đầu, còn dân chúng tất nhiên là bầy cừu. Mỗi thành phố có một huyền thoại như thế. Khi thành phố tập hợp lại thành một Vương Quốc thì người cai trị tối cao là Vua. Vào khoảng các năm 2700 – 2600 trước Công Nguyên hay muộn hơn có một vị vua tên là Kist, người nắm quyền kiểm soát một số các đô thị Lưỡng Hà nhưng không nhân danh một thần thánh nào cả. Lại có một thành phố khác mà có vẻ như được coi là trung tâm tôn giáo của nam Lưỡng Hà, đó là Nipua. Người cai trị Nipua hầu như không bao giờ có quyền lực chính trị nhưng lại được chấp nhận như lãnh tụ tinh thần của toàn bộ nam Lưỡng Hà. Sau này thành phố nổi tiếng nhất Lưỡng Hà là Babylon đã trở nên một trung tâm quyền lực.”

    Nên biết tất cả các thành phố của vùng Lưỡng Hà đều sống nhờ vào nông phẩm thặng dư do các vùng quê chung quanh sản xuất. Việc phát minh ra lưỡi cày mới đã khiến cho Lưỡng Hà phồn thịnh về kinh tế và nhờ vậy đóng góp vào việc tạo dựng một nền văn minh.

    Văn học Lưỡng Hà có những vần thơ tuyệt đẹp về khung cảnh đồng nội. Trong bài thơ sau đây khi tân lang của nữ thần Inana được những người hầu gái dẫn vào chiếc giường hợp cẩn, họ thỏ thẻ bên tai chàng:

    Mong chàng như một nông phu vun xới cánh đồng Như một kẻ chăn cừu con chiên đầy đàn Mong thay trên giàn nho trổ thành chùm Ngoài đồng lúa mạch trổ bông Dưới sông cá chép tung tăng Trên đồng chim cò ríu rít Trong gió bãi sậy rì rào Mong thay, sa mạc đón mừng cây cỏ Rừng rú vui vầy hươu nai Những thửa vườn xanh mát sẽ cho mật ngon rượu nồng Và rau tươi trái ngọt ê hề Mong thay, với đức độ của chàng Đời sống hoàng cung sẽ trở thành vĩnh cửu

    Tất cả những thứ tình cảm, hỷ, nộ, ái, ố được mô tả trong văn học Lưỡng Hà đã làm cho người ta ngạc nhiên, vì cho dù hơn 4000 năm đã trôi qua chúng vẫn rất gần gũi với con người đương đại. Nền văn minh Lưỡng Hà là mốc cổ xưa nhất mà di tích còn cho phép chúng ta tiếp cận được qua văn tự. Nếu đúng như ước đoán ngôn ngữ con người đã hiện hữu cách đây khoảng một triệu năm, thì, nói một cách tương đối, bốn hay năm ngàn năm đó cũng chẳng cách xa chúng ta là bao nhiều. Và người Lưỡng Hà trên nhiều phương diện rất giống chúng ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)
  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.
  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • Sự Khác Biệt Giữa Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục
  • Biến Toàn Cục Và Biến Cục Bộ Trong C#
  • Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Lịch sử Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil. Sử gia Hy Lạp cổ đại là Herodote đã từng viết: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nil”. Điều đó nói lên rằng sông Nil có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của người Ai Cập thời cổ đại. Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10, nước sông Nil dâng cao gây nên những trận lụt lớn. Sang tháng 11, nước sông rút đi, để lại một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, rất thích hợp cho việc gieo trồng các loại ngũ cốc. Vì vậy, dân cư sống từ thời viễn cổ ở hai bên bờ sông Nil đã biết nghề nông rất sớm. Dọc hai bờ sông Nil và ven các hồ, đầm mọc rất nhiều một loại cây sậy – cây papyrut. Người Ai Cập thời xưa dùng vỏ cây papyrut để làm giấy viết.

    Giấy được làm từ vỏ cây Papyrut

    Ở những dãy núi phía đông và phía tây dọc thung lũng sông Nil, có rất nhiều loại đá khác nhau: đá vôi, đá huyền vũ, đá hoa cương, đá vân mẫu. Đây là những vật liệu kiến trúc quan trọng nhất của người Ai Cập thời cổ đại.

    Tài nguyên thiên nhiên có quan hệ đến việc ghi chép văn tự của người Ai Cập cổ đại. Văn tự Ai Cập cổ đại được ghi lại trên các cuốn giấy papyrut. Thân cây papyrut được người Ai Cập cổ đại dùng để làm giấy. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy. Chính các cuộn giấy papyrut này được lưu giữ ở các bảo tàng châu Âu(1) đã cho hậu thế biết được những trang sử, những thành tựu y học(2) và các thành tựu văn hóa khác của Ai Cập cổ đại.

    Văn tự Ai Cập cổ đại còn được khắc giữ trên các tường thành, các bia bằng đá. Văn tự cổ Ai Cập về sau đã trở thành “văn tự chết”, vì đã lâu người ta không dùng thứ văn tự này nữa và cũng quên cách đọc. Nhưng việc đọc lại được văn tự cổ đó sẽ rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử Ai Cập cổ đại. Chính là nhờ phát hiện được một tượng đá bằng phún thạch, trên mặt đá có ghi đầy đủ các loại chữ Ai Cập cổ, chữ Arập, chữ Hy Lạp cổ mà Jean Franςois Champollion đã có căn cứ để tìm cách đọc lại được văn tự Ai Cập cổ đại vào năm 1822(3).

    Bức tượng “Scribe accroupi”, viên thư lại ngồi xếp bằng

    Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Ai Cập cổ đại rất nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ kim. Những đền đài, cung điện, kim tự tháp còn bảo tồn đến ngày nay đều chứng minh điều đó. Những công trình văn hóa ấy đều gắn liền với đá – một tài nguyên dồi dào ở Ai Cập. Để xây những kim tự tháp, người ta phải dùng một khối lượng đá rất lớn gồm hàng chục triệu khối đá. Những khối đá ấy được mài nhẵn và ghép vào nhau rất sát. Những tác phẩm điêu khắc cũng thể hiện tài năng lỗi lạc của cư dân Ai Cập. Người ta đã khắc tượng các Pharaoh bằng đá. Bức tượng “người thư lại” ngồi xếp bàn được tạc bằng đá của thời Cổ vương quốc cũng khá nổi tiếng. Vẻ sinh động của các bức tượng cũng phải khiến người đời nay thán phục. Cũng nhờ được chế tác từ đá mà rất nhiều giá trị văn hóa cổ Ai Cập còn lưu lại được cho đến ngày nay. Nhờ vậy mà người Ai Cập có thể nói: Bất cứ cái gì đều sợ thời gian, nhưng bản thân thời gian thì phải sợ kim tự tháp.

    Giữa các kim tự tháp, trên cánh đồng Gize, gần Memfis, có tượng Sphinx dài 57 mét, cao 20 mét. Khi viễn chinh sang Ai Cập, Napoléon đã cho pháo binh bắn đại bác vào tượng đó, hòng mở một lối vào bên trong của tượng. Sau đó mới rõ bức tượng là một khối đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc thời bấy giờ tạc thành đầu người, mình sư tử để tượng trưng cho quyền lực Pharaoh “oai hùng và bất diệt”.

    Đại nhân sư Sphinx của Giza, bức tượng khổng lồ nửa người nửa sư tử nằm bên bờ tây sông Nile, gần Cairo

    Ở Ai Cập cổ đại, sự phát triển khoa học cũng gắn liền với điều kiện tự nhiên, với dòng sông Nil. Đúng như K. Marx đã nói: “Ở Ai Cập, trước hết là do sự cần thiết mới biết được mực nước sông Nil lên xuống nên đã đẻ ra thiên văn học Ai Cập…”. Vì muốn biết thời tiết và mực nước của sông Nil để sắp xếp công việc đồng áng nên người Ai Cập cổ đã sớm chú ý quan sát thiên văn. Các nhà thiên văn Ai Cập đã phát hiện các chòm sao và đã soạn ra bản đồ thiên thể được vẽ trên các cửa đền đài cổ. Còn truyền lại cho chúng ta ngày nay là bản đồ 12 cung hoàng đạo. Người ta đã vẽ chòm sao Bắc cực thành đầu một con bò. Họ cũng biết sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ và các hành tinh khác. Người Ai Cập cũng đã phát minh ra chiếc đồng hồ đo bóng mặt trời để tính thời gian trong một ngày. Họ chia một ngày ra làm 24 giờ rồi chiếu theo vị trí của bóng mặt trời ở trên đồng hồ đó mà đọc giờ, phút.

    Việc gieo trồng có quan hệ mật thiết với việc hiểu biết thời gian lên xuống của mực nước sông Nil. Muốn biết chắc chắn lúc nào nước sông Nil lên cao, người Ai Cập cổ phải quan sát bầu trời và làm lịch. Người Ai Cập nhận thấy đến một ngày nào đó, lúc sáng sớm mà có sao Lang (Sirius) mọc đúng ở đường chân trời thì đúng là lúc nước sông Nil bắt đầu dâng lên. Ở Ai Cập cổ đại, việc cần biết thời gian nào nước sông Nil lên cao, việc quan sát bầu trời để từ đó có tri thức về thiên văn học, việc làm lịch, ba việc đó có quan hệ mật thiết với nhau. Đơn vị “năm” trong lịch cổ Ai Cập là thời gian giữa hai lần lúc sáng sớm có sao Lang xuất hiện ở đường chân trời.

    Lịch sử văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil nên trong tín ngưỡng người Ai Cập cổ đã sùng bái thủy thần Osiris tức là thần sông Nil. Những lời ca tụng sông Nil đã xuất hiện rất sớm trong đời sống của văn hóa Ai Cập:

    Chào người, ta chào sông Nil

    Từ quả đất này Người xuất hiện

    Người đến để nuôi sống Ai Cập

    Người tạo ra lúa mì, lúa mạch

    Khi Người trào dâng, thì mặt đất hoan hỷ

    Mọi người vui mừng

    Mọi cái lưng rung lên, vì những tiếng cười

    Mọi cái răng cắn lấy thức ăn…(4)

    Bản đồ văn minh Lương Hà ( phần phủ màu xanh)

    Lưỡng Hà hay Mésoptamie (có nghĩa là miền đất giữa hai con sông) là khu vực do hạ lưu hai con sông Tigris và Euphrates tạo thành. Giống như miền thung lũng sông Nil, lưu vực Lưỡng Hà cũng là một khu vực phì nhiêu, rất thích hợp cho nghề nông. Ở Lưỡng Hà rất hiếm đá và các loại khoáng sản nhưng chất đất ở Lưỡng Hà chủ yếu là đất sét dùng để làm gạch và đồ gốm rất tốt. Điều đó đã tạo nên một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa ở Lưỡng Hà.

    Vào giữa thế kỷ XIX các nhà khảo cổ học người Anh đã khai quật được tại Niniv kinh đô của đế quốc Assyrie một thư viện đồ sộ – thư viện của Hoàng đế Assurbanipal. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 22000 bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ. Những bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ ấy đã giữ lại cho hậu thế những sự tích thần thoại, những tri thức khoa học và văn học nghệ thuật. Những bảng gạch bằng đất sét ấy bị chôn vùi dưới đất 2500 năm, đã được lửa làm cho rắn và…bền thêm nên đã không bị hủy hoại.

    Văn tự cổ còn lưu lại của nền văn minh Lưỡng Hà

    Các nhà khảo cổ học cho rằng có thể đây là bức thư đầu tiên của nhân loại. Bức thư này hiện đang được lưu giữ tại một viện bảo tàng ở Luân Đôn. Đó là một miếng đất sét nung, đào được ở vùng Caldée, có cả phong bì nặn theo hình cái túi cũng bằng đất sét nung. Theo các nhà khảo cổ thì người viết thư đó sống cách chúng ta khoảng 7000 năm ở vào thời vua Lacdu – vị vua thứ nhất của Vương quốc Babylone. Chữ viết trên bức thư là những nét gạch bằng que nhọn, khó khăn lắm người ta mới đọc được. Bức thư nói về việc bán hay cho thuê một mảnh đất do một người tên là A-ni-ni chuyển nhượng lại cho một người tên là Sim-đi-ha (5).

    Ở Lưỡng Hà vì hiếm đá nên đất sét cũng là vật liệu xây dựng chính. Ở đất nước Iraq ngày nay (thuộc vùng Lưỡng Hà xưa kia) có một địa danh hết sức nổi tiếng trong lịch sử: thành Babylone. Thành Babylone có tên trên bản đồ thế giới cổ đại vào nửa sau của thiên niên kỷ III trước công nguyên. Người Akkad đã đặt những nền móng đầu tiên cho nó vào những năm 2350 – 2150 TCN. Vào thời kỳ hưng thịnh của Babylone, Hoàng đế Nabochodonosor đã xây dựng lại trung tâm Babylone thành một đô thành nguy nga đồ sộ. Thành Babylone có mặt bằng hình chữ nhật. Toàn bộ tường thành có 9 cửa lớn. Ở phía bắc là cửa Ixta nổi tiếng ghép bằng gạch lưu ly màu, đó cũng chính là một sản phẩm độc đáo chỉ có ở vùng Lưỡng Hà. Theo nhà sử học Herodote thì Babylone “được chia làm hai phần bị cắt thẳng ở giữa bởi một con sông lớn, sâu và chảy xiết tên là sông Euphrates”.

    Những điều kiện đất đai, thủy văn, vật liệu xây dựng riêng biệt đã chi phối hoạt động kiến trúc của cư dân Lưỡng Hà cổ đại. Vùng đất này gần sông, nên đất không lấy gì làm chắc chắn, xung quanh là sa mạc, chỉ thỉnh thoảng mới có một vài khóm cọ…là những yếu tố đòi hỏi người thiết kế phải suy nghĩ từ kỹ thuật cho đến nghệ thuật.

    Vườn treo Babylon (cũng được gọi là vươn treo Semiramis)

    Ở Lưỡng Hà cổ đại, vượt lên trên tất cả thành quách, đền đài cung điện…được xây dựng công phu và đẹp đẽ là một công trình hết sức độc đáo: “vườn hoa không trung” hay còn gọi là “vườn treo” – là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Đây là món quà của vua Nabochodonosor tặng cho vợ của ông ta.

    “Vườn hoa không trung” này được xây dựng trên một quả đồi nhỏ. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát được cả thành Babylone.

    Điều đáng chú ý là vật liệu xây dựng thành Babylone cũng như xây dựng ngọn đồi nhân tạo để có một “vườn hoa không trung” chủ yếu là bằng gạch dựa trên cơ sở nguồn đất sét phong phú ở Lưỡng Hà. Vườn treo Babylone ngày nay chỉ để lại dấu vết là ít phần móng của công trình làm bằng đá, một loại vật liệu ít thấy và chỉ có ở cách Babylone hàng trăm km. Chính vì vậy mà các thành tựu kiến trúc của Lưỡng Hà cổ đại khó giữ lại gần nguyên vẹn như là ở Ai Cập cổ đại. Đứng trước Babylone, du khách không có cái “rợn ngợp” triết lý về mặt thời gian mà nhiều hơn là mối cảm hoài “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Cái tráng lệ và huy hoàng của Babylone xưa kia nay chỉ còn in dấu trên những bức tường, có bức được xây bằng gạch gốm tráng men ghép lại thành hình những con thú: sư tử, bò tót và con vật thần thoại – đầu rồng, mình cá, chân phượng hoàng hoặc là những hoa văn. Nhà hát Babylone, con đường “hành lễ” cũng chỉ còn lại những mảnh tường.

    Tại viện bảo tàng lịch sử Iraq hiện nay đang còn lưu giữ rất nhiều những hiện vật được chế tạo bằng đất sét từ thời kỳ cổ đại.

    Văn hóa là do con người sáng tạo ra trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Nhưng văn hóa cũng chịu ảnh hưởng của những điều kiện tự nhiên, khí hậu, tài nguyên, cảnh quan, sông núi…Những điều kiện tự nhiên ấy đã góp phần vào sự hình thành màu sắc và cả bản sắc văn hóa của một khu vực, một dân tộc…Con người sáng tạo văn hóa, dù muốn hay không cũng có mối quan hệ với hoàn cảnh tự nhiên, tìm thấy trong điều kiện tự nhiên những mặt thuận lợi và cả những mặt khó khăn, tìm thấy trong tự nhiên những gì có thể mang lại cho văn hóa những ảnh hưởng độc đáo, những nguồn cảm hứng sáng tạo.

    Chú thích:

    (1)Tại một viện bảo tàng ở Hà Lan có cuộn giấy papyrut ghi chép tác phẩm Lời khuyên răn của I-pu-xe; tại viện bảo tàng Saint Peterburg (Nga) còn lưu giữ cuộn giấy ghi chép tác phẩm Lời tiên đoán của Nê-phéc-ty.

    (2) Nhiều thành tựu y học được ghi lại trên các cuộn giấy papyrut của Ai Cập cổ đại (Chiêm Tế (1970), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 128).

    (3) Đặng Đức An chủ biên (1995), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.

    (4) Trích dịch từ sách Học tập lịch sử cổ đại, trung đại ở lớp 5, 6, E.I Nhi-ca-nô-ra-vôi chủ biên (1964), Mátxcơva. Bản dịch của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế.

    (5) Đắc Lê, “Bức thư đầu tiên”, Báo Quân đội Nhân dân, số 5187.

    Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Nền Văn Minh Ai Cập Cổ Đại Cùng Những Bí Ẩn Vẫn Chưa Có Lời Giải

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Ẩn Về Nữ Hoàng Nefertiti Trong Lịch Sử Ai Cập Cổ Đại
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Và Địa Lý Của Belize
  • Bạn Đã Sẵn Sàng Tìm Hiểu Về Các Anh Hùng Vĩ Đại Trong Lịch Sử?
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh: Một Số Lưu Ý
  • Mời Tham Gia Cuộc Thi “tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Định”
  • Trong lịch sử của nhân loại hiếm có một nền văn minh nào chứa đầy bí ẩn và hấp dẫn hơn Ai Cập cổ đại . Nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng trãi qua hàng thập kỉ vẫn chưa có lời giải đáp trước sự cố gắng của các nhà nghiên cứu.

    Khám phá những bí ẩn về Ai Cập cổ đại đến nay vẫn chưa có lời giải

    Nguyên nhân gây ra cái chết của Vua Tutankhamun

    Vua Tutankhamun là một vị pharaoh nổi tiếng của Ai Cập cổ đại dù ông qua đời khi còn trẻ. Theo kết quả của ảnh chụp X-quang và chụp cắt lớp CT xác ướp, cho thấy nhà vua bị thương khá nặng ở xương sườn và bị gãy một chân. Điều này dẫn đến kết luận rằng vị pharaol chết do bị một xe ngựa đâm phải.

    Tuy nhiên, nhiều giả thuyết xoay quanh cái chết của vị vua đã được đưa ra. Có thể là từ một cú đá của ngựa kéo xe, còn có giả thiết là bị hà mã tấn công. Một số xương sườn của vị vua này đã biến mất, có thể là do vụ tai nạn, cũng có thể là đã bị bọn trộm mộ cắt bỏ để lấy đi đá quý trong lồng ngực.

    Giáo sư Albert Zink đã đưa ra một giả thiết khác dựa trên hơn 2.000 bản quét máy tính và kiểm tra ADN của dòng họ Tutankhamun cho thấy việc tai nạn xe ngựa là không khả thi. Nguyên nhân là nhà vua bị khoèo chân bẩm sinh. Giáo sư cho rằng lý do dẫn đến Vua Tutankhamun chết trẻ là bẩm sinh cơ thể yếu ớt do kết quả của hôn nhân cận huyết. Ngoài ra, vị pharaol còn mắc sốt rét. Tuy nhiên, ngay cả giáo sư Zink cũng không thể chắc chắn đây là nguyên nhân cái chết. Đến ngày nay, điều này vẫn còn là một bí ẩn không thể lý giải.

    Tên gốc của nhân sư

    Trãi qua hàng thập kĩ, tượng nhân sư bị chôn vùi sâu dưới cát. Cho đến năm 1817, đầu tượng mới nhô ra khỏi lớp cát. Nhờ sự khám phá của nhà khảo cổ Mark Lehner, chúng ta đã biết Pharaoh Khafre là người dựng tượng, cách xây dựng và thời gian xây dựng ngắn nhất là ba năm. Ngoài những điều trên thì tất cả về nhân sư vẫn còn là dấu hỏi.

    Ý nghĩa thực sự của tên gọi nhân sư đến ngày nay vẫn chưa được làm rõ. Chúng ta chỉ biết Thần Ruti của Ai Cập cổ có hình dáng như hai con sư tử gắn liền ở lưng, vị thần bảo vệ cánh cửa bước vào thế giới bên kia.

    Xác ướp trong tình trạng đau khổ

    Xác ướp có miệng mở ra như đang hét lên không phải điều hiếm gặp. Đây được cho là kết quả của nghi lễ đặc biệt giúp những linh hồn người chết ăn, uống và thở dễ dàng hơn khi qua thế giới bên kia. Nhưng xác ướp có tên là “Unknown Man E” được tìm thấy vào năm 1886 gây ấn tượng mạnh vì có vẻ như đang thét lên trong đau đớn. Một số nhà nghiên cứu kết luận rằng người đàn ông đó đã bị đầu độc hoặc chôn sống. Số khác cho đây là một hoàng tử người Hittite bị giết.

    Lại có một số giả thuyết khác cho rằng người đàn ông này có thể là Hoàng tử Pentewere, người bị xử tử do lên kế hoạch ám sát vua cha Pharaoh Ramses III. Đây có thể là nguyên do vì sao xác ướp bị bọc trong da cừu một dấu hiệu cho thấy người chết đã làm điều xấu xa. Đồng thời, người đàn ông này không có bia mộ, như thể anh ta không thể sang thế giới bên kia sự trừng phạt nặng nhất với người Ai Cập cổ. Não của vẫn còn trong hộp sọ, xác không được làm khô, và nhựa cây được đổ vào họng thay vì đổ trong sọ. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là một giả thuyết vì chưa có bằng chứng xác thực.

    Số phận của Nữ hoàng Nefertiti

    Ngoài cái tên Cleopatra, khó có phụ nữ Ai Cập cổ nào nổi tiếng hơn Nữ hoàng Nefertiti. Bà đồng nhiếp chính cai trị cùng Pharaoh Akhenaten suốt nhiều năm, cho đến khi đột ngột biến mất. Sau năm 1336 trước Công nguyên, các ghi chép đều không hề nhắc đến chuyện gì đã xảy ra với vị nữ hoàng. Ngày nay vẫn chưa tìm thấy lăng mộ hay xác ướp của Nữ hoàng.

    Số buồng trong Đại kim tự tháp Giza

    Ngày nay chúng ta vẫn chưa biết bên trong kỳ quan cổ đại kim tự tháp Giza có những gì ngoài ba buồng chính của vua, nữ hoàng và sảnh lớn. Vào thời gian gần đây, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp kỹ thuật tiên tiến nhất và phát hiện ra thêm một số buồng mới trong kim tự tháp.

    Từ năm 1993, rất nhiều robot nhỏ đã được đưa vào bên trong kim tự tháp để khám phá. Chúng mang lại những hình ảnh về những đường hầm bí ẩn chưa từng được phát hiện. Những đường hầm này quá nhỏ cho mục đích sử dụng thông thường. Tuy nhiên, những phát hiện trên cho thấy vẫn còn nhiều điều bí ẩn trong kim tự tháp mà chúng ta chưa tìm ra.

    Người được chôn ở Qurna

    Vào năm 1908, nhà Ai Cập học có tên là Flinders Petrie đã phát hiện ra một khu lăng mộ hoàng gia. Hai quan tài trong mộ có niên đại trước thời vua Tutankhamun khoảng 250 năm. Một xác ướp là phụ nữ và xác ướp còn lại là trẻ em, có thể đây là con của người phụ nữ này. Cả hai đều mang trang sức bằng vàng và ngà voi, thể hiện tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của họ. Tuy nhiên, những mô tả trong mộ về thân phận của hai người đã bị hư hại nặng, chỉ biết rằng đây là nơi chôn vợ của vua.

    Đã có nhiều phỏng đoán được đưa ra về thân phân của người phụ nữ này. Đây có thể là Ha’ankhes, Nubemhat, hay vợ Vua Rahoptep or Inyotef V. Thông tin về xác ướp trẻ em còn khó xác định hơn. Hai xác ướp này đã được trưng bày tại bảo tàng Scotland vào năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Sách: Lịch Sử Nghệ An
  • Lễ Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu “lịch Sử Tỉnh Nghệ An
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu ‘lịch Sử Tỉnh Nghệ An 990 Năm Hình Thành Và Phát Triển’
  • Trao Giải Cuộc Thi Tìm Hiểu “đảng Bộ Thành Phố Thanh Hoá 75 Năm Phát Triển Và Trưởng Thành”
  • Khảo Cổ Học Về Kinh Thánh Cựu Ước
  • Phương Pháp Dạy Văn Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn_Vận Dụng Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Viết Văn Thuyết Minh Cho Học Sinh Lớp 8.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vài Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 8 Học Tốt Kiểu Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lập Dàn Ý Bài Văn Thuyết Minh (Chi Tiết)
  • 5 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Một Danh Lam Thắng Cảnh, Bài Văn Mẫu Hay Nhấ
  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • I- Tên đề tài :

    MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

    II- Lý do chọn đề tài :

    1) Cơ sở lý luận :

    Thế nhưng một vài năm trước đây, việc giảng dạy trong nhà trường của chúng ta bị xã hội phê phán là nặng tính chất kinh điển còn thoát ly đời sống thực tế. Học sinh giỏi về lý thuyết nhưng lại yếu về thực hành. Không chỉ thế, các em còn hầu như chưa có khả năng tự trình bày rõ ràng, mạch lạc một phương pháp, một cách làm về sản phẩm mình làm ra; có em lại chưa biết tự giới thiệu về những đặc trưng tiêu biểu nhất của quê hương mình … Làm sao để khắc phục tình trạng trên ? đó quả là câu hỏi khó. Và Bộ Giáo Dục đã thực hiện theo tinh thần hiện đại hóa nội dung chương trình, hướng tới thực tiễn đời sống, giảm bớt hàn lâm, tăng cường thực hành nói và viết cho học sinh, SGK Ngữ Văn 8 đã đưa vào giảng dạy ở phần tập làm văn thể loại “Văn thuyết minh” với mong muốn bước đầu các em có năng lực giới thiệu khách quan, mạch lạc về đối tượng nào đó.

    2) Cơ sở thực tế

    Như tất cả chúng ta đều biết, để thu hút được sự chú ý của hoïc sinh trong giờ học Văn đã khó với phân môn Tập Làm Văn lại càng khó hơn. Do vậy muốn thực hiện được người giáo viên cần phải có nghệ thuật, có söï kết hợp nhiều yếu tố. Nếu giáo viên không biết phương pháp, hững hờ thiếu nhiệt tình thì sẽ gây sự nặng nề, nhàm chán, thụ động cho học sinh. Mặt khác, sự chủ động, tích cực hợp tác của học sinh cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của tiết học. Mà trong thực tế giảng dạy, một số đông các em vẫn còn thờ ơ với tiết học, có thái đô học tập rất thụ động theo kiểu thầy dạy bao nhiêu biết bấy nhiêu, không tự tìm tòi, học hỏi, quan sát… tại sao vậy? Phải chăng là do các em không có hứng thú với Phần Tập Làm Văn. Hay còn vì lý do nào khác nữa? đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở khá nhiều.

    Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài này và xin ghi lại đây một vài kinh nghiệm nhỏ bé với hy vọng những ý kiến của tôi sẽ phần nào giúp ích cho quý đồng nghiệp.

    B-GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Bên cạnh những thuận lợi trên, tôi cũng gặp phải một số khó khăn cần khắc phục:

    -Trường tôi đang giảng dạy là một trong những trường khá xa trung tâm, xa thị trấn huyện, tỉnh nên việc nắm bắt thông tin giảng dạy tiên tiến, hiện đại còn chậm và hạn chế. Đôi khi rất khó khăn cho việc tìm tài liệu cho bài giảng của mình, nhất là phần thuyết minh về địa phương.

    – Giáo viên THCS được phân công giảng dạy theo từng phân môn. Gia ́ o viên nào được phân công dạy môn nào thì chỉ chuyên tâm tìm hiểu, hoïc hoûi vaø trau doài kieán thöùc chuyeân moân ñoù,ít khi tìm hieåu, quan tâm đến các phân môn khác, các lĩnh vực khác . maù phaàn vaên thuyeát minh laïi coù moái quan heä khaù chaët cheõ vôùi caùc moân hoïc khaùc trong nhà trường và các lĩnh vực trong đời sống.

    – Học sinh ở đây đa số là con nhà nông , neân ngoaøi thôøi gian hoïc ôû tröôøng các em veà nhaø phaûi phụ giúp gia đình rất nhiều công việc. Có em một buổi đi học còn một buổi ở nhà phụ gia đình … Có khi, các em đi làm về chỉ kịp tắm rửa, thay bộ quần áo là tới trường. Các em tới lớp với một cơ thể mệt mỏi như vậy rất khó tiếp thu kiến thức mới, đôi khi còn ngủ gục trong giờ học. Và cũng chính vì lí do đó nên các em không có đủ thời gian để chuẩn bị bài trước khi lên lớp, cũng như không có thời gian để tìm tòi thêm trên ñaøi, báo, các kiến thức trong thực tế.

    II- Yêu cầu của đề tài.

    – Phần văn thuyết minh cần được giảng dạy, truyền thụ kiến thức một cách nhẹ nhàng nhưng khắc sâu kiến thức cho học sinh. Liên hệ chặt chẽ với các môn học khác và một số lĩnh vực trong đời sống.

    – Giúp giáo viên Ngữ Văn giảng dạy tốt và đạt kết quả cao. Đồng thời, phải luôn luôn tìm tòi nghiên cứu, trau dồi thêm kiến thức thực tế.

    – Kích thích sự hứng thú, chủ động, sáng tạo, quan sát và tìm tòi thêm các kiến thức trong các tiết văn thuyết minh nói riêng và các tiết Tập Làm Văn nói chung.

    – Đồng thời, giúp học sinh nhận ra rằng môn Ngữ Văn trong THCS là cầu nối các môn học khác và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các em trở thành con người của xã hội mới năng động và sáng tạo.

    III- Những biện pháp thực hiện.

    Muốn giảng dạy thành công văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn 8, trước hết cần phải nắm được một số vấn đề sau :

    Văn bản thyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) và đặc điểm, tính chất, nguyên nhân … của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích

    – Tri thức trong văn thuyết minh đòi hỏi khách quan xác thực, hữu ích cho con người.

    – Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.

    Văn bản thuyết minh còn là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng cùng lí do phát sinh, quy luật phát triển, biến hóa của sự vật nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫn cách sử dụng cho con người. Văn bản thuyết minh được sử dụng trong nhiều ngành nghề khác nhau. Mua một cái máy như tivi, máy bơm, máy cày…đều phải kèm theo bản thuyết minh để ta hiểu tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản . Mua một hộp bánh, trên đó cũng có ghi xuất sứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng tịnh…Đến một danh lam thắng cảnh, trước cổng vào thế nào cũng có ghi lời giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắng cảnh. Ra ngoài phố, ta gặp các bảng quảng cáo giới thiệu sản phẩm. Cầm quyển sách, bìa sau có thể có lời giới thiệu tóm tắt nội dung. Trong sách giáo khoa có bài trình bày thí nghiệm hoặc trình bày sự kiện lịch sử, trình bày tiểu sử nhà văn, giới thiệu tác phẩm được trích…Tất cả đều là văn bản thuyết minh. Như vậy, trong đời sống hàng ngày không lúc nào ta thiếu được văn bản thuyết minh.

    Do vậy, đưa văn bản thuyết minh vào Ngữ Văn 8 là cung cấp cho học sinh một kiểu văn bản thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức có tính chất khách quan, khoa học, nâng cao năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh. Hay nói một cách khác đưa văn bản thuyết minh vào Ngữ Văn 8 là đáp ứng yêu cầu đời sống xã hội hiện nay, đào tạo một năng lực cần thiết mà học sinh ta xưa nay chưa được học chính thức.

    Như chúng ta biết SGK chương trình Ngữ Văn THCS được xây dựng theo nguyên tắc “đồng tâm” hai vòng : vòng I (gồm lớp 6 – 7) vòng 2 (gồm lớp 8 – 9). Nhưng phần văn bản thuyết minh lại chỉ có ở vòng 2 ( lớp 8). Mặc dù phần văn bản thuyết minh chỉ được có mặt ở lớp 8 nhưng nó lại có sự tích hợp rất chặt chẽ với các lớp 6, 7, 9 thông qua các văn bản nhật dụng.

    Ví dụ: Như khi giảng bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ta có thể tích hợp, liên kết tới văn bản “Động Phong Nha”(ngữ văn 6), “Ca Huế trên sông Hương” (ngữ văn 7) hay “Cầu Long biên_chứng nhân lịch sử” (ngữ văn 6)…

    a) Đặc điểm:

    Ví dụ: Khi giới thiệu một cuốn sách học sinh phải cho biết sách của ai, thể loại gì, xuất bản năm nào, ở đâu, nội dung gồm những mục gì, sách dày hay mỏng, cần thiết đối với ai…Nếu đọc kỹ phải giới thiệu sách nêu vấn đề gì. Hay muốn giới thiệu về một tác giả nào đó thì phải giới thiệu được họ tên đầy đủ (bí danh nếu có), ngày tháng năm sinh, năm mất, quê quán, thể loại thành công nhất của tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất của tác giả…Tìm hiểu kĩ hơn thì có thể viết về xuất thân của tác giả, những thăng trầm của cuộc đời tác giả …

    Ngoài ra văn thuyết minh còn có tính chất thực dụng, cung cấp tri thức là chính nên không nhất thiết phải làm cho người đọc thưởng thức cái hay cái đẹp như tác phẩm văn học. Tuy nhiên nếu viết có cảm xúc, biết gây hứng thú cho người đọc thì vẫn tốt .

    b) Phương pháp thuyết minh

    Nếu như nói tri thức về đối tượng cần thuyết minh là vô cùng quan trọng trong bài văn thuyết minh. Thì phương pháp thuyết minh cũng đóng vai trò quan trọng không kém cho việc thành công của một bài văn thuyết minh. Nên để làm được một bài văn thuyết minh hay thì nhất thiết phải có phương pháp phù hợp với từng đối tượng thuyết minh. Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh biết cách sử dụng các phương pháp sao cho hiệu quả nhất đối với từng đối tượng.

    Ví dụ: để thuyết minh về cái quạt máy thì phương pháp phân chia đối tượng thành các bộ phận là phù hợp nhất. Để làm được đề này thì ta có thể chia chiếc quạt máy thành hai hệ thống chuyển động và hệ thống bảo vệ rồi sau đó lần lượt đi thuyết minh từng hệ thống. Hay để thuyết minh về tác hại của việc hút thuốc lá thì ta lại phải sử dụng chủ yếu là phương pháp liệt kê, đưa số liệu để giúp người đọc có thể thấy rõ được ảnh hưởng to lớn của thuốc lá đến sức khỏe con người cũng như đến môi trường xung quanh.

    c) Đề văn thuyết minh

    Đề tập làm văn thường có hai dạng: một là đề văn có mệnh đề, xác định nhu cầu, phạm vi bài văn (như thuyết minh về chiếc quạt máy, thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam…). Hai là đề văn chỉ nêu đề mục, không có mệnh lệnh cụ thể. Loại đề thứ hai này thường chỉ nêu đối tượng thuyết minh, đòi hỏi học sinh phải cụ thể hóa, lựa chọn đối tượng cụ thể cho bài viết của mình. Và ngữ văn 8 dùng cả hai loại đề này nhưng nhiều trương hợp nghiêng về kiểu thứ hai để phát huy vai trò chủ động của học sinh.

    Ví dụ: Đề chỉ cần nêu “Chiếc nón lá Việt nam” là học sinh đề đề yêu cầu viết bài thuyết minh, giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam. Hay đề nêu “Giới thiệu về một món ăn dân tộc (bánh chưng, bánh giày, phở, cốm…)” thì học sinh có thể lựa chọn một đối tượng cụ thể mà mình hiểu biết để thuyết minh, không nhất thiết bắt buộc phải thuyết minh về một đối tượng mình ít hiểu biết. Ở những đề kiểu này giáo viên có thể cho học sinh tự chọn đối tượng mà mình hiểu biết, yêu thích như vậy bài làm của các em sẽ đạt kết quả cao hơn.

    e) Phân biệt văn thuyết minh với các kiểu văn khác

    Trong chương trình Ngữ Văn THCS học sinh cũng đã được học cách giải thích trong nghị luận. Nhưng nghị luận giải thích chủ yếu là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề. Ở văn bản thuyết minh lại là giải thích bằng cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản đồ vật chúng tôi nói cách khác là giải thích bằng tri thức khoa học .

    Như vậy, văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loại văn bản khác không thay thế được. Mặc dù, trong bài thuyết minh ở đâu đó ta vẫn thấy bóng dáng của các văn bản trên.

    g) Cuối cùng là ta cần phải hết sức quan tâm đến tính tích hợp ngang, tích hợp dọc trong cùng phân môn Ngữ Văn. Như ở sáng kiến kinh nghiệm năm 2005-2006 tôi đã trình bày văn thuyết minh có mối quan hệ hết sức mật thiết với văn bản nhật dụng. Từ những văn bản nhật dụng này giúp học sinh biết cách làm một bài văn thuyết minh hay hơn, cũng như cung cấp cho học sinh rất nhiều thông tin về viết bài. Và đưa học sinh đến gần hơn với đời sống hằng ngày. Cũng chính những văn bản nhật dụng này là ví dụ cụ thể, chân thực cho các phương pháp thuyết minh.

    Không chỉ có vậy, văn thuyết minh còn có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác như Địa Lí, Lịch sử, Sinh học, Hoá học, Toán học,…Trong trường THCS

    Ví dụ: Để giới thiệu được về một danh lam thắng cảnh nào đó ta phải biết được quá trình hình thành và phát triển của nó; phải biết được nó nằm ở vị trí nào, sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu, hình dáng nó như thế nào, môi trường cảnh quan xung quanh ra sao…Tất cả những điều này ta không thể bịa ra được mà phải tra cứu trong những sách chuyên môn mới có được.

    Từ những điều trên sẽ giúp học sinh có khả năng liên hệ, có kĩ năng quan sát, phân tích và biết kết hợp các môn học trong THCS. Đặc biệt là giúp học sinh tiếp cận với đời sống xã hội.

    Chúng ta điều biết học sinh chỉ hiện ra đầy đủ và toàn điện nhất rong mối quan hệ với giáo viên và với tác phẩm. Do đó, họ vừa là đối tượng của hoạt động dạy lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Cho nên, họ tích cực, năng động tự mình dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên để có thể phát triển toàn diện, thực chất về óc thẩm mĩ, khả năng quan sát, kĩ năng tạo lập văn bản…Từ đó, giáo viên phải có những phương pháp đúng đắn để có thể phát huy hết tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

    Hiểu được những điều trên khi giảng dạy tôi đã chú ý để có thể kết hợp nhiều phương pháp vào giảng dạy văn thuyết minh như các thể loại văn khác trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với tính chuyên biệt của môn học.

    Có thể kết hợp cả phương pháp truyền thống và các phương pháp mới để giảng dạy tuỳ vào từng bài, từng đối tượng học sinh cho phù hợp.

    Một số phương pháp sau:

    – Phương pháp thuyết trình kết hợp với minh hoạ giảng giải .

    – Phương pháp đàm thoại kết hợp với phân tích, chứng minh.

    – Phương pháp nêu vấn đề (kích thích tư duy sáng tạo của học sinh).

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp thống kê soá lieäu, nghieân cöùu taøi lieäu (söu taàm)

    – Phöông phaùp vieát ñoaïn vaên ngaén

    IV. Phần minh hoạ cho những phương hướng và yêu cầu đã nêu trên.

    Nếu giáo viên nắm được những vấn đế và phương hướng nêu trên thì sẽ thuận lợi trong việc soạn giảng phần vănø thuyết minh ngữ văn 8.

    -Cách 1: Đặt ra một tình huống cho học sinh trả lời:

    Theo các em, làm thế nào để qua sông mà không cần lội xuống nước ? (học sinh trả lời: đi qua cầu, đi đò, đi phà …) Hay làm thế nào để học tốt ? (học sinh trả lời: học tập chăn chỉ, làm bài tập soạn bài đầy đủ, chú ý lắng nghe …). Đó chính là cách thức, phương pháp để giải quyết vấn đề. Đối với bài văn thuyết minh cũng vậy, muốn làm được tốt thì phải có phương pháp phù hợp. Vậy văn thuyết minh có những phương pháp nào, chúng ta cùng tìm hiểu trong tiết học này.

    – Cách 2: Chúng ta đã biết văn thuyết minh rất cần thiết trong cuộc sống để mở rộng tri thức cho con người. Ơû tiết học trước các em đã nắm đuợc vai trò và vị trí của văn thuyết minh. Hôm nay, trong tiết học này chúng ta cùng nhau tìm hiểu các phương pháp của văn thuyết minh. Xem văn thuyết minh có những phương pháp nào?

    Để làm được bài văn thuyết minh phải có tri thức về đối tượng đó. Mà muốn có tri thức về đối tượng thì trước hết phải biết quan sát. Quan sát không phải chỉ đơn thuần là nhìn, xem mà còn phải quan sát phát hiện đặc điểm tiêu biểu của sự vật, phân biệt cái chính, cái phụ. Đặc điểm tiêu biễu có ý nghĩa phân biệt sự vật này với sự vật khác vì như cao, thấp, dài, ngắn, to, bé, vuông ,tròn, … Thứ đến phải biết tra cứu từ điển, sách giáo khoa. Thứ ba là biết phân tích, ví dụ đối tượng có thể chia làm mấy bộ phận, mỗi bộ phận có đặc điểm gì, quan hệ của các bộ phận ấy với nhau ra sao.

    c) Tôi chỉ dành thời gian khoảng 5 -7 phút cho hai hoạt động trên còn thời gian còn lại tôi sẽ để tìm hiểu các các phương pháp. Bởi phương pháp thuyết minh là vấn đế then chốt của bài văn thuyết minh. Nắm được phương pháp học sinh sẽ phải ghi nhận thông tin nào, lựa chọn những số liệu nào để thuyết minh cho sự vật, hiện tượng. Nếu hiểu cấu tạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo các thành phần cấu tạo của nó. Nếu hiểu sự vật theo quá trình hình thành của nó thì phải trình bày theo quá trình đó từ trước đến sau. Nếu sự vật có nhiều phương diện và bộ phận thì lần lượt thì trình bày từng phương diện, bộ phận một cho đến hết. Như thế là trình bày theo trình tự đặc trưng của bản thân sự vật.

    Có rất nhiều phương pháp thuyết minh được giới thiệu trong bài. Và như ở trên tôi đã trình bày văn thuyết minh có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác trong trường THCS cũng như tích hợp với văn bản nhật dụng rất nhiều. Cụ thể như một số phương pháp sau:

    – Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích: với phương pháp này ta có thể bắt gặp ở trong tất cả các môn học trong nhà trường hay bất kì một các hiện tượng nào trong cuộc sống hàng ngày.

    Ở môn Âm Nhạc: nhịp là nhịp như thế nào? Nhịp là trong một ô nhịp có 2 phách, 1 phách mạnh và1 phách nhẹ.

    Ở môn sinh học : Hô hấp là gì? Hô hấp là quá trình không ngừng cung cấp O 2 cho các tế bào của cơ thể và loại CO 2 do các tế bào thải ra khỏi cơ thể. Và đây cũng là phương pháp mà học sinh sẽ phải luyện tập nhiều để tránh những lỗi thường gặp như định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp, không làm cho người đọc nhận thức được sự vật.

    Hay trong cuộc sống hàng ngày cũng phải sử dụng phương pháp này rất nhiều. Ví dụ như mưa là gì? Bão là gì? Tại sao có mưa, có bão? Để làm được điều này đòi hỏi học sinh phải có khả năng diễn đạt lưu loát mạch lạc, rõ ràng. Và đồng thời phần lớn các câu được sử dụng phương pháp này đều có vị trí đầu bài, đầu đoạn, giữ vai trò vai trò là giới thiệu. Và trong văn thuyết minh cũng sử dụng phương pháp này khá phổ biến.

    – Phương pháp nêu ví dụ, liệt kê. Đây là phương pháp thường dùng nhất trong các bài giảng c?a tất cả giáo viên thuộc tất cả các phân môn. Tôi có thể cho học sinh tích hợp các văn bản nhật dụng đã học ở những đoạn đặc biệt như :

    + ” Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-ni, gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Nguy hiểm nhất là khi các bao bì ni lông thải bỏ bị đốt, các khí độc thải ra đặc biệt là chất đi-o-xin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh”.

    (Thông tin về ngày trái đất năm 2000)

    + “Từ ngữ địa phương được dùng nhuần nhuyễn và phổ biến nhất là trong các câu hò đối đáp trí thức, ngôn ngữ được thể hiện thật tài ba, phong phú, chèo cạn, bài thai, hò đưa linh buồn bã, hò giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài chòi, bài tiệm, nàng vung náo nức nồng hậu tình người. Hò lơ, hò ô, xây lúa, hò nện gần gũi với dân ca Nghệ Tĩnh. Hòø Huế thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn “Huế”.

    (Ca Huế trên sông Hương)

    – Phương pháp đưa số liệu : ở phương pháp này thì hầu như phân môn nào cũng có. Giáo viên có thể cho tích hợp với các văn bản nhật dụng đã học như văn bản “Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử” có đoạn “Chiều dài của cầu là 2290m (kể cả phần dẫn với chín nhịp dài và mười nhịp ngắn) … nặng tới 17 nghìn tấn”. Hay văn bản “Ôn dịch thuôc lá” trong đoạn “Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ: Bác sĩ viện trưởng cho biết trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do hút thuốc lá”

    Bên cạnh đó, ta cũng có thể cho học sinh liên hệ đến môn khác như môn lïich sử: “Ngay khi vừa mới ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã phải đối mặt với ba thứ giặc hung dữ: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nạn đói hoành hành đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào chết đói, trên 95% dân số mù chữ, miền Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng, miền Nam trên 15 vạn quân Pháp lăm le xâm lược nước ta”.

    – Phương pháp phân loại, phân tích: đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên phân loại để trình bày cho rõ ràng. Một đối tượng có nhiều bộ phận, nhiều mặt thì phân ra từng bộ phận, từng mặt mà trình bày lần lượt. Ví dụ trong văn bản ” ca Huế trên sông Hương” tác giả đã tách ra để thuyết minh : thuyết minh về các làn điệu dân ca; các loại nhạc công, ca công; … Hay trong môn sinh học muốn giới thiệu về một cây thì ta chia ra hai bộ phận: rễ, thân, cành, lá,… Muốn giới thiệu về đặc điểm cấu tạo của các cơ quan hô hấp ở người thì ta chia thành các cơ quan ở đường dẫn khí và hai lá phổi, Trong đó, đường dẫn khí bao gồm mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản. Còn hai lá phổi thì có lá phổi phải có 3 thuỳ và lá phổi trái có 2 thuỳ.

    d) Ngoài những cách làm trên tôi còn cho học sinh tự viết một đoạn văn có sử dụng một trong các phương pháp thuyết minh. Tất nhiên, để thực hiện thêm yêu cầu thì không thể đủ thời gian nên tôi cho học sinh về nhà làm tiết sau đứng lên đọc trước lớp. Làm như vậy vừa giúp các em hiểu rõ hơn các phương pháp thuyết minh, vừa giúp các em củng cố kĩ năng viết đoạn văn vốn còn yếu, lại vừa giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tích cực của mình.

    Thông thường để làm được 1 bài thuyết minh hay thì người viết phải kết hợp nhiều phương pháp nhưng lựa chọn một phương pháp chính.

    a) Giảng dạy tốt bài này là ta đã được bước đầu thực hiện nguyên tắc đưa các em đến với cuộc sống, hoà nhập với cuốc sống thường nhật nên tôi có thể tích hợp với kiến thức các môn khác, với bô môn Ngữ Văn, tôi vưà có thể từ cái trước mắt có tính cập nhật và thời sự, chỉ ra ý nghĩa, phương pháp, cách làm một việc có ý nghĩa lâu dài. Do chức năng đề tài, tính chất của văn thuyết minh nên chúng ta có quyền và cần cho học sinh liên hệ tới một phạm vi rộng rãi mà không quá gò bó trong khuôn khổ của quan niệm văn chương hẹp về “chất văn” tức không quá gò bó theo tiêu chuẩn của văn chương như thơ, tiểu thuyết, bút ký … Hoàn toàn có thể cho học sinh liên hệ trực tiếp về vấn đề đang học với địa phương mình, với gia đình và bản thân.

    b) Và để giảng dạy bài này đạt kết quả tốt, trước khi học bài tôi giao cho học sinh về nhà thuyết minh trước về cách nấu một món ăn – đây là việc làm quá quen thuộc trong đời sống hàng ngày nên không có gì quá khó đối với học sinh. Và xem trước một số thí nghiệm, cách trình bày thí nghiệm ở các môn sinh học, vật lí, hoá học, … Để đến tiết học các em lên trình bày. Làm như thế nào vừa đỡ mất thời gian tìm hiểu ở trên lớp, vừa giúp các em thấy kiến thức không quá nặng nề và khô khan. Đồng thời, làm vậy ta còn phát huy được tính chủ động, tích cực của các em trong việc chiếm lĩnh tri thức, từ đó khắc sâu và nhớ lâu hơn.

    Mà để làm được việc đó, trước hết các em cần phải biết quan sát, quan sát không phải chỉ là một khách thể bên ngoài mà là hoạt động có mục đích trừu tượng hơn. Và biết tự tìm tòi, nghiên cức, tích luỹ kiến thức. Cũng như biết vận dụng các kiến thức đó vào bài.

    Đương nhiên người giáo viên cũng phải chẩn bị thật tốt công việc của mình. Đó là sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm và hỏi đồng nghiệp để có thể giới thiệu cho các em một thí nghiệm đơn giản.

    c) khi bắt đầu tiết học tôi gọi đại diện từng nhóm, cá nhân lên trình bày phần chuẩn bị ở nhà (có thể viết sẵn trên giấy Rôki, tờ lịch hoặc vừa viết lên bảng vừa thuyết minh). Gọi học sinh nhận xét và rút ra dàn bài chung cho phương pháp, cách làm.

    Tiếp theo tôi cho học sinh quan sát một thí nghiệm đơn giản mà tôi đã hỏi ở giáo viên vất lí. Để qua đó giúp các em rèn kĩ năng quan sát, vừa giúp các em nhận ra phương pháp làm một thí nghiệm hay một đồ chơi … nói chung.

    + Thí nghiệm của giáo viên:

    Thí nghiệm về tính dẫn nhiệt của chất lỏng (Môn vật lý 8)

    (1) Dụng cụ gồm có:

    (2)_Tiến hành thí nghiệm.

    Đầu tiên, ta bỏ cục sáp vào ống nghiệm rồi đổ nước vào trong ống nghiệm đó. Tiếp theo, ta từ từ đưa miệng ống nghiệm vào ngọn lửa của đèn cồn. Sau khoảng hai phút, nước ở phần trên của ống nghiệm bắt đầu sôi lúc này quan sát dưới đáy của ống nghiệm, ta thấy sáp vẫn không bị tan chảy. Điều đó chứng tỏ nhiệt ở miệng ống không truyền xuống đáy của ống nghiệm.

    (3) Kết luận: Chất lỏng dẫn nhiệt kém.

    Sau khi học xong bài này tôi dặn dò các em về nhà tự mình làm một đồ chơi đơn giản (ông già Noel) để các em càng khắc sâu hơn kiến thức. Và nếu được thì các em thự trình bày vào các tiết sau.

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Mây mờ che đỉnh Trường sơn sớm chiều (……) Hay ” Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”

    Việt Nam một lãnh thổ giàu đẹp, có núi và đồng bằng kết hợp theo một tỷ lệ hợp lý; có nguồn nhiệt ẩm phong phú, có sông ngòi rậm rạp và nhiều nước; có biển liền kề bao quanh thông ra đại dương, dưới đáy biển giàu khoáng sản, nhiều tôm cá, lại phủ một lớp sinh vật nhiều tầng nhiều lớp. Hơn nữa, lại được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho biết bao danh lam thắng cảnh tuyệt mĩ. Hầu như, đi bất kì đâu trên lãnh thổ Việt Nam ta đều được ngắm, chiêm ngưỡng vẻ đẹp kì vĩ đó. Nhưng làm thế nào để ta có thể giới thiệu với bạn bè, người thân nhất là những du khách trong và ngoài nước (nếu có) về vẻ đẹp đó. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trình tự thuyết minh đó.

    b) Để có thể thuyết minh được về một danh thắng nào đó, ngoài phải quan sát, tìm hiểu, sử dụng các phương pháp thuyết minh và một vài điểm quan trọng khác thì người viết phải hiểu biết về lịch sử, những điều không thể quan sát trực tiếp được mà chỉ có thể tích lũy bằng học tập, nghiên cứu. Nói như vậy có nghĩa là các em phải biết được vị trí địa lí của thắng cảnh nằm ở đâu, thắng cảnh có những bộ phận nào, diện tích bao nhiêu, quang cảnh thiên nhiên xung quanh, nét đặc sắc của danh thắng là gì? Điều này cũng đồng nghĩa với việc các em phải huy động rất nhiều kiến thức từ các môn học khác như Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân… vào bài viết của mình.

    c) Để củng cố kiến thức và giúp các em rèn luyện kỹ năng làm văn thuyết minh, tôi yêu cầu các em về nhà tự thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của Việt Nam. Đồng thời sưu tầm một số bài giới thiệu về danh thắng, di tích lịch sử để chuẩn bị cho phần chương trình địa phương phần tập làm văn tiết 92.

    Vs- Bài học kinh nghiệm.

    Qua quá trình thực hiện đề tài, tôi rút ra một số kinh nghiệm cho bản thân :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Mội Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Hoặc Di Tích Ở Quê Hương Em. ( Vịnh Hạ Long )
  • Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh
  • Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh
  • Kể Tên Các Phương Pháp Thuyết Minh Em Đã Được Học?
  • Lịch Sử Văn Minh Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Khắc Phục Iphone 6 Bị Pin Ảo, Sụt Pin Nhanh Hiệu Quả
  • Pin Iphone 5 Sụt Nhanh, Hao Nhanh, Cách Khắc Phục
  • Tại Sao Quy Định “uống Rượu Bia Không Được Lái Xe”?
  • Sau Mổ Ruột Thừa Bao Lâu Được Uống Rượu Bia Để Không Sao?
  • Sáng tạo để truyền cảm hứng

    Nhắc tới lịch sử hầu hết các bạn học sinh, sinh viên đều nghĩ tới hai từ khô khan và nhàm chán. Việc học sinh không thích học môn sử có rất nhiều lý do (chương trình nặng, kiến thức nhiều, phải học thuộc nhiều, cách dạy của thầy cô khô khan…). Song, có lẽ lý do lớn nhất khiến các em không thích môn sử chính là từ người dạy.

    Có em học sinh từng chia sẻ rằng: “Thầy cô dạy lịch sử đã quá bám sát những con chữ khô khan trong sách giáo khoa, lại truyền đạt lạnh lùng thì làm sao có thể truyền tải được sự đam mê môn học cho học sinh?”.

    Nhưng với Đại học Kinh Bắc, các tiết học lịch sử chưa bao giờ nhàm chán vì các bạn được thực hành, thuyết trình, phân vai, đóng kịch để mô tả nền văn minh các nước, các châu lục trên thế giới.

    Nhóm được phân vai để mô tả lại nền văn minh lịch sử Ấn Độ

    Nền văn hóa ẩm thực Nhật Bản được “tái hiện” sống động và luôn là phần được yêu thích nhất

    Nền văn hóa đặc sắc được khơi dậy sống động thông qua những màn kịch tự các nhóm sinh viên thực hiện. Các bạn được thỏa thích sáng tạo từ việc: tự tạo trang phục mô phỏng theo trang phục truyền thống của các quốc gia trên thế giới; chế biến những món ăn đặc trưng hay thể hiện một làn điệu trong văn hóa phi vật thể,…..

    Lợi ích thu được từ những tiết học thực hành

    Tiết học giúp các bạn sinh viên tiếp thu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn và nhớ lâu hơn bởi các em được vận hành mọi giác quan thông qua việc nghe, nhìn, cảm nhận. Đồng thời, giúp các em hình thành và rèn luyện nhiều kỹ năng:

    – Kỹ năng tìm kiếm (Một kỹ năng cơ bản và quan trọng trong học tập và làm việc sau này)

    – Kỹ năng thuyết trình

    – Kỹ năng giao tiếp và phản biện

    – Kỹ năng diễn xuất

    Thông qua các tiết học thực hành như vậy, sinh viên ngày càng tư tin hơn, mở rộng kiến thức và khắc phục được những kỹ năng còn thiếu.

    Đây chính là ưu điểm của việc học thực hành – phương pháp dạy và học hiện đại được trường Đại học Kinh Bắc áp dụng triệt để.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Việc Học Và Dạy Lịch Sử
  • Nói Lời Cảm Ơn Biểu Hiện Điều Gi?
  • Giá Trị Của Lời Cảm Ơn Trong Cuộc Sống Bạn Nên Trân Trọng
  • Nghị Luận: Biết Nói Lời Cảm Ơn
  • Tại Sao Phụ Nữ Ngoại Tình?
  • Thuyết Minh Về Kinh Nghiệm Học Văn Hoặc Làm Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Phương Pháp Nhớ Bài Thật Sâu Và Lâu
  • Quan Điểm Và Phương Pháp Học Tập Đúng Đắn Trong Bàn Về Phép Học
  • Học Tập Phương Pháp Làm Việc Hiệu Quả 5S Của Người Nhật Để Có Không Gian Thuận Tiện Cho Hành Trình Thăng Quan Tiến Chức
  • Làm Thế Nào Để Đạt Kết Quả Cao Nhất Trong Học Tập?
  • Làm Thế Nào Để Học Tập Lí Luận Chính Trị
  • văn học luôn là những tác phẩm nghệ thuật chứa đựng cái đẹp, nó được tạo lên bởi “chân, thiện, mỹ”, không chỉ giúp chúng ta sống chính trực, nhân nghĩa hơn mà còn có tác dụng cải thiện những lỗ hổng trong văn hóa giao tiếp. Chỉ cần có ý thức và một chút ý muốn học, bạn nhất định sẽ cảm nhận được những giá trị của nó.

    Bài làm:

    M.Gorki nói “Văn học là nhân học”, khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của môn học này. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, có rất nhiều người bỏ mặc môn học này, một số khác thì buông xuôi. Nguyên nhân xuất phát từ việc các bạn chưa tìm được một phương pháp học văn hiệu quả cho bản thân. Phương pháp học giữ vai trò vô cùng quan trọng. Phương pháp học “Hiểu tác phẩm” là một trong những kinh nghiệm học hiệu quả của nhiều thế hệ học sinh.

    Vì sao phải học hiểu? Bất kỳ tác phẩm nào cũng có giá trị của nó, đặc biệt các tác phẩm văn học lại là thành quả sáng tạo bằng cả trí tuệ và tâm hồn tác giả. Học hiểu trước tiên để nắm được những nội dung cơ bản nhất, khi đã hiểu rồi bản thân mới có hứng thú tìm hiểu nhiều hơn, hiểu nhiều hơn.

    Một tác phẩm văn học không chỉ chứa đựng nội dung mà còn có giá trị nghệ thuật. Trước tiên, để có thể làm được những đề văn, lý giải được những vấn đề về tác phẩm đó ta phải học hiểu nội dung của nó. Nội dung của tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau. Nội dung được thể hiện qua hình thức của tác phẩm bao gồm hoàn cảnh ra đời, nhân vật, cốt truyện đối với truyện, chủ thể trữ tình, tình cảm thể hiện, và thể thơ đối với thơ bà tương tự với những thể loại văn học khác tùy theo đặc trưng từng thể loại. Bước đầu tiên trong việc học hiểu nội dung chính là đọc tác phẩm nghiêm túc. Trong quá trình đọc, bạn có thể gạch chân khoanh tròn những từ ngữ, chi tiết ấn tượng. Đối với thơ, nên thuộc, đối với truyện, nên nhớ. Thuộc thơ nhớ truyện là một trong những yêu cầu cơ bản của tất cả giáo viên dạy văn. Khi thuộc thơ, nhớ truyện rồi trong đầu đã cơ bản ghi nhớ những nội dung của tác phẩm. Không những thế bản thân còn đặc biệt ghi nhớ những chi tiết gây ấn tượng. Những chi tiết ấy khi tiến hành làm bài, bạn có thể phân tích sâu sắc hơn theo phong cách của mình, từ đó lưu lại đặc trưng riêng trong cách viết.

    Hiểu được một tác phẩm văn học không phải dễ dàng nhưng không phải quá khó khăn. Hãy mạnh dạn hỏi những người thầy, người cô, những người bạn có thể giảng giải cho mình phần khó hiểu, mạnh dạn bày tỏ cảm nhận của bản thân để cùng giao lưu với mọi người về những tác phẩm văn học để từ đó hiểu được đầy đủ và sâu sắc hơn. Hiểu được tác phẩm, khi làm đề văn, khi học, tất cả mọi thứ đều sáng tỏ. Khi ấy, chỉ cần bình tĩnh nhớ lại, vấn đề sẽ nhanh chóng được giải quyết. Lấy ví dụ như “Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chiếc lược ngà”. Khi đã hiểu tác phẩm bạn sẽ ngay lập tức gạch được ý đây là vấn đề về nội dung tác phẩm, đó là sự trân trọng ngợi ca tình cảm gia đình, sự lên án chiến tranh đã gây ra bao tổn thương và nội dung ấy được tác giả thể hiện qua ai, qua những ngôn từ, chi tiết như thế nào?

    Văn học luôn đem đến những giá trị chân thực mà bất cứ ai hiểu được sẽ cảm thấy xứng đáng. Học hiểu tác phẩm là một kinh nghiệm học văn có hiệu quả, kết hợp với phương pháp học và làm khác, bạn nhất định có thể thành công tiếp thu cho mình nhiều hơn những giá trị văn học.

    Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, thời đại và là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng của và tâm huyết của nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt tác phẩm cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào. Khi tìm hiểu văn học cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác…

    Bài làm:

    Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa – thời kì mà con người như bị cuốn hút vào đồng tiền, cơn vũ bão của vật chất, văn chương, chữ nghĩa gần như trở thành một trang sức tầm thường, có cũng đc mà không có cũng chẳng sao. Hiếm người nhận thức được giá trí đích thực của việc học văn. Vậy thì, để nhận ra những giá trị của văn chương, cần có những phương pháp hiệu quả để tiếp cận, để học, để có những bài văn hay, thuyết phục những con người mù quáng đó.

    Điều đầu tiên, chúng ta cần chọn thầy để học. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, chúng ta sẽ vẫn thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn. Hiện nay, tài liệu tham khảo tràn ngập thị trường, để mua được những cuốn sách tốt, chúng ta nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu. Khi đọc tài liệu tham khảo, chúng ta không nên “bê” nguyên một bài viết của người khác vào làm bài của mình. Những người cầm bút nên nhớ không bao giờ được Đạo Văn. Đọc sách tham khảo không phải chỉ để chép mà còn để xem cách thức làm bài, triển khai vấn đề …

    Thứ hai, để có thể hiểu được một tác phẩm văn học, chúng ta cần khám phá tác phẩm trong các mối liên hệ. Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, thời đại và là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng của và tâm huyết của nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt tác phẩm cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào. Khi tìm hiểu văn học cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác… Mỗi tác phẩm văn chương thường có hai phần nổi bật là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Tìm hiểu nội dung là nhằm chỉ ra tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, tìm hiểu hình thức là chỉ ra tài năng nghệ thuật của nhà văn, cũng như sự thống nhất và phù hợp của hình thức với nội dung. Nên từ hình thức tìm ra nội dung và tránh diễn xuôi tác phẩm, văn thơ. “Mọi chân lí sẽ trở nên sai lầm, nếu chúng ta cứ xét đoán nó trên cơ sở của nhưng kinh nghiệm hằng ngày” (Ph.Angghen ). Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây dựng nên từ các chi tiết nghệ thuật. Tìm hiểu tác phẩm phải luôn xuất phát từ chi tiết. Mỗi chi tiết trong tác phẩm là một ô cửa mở ra cả thế giới, bởi nó có khả năng sinh nở ra những ý nghĩa mới .

    Nói chung, về văn xuôi, chúng ta nhất định phải nắm đc diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của nhà văn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân vật trung tâm đó.

    Về thơ, cần phải nắm được cảm hứng chủ đạo của thơ, kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc.

    Về kịch, phải nắm được những mâu thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong… Từ các chi tiết nghệ thuật ấy, tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ thuật của nhà văn.

    Còn làm sao để có thể viết được một bài văn hay? Văn chương không phải là chuyện cứ làm cho câu cú cầu kỳ, chữ nghĩa đến một bay bổng, uốn éo là hay. Một câu văn hay là một câu văn đơn giản, khúc chiết, rõ ràng và đủ ý. Chỉ có những lúc khi tâm hồn thăng hoa thì văn chương sẽ đạt đến một mức độ thuần túy, thanh khiết, chứ không bao giờ “bay bổng”. Muốn diễn đạt đến mức tinh tế thì phải chuẩn xác ngôn ngữ. Đơn giản nhưng chính là cái phức tạp nhất. Bằng cách nào? Đọc nhiều sách, và một cách đơn giản và thiết thực hơn là có một cuốn từ điển Tiếng Việt. Trong số chúng ta, phần lớn ai cũng có những cuốn từ điển ngoại ngữ mà không hề xuất hiện một cuốn từ điển Tiếng Việt, kể cũng nực cười. Chúng ta chỉ nên đọc chứ không nên tra. Chỉ có những người không hiểu gì về văn học và việc làm văn mới cho là văn chương lai láng, mơ mộng, càng dài càng tốt, muốn viết thế nào thì tùy .

    Văn học là một môn khoa học nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, cần kết hợp tăng cường chất văn vừa tăng cường chính xác trong bài văn, nhất là tỏng việc trích dẫn kiến thức và dẫn chứng. Từ xưa, cụ Tú Xương đã dạy “Văn chương nào phải đơn thuốc / Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu.”

    Khi viết văn, cần tuân thủ các nguyên tắc. Để đạt điểm cao, bài văn phải được trình bày sáng sủa, sạch đẹp. Vì vậy, trong quá trình triển khai ý làm bài, các em nên trình bày mỗi ý thành một đoạn văn, được phân biệt với dấu chấm xuống dòng. Cách trình bày như thế vừa giúp bài văn sạch đẹp hơn, gây thiện cảm đới với thầy cô giáo, các ý trong bài nổi bật hơn, thầy cô không thể bỏ sót ý, nên bài văn có lợi hơn về điểm số.

    Diễn đạt là quá trình vô cùng quan trọng, sánh ngang với việt tìm ý cho bài văn. Không có ý, thì ko có gì để viết, nhưng có ý đầy trong đầu, mà không biết cách nói ra, thì ý dù hay, dù sâu sắc đến đâu cũng trở thành vô nghĩa. Cũng cần tránh trình trạng diễn đạt mập mờ, dễ gây hiểu nhầm cho người đoc. Vì vậy, chúng ta cần rèn luyện cho mình một cách diễn đạt đúng, nghĩa là nói và viết đúng ngữ pháp. Nếu chưa giỏi diễn đạt, hãy viết các câu văn ngắn, ít thành phần câu, tránh cầu kì, rườm rà và dễ bị mắc lỗi ngữ pháp. Và sau đó, khi đã tiến bộ, cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu, linh hoạt các hình ảnh, các phép tu từ, chuyển nghĩa để lời văn có cảm xúc và chất văn.

    Giống như quá tình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm văn, cũng cần qua ba bước là “HIỂU – NHỚ – VẬN DỤNG”. Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ. Học văn không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại các ý hay, quan trọng. Gặp những vấn đề chưa hiểu, chúng ta cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô giáo nào từ chối. Kiến thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu thì càng dễ nhớ bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, chúng ta không nên cầm sách học thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện

    Sau giờ học trên lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20- 30 phút) để nhớ lại kiến thức vừa học. Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo mô hình nhánh cây… và việc liên hệ giữa văn học và cuộc sống cũng giúp chúng ta nhớ kiến thức lâu và sâu sắc.

    Sau khi đã hiểu và nhớ, cần vận dụng lại bằng cách làm bài tập,.. Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác phẩm. Ta nên đọc tác phẩm trước khi được học trên lớp, khi chưa hề nghe giảng. Điều này rất quan trọng, bởi những ấn tượng bạn đầu của các em khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ được nhớ lâu và giúp định hướng tác phẩm.

    Nhìn chung, để học văn đạt hịêu quả, chúng ta phải học văn bằng chính trái tim và cái đầu của mình, tự tìm một con đường riêng cho mình

    Thực ra tự học không chỉ đối với môn văn mà tất cả các môn học hay những thứ cần học đều rất cần thiết và tốt. Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc chiếm lĩnh, ghi nhớ kiến thức hơn gấp nhiều lần so với cách học khác. Người có khả năng tự học sẽ gia tăng nhu cầu và xác định được tốt hơn mục đích học so với người khác. Hẳn rất nhiều người vẫn nhớ các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như Anh-xtanh, Niu-tơn,… hay những tỉ phú, những tài năng thế giới như Bill Gates, Steve Jobs,… đều thành danh bởi họ có năng lực tự học.

    Bài làm:

    Thực ra tự học không chỉ đối với môn văn mà tất cả các môn học hay những thứ cần học đều rất cần thiết và tốt. Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc chiếm lĩnh, ghi nhớ kiến thức hơn gấp nhiều lần so với cách học khác. Người có khả năng tự học sẽ gia tăng nhu cầu và xác định được tốt hơn mục đích học so với người khác. Hẳn rất nhiều người vẫn nhớ các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như Anh-xtanh, Niu-tơn,… hay những tỉ phú, những tài năng thế giới như Bill Gates, Steve Jobs,… đều thành danh bởi họ có năng lực tự học. Vậy tự học môn văn sẽ như thế nào?

    Tự học đối với môn văn không quá khó như các bạn tưởng tượng. Trước hết bạn cần xác định mục đích tự học môn văn để làm gì? Bạn cần tự học những cái gì? Bạn tự học vào những thời gian nào? Trước khi bạn tiến hành học cụ thể cần phải xác định được những yếu tố đó trước, vì đây là mục tiêu bạn cần đặt ra trong quá trình tự học. Đối với môn văn, đa số các bạn học sinh xác định học văn là để đạt kết quả cao trong các bài kiểm tra, trong các kì thi, số còn lại yêu thích môn văn thực sự thì mục đích không phải chỉ là kết quả. Nhưng dù là mục đích gì thì khi học văn đều cần xác định các vấn đề bạn cần học. Đối với môn văn có hai vấn đề cần học đó là kiến thức văn học và kĩ năng viết bài văn. Khi đã xác định được mục đích và nội dung học, bạn sẽ cố gắng sắp xếp thời gian sao cho hợp lí để đáp ứng được điều đó.

    Đầu tiên bạn phải tự học kiến thức môn văn trước. Việc tự tìm hiểu kiến thức môn văn thông qua nhiều nguồn mà có thể tổng hợp. Đầu tiên, bạn cần khai thác kĩ trong sách giáo khoa. Bao giờ trong sách giáo khoa cũng có hai phần bạn nên chú ý, đó là mục Kết quả cần đạt và Ghi nhớ. Ở đây bạn sẽ xác định được kiến thức trọng tâm bạn cần học là gì. Dựa vào đó bạn sẽ xây dựng kiến thức trọng tâm của bài học, kết hợp với phần giảng và cho ghi của thầy cô ở trên lớp để hoàn thiện. Khi đã xác định đầy đủ kiến thức cơ bản, sử dụng các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa để tìm hiểu kiến thức, bạn tiến hành tìm hiểu các tài liệu bên ngoài. Sách tham khảo, internet là lựa chọn tiếp theo của bạn. Hiện nay có một thực trạng là có quá nhiều sách tham khảo, quá nhiều trang điện tử về môn văn, mà rất khó kiểm soát được.

    Có được kiến thức với việc viết được bài văn là hai điều hoàn toàn khác nhau. Tiêu chí đánh giá một học sinh học văn tốt hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kết quả bài làm. Nhưng trên lớp những giờ học làm văn thời lượng ít, mà chỉ vận dụng được phần nào đó để viết văn. Trong khi đó số lượng bài viết trong một năm chỉ có 7 bài, trong đó bao gồm cả 2 bài học kỳ. Vậy việc viết văn và được các thầy cô chấm và chữa cho là khá ít. Chưa kể có thầy cô chậm trả bài, trả bài qua loa, lời phê ít. Nên nhiều bạn học sinh chưa thể tự mình rút ra được những sai sót lần sau khắc phục được. Vậy chỉ có cách tự học rèn kĩ năng viết văn mới có thể khắc phục được.

    Việc rèn kĩ năng viết đòi hỏi đầu tiên là phải chăm chỉ. Nhiều người nói rằng văn học là một bộ môn nghệ thuật, nên viết được văn phải có năng khiếu. Đúng là như thế, nhưng nếu bạn học văn để có điểm tốt thì đó không phải là yếu tố quyết định. Bên cạnh đó, khi luyện tập viết văn cũng như học kiến thức, bạn phải xác định viết một bài văn là viết những gì? Trước tiên là phải nắm được dạng đề, bởi một dạng đề có cách triển khai khác nhau. Hiện nay đa số các bạn sẽ học và thi ở dạng văn nghị luận, nên sẽ chú tâm vào dạng văn này. Bạn tìm hiểu thật kĩ các kiểu văn nghị luận, bố cục, dàn ý bài văn nghị luận, các thao tác nghị luận, lập luận… Sau đó, bạn tìm cách đọc những bài văn mẫu. Việc đọc văn mẫu giúp ích cho bạn rất nhiều trong cách triển khai, tổ chức bố cục, diễn đạt, hành văn trong bài viết. Tiếp tục là bạn phải tự mình tập viết những đoạn văn ngắn, những bài văn nhỏ. Có một lưu ý là khi mới tập không được viết cái gì quá lớn, quà dài sẽ dễ gây tâm lý chán nản. Khi tập bạn nên bắt đầu bằng những cái dễ, sau đó mới đến những cái khó.

    Việc học kĩ năng viết bài văn rất khó khăn, nhiều bạn chán nản và bỏ cuộc. Vậy các bạn có thể tham khảo ở một hình thức đó là “30 phút mỗi ngày”. Tức là mỗi ngày bạn dành ra 30 phút, ban đầu bạn viết cái gì cũng được, những hãy viết những thứ có mục đích, chứ không viết lung tung. Việc này thực hiện rất dễ, vì nhiều bạn sử dụng luôn việc đăng trạng thái lên facebook cá nhân để rèn luyện cũng là một cách. Sau đó bạn hãy ứng dụng vào việc viết văn. Cũng chỉ mỗi ngày 30 phút về một vấn đề văn học nào đó. Dần dần bạn viết vào những vấn đề trọng tâm của bài học hơn, rồi rèn kĩ năng viết nhanh, viết nhiều hơn… Bạn thử nghiêm túc thực hiện, sau một tháng chắc chắn kĩ năng viết văn của bạn sẽ tốt lên đáng kể.

    Những trang văn giống như thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn. Từ ngàn xưa, văn học là tiếng gọi con người quay trở về với bản chất thật của mình, giữ cho con người không sa xuống thành con vật cũng không trở thành ông thánh vô bổ, vô duyên.

    Bài làm:

    Trước hết, chúng ta cần nhìn nhận tích cực về ý nghĩa và giá trị của môn văn. Đó là những giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ mà qua mỗi hình tượng nghệ thuật đặc sắc nhà văn như muốn đối thoại với người đọc một vấn đề quan trọng về nhân sinh. Những trang văn giống như thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn. Từ ngàn xưa, văn học là tiếng gọi con người quay trở về với bản chất thật của mình, giữ cho con người không sa xuống thành con vật cũng không trở thành ông thánh vô bổ, vô duyên. Vậy thì “thơ ca không có người tôi đã mồ côi”. Vâng lời khẳng định của Raxun Gamdatop đã khẳng định được vai trò to lớn của văn học trong đời sống tinh thần của co người.

    Từ đó, khi đã có thái độ đúng đắn và chân thành khi tiếp nhận văn học ta mới có nhiệt hứng và lòng say mê đi kiếm tìm những giá trị văn học chân chính. Để qua mỗi tác phẩm, ta thấy thêm được một bài học về sự trông nhìn và thưởng thức. Muốn học văn, đòi hỏi cần sự chăm chỉ rất cao. Khi tiếp xúc với một tác phẩm, ta cần hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm hoặc sâu hơn là bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội để hiểu đúng và cảm nhận sâu sắc tác phẩm ấy. Cần có một quá trình đào sâu, nghiên cứu, tích lũy kiến thức, làm giàu vốn hiểu biết cho bản thân. Một cách để học văn tốt là đọc nhiều, đọc là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình học văn. Khi đọc nhiều ta có thêm vốn hiểu biết cho bản thân, lại thêm hứng thú với các vấn đề đặt ra xung quanh tác phẩm. Như thế, ta giống như người đồng sáng tạo với tác giả, kiếm tìm những giá trị văn học. Những gì đọc được, tìm kiếm được nên ghi chép vào một quyển sổ riêng, làm tài liệu cho bản thân. Như vậy vừa tích lũy kiến thức, vừa tăng kĩ năng ghi chép, viết lách đúng không nào. Và một mẹo nhỏ đó là bạn nên đọc và tiếp xúc với văn bản trước chứ không phải là đọc từ tài liệu đọc vào và áp đặt quan điểm của người khác. Chính vì cách học ngược lại ấy mà nhiều học sinh cho rằng học văn chỉ học thuộc, cơ học, dễ dãi không có tính sáng tạo. Sáng tạo hay không là trong quá trình và thái độ học tập của bản thân, đừng đổ lỗi cho khách quan, ta có thể tham khảo nhưng đừng phụ thuộc như vậy sẽ chỉ làm mòn suy nghĩ và óc sáng tạo của bản thân mà thôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Siêu Tốc Pdf/ebook/epub/mobi
  • Phương Pháp Học Tập Siêu Tốc
  • Phương Pháp Học Tập Thông Minh
  • Tải Về Phương Pháp Học Tập Thông Minh Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Qua Văn Bản “bàn Luận Về Phép Học” Cảm Nhận Của Em Về Phương Pháp Học Tập Đúng.
  • Cách Làm Tốt Bài Văn Thuyết Minh Ngữ Văn 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Bài Thuyết Minh Về Một Tác Phẩm Văn Học Lớp 10
  • Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh (Chi Tiết)
  • Khái Niệm Về Văn Thuyết Minh
  • Soạn Văn 10 Siêu Ngắn Bài: Phương Pháp Thuyết Minh
  • Soạn Văn 10 Tập 2 Bài Phương Pháp Thuyết Minh Trang 48 Sgk
  • I. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA VĂN THUYẾT MINH

    Trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu tìm hiểu các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội. Một sự vật, một phong cảnh, một con người, một buổi biểu diễn nghệ thuật, một bài thơ, một cuốn sách,… đều khơi gợi à người tiếp xức những mong muốn tìm hiểu bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, sự hình thành,… Khi chúng ta đáp ứng những nhu cầu đó, tức là phải tiến hành trình bày, giới thiệu, giải thích. Chúng ta đã sử dụng văn bản thuyết minh.

    Những bản hướng dẫn cấu tạo, tính năng, cách dùng và bảo quản một dụng cụ nào đó (máy bơm, quạt điện, ti vi, phích, tủ lạnh,…); những hướng dẫn một cách chế biến một món ăn theo kiểu Việt Nam, Trung Quốc, Pháp, Nga,… ; những hướng dẫn cách làm một đồ chơi cho các cháu thiếu nhi ; hướng dẫn tham quan du lịch đối với một thắng cảnh; trình bày cách làm thí nghiệm, giải thích tiểu sử nhà văn, trình bày về đặc điểm thể loại văn học,… đều là văn bản thuyết minh.

    Văn bản thuyết minh khác văn bản tự sự ở chỗ nó không kể sự việc và diễn biến; cũng khác với miêu tả ở chỗ nó không tả tỉ mỉ, chi tiết theo chủ quan của người miêu tả (không nhằm mục đích làm cho người đọc cảm thấy mà chủ yếu là làm cho họ hiểu dược) ; khác với văn bản biểu cảm vì nó cố gắng trình bày một cách khách quan, không bộc lộ tình cảm riêng của người viết ; khác với văn bản nghị luận vì nó trình bày nguyên lí, quy luật, cách thức,… chứ không trình bày luận điểm, lí lẽ ; văn bản thuyết minh cũng khác với văn bản hành chính – công vụ ở chỗ nó không giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, mà hướng tới việc làm cho người ta hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng.

    Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng, giúp người đọc, người nghe hiểu được chúng một cách đúng đắn, đầy đủ. Cung cấp tri thức, văn bản thuyết minh đặt mục đích làm cho người ta hiểụ lên hàng đầu, yêu tố cảm nhận hay thưởng thức được đặt xuống hàng thứ yếu. Ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh yêu cầu chính xác, chặt chẽ, tường minh. Nó không đa nghĩa mà càng đớn nghĩa càng tốt ; tuy nhiên không loại trừ việc thuyết minh hấp dẫn nhờ cách đặt vấn đề, cách nêu tình huống độc đáo và một số biện pháp nghệ thuật khác.

    1. Tri thức để làm bài văn thuyết minh

    Bài văn thuyết minh là bài cung cấp tri thức cho người đọc (người nghe) để họ có thể hiểu, nắm được đặc điểm, bản chất một sự vật, hiện tượng nào đó. Vì thế muốn thuyết minh được mạch lạc, rõ ràng, người viết phải có vốn tri thức nhất định về điều mình viết. Muốn có tri thức, người viết phải trực tiếp tìm hiểu sự vật, quan sát, ghi chép, hỏi những người am hiểu,… Đó là cách tích luỹ kiến thức trực tiếp. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề cần thuyết minh đều đòi hỏi phải đi thực tế và cũng khó mà đi thực tế. Bởi vậy, tri thức cũng có thể tích luỹ một cách gián tiếp thông qua sách vở, thông qua mạng in-tơ-nét,… Cũng có khi phải kết hợp sử dụng các nguồn tri thức với nhau.

    2. Quy trình làm bài văn thuyết minh

    Bài văn thuyết minh cũng được làm theo quy trình chung của một bài tập làm văn, gồm 4 bước : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và sửa chữa. Muốn viết được bài văn thuyết minh thành công cần phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho bài viết. Sau khi tìm được ý, phải chọn phương pháp thuyết minh cho phù hợp. Sau đó là lập dàn ý và viết bài. Trong khi viết, có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là sửa lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp.

    3. Các phương pháp thuyết minh

    Đối với bài văn thuyết minh về sự vật, hiện tượng có thể sử dụng những phương pháp thuyết minh sau đây :

    a. Phương pháp nêu đinh nghĩa, giải thích

    Đây là phương pháp thuyết minh khá phổ biến. Người thuyết minh sẽ xác định đối tượng thuộc loại sự vật, hiện tượng gì, đặc điểm của nó là thế nào. Chẳng hạn, nếu văn bản trữ tình chú ý đến vẻ đẹp của Huế: Đường vô xứ Huế quanh quanh – Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ – Ai vô xứ Huế thì vô (Ca dao) thì văn bản thuyết minh chú ý đến việc nêu vị trí vai trò của Huế : Huế là cố đô của nước ta, là một trung tâm văn hoá, nghệ thuật của miền Trung và cả nước.

    Khi nêu định nghĩa hay giải thích, người viết cần chú ý đến giới hạn chính xác. Không định nghĩa quá hẹp hay quá rộng sự vật khiến cho người khác khó hình dung và khó hiểu.

    Đây là một cách để người viết trình bày những tri thức liên qua đến sự vật, hiện tượng được thuyết minh. Chẳng hạn, thuyết minh về cây dừa, tác giả Hoàng Văn Huyền viết: Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,... (Ngữ văn 8, tập một, trang 114). Như vậy, tác giả đã liệt kê về sự cống hiến của cây dừa. Trong khi nói về nước dừa, tác giả lại liệt kê những ích dụng của nó: để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm.

    Nguyễn Trọng Tạo khi viết về cây chuối cũng sử dụng phương pháp liệt kê : Chuối xanh nấu với các loại thực phẩm có vị tanh như cá, ốc, lươn, chạch có sức khử tanh rất tốt, nó không chỉ làm cho thực phẩm ngon hơn mà chính nó cũng có cái ngon bổ riêng không thay thế được. Người ta có thể chế biến nhiều món ăn từ quả chuối như chuối ép,- mứt chuối, kẹo chuối, bánh chuối,… (Cây chuối Việt Nam)

    Để thuyết minh, người viết có thể nêu ra một ví dụ có tính chất tiêu biểu. Ví dụ càng độc đáo, càng chính xác và được đưa ra đúng lúc, đúng chỗ thì sức thuyết phục càng cao. Nói về khả năng, gây bệnh ung thư của thuốc lá, tác giả Nguyễn Khắc Viện (trong bài Ô n dịch thuốc lá) nêu ví dụ : Thấm vào các tê bào, chất hắc ín lại thường gây ra ung thư. Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ : Bác sĩ viện trưởng cho biết trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá. (Ngữ vãn 8, tập một, trang 119)

    d. Phương pháp dùng số liệu (con số)

    Thật ra, nêu các con số cũng là một cách nêu ví dụ. Nhưng ở đây nhấn mạnh đến ý nghĩa của con số. Các con số thống kê tự bản thân nó đã có ý nghĩa lớn, gây ấn tượng mạnh mà không cần phải thuyết minh thêm. Trong bài Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, G. Mác-két sử dụng việc nêu số liệu rất ấn tượng : Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm : Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX… Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trá tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới. (Ngữ văn 9, tập một, trang 18)

    So sánh là một biện pháp nhằm làm cho người đọc, người nghe hình dung rõ , sự vật được nói tới. So sánh là một trong ba thể tiêu biểu để triển khai nội dung của một bài ca dao : phú, tỉ (so sánh) và hứng. Diễn tả vẻ đẹp của cô gái, ca dao viết : Cổ tay; em trắng như ngàCon mắt em sắc như là dao cau. Ngà làm cho ta cảm nhận được màu trắng cổ tay, dao cau giúp ta cảm nhận được độ sắc của cặp mắt. Nhờ so sánh mà đối tượng được hình dung rất cụ thể, sính động.

    Viết về thành phố Sài Gòn ba trăm năm tuổi, muốn nhấn mạnh Sài Gòn vẫn trẻ, Minh Hương so sánh : Sài Gòn vẫn trẻ […]. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà íhay da, đổi thịt (Ngữ văn 7, tập một, trang 168). So sánh ba trăm năm với năm ngàn năm ; Sài Gòn với cây tơ đương độ nõn nà, người đọc thấy ngay là Sài Gòn vẫn trẻ.

    g. Phương pháp phân loại và phân tích

    Thuyết minh là văn bản dùng cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Có món ăn, có đồ dùng, có danh lam thắng cảnh, có khi là một loài động vật, thực vật. Chính điều này đã đòi hỏi phải phân loại để chọn các phương pháp và cách trình bày phù hợp. Thêm nữa, ngay trong bản thân đối tượng thuyết minh cũng có những Ịoại phức tạp, nhiều bộ phận, nhiều mặt. Vĩ thế phải có sự phân loại, phân tách ra các bộ phận nhỏ hơn để thuyết minh. Ví dụ về một món ăn, người ta thường thuyết minh các phần : Nguyên liệu và dụng cụ chế biến ; Cách chế biến ; Yêu cầu thành phẩm; Cách ăn món đó như thế nào là ngon nhất.

    Như vậy, có nhiều phương pháp thuyết minh. Vấn đề đặt ra cho người viết là biết xác định đối tượng, sử dụng phương pháp kết hợp như thế nào để làm rõ đối tượng, làm cho người đọc, người nghe hiểu được đối tượng mà người viết trình bày.

    4. Một số kiểu bài vãn thuyết minh

    • Thuyết minh về một thứ đồ dùng
    • Thuyết minh về một loài vật
    • Thuyết minh về một phương pháp
    • Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
    • Thuyết minh về một thể loại văn học
    • Thuyết minh về một phong tục, một đồ chơi dân gian

    III. CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT (TỰ THUẬT, ĐỐI THOẠI, ẨN DỤ, NHÂN HÓA) VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN THUYẾT TRÌNH)

    Để văn bản thuyết minh sinh động, hấp dẫn, người thuyết minh thường sử dụng một số yếu tố nghệ thuật như ẩn dụ, nhân hoá và yếu tố miêu tả. Cách sử dụng rất linh hoạt và đa dạng, tuỳ thuộc vào đối tượng thuyết minh và dụng ý của người thuyết minh.

    Trong Hạ Long – Đá và Nước, nhà văn Nguyên Ngọc đã dùng phép nhân hoá để nói về những khối đá trên vịnh, đồng thời kết hợp với việc miêu tả để làm rõ sắc thái những con người đá : Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh: chảy khiến những con người bằng đá vâỵ quanh ta trên mật vịnh càng lung linh, xao động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc tụ họp của cái thế giới người bằng đá sống động đó, biết đâu !…

    Tường Lan khi thuyết minh về ruồi xanh đã tưởng tượng ra một phiên toà của Ngọc Hoàng có vệ sĩ Nhện, có tội nhân Ruồi Xanh, có luật sư bào chữa. Lời khai của Ruồi Xanh chính là một cách thuyết minh về loài ruồi, họ hàng và nơi sinh sống của nó : C on là Ruồi Xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt lưới. Họ hàng con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm… Nơi ở là nhà vệ sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bất kì chỗ nào có thức ăn mà không đậy diệm con đều /ấy làm nơi sinh sống.

    Văn Hùng khi thuyết minh về chiếc kim khâu đã dùng phép nhân hoá và tự thuật, để cho cây kim tự kể chuyện và giới thiệu về mình : Trong các dụng cụ của con người, có lẽ chúng tôi thuộc loại bé nhất. Tuỵ bé nhưng nhà ai cũng cần đến. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những cái kim khâu bằng kim loại, bề ngang độ nửa mi-li-mét, bề dài khoảng hai, ba xăng-ti-mét…

    Nhìn chung văn bản thuyết minh ở lớp 9 vẫn là các kiểu văn bản thuyết minh đã học ở lớp 8, nhưng được nâng cao hơn về cách thức và hiệu quả thuyết minh, đặc biệt là việc sử dụng một số yếu tố nghệ thuật và yếu tố miêu tả làm cho bài thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Tuy vậy, cần luôn luôn nhớ rằng các yếu tố trên chỉ là yếu tố phụ trợ, dùng quá nhiều thì bài thuyết minh sẽ không còn là thuyết minh nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh Hay
  • Phương Pháp Thuyết Minh Du Lịch
  • Các Phương Pháp Thuyết Minh Và Các Nội Dung Cần Thuyết Minh
  • Phương Pháp Tính Giá Thành Theo Hệ Số
  • Tổng Quan Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm Hiện Nay
  • Cho Tôi Biết Những Sự Khác Nhau Giữa Nền Văn Minh Phương Đông Và Nền Văn Minh Phương Tây?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Sự Khác Biệt Đặc Trưng Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Phương Đông Để Thấu Hiểu Thực Khách
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Tấm Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Protein Dạng Sợi Là Gì? Phân Loại, Tính Chất Và Cấu Trúc Của Protein
  • Sự Khác Biệt Giữa Các Protein Dạng Sợi Và Hình Cầu
  • Trên thế giới có 2 khu vực văn minh lớn: phương Đông và phương Tây. Sự phân chia này được gọi theo địa hình của khu vực. Điều đáng lưu ý là mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, khi phương Đông là ban ngày thì phương Tây là ban đêm, vì vậy khi quan sát, con người bị ảo giác quang học: theo tuần tự thời gian, người ta có cảm giác nối đuôi nhau, phương Tây chỉ nhìn thấy “cái lưng” của phương Đông hoặc phương Đông chỉ nhìn thấy “cái lưng” của phương Tây. Khi quay mặt lại, đối diện với nhau, lại có cảm giác, hình như ở người đối diện mình có cái gì ngược: phía phải của mình là phía trái của người đối diện. Rồi trong sinh họat, ở phương Tây và ở phương Đông cũng có những biểu hiện ngược nhau. Phương Đông có khuynh hướng hướng nội (âm, thụ động) thì phương Tây có khuynh hướng hướng ngoại (dương, hành động) v.v. Hành tinh của chúng ta có 2 nửa là phương Tây và phương Đông, hai nửa này (nửa này thức , nửa kia nghỉ-ngủ), nó không triệt tiêu nhau, mà bổ sung nhau, một thời gian dài văn minh Trung Hoa, Ấn Độ (phương Đông) ngưng nghỉ, thì văn minh phương Tây phát triển tới các ngõ ngách của khoa học kỹ thuật. Giờ đây văn minh phương Tây có chiều hướng chững lại-“buồn ngủ”- thì xuất hiện sự phát triển mới của Trung Quốc, trong tương lai gần sẽ là Ấn Độ.

    Thời cổ đại phương Đông có 4 trung tâm văn minh: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc; phương Tây có 1 trung tâm văn minh : Hy Lạp-La Mã.

    Thời trung đại, cả Ai Cập và Tây Á đều nằm trong đế quốc A-rập, nên phương Đông chỉ có 3 trung tâm văn minh: A-rập, Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây có 1 trung tâm văn minh: Tây Âu.

    Sau khi văn minh Hy-La suy tàn, thì ở phương Tây xuất hiện trung tâm văn minh Tây Âu. Nền văn minh này phát triển liên tục cho tới ngày nay. Riêng văn minh Ấn Độ và Trung Quốc phát triển liên tục từ cổ đại tới ngày nay.

    Nhìn chung các nền văn minh đều có những giai đọan phát triển rực rỡ, có những giai đọan ngưng trệ. Rồi sau khi “hồi sức”, chúng lại bắt đầu giai đọan phát triển mới.

    Văn minh Hy-La có ảnh hưởng sâu sắc từ cổ đại cho tới tận ngày nay, phải chăng nó “nằm ngủ” bên “Đài chiến thắng” nên đến bây giờ-sau hàng ngàn năm “vẫn chưa tỉnh” để phát triển một giai đọan mới. Văn minh A-rập làm “một giấc ngủ dài” đến giờ “vẫn chưa tỉnh”. Phải chăng văn minh Ấn Độ, Trung Quốc có gốc lớn, rễ ăn sâu nên đủ “nội lực” đi theo chiều dài của lịch sử. Trong lịch sử lại có những nền văn minh “long gốc bật rễ”, biến mất trên vũ đài lịch sử như văn minh Mayas, Aztecque ở Mexiko, Incas ở Peru

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại
  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Điện Và Đàn Organ/ Keyboard
  • Sự Khác Nhau Giữa Cổng Lan Và Cổng Wan
  • Sự Khác Biệt Giữa Mạng Lan, Man Và Wan Là Gì ?
  • Mạng Lan Là Gì? Sự Khác Biệt Chính Giữa Lan, Man Và Wan
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100