Sự Khác Nhau Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra Trong Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Hoạt Động Kiểm Tra Thuế Và Thanh Tra Thuế
  • Liệu Triết Học Có Phải Là Khoa Học Không?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đại Lý Và Nhà Bán Buôn
  • Sự Khác Biệt Giữa Đại Lý Và Nhà Phân Phối
  • Thứ nhất, về chủ thể tiến hành: Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước. Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra. Tuy nhiên, chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanh tra rất nhiều. Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi nhà nước.

    Thứ hai, thanh tra và kiểm tra khác nhau ở cơ chế hoạt động. Xét về tính độc lập tương đối của hệ thống cơ quan thanh tra cho thấy, hoạt động thanh tra là xem xét, đánh giá từ bên ngoài (theo chiều ngang) vào hoạt động của đối tượng thanh tra. Còn hoạt động kiểm tra được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn cấp trên trong cùng hệ thống chuyên môn, nghiệp vụ với đơn vị cấp dưới (theo chiều dọc).

    Thứ ba, hoạt động thanh tra là hoạt động chuyên trách, mang tính nghề nghiệp, được điều chỉnh bởi pháp luật (Điều 6 Luật thanh tra năm 2010). Cơ quan thanh tra được thành lập trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra.

    Hoạt động kiểm tra không mang tính chuyên trách, mọi chủ thể quản lý cấp trên đều là chủ thể của kiểm tra, mọi đối tượng của quản lý đều là đối tượng của kiểm tra. Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan, của thủ trưởng cơ quan cấp trên đối với cơ quan, cán bộ cấp dưới hoặc thuộc quyền quản lý. Ví dụ như VKSND các huyện, thị là đối tượng kiểm tra của VKSND tỉnh.

    Thứ tư, về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi tiến hành thanh tra, đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định…

    Thứ năm, về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra.

    Thứ sáu, về thẩm quyền xử lý, nếu qua hoạt động kiểm tra thấy đối tượng của kiểm tra có sai phạm, tồn tại hoặc chưa thực hiện đúng các quy định của ngành thì người kiểm tra có thể hướng dẫn “uốn nắn” nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm, yêu cầu khắc phục, sửa chữa.

    Nhưng hoạt động thanh tra không có chức năng này mà trên cơ sở hành lang pháp lý quy định về chức trách nhiệm vụ của đối tượng thanh tra để đánh giá, kết luận về kết quả công tác của đối tượng thanh tra, nếu đối tượng thanh tra có hành vi vượt giới hạn hành lang pháp lý đó thì thanh tra không hướng dẫn mà yêu cầu xử lý trách nhiệm người vi phạm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nguyệt Không Đều, 3 Dấu Hiệu, 7 Nguyên Nhân Và Hệ Quả
  • Cách Phân Biệt Máu Báo Thai, Máu Kinh Nguyệt Và Máu Báo Sảy Thai
  • Nhượng Quyền Thương Mại Và Cấp Phép Kinh Doanh
  • Áo Blazer Là Gì: Kiến Thức Từ A
  • 5 Điều Khác Biệt Giữa Ngành Nhạc Us
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Hoạt Động Kiểm Tra Thuế Và Thanh Tra Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệu Triết Học Có Phải Là Khoa Học Không?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đại Lý Và Nhà Bán Buôn
  • Sự Khác Biệt Giữa Đại Lý Và Nhà Phân Phối
  • Sự Khác Nhau Giữa Các Sàn Chứng Khoán
  • Ác Quy Định Cần Lưu Ý Khi Đầu Tư Chứng Khoán Tại Sàn Hose, Hnx, Upcom
  • Kiểm tra thuế và thanh tra thuế là hoạt động của cơ quan quản lý thuế. Hoạt động kiểm tra thuế và thanh tra thuế có những điểm khác nhau cơ bản sau:

    – Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.

    – Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế.

    – Thanh tra thuế là công việc được tiến hành theo kế hoạch hoặc đột xuất của cơ quan quản lý thuế.

    – Kiểm tra thuế được tiến hành với bất kỳ người nộp thuế nào (Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế. Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thực hiện với các trường hợp:

    • Người nộp thuế không giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế hoặc giải trình, khai bổ sung không đúng, không chứng minh được số thuế phải nộp, số thuế miễn, giảm, hoàn đúng;
    • Các trường hợp kiểm tra sau thông quan gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;
    • Kiểm tra đối với các đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá rủi ro về thuế.

    – Thanh tra thuế được áp dụng khi:

    • Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế;
    • Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng;
    • Theo yêu cầu của công tác quản lý thuế trên cơ sở kết quả phân loại rủi ro trong quản lý thuế;
    • Theo kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, kết luận của Thanh tra nhà nước và cơ quan khác có thẩm quyền.

    – Kiểm tra thuế: Tại cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế.

    – Thanh tra thuế: Chỉ thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế.

    – Kiểm tra thuế: Nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.

    Thời hạn kiểm tra thuế và thanh tra thuế được quy định như sau:

    – Thời hạn kiểm tra được xác định trong quyết định kiểm tra nhưng không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế (thời hạn kiểm tra được tính từ ngày công bố quyết địnhkiểm tra); trường hợp phạm vi kiểm tra lớn, nội dung phức tạp thì người đã quyết định kiểm tra có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế;

    – Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra.

    Thời hạn thanh tra thuế:

    – Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá 45 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 70 ngày;

    – Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 45 ngày.

    Quy định về kiểm tra thuế theo Luật quản lý thuế 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra Trong Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sự Khác Nhau Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra
  • Kinh Nguyệt Không Đều, 3 Dấu Hiệu, 7 Nguyên Nhân Và Hệ Quả
  • Cách Phân Biệt Máu Báo Thai, Máu Kinh Nguyệt Và Máu Báo Sảy Thai
  • Nhượng Quyền Thương Mại Và Cấp Phép Kinh Doanh
  • Mối Quan Hệ Và Sự Khác Biệt Giữa Hoạt Động Thanh Tra Và Kiểm Tra, Giám Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra Trong Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước
  • Mối Quan Hệ Giữa Triết Học Và Khoa Học
  • Sự Khác Nhau Giữa Công Chức Và Viên Chức Nhà Nước
  • So Sánh Adobe Premiere Và Adobe After Effects
  • Sự Khác Biệt Giữa Gel Và Wax Vuốt Tóc
  • Xuất phát từ nguyên tắc mang tính bản chất của nhà nước ta là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực của mình. Quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia nhưng có phân công phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vì vậy trong cơ chế hoạt động của mình, các cơ quan nhà nước ngoài việc phải thường xuyên tự kiểm tra hoạt động của mình còn phải chịu sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan khác trong, ngoài hệ thống và sự giám sát của nhân dân.

    1. Giám sát: Là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội

    2. Kiểm tra: Là khái niệm rộng, được hiểu theo hai góc độ:

    Thứ nhất, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới (trong mối quan hệ trực thuộc) nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong trường hợp cần kiểm tra một vấn đề cụ thể nào đó. Vì vậy khi tiến hành kiểm tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kỷ luật, biện pháp bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện pháp tác động tích cực với đối tượng bị kiểm tra cũng như động viên khen thưởng về vật chất hoặc tinh thần.

    Thứ hai, kiểm tra là hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội như kiểm tra của Đảng, kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội đối với hoạt động hành chính nhà nước. Hoạt động kiểm tra này ít mang tính quyền lực nhà nước và không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ áp dụng các biện pháp tác đông mang tính xã hội.

    3. Từ quan niệm trên, cụ thể là các mối quan hệ giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra, giám sát như sau:

    Thứ nhất, nhà nước tự kiểm soát hoạt động của mình bằng các hình thức:

    – Các cơ quan quyền lực nhà nước giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp, tư pháp;

    – Cơ quan tư pháp kiểm soát cơ quan hành pháp;

    – Cơ quan hành pháp tự kiểm soát thông qua hoạt động kiểm tra nội bộ; thanh tra, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới; thanh tra việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân…

    Thứ hai, nhân dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua hệ thống cơ quan dân cử, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng; giám sát trực tiếp ở cơ sở thông qua tổ chức thanh tra nhân dân, qua hoạt động khiếu nại, tố cáo…

    4. Bên cạnh mối quan hệ tác động đó hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát có những điểm khác biệt cơ bản

    – Về chủ thể:

    Chủ thể thanh tra có phạm vi hẹp hơn và mang tính chuyên trách chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra. Chủ thể kiểm tra có phạm vi rộng hơn và thường gắn với sự kiểm tra của nhà quản lý đối với đối tượng quản lý. Chủ thể giám sát rộng hơn nữa bao gồm: hệ thống cơ quan quyền lực, tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội và toàn thể nhân dân.

    – Về hoạt động

    Hoạt động của thanh tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và mang tính nghiệp vụ cao. Hoạt động giám sát được thực hiện thường xuyên liên tục bằng rất nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động kiểm tra cũng được thực hiện thường xuyên liên tục và thường là đơn giản hơn thanh tra.

    Cao Minh Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Kiểm Tra Và Thanh Tra Thuế
  • Sự Khác Biệt Giữa Thời Tiết Và Khí Hậu Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Pcr Sao Chép Ngược Và Pcr Thời Gian Thực Là Gì? Họ Có Giống Nhau Không?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Mong Muốn
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Muốn
  • Phân Biệt Giữa Kiểm Tra Và Thanh Tra Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Và Sự Khác Biệt Giữa Hoạt Động Thanh Tra Và Kiểm Tra, Giám Sát
  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra Trong Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước
  • Mối Quan Hệ Giữa Triết Học Và Khoa Học
  • Sự Khác Nhau Giữa Công Chức Và Viên Chức Nhà Nước
  • So Sánh Adobe Premiere Và Adobe After Effects
  • Mục tiêu của thanh, kiểm tra thuế là phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi sai sót và gian lận thuế của đối tượng nộp thuế. Các đối tượng nộp thuế theo phương pháp kê khai thì một xu hướng tất yếu là đối tượng tìm mọi cách để giảm gánh nặng thuế của mình, chính vì thế chức năng thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu trong quản lý thuế theo chức năng.

    Kiểm tra thuế

    Được quy định tại Điều 60 đến điều 64 thông tư 156/2013/TT/BTC ngày 6/11/2013.

    Mọi hồ sơ thuế gửi đến cơ quan thuế đều được kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế.

    Nếu hết thời hạn theo thông báo của cơ quan thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế; hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng thì cơ quan thuế thực hiện ấn định số thuế phải nộp và thông báo cho người nộp thuế biết hoặc ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế nếu không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp.

    Các trường hợp kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được quy định cụ thể tại Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, cụ thể là:

    Kiểm tra đối với trường hợp quy định tại các Điểm c, d Khoản 3 Điều 77 của Luật Quản lý thuế.

    – Kiểm tra đối với trường hợp qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật về thuế của người nộp thuế xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

    – Các trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau và kiểm tra sau hoàn thuế theo quy định.

    – Kiểm tra đối với các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề do Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế cấp trên quyết định trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro về thuế.

    Đối với người nộp thuế XNK, việc kiểm tra sau thông quan về thuế gồm:

    1. a) Kiểm tra đối với trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 77 của Luật Quản lý thuế;
    2. b) Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế;
    3. c) Kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế;
    4. d) Kiểm tra theo chuyên đề do Thủ trưởng cơ quan hải quan cấp trên quyết định trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro quản lý về hải quan.

    Xử lý kết quả kiểm tra thuế: Kiểm tra thuế thấy bằng chứng vi phạm pháp luật thuế thì:

    – Phải xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính

    – Chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ sung vào kế hoạch thanh tra nếu có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế.

    Thanh tra thuế

    Được quy định tại Điều 65 đến điều 69 thông tư 156/2013/TT/BTC ngày 6/11/2013.

    Các trường hợp thanh tra như sau:

    (i) Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần.

    (ii) Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế.

    (iii) Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.

    Quyết định thanh tra thuế phải có các nội dung như sau:

    (i) Căn cứ pháp lý để thanh tra;

    (ii) Đối tượng thanh tra;

    (iii) Nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra;

    (iv) Thời hạn tiến hành thanh tra;

    (v) Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của đoàn thanh tra.

    Khi thực hiện thanh tra thuế, Đoàn thanh tra thuế phải có tối thiểu một thành viên là thanh tra viên thuế. Quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng thanh tra chậm nhất là ba ngày làm việc, kể từ ngày ký.

    Quyền hạn và nhiệm vụ của trưởng đoàn thanh tra thuế và các thành viên được quy định tại Luật Thanh tra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Thời Tiết Và Khí Hậu Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Pcr Sao Chép Ngược Và Pcr Thời Gian Thực Là Gì? Họ Có Giống Nhau Không?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Mong Muốn
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Muốn
  • Sự Khác Nhau Giữa Cưa Gỗ Và Cưa Kim Loại
  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra, Điều Tra Và Giám Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Hệ Điều Hành Mac Os Và Windows
  • Điểm Giống Và Khác Nhau Của Các Nguồn Vốn Huy Động Từ Quốc Tế
  • So Sánh Các Phiên Bản Windows 7
  • Top 10 Sự Khác Biệt Giữa Windows 7 Và Windows 8/10
  • Tình Cảm Là Gì? So Sánh Tình Cảm Và Nhận Thức
  • Theo Từ điển Tiếng Việt thì ” nghiệp vụ” được hiểu là: “công việc chuyên môn của một nghề “. Từ đó, có thể hiểu ” nghiệp vụ thanh tra” là ” công việc chuyên môn của nghề thanh tra “.

    Từ khái niệm ” nghiệp vụ thanh tra” đưa ra ở trên, chúng ta có thể hiểu “nghiệp vụ Thanh tra ngành, lĩnh vực …” là “công việc chuyên môn của nghề Thanh tra ngành, lĩnh vực “, hay nói cách khác “nghiệp vụ ngành, lĩnh vực” là khả năng, kiến thức, mức độ thành thạo xử lý tình huống trong hoạt động của ngành, lĩnh vực đó và những hiểu biết về các lĩnh vực chuyên môn do ngành quản lý.

    1. Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra:

    Theo Từ điển Tiếng Việt thì ” kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét “. Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thao nhau. Bởi vì kiểm tra và thanh ra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý”. Qua kiểm tra, thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích đánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra. Đây là mối quan hệ đan chéo nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra. Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra. Chính vì vậy trong thực tiễn, nhiều người trong đó có cả một số doanh nghiệp thường hay nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra với thanh tra. Tuy nhiên với tư cách là một hoạt động độc lập, kiểm tra có nhiều điểm khác biệt với thanh tra:

    Một là về chủ thể tiến hành: Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước. Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra. Tuy nhiên, chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanh tra rất nhiều. Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ( Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên…), hay như hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp.

    Hai là về mục đích thực hiện: Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn đối với các hoạt động kiểm tra. Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều, bởi: thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc, bất bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm cho nên mục đích của hoạt động thanh tra không còn chỉ là xem xét, đánh giá một cách bình thường nữa.

    Ba là về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định…

    Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý.

    Bốn là về trình độ nghiệp vụ: Hoạt động thanh tra đòi hỏi thanh tra viên phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế – xã hội, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh vực thanh tra hướng đến. Do nội dung hoạt động kiểm tra ít phức tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lượng rộng lớn có tính quần chúng phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra.

    Năm là về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng. Phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn hoạt động kiểm tra.

    Sáu là về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra.

    Thanh trakiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối. Khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra. Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó. Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra hay kiểm tra, thanh tra.

    Điều tra hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm: điều tra xã hội học, điều tra dân số, điều tra về kinh tế…Tuy nhiên, với mục đích tránh hình sự hoá công tác thanh tra, ở đây chỉ so sánh thanh tra với điều tra hình sự. Với ý nghĩa này, điều tra là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm. Như vậy, có thể nói giữa thanh tra và điều tra hình sự có sự khác nhau về chủ thể, mục đích, đối tượng và phương pháp tiến hành như sau:

    Một là về chủ thể tiến hành: Theo quy định của Luật Thanh tra, chủ thể tiến hành thanh tra là các tổ chức thanh tra và chủ yếu là Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên.

    Hai là về mục đích tiến hành: Trong khi mục đích của điều tra hình sự là chứng minh tội phạm thì mục đích của thanh tra là những nội dung đã được quy định tại Điều 3 Luật thanh tra là:

    – Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật;

    – Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục;

    – Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    3. Phân biệt giữa thanh tra và giám sát:

    Trong Từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là ” theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không “.

    Như vậy, có thể nói: ở mức độ ý nghĩa chung nhất, giám sát và thanh tra đều được tiến hành trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của chủ thể được thanh tra, giám sát và đối tượng chịu sự thanh tra, giám sát. Tuy nhiên, chúng vẫn có điểm khác nhau cơ bản là: trong khi thanh tra luôn luôn gắn liền với quản lý nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước thì giám sát có thể mang tính quyền lực nhà nước hoặc không mang tính quyền lực nhà nước.

    + Giám sát mang tính quyền lực nhà nước được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống cơ quan nhà nước khác, chẳng hạn như: hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương.

    + Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước: Là loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước như hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; hay đơn giản chỉ là giám sát thi công một công trình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Asean Việt Nam
  • Sự Khác Biệt Giữa Thuốc Và Thực Phẩm Chức Năng?
  • Thực Phẩm Chức Năng Là Gì? Khác Nhau Giữa Tpcn Và Thuốc
  • Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Kim Loại Đen Và Kim Loại Màu ?
  • Phân Biệt Giữa Kiểm Tra Và Thanh Tra Thuế 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Thanh Tra Gd, Kiểm Tra Nội Bộ Trường Học, Ttrnd
  • Từ Vựng Về Thời Gian ” Học Ielts
  • So Sánh Từ A Đến Z: “sự Khác Nhau Giữa Bếp Từ Âm Và Bếp Từ Dương”
  • Cách Dùng Otherwise, Sự Khác Nhau Giữa Otherwise Và Unless
  • Cách Dùng However, Phân Biệt However Với But Và Nevertheless
  • Mục tiêu của thanh, kiểm tra thuế là phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi sai sót và gian lận thuế của đối tượng nộp thuế. Các đối tượng nộp thuế theo phương pháp kê khai thì một xu hướng tất yếu là đối tượng tìm mọi cách để giảm gánh nặng thuế của mình, chính vì thế chức năng thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu trong quản lý thuế theo chức năng.

    Kiểm tra thuế

    Được quy định tại Điều 60 đến điều 64 thông tư 156/2013/TT/BTC ngày 6/11/2013.

    Mọi hồ sơ thuế gửi đến cơ quan thuế đều được kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế.

    Nếu hết thời hạn theo thông báo của cơ quan thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế; hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng thì cơ quan thuế thực hiện ấn định số thuế phải nộp và thông báo cho người nộp thuế biết hoặc ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế nếu không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp.

    Các trường hợp kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được quy định cụ thể tại Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, cụ thể là:

    Kiểm tra đối với trường hợp quy định tại các Điểm c, d Khoản 3 Điều 77 của Luật Quản lý thuế.

    – Kiểm tra đối với trường hợp qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật về thuế của người nộp thuế xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

    – Các trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau và kiểm tra sau hoàn thuế theo quy định.

    – Kiểm tra đối với các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề do Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế cấp trên quyết định trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro về thuế.

    Đối với người nộp thuế XNK, việc kiểm tra sau thông quan về thuế gồm:

    1. a) Kiểm tra đối với trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 77 của Luật Quản lý thuế;
    2. b) Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế;
    3. c) Kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế;
    4. d) Kiểm tra theo chuyên đề do Thủ trưởng cơ quan hải quan cấp trên quyết định trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro quản lý về hải quan.

    Xử lý kết quả kiểm tra thuế: Kiểm tra thuế thấy bằng chứng vi phạm pháp luật thuế thì:

    – Phải xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính

    – Chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ sung vào kế hoạch thanh tra nếu có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế.

    Thanh tra thuế

    Được quy định tại Điều 65 đến điều 69 thông tư 156/2013/TT/BTC ngày 6/11/2013.

    Các trường hợp thanh tra như sau:

    (i) Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần.

    (ii) Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế.

    (iii) Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.

    Quyết định thanh tra thuế phải có các nội dung như sau:

    (i) Căn cứ pháp lý để thanh tra;

    (ii) Đối tượng thanh tra;

    (iii) Nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra;

    (iv) Thời hạn tiến hành thanh tra;

    (v) Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của đoàn thanh tra.

    Khi thực hiện thanh tra thuế, Đoàn thanh tra thuế phải có tối thiểu một thành viên là thanh tra viên thuế. Quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng thanh tra chậm nhất là ba ngày làm việc, kể từ ngày ký.

    Quyền hạn và nhiệm vụ của trưởng đoàn thanh tra thuế và các thành viên được quy định tại Luật Thanh tra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cty Tnhh Khoa Học Hợp Nhất
  • Giới Thiệu Về Pcr Và Kỹ Thuật Realtime Pcr
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Mong Muốn Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Màn Hình Tương Tác Và Bảng Tương Tác
  • Sự Khác Biệt Giữa Căn Hộ Dịch Vụ, Căn Hộ Và Căn Hộ Máy Lạnh
  • Cách Phân Biệt Giữa Thanh Tra, Kiểm Tra Và Giám Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Resort Và Hotel
  • Homestay Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Homestay, Khách Sạn Và Resort
  • Đặc Điểm Nào Thể Hiện Sự Giống Nhau Giữa Lưới Nội Chất Hạt Và Lưới Nội Chất Trơn?(1) Là Một Hệ Thống Và
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Quản Trị Kinh Doanh Và Marketing?
  • Đi Tìm Sự Khác Nhau Giữa Ngành Marketing Và Sales
  • Chúng ta đã gặp rất nhiều với các khái niệm thanh tra, điều tra, giám sát. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người chưa hiểu đúng về các khái niệm này. Vậy thanh tra là gì và đâu là sự khác biệt giữa các khái niệm trên.

    Thanh tra là gì?

    Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá cũng như thực hiện các biện pháp kỉ luật của tổ chức, cá nhân thuộc tổ chức và quy trình thanh tra sẽ được thực hiện theo trình tự pháp luật nhất định. Các hoạt động thanh tra thường nhằm mục đích phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ các lợi ích nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân khác nhau.

    Mục đích của hoạt động thanh tra

    Hiện nay, hoạt động thanh tra được xây dựng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cũng như phục vụ quản lí nhà nước trong các lĩnh vực sở hữu công nghiệp khác nhau.

    Ai được quyền thực hiện hoạt động thanh tra?

    Theo quy định của pháp luật, các hoạt động thanh tra chủ yếu sẽ xoay quanh những lĩnh vực như: đối tượng, nội dung, nghiệp vụ. Và cùng với đó, những người có thẩm quyền khác nhau sẽ được giao nhiệm vụ thi hành hoạt động thanh tra như:

    • Với thanh tra đối tượng: các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lí nhà nước của tổ chức mình
    • Với thanh tra nội dung: thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lí của nhà nước về sở hữu công nghiệp
    • Với thanh tra nghiệp vụ: thanh tra theo trình tự nghiệp vụ do pháp luật quy định

    Có thể nói, hoạt động thanh tra là hoạt động của các cơ quan hành pháp nhằm đảm bảo mục tiêu pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh tại các tổ chức, doanh nghiệp. Và trong quá trình thanh tra, kiểm tra. Nếu như phát hiện được sai phạm thì các thanh tra buộc phải có những biện pháp xử lí nhất định theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

    ► Theo dõi những kiến ngành nghề mới nhất hiện nay

    Phân biệt thanh tra và kiểm tra

    Giữa hai khái niệm: thanh tra; kiểm tra. Chúng ta có thể thấy những điểm khác nhau như:

    • Về chủ thể tiến hành: mặc dù đều có chung chủ thể tuy nhiên hoạt động của kiểm tra rộng hơn thanh tra rất nhiều. Nếu người tiến hành thanh tra là cơ quan quản lí nhà nước thì hoạt động kiểm tra có thể được thực hiện bởi các tổ chức khác nhau. Hoặc thậm chí trong nội bộ của doanh nghiệp
    • Về mục đích thực hiện: Với hoạt động thanh tra, mục đích thực hiện luôn rộng hơn kiểm tra. Đặc biệt, nếu cuộc thanh tra phải giải quyết những khiếu nại, tố cáo thì mục đích của hoạt động thanh tra lại càng rõ ràng hơn.
    • Về phương pháp tiến hành: CÁc hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng đều áp dụng những cách làm khác nhau để đi đến bản chất cuối cùng của một vấn đề như: đối thoại, phỏng vấn, thẩm định, giám định….
    • Về trình độ nghiệp vụ: Hoạt động thanh tra đòi hỏi người thực hiện cần phải có một trình đọ nghiệp vụ rất giỏi. Cùng với đó là việc am hiểm tường tận các kiến thức khác nhau về vấn đề cần nghiên cứu. Trong khi đó, công việc kiểm tra sẽ cần người có trình độ chuyên môn thấp hơn.

    Phân biệt thanh tra và giám sát

    Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, hoạt động giám sát được hiểu là việc theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không. Vì thế, hoạt động thanh tra, giám sát đều được tiên hành trên cơ sở các quyền lợi, nghĩa vụ của chủ thể thanh tra và đối tượng phải chịu sự thanh tra, giám sát. Nhưng khái niệm giám sát cũng có các điểm khác nhau như:

    • Giám sát mang tính quyền lực nhà nước: đây là hoạt động được tiến hành bởi chủ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền với một hoặc nhiều cơ quan nhà nước khác nhau.
    • Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước: là hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể khác như: các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội đối với nội bộ tổ chức của mình.

    ► Tìm hiểu thêm: Các kiến thức tìm việc bổ ích hiện nay tại: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Khí Nén Và Thủy Lực
  • Qa Và Qc Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Qa Và Qc Là Gì? Giống Giống Nhưng Rất Khác Nhau
  • Cau Hoi On Tap Quan Tri Chat Luong
  • Khác Biệt Giữa Hiệp Định Và Hiệp Ước
  • Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra Trong Giáo Dục Và Đào Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Hoạt Động Kiểm Tra Thuế Và Thanh Tra Thuế
  • Liệu Triết Học Có Phải Là Khoa Học Không?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đại Lý Và Nhà Bán Buôn
  • Sự Khác Biệt Giữa Đại Lý Và Nhà Phân Phối
  • Sự Khác Nhau Giữa Các Sàn Chứng Khoán
  • Khái niệm thanh tra và kiểm tra trong công tác quản lý nhà nước được tiếp cận ở các phương diện, góc độ sau:

    Về khái niệm thanh tra: Luật Thanh tra năm 2010 quy định: Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.

    Về khái niệm kiểm tra: Cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra, trên phương diện lý luận và thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Trước hết, về phương diện hoạt động: Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn. Hai là, về phương diện quản lý nhà nước: Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: Biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật. Ba là, về phương diện chính trị – xã hội: Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước, theo phương diện này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội.

    Từ tiếp cận khái niệm thanh tra, kiểm tra nêu trên, có thể hiểu và khái quát về thanh tra, kiểm tra trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo như sau:

    Thanh tra giáo dục và đào tạo: Là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn, nội quy, quy định về tiêu chuẩn, quy tắc hoạt chuyên môn thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, thanh tra giáo dục thực hiện chức năng thanh tra thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong giáo dục.

    Kiểm tra trong giáo dục và đào tạo: Là quá trình xem xét thực tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà nước và nhà trường nhằm phát hiện các mặt tích cực, sai lệch, vi phạm để đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời, kiểm tra trong quản lý giáo dục và đào tạo gồm kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo và tự kiểm tra của người đứng đầu cơ sở giáo dục và đào tạo.

    Căn cứ nội dung khái niệm và thực tiễn hoạt động thanh tra, kiểm tra trong giáo dục và đào tạo thể rút ra những điểm tương đồng và khách biệt giữa thanh tra và kiểm tra trong giáo dục.

    Thứ nhất, sự tương đồng giữa thanh tra với kiểm tra trong giáo dục

    Hoạt động thanh tra và kiểm tra trong giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau, quan hệ đan chéo nhau không tách rời bởi chúng có những điểm tương đồng sau:

    – Về vị trí, chức năng: Thanh tra và kiểm tra đều là những công cụ quan trọng của nhóm một chức năng của hoạt động quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của chu trình quản lý. Qua thanh tra, kiểm tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra.

    – Về mục đích hoạt động: Thông qua hoạt động thanh tra và kiểm tra nhằm giúp cho chủ thể quản lý phát huy những nhân tố tích cực; phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mong muốn.

    – Về cách thức thực hiện: Khi tiến hành hoạt động thanh tra và kiểm tra chủ thể đều thực hiện biện pháp nghiệp vụ về thu thập, phân tích, so sánh, kiểm tra, đối chiếu, xác minh thông tin để đưa ra nhận xét, đánh giá một cách chính xác, khách quan,trung thực về đối tượng được thanh tra, kiểm tra chỉ ra kết quả làm được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, xử lý.

    Điểm tương đồng giữa thanh tra với kiểm tra hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra. Các hoạt động, thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá, xác minh… tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra.

    Thứ hai, sự khác biệt giữa thanh tra với kiểm tra trong giáo dục

    Tuy thanh tra với kiểm tra có những tương đồng như đã nêu ở trên, song cũng có những điểm khác biệt có thể phân biệt đâu là hoạt động thanh tra với hoạt động kiểm tra.

    – Về chủ thể: So với kiểm tra thì chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra hẹp hơn chỉ có cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được tiến hành thanh tra, chủ thể tiến hành kiểm tra rộng rất đa dạng từ các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đến công tác tự kiểm tra của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

    Về nội dung: Nội dung thanh tra thường phức tạp, đa dạng, chuyên sâu hơn so với nội dung kiểm tra; nội dung kiểm tra thường đơn giản, dễ nhận thấy hơn.

    – Về tính chất pháp lý và nghiệp vụ: Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo quy định pháp luật cả về trình tự thủ tục tiến hành lẫn nội dung thực hiện vì thế để thực hiện được hoạt động này đòi hỏi thanh tra viên và những người là thành viên Đoàn thanh tra phải là những chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm trong một lĩnh vực thanh tra cụ thể đồng thời phải am hiểu về kinh tế – xã hội, có kỹ năng, nghiệp vụ giỏi về thanh tra nhất là lĩnh vực trực tiếp tiến hành thanh tra để đi sâu tìm hiểu vụ việc, nắm bắt thông tin, chứng cứ từ đó phân tích, đánh giá rút ra những két luận, kiến nghị chính xác, khách quan làm cho đối tượng thanh tra “tâm phục, khẩu phục” và làm cơ sở vững chắc, tin cậy cho quyết định giải quyết hoặc xử lý sau khi kết thúc thanh tra. Đối với kiểm tra, do nội dung thực hiện thường ít phức tạp hơn nên nghiệp vụ của thành viên các cuộc kiểm tra không đòi hỏi cao như thanh tra, tuy nhiên không vì thế mà xem nhẹ việc bố trí cán bộ tham gia các cuộc kiểm tra.

    Về phạm vi hoạt động: So với kiểm tra phạm vi hoạt động của thanh tra thường hẹp, chuyên sâu về nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp, cách thức tiến hành cụ thể, vậy nên cần cân nhắc chọn lọc một cách kĩ lưỡng, thậm chí phải qua kiểm tra sau đó mới quyết định thanh tra để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm, hiệu lực, hiệu quả và tính mục đích của thanh tra. Nếu sự việc chỉ cần kiểm tra mà do không nắm bắt, đánh giá, nhận định đúng đối tượng nên ra quyết định thanh tra thì cuộc thanh tra đó không đảm bảo tính thuyết phục, sắc bén, quyền lực của thanh tra. Trong khi đó, hoạt động của kiểm tra thường được tiến hành theo bề rộng, diễn ra liên tục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng trong đó có cả hình thức mang tính quần chúng.

    – Về thời gian tiến hành: Hầu hết các nội dung, vấn đề trong tiến hành hoạt động thanh tra đều được tiến hành thẩm tra, xác minh, đối chiếu rất công phu, thận trọng mới có thể đưa ra được kết luận, kiến nghị một cách chính xác, khách quan nên cần phải sử dụng nhiều thời gian hơn so với kiểm tra. Thời hạn mỗi cuộc thanh tra do các cơ quan thanh tra tiến hành được quy định chặt chẽ cụ thể theo thẩm quyền, nội dung thanh tra tại Luật thanh tra.

    – Về trình tự thủ tục thực hiện: Hoạt động thanh tra được pháp luật quy định nghiêm ngặt về hình thức, trình tự, thủ tục tiến hành trong khi đó hoạt động kiểm tra thường linh hoạt vận dụng quy trình thanh tra vào thực hiện công tác kiểm tra.

    SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THANH TRA VỚI KIỂM TRA TRONG GIÁO DỤC

    Cơ quan nhà nước có quyền theo quy định của pháp luật được thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, thanh tra huyện; Thanh tra Bộ, Sở giáo dục và Đào tạo

    Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, cấp, người có thểm quyền trong quan hệ quản lý, người đứng đầu cơ sở giáo dục và đào tạo.

    Hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân và cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục và đào tạo theo quy định pháp luật

    Hệ thống giáo dục quốc dân,tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục và đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo

    Chính sách, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, quy định, tiêu chuẩn, nội quy, quy chế trong hoạt động giáo dục và đào tạo

    Việc thực hiện các hoạt động giáo dục và đào tạo, công tác quản lý của cơ sở giáo dục

    Để xem xét, đánh giá, kết luận chính xác đối tượng, đòi hỏi người, tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thanh tra giáo dục phải có kiến thức rộng và chuyên môn sâu về giáo dục và đào tạo. Kết luận Thanh tra mang tính pháp lý cao làm cơ sở để xử lý, chấn chỉnh, uốn nắn, điều chỉnh đối tượng được thanh tra.

    Kiểm tra nhằm đánh giá kết quả quản lý để điều chỉnh hoạt động quản lý. Kết luận kiểm tra mang tính chất pháp lí nội bộ, kiến nghị, đề nghị điều chỉnh, chấn chỉnh trong quản lý giáo dục.

    Nội dung thanh tra chuyên sâu ở một hoặc một số nội dung với đối tượng cụ thể trong hoạt động giáo dục và đào tạo

    Nội dung rộng bao quát toàn bộ hoạt động giáo dục và quản lý cơ sở giáo dục

    Thời gian, thủ tục tiến hành

    Thời gian thanh tra được quy định cụ thể đối với cuộc thanh tra theo thẩm quyền của chủ thể tiến hành.

    Trình tự, thủ tục được luật định thành quy trình và bước thực hiện

    Thời gian và thủ tục tiến hành linh hoạt không nhất thiết phải theo các bước như thanh quy trình thanh tra.

    Có thể nói, việc làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra nói chung, thanh tra và kiểm tra trong công tác quản lý giáo dục nói riêng nhằm giúp cho việc hiểu rõ bản chất của hoạt động này để giúp chủ thể và đối tượng nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò của hai hoạt động thanh tra và kiểm tra trong công quản lý. Từ đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra mới đi vào đánh giá thực chất kết quả hoạt động của chủ thể và đối tượng, qua đó góp phần nhìn nhận, đánh giá, điều chỉnh phương thức, biện pháp, hình thức, nội dung quản lý góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chung và quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo nói riêng./.

    Phạm Công Hiệp – Lê Hùng Điệp Tài liệu tham khảo 1.Quốc hội khóa XII (2010), Luật số 56/2010/QH12 ngày 15/ 11/2010 Luật Thanh tra. 2.Chính phủ ( 2011), Nghị định số: 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. 3. Chính phủ (2012), Nghị định số: 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành 4. Chính phủ ( 2013), Nghị định số: 42/2013/NĐ-CPNQ-CP ngày 09/4/2013 v5. Chính phủ ( 2022), Nghị định 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 quy định việc thực hiện kết luận thanh tra, 6. Thanh tra Chính phủ (2014), Thông tư số: 05/2014/TT – TTCP ngày 16/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, 7. Thanh tra Chính phủ (2015)Thông tư số 05/2015/TT-TTCP ngày 10/09/2015 của Thanh tra Chính phủ quy định về giám sát hoạt động của đoàn thanh tra. 8.Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Tài liệu học tập, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục phổ thông 9. Học viện quản lý giáo dục và Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục 10. Nguyễn Thanh Xuân (2013), Kiểm tra và Thanh tra giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội ề tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra
  • Kinh Nguyệt Không Đều, 3 Dấu Hiệu, 7 Nguyên Nhân Và Hệ Quả
  • Cách Phân Biệt Máu Báo Thai, Máu Kinh Nguyệt Và Máu Báo Sảy Thai
  • Nhượng Quyền Thương Mại Và Cấp Phép Kinh Doanh
  • Áo Blazer Là Gì: Kiến Thức Từ A
  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Và Kiểm Tra Trong Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Triết Học Và Khoa Học
  • Sự Khác Nhau Giữa Công Chức Và Viên Chức Nhà Nước
  • So Sánh Adobe Premiere Và Adobe After Effects
  • Sự Khác Biệt Giữa Gel Và Wax Vuốt Tóc
  • Sự Khác Biệt Giữa Wax & Gel So Với Gôm Xịt Tóc Của Nam Giới
  • Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra trong hoạt động quản lý nhà nước

    Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2004 thì “Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Trong cuốn sách “thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản Pháp lý in năm 1986, định nghĩa thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm. Thanh tra gắn liền với chức năng quản lý nhà nước. Để làm được nhiệm vụ, Thanh tra có thể dựa vào bộ máy chuyên môn của mình và quần chúng. Cơ quan Thanh tra có trách nhiệm xem xét các đơn thư khiếu nại, tố cáo để tìm kiếm những biện pháp giải quyết thoả đáng theo quy định. Ngoài thanh tra nhà nước còn có Thanh tra chuyên ngành như thanh tra giao thông, tư pháp, tài nguyên khoáng sản, đất đai…

    Cũng theo Từ điển Tiếng Việt nêu trên thì: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Kiểm tra là chức năng của mọi chủ thể quản lý, không phân biệt ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng. Tuy nhiên là ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô kiểm tra cũng khác nhau và có những yêu cầu khác nhau. Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức nhất định, kiểm tra hướng tới việc xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, khả năng thực hiện trong thực tế.

    Như vậy, có thể thấy thanh tra có phạm vi hẹp hơn kiểm tra. Chủ thể thực hiện công tác thanh tra là các cơ quan nhà nước được giao quyền, còm kiểm tra là một hoạt động thường xuyên của mọi chủ thể quản lý. Trong quản lý nhà nước, khi nói đến kiểm tra còn phải nói đến kiểm tra nhà nước (hay kiểm tra mang tính nhà nước). Đó là việc kiểm tra chấp hành kỷ luật nhà nước, kỷ luật lao động, pháp chế và trật tự xã hội của các công chức, viên chức, của những người có chức vụ, quyền hạn và của công dân.

    Giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và có nhiều điểm giao thoa nhau. Bởi vì kiểm tra và thanh ra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý”. Qua kiểm tra, thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích đánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra. Đây là mối quan hệ đan chéo nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra. Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra… đó là kiểm tra. Trong thực tiễn, vẫn còn có sự nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra với thanh tra. Tuy nhiên với tư cách là một hoạt động độc lập, kiểm tra có nhiều điểm khác biệt với thanh tra:

    Thứ nhất, về chủ thể tiến hành: Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước. Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra. Tuy nhiên, chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanh tra rất nhiều. Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Phụ nữ, Đoàn thanh niên…), hay như hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp (có thể là doanh nghiệp nhà nước hoặc ngoài nhà nước).

    Thứ hai, về mục đích thực hiện: Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn đối với các hoạt động kiểm tra. Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều, bởi: thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc, bất bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm cho nên mục đích của hoạt động thanh tra không còn chỉ là xem xét, đánh giá một cách bình thường nữa.

    Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức kinh tế… nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra nhằm đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn. Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật.

    Thứ ba, về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định… Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý.

    Thứ năm, về trình độ nghiệp vụ: Hoạt động thanh tra đòi hỏi thanh tra viên phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế – xã hội, có khả năng chuyên sâu về lĩnh vực thanh tra hướng đến. Do nội dung hoạt động kiểm tra ít phức tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lượng rộng lớn có tính quần chúng phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra. Do vậy, khi lập kế hoạch cũng như phê duyệt kế hoạch thanh tra của các cơ quan nhà nước, những cá nhân có thẩm quyền phải nghiên cứu một cách công phu, thân trọng, kỹ lưỡng, khách quan. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối. Trên thực tế, có những cuộc kiểm tra cũng có nội dung rất phức tạp.

    Thứ sáu, về nội dung, phạm vi: Nội dung thanh tra thường phức tạp, đa dạng hơn so với nội dung kiểm tra. Do vậy, khi lập kế hoạch cũng như phê duyệt kế hoạch thanh tra, những cá nhân có thẩm quyền phải nghiên cứu một cách công phu, thân trọng, kỹ lưỡng, khách quan. Tuy nhiên sự phân biệt này mang ý nghĩa tương đối. Trên thực tế, cá biệt có những cuộc kiểm tra cũng rất phức tạp không hề đơn giản như: kiểm tra dấu hiệu vi phạm của các tổ chức Đảng, của Đảng viên theo Điều lệ Đảng và theo pháp luật của Nhà nước.

    Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng. Phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn và được giới hạn trong quyết định thanh tra đã được ký ban hành.

    Thứ bảy, về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra.

    Tóm lại, thanh tra và kiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối. Khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra. Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó. Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra hay kiểm tra, thanh tra. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra và thanh tra có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, giữa chúng có sự giống nhau về mục đích nhưng lại khác nhau về một số điểm đã nêu trên. Tuy nhiên, việc phân biệt sự khác nhau giữa kiểm tra và thanh tra nhà nước chỉ mang tính tương đối, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không nên tuyệt đối hóa sự phân biệt này mới thực hiện tốt được các cuộc thanh tra, kiểm tra đồng thời tránh được sai lầm khi tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra. Sự phân biệt này góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện chế định pháp luật về kiểm tra, thanh tra nhà nước đồng thời góp phần vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Và Sự Khác Biệt Giữa Hoạt Động Thanh Tra Và Kiểm Tra, Giám Sát
  • Phân Biệt Giữa Kiểm Tra Và Thanh Tra Thuế
  • Sự Khác Biệt Giữa Thời Tiết Và Khí Hậu Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Pcr Sao Chép Ngược Và Pcr Thời Gian Thực Là Gì? Họ Có Giống Nhau Không?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhu Cầu Và Mong Muốn
  • Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Gang Và Thép

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Gang Và Thép
  • 7 Điểm Khác Nhau Giữa Hộ Kinh Doanh Và Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Doanh Nghiệp Tư Nhân Và Hộ Kinh Doanh
  • Tổng Quan Về Các Khối U Vùng Đầu Cổ
  • Chương 1 – Kiếm Và Đao.
  • GANG theo định nghĩa là hợp kim Fe-C với hàm lượng Các bon lớn hơn 2,14%. Thực tế trong gang luôn có Các nguyên tố khác như: Si, Mn, P và S Gang thông dụng thường chứa: 2,0÷4,0% Các bon – 0,2÷1,5% Mn – 0,04÷0,65% P – 0,02÷0,05% S Thành phần hóa học của gang bao gồm chủ yếu là sắt (hơn 95% theo trọng lượng) và các nguyên tố hợp kim chính là carbon và silic. Hàm lượng của carbon trong gang nằm trong miền từ 2,1% đến 4,3% trọng lượng, với miền có hàm lương carbon thấp hơn 2,1% của họ hợp kim của sắt sẽ là thép carbon. Một phần đáng kể silic (1-3%) trong gang tạo thành tổ hợp hợp kim Fe-C-Si. Tuy nhiên, gang được xem tương tự như hợp kim chứa hai nguyên tố là sắt và carbon ở trang thái đông đặc, trên biểu đồ trạng thái sắt – carbon tại điểm austectic (1154°C và 4,3%C).

    Gang với thành phần hóa học gần điểm austectic có nhiệt độ nóng chảy trong khoảng từ 1150 đến 1200°C, thấp hơn 300°C so với sắt nguyên chất. Nhìn chung người ta xem gang như là một loại hợp kim có tính dòn. Màu xám ở mặt gãy thường là đặc điểm nhận dạng của gang: chính là sự phân bổ ở dạng tự do của khối carbon, với hình thù dạng tấm khi hợp kim đông đặc. Với đặc tính: điểm nóng chảy thấp, độ chảy loãng tốt, tính đúc tốt, dễ gia công, có khả năng chịu mài mòn, nên giá thành gia công rất thấp, do đó gang được sử dụng trong rất nhiều chi tiết, lĩnh vực khác nhau như sản xuất

    nắp ga gang

    , song thoát nước ….

    Gang và Thép là hợp kim giữa Sắt và Cacbon cơ bản giống nhau về cấu tạo, khác nhau về tỉ lệ thành phần Cacbon có trong chúng.theo định nghĩa là hợp kim Fe-C với hàm lượng Các bon lớn hơn 2,14%. Thực tế trong gang luôn có Các nguyên tố khác như: Si, Mn, P và S Gang thông dụng thường chứa: 2,0÷4,0% Các bon – 0,2÷1,5% Mn – 0,04÷0,65% P – 0,02÷0,05% S Thành phần hóa học của gang bao gồm chủ yếu là sắt (hơn 95% theo trọng lượng) và các nguyên tố hợp kim chính là carbon và silic. Hàm lượng của carbon trong gang nằm trong miền từ 2,1% đến 4,3% trọng lượng, với miền có hàm lương carbon thấp hơn 2,1% của họ hợp kim của sắt sẽ là thép carbon. Một phần đáng kể silic (1-3%) trong gang tạo thành tổ hợp hợp kim Fe-C-Si. Tuy nhiên, gang được xem tương tự như hợp kim chứa hai nguyên tố là sắt và carbon ở trang thái đông đặc, trên biểu đồ trạng thái sắt – carbon tại điểm austectic (1154°C và 4,3%C).Gang với thành phần hóa học gần điểm austectic có nhiệt độ nóng chảy trong khoảng từ 1150 đến 1200°C, thấp hơn 300°C so với sắt nguyên chất. Nhìn chung người ta xem gang như là một loại hợp kim có tính dòn. Màu xám ở mặt gãy thường là đặc điểm nhận dạng của gang: chính là sự phân bổ ở dạng tự do của khối carbon, với hình thù dạng tấm khi hợp kim đông đặc. Với đặc tính: điểm nóng chảy thấp, độ chảy loãng tốt, tính đúc tốt, dễ gia công, có khả năng chịu mài mòn, nên giá thành gia công rất thấp, do đó gang được sử dụng trong rất nhiều chi tiết, lĩnh vực khác nhau như sản xuất, song thoát nước ….

     

     

     

     

    sản xuất nắp hố ga

     

     

    Phôi gang dùng để

    THÉP là hợp kim với thành phần chính là sắt (Fe), với cacbon (C), từ 0.02% đến 1.7% theo trọng lượng, và một số nguyên tố hóa học khác. Chúng làm tăng độ cứng, hạn chế sự di chuyển của nguyên tử sắt trong cấu trúc tinh thể dưới tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau. . Số lượng khác nhau của các nguyên tố và tỷ lệ của chúng trong thép nhằm mục đích kiểm soát các mục tiêu chất lượng như độ cứng, độ đàn hồi, tính dể uốn, và sức bền kéo đứt. Thép với tỷ lệ carbon cao có thể tăng cường độ cứng và cường lực kéo đứt so với sắt, nhưng lại giòn và dể gãy hơn.

    Tỷ lệ hòa tan tối đa của carbon trong sắt là 2.14% theo trọng lượng xảy ra ở 1130 độ C; nếu lượng carbon cao hơn hay nhiệt độ hòa tan thấp hơn trong quá trình sản xuất, sản phẩm sẽ là cementite (xê-men-tít) có cường lực kém hơn. Pha trộn với carbon cao hơn 1.7% sẽ được gang. Thép cũng được phân biệt với sắt rèn, vì sắt rèn có rất ít hay không có carbon, thường là ít hơn 0.035%. Ngày nay người ta gọi ngành công nghiệp thép (không gọi là ngành công nghiệp sắt và thép), nhưng trong lịch sử, đó là 2 sản phẩm khác nhau. Ngày nay có một vài loại thép mà trong đó carbon được thay thế bằng các hổn hợp vật liệu khác, và carbon nếu có, chỉ là không được ưa chuộng.

     

     

    Hình ảnh thép dùng để sản xuất tấm sàn grating

    Trước thời kì Phục Hưng người ta đã chế tạo thép với nhiều phương pháp kém hiệu quả, nhưng đến thế kỉ 17 sau tìm ra các phương pháp có hiệu quả hơn thì việc sử dụng thép trở nên phổ biến hơn. Với việc phát minh ra quy trình Bessemer vào giữ thế kỉ 19 CN, thép đã trở thành một loại hàng hoá được sản xuất hàng loạt ít tốn kém. Trong quá trình sản xuất càng tinh luyện tốt hơn như phương pháp thổi Oxy, thì giá thành sản xuất càng thấp đồng thời tăng chất lượng của kim loại. Ngày nay thép là một trong những vật liệu phổ biến nhất trên thế giới và là thành phần chính trong xây dựng, đồ dùng, công nghiệp cơ khí. Thông thường thép được phân thành nhiều cấp bậc và được các tổ chức đánh giá xác nhận theo chuẩn riêng.

    ĐẶC TÍNH :

    Cũng như hầu hết các kim loại, về cơ bản, sắt không tồn tại ở vỏ trái đất, nó chỉ tồn tại khi kết hợp với oxy hoặc lưu huỳnh. Sắt chứa các khoáng bao gồm Fe2O3-một dạng của oxid sắt có trong khoáng Hematite, và FeS2 – quặng sunphit sắt. Sắt được lấy từ quặng bằng cách khử oxy hoặc kết hợp sắt với một nguyên tố hoá học như cacbon. Quá trình này được gọi là luyện kim, được áp dụng lần đầu tiên cho kim loại với điểm nóng chảy thấp hơn. Đồng nóng chảy ở nhiệt độ hơn 10800 °C, trong khi thiếc nóng chảy ở 250 °C. Pha trộn với carbon trong sắt cao hơn 2.14% sẽ được gang, nóng chảy ở 1390 °C. Tất cả nhiệt độ này có thể đạt được với các phương pháp cũ đã được sử dụng ít nhất 6000 năm trước. Khi tỉ lệ oxy hoá tăng nhanh khoảng 800 °C thì việc luyện kim phải diễn ra trong môi trường có oxy thấp. Trong quá trình luyện thép việc trộn lẫn cacbon và sắt có thể hình thành nên rất nhiều cấu trúc khác nhau với những đặc tính khác nhau.

    Hiểu được điều này là rất quan trọng để luyện thép có chất lượng. Ở nhiệt độ bình thường, dạng ổn định nhất của sắt là sắt ferrite có cấu trúc body-centered cubic (BCC) hay sắt, một chất liệu kim loại mềm, có thể phân huỷ một lượng nhỏ cacbon (không quá 0.021% ở nhiệt độ 910 °C). Nếu trên 910 °C thì ferrite sẽ chuyển từ BCC sang FCC, được gọi là Austenit, loại này cũng là một chất liệu kim loại mềm nhưng nó có thể phân huỷ nhiều cacbon hơn (khoảng 2.03% cacbon nhiệt độ 1154 °C). Một cách để loại bỏ cacbon ra khỏi astenite là loại xementit ra khỏi hỗn hợp đó, đồng thời để sắt nguyên chất ở dạng ferite và tạo ra hỗn hợp cementit-ferrit. Cementit là một hợp chất hoá học có công thức là Fe3C.

    THÉP HIỆN ĐẠI :

    Thép hiện đại được chế tạo bằng nhiều các nhóm hợp kim khác nhau, tùy theo thành phần hóa học của các nguyên tố cho vào mà cho ta các sản phẩm phù hợp với công dụng riêng rẽ của chúng. Thép carbon bao gồm hai nguyên tố chính là sắt và cacbon, chiếm 90% tỷ trọng các sản phẩm thép làm ra. Thép hợp kim thấp có độ bền cao được bổ sung thêm một vài nguyên tố khác (luôn <2%), tiêu biểu 1,5% mangan, đồng thời cũng làm giá thành thép tăng thêm. Thép hợp kim thấp được pha trộn với các nguyên tố khác, thông thường mô lip đen, mangan, crom, hoặc niken, trong khoảng tổng cộng không quá 10% trên tổng trọng lượng. Các loại thép không gỉ và thép không gỉ chuyên dùng có ít nhất 10% crom, trong nhiều trường hợp có kết hợp với niken, nhằm mục đích chống lại sự ăn mòn. Một vài loại thép không gỉ có đặc tính không từ tính. Thép hiện đại còn có những loại như thép dụng cụ được hợp kim hóa với số lượng đáng kể bằng các nguyên tố như volfram hay coban cũng như một vài nguyên tố khác đạt đến khả năng bão hoà.

    Những cái này là tác nhân kết tủa giúp cải thiện các đặc tính nhiệt luyện của thép. Thép dụng cụ được ứng dung nhiều vào các dụng cụ cắt gọt kim loại, như mũi khoan, dao tiện, dao phay, dao bào và nhiều ứng dụng cho các vật liệu cần độ cứng cao.

  • --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Gang Và Thép
  • Nhựa Phenolic Fomanđehit Là Gì?
  • Tính Chất Hóa Học Và Công Thức Cấu Tạo Của Phenol C6H5Oh
  • Tổng Hợp Kiến Thức Hóa 12 Chương : Polime
  • Phân Biệt Especial Và Special, Especially Và Specially
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100