Mối Quan Hệ Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính

--- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Trung Học Phổ Thông Và Đại Học Có Gì Khác Biệt?
  • Sự Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • Sự Khác Nhau Giữa Branding, Marketing, Quảng Cáo Và Pr Là Gì ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Marketing, Quảng Cáo Và Pr
  • Phong Tục, Tập Quán Và Tôn Giáo
  • Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Bài tập học kỳ tâm lý học đại cương 9 điểm.

    Khái niệm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

    Nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm hiểu biết của bản thân. Nhận thức ở mức độ thấp là nhận thức cảm tính, ở mức độ cao hơn là nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người.

    Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên, thấp nhất của con người. Trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan của họ. Nhận thức cảm tính bao gồm: cảm giác tri giác.

    Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hiện thức khách quan một cách gián tiếp. Nhận thức lý tín bao gồm tư duy và tượng.

    Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

    Giống nhau:

    Đều là quá trình tâm lí nên có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách tương đối rõ ràng..

    Chỉ phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

    Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp.

    Đều có ở động vật và con người

    Cảm giác

    Tri giác

    – Phản ánh riêng lẻ các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

    – Là mức độ đầu tiên của nhận thức cảm tính.

    -Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và thế giới xung quanh. Nhờ mối liên hệ đó mà cơ thể có khả năng định hướng và thích nghi với môi trường. -Cảm giác giúp con người thu nhận nguồn tài liệu trực quan sinh động, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn.

    – Phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

    – Gắn liền với hoạt động của con người.

    – Là mức độ cao nhất của nhận thức cảm tính.

    – Tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn, giúp con người điều chỉnh một cách hợp lý hoạt động của mình trong thế giới, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa.

    Khác nhau:

    So sánh nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính:

    Khác:

    Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy.

    Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau: cảm giác, tri giác, biểu tượng.

    Đặc điểm:

    – Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.

    Nhận thức lý tính: là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.

    – Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất.

    – Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật.

    -Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.

    Đặc điểm:

    – Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.

    – Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.

    – Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính.

    Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra 1 Tiết Cuối Kì 1 Gdcd Lớp 10, Sự Khác Nhau Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Lý Tính?
  • Sự Khác Nhau Giữa Ngành Marketing Và Quản Trị Kinh Doanh
  • Sự Khác Nhau Giữa Nghiên Cứu Marketing Và Quản Trị Marketing
  • So Sánh Quản Trị Marketing Và Quản Trị Bán Hàng
  • Sự Khác Nhau Giữa Sales Và Marketing, Làm Thế Nào Để Phối Hợp Hiệu Quả?
  • Câu 1 Phân Biệt Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính. Ý Nghĩa Của Chúng Với Quản Lý Và Đời Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Về Môi Trường Học Giữa Học Sinh Và Sinh Viên
  • Khác Biệt Giữa Môi Trường Học Ở Phổ Thông Và Đại Học
  • Phân Biệt Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Trường Đại Học Và Cao Đẳng Cộng Đồng Tại Mỹ
  • Getting Started Trang 38 Unit 4 Sgk Anh 8 Mới, Viết C (Custom
  • Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống, Phong Tục Và Văn Hóa Là Gì?
  • Câu 1: Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa nhận thức cảm tính và nhận thức

    lý tính. Ý nghĩa của chúng với quản lý cà đời sống?

    1. Phân biệt nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:

    NHẬN THỨC CẢM TÍNH

    Là hoạt động tâm lý bậc thấp của con

    người và động vật, chỉ phản ánh được

    những đặc điểm bên ngoài của sự vật

    hiện tượng.

    Chỉ xảy ra khi có sự tác động trực tiếp

    vào các cơ quan cảm giác, thường xảy ra

    trong 1 thời gian rất ngắn hoặc ngay lập

    tức

    Các hình ảnh phản ánh được thể hiện

    dưới dạng các hình ảnh cụ thể

    Chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố vô

    thức, bản năng và di truyền

    NHẬN THỨC LÝ TÍNH

    Chỉ có ở con người, không có ở động vật,

    phản ánh những cái bên trong thuộc về

    bản chất có tính quy luật, phản ánh những

    cái mới, những cái chưa biết.

    Được thực hiện một cách từ từ, lâu dài

    chứ không ngắn và tức khắc như trong

    nhận thức cảm tính.

    Sự phản ánh bao giờ cũng có mục tiêu, có

    ý thức. được biểu hiện dưới các dạng

    hình ảnh trừu tượng.

    Được tiến hành một cách gián tiếp thong

    qua ngôn ngữ: nói, viết, hình ảnh.

    2. ý nghĩa đối với đời sống:

    – Ý nghĩa của nhận thức cảm tính (bao gồm cảm giác và tri giác) đối với đời sống:

    + cảm giác : các cơ quan cảm giác giúp chúng ta nhận biết được sự muôn màu, muôn

    vẻ của thế giới xung quanh, biết được các âm thanh, màu sắc, mùi vị, nhiệt độ, độ

    lớn…Nhờ các cơ quan cảm giác mà cơ thể con người tiếp nhận được những thông tin

    phong phú về hiện thực, cảm giác giúp cho con người định hướng trong hành vi,

    hành động, hoạt động. và cảm giác nhiều khi tạo nên ở chúng ta một năng lực đặc

    biệt- đó chính là tính nhạy cảm. tính nhạy cảm giúp cho con người định hướng 1

    cách nhanh chóng trong hoạt động cũng như trong giao tiếp, nó làm cho con người

    trở nên tinh vi, nhạy bén và tế nhị.

    + tri giác : có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, trên cơ sở phản ánh

    thế giới 1 cách đầy đủ, hoàn chính hơn cảm giác. tri giác giúp cho con người định

    hướng được nhanh chóng và chính xác hơn về thế giới. hình ảnh tri giác giúp cho con

    người điều chỉnh một cách hợp lý về hành động của mình trong thế giới và phản ánh

    thế giới có lựa chọn và mang tính ý nghĩa. Quan sát là sự tri giác có mụcđích, có chủ

    định, có kế hoạch cung cấp cho con người những thong tin cần thiết trong lĩnh vực tư

    duy nói chung và trong khoa học nói riêng.

    – Ý nghĩa của nhận thức lý tính (bao gồm tư duy và trừu tượng) đối với đời

    sống:

    + tư duy : giúp chúng ta nhận thức về thế giới 1 cách sâu sắc hơn,khám phá ra

    những quá trình, những quy luật mới mẻ, phản ánh sâu sắc và đúng đắn sự vật,

    giúp con người hiểu đầy đủ và toàn diện hơn về sự vật, giúp con người mở rộng

    đến vô hạn năng lực của mình.

    + tưởng tượng: đóng vai trò quan trọng bất kỳ hoạt động nào của con người,

    tưởng tượng giúp cho con người định hướng hoạt động của mình bằng cách xây

    dựng trước mô hình tâm lý về kết quả cuối cùng của hoạt động và đảm bảo việc

    thành lập chương trình đi đến kết quả đó.

    Tưởng tượng phong phú là phẩm chất của tư duy sáng tạo, là yếu tố cần thiết để

    phát minh, sáng chế ra các sản phẩm mới. tưởng tượng ra những hình ảnh, mẫu

    người lý tưởng là điều kiện quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách.

    Câu 2: Sự giống nhau và khác nhau giữa nhận thức cảm tính và lý tính. Ý nghĩa

    của chúng ?

    1. Phân biệt

    + Trình bày các khái niệm

    + Giống nhau :

    Là quá trình tâm lý, là quá trình nhận thức; phản ánh các đặc điểm của sự vật hiện

    tượng; cung cấp tri thức cho con người.

    + Khác nhau :

     Đối tượng phản ánh : của NTCT là các đặc điểm bên ngoài của NTLT là

    các đặc điểm bên trong, các mối quan hệ

     NTCT có tính trực quan còn NTLT chỉ xuật hiện trong tình huống có vấn

    đề

     Khác với NTCT,NTLT có mối quan hệ chặt chẽ hơn với ngôn ngữ

     Tri thức mà NTCT mang lại còn chung chung, trong khi tri thức do NTLT

    mang lại có tính bản chất và tính khái quát cao.

     Trình bày khái quát nhất về khái niệm, tính quy luật của cảm giác, tri giác

    để so sánh với quá trình tư duy, tưởng tượng.

    +Mối quan hệ giữa chúng

    2. Ý nghĩa của chúng tức là ý nghĩa của nhận thức cảm tính và ý nghĩa của cảm

    nhận lý tính

    + Ý nghĩa của nhận thức cảm tính :

     Ý nghĩa của cảm giác : (giáo trình tâm lý trong quản trị và đời sốngtrang 40)

     Ý nghĩa của tri giác : (đúc rút từ trang 50-54 trong giáo trình nói trên )

    + Ý nghĩa của NTLT

     Ý nghĩa của Tư duy : cung cấp trí thức đa dạng, sâu sắc, tránh được

    những nhận thức cảm tính thiếu khách quan, là phương thức quan

    trọng để sáng tạo cái mới, quyết định sự phát triển trình độ xã hội

     Ý nghĩa của tưởng tượng : coi bài giảng và trang 88-89 (giáo trình

    nêu trên)

    Câu 3: hoạt động giao tiếp có ý nghĩa thế nào trong đời sống xã hội. làm thế nào để

    nâng cao hiệu quả của hoạt động giao tiếp trong quản lý?

    1. vai trò của hoạt động giao tiếp

    a. khái niệm giao tiếp

    b. trình bày ngắn ngọn 3 khía cạnh của giao tiếp

    c. vai trò của giao tiếp

     giao tiếp thiết lập các mối quan hệ (quan hệ lien nhân cách và các quan

    hệ khác)

    giao tiếp giúp vận hành và phát triển các mối quan hệ

     giao tiếp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động nhận thức của con

    người

     giao tiếp là yếu tố tác động tới việc hình thành nhân cách con người ( tác

    động vào xu hướng, năng lực, tính cách, khí chất)

    cách nâng cao hiệu quả hoạt động trong quản lý

    phải hiểu rõ bản thân về: mục đích giao tiếp, năng lực giao tiếp, kỹ xảo giao

    tiếp

    phải tìm hiểu đối tượng giao tiếp về: nhu cầu, mong muốn, tâm thể, vị thể,

    trình độ…

    phải rèn luyện kỹ xảo giao tiếp: cách sử dụng các phương tiện giao tiếp

    phải vận dụng các quy luật: ám thị, thuyết phục, lây lan, lây truyền, bắt chước

    phải biết cách tiếp thu và xử lý thông tin phản hồi

    vv……

    Giao tiếp là gì ?: Giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người vơí con người, thể

    hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người cới người, thông qua đó mà con người trao đổi với

    nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với

    nhau. Hay nói cách khác giao tiếp xac lập và vận hành các quan hệ người- người,

    hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác. Mối quan hệ

    giao tiếp giữa con người với con người có thể xẩy ra với các hình thức sau đây:

    – Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân

    – Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm

    – Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng.

    Chức năng của giao tiếp

    + Chức năng thuần túy xã hội: Là các chức năng giao tiếp phục vụ cho nhu cầu

    chung của xã hội hay của một nhóm người ( Chức năng thông tin, chức năng phối

    hợp)

    + Chức năng tâm lý xã hội: Đó là các chức năng giao tiếp phục vụ cho các nhu cầu

    của từng thành viên của xã hội, đáp ứng nhu cầu quan hệ giữa bản thân với người

    khác (Chức năng cảm xúc, Chức năng nhận thức lẫn nhau, chức năng điều chỉnh

    hành vi)

    Các loại giao tiếp: Có nhiều cách phân loại

    * Theo phương tiện giao tiếp, có thể có 3 loại giao tiếp sau

    – Giao tiếp vật chất : giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Ví dụ: Thông qua đồ

    chơi người lớn giao tiếp với trẻ em, người ta tặng cho nhau những vật kỷ niệm để

    nhớ nhau, để gửi gắm, tình cảm, suy nghĩ cho nhau

    – Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: Là giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, hành động,

    ánh mắt, nụ cười để biểu thị sự đồng tình hay phản đối

    – Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Là thông qua tiếng nói, chữ viết

    * Theo khoảng cách ta có :

    – Giao tiếp trực tiếp

    – Giao tiếp gián tiếp: Được thực hiện qua phương tiện trung gian như thư từ, báo chí,

    điện thọai …

    * Theo quy cách người ta phân thành 2 loại

    – Giao tiếp chính thức

    – Giao tiếp không chính thức

    Vai trò của giao tiếp

    Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp

    là một trong những nhu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người

    – Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã

    hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội, đồng thời nhận thức được chính bản thân

    mình, tự đối chiếu so sánh với người khác vơí chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản

    thân mình như một nhân cách để hình thành thái độ giá trị cảm xúc. Hay nói một

    cách khá đi, qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức

    Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp.

    Chũ nghĩa DVBC đã khẳng định: Tâm lý con người có nguồn gốc từ bên ngoài, từ

    thế giới khách quan chuyển vào trong não mỗi người. Trong thế giới thì quan hệ xã

    hội, nền văn hoá xã hội là cái quyết dịnh tâm lý con người

    Tâm lý người là kinh nghiệm xã hội- lịch sử đã chuyển thành kinh nghiệm bản thân

    thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Tâm lý là

    sản phẩm của hoạt động và giao tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình, Nội Dung Thẩm Định Báo Cáo Nghiên Cứu Tiền Khả Thi Dự Án Ppp
  • Nghiên Cứu Tiền Khả Thi
  • Phân Biệt Nghiên Cứu Định Lượng Và Định Tính Trong Marketing
  • Sự Khác Biệt Giữa Nghiên Cứu Định Tính Và Nghiên Cứu Định Lượng
  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản
  • Mối Quan Hệ Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính Trong Tâm Lý Học

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Đế Chế Thuốc Súng Của Châu Á: Vương Triều Ottoman, Safavid Và Mughal
  • Trận Chiến Thay Đổi Trung Đông Vĩnh Viễn
  • The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal
  • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Anh Văn – Giám đốc điều hành tại công ty Luật Nhân Dân. Luật sư đã có hơn 10 năm học tập, nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực tư vấn, hành nghề luật tại Việt Nam.

    Nhận thức nói chung là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm hiểu biết của bản thân. Theo đó, nhận thức ở mức độ thấp sẽ là nhận thức cảm tính và ở mức độ cao hơn là nhận thức lý tính. Hai loại nhận thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người.

    – Nhận thức cảm tính được coi là mức độ nhận thức đầu tiên và thấp nhất của con người, phản ánh được những thuộc tính bên ngoài, là những cái trực tiếp tác động tới giác quan của con người, gồm có cảm giác và tri giác.

    – Nhận thức lý tính được coi là nhận thức ở mức độ cao hơn của con người. Theo đó nó phản ánh những thuộc tính bên trong hay những mối quan hệ mang tính quy luật của hiện thực khách quan một cách gián tiếp, gồm có tư duy và tượng.

    Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

    • Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là quá trình tâm lý nên có mở đầu, diễn biến,kết thúc khá rõ ràng;
    • Đều chỉ phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng và phản ánh hiện thực khách quan một cách khách quan, trực tiếp.
    • Đều tồn tại ở động vật và con người.
    • Nhận thưc cảm tính và ý tính đều phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng; theo cấu trúc nhất định, gắn liền với hoạt động của con người và là mức độ cao nhất của nhận thức cảm tính.

    Bản chất về giai đoạn

    Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy.

    Là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.

    – Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.

    – Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất.

    – Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật.

    -Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.

    – Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.

    – Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.

    – Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Quan hệ lẫn nhau

    Nếu không có nhận thức cảm tính thì tất yếu sẽ không có nhận thức lý tính; Và nếu không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất của sự vật – chúng có mối quan hệ tương quan, bổ sung cho nhau phát triển.

    Thông tin liên hệ:

    Địa chỉ trụ sở chính: LUẬT NHÂN DÂN VIỆT NAM

    Số 16, ngõ 84 Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, TP Hà Nội

    Hotline tư vấn pháp luật miễn phí:

    Mobile: 0966.498.666

    Tel: 02462.587.666

    Cập nhật ngày 29/06/2020

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Giữa Marketing Truyền Thống Và Marketing Hiện Đại
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Marketing Online Và Marketing Offline
  • Marketing Truyền Thống Là Gì? Điểm Khác Nhau Về Marketing Hiện Đại Và Marketing Truyền Thống.
  • Phân Biệt Lỵ Amid Và Lỵ Trực Khuẩn
  • Bạn Có Chắc Phân Biệt Được Khách Sạn, Nhà Nghỉ, Homestay & Resort?
  • Kiểm Tra 1 Tiết Cuối Kì 1 Gdcd Lớp 10, Sự Khác Nhau Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Lý Tính?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính
  • Môi Trường Trung Học Phổ Thông Và Đại Học Có Gì Khác Biệt?
  • Sự Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • Sự Khác Nhau Giữa Branding, Marketing, Quảng Cáo Và Pr Là Gì ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Marketing, Quảng Cáo Và Pr
  • A*. Cô giáo đang kể chuyện viễn tưởng hoặc là chuyện của tương lai.

    B*. Trong điều kiện nhất định cơ năng sẽ hóa điện năng.

    C*. Trong điều kiện nhất định, các hình thức vận động có thể chuyển hóa cho nhau.

    D*. Đi bộ sẽ sản sinh ra nhiệt và nhiệt sẽ hóa điện.

    2: Các nhà khoa học đã tìm ra loại vắc xin phòng chống dịch cúm do vi rút H5N1 gây ra, nhưng sau một số năm vi rút H5N1 biến đổi sang chủng mới là H7N9. Vì vậy vắc xin cũ không còn phù hợp nữa, các nhà khoa học lại phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra loại vắc xin mới… Thực tế trên phù hợp với nhận định nào sau đây?

    A*. Thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu mới cho nhận thức.

    B*. Nhận thức của con người có thể đúng đắn, hoặc sai lầm.

    C*. Nhận thức giúp con người cải tạo hiện thực khách quan.

    D*. Thực tiễn giúp các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện.

    A*. Mọi sự vật, hiện tượng không biến đổi.

    B*. Mọi sự biến đổi của sự vật, hiện tượng đều là tạm thời.

    C*. Mọi sự biến đổi của sự vật, hiện tượng là khách quan.

    D*. Mọi sự biến đổi của sự vật, hiện tượng xuất phát từ ý thức của con người.

    4: Giai đoạn nhận thức nào sau đây giúp con người tìm ra được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng?

    A*. Nhận thức trực quan. B*. Nhận thức lí tính.

    C*. Nhận thức lí luận. D*. Nhận thức cảm tính.

    5: Toàn bộ những quan điểm và niềm tin, định hướng cho hoạt động của con người trong cuộc sống được gọi là

    A*. Học lực yếu →học lực trung bình → học lực khá.

    B*. Bé gái → thiếu nữ →người phụ nữ trưởng thành →bà già.

    C*. Học cách học →biết cách học.

    D*. Nước bốc hơi →mây →mưa →nước.

    7: Toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội được gọi là

    8: Triết học là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và

    A*. nhu cầu của con người trong thế giới đó. B*. khả năng của con người trong thế giới đó.

    C*. vị trí của con người trong thế giới đó. D*. niềm tin của con người trong thế giới đó.

    9: Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật và hiện tượng được gọi là

    A*. Không phải sự phát triển nào cũng là vận động.

    B*. Vận động và phát triển không có mối quan hệ với nhau.

    C*. Không phải bất kì sự vận động nào cũng là phát triển.

    D*. Mọi sự vận động đều là phát triển.

    11: “Để có được tấm bằng giỏi khi tốt nghiệp đại học, anh D đã đánh đổi bằng nhiều đêm miệt mài, nhiều ngày nỗ lực, nhiều giờ nghiên cứu trên thư viện của trường. Tấm bằng giỏi đại học là kết quả xứng đáng cho sự phấn đấu của anh, đồng thời cũng mở ra cho anh một tương lai tốt đẹp”. Em hãy đọc đoạn trên và cho biết ý nào sau đây nói về lượng?

    A*. Nghiên cứu trên thư viện. B*. Nhiều đêm miệt mài.

    C*. Mở ra tương lai tốt đẹp. D*. Kết quả xứng đáng.

    13: thành ngữ nào sau đây thể hiện phương pháp luận biện chứng?

    A*. Rút dây động rừng. B*. Nhất bên trọng nhất bên khinh.

    C*. Đèn nhà ai nhà nấy rạng. D*. Sống chết có mệnh, giàu sang do trời.

    14: Anh Q và anh T vốn là hàng xóm nhưng đã xảy ra việc đánh nhau. Trước sự việc trên chị C phán đoán anh Q và anh T vốn đã có những hiểu lầm từ trước nên mới xảy ra sự việc trên. Anh K lại khẳng định bố anh Q trước đã từng bị đi tù vì tội đánh người gây thương tích, nên giờ anh Q đánh anh T là điều dễ hiểu. Còn anh M thở dài giá mà cả hai anh Q và T bớt nóng giận thì đã không xảy ra chuyện đáng buồn trên. Theo em, ai là người có phương pháp luận siêu hình?

    A*. Lịch sử loài người là một chuỗi các sự kiện có tính ngẫu nhiên.

    B*. Lịch sử loài người là một chuỗi các sự kiện mang tính chu kỳ.

    C*. Lịch sử loài người biến đổi theo xu thế tất yếu xuất hiện cái tiến bộ hơn.

    D*. Lịch sử loài người biến đổi theo quy luật khách quan.

    A*. Mâu thuẫn là khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng.

    B*. Mẫu thuẫn là nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.

    C*. Mâu thuẫn Triết học là phương thức tồn tại của thế giới vật chất.

    D*. Mâu thuẫn là cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.

    A*. Lượng của sự vật thay đổi. B*. Tích lũy về lượng để thay đổi về chất.

    C*. Chất của sự vật thay đổi. D*. Nhiều cái nhỏ sẽ thành một cái to.

    18: Học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới được gọi là

    19: Vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thứC*. Giới tự nhiên tồn tại khách quan, không ai sáng tạo ra là quan điểm của

    A*. thuyết nhị nguyên luận. B*. thuyết bất khả tri.

    C*. thế giới quan duy tâm. D*. thế giới quan duy vật.

    A*. Rút dây động rừng. B*. Tre già măng mọc.

    C*. Có chí thì nên. D*. Nước chảy đá mòn.

    21: Là một người thợ sửa chữa đồ điện ở xã nhà, không có bất cứ bằng cấp nào về cơ khí, nhưng do chịu khó mày mò tìm hiểu từ những thứ đồ cũ nên bác T đã chế tạo ra nhiều loại máy móc phục vụ thiết thực cho hoạt động nông nghiệp. chuyện về bác T là minh chứng cho vai trò nào của thực tiễn đối với nhận thức?

    A*. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức. B*. Thực tiễn là động lực của nhận thức.

    C*. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. D*. Thực tiễn là mục đích của nhận thức.

    A*. Thực tiễn là mục đích của nhận thức. B*. Thực tiễn là động lực của nhận thức.

    C*. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. D*. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức.

    23: Trong một chỉnh thể, hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau, Triết học gọi đó là

    24: Luận điểm ” Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông ” nói đến vai trò nào của thực tiễn đối với nhận thức?

    A*. Thực tiễn là mục đích của nhận thức. B*. Thực tiễn là động lực của nhận thức.

    C*. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. D*. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức.

    25: “Trải qua nhiều cuộc đấu tranh giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã dẫn đến việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đoạn văn trên thể hiện những quy luật nào của Triết học?

    A*. Quy luật lượng – chất, quy luật vận động, quy luật phủ định của phủ định.

    B*. Quy luật mâu thuẫn, quy luật phủ định của phủ định, quy luật biến đổi.

    C*. Quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật tiến hóa.

    D*. Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định.

    26: Vận động là mọi sự biến đổi nói chung của các sự vật, hiện tượng trong

    A*. thế giới khách quan và xã hội. B*. giới tự nhiên và tư duy.

    C*. đời sống xã hội và tư duy. D*. giới tự nhiên và đời sống xã hội.

    27: Bố bạn N không cho con chơi với bạn H vì cho rằng bố bạn H nghiện ma túy thì sau này bạn H cũng nghiện ma túy, nếu chơi với bạn H, N cũng sẽ bị lôi kéo vào con đường nghiện ngập. Theo em, quan niệm của bố bạn N thể hiện cách xem xét sự vật theo

    A*. phương pháp luận biện chứng. B*. thế giới quan duy tâm.

    C*. phương pháp luận siêu hình. D*. thế giới quan duy vật.

    28: Từ chỗ dùng những công cụ bằng đá, xương, tre gỗ, con người đã biết chế tạo và sử dụng công cụ kim khí. Nhờ đó, người ta có thể khai phá những vùng đất đai mà trước kia chưa khai phá nổi, có thể cày sâu cuốc bẫm, có thể xẻ gỗ đóng thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài. Khi năng suất lao động tăng cao, xuất hiện sản phẩm dư thừa, chế độ tư hữu có cơ sở để tồn tại. Xã hội thị tộc bộ lạc của công xã nguyên thủy dần bị tan vỡ. Con người đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại xã hội có giai cấp đầu tiên – xã hội cổ đại. Hãy chỉ ra hình thức vận động xã hội (hình thức vận động cao nhất) trong đoạn thông tin trên?

    A*. Cày sâu cuốc bẫm, xẻ gỗ đóng thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài.

    B*. Công xã nguyên thủy dần bị tan vỡ, nhường chỗ cho xã hội cổ đại.

    C*. Năng suất lao động tăng cao, xuất hiện sản phẩm dư thừa.

    D*. Biết chế tạo và sử dụng công cụ kim khí.

    29: Hoa nở thì nụ biến mất, quả xuất hiện thì hoa biến mất. Đó là biểu hiện của hiện tượng nào sau đây?

    A*. Phủ định siêu hình. B*. Phủ định biện chứng.

    C*. Phủ định hoàn toàn. D*. Phủ định sạch trơn.

    30: Nghỉ hè, H lên Hà Nội thăm chị gái. H nhận thấy ở thủ đô toàn nhà cao tầng, chứ không có nhiều nhà cấp bốn như ở quê. Trên đường phố, mọi người đi lại đông đúc, nhưng ai cũng rất vội vã. Trong lúc chờ chị đón, H thấy có một bạn nhỏ đến xin tiền mua đồ ăn. Nhìn bạn nhỏ rất đáng thương nên H cũng muốn cho em ấy tiền, nhưng nhớ lời mẹ dặn ở trên thành phố nhiều trộm cắp lừa đảo nên H lại thôi. H cứ băn khoăn mãi, không biết nên quyết định ra sao. Hãy chỉ ra mâu thuẫn triết học trong tình huống trên?

    A*. Thủ đô nhiều nhà cao tầng, ở quê nhiều nhà cấp bốn.

    B*. Trạng thái băn khoăn vừa muốn giúp lại vừa sợ bị lừa của H.

    C*. H nhà thì ở quê, nhưng hôm nay được lên thành phố chơi.

    D*. Mọi người đi lại đông đúc, nhưng ai cũng rất vội vã.

    31: Quan điểm nào sau đây phủ định sạch trơn sự tồn tại và phát triển tự nhiên của sự vật?

    A*. Quan điểm duy tâm. B*. Quan điểm biện chứng duy tâm.

    C*. Quan điểm biện chứng duy vật. D*. Quan điểm siêu hình.

    32: Một cơn áp thấp nhiệt đới, khi gió mạnh dần lên đến cấp 7 thì chuyển thành bão. Thời điểm gió cấp 7 được gọi là

    Nhận thức là gì? Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính?

    Tham khảo đáp án:

    – Nhận thức là quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan vào bộ óc của con người, để tạo nên những hiểu biết về chúng.

      Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính?

    – Tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng.

    – Mang lại hiểu biết về đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

    – Là giai đoạn thấp của quá trình nhận thức (giai đoạn đầu tiên).

    – Tiếp xúc gián tiếp với sự vật hiện tượng

    – Tìm ra bản chất, quy luật,… của sự vật, hiện tượng.

    – Là giai đoạn phát triển cao của quá trình nhận thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ngành Marketing Và Quản Trị Kinh Doanh
  • Sự Khác Nhau Giữa Nghiên Cứu Marketing Và Quản Trị Marketing
  • So Sánh Quản Trị Marketing Và Quản Trị Bán Hàng
  • Sự Khác Nhau Giữa Sales Và Marketing, Làm Thế Nào Để Phối Hợp Hiệu Quả?
  • Đi Tìm Điểm Khác Biệt Giữa Sales Và Marketing
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhận Thức Và Ý Thức Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ý Thức Và Tiềm Thức
  • Nhận Thức Lại Bản Chất Của Ý Thức Và Tâm Linh
  • Độ Vỏ, Thay Dàn Áo, Đầu Đèn Sh Ý Cho Sh Việt Giống Sh Nhập 2010 2011 2012 2013 2014 2022 2022 2022
  • Phân Biệt Các Dòng Xe Vespa
  • Vespa “nội” Khác Gì Vespa Nhập Khẩu?
  • Sự khác biệt giữa nhận thức và ý thức là gì?

    Ý thức là Nhận thức, một danh từ – tên của một sự vật.

    Cái gì thế Vấn đề là, Ý thức một thứ trong bản thân nó không phụ thuộc vào bất kỳ thứ gì khác. Đó là một mà không có một giây; luôn luôn số ít không bao giờ số nhiều. Đây là một sự thật tiên đề.

    Nhận thức là gì? Nhận thức là khả năng hiểu biết về bản thân không biết về bản thân. Hiểu biết là hiệu quả đối với Nhận thức hoặc Ý thức. Đây không phải là một sự khác biệt mà không có sự khác biệt như một số người dường như hiểu.

    Sự phân biệt rõ ràng; đừng nhầm lẫn về nó – nhận thức hoàn toàn phụ thuộc vào Ý thức nhưng không phải là điều ngược lại. Không có câu hỏi về sự chồng chéo; nếu có bất cứ điều gì trong tâm trí của các nhà tâm lý học, những người không bao giờ bận tâm về tâm trí với ngoại lệ duy nhất của Freud. Hãy bình yên khi anh ấy.

    Nhận thức phụ thuộc vào cả tâm trí và ánh sáng của Ý thức. Sự nhầm lẫn của các nhà khoa học là không tạo ra sự khác biệt giữa tâm trí và Ý thức. Đây là một lỗi cơ bản. Cocgnition không tự phát sáng trong khi Ý thức là.

    Các nhà khoa học đưa ra một số điểm khác biệt vì mục đích nghiên cứu và phân loại khoa học và họ có quyền làm như vậy nhưng điều đó không xác nhận bất kỳ quyền nào đối với họ để đánh đồng cả hai thực thể này.

    Một số tên buồn cười như co nhận thức tiềm thức – đây giống như ‘con trai của một phụ nữ cằn cỗi, vô nghĩa, thuật ngữ tự mâu thuẫn. Không có gì giống như nhận thức tiềm thức. Nếu đó là tiềm thức, không có câu hỏi về nhận thức; một khi nhận thức nó không còn tiềm thức. Nếu bạn nói rằng bạn biết về nó nhưng vẫn sử dụng nó như là tài liệu nguồn trong tiềm thức thì nó phù hợp với mục đích học tập của bạn.

    Chúng tôi kháng cáo, cầu khẩn, yêu cầu và cầu xin bạn nghiên cứu tâm trí như vậy mà không trộn lẫn các thực thể vô hình. Tâm trí giống như mặt trăng tỏa sáng với ánh sáng mượn của Mặt trời ý thức tự phát sáng. ‘

    Ý thức là Nhận thức, một danh từ – tên của một sự vật.

    Cái gì thế Vấn đề là, Ý thức một thứ trong bản thân nó không phụ thuộc vào bất kỳ thứ gì khác. Đó là một mà không có một giây; luôn luôn số ít không bao giờ số nhiều. Đây là một sự thật tiên đề.

    Nhận thức là gì? Nhận thức là khả năng hiểu biết về bản thân không biết về bản thân. Hiểu biết là hiệu quả đối với Nhận thức hoặc Ý thức. Đây không phải là một sự khác biệt mà không có sự khác biệt như một số người dường như hiểu.

    Sự phân biệt rõ ràng; đừng nhầm lẫn về nó – nhận thức hoàn toàn phụ thuộc vào Ý thức nhưng không phải là điều ngược lại. Không có câu hỏi về sự chồng chéo; nếu có bất cứ điều gì trong tâm trí của các nhà tâm lý học, những người không bao giờ bận tâm về tâm trí với ngoại lệ duy nhất của Freud. Hãy bình yên khi anh ấy.

    Nhận thức phụ thuộc vào cả tâm trí và ánh sáng của Ý thức. Sự nhầm lẫn của các nhà khoa học là không tạo ra sự khác biệt giữa tâm trí và Ý thức. Đây là một lỗi cơ bản. Cocgnition không tự phát sáng trong khi Ý thức là.

    Các nhà khoa học đưa ra một số điểm khác biệt vì mục đích nghiên cứu và phân loại khoa học và họ có quyền làm như vậy nhưng điều đó không xác nhận bất kỳ quyền nào đối với họ để đánh đồng cả hai thực thể này.

    Một số tên buồn cười như co nhận thức tiềm thức – đây giống như ‘con trai của một phụ nữ cằn cỗi, vô nghĩa, thuật ngữ tự mâu thuẫn. Không có gì giống như nhận thức tiềm thức. Nếu đó là tiềm thức, không có câu hỏi về nhận thức; một khi nhận thức nó không còn tiềm thức. Nếu bạn nói rằng bạn biết về nó nhưng vẫn sử dụng nó như là tài liệu nguồn trong tiềm thức thì nó phù hợp với mục đích học tập của bạn.

    Chúng tôi kháng cáo, cầu khẩn, yêu cầu và cầu xin bạn nghiên cứu tâm trí như vậy mà không trộn lẫn các thực thể vô hình. Tâm trí giống như mặt trăng tỏa sáng với ánh sáng mượn của Mặt trời ý thức tự phát sáng. ‘

    Ý thức là Nhận thức, một danh từ – tên của một sự vật.

    Cái gì thế Vấn đề là, Ý thức một thứ trong bản thân nó không phụ thuộc vào bất kỳ thứ gì khác. Đó là một mà không có một giây; luôn luôn số ít không bao giờ số nhiều. Đây là một sự thật tiên đề.

    Nhận thức là gì? Nhận thức là khả năng hiểu biết về bản thân không biết về bản thân. Hiểu biết là hiệu quả đối với Nhận thức hoặc Ý thức. Đây không phải là một sự khác biệt mà không có sự khác biệt như một số người dường như hiểu.

    Sự phân biệt rõ ràng; đừng nhầm lẫn về nó – nhận thức hoàn toàn phụ thuộc vào Ý thức nhưng không phải là điều ngược lại. Không có câu hỏi về sự chồng chéo; nếu có bất cứ điều gì trong tâm trí của các nhà tâm lý học, những người không bao giờ bận tâm về tâm trí với ngoại lệ duy nhất của Freud. Hãy bình yên khi anh ấy.

    Nhận thức phụ thuộc vào cả tâm trí và ánh sáng của Ý thức. Sự nhầm lẫn của các nhà khoa học là không tạo ra sự khác biệt giữa tâm trí và Ý thức. Đây là một lỗi cơ bản. Cocgnition không tự phát sáng trong khi Ý thức là.

    Các nhà khoa học đưa ra một số điểm khác biệt vì mục đích nghiên cứu và phân loại khoa học và họ có quyền làm như vậy nhưng điều đó không xác nhận bất kỳ quyền nào đối với họ để đánh đồng cả hai thực thể này.

    Một số tên buồn cười như co nhận thức tiềm thức – đây giống như ‘con trai của một phụ nữ cằn cỗi, vô nghĩa, thuật ngữ tự mâu thuẫn. Không có gì giống như nhận thức tiềm thức. Nếu đó là tiềm thức, không có câu hỏi về nhận thức; một khi nhận thức nó không còn tiềm thức. Nếu bạn nói rằng bạn biết về nó nhưng vẫn sử dụng nó như là tài liệu nguồn trong tiềm thức thì nó phù hợp với mục đích học tập của bạn.

    Chúng tôi kháng cáo, cầu khẩn, yêu cầu và cầu xin bạn nghiên cứu tâm trí như vậy mà không trộn lẫn các thực thể vô hình. Tâm trí giống như mặt trăng tỏa sáng với ánh sáng mượn của Mặt trời ý thức tự phát sáng. ‘

    svcministry.org © 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khối Lượng Là Gì? Và Khối Lượng Riêng Là Gì? Những Điều Bạn Cần Biết
  • Định Nghĩa Khối Lượng Riêng Và Trọng Lượng Riêng Của Thép Đầy Đủ & Chính Xác Nhất
  • Công Thức Tính Khối Lượng Riêng
  • Khái Niệm Và Định Nghĩa Khái Niệm Trong Luật
  • Khái Niệm Về Nghĩa Của Từ
  • Sự Khác Nhau Giữa Ý Thức Và Tiềm Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Thức Lại Bản Chất Của Ý Thức Và Tâm Linh
  • Độ Vỏ, Thay Dàn Áo, Đầu Đèn Sh Ý Cho Sh Việt Giống Sh Nhập 2010 2011 2012 2013 2014 2022 2022 2022
  • Phân Biệt Các Dòng Xe Vespa
  • Vespa “nội” Khác Gì Vespa Nhập Khẩu?
  • Phân Biệt Xe Điện Vespa Dibao Chính Hãng Và Xe Nhái, Fake Trên Thị Trường
  • Bài viết này tôi viết nhằm mục đích giới thiệu cho bạn thấy rõ sự khác nhau của ý thức và tiềm thức.

    Sự vận hành nổi bật của ý thức và tiềm thức:

    Ý thức được ví như người lái tàu hay vị thuyền trưởng trên một con tàu. Người thuyền trưởng có nhiệm vụ chủ huy con tàu. Người thuyền trưởng có nhiệm vị chỉ huy con tàu, gửi những mệnh lệnh đến thủy thủ đoàn trong buồng máy. Thủy thủ đoàn sẽ lần lượt điều khiển nồi hơi, thiết bị đo sức gió, chỉ dẫn… Thủy thủ trong buồng máy không hề biết họ đang đi đâu; họ chỉ nghe theo mệnh lệnh. Họ sẽ đâm vào đá ngầm nếu người trên đài chỉ huy đưa ra những chỉ thị sai lầm. Người ở trong buồng máy phải tuân lệnh thuyền trưởng vì ông là người chịu trách nhiệm. Thuyền trưởng được mọi người tin tưởng là người rất am hiểu về công việc mình đang làm, nên các thành viên thủy thủ đoàn không được chống lệnh thuyền trưởng; nhiệm vụ của họ chỉ đơn giản là thi hành mệnh lệnh của ông.

    (trích sách ” Sức mạnh tiềm thức” của Doseph Murphy)

    Bộ não con người có 2 phần là tiềm thức & ý thức: – Tiềm thức giống như phần chìm của tảng băng chìm điều khiển & chiếm 90% tư duy của bạn. – Ý thức chỉ chiếm 10% tư duy cũng như năng lực của bạn.

    Ý thức là gì?

    Ý thức là phần biết suy nghĩ và lập luận của bạn, là một phần trong tâm trí bạn được dùng để đưa ra quyết định hàng ngày. Ý chí tự do của bạn nằm ở đây và với ý thức, bạn có thể quyết định điều bạn muốn tạo ra trong cuộc sống của bản thân mình. Với ý thức, bạn có thể chấp nhận hoặc phản kháng lại bất kỳ ý tưởng nào. Không một người hay một tình huống nào có thể bắt bạn suy nghĩ một cách nghiêm túc về những suy nghĩ và ý tưởng mà bạn không lựa chọn. Và tất nhiên, những suy nghĩ bạn lựa chọn cuối cùng sẽ quyết định cả cuộc đời bạn. Nhờ quá trình luyện tập cùng với sự nỗ lực, bạn có thể học cách điều chỉnh những suy nghĩ của bạn hướng tới những suy nghĩ có lợi cho sự hiện hữu của giấc mơ và mục tiêu bạn đã chọn. Ý thức của bạn có sức mạnh rất lớn, nhưng lại là phần hạn chế hơn trong tâm thức bạn.

    Ý thức có:

    Khả năng xử lý hạn chế

    Trí nhớ ngắn hạn (khoảng 20s)

    Khả năng xử lý 1 đến 3 sự việc cùng một lúc

    Sự thôi thúc có khả năng di chuyển với vận tốc 200 đến 240 km/h

    Khả năng xử lý trung bình 2000 mẩu thông tin mỗi ngày.

    Tiềm thức là gì?

    Thực ra tiềm thức của bạn đặc biệt hơn nhiều. Nó thường được nhắc đến như phần tâm trí tinh thần hay phổ quát, và nó không biết đến giới hạn nào, ngoại trừ những giới hạn mà bạn chủ ý chọn. Hình ảnh về bản thân bạn và những thói quen của bạn đều “sinh sống” trong tiềm thức. Nó hoạt động trong từng tế bào của cơ thể bạn. Phần tâm trí này có liên hệ với con người siêu phàm ở mức độ cao hơn so với phần ỳ thức. Đó là sợi dây gắn kết bạn với thế giới, với khởi nguồn và sự thông thái vô hạn của vũ trụ.

    Tiềm thức là thường xuyên, là vô tận và nó chỉ hoạt động trong thời điểm hiện tại mà thôi. Nó lưu trữ những kinh nghiệm và ký ức của bạn, nó giám sát tất cả những hoạt động, những chức năng vận động, nhịp tim, tiêu hóa… của cơ thể bạn. Tiềm thức nghĩ đúng theo nghĩa đen, và nó sẽ tiếp nhận tất cả những suy nghĩ mà ý thức của bạn đã chọn nghĩ. Nó không có khả năng bác bỏ khái niệm hay ý tưởng. Như vậy, điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải chọn cách sử dụng ý thức để cài đặt lại những niềm tin thuộc về tiềm thức, và tiềm thức phải chấp nhận những ý tưởng và niềm tin mới; không được “cự tuyệt” chúng.

    Chúng ta hoàn toàn có thể đưa ra những quyết định có ý thức để thay đổi nội dung tiềm thức của mình.

    Tiềm thức có:

    Khả năng xử lý mở rộng

    Trí nhớ dài hạn (những kinh nghiệm, thái độ, giá trị và niềm tin trong quá khứ)

    khả năng xử lý hàng nghìn sự việc cùng một lúc

    Sự thôi thúc có khả năng di chuyển với vận tốc 160.000km/h

    Khả năng xử lý trung bình 4 tỷ mẩu thông tin mỗi ngày

    Như bạn đã thấy, tiềm thức quyền năng hơn ý thức rất nhiều. Hãy thử tưởng tượng tâm trí bạn như một núi băng trôi. Phần núi băng mà bạn nhìn thấy phần nổi trên mặt nước, chính là ý thức của bạn. Nó chỉ thể hiện được khoảng 1/6 khả năng trí tuệ của bạn mà thôi, còn phần ở dưới nước (chiếm khoảng 5/6) chính là tiềm thức của bạn. Khi chúng ta hoạt động chủ yếu là nhờ ý thức (mà thường chúng ta vẫn vậy) chúng ta mới chỉ sử dụng một phần nhỏ tiềm năng thực sự của chúng ta mà thôi. Ý thức là loại phương tiện chậm chạp và cồng kềnh hơn nhiều so với tiềm thức.

    Vì vậy, mục tiêu của chúng ta là phải làm sao học được phần lớn nguồn sức mạnh trong tiềm thức, sử dụng nó để phục vụ lợi ích của bản thân. Mỗi ngày, chúng ta phải tạo ra được một khoảng trống để “đăng ký” với tiềm thức tinh thần của mình. Một khoảng thời gian yên tĩnh thường nhật không để những yếu tố bên ngoài làm sao lãng sẽ củng cố sự gắn kết của chúng ta với con người thực sự của mình.

    Chúng ta có thể kết nối với tiềm thức bằng cách sử dụng một vài thủ thuật như: khẳng định, hình dung, cầu nguyện, suy nghĩ và thiền định, biết ơn, biết đánh giá và tập trung vào những suy nghĩ tích cực.

    Tiềm thức có thể đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn đến, giúp chúng ta đạt được mục tiêu trong cuộc sống của mình một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn so với ý thức. Vì vậy, bằng cách kết nối và sử dụng vận tốc, sức mạnh, sự lanh lợi đáng kinh ngạc của tiềm thức, chúng ta có thể bắt đầu sử dụng luật hấp dẫn một cách có chủ ý để hấp dẫn và tạo ra những kết quả mà chúng ta hằng mong đợi một cách hiệu quả hơn.

    NLP được gọi là ngành khoa học não 2 phần vì nó chia bộ não thành ý thức và tiềm thức. Ý THỨC giống như là phần nổi của tảng băng chìm, phần chiếm và điều khiền 10% năng lực, hành động của một người. ĐẶC ĐIỂM

    – Nó lôgic, lý luận, phân tích

    – Nó biết được cái gì đúng, cái gì sai.

    – Nó có giới hạn về không gian và thời gian

    – Phần này sẽ hoạt động theo định hướng chủ động, hoạt động khi được giao lệnh một cách có ý thức.

    – Nó là phễu lọc có ý thức các tác nhân bên ngoài thông qua : xóa bỏ bớt đi , tổng quát hóa các kiến thức hay bóp méo kiến thức.

    ( BÓP MÉO là giống như bạn nhìn thấy 1 sợi dây thừng nhưng ý thức của bạn lại tưởng nó là một con rắn và chuyển hóa cảm xúc vào tiềm thức tạo ra cảm giác sợ hãi- Đó chính là bóp méo.

    ( Tâm trí bạn đang bóp méo hình ảnh thực của nó)

    TỔNG QUÁT HÓA giống như việc bạn nhìn thấy một vài đứa trẻ nghịch ngợm và sau đó bạn kết luận, trẻ em thời này toàn những đứa nghịch ngợm.

    XÓA BỎ giống như việc bạn nhìn thấy một dãy số 10 số, nhưng bạn chỉ nhớ tầm 7 số thôi, 3 số còn lại đã bị xóa bỏ vì thông thường mỗi người thường chỉ nhớ được khoảng tối đa 7-9 số, dãy liên tiếp về lĩnh vực mà họ không quan tâm nhiều lắm. Thử hỏi bạn xem bạn có thể nhớ được bao nhiêu nhãn hiệu THUỐC LÁ hiện nay?. )

    – Chúng ta hầu như có thể kiểm soát được hoàn toàn phần 10% Ý THỨC này.

    TIỀM THỨC giống như phần chìm của tảng băng, nó chiếm và điều khiển 90% hành vi , năng lực của 1 cá nhân. ĐẶC ĐIỂM

    – Vô hạn về không gian, thời gian;

    – Không lôgic, không lí lẽ, không phân biệt đúng sai;

    – Nó chạy tự động dựa trên chương trình đã cài đặt sẵn;

    – Nó lưu trữ, đè nén,giải tỏa và kiểm soát cảm xúc,trí nhớ của bạn.

    – Nó sắp xếp tất cả trí nhớ của bạn ( Sử dụng dòng thời gian)

    – Đảm nhận nhiệm vụ vận hành cơ thể ( Bạn thử để ý là khi bạn ngủ, có một phần nào đó vẫn vận hành bộ não, điều hóa nhịp tim,trao đổi chất, làm lành vết thương…).

    – Rất thích thú việc phục vụ, cần những mệnh lệnh rõ ràng để thực hiện.

    – Nó điều khiển và duy trì tất cả những nhận thức ( Nhận và chuyển tải nhận thức, bộ xử lý tới Ý THỨC)

    – Tạo ra, lưu trữ , phân phối và chuyển hóa năng lượng

    – Duy trì những sự kế thừa , gen kế thừa vàtạo ra những thói quen mới.

    – Nó cần lặp đi lặp lại cho đến khi thói quen được cài đặt.

    – Được lập trình để tiếp tục tìm kiếm nhiều hơn và nhiều hơn

    (Luôn luôn có nhiều thứ nữa chúng ta cần phải tìm hiểu & đào sâu hơn)

    – Nó phản hồi và sử dụng những biểu tượng,hình ảnh để giao tiếp.

    – Nó vận hành tự động, theo nguyên tắc là nỗ lực tối thiểu. Ý thức của bạn hoàn toàn không cần phải căng sức ra để vận hành nó.

    – Nó không phân biệt được điều tiêu cực

    ĐỂ GIAO TIẾP VỚI TIỀM THỨC& CÀI ĐẶT LỆNH GIÚP TIỀM THỨC CHẠY TỰ ĐỘNG

    – Giao tiếp thông qua HÌNH ẢNH, BIỂU TƯỢNG, NGÔN NGỮ chứa hình ảnh.

    – Luôn có một MỤC TIÊU RÕ RÀNG mà bạn có thể HÌNH DUNG được kết quả xảy ra của nó.

    CÀI ĐẶT LỆNH BẰNG CÁCH LẶP ĐI LẶP LẠI trong một trạng thái TÍCH CỰC TRÀN ĐẦY CẢM XÚC.

    THÔI MIÊN & TỰ ÁM THỊ LIÊN TỤC

    Lời kết: Hy vọng các bạn có thể điều khiển ý thức và tiềm thức một cách hiệu quả để đạt được thành công như ý muốn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nhận Thức Và Ý Thức Là Gì?
  • Khối Lượng Là Gì? Và Khối Lượng Riêng Là Gì? Những Điều Bạn Cần Biết
  • Định Nghĩa Khối Lượng Riêng Và Trọng Lượng Riêng Của Thép Đầy Đủ & Chính Xác Nhất
  • Công Thức Tính Khối Lượng Riêng
  • Khái Niệm Và Định Nghĩa Khái Niệm Trong Luật
  • Sự Khác Nhau Giữa Giao Thức Tcp Và Udp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Giao Thức Tcp Và Udp
  • Bảo Hành Dell U2417H: Xài Chán Chê Được Đổi Model U2419H
  • So Sánh Văn Học Hiện Đại Và Văn Học Trung Đại
  • So Sánh Vé Máy Bay Của Các Hãng Hàng Không Nội Địa Việt Nam Có Gì Khác Biệt?
  • Vé Máy Bay Giá Rẻ Nhất, Nhiều Khuyến Mãi Hấp Dẫn 2022
  • Bạn có thể đã thấy TCP và UDP khi thiết lập chuyển tiếp cổng trên router hoặc khi cấu hình phần mềm tường lửa. Hai giao thức này được sử dụng cho kiểu dữ liệu khác nhau.

    TCP/IP là một bộ các cổng được thiết bị sử dụng để giao tiếp qua Internet và hầu hết các mạng cục bộ. Nó được đặt tên theo hai giao thức ban đầu của nó – Transmission Control Protocol (TCP) và Internet Protocol (IP). TCP cung cấp cho các ứng dụng cách để chuyển (và nhận) một luồng gói thông tin đã được đặt hàng và kiểm tra lỗi qua mạng.

    Giao thức User Datagram Protocol (UDP) được các ứng dụng sử dụng để vận chuyển một luồng dữ liệu nhanh hơn bằng cách bỏ qua kiểm tra lỗi. Khi cấu hình phần cứng hoặc phần mềm mạng bạn sẽ thấy sự khác biệt.

    Giao thức TCP và UDP có gì giống và khác nhau?

    Những điều cơ bản về TCP và UDP

    TCP

    UDP

    Cả hai giao thức đều gửi dữ liệu qua internet dưới dạng gói. Trong đó, TCP thiên về kết nối. Sau khi kết nối được thực hiện, dữ liệu sẽ di chuyển theo hai chiều. UDP là một giao thức đơn giản hơn không có kết nối.

    TCP mạnh hơn UDP. Nó cung cấp các chức năng sửa lỗi và độ tin cậy cao. UDP nhanh hơn TCP, chủ yếu vì nó không cung cấp khả năng sửa lỗi. Ngoài ra, TCP xử lý kiểm soát luồng, trong khi UDP không có tùy chọn để kiểm soát luồng.

    Điểm giống nhau giữa hai giao thức

    TCP và UDP đều là các giao thức được sử dụng để gửi các bit dữ liệu – được gọi là các gói tin – qua Internet. Cả hai giao thức đều được xây dựng trên giao thức IP. Nói cách khác, dù bạn gửi gói tin qua TCP hay UDP, gói này sẽ được gửi đến một địa chỉ IP. Những gói tin này được xử lý tương tự bởi vì chúng được chuyển tiếp từ máy tính của bạn đến router trung gian và đến điểm đích.

    TCP và UDP không phải là giao thức duy nhất hoạt động trên IP, tuy nhiên, chúng được sử dụng rộng rãi nhất.

    Cách thức hoạt động của TCP

    Giao thức TCP có độ tin cậy cao, các gói tin được gửi bằng TCP sẽ được theo dõi do vậy dữ liệu sẽ không bị mất hoặc hỏng trong quá trình vận chuyển. Đó là lý do tại sao file tải xuống không bị hỏng ngay cả khi mạng có vấn đề. Tất nhiên, nếu bên nhận hoàn toàn ngoại tuyến, máy tính của bạn sẽ từ bỏ và bạn sẽ thấy một thông báo lỗi ghi nó không thể giao tiếp với máy chủ lưu trữ từ xa.

    Giao thức TCP đạt được điều này theo hai cách. Đầu tiên, nó yêu cầu các gói tin bằng cách đánh số chúng. Thứ hai, nó kiểm tra lỗi bằng cách yêu cầu bên nhận gửi phản hồi đã nhận được cho bên gửi. Nếu bên gửi không nhận được phản hồi đúng, nó có thể gửi lại gói tin để đảm bảo bên nhận nhận chúng một cách chính xác.

    Process Explorer và các tiện ích hệ thống khác có thể hiển thị loại kết nối mà tiến trình tạo ra. Ở đây chúng ta có thể thấy trình duyệt Chrome với các kết nối TCP mở tới nhiều máy chủ web khác nhau.

    Cách thức hoạt động của UDP

    Giao thức UDP hoạt động tương tự như TCP, nhưng nó bỏ qua quá trình kiểm tra lỗi. Khi một ứng dụng sử dụng giao thức UDP, các gói tin được gửi cho bên nhận và bên gửi không phải chờ để đảm bảo bên nhận đã nhận được gói tin, do đó nó lại tiếp tục gửi gói tin tiếp theo. Nếu bên nhận bỏ lỡ một vài gói tin UDP, họ sẽ mất vì bên gửi không gửi lại chúng. Do đó thiết bị có thể giao tiếp nhanh hơn.

    UDP được sử dụng khi tốc độ nhanh và không cần thiết sửa lỗi. Ví dụ, UDP thường được sử dụng cho các chương trình phát sóng trực tiếp và game online.

    Giả dụ, bạn đang xem phát video trực tiếp, thường được phát bằng UDP thay vì TCP. Máy chủ sẽ gửi một luồng liên tục các gói tin UDP tới máy tính đang xem. Nếu bạn mất kết nối trong vài giây, video sẽ bị dừng hoặc bị giật trong giây lát và sau đó chuyển sang bit hiện tại của chương trình phát sóng. Nếu bạn chỉ bị mất gói tin nhỏ, video hoặc âm thanh có thể bị méo trong giây lát vì video sẽ tiếp tục phát mà không có dữ liệu bị thiếu.

    Điều này hoạt động tương tự trong các trò chơi trực tuyến. Nếu bạn bỏ lỡ một số gói tin UDP, nhân vật người chơi có thể dịch chuyển trên bản đồ khi bạn nhận gói tin UDP mới. Việc bỏ qua sửa lỗi của TCP sẽ giúp tăng tốc kết nối trò chơi và giảm độ trễ.

    Ứng dụng sử dụng TCP hay UDP tùy thuộc vào nhà phát triển của nó và những gì ứng dụng cần. Hầu hết các ứng dụng cần sửa lỗi và độ mạnh mẽ của TCP. Nếu kích hoạt một công cụ phân tích mạng như Wireshark, bạn có thể xem sự khác biệt khi các gói tin được vận chuyển qua lại.

    Trừ khi bạn là quản trị viên mạng hoặc nhà phát triển phần mềm, điều này sẽ không ảnh hưởng đến bạn quá nhiều. Nếu định cấu hình phần mềm tường lửa hoặc router, bạn nên lựa chọn tùy chọn “Both” để phần mềm tường lửa hoặc router áp dụng cùng quy tắc cho cả hai lưu lượng TCP và UDP.

    Tốt nhất về độ tin cậy: TCP

    TCP

    UDP

    TCP đảm bảo việc phân phối dữ liệu đến người nhận. Nếu bất kỳ dữ liệu nào bị mất, TCP sẽ thực hiện các bước để khôi phục dữ liệu bị mất và gửi lại. Để thực hiện việc này, TCP theo dõi các gói dữ liệu và kiểm tra chúng để tìm lỗi.

    UDP không đảm bảo việc cung cấp dữ liệu. Ngoài ra, các gói UDP có thể bị mất khi truyền hoặc bị hỏng.

    Cả TCP và UDP đều sử dụng header như một phần của việc đóng gói dữ liệu thông báo và truyền qua các kết nối mạng. Bởi vì TCP là giao thức mạnh mẽ hơn, nên header của nó cũng lớn hơn (20 byte) với tùy chọn cho dữ liệu bổ sung, trong khi header UDP bị giới hạn ở kích thước 8 byte.

    Tốt nhất cho tốc độ: UDP

    TCP

    UDP

    Mặc dù TCP rất đáng tin cậy, nhưng nó chậm hơn UDP, chủ yếu là do TCP thực hiện nhiều chức năng hơn. Những người dùng cuối yêu cầu tốc độ nhanh nhất có thể, chẳng hạn như game thủ và những người làm việc với video, sẽ được hưởng lợi từ UDP.

    Tùy chọn tốt nhất để sử dụng: Phụ thuộc vào nhu cầu

    UDP

    Bởi vì TCP rất đáng tin cậy, nên nó phù hợp sử dụng trong các tình huống yêu cầu độ tin cậy cao nhưng không yêu cầu tốc độ, chẳng hạn như web, email và FTP.

    Tốc độ của UDP làm cho nó phù hợp nhất để chơi game trực tuyến, phát sóng trực tiếp, tạo VPN tunnel và phát video trực tuyến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Unity Và Con Đường Game Dev: Tôi Đã Chọn Unity Như Thế Nào? (Phần 2)
  • Unity 5 Và Unreal Engine 4
  • Sự Khác Nhau Giữa Usb 3.1 Gen 1, Gen 2 Và Usb 3.2 Là Gì?
  • Tìm Hiểu Chuẩn Usb 3.1 Là Gì? Tốc Độ Sao Chép Dữ Liệu Hơn 3.0 Bao Nhiê
  • Ubuntu Là Gì? So Sánh Hệ Điều Hành Ubuntu Với Windows
  • Montessori & Steiner: Sự Giống Và Khác Nhau Trong Phương Thức Thực Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Steiner Tạo Dựng Con Người Hạnh Phúc, Mẹ Đã Biết?
  • Lạm Bàn Về Ba Phương Pháp Giáo Dục: Montessori, Reggio Và Steiner
  • Giới Thiệu Về Phương Pháp Giáo Dục Montessori Và Glenn Doman
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Montessori Ở 1 Số Trường Mầm Non Ở Gò Vấp
  • Tìm Hiểu Về Người Sáng Lập Phương Pháp Montessori
    1. Đồ chơi: mở & đóng
    2. Chơi trong thế giới thực và chơi tưởng tượng
    3. Các câu chuyện thần tiên & các bài học khoa học
    4. Xây dựng kỹ năng xã hội: cá thể trong một tập thể & cái một trong cái toàn thể
    5. Tính trật tự & tính nhịp điệu
    6. Trí thông minh logic & trí tưởng tượng.

    Montessori nhấn mạnh vào tính Thực, bà cho rằng trẻ cần phân biệt được thế giới thực và không thực. Đặc biệt ở giai đoạn mầm non, dựa trên những tổn thương não của nhóm trẻ đầu tiên bà tiếp xúc khi mở trường Casa dei Bambini bà quan niệm rằng trẻ không hoặc ít có khả năng phân biệt thế giới thực (là thế giới vật chất, như người lớn nhìn và sờ thấy) và thế giới trong trí tưởng tượng của trẻ (thế giới ảo). Nhiệm vụ của giáo viên là cung cấp môi trường, học liệu gắn liền với Thực Tại để giúp trẻ “tiếp đất” một cách chắc chắn nhất, khoa học nhất. Những gì thuộc về trí tưởng tượng cần tạm hoãn cho giai đoạn sau đó, khi trẻ đã hoàn toàn trở nên logic, thực tế và nhận biết thế giới thực như cách người lớn chúng ta nhìn thấy. Do đó, bà thiết kế mỗi món học liệu gắn với một chức năng cụ thể, một cách chơi duy nhất đúng, với mục đích giảng dạy một kiến thức khoa học thực dụng, hay một kỹ năng.

    Đồ chơi trong lớp học Steiner, ngược lại, không món đồ nào có duy nhất một cách chơi, cũng không có sự “cài đặt” mục đích sử dụng cho món đồ chơi. Trẻ có thể sử dụng một khúc cây tưởng tượng làm thuyền, làm em bé, làm sách…có thể sử dụng một con búp bê tối giản chi tiết hôm nay trong vai em bé, ngày mai trong vai mẹ, bà, cô tiên, phù thủy, sử dụng một miếng vải làm váy áo, làm nhà, làm sông…Tại sao lớp học Steinre với đồ chơi hoàn toàn mở, tối giản chi tiết và màu sắc? Bởi Steiener quan niệm trẻ em trong độ tuổi mầm non có nhu cầu bức thiết phải được “diễn đạt” những hình ảnh trong trí tưởng tượng vô cùng phong phú của trẻ thông qua các trò chơi tưởng tượng, nhu cầu “tiêu hóa” lại những trải nghiệm, quan sát mà trẻ có được trong cuộc sống thực, cũng qua cách chơi đóng vai, giả tưởng. Ông cho rằng việc chơi với đồ chơi mở là việc tập thể dục cho trí tưởng tượng, trẻ sẽ luôn phải tưởng tượng, tìm tòi và sáng tạo ra những mục đích khác nhau của một món đồ chơi, cách chơi.

      Chơi trong thế giới thực và chơi tưởng tượng.

    Vì quan niệm trẻ không cần sự giải trí thuần túy, trẻ luôn bận rộn và có khả năng để tự mình trở nên bận rộn, không có thời gian nhàn rỗi, nhàm chán để rơi vào trạng thái cần giải trí như người lớn, Montessori cho rằng trẻ cần được làm các công việc THẬT, các công việc như người lớn đang làm: làm việc nhà, làm thủ công,…nên Montessori tạo ra bước đột phá trong việc nuôi dạy trẻ mầm non khi thiết kế các vật dụng bàn ghế, tủ, bếp,…là những vật dụng trong gia đình được thu nhỏ lại, kích thước phù hợp để trẻ được thoải mái sử dụng, được thỏa sức LÀM những việc thực, được phát triển tối đa các kỹ năng mà không bị giới hạn bởi sự bất tiện do đồ đạc. Do đó, trong lớp học Montessori sẽ có những dao sắc, kéo, cưa, bát sứ, bếp nấu…tất cả những gì mà người lớn sử dụng, trẻ đều khao khát được LÀM theo, và lớp học cung cấp học liệu này cho trẻ làm.

    Steiner chia sẻ cùng quan điểm này trong cách giáo dục trẻ. Lớp học Steiner có đầy đủ các học cụ cho trẻ thỏa sức làm các công việc như bố mẹ vẫn làm hàng ngày: nấu ăn, rửa bát, đan len, đóng bàn, đóng ghế,…Thậm chí, Steiner nhấn mạnh hơn nữa vào vai trò của giáo viên, người giáo viên cần LÀM thật những việc này tại lớp, để trẻ được gợi hứng thú, có hình mẫu để bắt chước. Giáo viên Steiner sẽ làm các công việc như một người mẹ, người bố, trong khi trẻ chơi, ngoài việc quan sát trẻ cô sẽ chăm chú làm các công việc của mình: sửa một món đồ, khâu vá búp bê, đẽo một chiếc ô tô đồ chơi,…để làm mẫu THẬT cho trẻ, tuyệt đối không giảng dạy qua các mẫu không thật, là các bài giảng sử dụng hình ảnh, video, thuyết giảng.

    Việc chơi của trẻ trong lớp Montessori là việc tự mình hoàn thành một công việc gắn với một bài học “ẩn dấu” trong món học liệu mà trẻ chọn (bài học này được cài đặt trong ý đồ thiết kế đồ chơi của Montessori). Do cách thiết kế học liệu có duy nhất một cách chơi đúng, trẻ sẽ tự mình học được bài học ẩn trong đó bằng cách thử – sai – thử – chúng tôi đến khi tự mình tìm được đáp án đúng. Lúc này, vai trò của giáo viên là người quan sát, tôn trọng không làm gián đoạn thời gian chơi -học của trẻ, để đảm bảo cho trẻ có đủ thời gian hoàn thành bài học mà không cần bất cứ sự giảng dạy nào từ phía giáo viên. Montessori nhấn mạnh việc chơi của trẻ cần gắn với cuộc sống thật, nhằm tích lũy các kiến thức khoa học thực dụng, các kỹ năng vận động; bà không cổ vũ thậm chí dùng cách thiết kế môi trường lớp học để ngăn cản các trò chơi giả tưởng, đóng kịch, đóng vai…là những gì thuộc về trí tưởng tượng, thuộc về thế giới không thực.

    Steiner, ngược lại, tạo mọi điều kiện cho trẻ được phát huy tối đa trí tưởng tượng phong phú vốn sẵn có trong giai đoạn ấu thơ. Ông không cho rằng người lớn cần nỗ lực cho trẻ nhận biết về thế giới thực đúng như cách người lớn nhìn và sờ thấy. Bằng cách nào đó, ông biết trẻ con nhìn thế giới theo cách của trẻ con và ông hoàn toàn tôn trọng cách nhìn đó, không thấy nó là nguy hại hay cần chỉnh sửa, thậm chí ông yêu cầu giáo viên phải học được cách nhìn như trẻ, để giúp trẻ phát duy tối đa trí tưởng tượng phong phú và sự nhạy cảm tuyệt vời ở giai đoạn ấu thơ này. Đồ chơi với vải, gỗ, bông, sáp ong, bàn ghế, búp bê tối giản chi tiết,…là những nguyên liệu thô cho phép trẻ thỏa sức sáng tạo, tưởng tượng, phân vai,…Một lớp học Steiner thành công là khi trẻ chăm chú chơi cùng nhau hoặc một mình các trò chơi đóng vai, giả tưởng, là khi trẻ biết chơi và ham chơi, có khả năng kết nối với nhau và kết nối các đồ chơi, cách chơi tạo thành một sân khấu, một vở diễn sinh động, rực rỡ.

      Các câu chuyện thần tiên & các bài học khoa học

    Trong lớp học Montessori bài học “gửi gắm” trong từng món đồ chơi, lẫn những bài học giáo viên trực tiếp thiết kế giảng dạy đều gắn với kiến thức khoa học thực tế, hay những kỹ năng vận động cần thiết. Chẳng hạn: một bộ hộp chữ cái, một kim tự tháp sắp xếp bằng hạt, một bộ lắp ghép bản đồ,…Có thể nói tất cả các học cụ trong lớp Montessori đều nhằm cho trẻ tự khám phá ra các quy luật, các kiến thức toán học, chữ, số, kiến thức khoa học,…Và đặc biệt, nghiên cứu và tìm ra các giai đoạn trẻ đặc biệt tò mò với số, nhạy cảm với chữ, Montessori thiết kế nhiều bộ học chữ, học số thông qua xúc giác. Điều này khiến trẻ em Montessori có những lợi thế rõ ràng khi tham gia chương trình tiểu học, bởi trước đó ngay ở giai đoạn mầm non trẻ đã được phát huy tối đa tư duy logic, tích lũy kiến thức khoa học khá phong phú. Tinh thần khoa học biểu thị rất rõ trong cách thiết kế lớp học, trong tương tác giữa giáo viên và học sinh.

    Điều này lại rất hiếm khi tìm thấy được trong lớp học mầm non Steiner, tuyệt đối không có chữ, số, không có các kiến thức khoa học được giảng dạy hay ít nhất là giải thích một cách chính xác, khoa học. Thậm chí, một cô giáo Steiner được đánh giá là tốt phải biết trả lời các câu hỏi của trẻ: có ai sinh sống trên mặt trăng, hay mặt trăng sinh ra như thế nào? bằng một câu chuyện cổ tích về chị Hằng chú Cuội hay thậm chí giỏi hơn nữa là cô giáo sẽ ngay lập tức sáng tác một câu chuyện thần tiên, một bài thơ về các cô tiên, chú lùn sống trên mặt trăng hàng ngày vẫn ngóng trông và theo ánh trăng xanh xuống trái đất chơi cùng các em bé. Hàng ngày, trong lớp học Steiner ngoài giờ kể chuyện, cô và trò cùng nhau sáng tác, ứng biến không biết bao nhiêu những câu chuyện tưởng tượng khác. Trẻ không ăn, cô kể một câu chuyện thần thoại về bạn thỏ biếng ăn sẽ ra sao. Trẻ đánh bạn, ngoài việc xử lý tức thời, cô thậm chí cũng sẽ dùng những câu chuyện được kể lặp lại vào giờ kể chuyện để trẻ sống cùng câu chuyện, sống trong tình yêu thương, chia sẻ giữa bạn chim sẻ và đại bàng rồi một lúc nào đó, trẻ sẽ tự nhiên thay đổi hành vi….Steiner cho rằng những câu chuyện thần tiên là nguồn thức ăn lành mạnh và bổ dưỡng cho tâm hồn trẻ, cho trí tưởng tượng được bay bổng, được nuôi dưỡng tối đa. Người giáo viên Steiner giỏi chắc chắn là người biết sáng tác chuyện và kể chuyện hay. Bầu không khí lớp học Steiner là một bầu không khí cổ tích, đẹp thơ mộng và bay bổng, hài hòa với thiên nhiên.

      Xây dựng kỹ năng xã hội: cá thể trong một tập thể & cái một trong cái toàn thể

    Montessori viết ” thầy cô giáo phải là những người đã được chuẩn bị từ bên trong – đã tự mình tôi rèn bản thân để trở nên những con người từ bi, bác ái, từ chối sự độc tài, kiêu ngạo”. Nhân cách của người thầy đặc biệt hay thậm chí là tuyệt đối quan trọng đối với giai đoạn học thẩm thấu của tuổi ấu thơ, quan trọng hơn tất cả mọi học liệu và phương pháp. Điều này càng đặc biệt quan trọng xét theo góc nhìn để giúp trẻ xây dựng kỹ năng xã hội, xây dựng những thói quen, hành vi ứng xử với những người xung quanh mình, là kết quả được nhìn thấy ngay lúc này của việc hình thành nhân cách trong tương lai. Bà cho rằng trẻ lên 3 cần được ở cùng những người không phải người thân của mình, không phải những người sẵn sàng chấp nhận trẻ với tất cả những hành vi, thói quen xấu, để trẻ học được các kỹ năng xã hội cần thiết. Môi trường mầm non là môi trường phù hợp nhất giúp trẻ xây dựng nên những kỹ năng xã hội.

    Montessori rèn luyện cho trẻ thích nghi với xã hội như một cá thể độc lập cùng tồn tại trong một tập thể. Trẻ học cách chờ đợi, cách không làm phiền người khác, tôn trọng các nhu cầu của người khác. Trong giờ chơi trẻ được chơi trên một tấm thảm riêng biệt, được học cách chờ đợi nếu bạn đã đang chơi món đồ mình muốn. Trẻ học cách chơi chăm chú, tập trung trong tĩnh lặng, không gây ồn ào ảnh hưởng tới các bạn khác. Kỹ năng xã hội mà Montessori mong muốn xây dựng cho trẻ là kỹ năng của một cá nhân mạnh mẽ, biết đẩy lùi cái tôi cá nhân để tôn trọng các quy tắc ứng xử trong các môi trường công cộng, trong các mối quan hệ để ưu tiên cho sự hài hòa của mối quan hệ, của môi trường.

    Steiner có cùng quan điểm với Montessori về người thầy của trẻ. Trong cách ông đào tạo giáo viên thậm chí ông cung cấp những phương thức thực hành rất cụ thể để mỗi ngày người giáo viên, người thầy đều có thể làm mạnh mình hơn lên, mỗi ngày trở nên từ bi, bác ái hơn, và hoàn toàn không có sự độc tài, kiêu ngạo. Giáo viên Steiner nhìn đứa trẻ là một thực thể cao quý, như cách Montessori gọi đứa trẻ “là cha của con người”.

    Steiner mong muốn xây dựng môi trường có tính gắn kết cộng đồng cao. Trẻ cùng tham gia với nhau, cùng nhau, cùng giáo viên trong một tập thể thống nhất, việc này được thực hiện trong rất nhiều các hoạt động khác nhau trong suốt một ngày trẻ ở trường. Giờ sinh hoạt vòng tròn là sự kết nối của những cá thể vào một tập thể, sử dụng công cụ là nghệ thuật, là âm nhạc. Giờ hát trước khi ăn, ngoài việc rèn rũa lòng biết ơn cho trẻ thì mỗi lần nắm tay bạn, cùng bạn và cô kết nối thành một vòng tròn là một lần trẻ được tham gia bằng toàn bộ con người mình vào cộng đồng. Giờ chơi tự định hướng, trẻ hoàn toàn có thể tự chơi một mình, tuy nhiên hầu hết, một cách tự nhiên, trẻ sẽ rủ bạn chơi cùng, xây dựng cho mình một đội nhóm cùng chơi rồi tự mình học cách giải quyết các vấn đề nảy sinh.

    Montessori khẳng định thầy cô là người thiết kế, tạo môi trường giáo dục đầy ắp tính văn hóa để trẻ em có thể say mê, tập trung vào hoạt động chơi của chúng trong một khoảng thời gian đủ dài không bị người lớn ngắt quãng (theo bà, khoảng thời gian lý tưởng nhất là 3 giờ đối với trẻ từ 2 tuổi rưỡi đến 6 tuổi). Chính sự tập trung và say mê này làm nên yếu tố kỷ luật và trật tự cho môi trường giáo dục chứ không phải các hình thức thưởng phạt hay thậm chí quát nạt, dọa dẫm. Sự tập trung vào một hoạt động và không bị ngắt quãng này càng tuyệt đối không phải để phục vụ lợi ích của người lớn là rảnh tay với con trẻ, như cách các ông bố bà mẹ trẻ cho con một chiếc iphone, ipad hay một cái điều khiển tivi và chúng ngồi đó bất động hàng giờ liền. Tôn trọng sự lựa chọn hoạt động chơi (hay chính là học) của trẻ là để chính trẻ làm bừng nở con – người – tương – lai của mình, khả năng và phẩm chất của mình. Việc dành một khoảng thời gian đủ dài để trẻ vui vẻ tập trung vào công việc của mình là bước quan trọng để trẻ phát triển năng lực tư duy, năng lực khám phá. Và quan trọng nhất là niềm SAY MÊ và VUI THÍCH lao động (là trạng thái bẩm sinh nơi mỗi đứa trẻ) không bị làm hỏng đi, để khi lớn lên chúng lại hoang mang vì không tìm ra niềm say mê trong cuộc đời mình.

    Cả Montessori và Steiner đều nhấn mạnh vào sự cần thiết của trật tự đối với trẻ. Tuy nhiên, ông và bà triển khai các cách thực hành khác nhau để đạt tới tính trật tự này.

    Trong lớp học Montessori đồ chơi được theo một trật tự cố định để trẻ luôn biết cái gì ở đâu, bà quan sát và thấu hiểu trật tự không gian sẽ đem đến cho trẻ cảm giác an toàn. Steiner không dừng lại ở trật tự về không gian, ông mở rộng trật tự về thời gian, là tính nhịp điệu của môi trường giáo dục Steiner. Bên cạnh trật tự về không gian là điều kiện tất yếu của lớp học Steiner, tính nhịp điệu trong các hoạt động hàng ngày lại là đặc tính cơ bản của “giáo trình” mầm non Steiner. Nhịp điệu này ổn định theo ngày, theo tuần, theo mùa, theo năm. Bên cạnh sự yên ổn của trật tự không gian, nhịp điệu đem đến cho trẻ không chỉ cảm giác an toàn, thân quen mà hơn thế, nó tôi rèn Ý Chí cho trẻ. Đây cũng là một điểm độc đáo của phương pháp giáo dục Steiner, nhấn mạnh vào sự hình thành và phát triền Ý Chí như hạt mầm, như ngọn lửa nhen nhóm đầu tiên bên trong đứa trẻ để chuẩn bị cho mọi sự nảy mầm, cho mọi sự bùng cháy, đam mê.

      Trí thông minh logic & trí tưởng tượng

    Eistein đã nói, muốn con bạn thông minh hãy đọc cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích, muốn con bạn thông minh hơn nữa hãy đọc nhiều hơn nữa cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích. Điều này, các trường mầm non Steiner đã làm rất tốt, nâng lên một nấc cao hơn, từ đọc chuyện sang kể chuyện. Đọc tức là bạn còn phải cần đến sách, là bạn còn chưa sống với câu chuyện để truyền tải cho trẻ sự sống động, kể là bạn đã biết sống trong câu chuyện. Gờ kể chuyện của trường mầm non Steiner là giờ mà trí tưởng tượng của trẻ tha hồ bay bổng. Không gian lớp học ấm cúng, ánh sáng được làm dịu đi, nến được thắp lên bên cạnh “sân khấu” nhỏ của các nhân vật rối, được các cô sắp đặt và tạo bối cảnh với lụa, với bông, với hoa, với lá. Cô khe khẽ cầm cây đàn lyre chơi vài nốt ngân nga, trẻ lập tức im ắng, chăm chú đón đợi và bắt đầu tưởng tượng theo từng động tác cô diễn rối nhịp nhàng, từng câu kể cô buông rất khoan thai. Những giờ kể chuyện quý giá này sẽ gieo mầm, chăm bón cho trí tưởng tượng của trẻ lớn lên từng ngày. Những mầm này sẽ theo trẻ vào từng giờ chơi. Giờ chơi, tiếp tục là một môi trường kích thích tối đa sự phát triển của trí tưởng tượng. Điều khác biệt với các mô hình giáo dục khác là lớp mầm non Steiner có giờ chơi tự do mỗi ngày, theo nghĩa trẻ là người tổ chức trò chơi, giải quyết các vấn đề nảy sinh khi chơi với bạn, giáo viên chỉ đóng vai trò như người thiết lập môi trường, đảm bảo an toàn và hạn chế tối đa sự can thiệp. Chơi tự do, hay còn gọi là chơi theo định hướng lựa chọn của trẻ, là một nhu cầu thiết yếu của trẻ để “trải nghiệm lại”, “diễn lại” những gì trẻ đã thẩm thấu, để tưởng tượng và sáng tạo ra vô vàn câu chuyện. Nhu cầu được chơi, và chơi tự do của trẻ cũng thiếu yếu như nhu cầu ăn, ngủ; và để so sánh với người lớn, ta có thể so với nhu cầu được làm việc để kết nối và để thấy mình là một cá thể trong cộng đồng. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, trẻ khi nhỏ biết chơi lớn lên là những người lớn hoạt bát, khả năng giải quyết vấn đề cao hơn hẳn những trẻ không được và do dó không “biết” chơi.

    Giờ chơi tự do này của lớp học Steiner và Montessori có những sự giống nhau và khác nhau. Sự giống nhau là bởi trẻ được chơi tự định hướng, được dành một khoảng thời gian đủ dài để có thể tập trung vào trò chơi. Sự khác nhau nằm ở môi trường mà giáo viên đã tạo ra cho trẻ thông qua đồ chơi và bầu không khí. Trong khi một lớp học Steiner mang màu sắc cổ tích, thì một lớp học Montessori có bầu không khí rất khoa học, hiện đại. Các đồ chơi, học liệu của lớp Montessori tập trung vào việc kích thích tư duy logic của trẻ, đem đến cho trẻ các kiến thức cụ thể nào đó của Thực Tại.

    Montessori cho rằng một đứa trẻ phải hoàn tất và chỉ hoàn tất được quá trình “nhập thể”, quá trình “phôi thai tinh thần” đi ra và hòa nhập với Thực Tại của thế giới vật chất, khi nó được hoạt động và là những hoạt động gắn với Thực Tại. Người lớn quanh trẻ không được phép cho trẻ chạy trốn trong hỗn độn các biểu tượng, các ảo ảnh, huyễn tưởng của trí tưởng tượng, của việc đóng kịch; mà theo bà là do sự nghèo nàn của môi trường, sự thiếu vắng các hoạt động của Thực Tại khiến trẻ trở nên ngày càng trốn sâu hơn trong cái vỏ ốc của huyễn tưởng, tưởng tượng. Thậm chí bà gọi đây là một dạng “ẩn ức tâm lý”, phân tích theo phân tâm học, là một sự chạy trốn các thực tại khó chịu, làm lệch lạc đi một số năng lực tự nhiên nào đó. Steiner lại có quan điểm hoàn toàn trái ngược, ông bảo vệ quá trình “nhập thể” này một cách trọn vẹn, quá trình này phải được diễn ra một cách từ tốn, theo giai đoạn phát triển tự nhiên của trẻ. Ông cho rằng việc tưởng tượng hay đóng kịch với trẻ lại thực hơn chính thế giới Thực Tại bên ngoài, việc tạo môi trường để trẻ được tiếp tục đóng kịch, được tưởng tượng, được sống trong thế giới mơ mộng do trẻ tưởng tượng ra chính là nhằm “bảo tồn” những năng lực quý giá trong giai đoạn “nhập thể” này. Montessori gọi những năng lực tự nhiên quý giá này của trẻ là “phôi thai tinh thần”, Steiner gọi nó là sự kết nối giữa cái bản Tôi thấp của thế giới vật chất và cái Siêu Tôi thuần tinh thần, tâm linh. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai nhà giáo dục này có lẽ nằm ở đây, sự nhận định về quá trình “nhập thể” của trẻ, dẫn tới cách thiết kế lớp học, thiết kề đồ chơi theo hai hướng khác biệt nhau.

    Cùng một gốc triết lý giáo dục dựa trên trên tình yêu thương, Steiner và Montessori đều khẳng định yếu tố quan trọng nhất rằng t hầy cô giáo phải là những người đã được chuẩn bị từ bên trong – đã tự mình tôi rèn bản thân để trở nên những con người từ bi, bác ái, từ chối sự độc tài, kiêu ngạo, để trẻ được thẩm thấu những nhân cách đẹp nhất, thiện nhất trong một môi trường tự nhiên đầy ắp tính văn hóa được người thầy chuẩn bị cho trẻ tự trải nghiệm, tự làm bừng nở con – người – tương – lai của mình. Hai nhà giáo dục lớn, cũng như nhiều nhà phâm tâm học và tâm lý học khác, đều khẳng định giai đoạn 0-7 trẻ học qua sự thẩm thấu, bắt chước, bắt chước không chỉ hành động mà ngay cả cảm xúc, suy nghĩ bên trong của người lớn xung quanh mình. Sự khác nhau của hai nhà giáo dục lớn này có lẽ nằm ở quan niệm về sự “nhập thể” của những sinh linh, những phôi thai tinh thần, những năng lực tự nhiên mà con người vốn có thể thu nhận được ngay từ khi sinh ra. Steiner và Montessoi khác nhau trong việc chọn con đường để những năng lực tự nhiên này “nhập thể” một cách trọn vẹn nhất, để đứa trẻ phát huy tối đa năng lực trong Thực Tại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Glenn Doman Và Montessori Nên Học Phương Pháp Nào ?
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Montessori Là Gì ?
  • 5 Cuốn Sách Gối Đầu Khi Dạy Con Tại Nhà Theo Phương Pháp Montessori
  • Giới Thiệu Về Phương Pháp Và Thiết Bị Giáo Dục Montessori
  • Sách Phương Pháp Montessori Ngày Nay
  • Sự Khác Biệt Giữa Não Nam Và Nữ / Tâm Lý Học Nhận Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Viêm Niệu Đạo Do Lậu Và Không Do Lậu
  • Sự Khác Biệt Giữa Giải Phẫu Niệu Đạo Nam Và Nữ
  • Những Điều Cần Biết Về Chấn Thương Niệu Đạo Ở Nam Và Nữ
  • Sự Khác Biệt Về Bệnh Lậu Giữa Nam Và Nữ
  • Điểm Khác Nhau Giữa Bệnh Lậu Ở Nam Và Nữ Mà Bạn Cần Biết
  • ¿Mỗi ngày bạn hiểu ít hơn về hành vi của đối tác của bạn? ¿Có phải đàn ông và phụ nữ thực sự khác nhau? Năm 2006, bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Mỹ Louann Brizendine đã xuất bản cuốn sách của mình Cô là tác giả của hai cuốn sách: Bộ não nữ , và bộ não nam (xuất bản năm 2010). Bộ não nữ nơi giải thích rằng hành vi của phụ nữ khác với nam giới do sự khác biệt nội tiết tố của họ. Nhà tâm lý học Daniel Goleman, bậc thầy về Trí tuệ cảm xúc, đã nhận xét về cuốn sách đó là “một hướng dẫn mới mẻ và khai sáng về phụ nữ, và một cách đọc không thể thiếu cho nam giới”. Với thành công đạt được, tác giả xuất bản năm 2010, tiếp tục: Bộ não nam.

    Sự khác biệt chính giữa não nam và nữ

    Kết quả của cả hai cuộc điều tra cho thấy tất cả bộ não bắt đầu như não nữ. Nó chỉ trở nên nam tính tám tuần sau khi thụ thai, khi sự dư thừa testosterone (vua của nội tiết tố nam) làm giảm trung tâm giao tiếp, làm giảm vỏ não và làm cho bộ não xử lý tình dục gấp đôi.

    Kết luận

    Chúng ta gần như không biết gì về công việc tiềm ẩn, gần như ẩn giấu của các gen, hóa học thần kinh và hormone khác nhau. Nếu đàn ông và phụ nữ, cha mẹ và giáo viên, bắt đầu từ sự hiểu biết tốt hơn về bộ não nam và nữ của chúng ta, cách chúng được hình thành, cách chúng được mô phỏng trong thời thơ ấu và cách chúng nhìn thấy thực tế trong thời niên thiếu và sau đó, chúng ta có thể tạo ra kỳ vọng thực tế hơn cho cả hai Phần lớn mâu thuẫn giữa nam và nữ là do không thể hiểu được những khác biệt bẩm sinh này, xu hướng của bộ não và phản ứng vật lý của họ đối với các hoóc môn tạo ra các xung động tự nhiên và cách suy nghĩ, cảm nhận và giao tiếp.

    Tin tốt là mặc dù có những điều kiện sinh học này, bác sĩ phẫu thuật thần kinh Louann Brizendine kết luận rằng kiến ​​trúc não không được khắc trên đá khi sinh hoặc vào cuối thời thơ ấu, như đã tin trước đây, nhưng điều đó thay đổi trong suốt cuộc đời. Thay vì bất biến, bộ não của chúng ta dẻo hơn và dễ thay đổi hơn nhiều so với các nhà khoa học đã tin cách đây một thập kỷ. Bộ não con người cũng là bộ máy học tập khéo léo nhất mà chúng ta biết. Vì vậy, văn hóa và các nguyên tắc hành vi mà chúng ta bị ảnh hưởng đáng chú ý trong việc mô hình hóa và tu sửa bộ não. Do đó, giáo dục, kinh nghiệm và môi trường có thể tạo ra ảnh hưởng sinh học và hành vi lâu dài thông qua các thay đổi biểu sinh được giới thiệu trong DNA.

    Tóm lại, và mặc dù có những khác biệt nhỏ có nhiều thứ giống với đàn ông và phụ nữ hơn những thứ khác biệt chúng ta, và không bao giờ quên rằng luôn luôn có thể học, không học và học lại.

    Bài viết này hoàn toàn là thông tin, trong Tâm lý học trực tuyến, chúng tôi không có khoa để chẩn đoán hoặc đề nghị điều trị. Chúng tôi mời bạn đi đến một nhà tâm lý học để điều trị trường hợp của bạn nói riêng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Sự Khác Biệt Giữa Não Nam Và Nữ? / Tâm Lý Học
  • Động Vật Có Thể Cho Biết Sự Khác Biệt Giữa Con Người Nam Và Nữ?
  • Sự Khác Biệt Trong Tư Duy Mua Sắm Của Đàn Ông Và Phụ Nữ.
  • Sự Khác Biệt Trong Hành Vi Mua Sắm Của Phụ Nữ Và Đàn Ông
  • Cổ Áo Sơ Mi: Thật Thiếu Xót Khi Bạn Chưa Biết Gì Về Chúng!
  • Tình Cảm Là Gì? So Sánh Tình Cảm Và Nhận Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Internet Là Gì? Internet Và Www Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hóa Tuyển Dụng Phương Đông Và Phương Tây
  • The Same As; Similar To, Different From
  • Sự Khác Biệt Về Trật Tự Của Từ Chỉ Mức Độ Trong Câu Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Khái niệm nhận thức:

    Nhận thức là quá trình phản ánh năng động và sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não con người. Nhờ hoạt động nhận thức, không chỉ “cái bên ngoài mà cả bản chất bên trong, các mối quan hệ mang tính qui luật chi phối sự vận động, phát triển các sự vật hiện tượng, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cái sẽ tới. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện nhiều mức độ phản ánh hiện thực khách quan và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan .

    Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai mức độ:

    Ví dụ: khi nhìn thấy một chiếc máy tính xách tay thì nhận thức cảm tính cho ch ú ng ta thấy được màu sắc, kích thước, nhãn hiệu của chiếc máy tính .

    Ví dụ: khi nhìn thấy chiếc máy tính xách tay, bằng nhận thức lí tính ta biết được chất lượng của chiếc máy tính.

    Vai trò của tình cảm

    Tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi ch ân lí. Ngược lại, nhận thức là cơ sở, là cái lí của tình cảm, chỉ đạo tình cảm, lí và tình là hai mặt của một vấn đề nhân sinh quan thống nhất trong một con người.

    Ví dụ: Bác Hồ, chính vì lòng yêu nước là động lực mạnh mẽ thôi thúc Bác ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc ta.

    b) Đối với hoạt động:

    Tình cảm chiếm vị trí dặc biệt quan trọng trong số những động lực và nhân tố điều chỉnh hành vi của con người. Tình cảm nảy sinh và biểu hiện trong hoạt động; đồng thời tình cảm thúc đẩy con người hoạt động giúp con người vượt qua nhũng khó khăn trở ngại gặp phải.

    Ví dụ: Edix ơ n chính vì niềm đam mê phát minh mà ông đã trải qua h ơn 2000 lần thử nghiệm để phát minh ra bóng đèn.

    c) Đối với đời sống:

    Xúc cảm, tình cảm có vai trò to lớn trong đời sống con người, con người không có cảm xúc thì kh ô ng thể tồn t ại được. Khi con người bị đói tình cảm thì đời sống con người bị rơi vào tình trạng rối loạn và con người không thể phát triển bình thường về mặt tâm lí.

    d) Đối với c ô ng tác giáo dục con người:

    Xúc cảm, tình cảm giữ một vị trí vô cùng quan trọng vừa là điều kiện, vừa là phương tiện giáo dục, đồng thời cũng là nội dung và mục đích của giáo dục. Tài năng của nhà giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào lòng yêu nghề và tình thương yêu tuổi trẻ, thiếu lòng yêu nghề, yêu học sinh thì người thầy khó trở thành người thầy tốt.

    sa vào các tệ nạn xã hội Ví dụ: những đứa trẻ trong thời kì phát triển mà thiếu sự chăm sóc, giúp đỡ của cha mẹ, thày cô, bạ n bè sẽ r ấ t dễ bị trầm cảm và cũng rất d ễ .

    So sánh tình cảm và nhận thức

    Đều phản ánh hiện thực khách quan: ngh ĩa là chỉ khi có hiện thực khách quan tác động vào mới có tình cảm và nhận thức.

    Đều mang tính chủ thể: nghĩa là tình cảm và nhận thức đều mang những đặc điểm riêng của mỗi người: Cùng một vấn đề nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau thì cũng có những nhận thức và bộc lộ những tình cảm khác nhau.

    Đều mang bản chất xã hội: ví dụ trong thời kì phong kiến qui định cha mẹ đặ t đâu con ngồi đó, c ấ m đoán đôi lứa yêu nhau. Vì vậy mọi người đều nhận thức như vậy và tuân theo, những đôi l ứa yêu nhau được cho là sai và bị mọi người kì thị, cấm đoán.

    b) Sự khác nhau

    Ít tính lựa chọn hơn, rộng hơn. Bất cứ sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan tác động vào các giác quan của ta đều được phản ánh với những mức độ sáng tỏ, đầy đủ, chính xác khác nhau.

    Mối quan hệ giữa tình cảm và nhận thức

    – Đối với nhận thức, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ, kích thích con người tìm tòi đến với kết quả nhận thức.

    – Ngược lại, nhận thức định hướng, điều chỉnh, điều khiển tình cảm đi đúng hướng. Nhận thức và tình cảm là hai mặt của một vấn đề nhân sinh quan thống nhất với nhau.

    Kết luận

    – Trong khi đề ra những con đường, những biện pháp xây dựng, giáo dục tình cảm đúng đắn cho học sinh cần chú trọng tới tâm lí của mỗi người.

    – Tránh sử dụng những biện pháp hình thành tri thức vào việc hình thành tình cảm: “dạy khoa học tự nhiên ta có thể dùng định lí, dùng công thức. Nhưng xây dựng con người, không thể theo công thức được.

    – Tạo môi trường sống lành mạnh trong việc hình thành nhân cách, tình cảm của bản thân mỗi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Sự Khác Biệt Giữa Windows 7 Và Windows 8/10
  • So Sánh Các Phiên Bản Windows 7
  • Điểm Giống Và Khác Nhau Của Các Nguồn Vốn Huy Động Từ Quốc Tế
  • Sự Khác Biệt Giữa Hệ Điều Hành Mac Os Và Windows
  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra, Điều Tra Và Giám Sát
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100