Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • – Biện chứng là gì?

    + Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

    Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủ quan là chỉ biện chứng của ý thức.

    Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Theo quan niệm duy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểm duy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan. Ph. Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

    Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    – Phép biện chứng là gì?

    Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới.

    Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn.

    – Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

    + Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”… Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

    + Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I. Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph. Hêghen. Ph. Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới – trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển. Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph. Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.

    + Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph. Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

    – Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong nhận thức

    Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới là ở chỗ: phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ phổ biến, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; còn phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức các sự vật, hiện tượng không trong mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; nó tuyệt đối hoá tính chất ổn định, cô lập của các sự vật, hiện tượng. Do đó, phương pháp siêu hình chỉ có giá trị trong một phạm vi nhất định. Chỉ có phương pháp biện chứng mới có thể cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong thực tế.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • Sự Khác Nhau Giữa Dữ Liệu (Data) Và (Information)?
  • Sự Khác Biệt Giữa Dữ Liệu Và Thông Tin
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám
  • Khác Với Kimono Của Nhật Bản Hay Hanbok Của Hàn Quốc, Chiếc Áo Dài Việt Nam Vừa Truyền Thống Lại Vừa Hiện Đại
  • a) Khái niệm biện chứng, phép biện chứng

    Trong chũ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người.

    Theo Ph.Ăngghen: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

    Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biến.

    b) Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức, ba trình độ cơ bản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ dại. Tiêu biểu cho nhũng tư tưởngng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”. Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắc tinh thần của phép biện chứng tự phát. Ph.Ăngghen viết: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng… Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi sự vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”‘. Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về căn bản vẫn còn mang tính chất ngây thơ, chất phác. Ph.Ăngghen nhận xét: “Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu… Chính vì người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thế ấy. Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết: đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp”. Phép biện chứng chất phác cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, còn thiếu sự chứng minh bởi những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên.

    Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bất đầu phát triển mạnh, đi sâu vào phân tích, nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của thế giới tự nhiên, dần tới sự ra đời của phương pháp siêu hình. Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ việc nghiên cứu đối tượng riêng biệt sang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong môi liên hệ, thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang một hình thức tư duy mới cao hơn là tư đuy biện chứng.

    Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở Hêghen. Theo Ph.Ăngghen:”Hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Cantơ đến Hêghen”.

    Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày nhũng tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính chất duy tâm trong triết học Hêghen biểu hiện ở chỗ ông coi biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan. Theo Hêghen, “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần, “… tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm”. Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hêghen, đã xây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung, có lôgích chặt chẽ của ý thức, tinh thần. V.I.Lênin cho rằng: “Hêghen đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiện tượng, của thế giới, của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm”. Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh tư tưởng của C.Mác: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cẩn dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nỏ ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó.

    Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trong triết học Hêghen là hạn chế cần phải vượt qua. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khắc phục hạn chế đó để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật. Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phê phán đối với phép biện chứng cổ điển Đức. Ph.Ăngghen tự nhận xét: “Có thể nói ràng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • 1. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Trong lịch sử triết học, bên cạnh vấn đề bản chất thế giới là vật chất hay tinh thần, còn một vấn đề quan trọng khác cần triết học giải quyết – đó là vấn đề về trạng thái tồn tại của thế giới. Vấn đề đó được biểu hiện qua các câu hỏi đặt ra: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại trong trạng thái biệt lập, tách rời, đứng im, bất biến hay có quan hệ, ràng buộc với nhau, không ngừng vận động, biến đổi? Giải đáp câu hỏi đó đã làm nảy sinh hai phương pháp (quan điểm) nhận thức đối lập nhau – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    a) Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tách rời với các sự vật khác; xem xét sự vật trong trạng thái không vận động, không biến đổi.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn nhận thức một đối tượng nào đó trước hết phải tách đối tượng đó ra khỏi mọi mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đồng thời phải nhận thức đối tượng trong trạng thái không vận động, không biến đổi. Việc xem xét đối tượng sự vật theo quan niệm như vậy cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, sai lầm căn bản của phương pháp siêu hình chính là đã tuyệt đối hoá trạng thái tĩnh tương đối của đối tượng sự vật. Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng không tồn tại trong trạng thái tĩnh, bất biến một cách tuyệt đối. Trái lại, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong những mối quan hệ và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng.

    Ph.Ăngghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là “Chỉ nhìn thấy những sự vật mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

    b) Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau với các sự vật khác xung quanh; xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó.

    Phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu của quan điểm biện chứng, – quan điểm khẳng định các sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn nhận thức đúng về sự vật, cần phải nhận thức, xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó, trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa nó với các sự vật khác xung quanh.

    Có thể kết luận rằng: Sự khác biệt căn bản giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng là ở chỗ, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật bằng một tư duy cứng nhắc, máy móc; còn phương pháp biện chứng nhìn nhận, xem xét sự vật với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng không chỉ nhìn thấy những sự vật cụ thể mà còn thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, sự diệt vong của chúng; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Đối với phương pháp siêu hình thì, sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; hoặc là thế này, hoặc là thế khác; “hoặc là… hoặc là…”, chứ không thể vừa là thế này vừa là thế khác; “vừa là… vừa là…”. Đối với phương pháp biện chứng thì, một sự vật vừa là thế này vừa là thế kia, “vừa là… vừa là…”. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan đúng như nó đang tồn tại. Vì vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.

    2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Với tư cách là một phương pháp nhận thức đúng đắn về thế giới, phương pháp biện chứng không phải ngay khi ra đời đã trở nên hoàn chỉnh, mà trái lại nó phát triển qua từng giai đoạn gắn liền với sự phát triển của tư duy con người. Trong lịch sử triết học, sự phát triển của phương pháp biện chứng được biểu hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    + Phép biện chứng tự phát là hình thức biện chứng tồn tại ở thời cổ đại. Các nhà biện chứng cổ đại cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thức được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi và trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà biện chứng cổ đại về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng chủ yếu vẫn chỉ là kết quả của sự quan sát, trực kiến thiên tài chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu và của thực nghiệm khoa học. Vì vậy, tư tưởng biện chứng thời kỳ này chủ yếu dừng ở những đánh giá về hiện tượng biến đổi, mối liên hệ giữa các sự vật chứ chưa thật sự đi sâu vào xem xét bản thân sự vật để có những nhận xét sâu sắc về sự vận động của sự vật. Theo Ph.Ăngghen, cách nhận xét thế giới của các nhà biện chứng cổ đại như trên là cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng.

    + Phép biện chứng duy tâm biểu hiện tập trung, rõ nét nhất trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là Ph.Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử của tư duy nhân loại, các nhà biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng. Các nhà biện chứng cổ điển Đức không chỉ nhìn thế giới trong quá ttrình vận động, phát triển, trong tính chỉnh thể thống nhất mà còn khẳng định về tính quy luật của sự phát triển đó. Tuy nhiên, phép biện chứng này lại mang tính duy tâm, biểu hiện ở việc khẳng định sự phát triển của thế giới xuất phát từ tinh thần và kết thúc cũng ở tinh thần. Theo Ph.Hêghen, sự phát triển thực chất là quá trình vận động, phát triển của yếu tố tinh thần gọi là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần tuyệt đối”. Trong quá trình phát triển của mình, “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá chuyển thành giới tự nhiên, xã hội để sau đó lại quay trở về bản thân mình. Như vậy, đối với phép biện chứng duy tâm này, sự vận động phát triển của giới hiện thực chẳng qua chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối”.

    +Phép biện chứng duy vật là hình thức biện chứng biểu hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở khắc phục tính chất duy tâm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Angghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí đồng thời kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Đúc Đặc Biệt Trong Cơ Khí.
  • Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản
  • a) Khái niệm phép biện chứng duy vật

    Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin còn có một số định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật. Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển (trong đó có bao hàm học thuyết về sự phát triển của nhận thức) trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”‘,V.V..

    b) Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Với đặc trưng này, phép biện chứng duy vật không chỉ có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen (là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy tâm), mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trực quan, ngây thơ vàchất phác).

    Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận hiện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử – cụ thể, phưong pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát triển, V.V.. Với tư cách đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ khoa học vĩ đại để giai cấp cách mạng nhận thức và cải tạo thế giới.

    Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chú nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vả phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • I. ĐẶT VẤN ĐỀ Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau. Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sẹ vật hiện tượng trong trạng thái tĩnh tại không trong mối quan hệ phố biến trong quá trình vận động và phát triển. Do vậy phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trái lại với phương pháp tư duy siêu hình, phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức thế giới lý giải thế giới, giải quyết vấn đề thực hiện theo nguyên tắc biện chứng xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình không ngừng vận động phát triển đồng thời thấy được mối quan hệ cá thể và đoàn thể. Trong lịch sử triết học có những thời điểm, tư duy siêu hình chiếm ưu thế so với tư duy biện chứng. Nhưng xét trong toàn bộ lịch sử triết học thì phép biện chứng luôn giữ vai trò đặc biệt trong đồi số tinh thần triết học. Phép biện chứng là một khoa học của triết học. Vì vậy nó cũng phát triển trì thấp tối cao và có những thăng trầm đỉnh cao của phép biện chứng duy vật là phép biện chứng Mác-xít của triết học Mác – Lê nin. Chủ nghĩa Mác luôn đánh giá cao phép biện chứng nhất là phép biện chứng duy vật, và coi đó là một công cụ tư duy đắc lực, sắc bén để đấu tranh với thuyết không thể biến tư duy siêu hình giúp cho trong nhận thức và cải tạo thế giới. Để thấy rõ bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại thì chúng ta phải nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Các phép biện chứng trước triết học Mác – Lênin a) Phép biện chứng thời cổ đại Phép biện chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và mang tính trực quan được hình thành trên cơ sở những quan sát tự nhiên, xã hội hoặc là kinh nghiệm của bản thân. Trung tâm lớn của triết học thời bấy giờ là triết học trung hoa cổ đại. Do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biện chứng. Trong học thuyết triết học cũng có những đặc điểm. Không giống nhau, nhưng nói chung cả 3 nên triết học lớn đều có những đặc điểm nêu trên. Đầu tiên phải nói đến là nền triết học Ấn Độ cổ đại. Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học và tôn giáo và giữa các trường phái khác nhau. Các tư tưởng triết học được thể hiện dưới hình thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống triết học Ấn Độ cổ đại có 9 trường phái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái phi chính thống. Trong tất cả các trường phái đó thì trường phái đạo phật là có học thuyết mang tính duy vật biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền triết học Ấn Độ cổ đại. Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI trước công nguyên do Tất Đạt Đa tên hiệu là thích ca Mẫu Ni sáng tạo. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không do một đấng thần linh nào sáng tạo ra mà được tạo ra từ hai nguyên tố là sắc và danh. Trong đó “danh” bao gồm tân và thức, còn “sắc” bao gồm 4 đại là đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong. Chính nhừo từ trườngnày mà phật giáo được coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại các tôn giáo thần học đương thời. Đồng thời phật giáo đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô biến” nghĩa là không có cái gì là trường tồn bất biến, là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập, mà nó tồn tại trong một mối liên hệ. Đây là tư tưởng biện chứng sâu sắc chống lại đạo Bà La môn về sự tồn tại của cái tôi bất biến “vô thường” tức là biến, biến ở đây là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ. Sinh – tri – di – diệt đối với sinh vật và thành – trụ – hoại không đối với con người. Phật giáo cho rằng sự tương tác giữa 2 mặt đối lập nhân giả hay nhân duyên chính là động lực làm cho thế giới vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhân nào đó nằm ngoài con người, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói khác một sự vật hiện tượng tồn tại được là nhờ hội tụ đủ 2 giới …. nhân duyên. Tuy đạo phật đã có những bước phát triển lớn vì biện chứng nhưng nó vẫn còn mang tính vô thần không triệt để, bi quan … Triết học trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại có tới 103 trường phái triết học lớn nhỏ. Do những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử của cơ cực đạo đức suy đồi nên triết học trung hoa chỉ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về chính trị – xã hội, những tư tưởng biện chứng thời này rất ít và chỉ xuất hiện khi các nhà triết học giải những vấn đề về vũ trụ quan. Học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc của triết học trung hoa là học thuyết âm – dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là kinh dịch. Nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng.Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập đó là âm và dương. Âm dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm lẫn nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau. Điều này thể hiện rất rõ trong kinh dịch “cũngnhư tương tương thôi nhu sinh biến hái”. Sinh sinh chi vi dịch”Học thuyết này có hai quan điểm thể hiện sâu sắc tư tưởng biện chứng. Một là sự tương tác lẫn nhau giữa âm và dương, giữa các mặt đối lập làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng; hai là học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất như thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm dương). Sau đó âm dương lại tiến hành phân thành tự tượng là thái âm – thiếu, âm, thái dương – thiếu dương, từ tượng lại sinh ra bát quái, và trì đã bát quái sinh ra vạn vật. Tuy vậy, học thuyết âm dương vẫn còn những hạn chế Một là, học thuyết âm – dương phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hướng đi lên vì học thuyết âm dương cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp đi lặp lại và được đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng âm – dương cho rằng sự vận động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân bằng âm dương. Hai là trong học thuyết âm – dương còn nhiều yếu tố duy tân thần bí như quan điểm “thiên tôn địa lý” cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tự của trời đất, học đem trật tự của xã hội gán cho giới tự nheien, rõ lại dựng hình thức bịa đặt để chứng minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội. Điều này phản khoa học. Tóm lại, học thuyết âm dương đã phản ánh rõ khuynh hướng duy vật và biện chứng à ra chỉ là tự phát. Nhưng thiếu số hạn chỉ của nó chỉ là do ở thời kỳ này khoa học vì tự nhiên chưa có và triết học chỉ là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân trung hoa. Trong thời cổ đại thì nền triết học Hy lạp là nền triết học có những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính thời kỳnày của triết học Hy lạp thuật ngữ “biện chứng” ra đời. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Hi lạp cổ đại là những thành tựu to lớn trong khoa học tự nhiên, văn hoá, nghệ thuật. Đặc biệt là khoa học tự nhiên như thiên văn học, vật lý cổ điển, toán học đã làm cơ sở cho sự phát triển và là nền tảng cho sự phát triển của triết học phương tây sau này. Nhà triết học điển hình cho nền triết học Hi lạp có tư tưởng biện chứng là: Heraclit (540-980 TCN). Theo sự đánh giá của Mác, Lênin thì Heraclit là người đã sáng tạo ra phép biện chứng. Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật. Phép biện chứng của ông chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học mà hai như các luận điểm quan trọng của ông về phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Tư tưởng biện chứng của Heraclic thể thiếu trong 3 vấn đề sau: Một là quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo ông thì khiông có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng yên tuyệt đối, mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi về chuyển hoá không ngừng. Tư tưởng này được thể hiện rõ trong hai câu danh ngôn. Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy”. và “ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mốt” (Heraclit – giáo trình triết học Mác-Lênin – NXB CTQG) Heraclit lại đưa ra quan điểm là lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật hiện tượng. Đồng thời cũng chính là gốc của vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi. Đây là một hạn chế của Heraclit và bản chất của vật chất và vận động nhưng cũng chính nhờ quan điểm ấy mà Heraclit đã nhấn mạnh được tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới. Hai là, Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập trong biến đổi phổ biến của tự nhiên và “sự trao đổi của những mặt đối lập” về “sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập. Điều này thể hiện rõ qua câu nói của ông: “cùng một cái ở trong chúng ta sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già vì rằng cái này biến đổi thành cái kia và ngược lại, cái kia và ngược lại, cái kia biến đổi thành cái này….” Heraclit cũng đã có những phỏng đoán đúng về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập. Đánh giá về quan điểm thứ hai của Heraclit Lênin đã từng viết “phân đôi cái thống nhất của phép biện chứng. Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit. Ba là theo Heraclit thì sự vận động phát biến không ngừng của thế giới do quy luật khách quan quy định, quy luật khách quan là trật tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trị, quy luật chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người quy luật chủ quan phải phù hợp với quy luật khách quan. Người nào càng tiếp cận được quy luật khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu. Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai như cơ bản là đúng đắn. Trong suốt thời kỳ cổ đại ta thấy rằng không có hệ thống triết học nào có tư tưởng biến chứng sau như của Heraclit. Do vậy mà tư tưởng triết học của ông được nhà biện chứng cơ Điêu Đức và các nhà sáng lập nên chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao, như Các Mác và Ph Ăng ghen đã nói “Quan niệm về thế giới mới của nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản đó cũng là quan điệm của các nhà Hy Lạp thời cổ và người trên diễn đạt được rằng quan niệm ấy là Heraclit. Các nhà triết học sau Heraclit tiếp tục kế thừa tư tưởng biện chứng của ông và phát triển nó nhưng thực sự chưa giải quyết được vấn đề bản chất của sự vận động và của vận động và của vật chất. Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự pháp thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động của nó. Vì vậy không thể tránh khỏi bị phủ định bởi các nền triết học về sau. b) Biện chứng thời trung đại Biện chứng thời trung đại hầu như không cố, đây là 1 lưu trần các sự phát triển phép biện chứng. Ở phương đông vẫn chỉ duy trì phép biện chứng có được thời cổ đại thậm chí tại Ấn Độ phận giá còn bị sụp đổ. Còn ở phương tây là sự bao trùm của lệnh viện phán khoa học. c) Phép biện chứng tây Âu thế kỷ XV – XVIII Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) sự trưởng thành của tư tưởng biện chứng Tây Âu mang ý nghĩa độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ kỳ phát triển dưới sự thống trị của tư duy siêu hình máy móc. Nói chung các nhà triết học thời kỳ này mang đậm tư duy siêu hình nhưng cũng có những tư tưởng biện chứng như tư tưởng về “sự phù hợp của các mặt đối lập” của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất – nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia ra đời. Ông cũng khẳng định rằng nếu không theo nguyên tắc “các mặt đối lập phù hợp với nhau” thì mọi nhà khoa học từ tự nhiên đến xã hội đều không làm việc được. Ngoài ra Brunô còn có những tư tưởng biện chứng của Ph.Bêcơn khẳng định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới. d) Phép biện chứng cổ điển Đức Đánh giá về nền triết học cổ điển Đức Lênin đã viết: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhưng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trước C. Mác thì triết học cổ điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác. Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học Phoiơbắc. Hêghen (1770 -1831) là nhà triết học cổ điển Đức là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là “tinh thần Phổ”. Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. Ông viết: “phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học chân chính “(1(. Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết học của Hêghen là: “Tất cả cái gì là hiện thực đều là hợp lý và tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại”(2(. (Các Mác – Ănghen tuyển tập). Không những Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Trong logic học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù triết học như lượng – chất, vật chất – vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác như lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng. Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của tư duy hoặc chỉ là những khái niệm. Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen đã rút ra những khẳng định đúng đắn như: một là sự phát triển cuả xã hội là sự đi lên, hai là quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa, lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con người. Có thể khẳng định rằng Hêghen đã có công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng như là những công cụ của tư duy biện chứng. Mặc dù trong hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của tư duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra. Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: “Phép biện chứng đi lộn đầu xuống đất”. Do vậy, đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật. 2. Phép biện chứng Mác – xit a) Điều kiện ra đời của phép biện chứng duy vật Sự ra đời của phép biện chứng duy vật gắn liền với sự ra đời của chủ nghãi Mác. Nó ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển, dựa trên các tiền đề sau: Tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật là sự phát triển của khoa học tự nhiên, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản. Tiền đề của phép biện chứng Mác xít là phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Mác, Ănghen đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của phép biện chứng Hêghen là phép biện chứng và vứt bỏ cái vỏ ngoài là cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần thánh hoá khoác lên cho nó vỏ ngoài duy vật giải thích các hiện tượng tự nhiên theo thực tiễn và những quy luật khách quan hay nói cách khác là Mác – Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trước đây duy vật nhưng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. b) Nội dung chính của phép biện chứng duy vật Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen “đứng trên hai chân của mình” tức là đứng trên nền tảng duy vật. Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là “khoa học về mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy”. Theo Lênin thì phép biện chứng là “học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính tương đối của sự vật”. Phép biện chứng duy vật đã đưa ra ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: Thứ nhất là: Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; Thứ hai là: Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống nhau; Thứ ba là: Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các mối liên hệ được cụ thể hoá bằng hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nó còn được cụ thể hoá thành 3 quy luật căn bản là: Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi và lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thứ hai là quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập và quy luật thứ ba là quy luật phủ định của phủ định. Các nguyên lý và quy luật trên của thế giới khách quan không chỉ được khái niệm khái quát hoá mà nó còn được các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác tìm ra tiền đề lý luận, các tính chất và rút ra các phương pháp luật. Ngoài các nguyên lý về quy luật trên được rút ra từ 3 mối liên hệ thì từ 3 mối liên hệ này các nhà triết học còn đưa ra 6 cặp phạm trù đó là: cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả; cái riêng – cái chung; cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung – hình thức; bản chất – hiện tượng và cặp phạm trù khả năng và hiện thực. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai tính giai cấp của để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trong khi đó các nền triết học trước Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, của một nhóm người thiểu số trong xã hội. Hơn thế nữa triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển. Cùng với chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho người lao động. Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác – xít là kết quả của sự chín muồi về mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân. Giai đoạn mới trong sự phát triển của phép biện chứng gắn với tên tuổi của V.I.Lênin đã vận dụng thành công phép biện chứng Mác-xít trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917. Sự phát triển của V.I.Lênin về phép biện chứng duy vật thể hiện trong lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa như là một công cụ sắc bén để cải tạo thế giới một cách cách mạng nhất. III. KẾT LUẬN Bằng việc trình bày lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học, có thể khẳng định: Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ hình thành và phát triển từ phép biện chứng tự phát, thô sơ cổ đại cho đến phép biện chứng duy tâm Hêghen của triết học cổ điển Đức và đạt đến đỉnh cao là phép biện chứng duy vật mác – xít thì phép biện chứng luôn là công cụ sắc bén, là chìa khoá giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới để phục vụ nhu cầu chính bản thân con người. Hiện nay, đất nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá, thì việc nghiên cứu phép biện chứng một cách có hệ thống, nhất là việc nắm vững các nguyên tắc và vận dụng n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • I. PHÂN BIỆT PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP SIÊU HÌNH

    II. SỰ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG THỜI KỲ CỔ ĐẠI

    Ba nền triết học tiêu biểu của thời kỳ cổ đại được biết đến là nền triết học Ấn Độ cổ đại, triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại.

    1. Phép biện chứng trong triết học Ấn Độ cổ đại

    Ấn Độ cổ đại là một vùng đất thuộc nam châu Á có điều kiện khí hậu hết sức khắc nghiệt và địa hình tách biệt với các quốc gia, do đó Ấn Độ cổ đại trở thành một nền văn minh khép kín. Các tư tưởng tôn giáo rất phát triển trong xã hội Ấn Độ thường xuyên đan xen vào triết học làm nên nét đặc thù riêng của triết học Ấn Độ cổ đại. Có thể nói, triết học Ấn Độ tuy còn ở trình độ sơ khai song nó đã chứa đựng các yếu tố về bản thể luận và những tư duy biện chứng. Các tư tưởng biện chứng mộc mạc, thô sơ được tập trung thể hiện trong một số trường phái triết học Ấn Độ cổ đại sau:

    a. Triết học Samkhya

    Theo phái Samkhya, Prakriti là vật chất đầu tiên ở dạng tinh tế, trầm ẩn, vô định hình và trong nó chứa đựng khả năng tự biến hoá. Prakriti không ngừng biến hoá, phát triển trong không gian theo luật nhân quả dẫn tới xuất hiện tính đa dạng của giới tự nhiên. Tuy nhiên, về bản thể luận, phái Samkhya theo quan điểm nhị nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại hai bản nguyên của vũ trụ là bản nguyên vật chất Prakriti và bản nguyên tinh thần Prusa.

    b. Triết học Jaina

    Tư tưởng biện chứng của phái Jaina thể hiện ở học thuyết tương đối. Theo đó, tồn tại vừa bất biến, vừa biến chuyển. Cái vĩnh hằng là bản thể còn cái không vĩnh hằng luôn biến đổi là các dạng của bản thể. Điều đó có nghĩa là thế giới bao quanh con người vừa vận động lại vừa đứng im, đó là một mâu thuẫn mà con người cần phải chấp nhận.

    c. Triết học Lokayata

    Theo phái Lokayata, mọi sự vật, hiện tượng của thế giới được tạo ra từ bốn nguyên tố vật lý: đất, nước, lửa và không khí. Các nguyên tố này tự tồn tại, tự vận động trong không gian mà tạo thành tất cả các sự vật, kể cả con người. Đây là trường phái duy vật và vô thần triệt để nhất trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại. Nó ra đời từ phong trào đấu tranh chống sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm trong Veda và giáo lý của đạo Bàlamôn đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội.

    d. Triết học Phật giáo

    Khi luận giải những vấn đề thuộc thế giới quan và nhân sinh quan triết học, Phật giáo đã đề cập tới hàng loạt những vấn đề thuộc phạm vi của phép biện chứng, với tư cách là học thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và sự biến đổi của mọi tồn tại. Thế giới quan triết học phật giáo và những tư tưởng biện chứng của nó được thể hiện qua một số phạm trù cơ bản là: vô ngã, vô thường và nhân quả.

    – Vô ngã là không có cái tôi bất biến. Cách nhìn này hoàn toàn đối lập với cách nhìn siêu hình về tồn tại. Cũng từ cách nhìn này, triết học Phật giáo đưa ra những nguyên lý về mối liên hệ tất định, phổ biến: không có cái nào là biệt lập tuyệt đối so với tồn tại khác, tất cả đều hoà đồng nhau.

    – Vô thường nói lên sự biến đổi không ngừng của vạn vật, không có cái gì đứng im. Quy luật vô thường của mọi tồn tại là Sinh – Trụ – Dị – Diệt.

    Đây là một phỏng đoán biện chứng về sự biến đổi của tồn tại.

    – Quy luật nhân quả cho rằng sự tồn tại đa dạng và phong phú của thế giới đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luật nhân quả, một định lý tất định và phổ biến của mọi tồn tại, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh.

    Triết học ấn Độ là một trong những nôi triết học vĩ đại của loài người thời kỳ cổ đại. Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần và đã manh nha hình thành các tư tưởng biện chứng sơ khai. Tuy nhiên, tư duy triết học thời kỳ này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: coi linh hồn con người là bất tử (đạo Phật) hay phán đoán về thế giới hiện tượng của phái Jaina.

    2. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại

    Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu đời vào bậc nhất thế giới. Đó là một trong những trung tâm tư tưởng lớn nhất của nhân loại thời cổ. Triết học Trung Quốc cổ đại chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính trị xuất phát từ hiện trạng xã hội biến động đương thời. Chính vì vậy trong thời kỳ này, các triết gia Trung Quốc thường đẩy sâu quá trình suy tư về các vấn đề thuộc vũ trụ quan và biến dịch luận. Song cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại là chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng tự phát. Có thể thấy một số tư tưởng biện chứng nổi bật của triết học Trung Quốc cổ đại qua một số trường phái triết học sau:

    Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu T093 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

    Tài liệu này không có hình ảnh khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Biện Chứng, Phép Biện Chứng Là Gì? Siêu Hình? 2 Nguyên Lý, 3 Quy Luật Và 6 Cặp Phàm Trù Trong Triết Học Duy Vật Biện Chứng Cần Nắm

    --- Bài mới hơn ---

  • De Thi Cau Hoi Trac Nghiem
  • Phương Pháp Giải Bài Toán Hóa
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Chữa Bệnh Không Dùng Thuốc
  • Cấy Chỉ Là Gì? Có Tốt Không Và Cấy Chỉ Ở Đâu Tốt Hà Nội?
  • Cấy Chỉ Là Gì? Cấy Chỉ Đông Y Mang Lại Hiệu Quả Tốt Không?
  • Nhiều dạng khác nhau của biện chứng nổi lên ở phương Đông và phương Tây theo những thời kỳ lịch sử khác nhau (biện chứng chất phát – tự phát, duy tâm, duy vật).

    CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

    Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao. Biện chứng là một lý thuyết cho rằng một cái gì đó – cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng:

    1. Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là, giống như hầu hết các sự vật tồn tại trên trời đất, có lẽ nó sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu;

    2. Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, bởi vì nó nhằm phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó mà, theo một nghĩa nhất định, vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai;

    3. Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ thứ ba khi một hợp đề thứ hai đạt được.

    PHÂN BIỆT PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP SIÊU HÌNH

    Biện chứng: là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng.

    Siêu hình: là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét này cho ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng nếu tuyệt đối hóa phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.

    I/ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:

    1) Cái chung và cái riêng

    2) Bản chất và hiện tượng

    3) Nội dung và hình thứcBiện chứng, phép biện chứng là gì? siêu hình? 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phàm trù trong triết học duy vật biện chứng…

    4) Nguyên nhân và kết quả

    5) Khả năng và hiện thực

    6) Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản (tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú) theo không gian và thời gian cụ thể.

    II/ Nguyên lý về sự phát triển: là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản:

    1) Quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển

    2) Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển

    3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.

    Vậy kết lại, không nên xem sự vật đứng im một cách cứng nhắc mà luôn vận động và phát triển, trong quá trình này, chúng luôn tự đấu tranh phủ định lẫn nhau, từ đó cái mới ra đời tốt hơn cái cũ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Tính Giá Xuất Kho Hàng Hóa Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Các Nguyên Tắc Của Pp Bàn Tay Nặn Bột
  • 21 Nguyên Tắc Để Hoàn Thành Công Việc Hiệu Quả
  • 7 Phương Pháp Sắp Xếp Thứ Tự Ưu Tiên Cho Công Việc
  • Sự Khác Nhau Giữa Phủ Định Biện Chứng Và Phủ Định Siêu Hình

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuế Phí Là Gì? Lệ Phí Là Gì? Phân Biệt Phí Và Lệ Phí Như Thế Nào?
  • Phân Biệt Thuế, Phí, Lệ Phí Có Điểm Gì Giống Và Khác Nhau?
  • Phân Biệt Pháp Luật Với Đạo Đức
  • Một Số So Sánh Quyền Con Người Với Quyền Công Dân
  • Quản Trị Và Quản Lý Doanh Nghiệp Có Gì Khác Nhau?
  • Phủ định là một khái niệm hết sức dễ hiểu, đó là sự xóa bỏ một cái gì đó. Nhưng bạn có thật sự hiểu về phủ định và phân loại nó. Đặc biệc là sự phân biệt phủ định siêu hình và phủ định biện chứng. phủ định biện chứng và phủ định siêu hình là hai khái niệm hết sức phức tạp và khó hiểu. để giúp bạn phân biệt được phủ định biện chứng và phủ định siêu hình chúng tôi đã viết nên bài viết này. Bài viết sẽ cung cấp những kiến thức đầy đủ và dễ hiểu nhất về phủ định biện chứng và phủ định siêu hình.

    Khái niệm phủ định: phủ định là xóa bỏ sự tồn tại của một vật, hiện tượng nào đó.

    Phân loại phủ định:

    – Phủ định biện chứng

    – Phủ định siêu hình

    Phủ định biện chứng

    Khái niệm:

    Phủ định biện chứng là sự phụ định diễn ra do sự phát triển của bản than sự vật và hiện tượng, có tính kế thừa những tính tích cực của sự vật cũ để phát triển sự vật và hiện tượng mới.

    Vai trò:

    – Phủ định biện chứng tạo nên những điều kiện, tiền đề phát triển của sự vật

    – Tạo ra khả năng phát triển mới của nhân tố cũ

    – Loại bỏ những mặc xấu, không tốt của nhân tố cũ

    – Giúp nhân tố phát triển với trình độ cao hơn

    Đặc điểm:

    – Tính khách quan

    – Tính kế thừa

    Phủ định siêu hình

    Khái niệm:

    Phủ định siêu hình là sự phủ định được diễn ra do sự can thiệp, sự tác động từ bên ngoài cản trở hoặc xóa bỏ sự phát triển tự nhiên của sự vật.

    Vai trò:

    – Tạo nên một sự vật hiện tượng mới

    – Không có tính kế thừa hay phát huy sự vật và hiện tượng cũ

    Phân biệt phủ định biện chứng và phủ định siêu hình:

    Sự giống nhau giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình là đều xóa bỏ , phủ nhận sự tồn tại cua một sự vật hiện tượng nào đó .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Another , Other , Others , The Other , The Others., Ngữ Pháp, Từ Vựng, Bài Tập Hay
  • Tips Để Phân Biệt Another/ Other/ The Other/ Others/ The Others Nhanh Nhất
  • Phân Biệt Should, Ought To Và Had Better
  • Cách Dùng “Should”, “Ought To”, “Had Better”
  • Cách Phân Biệt “Should”, “Ought To” Và “Had Better”
  • Sự Khác Biệt Giữa Cấp Phép Và Nhượng Quyền Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Máu Báo Thai, Máu Kinh Nguyệt Và Máu Báo Sảy Thai 2022
  • Liệu Triết Học Có Phải Là Khoa Học Không? :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Sự Khác Biệt Giữa Khoa Học Và Triết Học Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Khoa Học Và Triết Học
  • Sự Khác Biệt Giữa Truyện Ngắn Và Tiểu Thuyết Quan Trọng Nhất 2022
  • Khi nói đến việc mở rộng kinh doanh, điều đầu tiên xuất hiện trong đầu chúng ta là “kinh doanh quốc tế”, một thuật ngữ chúng ta thường xuyên nghe thấy, nhưng nhiều sự thật vẫn chưa được tiết lộ.

    Có một số cách để tham gia vào đấu trường toàn cầu để phục vụ thị trường nước ngoài; Điều đó giúp kiếm được lợi nhuận tốt hơn cho công ty. Điều này có thể được thực hiện bằng cách chuyển các kỹ năng và cung cấp sản phẩm, mà họ có được từ năng lực độc đáo của họ sang thị trường nước ngoài. Năm cách chính để thâm nhập thị trường nước ngoài là xuất khẩu, cấp phép, nhượng quyền thương mại, hình thành liên doanh hoặc thành lập công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn.

    Biểu đồ so sánh

    Định nghĩa cấp phép

    Theo thuật ngữ cấp phép, chúng tôi có nghĩa là một mô hình kinh doanh trong đó người cấp phép cấp quyền sử dụng tài sản trí tuệ, nhãn hiệu hoặc sản xuất sản phẩm của công ty cho người được cấp phép, để trả tiền bản quyền. Công ty được cấp phép sau đó thực hiện một khoản đầu tư vốn khổng lồ để bắt đầu hoạt động.

    Định nghĩa nhượng quyền

    Chúng tôi định nghĩa nhượng quyền là một chiến lược chủ yếu được sử dụng bởi các công ty dịch vụ, cho phép bên nhận quyền sử dụng mô hình kinh doanh, quy trình hoặc thương hiệu có tính phí, để tiến hành kinh doanh, như một chi nhánh độc lập của công ty mẹ (bên nhượng quyền).

    Như trong trường hợp cấp phép, bên nhượng quyền không chịu chi phí phát triển và rủi ro khi bắt đầu hoạt động ở nước ngoài, bởi vì chi phí đó chỉ được dự kiến ​​bởi bên nhận quyền. Do đó, bằng cách sử dụng chiến lược này, một công ty có thể nhanh chóng đánh dấu sự hiện diện của mình trên toàn cầu, với chi phí thấp. Các ví dụ tốt nhất về sự sắp xếp này là Nhà hàng McDonaldGà rán Kentucky của Hoa Kỳ đã vào Ấn Độ thông qua chiến lược này.

    Mặc dù có một nhược điểm lớn của sự sắp xếp này, thiếu kiểm soát chất lượng, một niềm tin cơ bản của nhượng quyền thương mại là tên thương hiệu cho thấy chất lượng của nó đối với người tiêu dùng. Điều này là do khoảng cách địa lý và số lượng nhượng quyền gia tăng. Để khắc phục vấn đề này, các bên nhượng quyền đã thành lập các công ty liên doanh hoặc các công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn để duy trì chất lượng tiêu chuẩn trong các sản phẩm và dịch vụ của họ.

    Sự khác biệt chính giữa cấp phép và nhượng quyền thương mại

    Sự khác biệt giữa cấp phép và nhượng quyền có thể được rút ra rõ ràng dựa trên các lý do sau:

    1. Cấp phép là một thỏa thuận trong đó một công ty (người cấp phép) bán quyền sử dụng tài sản trí tuệ hoặc sản xuất sản phẩm của công ty cho người được cấp phép, với một khoản phí thương lượng, tức là tiền bản quyền. Nhượng quyền là một thỏa thuận trong đó bên nhượng quyền cho phép bên nhượng quyền sử dụng mô hình kinh doanh, thương hiệu hoặc quy trình có tính phí, để tiến hành kinh doanh, như một chi nhánh độc lập của công ty mẹ (bên nhượng quyền).
    2. Luật hợp đồng điều chỉnh, cấp phép trong khi nhượng quyền được quy định, quy định nhượng quyền ở nhiều quốc gia, nhưng trong trường hợp quy định nhượng quyền không được áp dụng thì luật công ty sẽ điều chỉnh.
    3. Cấp phép không yêu cầu đăng ký, trong khi đăng ký là bắt buộc trong trường hợp nhượng quyền thương mại.
    4. Trong nhượng quyền thương mại, đào tạo và hỗ trợ đầy đủ được cung cấp bởi bên nhượng quyền cho bên nhận quyền mà không có giấy phép.
    5. Người cấp phép có quyền kiểm soát việc sử dụng tài sản trí tuệ của người được cấp phép nhưng không có quyền kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh của người được cấp phép. Tuy nhiên, bên nhượng quyền kiểm soát đáng kể đối với hoạt động và quy trình kinh doanh của bên nhượng quyền.
    6. Một biện pháp đáng kể của đàm phán lệ phí là có trong cấp phép. Ngược lại, cấu trúc phí tiêu chuẩn tồn tại trong nhượng quyền thương mại.

    Phần kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa How Long Và How Many Times
  • Sự Khác Nhau Giữa Bring, Carry, Take Và Fetch
  • Áo Vest Là Gì? Những Kiến Thức Về Áo Vest Từ A
  • #đánh Giá Áo Khoác Blazer Là Gì? Cách Mix Đồ Với Áo Blazer ™️ Pedro Việt Nam
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Vest Và Comple 2022
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Bài soạn tuần 3

    Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình

    2. Phương pháp biện chứng.

    Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

    1. Phương pháp siêu hình

    Là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    2. Phương pháp biện chứng

    Là phương pháp

    Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

    VÍ DỤ

    Một viên phấn

    – Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

    – Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

    Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

    – Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

    – Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

    – Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

    Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

    Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

    Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

    Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

    Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

    Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

    VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

    Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

    Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

    Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

    Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

    Những câu ca dao về lượng và chất

    Lượng

    ”Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

    “Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

    Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

    “Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

    “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

    “Trăm năm bia đá cũng mòn

    Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

    “Thương em anh chẳng dám qua

    Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

    Chất

    “Trong tốt ngoài xấu”

    “Khẩu Phật , tâm xà”

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười

    Mà trong nham hiểm giết người không dao”

    “Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

    “Ở chi 2 dạ 3 bòng

    Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

    “Nhân chi sơ tính bản thiện”

    “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

    “Thấy sang bắt quàng làm họ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100