Top 7 # Xem Nhiều Nhất Sự Khác Biệt Giữa Eu Và Asean Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Sự Khác Nhau Giữa Eu Và Asean

Trong các mô hình liên kết và cộng đồng trên thế giới, ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) thường được so sánh nhất với EU (Liên minh châu Âu). Quả vậy, ASEAN cũng thường lấy EU làm tấm gương cho sự liên kết thành công và học tập nhiều kinh nghiệm từ mô hình liên kết của EU.

Trong các mô hình liên kết và cộng đồng trên thế giới, ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) thường được so sánh nhất với EU (Liên minh châu Âu). Quả vậy, ASEAN cũng thường lấy EU làm tấm gương cho sự liên kết thành công và học tập nhiều kinh nghiệm từ mô hình liên kết của EU. Tuy nhiên vẫn còn có rất nhiều sự khác biệt giữa đặc điểm của liên kết châu Á và liên kết châu Âu, khiến cho mô hình liên kết EU chưa thể áp dụng được đối với ASEAN hiện nay.

Thứ nhất, bối cảnh lịch sử ra đời của liên minh Châu Âu khác so với bối cảnh liên kết ASEAN thời “hậu chiến tranh lạnh” sau khi ASEAN mở rộng. Sau thế chiến thứ hai (năm 1945), Tây Âu đổ nát, và nước gây ra cuộc chiến này lại là quốc gia lớn nhất nằm ngay giữa châu Âu (nước Đức). Vì vậy, nguyện vọng được sống trong nền hòa bình vĩnh viễn để cùng nhau phát triển kinh tế và hóa giải mối hận thù truyền thống giữa hai quốc gia lớn nhất châu Âu nằm cận kề nhau: Đức – Pháp, xóa bỏ tận gốc rễ nguy cơ chiến tranh, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời vào năm 1951 của Cộng đồng Than, Thép châu Âu (ECSC), tiền thân của Liên minh châu Âu (EU). Điều đó cũng phù hợp với khát vọng hòa bình, hợp tác chính trị và kinh tế của các nước châu Âu láng giềng khác. Châu Âu những năm 50 có quyết tâm chính trị rất cao, nhất là liên kết mạnh mẽ về an ninh để khỏi lặp lại thảm cảnh của chiến tranh thế giói thứ hai. Quyết tâm đó khiến việc thiết lập một cơ chế siêu quốc gia dễ dàng hơn nhiều so với bối cảnh của ASEAN đầu những năm 90 khi mọi quan hệ quốc tế đều đang mở bung ra và xu thế chủ đạo của mọi quốc gia là đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ để không bị lệ thuộc vào một mối quan hệ nào.

Thời gian ra đời của EU và ASEAN tuy cách nhau gần 2 thập kỷ, nhưng cả hai tổ chức này đều chịu ảnh hưởng và sự chi phối mạnh mẽ của trật tự thế giới hai cực dưới thời Chiến tranh lạnh. Điểm khác biệt sâu xa dẫn đến sự ra đời của EU chính là sự chín muồi của thời điểm biến ý tưởng và nguyện vọng thống nhất châu Âu thành hiện thực. Chính vì vậy mà trong hơn nửa thế kỷ tồn tại, EU luôn bộc lộ xu hướng phát triển chung là ngày càng thu hẹp tính chất là một tập hợp các quốc gia dân tộc có chủ quyền. Có lẽ đây là điểm khác biệt cơ bản nhất quy định mọi sự khác nhau giữa mô hình EU và ASEAN

Thứ hai, trong môi trường toàn cầu hóa phát triển mạnh đầu những năm 90, khi quá trình liên kết ASEAN bắt đầu, ASEAN cũng không thể chọn con đường hướng nội mạnh mẽ như các nước EU lúc khởi đầu quá trình liên kết và xây dựng thị trường chung châu Âu, do đa số các nền kinh tế ASEAN lúc đó đều phải hướng ngoại mạnh để phát triển. Với đặc thù “hướng ngoại” này, ASEAN không thể có động lực chính trị đủ mạnh để tạo ra sự liên kết chính trị mạnh như EU vào những năm 50-60.

Thứ ba, ở Đông Nam Á không có các cường quốc lớn như Pháp và Đức ở châu Âu để làm trụ cột cho các liên kết. Các nước Đông Nam Á đều là những nước vừa và nhỏ, hoặc trình độ phát triển kinh tế còn thấp, hoặc quy mô kinh tế quá nhỏ, không thể đóng vai trò trụ cột cho liên kết, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế.

Thứ tư, các nước ASEAN có trình độ phát triển khác nhau, các chính sách được hình thành xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau như thể chế chính trị, hoàn cảnh lịch sử, yếu tố văn hóa…. Trình độ phát triển của các nước Đông Nam Á quá chênh lệch, khoảng cách giữa nước giàu nhất và nghèo nhất ASEAN (các nước Singapore và Brunei có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm các nước hàng đầu thế giới, trong khi những nước như Lào, Myanma có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới), trong khi ở EU không có quá nhiều sự chênh lệch trong trình độ phát triển giữa các nước.

Thứ năm, các quốc gia Đông Nam Á ngoại trừ Thái Lan đều mới giành độc lập sau thế chiến thứ 2, về cơ bản là các quốc gia non trẻ, đang trong quá trình dựng nước và đặt nặng vấn đề chủ quyền quốc gia. Với các quốc gia này, các chuẩn mực quan hệ quốc tế cơ bản vẫn là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau v.v… trong khi các nước Châu Âu đã có hơn 400 năm áp dụng các chuẩn mực đó và đã sẵn sàng hơn trong việc xây dựng các chuẩn mực mới.

Thứ sáu, trong khi các nước EU tương đối đồng nhất và gần gũi về sắc tộc, về văn hóa, tôn giáo, thể chế chính trị và mô hình phát triển kinh tế, ASEAN lại có nhiều khác biệt rất sâu sắc về các nền tảng giá trị và chuẩn mực đó, khiến cho việc tìm ra các chuẩn mực giá trị chung để liên kết sâu hơn trong ASEAN còn gặp nhiều khó khăn.

Đặc điểm chính của ASEAN là một tổ chức liên chính phủ, không phải là một tổ chức siêu quốc gia có quyền lực bao trùm lên chủ quyền của các nước thành viên. Mọi quyết định của ASEAN đều có sự tham gia đóng góp của các nước thành viên. Đặc điểm này làm ASEAN khác nhiều tổ chức khu vực khác như Liên minh châu Âu (EU), Liên minh châu Phi (AU), hay Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS), là các tổ chức khu vực vừa có thành tố hợp tác liên chính phủ, vừa tạo ra các thể chế siêu quốc gia có thể ra phán quyết buộc các nước thành viên phải tuân thủ.

Một đặc điểm nổi trội nữa của ASEAN là sự đa dạng về mọi mặt của các nước thành viên. Các nước thành viên ASEAN rất khác nhau về lịch sử, nguồn gốc dân tộc và sắc tộc, về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế. Các nước ASEAN có sự ưu tiên an ninh và kinh tế khác nhau. Đặc điểm này tạo nên sự phong phú, đa dạng của Cộng đồng ASEAN, song cũng gây không ít khó khăn trong quá trình hợp tác giữa các nước ASEAN với nhau. So với EU, tuy các quốc gia châu Âu cũng có bản sắc phong phú và đa dạng về nhiều mặt, song lại khá gần gũi về mặt sắc tộc, lịch sử, tôn giáo và văn hóa, có thể chế chính trị cơ bản giống nhau và không chênh lênh nhau nhiều về trình độ phát triển. Các nước EU cũng cơ bản chia sẻ các giá trị, tầm nhìn và định hướng phát triển cũng như về các thách thức chung của khu vực.

Bên cạnh đó, cần chỉ ra rằng chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á, mà hợp tác ASEAN là một biểu hiện, cũng còn khá non trẻ. Trong khi sự phát triển và suy tàn của các đế chế ở châu Âu với tầm ảnh hưởng bao trùm rộng lớn đã góp phần tạo điều kiện cho các dân tộc ở châu Âu có sự giao thoa, hình thành bản sắc riêng của châu lục thì tại Đông Nam Á, sự chia rẽ về mặt địa lý, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực, của các đế quốc trong giai đoạn thuộc địa và ảnh hưởng của Chiến tranh Lạnh, khiến các dân tộc Đông Nam Á phần nào bị chia rẽ, ít giao lưu và hiểu biết về nhau hơn, đặc biệt so với EU.

Asean Và Eu: Hai Con Đường Khác Biệt Dẫn Tới Việc Thành Lập Cộng Đồng

ASEAN và EU là hai hình mẫu hội nhập khu vực nổi bật nhất hiện nay. Cả ASEAN và EU đều đang đối mặt với những thách thức chung trong thế kỷ 21 và có thể học hỏi từ kinh nghiệm của nhau để giải quyết hiệu quả hơn những thách thức ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Sự hình thành Cộng đồng ASEAN trên thực tế không nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận bởi Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ trước tới nay luôn bị đem ra so sánh một cách thiếu công bằng với Liên minh châu Âu (EU). Hai khối có những dự án và chương trình hội nhập hoàn toàn khác biệt, song đều có thể được coi là hình mẫu cho mục tiêu xây dựng cộng đồng.

Tại hội nghị thượng đỉnh thường niên ngày 22/11, các nhà lãnh đạo ASEAN đã chính thức tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN (viết tắt là AC). Đây là cột mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của ASEAN, song lại nhận được sự thờ ơ của dư luận, thậm chí là ngay tại chính các nước thành viên. Các học giả đặt câu hỏi: Liệu ASEAN đã thực sự trở thành một khối gắn kết hay chưa? Họ đã so sánh hiệp hội này với EU. Phần lớn đều thất vọng khi mức độ hội nhập của ASEAN không thể sánh bằng liên minh gồm 28 thành viên ở châu Âu. ASEAN không có bất kỳ cơ quan nào tương tự Quốc hội châu Âu hay Tòa án Công lý châu Âu. Các nhà hoạt động xã hội chỉ ra rằng nhiều người dân ở các nước thành viên ASEAN thậm chí còn không biết về quá trình thành lập cộng đồng hoặc không hề nhận thức được lợi ích từ AC.

Trong khi đó, các doanh nghiệp cho rằng hoạt động thương mại và đầu tư tại Đông Nam Á vẫn còn nhiều trở ngại, nhất là do các phí tổn không đáng có nảy sinh trong quá trình kinh doanh. Nhiều lao động lành nghề không được tạo điều kiện để di chuyển hay làm việc tại các quốc gia khác nhau như ở EU. Các chiến lược gia chính trị còn không chắc chắn về việc AC có thể đảm bảo hòa bình và ổn định khu vực. Còn các nhà kinh tế vẫn đang tranh luận về các tác động của AC đối với sự năng động và tăng trưởng của châu Á. Đây chính là những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới các nỗ lực xây dựng cộng đồng của ASEAN.

Những thành tựu về hội nhập của EU có thể là bài học đáng quý, song đó không phải hình mẫu xây dựng cộng đồng của ASEAN. ASEAN là một cấu trúc liên quốc gia, khác hoàn toàn với cấu trúc siêu quốc gia của EU. Bởi vậy việc so sánh ASEAN với EU là điều không hề thỏa đáng. Mặc dù AC vẫn đang trong quá trình xây dựng song các nước thành viên đều cam kết thúc đẩy lộ trình này theo cách riêng của mình. Được gọi với cái tên “Phương thức ASEAN”, các quyết định dựa trên cơ sở cùng đồng thuận được tiến hành với nhịp độ phù hợp với tất cả các nước thành viên và theo nguyên tắc không can dự công việc nội bộ của lẫn nhau, linh hoạt trong việc triển khai các thỏa thuận chung và lấy đó làm nguyên tắc chỉ đạo. Sẽ không công bằng nếu nói ASEAN là một cơ chế khu vực thiếu hiệu quả và không đáp ứng được nguyện vọng của người dân các nước Đông Nam Á. Xét trên bình diện khu vực, các biện pháp trừng phạt và can thiệp là không hiệu quả. Thay vào đó, các nước Đông Nam Á lựa chọn cách thuyết phục, hợp tác và phối hợp để đạt được các kết quả tích cực, dù điều này cần nhiều thời gian hơn.

Quan điểm khác biệt

Có thể nói, ASEAN và EU là hai hình mẫu hội nhập khu vực nổi bật nhất hiện nay. Tuy nhiên, cả ASEAN và EU đều được xây dựng trên những bối cảnh khác nhau, có tầm nhìn và nhiệm vụ khác nhau. Sự hội nhập châu Âu, diễn ra sau hai cuộc Chiến tranh Thế giới và trong bối cảnh xuất hiện nhiều sự chia rẽ sâu sắc về mặt tư tưởng do hậu quả để lại của Chiến tranh Lạnh, đi theo xu hướng xây dựng thể chế và thiết lập các nguyên tắc chung để giảm tới mức tối thiểu tính chủ quyền, từ đó tăng cường hội nhập. Việc xóa nhòa ranh giới chủ quyền là một chiến lược nhằm giảm thiểu các nguy cơ xâm lược và xung đột chính trị từng diễn ra trong hai cuộc đại chiến thế giới. Hội nhập trên toàn châu Âu đem đến một môi trường an ninh hơn, giúp các quốc gia duy trì hòa bình và phát triển bền vững.

Trong khi đó, bối cảnh lịch sử của Đông Nam Á lại hoàn toàn khác. Nhiều nước thành viên ASEAN đều khá “trẻ” nếu xét về thời gian chính thức trở thành nhà nước độc lập, và bởi vậy họ coi chủ quyền là điều tối quan trọng cần phải bảo vệ nghiêm ngặt. Việc xây dựng các thể chế khu vực vẫn là một khái niệm mới mẻ. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và sự phát triển về công nghệ đã thúc đẩy nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia lân cận và ASEAN đã rất nhanh chóng thích ứng được với các thay đổi từ động lực phát triển trên toàn thế giới. ASEAN đã triển khai những kế hoạch phối hợp mang tính chiến lược để gắn kết các nền kinh tế và hệ thống xã hội ở các nước thành viên để đảm bảo hòa bình và phát triển.

Những mối liên kết trọng yếu

Tuy có nhiều khác biệt song trong nhiều năm qua, ASEAN và EU đã rất tích cực đầu tư và củng cố các mối quan hệ chính trị, kinh tế và văn hóa. Hợp tác và phối hợp đã giúp hai bên tăng cường hỗ trợ lẫn nhau, tiến hành trao đổi quan điểm và sáng kiến đôi bên cùng có lợi. Có rất nhiều thành tựu có thể kể đến trong mối quan hệ ASEAN-EU thời gian qua. EU hiện là đối tác thương mại ngoại khối lớn thứ hai của ASEAN, với kim ngạch năm 2014 là 240 tỷ USD – chiếm 10% khối lượng thương mại của ASEAN. Trong giai đoạn 2012-2014, ASEAN cũng là nhà đầu tư lớn nhất vào EU với tổng giá trị ước tính là 56 tỷ USD, và chỉ tính riêng trong năm 2014 là 29 tỷ USD, chiếm tới 22% dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-EU vẫn đang trong quá trình đàm phán song hứa hẹn nhiều tín hiệu tích cực. EU đã hoàn tất đàm phán với một số nước thành viên và đang xúc tiến với các nước còn lại. Bên cạnh đó, hợp tác giữa hai khối trong lĩnh vực hàng không cũng có nhiều thành tựu đáng chú ý.

Thách thức chung

Quan hệ giữa các nước ASEAN và EU không chỉ tồn tại trong lĩnh vực thương mại và kinh doanh. Trên bình diện văn hóa xã hội, hai bên cũng có nhiều dự án phối hợp. Nghệ thuật, đa dạng sinh học, giáo dục, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai và khoa học công nghệ là nhiều trong số những lĩnh vực hai bên đã, đang và sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác. Những nền tảng này đã góp phần thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân, tạo tiền đề vững chắc cho sự kết nối ASEAN-EU. Có thể nói thông qua hợp tác và phối hợp các văn bản lập quy trong nhiều lĩnh vực hứa hẹn, ASEAN và EU có thể thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xây dựng lòng tin và thấu hiểu lẫn nhau để củng cố quan hệ song phương.

Việc so sánh giữa ASEAN và EU, hai cơ chế đại diện cho hội nhập khu vực, là điều khó tránh. Tuy nhiên, mọi so sánh đều là khập khiễng bởi hai khối đều được xây dựng trong những bối cảnh khác nhau, có nền tảng khác biệt và hướng tới những mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, cả ASEAN và EU đều đang đối mặt với những thách thức chung trong thế kỷ 21 và cả hai đều có thể học hỏi từ kinh nghiệm của nhau để giải quyết hiệu quả hơn những thách thức ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Theo “Rsis” Vũ Hiền (gt)

Sự Khác Biệt Giữa Is Và Al

Vì hoàn cảnh ra đời và mục tiêu của IS khác so với Al-Qaeda, cách thức hoạt động của chúng, do vậy, cũng hoàn toàn khác nhau. Đó là lý do tại sao chiến lược chống khủng bố của Mỹ vốn được xây dựng để đối phó với Al-Qaeda đã không phù hợp với kẻ thù mới là IS.

Sau sự kiện 11/9, Mỹ đã chi hàng nghìn tỷ đôla xây dựng cơ sở hạ tầng tình báo, thực thi pháp luật và chiến dịch quân sự nhằm vào Al-Qaeda và các phân nhánh của mạng lưới này trên khắp thế giới. Theo điều tra năm 2010 của tờ “Bưu điện Washington”, Mỹ đã lập mới hoặc tái tổ chức khoảng 263 cơ quan chính phủ, trong đó có Bộ An ninh nội địa, Trung tâm chống khủng bố quốc gia và Cơ quan an ninh vận tải.

Chiến lược UAV và đột kích của Mỹ phát huy hiệu quả khi tiêu diệt 75% giới chóp bu Al-Qaeda.

Mỗi năm, tình báo Mỹ thực hiện 50.000 báo cáo về chủ nghĩa khủng bố và có tới 51 cơ quan liên bang, bộ chỉ huy quân sự theo dấu dòng tiền đi và đến các mạng lưới khủng bố. Cơ cấu này đã giúp hạn chế phần lớn các vụ tấn công khủng bố trên đất Mỹ. Hay nói cách khác, hệ thống chống khủng bố này của Mỹ đã hoạt động hiệu quả, nhưng đối với IS lại là một câu chuyện khác.

Đầu tiên, hãy đánh giá về chiến dịch quân sự và tình báo mà Mỹ triển khai để bắt và tiêu diệt các thủ lĩnh của Al-Qaeda qua các cuộc không kích của máy bay không người lái và các vụ đột kích của lực lượng đặc nhiệm. Khoảng 75% các nhân vật chóp bu của Al-Qaeda đã bị tiêu diệt bởi đặc nhiệm Mỹ và máy bay không người lái. Công nghệ này rất phù hợp với các mục tiêu lẩn trốn ở các vùng hẻo lánh, nơi nguy cơ giết nhầm dân thường thấp.

Nhưng chiến thuật này lại tỏ ra không hiệu quả với IS. Các tay súng và giới chóp bu IS hoạt động ở khu vực đô thị, chúng thường lẩn trốn vào trong dân và nằm giữa các tòa nhà khiến máy bay không người lái và lính đặc nhiệm khó mà thực hiện được nhiệm vụ. Ngoài ra, việc chỉ tiêu diệt các thủ lĩnh IS không khiến tổ chức này bị suy yếu đáng kể. Đứng đầu Bộ Chỉ huy quân sự của IS là ban điều hành gồm Baghdadi và hai cấp phó – hai tên này từng là tướng lĩnh trong quân đội Iraq dưới thời Tổng thống Saddam Hussein. Đó là Abu Ali al-Anbari, phụ trách các chiến dịch của IS ở Syria và Abu Muslim al-Turkmani, kiểm soát các hoạt động quân sự tại Iraq.

Tổ chức hành chính dân sự của IS do 12 nhân viên hành chính giám sát, chịu trách nhiệm cai quản các vùng lãnh thổ ở Iraq và Syria và giám sát các hội đồng tài chính, truyền thông, tôn giáo… Mặc dù không hoàn hảo như mô tả trong các video tuyên truyền, nhưng “Nhà nước IS” vẫn có thể vận hành khá trơn tru mà không cần Baghdadi hay các cấp phó của hắn.

IS cũng đặt ra một thách thức khác đối với các chiến thuật chống khủng bố của Mỹ vốn vẫn nhắm vào nguồn tài chính, chiến dịch tuyên truyền và hoạt động tuyển mộ của lực lượng thánh chiến. Một trong những thành công ấn tượng nhất của chiến lược chống khủng bố của Mỹ đó là cắt được nguồn cấp tài chính cho Al-Qeada. Ngay sau vụ 11/9, FBI và CIA, rồi sau có thêm Bộ Quốc phòng đã bắt đầu phối hợp chặt chẽ với nhau trong lĩnh vực tình báo tài chính. Trong cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, các nhân viên FBI dưới vỏ bọc nhân viên quân sự Mỹ đã thẩm vấn các nghi can khủng bố bị giam giữ tại nhà tù Guantanamo, Cuba.

Từ đầu năm 2012, IS đã dần chiếm giữ những mỏ dầu chủ chốt ở đông Syria, và nay đã kiểm soát được 60% năng lực sản xuất dầu mỏ tại quốc gia này. Trong khi đó, trong chiến dịch tấn công tại Iraq mùa hè vừa qua, IS cũng đã chiếm được 7 cơ sở sản xuất dầu. Nhóm này đang bán dầu khai thác được ra thị trường chợ đen ở Iraq và Syria. IS cũng xuất lậu dầu mỏ sang Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ, nơi chúng đã tìm được nhiều khách hàng sẵn sàng mua món “vàng đen” này với giá thấp hơn giá thị trường. Ước tính, IS thu nhập từ 1 – 3 triệu USD mỗi ngày từ việc buôn dầu mỏ.

IS không chỉ thu lợi từ dầu mỏ. Hồi tháng 6, khi IS chiếm được thành phố Mosul, miền Bắc Iraq, chúng đã cướp được không ít của cải từ ngân hàng Trung ương của tỉnh cùng tên và nhiều ngân hàng nhỏ khác. Chúng còn bán rất nhiều cổ vật có giá trị ra chợ đen. Chúng lấy đồ trang sức, xe hơi, máy móc và cả thú nuôi từ người dân địa phương. Việc kiểm soát một số tuyến đường huyết mạch ở tây Iraq cho phép IS thu được một nguồn tiền ổn định từ việc vận chuyển hàng hóa và phí cầu đường. Chúng còn có được nguồn thu từ các cánh đồng trồng bông và lúa mì ở Raqqa, vựa lúa của Syria.

Kỳ 3: Tình dục và những chiến binh thánh chiến cô đơn

Sự Khác Biệt Giữa Const Và Constexpr

Nhắc lại về const

Từ khóa const (constant – hằng) là từ khóa để chỉ định một biến hay đối tượng là hằng, tức là không thay đổi được giá trị, mọi hành động thay đổi giá trị của hằng đều được compiler báo lỗi. Mục đích của const để tăng ràng buộc khi 1 biến thay đổi sẽ gây ra các hiệu ứng phụ cho chương trình.

Ví dụ khi truyền tham số dạng tham chiếu đường dẫn file vào hàm lấy nội dung của file, mục đích của hàm này chỉ sử dụng nội dung từ đường dẫn để lấy được nội dung file, nếu không ràng buộc const có thể dẫn đến các sơ sót do vô ý thay đổi giá trị đường dẫn và có thể trong chương trình có 1 đoạn mã cần sử dụng lại giá trị này nhưng không còn đúng nữa.

const được dùng trong các trường hợp đối tượng là biến tham trị, biến tham chiếu và tham số của hàm.

int main() { const int x = 7; int y = 8; const int &A = y; int z = 9; int *const p = &x; return 0; } void printName(const char * ID) { }

Bài viết không đi sâu vào phân tích const, nếu cần chi tiết hơn có thể xem bài Thao Tác Với Constant trong C++.

Khái niệm constexpr

constexpr được giới thiệu ở C++11 có chức năng yêu cầu trình biên dịch tính toán hàm hoặc biến tại thời điểm biên dịch. Các biến và hàm này được quy đổi thành 1 giá trị cố định khi biên dịch nên giảm được thời gian thực thi.

constexpr variable

Khi khai báo một biến constexpr và const cũng được hiểu là không thể thay đổi giá trị, nhưng khác là constexpr phải đủ điều kiện để tính toán được trong thời điểm biên dịch, còn const sẽ thuộc thời gian thực thi. Muốn sử dụng constexpr cần phải tuân theo những quy định sau:

Kiểu của biến được thể hiện phải là LiteralType.

Nó cần được khởi tạo ngay tại thời điểm định nghĩa biến.

constexpr int a = 2;

constexpr function

Khi khai báo 1 hàm là constexpr function, hàm này phải thỏa các điều kiện:

Nó không phải là virtual function.

Kiểu trả về của hàm phải là LiteralType.

Các biến tham số của hàm phải là LiteralType.

constexpr int add(int a, int b) { return a + b; }

constexpr và thời gian biên dịch

Điều quan trọng nhất của constexpr là biểu thức được tính tại thời gian biên dịch:

{ return a.size() + b.size(); }

Như đã làm với hàm add phía trên, chuyển hàm add_vectors_size về dạng constexpr:

{ return a.size() + b.size(); }

Tuy nhiên, cách làm này là không chính xác, vì tại thời điểm biên dịch, tham số truyền vào là 2 vector, trình biên dịch sẽ không biết kích thước của 2 vector đó, vậy nên hàm này không tính trước được.

Đối với một ví dụ khác:

{ return a.size() + b.size(); }

Hàm này lại có thể hoàn toàn thực hiện được, do tại thời điểm biên dịch, trình biên dịch biết được kích thước của hai mảng a và b.

Lời kết

Trong lịch sử phát triển của C++, những lập trình viên hỗ trợ xây dựng lên C++ ngày càng hoàn thiện hơn, cải tiến tốc độ biên dịch là yếu tố rất được quan tâm đến. Từ đó qua các thế hệ C++ tiêu biểu như C++98, C++11, C++14 và tiếp đến là C++17, xuất hiện nhiều hơn các từ khóa mới, khái niệm mới nhầm tối ưu hóa tốc độ và bộ nhớ song song với khả năng phát triển phần mềm tiện lợi, việc của lập trình viên là tiếp tục cập nhật những cải tiến này.