Đối Sánh Làng Việt Bắc Bộ Và Làng Việt Nam Bộ

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Nghị Luận Xã Hội: Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt ……….
  • Giá Trị Bản Thân Làm Nên Sự Khác Biệt
  • Viết Một Đoạn Văn (Khoảng 200 Chữ) Trình Bày Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Của Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống.
  • Nghị Luận Xã Hội Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống
  • Tâm Sinh Lý Nam Nữ: Khác Biệt Và Bổ Túc
  • 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, làng luôn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Làng có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người dân Việt Nam nói riêng. Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt. Đó là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập nhưng không tách rời môi trường trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa. Làng Việt phát triển phong phú, đa dạng: làng Việt Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ và mỗi vùng lại có những tiểu vùng riêng mà ở đó các làng Việt vừa chứa đựng những đặc điểm giống nhau đồng thời lại ẩn chứa nét riêng.

    2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Do các điều kiện, nhân tố khác nhau nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn lịch sử, ở các vùng, tiểu vùng là khác nhau. Trong bài nghiên cứu này, tác giả xin đề cập những đặc trưng nổi bật nhất nhằm nhận diện, khu biệt làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ.

    2.1. Tuổi đời của làng

    Làng Việt Bắc Bộ có lịch sử tồn tại lâu đời. Cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất Bắc đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là công xã nông thôn. Đây chính là quá trình hình thành làng Việt. Mỗi làng bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định. Và ở đây, bên cạnh quan hệ địa lý – quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống được bảo tồn và củng cố đã tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ rất đặc trưng cho làng của người Việt ở Bắc Bộ.

    So với làng Việt Bắc Bộ, tuổi đời của làng Việt Nam Bộ ít hơn rất nhiều. Làng Việt ở Nam Bộ mới chỉ khoảng ba trăm tuổi, được tạo lập từ khi người Việt tới khai phá trong quá trình Nam tiến, mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền. Người Việt đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVII, nhưng lúc đó chưa đủ điều kiện để hình thành làng. Đến giai đoạn sau, nhất là khi Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào thiết lập bộ máy hành chính ở Đồng Nai – Gia Định (1698) thì việc hình thành làng Việt mới có những điều kiện thuận lợi. Làng Việt Nam Bộ ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đã phong kiến hóa mạnh mẽ, do đó có khác biệt so với làng Bắc Bộ. Ở Nam Bộ, không làng Việt nào có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Làng Việt Nam Bộ được hình thành trong quá trình khai phá nên rất nhiều làng có nguồn gốc là các đồn điền.

    Có thể thấy làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ ra đời sớm hơn làng Việt Nam Bộ rất nhiều. Một bên là lịch sử tồn tại hàng nghìn năm còn một bên là làng Việt trên mảnh đất mới Nam Bộ mới chỉ tầm 300 năm tuổi.

    2.2. Nguồn gốc hình thành và cách đặt tên làng

    Đi liền với tuổi làng là khác biệt về sự hình thành và cách đặt tên làng.

    Trước hết là làng Việt Bắc Bộ, làng được hình thành theo 3 cách: Thứ nhất, tan rã từ xã hội nguyên thủy; thứ hai hình thành từ việc định cư của một dòng họ, thứ ba là do vai trò của nhà nước. Rât nhiều làng Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Các làng này vẫn mang nặng những tàn dư nguyên thủy với bộ phận đất công không nhỏ. Bên cạnh đó là sự hiện diện của các làng Việt từ việc khai khẩn của một hoặc nhiều dòng họ. Dân cư của một làng thường phát triển bởi sự tăng lên của các thành viên trong dòng họ. Theo thống kê ở miền Bắc có tới 192 họ đã được đặt tên cho làng. Trong đó hầu hết các trường hợp lấy tên họ đặt tên làng, mỗi tên một dòng họ thường chỉ dùng đặt tên cho một làng. Riêng họ Nguyễn được dùng để đặt đặt tên cho gần 50 làng. Cũng có những trường hợp tên làng do hai họ kết hợp lại để hình thành như làng Đoàn – Đào Hưng Yên là sự kết hợp của hai dòng h Chính cách tổ chức làng như vậy đã tạo nên những ốc đảo, khu vực không gian cư trú riêng của mỗi làng. Và từ đặc điểm cư trú đó kéo theo hoạt động kinh tế khá khép kín, khác biệt văn hóa làng tại đồng bằng châu thổ sông Cửu Long.

    Đối với làng Việt Nam Bộ có các hình thái cư trú ven sông rạch, hình thái cư trú dọc kênh đào, hình thái cư trú tập trung nhưng lại cư trú trên diện rộng. Nói một cách khác, làng Nam Bộ được phân bố theo dạng kéo dài, “dọc tia tỏa tuyến”, lấy kênh mương hay đường giao thông làm trục. Làng Nam Bộ kéo dài nên không có lũy tre bao quanh, không thành một quần thể khu biệt với các làng khác như làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Và do cư trú trong không gian mở với ưu đãi của thiên nhiên nên làng Việt Nam Bộ dễ biến đổi dân số hơn đồng thời người dân không có thói quen tích trữ, phòng cơ mà luôn gắn bó với thị trường, tạo nên nền kinh tế hàng hóa. Người Nam Bộ yêu thích buôn bán, họ mở rộng giao lưu với tất cả các vùng, trở thành đầu mối giao dịch với các nơi trên thế giới. Sự phát triển kinh tế hàng hóa tạo cho làng Việt Nam Bộ một diện mạo năng động. Đặc trưng này cùng với tính chất không khép kín khiến người nông dân trên đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện vươn ra những chân trời mới, rộng mở mà không bị bó buộc trong lũy tre làng như người dân Bắc Bộ.

    2.4. Cơ cấu tổ chức làng

    Trong cơ cấu tổ chức làng Việt Bắc Bộ có nét khác với làng Việt Nam Bộ đó là có sự hiện diện của cả tổ chức quan phương và cả tổ chức phi quan phương. Các tổ chức quan phương do Nhà nước đặt lên các làng, theo những quy định chung và có sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ theo tổ chức và nhiệm vụ quản lý. Thông qua các tổ chức ở mỗi làng, Nhà nước thể hiện quyền lực đến các công dân của mình. Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, nó ẩn trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của từng loại tổ chức. Làng Việt Bắc Bộ gồm đầy đủ các kiểu tập hợp theo khu vực như đường dong, ngõ xóm, theo mục tiêu văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng… hay các tập hợp theo mục tiêu kinh tế như: hội cấy, hội cày, hội buôn, phường hội thủ công… Các hội này có mục tiêu và nội dung riêng nhưng trong thực tế đã hòa quyện vào nhau, chồng xếp lên nhau tạo thành những sợi dây chằng chịt, ràng buộc người nông dân trong làng xã. Trong làng, người nông dân không chỉ tồn tại với tư cách công dân của đất nước mà còn đảm nhiệm tư cách là thành viên của một gia đình, một dòng họ, một cộng đồng làng.

    Ở các làng Việt Nam Bộ, các tổ chức phi quan phương không có điều kiện phát triển, nếu có cũng thể hiện rất yếu ớt. Bởi lẽ đó là các làng khai phá, các thành viên được tập hợp từ các nơi khác nhau nên mối quan hệ thân tộc không có cơ sở thể hiện. Một thực tế là không làng Nam Bộ nào có giáp. Ở làng Nam Bộ ta có thể gặp một tổ chức là họ. Tuy nhiên sự tập hợp người theo huyết thống này không có tính cố kết chặt chẽ như ở đồng bằng sông Hồng. Nếu như ở Bắc Bộ, tổ chức họ được khẳng định bằng việc thờ phụng tổ tiên, có quy ước cho mọi thành viên, có nhà thờ họ thì ở Nam Bộ cũng hình thái thờ phụng lại chủ yếu là hoạt động trong từng gia đình nhỏ.

    Điều đặc biệt tạo nên sự khác biệt lớn là làng Việt Bắc Bộ là sự vận hành của hương ước. Hầu hết các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước. Hương ước của từng làng tác động trực tiếp đến các thành viên của làng. Còn đối với làng Việt Nam Bộ thì không có hương ước, các làng ngay từ khi hình thành đã chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước.

    Như vậy, xét trên phương diện quản lý, sự ràng buộc các thành viên ở các làng Việt Bắc Bộ chặt chẽ hơn so với các làng Việt Nam Bộ. Đồng thời làng Việt Bắc Bộ lại nhiều lệ làng, ít cởi mở, năng động so với làng Việt Bắc Bộ.

    3. KẾT LUẬN

    Có thể nói, làng Việt Bắc Bộ hình thành lâu đời, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, khép kín, bền vững trên cơ sở liên kết nhiều tổ chức mà mỗi tổ chức đều có ảnh hưởng đến từng thành viên trong làng. Người nông dân sống gắn bó chặt chẽ với xóm giềng, họ tộc, gia đình, làng nước. Còn làng Việt ở Nam Bô là làng khai phá, tuổi đời còn trẻ, định cư kéo dài trên diện rộng nên thiếu chất kết dính đồng thời do sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá nên phóng khoáng và năng động hơn.

    Đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ thể hiện cho hai vùng văn hóa lớn ở Việt Nam: vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ vốn chứa đựng những nét văn hóa độc đáo, đa dạng nhưng vẫn nằm trong thể thống nhất là văn hóa Việt Nam. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn…; cả làng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ đều biến đổi không ngừng, mau lẹ. Đó là một quy luật tất yếu, phù hợp với sự phát triển, giao lưu, hội nhập của văn hóa Việt, đất nước và con người Việt.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ngô Văn Lệ, 2/5/2012, Làng và quan hệ dòng họ người Việt ở Nam Bộ, nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2206-ngo-van-le-lang-va-quan-he-dong-ho-cua-nguoi-viet-nam-bo.html.

    2. Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiệu), 2003, Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

    3. Nguyễn Quang Ngọc, 2009, Một số vấn đề làng xã Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

    4. GS. TSKH Trần Ngọc Thêm, 30/11/2011, Văn hóa làng Việt Nam hôm qua và hôm nay, nguồn: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/doi-song-van-hoa/item/13594002-.html.

    Bài đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, số 36 (4/2015), tr 73-78)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Hội Chứng Tiền Kinh Nguyệt Và Dấu Hiệu Mang Thai
  • Dấu Hiệu Mang Thai Khác Với Kỳ Kinh Nguyệt Như Thế Nào?
  • Gốc Và Nghĩa Của Các Từ Khoa Học, Công Nghệ, Và Kỹ Thuật
  • Ngành Khoa Học Máy Tính & Công Nghệ Thông Tin
  • Sự Khác Biệt Giữa Lớp Trừu Tượng Abstract Và Giao Diện Interface
  • Tính Cách Con Người Qua Văn Hóa Làng Bắc Bộ Và Làng Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Cấu Trúc Để Nói Khả Năng Và Đưa Ra Dự Đoán
  • Cấu Trúc Would You Mind/ Do You Mind Trong Tiếng Anh
  • Những Điểm Khác Nhau Cơ Bản Giữa Khiếu Nại, Tố Cáo Và Phản Ánh, Kiến Nghị
  • Lò Vi Sóng Và Lò Nướng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Chấp Nhận Sự Khác Biệt, Những Mảnh Ghép Cuộc Đời
  • Để làm nổi bật tính cách người miền Trung nói riêng và miền Bắc nói chung, mình sẽ lấy văn hóa LÀNG BẮC BỘ so sánh với LÀNG NAM BỘ.

    Bài viết này khám phá đặc điểm nổi bật của làng Bắc Bộ và làng Nam bộ và tư duy lại tính cách từ nguồn gốc văn hóa và biến cố lịch sử dựa trên nhiều nguồn tư liệu nên không có số liệu tỉ mỉ, chỉ để tham khảo. Mong các bạn hiểu tại sao có sự khác nhau trong tính cách của người dân các vùng miền, hy vọng các bạn hiểu được do đâu người Trung – Bắc bộ lại có tính cách như vậy, để có cái nhìn hàn lâm hơn trong cư xử, và những bạn người Trung – Bắc bộ. Cần hiểu rằng, chúng ta không thay đổi được nơi mình sinh ra nhưng có thể thay đổi tư duy của mình và tính cách của mình bằng học thức và con đường, như 500 năm trước, Nguyễn Hoàng đã chọn Nam Tiến là con đường dung thân, tránh sự tranh giành nội bộ và tồn tại được 9 đời chúa, 13 đời vua.

    “Cam đất Việt ngọt nhưng đưa qua Ngô trồng thì chua, ấy là do thổ nhưỡng chứ đâu do giống”.

    Bạn đang xem: Tính cách con người qua văn hóa LÀNG BẮC BỘ và LÀNG NAM BỘ

    Làng bắc bộ

    Bắc bộ là vùng đất rừng núi chiếm phần lớn diện tích, có ranh giới với Trung Quốc nên trong phần lớn lịch sử đều chịu nạn Bắc xâm, địa hình và tính chính trị buộc họ phải sống gom lại thành từng làng để tự bảo vệ, đoàn kết chống giặc và thuận lợi cho việc tập trung người, lương thảo, meeting…

    Có câu “Luật vua thua lệ làng” bởi lẽ vua thì xa, luật vua khó mà đến được ngóc ngách cuộc sống, trong làng các trưởng làng và người già đặt các điều lệ để thưởng phạt chế định khi có việc cần dùng tới, nổi tiếng như “cạo đầu bôi vôi”,”bỏ rọ heo thả trôi sông”,”phạt vạ”… tính quan liêu, quan quyền phát sinh một phần từ đó khi ai cũng muốn làm quan để oai, đi có kiệu đứng có lọng, để được quyền thưởng phạt, họ hàng vinh hiển và đặc biệt là không “đói”.

    Làng Bắc Bộ

    Làng Nam Bộ

    Gần như tương phản với Bắc Bộ, Nam bộ là vùng đất mới được dung dưỡng bởi phù sa sông nước, đồi núi rất hiếm, cây ăn trái, lúa nước và sản phẩm tự nhiên dồi dào nên trong lịch sử, Nam Bộ chưa từng bị nạn đói nào. Làng Nam Bộ hình thành dàn trải, không tập trung, mỗi gia đình một cánh đồng mênh mông, đi lại chủ yếu bằng đường thủy nên khó khăn trong việc tụ họp, chỉ có dịp chợ hay đám mới gặp nhau trọn vẹn, ngày thường ít khi nghe tiếng hàng xóm nên khao khát gặp gỡ, bởi thế mà chuyện trộm vặt ít khi xảy ra, thay vào đó là họ hay biếu quà nhà và hễ có người đến chơi thì thường “đãi sạch ruột”.

    Nam Bộ là nơi hòa hợp của nhiều tộc dân, Chăm, Khome, Hoa… nên tính cách rộng rãi, đồng cảm với dân tứ xứ bởi bản thân họ cũng là di dân, tị nạn…

    Đang hot: 3 điều nhất định bạn phải biết trước khi chọn mua Sofa da nhập khẩu từ Malaysia

    Chế lệ trong làng Nam Bộ không có gì nặng nề, tự làm tự ăn, Chúng ta hay xem phim Nam Bộ thấy cảnh ông bà Hội Đồng xưa gian ác, thực sự rất hiếm những người như vậy trong thực tế, do thời thế và nhu cầu chính trị nên những người thân Pháp bị tuyên truyền là chống dân… bởi Hội Đồng cũng từ những người nông dân quanh năm tay lấm, qua tích lũy mà nên, rồi họ cho mướn đất mướn ruộng lấy chút thóc làm lãi. Cũng bởi lẽ luật lệ họ không hà khắc nên mới ít nội loạn, đói khát, tính quan quyền thấp…

    Làng Nam Bộ

    Tính tích lũy và bạo lực

    Do thường xuyên phải đối mặt với ngoại xâm và thiên tai nên sự rủi ro bất ngờ là điều ăn sâu vào tiềm thức người Bắc bộ, họ sợ ngoại bang, luôn tiết kiệm và chịu khó. Từ khi chúa Nguyễn mở về phía Nam, hình thành nên sự phân tranh Trịnh-Nguyễn, thuế má dân Bắc bộ tương đối nặng nề vì đóng cho triều đình, đến thời Tây Sơn nổi dậy thì càng nặng hơn, nhất là việc đi lính, khiến cho lực lượng lao động chính thiếu hụt…

    Sau khi Nguyễn Ánh thống nhất và trở lại Kinh đô Phú Xuân tái thiết đât nước, nguồn cung ứng đều lấy chủ yếu từ Vùng Miền Trung bởi vì lúc bấy giờ giao thông chưa mạnh, chủ yếu đi đường biển nhưng tàu thuyền thời Nguyễn để vận chuyện từ Nam bộ đến kinh thành mất hàng tháng trời, không đáp ứng kịp thời nhu cầu,hơn nữa quãng đường xa thường đối mặt với cướp biển và thủy lưu, gió, sóng… Mật độ quan lại tập trung miền trung và bắc cao.

    Phan Văn Trung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Năng Lực Ask Trong Nhân Sự – Phân Biệt “Kiến Thức”, “Kỹ Năng” Và Khả Năng
  • Từ Điển Năng Lực
  • Kim Cương Và Than Chì Như Thế Nào
  • Câu Chuyện Về Than Chì Và Kim Cương…
  • So Sánh Iphone 11 Pro Khác Pro Max Ở Diềm Gì?
  • Những Nét Đặc Trưng Của Làng Quê Bắc Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bức Tranh Toàn Cảnh Về Văn Hóa Làng Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
  • Bài Tập Tự Luận 1,2,3,4,5 Trang 78 Sbt Sinh 8: Bài 1. Vì Sao Có Sự Khác Nhau Về Thành Phần Của Nước Tiểu Đầu Và Máu
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 354:2006 Về Tiêu Chuẩn Vật Liệu Nhũ Tương Nhựa Đường Gốc Axít
  • Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống
  • Phân Biệt Tình Bạn Với Tình Yêu?
  • (VOV5) – Làng ở đồng bằng Bắc Bộ tập hợp những người cùng huyết thống hay cùng phương kế sinh nhai sinh sống trên một địa bàn nhất định. Sự gắn bó giữa con người ở làng quê, không chỉ ở quan hệ sở hữu đất đai, những di sản kiến trúc chung của làng, mà còn là sự gắn kết cộng đồng trong đời sống tâm linh, duy trì nếp sống cùng các chuẩn mực xã hội.

    Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời, là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh của người Việt. Đây cũng là nơi bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, người dân sống hiền hòa với thiên nhiên, chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, nặng ân tình, tin vào nhân quả, coi trọng thứ bậc trong gia đình xã hội… Trên nền tảng điều kiện tự nhiên và xã hội đó, mà cảnh quan, nếp sống của cư dân ở các làng quê Bắc Bộ dần được hình thành. Cảnh quan của làng Bắc bộ thường có lũy tre, cổng làng, đường làng, nhà ở và các công trình tôn giáo như: đình, chùa, miếu, phủ…

    Làng Yên Lạc (xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội) hiện vẫn giữ được những nét bình yên của làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Cây đa chín gốc của làng nằm trước đình, ngay cạnh bến sông Tích Giang. – Ảnh: Báo Kinh tế đô thị

    Ở các làng quê Bắc bộ, hình ảnh cây đa cổ thụ tượng trưng cho sự trường tồn của thời gian, chứng kiến sự đổi thay của con người, của đất trời. Những cây đa thường được trồng ở đầu làng, cuối làng, giữa làng hay ở bên cạnh các di tích: đình, đền, chùa trong làng. Làng quê Bắc bộ có nhiều kiểu kiến trúc độc đáo như: những chiếc cầu ngói, cầu gạch, cầu xây bằng đá.. trước khi vào làng. Tuy nhiên, hình ảnh ấn tượng nhất chính là chiếc cổng làng. Cổng làng là bộ phận cấu thành không thể thiếu của làng quê cổ truyền vùng Bắc bộ. Cổng làng không chỉ là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, mà còn ẩn chứa trong đó giá trị văn hóa. Tên làng và những câu đối trang trí ở cổng làng là câu chuyện kể về nguồn gốc, nếp sống văn hóa lịch sử, niềm tự hào của dân làng. Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, cho biết: Cổng làng ra đời gắn liền với làng. Cổng làng từ thủa sơ khai ban đầu chỉ mang tính ước lệ, xác định ranh giới cho dân cư ra vào. Sau đó được vật thể hóa, xây dựng và khi kinh tế làng phát triển, trong làng hình thành các dòng họ những người nổi tiếng, danh gia vọng tộc, thì mới xuất hiện những cổng làng thật to, thật đẹp.”

    Đình làng là nét đặc trưng tiêu biểu nhất của làng quê Bắc Bộ. Đình làng là ngôi nhà chung to lớn, kiến trúc đẹp, trang trọng nhất làng. Đình làng thờ thành hoàng làng, người có công lập ấp mở mang nghề nghiệp chăm lo cho dân, hoặc có công đánh giặc giữ nước. Mỗi dịp lễ hội, dân làng tổ chức lễ rước kiệu sơn son thếp vàng trong tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc vang dội, diễn tả lại sự tích và công lao của Thành Hoàng. Lễ rước kiệu hội làng luôn tạo cảm xúc linh thiêng gắn bó đoàn kết trong cộng đồng. Đình làng chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê.

    Bên cạnh đình làng, hầu như làng nào cũng có chùa thờ Phật. Đã từ lâu, chùa gắn bó thân thiết trong đời sống tâm linh của dân làng. Chùa là nơi dân làng lễ bái, tu thân, trau dồi đức hạnh, để phúc đức lại cho con cháu. Thượng tọa Thích Tiến Đạt, trụ trì chùa Cự Đà, ngoại thành Hà Nội cho rằng: “Phật giáo đã được truyền vào Việt Nam từ lâu đời, do đó ở nơi nào có dân, có làng thì ở đó có chùa, có đình, miếu và nó trở thành thiết chế văn hóa không thể thiếu được của đồng bằng Bắc bộ. Ngôi chùa là nơi sinh hoạt tâm linh tín, ngưỡng, là nơi gửi gắm niềm tin, ước vọng của dân làng trong cuộc sống. Phật giáo với chủ trương từ bi và trí tuệ, hướng con người ta hướng tới chân, thiện, mỹ , do đó ngôi chùa là chỗ dựa tinh thần văn hóa của người dân.”

    Trong quần thể không gian kiến trúc của làng, giếng nước luôn được coi là chốn tâm linh. Bên giếng nước thường có miếu thờ thần. Vào ngày tuần hay dịp tế lễ, đình đám, dân làng đến đây đặt lễ cầu may và lấy nước buổi sớm ở giếng đem về thờ cúng.

    Ở các làng Bắc bộ còn nhiều trình tâm linh khác như: đền, phủ, miếu. Theo tín ngưỡng dân gian, đền, phủ để thờ Mẫu, thờ Thánh, Thần, người có công với làng, còn miếu thờ có quy mô nhỏ hơn, thờ thần bảo vệ các thôn xóm.

    Nhà ở trong làng truyền thống mang nhiều giá trị về kiến trúc và tổ chức không gian. Xung quanh nhà thường có hàng rào cây dâm bụt, trước nhà có hàng cây cau trước nhà và những cây chuối trồng sau nhà. Tùy từng gia đình mà những ngôi nhà được dựng lên theo kích cỡ khác nhau. Nhà khá giả thì làm 5-7 gian, nhà nào khó khăn thì làm 3 gian 2 chái. Các ngôi nhà quần tụ bên nhau thành các chòm xóm, có cổng ngõ liên thông với nhau tạo gắn kết tình làng nghĩa xóm.

    Mỗi làng đều có nghĩa địa riêng đặt ngoài làng. Một số làng có tục lệ chôn người chết ngay trên ruộng của gia đình, dòng họ. Người dân coi trọng khu vực này và rất chú trọng phong thủy của phần mộ.

    Từ bao đời nay, hình ảnh làng truyền thống đã in sâu vào tâm trí, gắn bó với tâm hồn nhiều thế hệ người dân nước Việt. Cho dù ngày nay đã có nhiều đổi thay trong đời sống xã hội, nhưng nhiều làng quê vẫn giữ được nét đặc trưng tiêu biểu của làng quê Bắc Bộ.

    Tô Tuấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Dấu Hiệu Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Đau Bụng Kinh Và Có Thai
  • Sự Khác Nhau Của Nền Dân Chủ Tư Sản Với Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thủy Đậu Khác Zona Như Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt Bệnh Zona Thần Kinh Và Thủy Đậu
  • Phân Biệt Zona Thần Kinh Và Thủy Đậu
  • Làng Và Quan Hệ Dòng Họ Của Người Việt Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt “ Happen” Và “Occur”
  • Tìm Hiểu Dram Và Sram , So Sánh Dram Và Sram
  • Staff Là Gì ? Khác Biệt Giữa Staff Và Employee Là Gì? Staff Là Gì
  • Sự Khác Nhau Giữa Football Và Soccer Trong Tiếng Anh
  • Tiếp Cận Chẩn Đoán U Lympho (Hodgkin Và Không Hodgkin) – Ung Thư Học
  • Giáo sư, Tiến sĩ  NGÔ VĂN LỆ

    (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM)

         Theo bước chân mở cõi của Chúa Nguyễn Hoàng thế kỷ XVI, người Việt đã tiến về phương Nam lập làng sinh sống. Lịch sử hình thành khác nhau nên làng Việt Bắc bộ và làng Việt Nam bộ cũng mang những nét đặc trưng riêng biệt. Nghiên cứu Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam bộ của Gs Ngô Văn Lệ đã chỉ ra và lý giải những đặc trưng này. Trích từ trong Đề tài cấp nhà nước Đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ, 6/2011.

    1.

         Người Việt là tộc người đa số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

         Do tính chất và tầm quan trọng của vấn đề nên làng và quan hệ dòng họ người Việt được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu đã đựơc công bố. Còn ở miền Bắc sự hình thành làng cũng diễn ra rất phức tạp. Trong qúa trình lịch sử, những tác động của các nhân tố cũng không giống nhau dẫn đến mỗi làng có một sắc thái văn hóa riêng, mà nhà nghiên cứu Từ Chi gọi là những “ốc đảo”. Chúng tôi hiểu rằng tính đa dạng của điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội sẽ tác động rất lớn đến sự hình thành các làng, cũng như cơ cấu tổ chức và vận hành của các làng Việt, mặc dù thuật ngữ “làng” trong tiếng Việt chỉ một cấp trong tổ chức hành chính trước đây và hàm chứa địa bàn cư trú của một cộng đồng cư dân. Với một tình hình thực tế như vậy, sự đa dạng của làng Việt như là một điều hiển nhiên. Nhưng nếu xét về cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng, thì về cơ bản các làng lại tương đối giống nhau. Mặt khác, chúng tôi cũng bị hạn chế về thời gian, nên không có điều kiện để khảo sát các làng khác, ngoài địa bàn nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Về tài liệu tham khảo, như trên chúng tôi đã trình bày, do tính chất và tầm quan trọng của làng Việt nên đã có nhiều công trình được xuất bản trong những năm qua, nhưng chúng tôi chỉ tiếp cận được một lượng tài liệu khiêm tốn. Do đó những đánh giá, nhận xét về làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ khó có thể nói là toàn diện được. Vì vậy, chúng tôi chỉ giới hạn ở một số vấn đề mà theo chúng tôi là những nét đặc trưng nhất để làm nên sự khác biệt giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ.

    2.

         Làng Việt ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam quy mô có thể rất khác nhau, nhưng đều là nơi cư trú của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê có một không gian xác định so với các làng khác. Do tiến trình lịch sử, do sự mở rộng vùng lãnh thổ của quốc gia, do gia tăng dân cư nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn lịch sử, ở các vùng là rất khác nhau. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ – cái nôi của văn minh Việt – có những làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Bởi vì, sự phát triển của xã hội Việt Nam mà chúng ta có thể quan sát thấy không tạo ra một đột biến phá vỡ hoàn toàn cơ cấu tổ chức làng xã cũ để thành lập lại trên cơ sở xã hội mới. Các làng xã loại này, do vậy vẫn mang nặng những tàn dư nguyên thủy với bộ phận đất công chiếm đa số, do chưa có tư hữu. Tình hình này còn biểu hiện rất rõ ở các tộc người thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên trong những thập niên gần đây. Tại Thái Bình và Ninh Bình, Nguyễn Công Trứ với tư cách là quan dinh điền sứ đã có công rất lớn trong việc hình thành các làng mới tại hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Các làng Việt Nam Bộ không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Mặc dù việc thành lập làng vai trò của cá nhân là rất quan trọng. Chính quyền khuyến khích những người có vật lực tuyển mộ khai hoang, “dưới tất cả mọi triều đại đều có một chính sách khẩn hoang và định cư. Những người lập làng mới được khích lệ bằng đủ loại biện pháp, nhưng không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Điều này cũng dễ hiểu, những người có vật lực chiêu mộ những người lao động ở các địa phương, là những người thuộc các dòng họ khác nhau. Trong môi trường mới, họ lao động để sinh sống mà thành quả của họ là những cánh đồng lúa bạt ngàn, là cơ sở để hình thành các làng mới. Nhưng đây là những làng đã hội đủ các yếu tố theo quy định của Nhà nước phong kiến. Người có công lập làng đã được nhà nước ban thưởng và có lẽ vì vậy không thể lấy tên họ làm tên làng. Trong những ngày đầu khai thác một hay mấy gia đình cùng chung lưng đấu cật để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự sống. Trải qua nhiều đời con cháu của những gia đình này sinh sôi nảy nở nhiều, số ruộng đất được khai thác nhiều thêm, thôn xã dần dần hình thành” mà bản thân người Khmer cũng chưa hiểu hết bản chất của dòng họ là gì. Các làng Việt Bắc Bộ khi mới hình thành (các làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy) có lẽ có các tên gọi phản ánh những đặc điểm tự nhiên nơi cộng đồng đó cư trú. Những tên làng đó hiện nay vẫn còn tồn tại song song với những tên làng mới. Ở Thái Bình còn nhiều làng như thế: như làng Mét, làng Cọi, làng Đác, làng Lụ. Có lẽ sang thời kỳ độc lập khi hình thành bộ máy quản lý từ trung ương đến các địa phương, và nhất là khi chữ Hán đã có vai trò trong đời sống thì những làng mang tên chữ có yếu tố Hán – Việt ra đời. Mỗi làng mang tên chữ là những từ hoàn toàn có tính chất văn học biểu tượng của điềm lành. Ở vùng quê nào thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đều có tình hình như vậy. Tên gọi các làng Việt Nam Bộ thường là từ Hán – Việt mang ý nghĩa tốt đẹp như An Bình, An Hòa, Bình Lợi, Phú Hòa. Cũng do quá trình hình thành làng diễn ra nhanh, dân cư bao gồm những người đến từ các vùng khác nhau nên làng Việt Nam Bộ cũng không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Quá trình hình thành làng và sự can thiệp của Nhà nước đã làm cho những nét văn hóa truyền thống của làng Việt Bắc Bộ không được thể hiện ở làng Việt Nam Bộ (như không có hương ước, khơng cĩ lng tn Nơm, tổ chức phi quan phương hầu như không có hoặc nếu có thì rất ít, không nhiều như các làng Việt Bắc Bộ).

         Cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng Việt cũng là nét khá độc đáo lôi cuốn sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Một loạt các bài viết đề cập đến những nội dung này đã được tập hợp đăng trong cuốn Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (tập II). Trần Từ vào năm 1984 đã công bố công trình nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ“. Các tổ chức quan phương (hay bộ máy quản lý làng) do Nhà nước trung ương tập quyền áp đặt lên các làng, theo những quy định chung. Và bộ máy tổ chức này về cơ bản có sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ xét trên phương diện tổ chức cũng như chức năng nhiệm vụ. Thông qua các tổ chức quan phương Nhà nước thể hiện quyền lực đến các công dân của mình trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, nó ẩn tàng trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của từng loại tổ chức. Hoạt động của các tổ chức phi quan phương tạo nên sự kết dính giữa các thành viên trong tổ chức của mình. Đây là một nét rất khác trong cơ cấu tổ chức làng Việt Bắc Bộ so với làng Việt Nam Bộ. Các làng Việt Nam Bộ là các làng khai phá ngay từ khi hình thành đã thể hiện vai trò của mình. Mặt khác các thành viên của các làng Việt Nam Bộ được tập hợp từ các vùng khác nhau, nên mối quan hệ thân tộc không có cơ sở để thể hiện vai trò của mình, các nghiên cứu trước đây cũng như các công trình gần đây không thấy có làng nào có giáp.

         Và “dù không phải là bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những điều quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã, vẫn đóng vai trò một cương lĩnh. Có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi cá nhân, mọi tổ chức, trong làng, trong xã phải tuân thủ”. Ruộng phụ canh không chỉ ở làng bên, mà còn ở nhiều làng, nhiều tổng, thậm chí ở tỉnh khác. Cơ chế sở hữu đất canh tác như vậy đã dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng, không có những cơ sở kinh tế để tạo thành những “ốc đảo” như những làng Việt Bắc Bộ, làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Bộ không khép kín cũng không đòi hỏi sự thỏa mãn bằng một quy mô dân số nhất định của làng. Cũng cần lưu ý đến sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa cộng đồng người Việt với các cộng đồng người khác ở Nam Bộ. Khi người Việt di dân đến vùng đất mới thì trước đó đã có các tộc người khác đặc biệt là người Khmer sinh sống. Các tộc người này đã góp phần cùng người Việt khai hoang, cải tạo để có được đồng ruộng phì nhiêu, bốn mùa cây trái. Trong quá trình cộng cư, trong quá trình khai hoang và đặc biệt trong giai đoạn lịch sử sau này, trong quá trình chống ngoại xâm để bảo vệ sự sống còn của quốc gia dân tộc, của từng tộc người, đã diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã hình thành nên những giá trị văn hóa chung cho cả Nam Bộ – văn minh miệt vườn. Cùng với việc sản xuất hàng hóa là việc hình thành các đô thị, nhưng đô thị ở vùng này không mang đậm nét tàn dư của công xã nông thôn. Đô thị ở đồng bằng sông Cửu Long hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu của một nông thôn sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu buôn bán với tất cả các vùng. Trở thành đầu mối giao dịch với các nơi. Người nông dân Nam Bộ không kỳ thị đối với buôn bán. Tâm lý đó của người nông dân Nam Bộ được thể hiện rõ qua câu ca dao quen thuộc đã đi vào lòng người bao thế hệ :

    Đạo nào vui bằng đạo đi buôn,

    Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông.

         Sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ kích thích giao lưu quốc tế làm cho hoạt động của làng Việt Nam Bộ năng động hơn so với làng Việt Bắc Bộ.

         Làng Việt Nam Bộ sẽ tồn tại và sẽ biến đổi cùng với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Một thực thể tất yếu có vai trò và vị trí trong sự phát triển chung. Tuy làng (thôn, ấp… ) không phải là cấp trong hệ thống tổ chức Nhà nước, nhưng lại là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư. Đồng thời làng còn là nơi bảo đảm đoàn kết giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới, giúp nhau trong sản xuất và đời sống. Và cũng chính địa bàn làng là nơi giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của cộng đồng nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

    3.

         Quan hệ dòng họ – quan hệ huyết thống – xuất hiện rất sớm và ở hầu hết các tộc người trên thế giới. Ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại con người không thể sống cô độc, mà phải dựa vào nhau. Do đó mối quan hệ huyết thống xuất hiện trước khi xuất hiện các mối quan hệ khác. Quan hệ đó là quan hệ giữa người và người dựa trên huyết thống là sản phẩm thừa hưởng từ tự nhiên. Nhưng do các yếu tố khách quan và chủ quan tác động vào tiến trình lịch sử của các tộc người hết sức khác nhau, nên ngày nay quan hệ dòng họ ở các tộc người cũng khác nhau. Ở một số tộc người quan hệ thân tộc được tính theo dòng mẹ (theo mẫu hệ) ở đây vai trò của người phụ nữ trong xã hội, cũng như trong gia đình được đề cao. Người phụ nữ là người chủ động trong hôn nhân, trong việc điều hành gia đình, nuôi con, thừa kế tài sản. Ngay cả khi người chồng qua đời cũng không được chôn cất ở phía bên vợ mà phải đưa về chôn cất tại nghĩa địa của dòng họ mẹ. Ở Việt Nam, chế độ mẫu hệ tồn lại khá đậm nét ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Ở một số tộc người, quan hệ dòng họ không thể hiện một cách rõ ràng là theo dòng cha (phụ hệ) hay dòng mẹ (mẫu hệ). Trong dân tộc học, những tộc người này được gọi là những tộc người song hệ ở giai đoạn chuyển tiếp từ mẫu hệ lên phụ hệ.

         Ở người Việt, chế độ phụ hệ đã được xác lập từ lâu. Quá trình chuyển hóa từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ ở các tộc người cũng hết sức khác nhau. Đến thời đại đồ đồng, thậm chí đến thời đại đồ sắt, tức là thời kỳ đầu của sự hình thành Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc, chế độ mẫu hệ vẫn còn chưa mất hết sức sống. Cho đến hơn một ngàn năm Bắc Thuộc, văn minh Trung Hoa có điều kiện du nhập vào xã hội Việt Nam. Nho giáo xác định được chỗ đứng trong nhân dân Việt. Tuy nhiên, nếu quan sát những quan hệ trong xã hội và gia đình, nhất là trong các hội làng, ta vẫn thấy vai trò khá rõ nét của phụ nữ và những yếu tố của chế độ mẫu hệ. Tuy đề cao nguyên tắc “nam nữ thụ thụ bất thân”, nhưng lại có “có nam, có nữ mới nên xuân”. Ở người Việt trước đây vẫn có tục ở rể. Trong đời sống hàng ngày, người phụ nữ cũng ít bị hạn chế trong sinh hoạt kinh tế xã hội, thậm chí trong sinh hoạt chính trị. Ho không được ra đình để họp, nhưng những lễ vật tế thần lại do một tay người phụ nữ đảm nhận. Trong cuộc sống xã hội, người phụ nữ đảm nhiệm việc cấy, gặt, sàng sẩy, tham gia nhiều nghề thủ công, buôn bán ở các chợ làng, đảm nhiệm việc hậu phương, thậm chí “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Số lượng các nữ thần khá đông. Còn trong cuộc sống gia đình, phụ nữ là người quán xuyến mọi công việc, từ nuôi con, lo cái ăn, cái mặc. Những hình ảnh tảo tần người phụ nữ Việt đã được Tú Xương khắc họa rất sinh động :

    “Quanh năm buôn bán ở mom sông

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông…”

         Có lẽ không thể phủ nhận được vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gia đình, nên mới có câu “lệnh ông không bằng cồng bà”. Một số đất nước mà Nho giáo đã thấm vào từng khía cạnh của đời sống, nhưng trong những điều luật cụ thể cũng nêu lên quyền như nhau của vợ chồng với tài sản cùng làm ra (Luật Hồng Đức). Việc phân chia tài sản cũng được phân định rõ ràng, ngoài phần dành cho hương hỏa, những gì còn lại, không phân biệt con trai hay con gái, đều được nhận phần và các phần được chia đều nhau hoặc có chênh lệch không đáng kể. Về nguyên tắc, ruộng hương hỏa do người trưởng nam nhận để lo hương khói cho người quá cố. Nhưng trong những trường hợp không có con trai thì người con gái trưởng nhận phần hương hỏa.

         Họ của người Việt đã xác lập theo dòng cha, nhưng tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn được bảo lưu.

         Sự phát triển ngày càng tăng của dân cư đã dẫn đến tình trạng sống xen kẽ giữa các thành viên của các dòng họ khác nhau trong một địa vực cư trú. Tuy nhiên, trong một khu vực cư trú nhất định, thông thường cũng có một hay hai dòng họ chiếm ưu thế. Quan hệ mới xuất hiện – quan hệ làng xã. Quan hệ làng xã là quan hệ giữa người với người dựa trên mối quan hệ láng giềng. Quan hệ láng giềng xuất hiện muộn hơn so với quan hệ thân tộc, do sự gia tăng tính xen kẽ của cư dân và sự di chuyển địa bàn cư trú. Quan hệ dòng họ mất dần đi cơ sở kinh tế của sự tồn tại. Cấu trúc gia đình, thân tộc do đó cũng có những biến đổi nhất định. Tuy nhiên, những nét chủ yếu của quan hệ thân tộc vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Nó thể hiện ở một số khía cạnh sau

         Trước hết, chế độ ngoại hôn luôn được thể hiện rõ rệt trong việc lựa chọn hôn nhân ngoài dòng họ. Làng Việt Bắc Bộ không có nhiều dòng họ, lại cộng cư trong một không gian xác định, nên các thành viên trong làng hiểu rõ những mối quan hệ thân tộc. Nên hầu như không có sự vi phạm những quy định của chế độ ngoại hôn. Ngay cả trong trường hợp hai người cùng tộc danh cũng rất ít trường hợp dẫn đến hôn nhân. Dư luận xã hội lên án gay gắt những trường hợp vi phạm chế độ ngoại hôn. Không chỉ trong suy nghĩ của người có tuổi mà ngay cả trong lòng lớp trẻ, nguyên tắc này cũng rất được coi trọng.

         Thứ ba, theo chế độ tông pháp người con trưởng sẽ làm nhiệm vụ nối nghiệp gia đình bất luận tư chất của người đó như thế nào. Đây là vị thế mặc định kể từ lúc người con trưởng xuất hiện trong gia đình. Theo truyền thống dòng trưởng được kế thừa một số đặc quyền đặc lợi (như ruộng hương hỏa, hoa lợi trong khuôn viên của nhà thờ họ…) để lo chăm sóc từ đường (nơi thờ cúng của một gia đình) hay nhà thờ họ (nơi thờ cúng của một dòng họ). Khi vắng cha thì người anh thế, quyền huynh thế phụ. Ngày nay, khi ruộng hương hỏa không còn thì nguồn kinh phí phục vụ cho việc thờ cúng tại các nhà thờ họ, sẽ do sự đóng góp của những người con trai của dòng họ. Đóng góp nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất của công việc. Để xây dựng, tu sửa nhà thờ họ, người ta tính toán toàn bộ chi phí, sau đó chia đều cho tất cả những người đàn ông, con trai không phân biệt tuổi tác. Những người giàu có có thể đóng góp nhiều hơn những người khác, nhưng tất cả theo nguyên tắc tự nguyện. Những người đàn bà đã đi lấy chồng có thể xin được đóng góp tiền của để xây dựng hoặc tu sửa nhà thờ họ. Nhiều ít hoàn toàn do tự nguyện.

         Trong quan hệ dòng họ, con của dòng đích (tộc trưởng đối với một dòng họ) con của dòng bác (anh của cha trong một gia đình) đều mặc nhiên được những người con của dòng thứ, hay dòng chú (em cha) tôn trọng nhận là anh, chị, dù là những người đó sinh sau đẻ muộn. Nguyên tắc này vẫn còn được duy trì khá chặt chẽ tại các làng Việt Bắc Bộ.Ai vi phạm nguyên tắc này sẽ bị phê phán. Vì vậy, những người vì những lý do khác nhau, sinh sống xa quê, khi trở về đoàn tụ gia đình sẽ được những người lớn tuổi dẫn đi để làm quen với họ hàng, tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra trong ứng xử với những người trong họ.

         Cũng theo chế độ phụ quyền, người phụ nữ khi đi lấy chồng phụ thuộc vào gia đình chồng. Tài sản trong gia đình (dù nhiều hay ít) đều thuộc về người chồng, không là của con cũng là của họ hàng nhà chồng. Người phụ nữ một nắng hai sương làm ra, nhưng một khi li dị hoặc tái giá thường chỉ được phép ra khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng, không được mang theo con và của cải. Ngày nay, nam nữ bình đẳng vấn đề thừa kế tài sản và nuôi dạy con sau ly dị đã được luật pháp Việt Nam qui định nhưng quan hệ dòng họ vẫn có vai trò trong đời sống của người nông dân Việt Bắc Bộ. Quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã xuất hiện ngay từ ban đầu, ngay trong từng nhóm di dân đến khai phá vùng đất mới đầy rẫy những khó khăn khắc nghiệt. Quan hệ dòng họ đó vẫn có giữa các thành viên của một dòng họ tại quê hương bản quán của họ ở một vùng nào đó ở miền Bắc hay miền Trung, sau vì một lý do nào đó họ phải rời bỏ quê hương để vào vùng đất mới. Trong môi trường mới, mối quan hệ dòng họ tiếp tục được duy trì.

         Các thành viên trong mỗi dòng họ của các làng Việt Nam Bộ vẫn thể hiện rất rõ nguyên tắc “chung tộc danh về phía bố”, mà trong một công trình nghiên cứu Gerald.C.Hakey đã viết về dòng họ của người Việt Nam Bộ. “Đó là một hệ thống thân tộc theo dòng của người cha trong đó con trai được coi trọng hơn con gái và giữ một vai trò ưu thế dẫu rằng con gái cũng không bị gạt xuống một quy chế thấp kém. Tên của con gái cũng mang họ của người cha và đều là những phần tử của dòng họ nội”. Trong công trình nghiên cứu về làng Khánh Hậu, Hickey cũng có một nhận xét tương tự, ông viết: “trách nhiệm cúng giỗ không nhất thiết phải do trưởng tộc đảm nhiệm. Nhiều khi trách nhiệm đó được chia sớt giữa các người thuộc nam phái trong nội tộc để tránh cho một người nào đó phải một mình chịu đựng cái gánh nặng tài chính. Trường hợp này đặc biệt đúng với các gia đình không có hương hỏa và không có nguồn lợi nào khác đặt ra để lo việc cúng giỗ cho nên họ được tự do hơn để kiếm những tiện nghi riêng của họ. Và có một phần tử nào đó trong gia đình giàu có hơn những người khác, thì người đó có thể đảm nhận trách nhiệm cúng giỗ và đãi tiệc, tuy rằng không phải là trưởng tộc”, không có dòng họ nào chiếm áp đảo dân cư so với các dòng họ khác và cũng không có làng nào lấy lên họ đặt lên cho làng như ở các làng Việt Bắc Bộ. Tuy họ lập thành “dân ấp, dân lân” với nhau, nhưng sự cố kết “họ hàng, làng xã” ở Nam Bộ lỏng lẻo hơn so với các làng Việt Bắc Bộ. Trong bối cảnh cụ thể của Nam Bộ, chính những điều kiện tự nhiên và xã hội đã tác động đến mối quan hệ dòng họ vốn đã ăn sâu vào nếp nghĩ, đời sống của người nông dân Việt, làm cho nó khác so với Bắc Bộ.

         Mặt khác, quá trình khai hoang lập làng hình thành các đơn vị cư trú mới làm cho chế độ sở hữu đất đai ở Nam Bộ hình thành sớm. Ở Bắc Bộ, chế độ công điền công thổ tồn tại khá dai dẳng Theo số liệu điều tra dân số năm 1989 người Việt chiếm 86,8% dân số cả nước, 53 tộc người còn lại chiếm 13,2%.

    Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, người Việt chiếm 86,2% dân số cả nước,53 tộc người còn lại chiêm13,8%. Dẫn theo Đặng Nghiêm Vạn, 2003: Cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam, NXB Đại học Quốc chúng tôi trang 213.

     Nguyễn Hồng Phong: Xã hội Việt Nam (1958),

    Viện Sử học: Nông dân Việt Nam trong lịch sử (2 tập 1977, 1978)

    Diệp Đình Hoa, Tìm hiểu làng Việt (1990); Làng Nguyễn, Tìm hiểu làng Việt (1994).

    Trần Từ, 1984: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền Bắc Bộ..

    Bùi Xuân Bính: 1985: Lệ làng phép nước.

    P. Gourou, 2003: Người Nông dân châu thổ Bắc Kỳ, NXB Trẻ.

     Viện Dân tộc học, 1984: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam), NXB KHXH

     Dẫn lại, Diệp Đình Hòa, 1994: Làng Nguyễn tìm hiểu làng Việt II, NXB KHXH, trang 13.

     Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 121.

     Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 119.

     Nguyễn Hồng Phong, Xã thôn Việt Nam, NXB Văn – Sử – Địa, 1958, trang 127.

     Phạm Minh Đức, Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở Thái Bình, NXB Văn hóa – thông tin, 2006.

    Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 124.

     Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 254 – 260.

     Toan Anh, sđđ, trang 32-34.

     Địa chí Tiền Giang, sđđ, trang 801 – 803.

     Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, NXB Văn hóa – Thông tin, 1996, trang 179.

     Trần Thị Thu Lương, Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1994, trang 179 – 181.

     Viện sử học, Nông thôn việt Nam trong lịch sử, NXB KHXH, 1978.

     Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 169 – 268.

     Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 186 – 253.

     Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 236 – 237.

     Sơn Nam, Văn minh miệt vườn, NXBVăn hóa, 1992

     Luật hôn nhân và gia đình, 2000

     Gerald.C.Hukey, 1960, Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam, xã hội học.

     Nguyễn Từ Chi, sđd, trang 192

     Gerald. C. Hukey, sđđ, trang 85.

     Nguyễn Từ Chi, sđd, trang 179, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, sđđ, trang 97-126, trang 94-95.

    Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam –

    Cách tiếp cận nhân học”, Bà Rịa – Vũng Tàu, 12-2007

    Ban Tu thư ( chúng tôi )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhầm Lẫn Có Thai Và Kinh Nguyệt, Sai Lầm Tai Hại
  • Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay
  • Sự Khác Nhau Giữa Hôn Nhân Xưa Và Nay • Iwedding Blog
  • Cách Phân Biệt Windows Bản Quyền Và Windows Bẻ Khóa
  • Sự Khác Biệt Giữa Quá Trình Và Quy Trình Trong Hệ Thống Quản Lý
  • Bức Tranh Toàn Cảnh Về Văn Hóa Làng Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Tự Luận 1,2,3,4,5 Trang 78 Sbt Sinh 8: Bài 1. Vì Sao Có Sự Khác Nhau Về Thành Phần Của Nước Tiểu Đầu Và Máu
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 354:2006 Về Tiêu Chuẩn Vật Liệu Nhũ Tương Nhựa Đường Gốc Axít
  • Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống
  • Phân Biệt Tình Bạn Với Tình Yêu?
  • Văn Hóa Cổ Đại Của Phương Đông Là Gì? Văn Hóa Cổ Đại Của Phương Tây Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Người Tối Cổ Và Người Tinh Khôn Là Gì?
  • 2. Khái niệm văn hóa làng vùng đông băng Bắc Bộ

    Nói đến văn hóa là nói đến những “nét riêng biệt” có tính đặc trưng, tức là cái hồn, cái chất của một người, một vùng miền hay một dân tộc. Văn hóa bộc lộ tư duy, tình cảm của con người và biểu hiện ở quan niệm sống, hành vi ứng xử của họ. Với Việt Nam nói chung, đồng bằng Bắc bộ nói riêng, cái hồn này thể hiện trong văn hóa làng.

    Làng vốn là một từ thuần Việt, dùng để chỉ một cộng đồng dân cư được hình thành trên cơ sở liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục tự nhiên từ mấy thiên niên kỷ trước, quá trình hàng nghìn năm đấu tranh chống xâm lược để giữ gìn môi trường sản xuất và sinh hoạt của con người nơi đây. Vậy điều gì đã làm cho làng có sức mạnh bền vững và dẻo dai như thế? Đó là văn hóa làng. Văn hóa làng chính là hằng số đồng hành cùng người dân qua những thăng trầm của đất nước. Khẳng định vị trí của làng trong việc hình thành nền văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Từ Chi viết: “Làng là tế bào sống của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, trong sức năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó” .

    Văn hóa làng là bầu không khí quen thuộc mang sinh khí mạnh mẽ mà người nông dân hít thở hàng ngày. Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức, hành vi được hình thành trong quá trình tổ chức, giữ gìn cuộc sống của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được bộc lộ trong lối sống, phong tục, tâm tính con người, trong kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng – tôn giáo, hương ước… Nó thể hiện ra ở đình, chùa, miếu, lũy tre, cây đa, bến nước,… Những yếu tố vật thể và phi vật thể trên không đứng đơn lập mà hòa quyện vào nhau, tích hợp lại thành bản chất, đặc trưng văn hóa làng, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo ra những ảnh hưởng không chỉ trong xã hội truyền thống mà còn ở xã hội hiện đại, không chỉ ở nơi thôn quê mà tràn ra cả đô thị.

    Văn hóa làng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khác biệt so với văn hóa làng các vùng khác trong cả nước vì hai lý do sau: Thứ nhất, đây là vùng văn hóa hình thành đầu tiên của cả nước. Ngay từ thuở sơ khai, đây là vùng đất đai trù phú, từng là cái nôi của Văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, Văn hóa Đại Việt thời trung cổ với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt. Cùng với lịch sử mở cõi của dân tộc, nó cũng là cội nguồn của văn hóa Việt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ sau này. Thứ hai, văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là tế bào cơ bản, là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc. Văn hóa dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của nền văn hóa xóm làng của vùng. Điều kiện sinh thái và dân số là một lý do cơ bản làm cho làng đồng bằng Bắc Bộ chặt chẽ hơn những nơi khác. Do đó, bản chất văn hóa làng được hình thành, bộc lộ cũng đậm nét hơn các vùng còn lại của Việt Nam.

    3. Những đặc trưng của văn hoá làng vùng đồng bằng Bắc Bộ

    Đồng bằng Bắc Bộ chính là cái nôi hình thành văn hoá Việt Nam và hiện nay vẫn là nơi mà văn hóa Việt Nam bảo lưu nhiều giá trị truyền thống. Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều đặc trưng, trong đó theo chúng tôi có 3 đặc trưng nổi bật là tính cộng đồng, tính tự trị và tính dung hợp trong tư duy.

    Đây là đặc trưng cơ bản nhất của của văn hóa làng đồng bằng Bắc Bộ. Cộng đồng là một tổ chức của nhiều cá thể. Tính cộng đồng có thể hiểu là sự liên kết các thành viên trong làng với nhau; trong sự liên kết đó mỗi người đều hướng tới những người khác trong tập thể, ứng xử của mỗi người thường theo các tiêu chuẩn mà cộng đồng đó quy định.

    Chế độ ruộng công là cơ sở kinh tế cho tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình, bến nước, cây đa. Ở các làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu như làng nào cũng có ít nhất một trong ba biểu tượng này. Đình là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi phương diện: hành chính, hội họp; văn hóa, tôn giáo và tình cảm. Bến nước (giếng nước) là chỗ hàng ngày mọi người gặp nhau, vừa làm việc vừa chuyện trò. Cây đa hoặc cây si, cây gạo ở đầu làng, bên cạnh là quán nước của các cụ già là nơi tập trung sự giao lưu của dân làng với khách thập phương . Ngày giỗ Thành hoàng, người làng dù ở đâu cũng muốn tìm đường về chịu lễ. Như vậy, qua việc thờ vị thần chung, cả cộng đồng làng cố kết lại trên cơ sở cái thiêng vô hình.

    Cùng với lễ là hội. Người Việt có câu, “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, tức là tháng của hội hè. Hàng năm ở đồng bằng Bắc Bộ có hàng trăm lễ và hội khác nhau. Lễ, hội là dịp để dân làng tập trung lại tổ chức biểu diễn văn nghệ và thể thao dân gian. Cùng với lễ, hội thì tết, hiếu, hỉ,… được tổ chức liên miên đã làm cho dân làng luôn bận rộn, cuốn hút, hòa vào cộng đồng, dù tốn kém cũng phải chịu. Do vậy, các loại lễ hội cũng góp phần tăng cường mối đoàn kết tương thân. Có thể nói, đặc trưng tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ không chỉ tìm thấy trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn thể hiện rõ trong đời sống tinh thần.

    Tuy vậy, tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tiểu nông, khép kín, không khoa học, nên cũng có những hạn chế nhất định. Hạn chế lớn nhất là sự thủ tiêu ý thức về con người cá nhân, con người bị hòa tan vào cộng đồng, thậm chí lệ thuộc vào cộng đồng theo kiểu “cùng hội cùng thuyền”. Khi giải quyết công việc thì “dĩ hòa vi quý”. Do đó, nó tạo ra tâm lý ỷ lại “cha chung không ai khóc”, không phát huy được năng lực sáng tạo của mỗi người. Đồng thời nó sinh ra tâm lý sống an toàn “nước nổi thì thuyền nổi” và thói cào bằng, đố kỵ “trâu buộc ghét trâu ăn”. Mặt khác, trong một cộng đồng mọi người đều nghèo khổ, cùng chịu cảnh “thấp cổ bé họng” từ đời này qua đời khác dẫn đến quan niệm xem thường lao động chân tay, khát vọng đổi đời, háo danh, khôn vặt, xu hướng sùng bái cá nhân, óc tôn ti gia trưởng khá nặng nề.

    Nói đến văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ không thể không nói đến tính tự trị, tự quản, tức là “tự điều chỉnh – tự điều khiển của làng trong quá trình vận động của kinh tế – xã hội, ít chịu sự can thiệp trực tiếp của các cấp chính quyền bên trên” . Có thể nói, làng ở đồng bằng Bắc Bộ có tính tự quản cao, nhìn chung, mỗi làng là một đơn vị hành chính tương đối độc lập được quản lý chặt chẽ trong một kết cấu xã hội phân tầng theo chức tước, theo khoa mục, theo tuổi tác, theo trật tự thân tộc.

    Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre và cổng làng. Mỗi làng ở đồng bằng Bắc Bộ xưa thường có lũy tre bao bọc khiến làng như một thứ thành lũy kiên cố. Cùng với lũy tre là cổng làng. Trước đây vào làng rất khó, nhiều khi chỉ có một lối đi vào duy nhất là qua cổng làng, cổng được làm chắc chắn, bên trên có mảnh chai làm vũ khí tự vệ, hai bên đường có ao. Từ xa xưa, làng Việt đã được bảo vệ một cách có ý thức. Ngày nay, tình hình an ninh đảm bảo hơn, lũy tre đã dần vắng bóng, nhiều cổng làng đã biến mất nhưng ý thức tự trị trong tư duy con người thì vẫn còn lưu lại.

    Tính tự trị của làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có từ xa xưa. Trong lịch sử lâu dài của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng như thời Pháp thuộc, bộ máy cai trị luôn tìm cách xoá bỏ đặc trưng này của làng, tuy nhiên họ luôn phải lùi bước. Tính tự trị của làng thể hiện ở việc: mỗi làng có một luật pháp riêng (thể hiện qua hương ước), có một tiểu triều đình riêng, trong đó hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ quan hành pháp.

    Tính tự trị của làng được biểu hiện ở lệ làng. Lệ làng là những quy tắc ứng xử trong đời sống xã hội và tín ngưỡng đòi hỏi dân làng phải tuân theo. Lệ làng có thể được chép thành văn bản, được gọi là hương ước.

    Hương ước là công cụ tự quản. Sở dĩ như vậy bởi chức năng của hương ước là tạo ra sự cưỡng chế cộng đồng. Hương ước như một bộ luật của làng, quy định chuẩn mực ứng xử, nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với làng và đối với nhau. Hương ước do những người có trách nhiệm (hay được ủy nhiệm) trong làng thảo ra, được dân chúng nhất trí. Ở đồng bằng Bắc Bộ trước đây, hương ước khá phổ biến. Theo thống kê của sách Thư mục hương ước Việt Nam thời kỳ cận đại (1991) thì các tỉnh miền Bắc đều có hương ước, có tỉnh có tới vài trăm hương ước.

    Nội dung hương ước đề cập đến đầy đủ các mặt đời sống của người nông dân (như: tế tự, xác định tôn ti, tổ chức quản lý làng, bảo vệ trị an, bảo vệ sản xuất, khuyến khích học hành, giữ gìn nếp sống…) với những quy định về khen thưởng, trừng phạt khá chặt chẽ. Hương ước nhằm ràng buộc con người để duy trì trật tự chung của làng. Nó tạo ra thế mạnh của của cộng đồng bằng hai con đường: vừa kiểm soát hành vi ứng xử của mỗi thành viên trong cộng đồng, vừa quy định trách nhiệm cho cộng đồng kiểm soát các thành viên. Như vậy, hương ước đã giúp cho bộ máy quản lý làng xã có cơ sở để quản lý cộng đồng cư dân.

    Hương ước chỉ là một mặt của tính tự trị, có khi không phải là mặt chủ yếu. Mặt chủ yếu là ở kết cấu chính quyền. Từ thời nhà Lý, kết cấu chính quyền làng xã bắt đầu được nhà nước phong kiến quan tâm với việc đặt ra các chức quan cai trị. Nhưng cuối cùng nhà nước phải lùi bước, vừa đặt chức quan của mình, vừa công nhận quyền lực của những người được dân làng tự bầu ra. Đến thời Pháp thuộc, kết cấu chính quyền làng tiếp tục được thừa nhận và mang tính hệ thống hơn.

    Từ thời Pháp thuộc, dân chính cư trong làng được chia thành 5 hạng: chức sắc (người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm), chức dịch (người đang làm việc trong làng, xã), lão (người già), đinh (trai tráng), ti ấu (trẻ con). Hai hạng trên cùng và một phần hạng thứ ba tạo thành một bộ phận gọi là quan viên hàng xã. Quan viên hàng xã thường lại chia thành ba nhóm: kì mục (hội đồng kì mục), kì dịch (lí dịch) và kì lão. Kì lão là những người cao tuổi trong làng, tuy không phải là quan nhưng lại có quyền tư vấn cho hội đồng kì mục. Hội đồng kì mục do tiên thứ chỉ đứng đầu có trách nhiệm bàn bạc tập thể và quyết định các công việc của xã. Lí dịch thường do hội đồng kì mục cử ra, có nhiệm vụ thi hành mọi quyết định của Hội đồng kì mục .

    Vì sao người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ mang trong mình tư duy dung hợp? Vấn đề này có thể được giải thích ở khía cạnh xã hội và nhận thức. Do nghề trồng lúa nước trong điều kiện khoa học chưa phát triển nên để thu hoạch được sản phẩm, cùng một lúc con người phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Từ đó về mặt nhận thức, họ hình thành lối tư duy tổng hợp, coi trọng các mối quan hệ hơn các yếu tố riêng rẽ. Về mặt xã hội, đồng bằng Bắc Bộ là vùng có kết cấu xã hội đa dạng, đã từng trải qua nhiều thăng trầm lịch sử… Điều đó làm cho con người ở đây có khả năng thích nghi cao với mọi biến động. Từ những năm 40 của thế kỷ XX, P.Gourou đã nhận xét rằng: tất cả những ai quan sát cách làm ăn của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ “đều phải thán phục sự thích nghi mềm dẻo và sự quan sát của người nông dân” Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

    Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Lễ – Tết – Hội hè, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

    Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Đồng chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    Đinh Xuân Dũng (Chủ biên) (2005), Xây dựng làng văn hóa ở đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    Lê Thị Lan (2015), “Tư tưởng làng xã ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (88).

    Vũ Duy Mền (Chủ biên) (2001), Hương ước làng xã Bắc bộ Việt Nam với luật làng KanTo Nhật Bản (Thế kỷ XVII – XIX), Nxb Viện Sử học, Hà Nội.

    Phan Thanh Tá (2012), Văn hóa cổ truyền trong làng xã Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội.

    Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    Trần Quốc Vượng (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    Theo TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

    Tags: Văn hóa Việt, Nông thôn, Đồng bằng sông hồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Đặc Trưng Của Làng Quê Bắc Bộ
  • Những Dấu Hiệu Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Đau Bụng Kinh Và Có Thai
  • Sự Khác Nhau Của Nền Dân Chủ Tư Sản Với Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thủy Đậu Khác Zona Như Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt Bệnh Zona Thần Kinh Và Thủy Đậu
  • Sự Khác Biệt Giữa Bộ Xương Nam Và Nữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Vùng Chậu Là Vùng Nào? Nằm Ở Đâu, Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Khác Biệt Thú Vị Giữa Nam Và Nữ
  • Điểm Khác Biệt Giữa Giày Thể Thao Nam Và Nữ
  • Bộ Tranh Hài Hước Về Sự Khác Nhau Giữa Nam Giới Và Nữ Giới
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Sơ Mi Nam Và Nữ
  • sự khác biệt giữa bộ xương nam và nữ

    Câu trả lời 1:

    Nonya và Woodard có một số điểm. Quan hệ tình dục trong bộ xương chỉ có thể được xác định nếu bạn có hộp sọ và xương chậu.

    Giả sử nó nằm trong một quần thể nơi các đặc điểm được đánh dấu rất rõ, bạn sẽ tìm thấy:

    Sọ nam

    Đàn ông có xu hướng có đặc điểm rõ rệt hơn. Hãy nói rằng họ là người đứng đầu lớn. Những cái phổ biến nhất là:

    • Mào của họ lớn hơn và rõ rệt hơn.
    • Quỹ đạo của chúng có hình vuông.
    • Rìa siêu hấp dẫn dày hơn.
    • Glabella và các vòm siêu lớp nổi bật hơn.
    • Quá trình Mastoid nổi bật hơn.
    • Cơ thể bắt buộc có hình vuông hơn và ramus tăng dần có nhiều vỏ; ít gây khó chịu

    Sọ cái

    Đặc điểm của chúng hoàn toàn trái ngược với những hộp sọ nam:

    • Nuchal Crest hầu như không nổi tiếng.
    • Các quỹ đạo được làm tròn hơn.
    • Rìa Supraorbital không dày lắm.
    • Glabella và vòm siêu lạnh không nổi bật chút nào.
    • Quá trình mastoid không lớn lắm, không nổi bật.
    • Các bắt buộc được làm tròn hơn và ramus tăng dần là khó khăn, nghiêng.

    Xương chậu nam

    Xương chậu được hình thành bởi sacrum và hai os coxae. Sacrum (và coccyx) không đáng tin cậy khi xác định giới tính; Một số người cho rằng ở nữ giới, góc tạo ra giữa sacrum và coccyx không quá gay gắt. Nó gần như là một đường thẳng. Ở nam giới, góc khét tiếng hơn và sẽ chỉ ra trước hơn là kém hơn. Một số người khác nói rằng cả hai hình thức đã được tìm thấy trong giới tính khác, vì vậy nó không hoàn toàn đáng tin cậy. Tốt hơn nên xem xét góc này cùng với hộp sọ và các đặc điểm xương chậu khác.

    Ở nam giới, đặc điểm os coxae chủ yếu là không có, không rộng. Hãy nói rằng họ có nó nhỏ ở dưới đó. Dễ nhớ theo cách đó.

    • Các vòi chậu iliac dày hơn.
    • Các sulcus pauricular vắng mặt.
    • Các notch đau thần kinh tọa (lớn hơn) không rộng. Nó rộng như ngón tay cái để bạn có thể có một ý tưởng.
    • Các góc subpubic hoặc concavity không rộng. Nó rất cấp tính.
    • Các vòm bụng không có hoặc không rộng. Đây là lý do hông rộng hơn ở nữ so với nam. Xương mu có bề mặt ngang ngang lớn hơn.

    Xương chậu nữ

    Điều tương tự như hộp sọ, đối diện với những người đàn ông.

    • Iliac tuberosity không dày như những con đực.
    • Preauricular sulcus có mặt. Đôi khi nó tạo thành một số loại kênh hoặc đường hầm.
    • Các notch đau thần kinh tọa lớn hơn là rất rộng.
    • Góc dưới cơ thể rộng hơn. Không cấp tính. Điều này là do bề mặt lông mu lớn hơn ở nam giới.
    • Vòm bụng có mặt. Như đã nói trước đây, có nhiều bề mặt để sinh.

    Bây giờ, nếu bạn có cả một quần thể với giới tính được xác định thông qua những đặc điểm này, bạn có thể quan sát các kiểu mẫu khác: chiều cao, mật độ xương, biến dạng do căng thẳng nghề nghiệp. Nhưng, nếu đó là một dân số đa dạng như Hoa Kỳ hiện đại, thật khó để xác định các mô hình khác này vì bạn không biết thủ tục thực tế của họ.

    Ngay cả các đặc điểm của hộp sọ và os coxae cũng khác nhau giữa các quần thể. Nếu theo quy trình của Mastoid là nhỏ theo ý kiến ​​của một nhóm pháp y người Argentina, thì họ có thể sai về việc đó là nữ vì trong dân số họ đang quan sát, giả sử là một thị trấn ở Scandinavi, quá trình Mastoid ở nam giới được so sánh nhỏ hơn Sọ người Argentina, nhưng chúng lớn hơn hoặc có kích thước tương đương với những người phụ nữ có cùng dân số.

    Câu trả lời 2:

    Có sự khác biệt trong hộp sọ của nam và nữ trong nhiều trường hợp (mặc dù tất cả các bộ xương khác nhau). Một số khác biệt bao gồm;

    1. Hộp sọ của nam giới thường nặng và dày hơn sọ nữ
    2. Đường thời gian thường rõ rệt hơn ở nam so với nữ,
    3. Phần dưới của quỹ đạo khác nhau giữa nam và nữ, nữ có những đường gờ sắc nét hơn về phía dưới quỹ đạo và nam có quỹ đạo hơi xanh hơn nữ
    4. Vết rách nhẹ trên các quỹ đạo thường thấy trên hộp sọ của đàn ông so với phụ nữ. 4 cách để xác định giới tính (Khi tất cả những gì bạn có là một hộp sọ)

    Một sự khác biệt khác nằm ở xương chậu của đàn ông và phụ nữ. Đây là những khác biệt chính của ghi chú giữa nam và nữ;

    1. Xương chậu của nữ lớn hơn và rộng hơn xương chậu đực và có một xương chậu tròn hơn.
    2. Voi mào đực cao hơn con cái, khiến xương chậu giả của chúng trông cao hơn và hẹp hơn.
    3. Các sacrum nam dài hơn, hẹp hơn, cứng hơn và có một biểu hiện sacral rõ rệt so với sacrum nữ.
    4. Góc độ giữa rami mu kém hơn là cấp tính (70 độ) ở nam giới, nhưng khó chịu (90 nhiệt100 độ) ở phụ nữ. Theo đó, góc được gọi là góc dưới lưỡi ở nam giới và vòm mu ở phụ nữ.

    Sự khác biệt về xương chậu nam và nữ được lấy từ bài viết sau;

    https://www.boundless.com/physiology/textbooks/boundless-anatomy-and-physiology-textbook/skeletal-system-parts-of-the-sk MP và nam-bồ nông-493-4533 /

    Những khác biệt khác không được đề cập ở trên bao gồm những điều sau đây;

    Bộ xương nam

    1. Khoang chậu hẹp hơn và ít phòng hơn.

    2. Coccyx ít di chuyển.

    3. Sacrum dài, hẹp hơn với độ lõm.

    4. Xương chậu nặng và dày

    5. Bề mặt khớp lớn.

    6. Xương chậu sâu hơn.

    7. Vòm vòm dưới 900.

    8. Tubchity Ischial quay vào trong.

    9. Obturator foramen tròn.

    10. Đầu vào xương chậu và đầu ra nhỏ hơn.

    11. Đau thần kinh tọa hẹp.

    12. Các gai xương chậu vượt trội trước gần hơn.

    Bộ xương nữ

    1. Khoang chậu rộng hơn, sâu hơn.

    2. Coccyx di chuyển nhiều hơn.

    3. Sacrum ngắn, rộng gần bằng phẳng với độ cong về phía trước ở phần dưới.

    4. Xương chậu nhẹ và mỏng.

    5. Bề mặt khớp nhỏ.

    6. Xương chậu lớn hơn ngắn.

    7. Vòm vòm hơn 900.

    8. Tubchity Ischial hướng ra ngoài.

    9. Obturator foramen hình bầu dục.

    10. Đầu vào xương chậu và đầu ra lớn hơn.

    11. Đau thần kinh tọa rộng.

    12. Các gai xương chậu vượt trội phía trước cách xa nhau.

    Cả hai danh sách trên được liệt kê trong bài viết sau;

    Sự khác biệt giữa bộ xương nam và nữ

    Tôi hy vọng điều này có thể hữu ích trong một số vấn đề.

    Câu trả lời 4:

    Chà, nếu bạn đang nói về bộ xương của con người nam và nữ trưởng thành, có một vài:

    Nữ giới thường:

    1. Có khung xương chậu rộng hơn được định hướng để thuận lợi cho việc sinh nở
    2. Là một vài inch ngắn hơn.

    Nam giới thường:

    1. Hông hẹp hơn.
    2. Có bờ vai rộng hơn.
    3. Là một vài inch cao hơn.

    Bây giờ, trước khi bất cứ ai nghĩ rằng tôi là một chiều, xin vui lòng đọc các bằng chứng sau đây:

    Đối với những người bạn đã biết về Hội chứng không nhạy cảm Androgen, hãy bỏ qua liên kết.

    hội chứng không nhạy cảm androgen

    là một điều kiện trong đó một người được sinh ra có kiểu hình nữ và kiểu gen XY. Nói cách khác, một số phụ nữ thực sự được sinh ra với nhiễm sắc thể nam.

    Nếu có bất kỳ sự khác biệt cơ bản nào giữa nam (XY) và nữ (XX), người ta sẽ nghĩ rằng họ sẽ được nhìn thấy rõ ràng ở một người như vậy.

    (Bốn phụ nữ ở đây có Hội chứng vô cảm Androgen hoàn toàn.)

    Phụ nữ Intersex lên tiếng để bảo vệ thế hệ tiếp theo

    Câu trả lời 5:

    Có nhiều chỉ số giới tính trong bộ xương người, nhưng sự khác biệt chính là được tìm thấy ở xương chậu và hộp sọ. Trong khung xương chậu, phiên bản nữ có tổng thể tương đối rộng hơn so với nam giới, notch đau thần kinh tọa xuất hiện ở một góc rộng hơn 45 độ, cũng như góc ở phía trước của xương chậu bên dưới bản giao hưởng xương mu. Ngoài ra còn có một sulcus pauricular, một rãnh hoặc rãnh nhìn thấy trên xương chậu, đó là dấu hiệu của khung chậu nữ. Trong hộp sọ, phía trên hốc mắt, con đực có xu hướng có những vầng trán rõ rệt, trong đó những vầng trán của con cái thường không có. Cũng như vậy, ở phía sau trung tâm phía dưới của kỹ năng, con đực có xu hướng có một đỉnh chóp rõ rệt, thường trơn tru và vắng mặt ở con cái.

    Câu trả lời 6:

    Câu trả lời 7:

    Như giáo viên sinh học lớp 10 của tôi đã dạy chúng tôi, cách để nói sự khác biệt về giới tính của bộ xương là bằng hông / xương chậu. Nếu xương chậu là đầu vào xương chậu mở và tròn, thì đó là bộ xương nữ, nếu hẹp hơn, xương chậu hình trái tim là nam. Nếu đó là xương trẻ em, có thể không thể biết được vì sự khác biệt trong bộ xương trở nên rõ rệt trong quá trình dậy thì và trưởng thành tình dục.

    https://anthropology.si.edu/writteninbone/male_fbang.html

    svcministry.org © 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Khác Biệt Thú Vị Giữa Nam Và Nữ
  • Sự Khác Biệt Giữa Hai Giới Và Cách Cải Thiện Mối Quan Hệ
  • Điểm Khác Biệt Trong Hành Vi Mua Hàng Của Nam Và Nữ
  • Tâm Lý Khi Yêu Giữa Hai Phái Có Sự Khác Biệt Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nam Và Nữ
  • Sự Khác Biệt Giữa Bộ Não Của Nam Và Nữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Sự Khác Biệt Thú Vị Giữa Nam Và Nữ Dưới Góc Nhìn Pháp Luật
  • Những Điểm Khác Nhau Giữa Đàn Ông Và Phụ Nữ Trong Tình Yêu
  • Nam Và Nữ Khi Yêu Khác Nhau Như Thế Nào ?
  • 6 Khác Biệt Tâm Lý Cơ Bản Giữa Đàn Ông Và Phụ Nữ Trong Tình Yêu (P2)
  • Sự Khác Biệt Giữa Nam Và Nữ Khi Du Lịch
  • Ở nam và nữ cho thấy sự khác biệt lớn nhất trong kết nối não liên bán cầu, với phụ nữ trẻ đến trung niên có nhiều mối liên hệ giữa bán cầu chủ yếu ở thùy trán, với phụ nữ lớn tuổi cho thấy các kết nối phân phối rộng rãi hơn trong não chứ không phải chỉ ở thùy trán .

    Đàn ông không phải đến từ sao Hỏa và phụ nữ không đến từ sao Kim , nhưng bộ não của họ thực sự đang có những dây mắc xích khác nhau , một nghiên cứu mới của Ragini Verma và các cộng sự thuộc Đại học Pennsylvania cho biết .

    “Trung bình , não bộ ở nam giới kết nối trước ra sau mạnh mẽ hơn so với nữ giới “, trong khi ” não bộ ở nữ giới có các kết nối mạnh mẽ từ trái sang phải, ” trưởng nhóm nghiên cứu Ragini Verma , một phó giáo sư X quang tại Đại học Y khoa Pennsylvania cho biết .

    Nghiên cứu trước đây đã tìm thấy sự khác biệt về hành vi giữa nam và nữ . Ví dụ, phụ nữ có thể có nhận thức xã hội và trí nhớ tốt hơn , trong khi những người đàn ông có thể có động cơ và kỹ năng phân tích tốt hơn . Nghiên cứu hình ảnh não đã chỉ ra rằng phụ nữ có tỷ lệ cao hơn chất xám, mô tính toán của bộ não, trong khi nam giới có tỷ lệ cao hơn của chất trắng , các loại cáp kết của não. Nhưng một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng bộ não nam giới và nữ giới được kết nối khác nhau.

    Trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã scan não của 949 người ở độ tuổi từ 8-22 (428 nam và 521 nữ) , sử dụng một hình thức chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI).

    Những người đàn ông trẻ đã có các kết nối mạnh mẽ hơn trong bán cầu não trong khi các phụ nữ trẻ có các kết nối mạnh mẽ hơn giữa bán cầu , kết quả công trình nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Proceedings của Viện hàn lâm Khoa học ngày Dec.2.2013 . Tuy nhiên , tiểu não , một phần của não dưới đại não, đóng một vai trò trong việc phối hợp chuyển động cơ bắp , cho thấy mô hình ngược lại, với nam giới có kết nối mạnh mẽ hơn giữa bán cầu .

    Nói tổng quát , mặt sau của não bộ xử lý nhận thức và mặt trước của não xử lý hành động; bán cầu trái của não bộ là nơi của tư duy logic, trong khi phía bên phải của não thiên về suy nghĩ trực quan. Những phát hiện cho rằng nam giới có thể nổi trội ở khả năng vận động kết hợp phân tích, trong khi phụ nữ có thể nổi trội ở tư duy trực quan.

    ” Đó là hấp dẫn mà chúng ta có thể thấy một số khác biệt chức năng ở cấu trúc não bộ giữa nam và nữ giới . Cấu trúc não bộ mỗi cá nhân có thể có một phần của cả nam giới và nữ giới trong họ “, Verma nói với LiveScience

    Khi các nhà nghiên cứu đã so sánh những người trẻ tuổi theo nhóm tuổi, họ nhìn thấy sự khác biệt não rõ rệt nhất là ở thanh thiếu niên (13 đến 17 tuổi ) , cho thấy giới tính bắt đầu phân ra ở tuổi thiếu niên . Ở nam và nữ cho thấy sự khác biệt lớn nhất trong kết nối não liên bán cầu, với phụ nữ trẻ đến trung niên có nhiều mối liên hệ giữa bán cầu chủ yếu ở thùy trán, với phụ nữ lớn tuổi cho thấy các kết nối phân phối rộng rãi hơn trong não chứ không phải chỉ ở thùy trán .

    Một câu hỏi kéo dài là liệu sự khác biệt về cấu trúc của não bộ dẫn đến sự khác biệt về chức năng của não , hay sự khác biệt về chức năng dẫn đến thay đổi cấu trúc .

    Những phát hiện này có thể giúp các nhà khoa học hiểu được tại sao một số bệnh , chẳng hạn như bệnh tự kỷ, được phổ biến hơn ở nam giới , Verma nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Căn Bản Giữa Não Bộ Của Nam Và Nữ
  • Có Bất Kỳ Sự Khác Biệt Nào Giữa Não Nam Và Não Nữ Không?
  • Tâm Lý Đàn Ông Sau Khi Chia Tay
  • Top 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android
  • So Sánh “triệt Để” Sự Khác Nhau Giữa Android & Ios
  • Sự Khác Biệt Căn Bản Giữa Não Bộ Của Nam Và Nữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Bộ Não Của Nam Và Nữ
  • Những Sự Khác Biệt Thú Vị Giữa Nam Và Nữ Dưới Góc Nhìn Pháp Luật
  • Những Điểm Khác Nhau Giữa Đàn Ông Và Phụ Nữ Trong Tình Yêu
  • Nam Và Nữ Khi Yêu Khác Nhau Như Thế Nào ?
  • 6 Khác Biệt Tâm Lý Cơ Bản Giữa Đàn Ông Và Phụ Nữ Trong Tình Yêu (P2)
  • Bộ não con người có thể là một trong những đối tượng bí ẩn nhất trong vũ trụ nhưng có một điều tất cả chúng ta đều biết chắc chắn rằng: não của nam giới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau.

    Chính vì vậy người ta nói “Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim”. Sau nhiều thập kỷ tìm hiểu, các nhà khoa học nhận thấy có nhiều điểm khác nhau cơ bản giữa não bộ của nam giới và nữ giới như sau:

    Sự phát triển não bộ của hai giới trong tử cung

    Não nữ phát triển nhanh hơn nam giới. So sánh các bào thai ở tuần thứ 16 cho thấy nồng độ testosterone trong nước ối càng cao thì thai nhi càng chậm phát triển. Các nhà nghiên cứu phát hiện testosterone có trong bào thai nam nhiều hơn 10 lần so với bào thai nữ. Vì phát triển chậm hơn nên đặc trưng của não bộ nam giới thường là chậm thấy, chậm nói, khó thấu hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người khác.

    Một nghiên cứu khác khi siêu âm thai nhi 26 tuần cũng tìm thấy một sự chênh lệch bên trong bộ não của các bé trai và bé gái. Các corpus callosum (cầu nối mô thần kinh liên kết 2 bán cầu não) của nữ dày hơn đáng kể so với nam. Điều này một lần nữa chứng tỏ sự phát triển khác nhau của não bộ tạo nên đặc trưng của nam và nữ giới.

    Sự khác biệt giữa não nam và nữ.

    Khả năng đọc bản đồ chỉ dành cho nam giới

    Não bộ nam giới ngăn nắp hơn

    Nói chung, đàn ông có xu hướng thích phân loại đồ vật và cất chúng vào hộp. Còn phụ nữ thì không thế, nhưng không có nghĩa là họ không ngăn nắp. Bộ não đàn ông thích trật tự, logic trong khi nữ thích sáng tạo, giải quyết vấn đề thông qua trực giác và cảm tính hơn.

    Hành động tung hứng tuyệt vời của phụ nữ

    Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Anh đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ (quét sóng radio hình ảnh chi tiết của cơ thể) để nghiên cứu não bộ của 1.000 người tình nguyện. Tất cả được yêu cầu nhận biết các hình dạng. Khi thực hiện nhiệm vụ này, đàn ông xử lý tồi hơn phụ nữ. Điều này cho thấy não bộ phụ nữ có nhiều liên kết giữa 2 bán cầu não hơn.

    Khả năng về ngôn ngữ

    Phụ nữ tiếp nhận ngôn ngữ mới tốt hơn nam giới. Các nghiên cứu về bộ não người trưởng thành cho thấy phụ nữ có xu hướng sử dụng cả 2 bán cầu não trong khi nam giới chỉ sử dụng não trái. Điều này có nghĩa rằng, khả năng ghi nhớ ngôn ngữ của nam giới và nữ giới khác nhau. Khi tiếp xúc với ngôn ngữ mới, bộ não của nữ hoạt động tốt hơn trong việc mã hóa và nhớ. Trong khi nam giới cần thêm lời nhắc của giáo viên chẳng hạn như chú ý các từ vựng hay lắng nghe.

    Nam giới không bao giờ nghe chính xác một thông điệp dài

    Một nghiên cứu gần đây của các nhà thần kinh học người Mỹ yêu cầu các tình nguyện viên nghe một cuốn tiểu thuyết. Khi nghe, chỉ bán cầu não trái của nam giới hoạt động, trong khi ở nữ giới cả 2 bán cầu cùng hoạt động. Cuối cùng được yêu cầu thuật lại nội dung đã nghe, đa phần đàn ông kể không chính xác bằng phụ nữ.

    Tại sao phụ nữ không bao giờ quên ngày sinh nhật?

    Họ thậm chí lưu trữ ở não trái (nơi những ký ức được lưu lại dễ dàng hơn), trong khi đàn ông lưu ở não phải.

    Tuy nhiên, điều này cũng khiến phụ nữ dễ bị trầm cảm, lo âu và stress sau chấn thương, vì họ có xu hướng bám víu vào những kỷ niệm, gồm cả những ký ức buồn.

    Phụ nữ nhạy bén hơn đàn ông

    Năm 2013, các nhà khoa học Italy tiến hành nghiên cứu quét não của các tình nguyện viên nam và nữ khi cho họ nghe tiếng khóc của một em bé.

    Thể dục thể thao

    Bộ não nam giới được mặc định để xem và chơi thể thao. Các chuyên gia nói rằng ở nam giới hormon testosterone tiết ra nhiều hơn trong các trận đấu thể thao. Vùng não dưới kiểm soát chức năng nội bộ cơ thể nhạy cảm hơn với hormon khiến nó phản ứng mạnh mẽ hơn.

    Đàn ông cũng tăng đột ngột chất dopamine (chất tiết ra khi nhận được phần thưởng và niềm vui) trong khi xem môn thể thao yêu thích. Điều này tất nhiên cũng xảy ra với nữ giới nhưng không phổ biến bằng nam.

    DS. Dương Tuyết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Bất Kỳ Sự Khác Biệt Nào Giữa Não Nam Và Não Nữ Không?
  • Tâm Lý Đàn Ông Sau Khi Chia Tay
  • Top 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android
  • So Sánh “triệt Để” Sự Khác Nhau Giữa Android & Ios
  • Sự Khác Nhau Giữa Kiểm Thử Ứng Dụng Trên Ios Và Kiểm Thử Ứng Dụng Trên Android
  • Sự Khác Biệt Giữa Bộ Luật Dân Sự 2005 Và Bộ Luật Dân Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Loa Nghe Nhạc Và Loa Karaoke Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Rõ Ràng Giữa Một Người Mẹ Mang Thai Ngoài Ý Muốn Và Có Sự Chuẩn Bị Kỹ Càng Trước Khi Sinh Con
  • Sự Khác Biệt Giữa Ung Thư Ở Người Lớn Và Trẻ Em?
  • Giải Mã Sự Khác Nhau Giữa Các Logo Adidas
  • Sự Khác Nhau Giữa Người Con Gái Để Yêu Và Để Kết Hôn
  • 1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    (Điều 2, 3 Bộ luật dân sự 2005)

    1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    5. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

    6. Án lệ

    7. Lẽ công bằng

    (Điều 3, 4, 5, 6 Bộ luật dân sự 2022)

    Tòa án có quyền từ chối

    (vì pháp luật dân sự không có căn cứ để giải quyết vụ việc)

    Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc, trường hợp này dựa theo thứ tự trên để giải quyết. (Khoản 2 Điều 14 Bộ luật dân sự 2022)

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22, 23 Bộ luật dân sự 2005)

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22,23, 24 Bộ luật dân sự 2022)

    Có thể đặt tên bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ khác

    Chỉ được đặt tên bằng tiếng Việt (Khoản 3 Điều 26 Bộ luật dân sự 2022)

    Không phải trả tiền

    Phải trả tiền, trừ khi có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 32 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được phép

    Được phép (Điều 37 Bộ luật dân sự 2022)

    Không có giá trị pháp lý (Điều 134 Bộ luật dân sự 2022)

    Vẫn có giá trị pháp lý trong trường hợp đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ (Điều 129 Bộ luật dân sự 2022)

    Quyền sở hữu

    (Điều 164 Bộ luật dân sự 2005)

    – Quyền sở hữu

    – Quyền khác đối với tài sản gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt.

    Đồng thời, quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    (Căn cứ Điều 158, 159, 160 Bộ luật dân sự 2022)

    Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên đã giao kết hợp đồng phải:

    Không có quy định

    – Thỏa thuận sửa đổi hợp đồng

    – Chấm dứt hợp đồng

    – Yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên.

    (Điều 420 Bộ luật dân sự 2022)

    Giới hạn: 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước (Khỏan 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005)

    Giới hạn: 20%/năm của khoản tiền vay (Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được thừa nhận

    Đựơc thừa nhận trong trường hợp không thê viết hoặc nhờ người khác viết, đánh máy được (Điều 634 Bộ luật dân sự 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Phật Học Đông Á: Hướng Dẫn Tài Liệu Tham Khảo
  • Sự Khác Biệt (Tinh Tế) Giữa Lòng Tự Trọng Và Lòng Tự Ái / Tính Cách
  • 5 Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng / Tâm Lý Học
  • Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng Là Gì?
  • 5 Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng
  • Sự Khác Biệt Giữa Bộ Luật Hình Sự 1999 Và Bộ Luật Hình Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Phạt Vi Phạm Trong Bộ Luật Dân Sự Và Luật Thương Mại
  • Phân Biệt Giữa Người Làm Chứng Và Người Chứng Kiến
  • So Sánh Bộ Luật Hình Sự 2022 (Sửa Đổi 2022) Và Blhs 1999 (Sửa Đổi 2009)
  • Thắng Cbs Là Gì? So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Phanh Abs Và Cbs
  • Khác Nhau Giữa Abs Và Cbs
  • Nhằm khắc phục những sai sót trong quá khứ, nay mình mạn phép chia sẻ những khác biệt giữa Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2022 để phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và cả ứng dụng trong thực tế.

    Lưu ý: Bộ luật hình sự 1999 được nhắc ở tiêu đề và cả ở trong bài viết là Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tương tự với Bộ luật hình sự 2022 cũng như vậy, là Bộ luật hình sự 2022, được sửa đổi, bổ sung năm 2022.

    STT

    Bộ luật hình sự 1999

    Bộ luật hình sự 2022

    Nội dung mới

    1

    Lời nói đầu

    Không có

    Bãi bỏ nội dung Lời nói đầu tại Bộ luật hình sự 1999.

    2

    Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự

    Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.

    Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự

    Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

    Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.

    3

    Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

    Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

    1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bổ sung cơ sở chịu trách nhiệm hình sự không chỉ đối với cá nhân mà còn đối với pháp nhân.

    4

    Điều 3. Nguyên tắc xử lý

    1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

    2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

    Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.

    3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

    4. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

    5. Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

    Điều 3. Nguyên tắc xử lý1. Đối với người phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

    b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

    c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

    đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

    g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

    2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

    Bổ sung nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân phạm tội.

    5

    Điều 4. Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

    2. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

    3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

    2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

    3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

    Sửa đổi từ ngữ cho phù hợp hơn trước, đồng thời các cơ quan có trách nhiệm phòng chống tội phạm cũng được trao quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ này.

    6

    Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

    2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    – Mở rộng hiệu lực áp dụng của Bộ luật hình sự trong trường hợp vi phạm xảy ra ở tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

    – Quy định lại nội dung áp dụng BLHS 2022 đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN. (Trong khi trước đây mặc định các đối tượng này được giải quyết bằng con đường ngoại giao)

    7

    Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

    Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

    2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

    Bổ sung hiệu lực áp dụng đối với pháp nhân thương mại Việt Nam, pháp nhân thương mại nước ngoài.

    Đồng thời quy định hiệu lực áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    8

    Điều 7.Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

    1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

    2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

    1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

    2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự,miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện,xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    Bổ sung quy định “loại trừ trách nhiệm hình sự”, “tha tù trước thời hạn có điều kiện”

    9

    Điều 8. Khái niệm tội phạm

    1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Điều 8. Khái niệm tội phạm

    2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Điều 9. Phân loại tội phạm

    1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

    a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

    – Quy định thêm đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

    – Nhấn mạnh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng loại tội phạm.

    – Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì khung cao nhất không chỉ là đến 03 năm tù mà còn là hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ.

    10

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    – Bổ sung quy định loại trừ đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.

    – Quy định cụ thể trường hợp người phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

    11

    Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bãi bỏ một số nội dung không cần thiết tại quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

    Đội ngũ luật sư – Hãng Luật TGS LAWFIRM

    Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – GĐ Hãng Luật TGS

    Ông là một luật sư giỏi có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đất đai. Luật sư đã tham gia tranh tụng nhiều vụ án tranh chấp đất đai, vụ án hình sự, kinh tế, thương mại,.. trên toàn quốc.

    Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc Hãng Luật TGS

    Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng là một luật sư giỏi, đã từng công tác tại Công ty Luật TNHH NHB và nhiều công ty luật có thương hiệu khác, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Đất đai, hình sự, dân sự..

    Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Luật sư Hãng Luật TGS

    Luật sư Đức Hùng từng công tác tại nhiều tổ chức hành nghề luật sư uy tín, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tranh tụng hình sự, đất đai, tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình.

    Luật sư Hà Huy Sơn – Luật sư Hãng Luật TGS

    Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực hình sự. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Hình Sự, luật sư Hà Huy Sơn đã gây dựng được cho mình thương hiệu riêng và sự uy tín vững chắc đối với khách hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa “university” Và “college”
  • Sự Khác Biệt Giữa Tâm Lý Đàn Ông Và Phụ Nữ Sau Khi Chia Tay
  • Top 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android 2022
  • 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android
  • Sự Khác Biệt Giữa Android Và Ios?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100