Sự Khác Nhau Của Nền Dân Chủ Tư Sản Với Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa

--- Bài mới hơn ---

  • Những Dấu Hiệu Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Đau Bụng Kinh Và Có Thai
  • Những Nét Đặc Trưng Của Làng Quê Bắc Bộ
  • Bức Tranh Toàn Cảnh Về Văn Hóa Làng Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
  • Bài Tập Tự Luận 1,2,3,4,5 Trang 78 Sbt Sinh 8: Bài 1. Vì Sao Có Sự Khác Nhau Về Thành Phần Của Nước Tiểu Đầu Và Máu
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 354:2006 Về Tiêu Chuẩn Vật Liệu Nhũ Tương Nhựa Đường Gốc Axít
  • Mõ Làng: Dành cho ngày nhân quyền 10/12

    Âm mưu tung hô vấn đề dân chủ mà các nhóm “đối lập” tự xưng là “xã hội dân sự” tung ra gần đây là nhằm phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong nhận thức của họ, chỉ có các đảng dân chủ -xã hội mới thật sự “dân chủ”, còn đảng cộng sản không thể có dân chủ. Nhưng luận điệu đó đôi khi cũng làm vài người ngộ nhận bởi nó có thủ đoạn. Cốt lõi của thủ đoạn ấy là lờ đi sự khác nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vậy sự khác nhau ấy ở chỗ nào.

    Ngày nay, các hoạt động của các trào lưu xã hội dân chủ gắn với những quyền lợi của chủ nghĩa tư bản. Số phận của họ cũng rất khó tách rời số phận của nhà nước tư bản. Chủ nghĩa tư bản lại tiếp tục điều chỉnh đường lối cho phù hợp với tình hình thời cuộc. Nhiều học giả tư sản đã thừa nhận điều này.

    Chủ nghĩa xã hội dân chủ từ khi xuất hiện, cạnh những hạn chế về tư tưởng là những bước tiến khi họ biết tập trung giải quyết những vấn đề phúc lợi xã hội và dân sinh. Nó vừa là lý luận, vừa là một loại phong trào và chế độ. Bản thân nó là một quần thể tư tưởng phức tạp. Tư tưởng đa nguyên chính trị lại thay đổi luôn. Nội bộ của các đảng này không phải lúc nào cũng đoàn kết. Hạn chế lớn nhất của họ là không có một quan điểm thống nhất. Các đảng dân chủ – xã hội chủ trương thông qua tranh cử trong nghị viện để cầm quyền. Trong khi cầm quyền, họ thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội và thông qua đó, họ xây dựng nhà nước phúc lợi dân chủ. Một số đảng dân chủ – xã hội có xu hướng xây dựng “đường lối trung gian” (còn gọi là “đường lối thứ ba”), vừa không là chủ nghĩa tư bản, vừa không là chủ nghĩa xã hội.

    Trong những năm gần đây, lý luận và đường lối của chủ nghĩa xã hội dân chủ có sự điều chỉnh liên tục. Sự điều chỉnh này đã lôi kéo được một bộ phận dân chúng.

    Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Dân chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản hiện đại.

    Còn trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương (theo con đường tiến hoá). Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước ở phương Tây. Có được khả năng điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh của các đảng xã hội – dân chủ tự cho mình là thầy thuốc bên giường bệnh của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội – dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố chủ nghĩa xã hội dân chủ là cương lĩnh tư tưởng của họ.

    Trong thực tế, một số đảng xã hội-dân chủ đã thành đạt trong một số cải cách xã hội. Song, những cải cách ấy, xét cho cùng, vẫn có lợi cho nhà nước tư bản nhiều hơn là lợi cho đại đa số nhân dân nước họ. Rút cục, chính sách thích nghi vẫn lệ thuộc vào chế độ tư bản chủ nghĩa. Những quyền lợi cơ bản về chính trị và kinh tế vẫn nằm trong tay nhà nước tư bản.

    Một số đảng xã hội – dân chủ tiến bộ ở châu Âu đã phản đối việc Mỹ gây chiến tranh xâm lược các nước nhỏ bé, vi phạm quyền độc lập dân tộc của họ. Một số người trong phái xã hội- dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản. Một số chính khách trong cánh tả đã mạnh dạn sửa đổi cương lĩnh của mình.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, lên án những tư tưởng cải lương, cơ hội của phái xã hội dân chủ, mặt khác, để mở rộng đường dân chủ, cũng chủ trương hợp tác với họ trên cơ sở đáp ứng lợi ích của dân tộc mình. Sự khác biệt về quan điểm nhận thức dân chủ giữa những người cộng sản và những người xã hội-dân chủ được giới hạn bởi những nguyên tắc của nó. Trượt theo bánh xe dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ sẽ dẫn đến sự phản bội những tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa mà các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã dày công xây dựng và vun đắp. So với dân chủ tư sản và dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ, thì dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bước tiến mới trong tư tưởng dân chủ của xã hội loài người.

    Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do nhiều yếu tố xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo vệ. Các cơ quan chính quyền được bầu ra thông qua cuộc đầu phiếu phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

    Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội.

    Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh những lợi ích của nhân dân.

    Là một kiểu tổ chức dân chủ cao nhất của xã hội loài người, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành và đi qua những chặng đường đáng ghi nhớ. Những hình thức tổ chức đời sống chính trị mới được hình thành, những thể chế dân chủ được tạo nên, những truyền thống mới được xác lập.

    Trong quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn phải đấu tranh quyết liệt với nền dân chủ tư sản. Bằng những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, nền dân chủ tư sản rêu rao nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không dân chủ. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa để thấy tính hơn hẳn của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa so với nền dân chủ tư sản. Về thực tiễn, phải tiếp tục mở rộng hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở việc làm cho nhân dân ngày càng có điều kiện tham gia vào việc quản lý xã hội, tạo điều kiện cho bộ máy chính quyền nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hệ thống chính trị được tăng cường và bảo đảm. Dân chủ đã trở thành một đòi hỏi của quá trình phát triển xã hội.

    Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện và thực hiện theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và tầng lớp trí thức”. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác, học tập… Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

    Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập ở từng cấp và đang được thực hiện ở cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Việt Nam đang từng bước khắc phục những hiện tượng vi phạm dân chủ ở cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.

    Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

    Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài: Dân vận. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:

    “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

    Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

    Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

    Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

    Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

    Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

    Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

    Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đang thực hiện lời giáo huấn của Người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủy Đậu Khác Zona Như Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt Bệnh Zona Thần Kinh Và Thủy Đậu
  • Phân Biệt Zona Thần Kinh Và Thủy Đậu
  • Y Sĩ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Y Sĩ Và Điều Dưỡng
  • Y Tá Và Điều Dưỡng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nghiên Cứu Định Tính Và Nghiên Cứu Định Lượng
  • Phân Biệt Nghiên Cứu Định Lượng Và Định Tính Trong Marketing
  • Nghiên Cứu Tiền Khả Thi
  • Quy Trình, Nội Dung Thẩm Định Báo Cáo Nghiên Cứu Tiền Khả Thi Dự Án Ppp
  • Câu 1 Phân Biệt Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính. Ý Nghĩa Của Chúng Với Quản Lý Và Đời Sống
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành chủ nghĩa xã hội học với đề tài: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC HÀ NỘI – 2022
    2. 2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Mã số: 62 22 03 08 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi NGUYỄN ĐỨC BÁCH HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả luận án Lê Thị Thu Mai
    4. 5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ vốn là một giá trị phổ biến xuất phát từ thực tiễn sản xuất và sinh hoạt của nhân loại từ thời nguyên thủy xa xưa – dân chủ nguyên thủy. Sau đó, dân chủ còn là khát vọng và là mục tiêu đấu tranh không ngừng của đại đa số nhân dân trong lịch sử hình thành và phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Thực tế cho thấy, vấn đề dân chủ đã và đang được các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị trong mọi thời đại, từ thời cổ đại đến nay, tiếp tục quan tâm và bàn luận. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển thực tiễn, lý luận và các chế độ dân chủ khác nhau: dân chủ nguyên thủy (khi chưa có chế độ tư hữu, giai cấp); chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản và ngày nay, theo quan điểm mácxít, là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản là đích đến mà dù sớm hay muộn, tất cả nhân loại sẽ vươn tới; là xã hội tốt đẹp trong đó mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Dân chủ là một trong những giá trị, đặc trưng cơ bản thuộc về bản chất của xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, trong di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, tư tưởng về dân chủ và thực hành dân chủ là một trong những nội dung quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “dân làm chủ”; rằng, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”. Trong thời đại ngày nay, đối với dân tộc Việt Nam, thực hiện tốt dân chủ là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản để hội nhập và phát triển theo con đường cách mạng mà Đảng và dân tộc ta đã xác định. Có thể nói, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không nói đến nền
    5. 6. 2 dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho dù vẫn đang trong quá trình từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá, thực thi và đã có nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, như Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm; có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội ; Nguyễn Đăng Quang, Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ ; Cao Văn Thống, Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay ; Lương Đình Hải, Xây dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hóa xã hội ở nước ta hiện nay . Đây là cuốn sách đã trình bày, phân tích nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ và dân chủ ở cơ sở như: tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; vai trò của dân chủ đối với phát triển cộng đồng; những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta; vấn đề đặt ra và các giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta trong tiến trình đổi mới. Nguyễn Thanh Tuấn, Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa ; Phan Xuân Sơn, Những nội dung mới về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ; Vũ Hoàng Công, Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng . Các tác giả của công trình không chỉ nêu lên những vấn đề chung về dân chủ, về nhân quyền đang được các nhà lý luận ở nhiều nước trên thế giới sử dụng mà còn đi sâu phân tích, phê phán những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Lê Minh Quân, Dân chủ và dân chủ hóa từ một số cách tiếp cận cơ bản ; Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về dân chủ . Công trình này đã trình bày, phân tích quá trình đổi mới, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Qua đó, nêu lên những nhận thức mới của Đảng về mục tiêu, đặc trưng và các nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Sĩ Quý, Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển , ở những khía cạnh khác, trong các quan hệ khác nhau của đời sống xã hội, tác giả còn nêu ra 11 quan niệm khác nhau về dân chủ. Một số quan niệm đó là: “Dân chủ là một lối sống dựa trên sự tôn trọng quyền cá nhân”; “Dân chủ là quyền bình đẳng của mỗi người trong việc nhận thức và hành động xây dựng xã hội, theo cách mà đa số đều đạt được lợi ích”, “Dân chủ là một tư tưởng chính trị, mà các giá trị cơ bản của nó là tự do, bình đẳng và thừa nhận lẫn nhau” hay “Dân chủ là một sự trao đổi và đối thoại được thực hiện một cách tự do nhất giữa các thành viên xã hội”; hoặc “Dân chủ là một hình thức tổ chức chính quyền, để tất cả mọi người đều có thể, trực tiếp hoặc gián tiếp, tham gia vào các quyết định quan trọng trong phân bổ các giá trị”… . 1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Vũ Văn Hiền, Dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc . Tác giả đã khái quát những nét chính về thể chế chính trị của các nước trong từng châu lục để có cách nhìn tổng quan hơn, so sánh đậm nét hơn về những nét giống và khác nhau của thể chế chính trị từng châu lục trên toàn thế giới, từ đó chỉ ra kinh nghiệm và những gợi mở đối với việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam. Phạm Văn Đức, Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền . Những nhận định như vậy có ý nghĩa quan trọng để luận án tham khảo trong việc so sánh về thực tiễn hai nền dân chủ mà chúng tôi triển khai ở chương 3.
    6. 15. 11 Các công trình trên cũng đã chỉ ra những hạn chế, những “bế tắc” của nền dân chủ phương Tây trước yêu cầu phát triển mới. Đặc biệt, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục đấu tranh đòi thực hiện nền dân chủ công bằng hơn, bảo vệ lợi ích cho họ. Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể thấy, nền dân chủ tư sản hay “dân chủ phương Tây” không phải là “một mô hình lý tưởng”, một “khuôn mẫu” để các nước học tập hay mô phỏng. Bản thân các học giả phương Tây cũng thừa nhận điều này. Đây cũng là một bài học cho quá trình xây dựng và thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta học hỏi, tiếp thu các giá trị tiến bộ, tích cực của dân chủ phương Tây nhưng cũng phải biết loại bỏ những tính chất tiêu cực của nó, đặc biệt đấu tranh phê phán các quan điểm có tính chất áp đặt mô hình dân chủ phương Tây vào nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch. Nguyễn Tiến Phồn, Dân chủ và tập trung dân chủ: Lý luận và thực tiễn . Trong công trình này, tác giả luận giải nhiều nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như: cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng văn hóa pháp luật… Lê Minh Quân, Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay . Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh, Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam . Trong cuốn sách này, các tác giả đã dành hẳn một chương để phân tích, tổng kết về xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, về đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền qua 30 năm đổi mới ở Việt Nam. Đây là những vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục làm rõ. Đỗ Thị Thạch, Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới đất nước . Trong bài viết này, tác
    7. 17. 13 giả đã phân tích những điểm chung – tương đồng của ba chế độ dân chủ đã có trong lịch sử: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Những điểm chung – tương đồng đó là: 1) Đều là một chế độ chính trị – một hình thức nhà nước khi xã hội còn giai cấp. 2) Đều có bộ máy nhà nước và quan chức do bầu cử. 3) Đều có hệ thống pháp luật nhà nước để buộc mọi người phải tuân thủ… 4) Đều chỉ có một giai cấp lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội… Đặc biệt, tác giả chỉ ra những khác biệt căn bản giữa các chế độ dân chủ khác nhau (dù có kế thừa nhau), suy cho cùng là ở bản chất – mục tiêu và lợi ích của các giai cấp lãnh đạo xã hội… đã chi phối sự khác nhau về ý thức hệ, về nội dung cụ thể của các luật pháp và các mối quan hệ về địa vị, về lợi ích… giữa các giai cấp lãnh đạo xã hội với các giai tầng còn lại trong mỗi chế độ dân chủ đó. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo, Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa . Đây là công trình mà tác giả trình bày lịch sử hình thành phát triển dân chủ từ phương diện lý luận, thực tiễn; phân tích bản chất, thực
    8. 18. 14 trạng của dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; vấn đề xây dựng chế độ dân chủ ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp. Nguyễn Văn Quyết, Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa . Trong công trình này, tác giả đã dành một tiết của Chương IV để so sánh những điểm giống và khác nhau cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa so với dân chủ tư sản. Trong đó, về những điểm giống nhau, tác giả nêu rõ: Một là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều phải thực hành dân chủ thông qua hình thức nhà nước pháp quyền; Hai là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều đề cao nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân; Ba là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như chế độ dân chủ tư sản đều bị quy định bởi trình độ phát triển của kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, dân trí và thông tin. Về những điểm khác nhau, theo tác giả Lô Quốc Toản, một là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình. Còn chế độ dân chủ tư sản lại lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình; hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ cho nhân dân, trong khi đó, trong nhà nước pháp quyền tư sản, giai cấp tư sản nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì vậy trên thực tế toàn bộ pháp luật cũng như cơ chế vận hành của xã hội đều thể hiện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản; ba là, nền dân chủ xã hội
    9. 20. 16 chúng ta đã nhận thấy lý do vững chắc để không chấp nhận bất cứ mô hình nào, dù đó là mô hình cổ điển hay hiện đại” là một nghiên cứu trong đó chỉ ra các nguyên tắc nền tảng của dân chủ; cuộc khủng hoảng của dân chủ phương Tây; mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển ở các nước trên thế giới và ở Nga. Tác giả cho rằng, chính ảnh hưởng của Liên Xô và những thành tựu mà Liên Xô đạt được trong lĩnh vực xã hội đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình nhà nước phúc lợi. Theo đó, ở Nga hiện nay, việc xây dựng nhà nước phúc lợi theo mô hình Bắc Âu là phù hợp với tâm lý của nhiều người và phù hợp với kinh nghiệm lịch sử của thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Hồ Cẩm Đào, Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa . Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử, Dân chủ trực tiếp: sổ tay IDEA quốc tế . Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên một cách khá đầy đủ dự án “dân chủ xã hội” và những nhiệm vụ quan trọng nhất trong tương lai trong thế giới toàn cầu hóa. Theo đó, các quyền cơ bản về dân sự và chính trị phải được bổ sung bằng các quyền xã hội và kinh tế nhằm tạo dựng được những điều kiện sống có nhân phẩm cho tất cả mọi người. Trọng tâm mà cuốn sách muốn đề cập là nền dân chủ hiện đại được hợp thức hóa như thế nào, công bằng xã hội có vai trò ra sao đối với nền dân chủ hiện đại, nền dân chủ ấy dựa trên những quyền cơ bản nào và nó có ý nghĩa thế nào đối với sự ổn định và hiệu quả của một xã hội? Trên cơ sở các tiêu chuẩn cơ bản của dân chủ xã hội, cuốn sách giới thiệu một cách khái quát mô hình thể chế dân chủ ở 6 quốc gia khác nhau. Trong đó, Thụy Điển, Hà Lan và Cộng hòa Liên bang Đức là những quốc gia, thông qua con đường riêng của mình, đã xây dựng tương đối thành công những thể chế dân chủ đáp ứng được ở mức độ cao những đòi hỏi đối với một thể chế dân chủ xã hội; Mỹ và Anh là những quốc gia, cũng bằng cách riêng của mình và ở những mức độ khác nhau, đã xây dựng những thể chế dân chủ theo kiểu tân tự do. Nhật Bản là một quốc gia với một nền văn hóa khác hẳn nền văn hóa châu Âu, đã xây dựng được một thể chế dân chủ đáp ứng được phần lớn các tiêu chuẩn của mô hình dân chủ xã hội. Những luận điểm trong cuốn sách cung cấp thêm những cách nhìn đa chiều về mô hình dân chủ tư sản với những ưu điểm và cả những hạn chế của nó. Đây là một vấn đề mà luận án quan tâm làm rõ. Davit Held, Các mô hình quản lý nhà nước . Câu hỏi mà tác giả đặt ra là: tại sao những người tự do ở Nga không còn tin tưởng vào giá trị tự do của phương Tây và Mỹ nữa? Qua việc nghiên cứu nền dân chủ phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản là: “Sự thật là bản thân chủ nghĩa tự do phương Tây hiện nay còn rất nhiều vấn đề, nhất là vấn đề xuất khẩu dân chủ”. Sự can thiệp của phương Tây vào các nước kém phát triển trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền bằng bạo lực đã lộ rõ bộ mặt bá quyền thế giới của họ. Trích dẫn các ý kiến của các học giả phương Tây như F.Fukuyama hay W.Galstom, bản thân họ cũng cho rằng: “Chúng ta cần một sự đổi mới cơ bản của tự do truyền thống nước Mỹ”. Còn Z.Brenzinski, cố vấn cao cấp của Tổng thống Mỹ cũng nhận định: “Châu Âu là nơi nghỉ hưu lý tưởng nhất thế giới”. Sự kém năng động của nền kinh tế các nước phương Tây trong những năm vừa qua chính là cơ sở để ông đi đến nhưng kết luận này. Như vậy, tự do, dân chủ phương Tây cũng đang đặt ra những vấn đề đòi hỏi phải được đổi mới, cải cách. Đài Tiếng nói quốc tế nước Nga, Những vấn đề của nền dân chủ Mỹ . 2.1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ ra đời trên cơ sở kế thừa các thành tựu của văn minh nhân loại; một mặt, các ông phát triển những tư tưởng dân chủ đã có, mặt khác bổ sung, phát triển quan điểm mới phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời. Quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển về dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, trên cơ sở từ “nội hàm gốc” của “dân chủ nguyên thủy” – với nghĩa thật sự là “quyền lực của nhân dân” trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, các ông đã tập trung nghiên cứu “vấn đề dân chủ” từ khi xã hội loài người có chế độ tư hữu và phân chia thành giai cấp và xuất hiện các loại nhà nước, dân chủ (chế độ dân chủ hoặc nền dân chủ). Đó là hình thức tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền lực. Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta, C.Mác chỉ rõ: “từ “dân chủ” nếu chuyển sang tiếng Đức thì có nghĩa là “nhân dân làm chủ””. Thứ hai, chủ nghĩa Mác-Lênin sử dụng khái niệm dân chủ trên phương diện quyền lợi của nhân dân, là vấn đề quyền lợi dân chủ được hiểu theo nghĩa rộng. C.Mác cho rằng, nhân dân nên là chủ nhân của nhà nước. Quyền lợi căn bản nhất của nhân dân chính là quyền lực nhà nước phải thuộc sở hữu của nhân dân, sở hữu của xã hội; đồng thời, bộ máy nhà nước phải phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Chỉ khi mọi quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mới có thể căn bản đảm bảo việc nhân dân được hưởng quyền làm chủ, hưởng quyền lợi dân chủ khắp mọi nơi. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin cho rằng dân chủ là việc nhân dân được hưởng quyền tham gia quyết định chế độ nhà nước và quản lý nhà nước. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin khẳng định: Quần chúng phải có quyền được tự mình cử ra những người lãnh đạo có trách nhiệm, có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó. Quần chúng phải có quyền được đề bạt trong nội bộ của họ bất kỳ một công nhân nào lên phụ trách chức vụ lãnh đạo. Nhưng như vậy không mảy may có nghĩa là quá trình lao động tập thể có thể không cần một sự lãnh đạo nào, không cần có sự xác định chính xác chức trách của người lãnh đạo, không cần một trật tự hết sức nghiêm ngặt do ý chí thống nhất của người lãnh đạo lập ra .
    10. 34. 30 hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực làm chủ xã hội. Những thành tựu đạt được của dân chủ trước chủ nghĩa xã hội, mà đỉnh cao là dân chủ tư sản, xét về ý nghĩa khách quan, đều mang những tiến bộ xã hội, vì nó từng bước chuẩn bị tiến tới nền dân chủ đầy đủ, triệt để và hoàn thiện nhất trong chủ nghĩa xã hội. Mặc dù chưa đem lại quyền lực cho đa số người lao động, nhưng nền dân chủ tư sản vẫn cần thiết đối với tiến bộ xã hội. Nó tích lũy và làm chín muồi ý thức dân chủ, tinh thần phản kháng mọi hiện tượng bất công, mất dân chủ, tạo nên sự trưởng thành về chính trị, ý thức giai cấp của quần chúng, cung cấp cho họ kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để chuyển từ đấu tranh đòi cải thiện dân sinh dân chủ sang đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, tức là vì dân chủ thực sự, triệt để nhất. V.I. Lênin đã chỉ rõ, chính chủ nghĩa tư bản trong tiến trình phát triển của nó đã dẫn tới các tiền đề cho sự chín muồi đầy đủ của dân chủ và một khi dân chủ đã phát triển đầy đủ thì nó không thể dung nạp được trật tự tư sản. Do vậy, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn. 2.1.1.3. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Về nền dân chủ tư sản, nghiên cứu vấn đề dân chủ được đặt ra trong điều kiện phải đấu tranh trực tiếp với những quan điểm tư sản về dân chủ; sự tuyệt đối hóa những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản đương thời cũng như nhu cầu thực tiễn phải vượt qua dân chủ tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen trước hết vạch trần bản chất giả dối của dân chủ tư sản. Ph.Ăngghen viết về chế độ dân chủ tư sản như sau: Chế độ dân chủ, giống như bất kỳ chính thể nào khác, cũng là sự dối trá, chẳng qua cũng chỉ là sự giả dối… Tự do chính trị là tự do giả, là chế độ nô lệ tồi nhất; nó chỉ là cái vẻ bề ngoài của tự do, và vì thế, trên thực tế, nó là chế độ nô lệ. Bình đẳng chính trị cũng như vậy, vì thế chế độ dân chủ (tức là dân chủ trong chủ nghĩa tư bản –
    11. 36. 32 C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng, việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng của công dân. Theo các ông: “… những quyền tự do như tự do báo chí, tự do lập hội và tự do hội họp, quyền đầu phiếu phổ thông, quyền tự trị của địa phương – những quyền mà nếu không có… thì công nhân sẽ không bao giờ có thể giải phóng được mình” . Rất nhiều công trình nghiên cứu sau này đều có nhận định, quyền bình đẳng xã hội của các công dân là tiền đề quan trọng nhất trong thực hiện dân chủ . Liên hệ với tình hình thực tế cuộc sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong những năm đầu thế kỷ XX – khi mà đại bộ phận nhân dân lao động tại các nước Á, Phi, Mỹ Latinh đang chịu cảnh nô lệ; giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại các nước tư bản đang bị bóc lột sức lao động một cách nặng nề sẽ thấy rõ, V.I.Lênin đã từ những ví dụ thực tế và sinh động đó mà đi đến kết luận: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” . Thứ hai, cách tiếp cận coi nhân quyền là bộ phận cốt lõi của dân chủ, đồng thời cho rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền; và, xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, thời gian và không gian không có giá trị nhiều trong việc làm nó biến đổi. Ở vế thứ nhất, quan niệm trên có mặt hợp lý nhưng có điểm sai lầm. Đúng ở chỗ: nhân quyền là một bộ phận của dân chủ và đấu tranh cho quyền con người là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho dân chủ. Sai lầm ở chỗ, đã nhấn mạnh nhóm quyền dân sự, chính trị và tự do cá nhân, coi đây là “chuẩn mực quốc tế” về dân chủ, nhân quyền; coi “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhân quyền không còn là công việc thuộc nội bộ của một nước và cho rằng, cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để can thiệp nhân đạo và bảo vệ nhân quyền… Quan điểm trên chỉ là một hình thức biến tướng của chủ nghĩa thực dân mới. Bởi vì trước đây, để mở rộng thuộc địa, các nước đế quốc thường sử dụng phương thức cổ điển là đánh thành và chiếm đất. Còn ngày nay, họ trắng trợn can thiệp vào nội bộ các nước có chủ quyền bằng nhiều âm mưu, thủ
    12. 40. 36 đoạn và hình thức khác nhau, không hẳn vì mục đích xâm chiếm lãnh thổ mà vì muốn áp đặt quan niệm “nhân quyền” của mình đối với quốc gia, dân tộc khác. Cần phải nói ngay rằng, những người đưa ra và cổ súy cho luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hay “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới”, ngay từ đầu họ đã cố tình hoặc lảng tránh một lẽ đơn giản là, trên thế giới không thể có một con người nào sống ngoài cộng đồng quốc gia, dân tộc; càng không có cái thế giới tồn tại mà không cần rạch ròi biên giới giữa các quốc gia. Họ cũng bỏ qua một sự thật hiển nhiên là, thời đại mà chúng ta đang sống có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng nghìn dân tộc khác nhau, theo những tôn giáo khác nhau và có truyền thống văn hóa khác nhau. Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đó, con người thuộc các chế độ chính trị – xã hội khác nhau, cùng một lúc chịu sự tác động của hai mối quan hệ: quan hệ về nhân quyền và quan hệ về chủ quyền quốc gia. Quan hệ nhân quyền là quan hệ về cá nhân, còn quan hệ chủ quyền quốc gia là quan hệ cộng đồng các cá nhân trong quốc gia đó. Hai mối quan hệ cơ bản của con người là nhân quyền và chủ quyền quốc gia không cùng một bậc, không cùng một tuyến tiếp cận, và do đó, không thể đem so sánh cái này cao hoặc thấp hơn cái kia. Việc quy chủ quyền quốc gia về cùng một bậc với nhân quyền, rồi coi “nhân quyền” cao hơn “chủ quyền” là một việc làm khiên cưỡng, không lôgíc, phản khoa học và thiếu tính thuyết phục. Thực tế lịch sử cho thấy, đối với một dân tộc còn đang bị đế quốc đô hộ thì yêu cầu quan trọng nhất là quyền được sống trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có quyền công dân, quyền con người theo đúng nghĩa của các từ đó. Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học về quyền dân chủ, quyền con người. Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường. Giành được chủ quyền là điều kiện để có nhân quyền. Bảo đảm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là một bộ phận cốt lõi, là điều
    13. 41. 37 kiện khởi đầu trong cuộc đấu tranh cho quyền công dân, quyền con người. Nhân quyền trước hết là quyền của mỗi người, mỗi dân tộc được tự quyết, được sống trong độc lập, tự do và được phát triển về mọi mặt; các quyền dân sự, chính trị phải gắn liền với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; tự do cá nhân phải gắn với lợi ích chung của dân tộc và trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng. Bảo đảm và thực hiện quyền con người trước hết là trách nhiệm quốc gia, không thể có sự áp đặt, can thiệp từ bên ngoài. Vế thứ hai của quan niệm trên xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, phi giai cấp, phi lịch sử. Sai lầm của quan niệm này là đã tuyệt đối hóa cái chung, cái phổ biến của dân chủ, xem chúng tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái riêng. Những nước nào không thực hiện theo những cái chung này thì không được họ xem là dân chủ. Trên thực tế, quan niệm này tuyệt đối hóa các giá trị dân chủ, nhân quyền đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là ở phương Tây, đặc biệt là dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là “khuôn vàng, thước ngọc” buộc mọi nước phải khuôn theo. Theo đó, dân chủ đồng nghĩa với Mỹ, với phương Tây. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là chuẩn mực quốc tế mà các nước tất yếu phải tuân thủ trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Chúng ta không phủ nhận, giữa các loại hình dân chủ, nhân quyền khác nhau đều có những giá trị chung, mang tính phổ biến. Nhưng thực tế lịch sử chứng minh rằng, những cái chung, phổ biến ấy bao giờ cũng biểu hiện sự tồn tại của nó bằng nhiều sắc thái, mức độ phong phú khác nhau thông qua những nền dân chủ cụ thể. Các giá trị dân chủ, nhân quyền đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử và văn hóa. Mô hình dân chủ của phương Tây và Mỹ chỉ là một trong những kiểu phát triển, một trong những phương án phát triển dân chủ của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù nó tạo ra không ít giá trị dân chủ có tính phổ biến nhưng thực chất đó chỉ là dân chủ của giai cấp tư sản, dân chủ của một số ít người trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đi Tìm Sự Khác Nhau Giữa Ngành Marketing Và Sales
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Quản Trị Kinh Doanh Và Marketing?
  • Đặc Điểm Nào Thể Hiện Sự Giống Nhau Giữa Lưới Nội Chất Hạt Và Lưới Nội Chất Trơn?(1) Là Một Hệ Thống Và
  • Homestay Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Homestay, Khách Sạn Và Resort
  • Sự Khác Nhau Giữa Resort Và Hotel
  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Xã Hội Và Chủ Nghĩa Cộng Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Bếp Từ Và Bếp Hồng Ngoại, Nên Dùng Loại Nào ?
  • Bằng Cử Nhân Và Bằng Kỹ Sư Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii
  • Dây Điện Và Dây Cáp Điện Khác Nhau Gì? Khi Nào Thì Dùng Dây Điện
  • Phân Biệt Dây Dẫn Điện Và Dây Cáp Điện
  • Vào thời gian đó, những người công nhận làm việc nặng nhọc trong những điều liện thiếu an toàn và tồi tệ một cách kinh khủng. Họ phải làm việc 12 đến 14 tiếng một ngày, 6 ngày trên 7, không có bữa ăn trưa. Giới công nhân đó bao gồm cả những đứa trẻ mới 6 tuổi với bàn tay nhỏ và những ngón tay linh hoạt có thể luồn vào trong những cỗ máy để sửa chữa hay chùi rửa. Môi trường nghèo nàn ánh sáng, không có hệ thống thông gió, hệ thống máy móc thiết kế kém thường xuyên làm bị thương hoặc làm chết những người lao động.

    Lý thuyết cơ bản về Chủ nghĩa Cộng sản

    Để phản ứng lại những điều kiện kinh khủng đó của Chủ nghĩa Tư bản, lý thuyết gia người Đức Karl Max (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) đã sáng tạo ra một hệ thống kinh tế chính trị mới: Chủ nghĩa Cộng sản. Trong cuốn sách ” Điều kiện làm việc của giai cấp công nhân tại Anh ” , ” Bản tuyên ngôn của Chủ nghĩa Cộng sản ” và ” Tư bản luận “, Marx và Engels chỉ trích sự lạm dụng sức lao động trong hệ thống Tư bản và đưa ra một giả thuyết không tưởng.

    Dưới chế độ Cộng sản, không có một tư liệu sản xuất nào (nhà mày, đất, etc) được tư hữu. Thay vào đó, chính phủ sẽ quản lý và tất cả mọi người làm việc chung với nhau. Của cải làm ra sẽ được chia đều dựa trên nhu cầu hơn là dựa trên sức lực đóng góp vào lao động. Về mặt lý thuyết, kết quả là một xã hội không giai cấp, tất cả mọi thứ đều là của chung.

    Để xây dựng được thiên đường của những người công nhân cộng sản đó, hệ thống tư bản phải bị phá hủy bằng cách mạng bạo lực. Marx và Engels đã tin rằng tầng lớp công nhân này (tầng lớp vô sản) sẽ nổi lên trên toàn thế giới và lật đổ giai cấp bậc trung (giới tư sản). Một khi Chủ nghĩa Cộng sản được thiết lập, ngay cả chính phủ cũng sẽ không cần thiết, tất cả làm việc cùng nhau cho một lợi ích chung của tập thể.

    Lý thuyết của Chủ nghĩa Xã hội giống với Chủ nghĩa Cộng sản trên vài mặt, nhưng ít thiên tả và linh hoạt hơn. Ví dụ : mặc dù việc để chính phủ quản lý tư liệu sản xuất là một phương pháp khả thi nhưng Chủ nghĩa Xã hội cho phép những hợp tác xã của công nhân cùng quản lý nhà máy hay đồng ruộng.

    Không phá tan Chủ nghĩa Tư bản và lật đổ giới tư sản, các cuộc cải cách từng bước một được cho phép qua luật pháp và sự tiến bộ chính trị, như bầu những người có thiên hướng xã hội vào hệ thống chính quyền. Cũng như vậy, không giống như Chủ thuyết Cộng sản nơi mà của cải làm ra được chia đều trên lợi nhuận, Chủ nghĩa xã hội chia của cải dựa trên công sức của mỗi cá nhân đóng góp cho xã hội.

    Và như vậy, chủ nghĩa xã hội có thể hoạt động trong cấu trúc chính trị hiện thời mà không có cần trải qua một cuộc lật đổ. Hơn thế nữa, nó còn cho phép tổ chức kinh doanh tự do hơn cho các nhóm lao động.

    Cả hai chủ thuyết đều được tạo dựng lên để cải thiện đời sống của những người bình thường và sự chia sẻ của cải công bằng hơn. Trên lý thuyết, cả hai đều có khả năng tạo dựng điều đó cho những người công nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng lại có những kết quả khác biệt.

    Bởi vì Chủ nghĩa Cộng sản không đem lại sự năng động, động lực để làm việc. Sau cùng, các nhà quản lý trung ương sẽ lấy lại mọi sản phẩm và chia đều chúng một cách tùy tiện, bất kể bạn bỏ ra bao nhiêu công sức vào công việc. Điều đó dẫn đến sự nghèo nàn và sự bần cùng hóa. Tầng lớp công nhân nhanh chóng nhận ra rằng họ không được hưởng lợi từ việc làm việc chăm chỉ hơn, và họ từ bỏ. Trái ngược lại, chủ nghĩa xã hội tưởng thưởng sự chăm chỉ. Cuối cùng, phần lợi nhuận giữa những người lao động được phân phát dựa trên công sức, sự đóng góp của người đó cho xã hội.

    Những nước đã thực hiện chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ 20 gồm có Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Cuba và Bắc Hàn. Trong mọi trường hợp, độc tài cộng sản lên cầm quyền để sắp xếp lại trât tự của hệ thống chính trị và kinh tế. Ngày hôm nay, Nga và Campuchia không còn là cộng sản nữa, Trung quốc và Việt Nam thực hiện nền kinh tế tư bản nhưng vẫn giữ trật tự chính trị cộng sản, còn Cuba và Bắc Hàn vẫn tiếp tục thực hiện chủ nghĩa đó.

    Những nước kết hợp đường lối chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản và hệ thống dân chủ bao gồm Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Canada, Ấn Độ và Vương quốc Anh. Các nước này đều đạt được sự hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản và lợi ích của chủ nghĩa xã hội, mà không triệt tiêu động lực lao động và gây bất ổn cho người dân. Người lao động có thêm nhiều lợi ích như kỳ nghỉ lễ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp nuôi dạy trẻ, mà không cần sự quản lý tập trung công nghiệp.

    Nói tóm lại, sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Xã hội có thể tổng kết như thế này: Bạn muốn sống ở Thụy Điển hay ở Bắc Hàn?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Iphone 7 Và Iphone 6S
  • So Sánh Thú Vị Giữa Đám Cưới Thời ‘ông Bà Anh’ Và Đám Cưới Ngày Nay
  • Sự Khác Nhau Giữa Lý Thuyết Và Thực Hành
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Notepad Và Wordpad Trong Windows
  • So Sánh Giữa Camera Ip Và Camera Analog?
  • Đấu Tranh Phê Phán Quan Điểm Phủ Nhận Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Các Học Giả Chống Chủ Nghĩa Xã Hội Hiện Nay.

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Bền Vững Trong Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác
  • Giáo Án Sinh Học Lớp 12 – Ban Cơ Bản
  • Nhân Tố Quan Trọng Góp Phần Quyết Định Thắng Lợi Của Sự Nghiệp Bảo Vệ Tổ Quốc .công An Tra Vinh
  • So Sánh Hình Thức Khuyến Mãi Và Quảng Cáo Trong Xúc Tiến Thương Mại
  • Sự Khác Nhau Giữa Sản Phẩm Và Dịch Vụ Của Google Business
  • 1. Những quan điểm nhằm phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa

    Phân tích thực tiễn quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của các nền dân chủ trong lịch sử, đặc biệt là những quy luật của nền dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định rằng: Đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài và không thể dừng lại ở dân chủ tư sản. Sự tất yếu diễn ra và thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng là sự tất yếu ra đời của một nền dân chủ mới – dân chủ xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó gắn liền với quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội.

    Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công là hiện thân của sự ra đời nền dân chủ mới, vì Cách mạng đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga từ địa vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội. Theo đó, việc thiết lập chính quyền nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, việc Đảng Cộng sản khẳng định trong thực tế vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội của mình, việc xã hội bước vào thời kỳ quá độ lịch sử phát triển theo các định hướng, mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã được xác định như những điều kiện căn bản nhất cho sự hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ, bởi vì lần đầu tiên trong lịch sử một nền dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân được ra đời.

    Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ trong đó mọi quyền lực thực sự đều thuộc về nhân dân, dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của toàn xã hội thống nhất với nhau, kết hợp hài hòa với nhau và điều đó làm cho nền dân chủ này trở thành nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là kết quả hoạt động đấu tranh cách mạng tự giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, của giai cấp công nhân, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ có được với điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cho dân chủ xã hội chủ nghĩa có thể ra đời, tồn tại và phát triển. Không thể có dân chủ xã hội chủ nghĩa mà lại thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

    Bên cạnh đó quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Cho nên cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta”. Với nghĩa đó có thể hiểu nền dân chủ hay chế độ dân chủ là hình thái dân chủ gắn với bản chất, tính chất của nhà nước, là trạng thái được xác định trong những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội có giai cấp. Nền dân chủ do giai cấp thống trị đặt ra được thể chế hóa bằng luật pháp. Do đó, nền dân chủ luôn gắn với nhà nước như là cơ chế để thực thi dân chủ và mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị.

    Như vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử nhưng vẫn là nền dân chủ mang tính giai cấp. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, việc không ngừng mở rộng các phương thức thực hành dân chủ với mọi tầng lớp nhân dân lao động cũng đồng thời là việc kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân, gây nguy hại cho tiến trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ và chuyên chính được đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhau của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Do đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa trước hết và chủ yếu được thực hiện bằng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt. Nhà nước là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời là công cụ của chuyên chính giai cấp. Vì lợi ích của tất cả những người lao động trong xã hội (tức là tuyệt đại đa số nhân dân) mà nhà nước thực hiện vai trò là công cụ chuyên chính của mình, tiến hành trấn áp bằng bạo lực đối với những lực lượng chống đối, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, gây nguy hại cho nền dân chủ của nhân dân. Mặc dù nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt tổ chức, xây dựng là chức năng cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Bản chất tốt đẹp và ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định và làm sáng tỏ cả về lý luận cũng như thực tiễn như thế, vậy mà các thế lực thù địch vì muốn phủ nhận, chống phá nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã đưa ra các luận điệu sai trái, phản động như: Chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng, là mục tiêu cao nhất mà loài người đang đi tới; rằng muốn có dân chủ thực sự thì phải thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng, “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”; rằng “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng lên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”; rằng chủ nghĩa xã hội là chuyên chính, không có dân chủ… Đi cùng với những luận điệu trên, các thế lực thù địch đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi thể chế Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập giống như của các nhà nước tư sản hiện đại, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội.

    2. Phê phán các quan điểm phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    Theo nguyên nghĩa văn tự cổ Hy Lạp, dân chủ xuất phát từ thuật ngữ “demoskratos”, trong đó demos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là cai trị. Theo cách diễn đạt này, thuật ngữ dân chủ được hiểu nhân dân cai trị. Về sau, dân chủ được các nhà tư tưởng chính trị quan niệm là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, một nền dân chủ đúng nghĩa thì phải bảo đảm các yếu tố cơ bản sau đây: Một là, thừa nhận nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Hai là, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng giữa các công dân, sự bình đẳng ấy được thể hiện bằng sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật. Ba là, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực.

    Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa bằng chế độ nhà nước và pháp luật, theo đó, dân chủ cũng được thực hiện dưới hình thức nhà nước với các tên thường gọi như là “chính thể dân chủ”, “chế độ dân chủ”, hay đơn giản hơn là “nền dân chủ”.

    Dân chủ với những nội dung và hình thức biểu hiện của nó luôn thay đổi, biến đổi từ xã hội này sang xã hội khác trong suốt chiều dài lịch sử. Tức là dân chủ bị quy định bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của các quốc gia – dân tộc khác nhau, qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và dân chủ cũng luôn phát triển trên cơ sở phát triển của các điều kiện đó. Mỗi bước phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đều dẫn tới những bước phát triển kéo theo của dân chủ. Ngược lại, sự phát triển dân chủ bao giờ cũng tác động mạnh mẽ trở lại đối với sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.

    Cuộc đấu tranh của nhân dân cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản trong lòng chế độ xã hội phong kiến đã thể hiện sự đoạn tuyệt khá triệt để của giai cấp tư sản đối với tư tưởng chuyên chế phong kiến. Trong nền dân chủ tư sản, nhiều yêu cầu về quyền công dân, quyền con người được ghi nhận về pháp lý, nhiều khát vọng về tự do của con người (tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp…) được pháp luật thừa nhận.

    Có thể nói, nền dân chủ tư sản đã có những cống hiến hết sức to lớn đối với lịch sử tiến hóa nhân loại, nhưng nó cũng mắc phải những hạn chế rất lớn. Những hạn chế đó xét đến cùng là do nền dân chủ đó được xây dựng trên nền tảng bất di, bất dịch là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc của chế độ người bóc lột người. Giai cấp tư sản thường ca ngợi và tuyên truyền cho nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, không mang tính chất giai cấp nên nó mở rộng vô bờ bến. Ngày nay, giai cấp tư sản càng có thiện tâm thiện ý “đề cao dân chủ, dân quyền”, tuy nhiên, V.I.Lênin đã chỉ ra một sự thật là: Quyền sở hữu về những tư liệu sản xuất và chính quyền mà nằm trong tay bọn bóc lột, thì không thể nào nói đến tự do chân chính, bình đẳng chân chính cho những người bị bóc lột, nghĩa là cho đại đa số nhân dân được.

    Nền dân chủ tư sản là chế độ bảo vệ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn thể nhân dân lao động. Bên cạnh đó nó đề cao quyền tự do cá nhân dẫn tới cá nhân cực đoan thực dụng – dẫn đến lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của xã hội. Điều này đã dẫn đến nhiều khuyết tật không thể tránh khỏi đã nảy sinh trong xã hội tư bản như: Sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng xã hội, tình trạng thất nghiệp, sự áp bức, bóc lột người lao động, ô nhiễm môi trường… Cho nên, về thực chất có thể thấy dân chủ tư sản vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và thực hiện sự thống trị đối với nhân dân lao động. V.I.Lênin cho rằng: Ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi.

    Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời trên cơ sở kế thừa các giá trị dân chủ trước nó, nhất là kế thừa các giá trị của nền dân chủ tư bản. Bởi vì, trong bức tranh chung về tiến trình phát triển của lịch sử, chế độ tư bản là nấc thang cận kề để từ đó bước lên nấc thang tiếp theo là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu dân chủ mà chủ nghĩa tư bản đạt được là thành quả tích lũy của loài người trong quá trình tiến hóa lâu dài, từ thấp đến cao, mà chỉ từ đó mới có thể tiến lên một nền dân chủ cao hơn. Tuy thế, dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về chất so với dân chủ tư sản. Khi so sánh nền dân chủ tư sản và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã đi đến một tư tưởng khái quát: Dân chủ vô sản là thứ dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản.

    Nền dân chủ tư sản còn tuyệt đối hóa thuyết đa nguyên chính trị, coi đó là chế độ duy nhất đảm bảo dân chủ. Vì vậy, nhiều quan điểm cho rằng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc nhất nguyên chính trị, dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản sẽ không thể đảm bảo dân chủ thật sự.

    Có thể thấy, vấn đề đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập xuất hiện và được bàn luận, đề cập nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã hội. Lúc đầu, tư tưởng “đa nguyên luận” nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền, mất dân chủ của giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản, bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư và lợi ích của một số nhóm nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng “đa nguyên luận” không đạt được mục đích của mình là dân chủ hóa xã hội mà chỉ hình thành nên một số đảng phái trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau.

    Đa nguyên, đa đảng cũng có những yếu tố tích cực nhất định nhưng thực chất đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm được dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, không đồng nhất với mất dân chủ. Không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thực sự và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ.

    Ngoài ra, đa nguyên chính trị là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử tồn tại nhiều đảng phái có những lợi ích căn bản mâu thuẫn với nhau. Do vậy, nếu đa nguyên chính trị thì tất yếu dẫn tới tồn tại nhiều đảng phái đối lập, song không thể có điều ngược lại, nếu các đảng không có những lợi ích căn bản đối lập. Vì vậy, đa nguyên hay nhất nguyên là xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn lịch sử chứ không phải là khuôn mẫu cho mọi nền dân chủ.

    Giai cấp tư sản cho rằng nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, nhà nước tư sản với cơ chế tam quyền phân lập mới có thể đảm bảo được dân chủ. Vì vậy, các thế lực thù địch đã đưa ra quan điểm phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho rằng đó là bộ máy chuyên chính, với cơ chế quyền lực thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể nào đảm bảo dân chủ thực sự được. Đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi thực hiện cơ chế tam quyền phân lập trong bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa…

    Về vấn đề này, khi xem xét dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung”. Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác. Mỗi chế độ dân chủ gắn liền với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị. Vì vậy, như đã phân tích ở trên, dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ thuần túy, mà đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản đối với đông đảo nhân dân lao động thông qua nhà nước tư bản chủ nghĩa.

    Trong khi coi chế độ dân chủ tư sản là bước lớn trong lịch sử, V.I.Lênin chỉ ra: “Phải đề phòng, không một lúc nào quên thực chất tư sản của chế độ “dân chủ” đó, tính chất tương đối và hạn chế của nó về mặt lịch sử, phải đề phòng không được nhiễm phải cái “lòng tin mê muội” vào “Nhà nước”, không được quên rằng ngay cả trong một chế độ cộng hòa dân chủ nhất, chứ không nói trong một chế độ quân chủ nữa, thì Nhà nước cùng thể là cái gì khác hơn là một bộ máy áp bức của giai cấp này đối với giai cấp khác”.

    Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó. Đây cũng chính là đặc trưng bản chất chính trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Nó cũng là công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu để vai trò lãnh đạo của đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện…

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Theo đó, nhân dân thông qua lập hiến mà trao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là ở nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên, là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước đó là xây dựng thành công chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên còn là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước nên tất yếu nhân dân phải phân công và kiểm soát quyền lực đó. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là nhân dân. Có thể nói, mục tiêu cuối cùng của quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân, thực hiện “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” chứ không phải để phân tách, phân rã quyền lực của nhân dân như các thiết chế tam quyền phân lập. Trên cơ sở đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới thực sự là bộ máy chuyên chế của nhân dân lao động nhằm đảm bảo thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân, xây dựng thành công nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Sự ra đời của một nền dân chủ mới – dân chủ xã hội chủ nghĩa là tất yếu gắn liền với quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa thực hiện dưới nhiều hình thức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và được pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo đảm. Có dân chủ hay không có dân chủ, dân chủ nhiều hay ít, dân chủ thực sự hay dân chủ hình thức… không tuỳ thuộc vào chế độ một đảng hay nhiều đảng. Không phải chỉ thực hiện “đa nguyên, đa đảng” mới có dân chủ. Xét đến cùng và quan trọng nhất có dân chủ hay không là thể hiện ở chỗ quyền lực và quyền lợi có thuộc về người dân hay không? Để thực sự phát huy quyền làm chủ của mỗi người dân, để mỗi công dân thể hiện đầy đủ nhất quyền lợi và trách nhiệm làm chủ của mình đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng một cách đồng bộ của nhiều thành tố, trong đó có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, với chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là công cụ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Trước tình hình thực tế đang có những diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay thế lực thù địch muốn lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, phá hoại chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng vẫn chứng minh được tính đúng đắn, khoa học của nó. Điều này càng được thể hiện rõ qua thực tiễn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta hơn 80 năm qua.

    Thiếu tướng, GS. TS TRỊNH VĂN THANH

    Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Mạng Không Dây Và Mạng Có Dây
  • So Sánh Mắt Người Và Máy Ảnh
  • Một Vài So Sánh Cơ Bản Về Mạng Lan, Wan Và Man
  • Sự Khác Biệt Giữa Thủy Lực – Khí Nén – Cơ Điện Trong Hệ Thống Xi Lanh
  • Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Quyền Tác Giả, Quyền Liên Quan, Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Trong Quy Định Của Luật Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam Với Các Điều Ước Quốc Tế
  • Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, Động Lực Phát Triển Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Iphone 11 Pro Khác Pro Max Ở Diềm Gì?
  • Câu Chuyện Về Than Chì Và Kim Cương…
  • Kim Cương Và Than Chì Như Thế Nào
  • Từ Điển Năng Lực
  • Mô Hình Năng Lực Ask Trong Nhân Sự – Phân Biệt “Kiến Thức”, “Kỹ Năng” Và Khả Năng
  • Làm chủ là khát vọng có tính bản chất của con người. Trong quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người, khát vọng ấy được hiện thực hóa ở mức độ khác nhau. Con người biết làm chủ trong quan hệ với tự nhiên, biết tận dụng các điều kiện thuận lợi để tồn tại và phát triển.

    Khi xã hội loài người hình thành, con người với tư cách là thực thể xã hội, con người biết làm chủ xã hội với những cấp độ: Làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ cộng đồng và làm chủ xã hội. Làm chủ xã hội trở thành mục tiêu cao nhất trong quá trình vận động và phát triển xã hội loài người. Trong lịch sử, chế độ chính trị tốt đẹp nhất là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), đó là xã hội mà đại đa số người dân được xác định là chủ thể xã hội, nhân dân làm chủ xã hội. Khi nhân dân được làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra thì trở thành động lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Ở Việt Nam, khi Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, chế độ dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc hình thành. Từ đó, chế độ dân chủ trở thành mục tiêu và là động lực phát triển đất nước.

    Mục tiêu xây dựng một nền dân chủ được hình thành từ đầu thế kỷ 20 với phong trào dân chủ tư sản do các nhà yêu nước tiền bối: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng. Do sự lựa chọn con đường, phương pháp cách mạng… sai lầm, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam thất bại. Vượt lên trên tư tưởng tiến bộ của các nhà yêu nước tiền bối, Hồ Chí Minh đã tiếp tục thực hiện mục tiêu: Giải phóng dân tộc, xây dựng nền dân chủ kiểu mới theo con đường cách mạng vô sản.

    Từ khi thành lập Đảng đến Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất tâm thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành quyền dân chủ nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng được giành về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: Nước ta là nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên; nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr.698). Từ đó đến nay, tư tưởng dân chủ của Người đã được hiện thực hóa. Nhân dân thực sự trở thành chủ thể đất nước, từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Mục tiêu xây dựng nền dân chủ ngày càng được mở rộng và phát huy cao độ, nhân dân hồ hởi, phấn khởi bước vào các cuộc kháng chiến, kiến quốc, chống thực dân, đế quốc, thống nhất đất nước, tiến hành đổi mới đất nước với tư thế người làm chủ đất nước.

    Đảng ta xác định dân chủ là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng. Tùy vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu của các cuộc cách mạng mà có những hình thức dân chủ phù hợp. Chế độ dân chủ ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, được luật hóa, phổ biến đến mọi người dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa tiếp tục nhất quán mục tiêu dân chủ: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một chế độ do nhân dân làm chủ, là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

    Khi dân chủ trở thành mục tiêu của phát triển xã hội, nó thôi thúc nhân dân thực hiện công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân trở thành động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

    Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt lớn, đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ. Nhân dân ta lại bước vào một giai đoạn mới, đó là đổi mới đất nước toàn diện: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN, nền văn hóa định hướng XHCN… hàng loạt vấn đề có tính chất mới mẻ, vừa làm, vừa tìm tòi sáng tạo. Quá trình đổi mới cho thấy, chừng nào dân chủ được phát huy, được mở rộng, chừng đó đất nước ta phát triển vượt bậc, bền vững. Bài học “dân là gốc, dân là chủ” ngày càng thấm nhuần trong đời sống xã hội.

    Đảng ta xác định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc” thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh khó khăn của thế giới, dân chủ XHCN ở nước ta đã, đang trở thành động lực thúc đẩy đất nước phát triển./.

    TS Triết học Phạm Đào Thịnh, Trường Đại học Sài Gòn

    Theo Báo Quân đội nhân dân

    Thanh Huyền (st)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Nghề Điều Dưỡng Và Y Sĩ Đa Khoa
  • Tại Sao Y Tá Và Điều Dưỡng Lại Có Sự Khác Nhau?
  • Cách Thức Tối Ưu Để Quản Lý Qui Trình Mua Hàng
  • Nên Mua Xe 1 Cầu Hay Xe 2 Cầu? Tư Vấn Kỹ Thuật Ô Tô Bến Thành Ford
  • Cầu Xe Là Gì? Cách Phân Biệt Xe Tải 1 Cầu Và 2 Cầu
  • Sự Khác Nhau Giữa Kinh Tế Thị Trường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Kinh Tế Thị Trường Xã Hội Chủ Nghĩa?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 11 Bài 15: Thao Tác Với Tệp
  • Chiến Lược # Biệt Hóa Sản Phẩm Của Apple
  • Bạn Đã Thật Sự Hiểu Rõ Về Hàng Nội Địa Nhật ?
  • Phân Biệt Điểm Khác Nhau Giữa Hàng Nội Địa Và Hàng Xuất Khẩu
  • Sự Khác Biệt Giữa Hàng Xách Tay Và Hàng Nhập Khẩu, Hàng Chính Hãng
  • Kinh tế thị trường TBCN là nền kinh tế tự do theo chế độ cung cầu không phải chịu sự chi phối của chính phủ. Điển hình của nền kinh tế này là Anh, Pháp… (không phải Mỹ vì Mỹ là một nền kinh tế khác).

    Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, do thế lực kinh tế tập trung vào một nhóm nhỏ với tài chánh và quyền lực dẫn đến hình thành độc tài kinh doanh. Kinh tế phát triễn không đồng bộ, chậm chạp và nặng nề. Ví dụ: Việt Nam của mình đó. Mong giúp được cho bạn,

    Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.

    Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải.

    Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường TBCN có thể dẫn tới bất bình đẳng. Đấy là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt trong các khoảng thời gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không suôn sẻ, dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là nguyên nhân của các hiện tượng thất nghiệp, lạm phát.

    Trong thực tế hiện nay, không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, cũng như không có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên). Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp. Tùy ở mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay ít.

    Trong thương mại quốc tế, mức độ thị trường hóa nền kinh tế có thể được sử dụng làm tiêu chí trong xác định điều kiện thương mại của mỗi nước.

    Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc trưng sau:

    Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được tôn trọng. Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp lý. Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

    Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế thành công.

    Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn. Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội. Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; công bằng xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách phát triển.

    Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

    Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Nền Kinh Tế Thị Trường Tbcn Và Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Sự Khác Nhau Giữa Chứng Nhận Iso 22000 Và Fssc 22000
  • Sự Khác Nhau Giữa Fssc 22000 Và Iso 22000
  • Phân Biệt Dây Dẫn Điện Và Dây Cáp Điện
  • Dây Điện Và Dây Cáp Điện Khác Nhau Gì? Khi Nào Thì Dùng Dây Điện
  • Sự Khác Nhau Giữa Dân Chủ Và Tự Do

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Tự Do & Tự Do Là Gì?
  • Tôi Đã Nhận Thấy Rằng Những Người Bảo Thủ Thường Sử Dụng Thuật Ngữ “tự Do” Và Những Người Tự Do Sử Dụng Thuật Ngữ “tự Do”. Làm Thế Nào Để Bạn Xem Sự Khác Biệt Giữa Hai Từ?
  • Ielts Speaking: Sự Khác Biệt Giữa Part 1 Và Part 3
  • Sự Khác Nhau Giữa Want Và Need
  • Một Vài Cách Dùng Với “need”
  • Hai khái niệm Tự do (Liberty) và Dân chủ (Democracy) xưa nay thường được hiểu là tương tự, hoặc ít ra thì cũng rất gần nhau, theo hướng giải phóng con người. Quả thực, trong các nước dân chủ phương Tây thì hai yếu tố ấy cũng bện chặt vào nhau để tạo nên một nền Dân chủ – Tự do (liberal democracy). Hầu hết chúng ta đều hiểu Dân chủ và Tự do là hai yếu tố biến thiên cùng chiều như một cặp bài trùng. Vì thế cũng không ai mổ xẻ tách bạch sự khác nhau giữa hai khái niệm ấy làm gì.

    Song thực tiễn chính trị đã khiến cho hai từ Dân chủ và Tự do buộc phải được hiểu một cách chính xác hơn (nhưng vẫn cùng chiều), rồi thật bất ngờ, dưới bàn tay nhào nặn khéo léo của một số nhà chính trị ở một số quốc gia, Dân chủ và Tự do không bện chặt vào nhau nữa, chẳng những rời nhau ra mà có thể còn chống lại nhau. Từ đó hình thành và phát triển những hệ thống chính trị Dân chủ – nhưng không Tự do (illiberal democracy).

    “Nhiều chính quyền được bầu lên một cách dân chủ, thậm chí các chính quyền được bầu lại hoặc được tái xác nhận thông qua trưng cầu dân ý, lại càng bất chấp các giới hạn quyền lực do hiến pháp qui định và thường tước đi các quyền và những tự do căn bản của người dân”.

    Sự phát hiện điều nghịch lý và khái quát thành lý luận này của Fareed Zakaria, một nhà báo, nhà triết học chính trị với vốn sống chính trị phong phú, thuộc số những nhà trí thức hàng đầu có nhiều ảnh hưởng nhất hiện nay Fareed Zakaria là một nhà báo Mỹ gốc Ấn Độ. Ông sinh năm 1964 tại thành phố Mumbai (tên cũ là Bombay) thuộc bang Maharashtra – Ấn Độ, trong một gia đình Hồi giáo. Cha ông là Rafiq Zakaria (1920-2005), một học giả Hồi giáo và là một chính trị gia của Đảng Quốc Đại Ấn Độ (Indian National Congress). Mẹ ông, Fatima Zakaria, đã có thời là biên tập viên của tuần báo Times of India (Thời báo Ấn độ). Sau khi học trung học tại Ấn Độ, Zakaria du học tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp Cử nhân (B.A.) tại Đại học Yale và lấy bằng tiến sĩ chính trị học (Ph.D. in Political Science) tại Đại học Havard – nơi đây ông được hướng dẫn bởi các vị giáo sư chính trị học nổi tiếng như Samuel P. Huntington và Stanley Hoffmann. Ông nhập quốc tịch Hoa Kỳ vào năm 2001.

    Sau khi tham gia một công trình nghiên cứu của Đại học Havard về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, Zakaria trở thành biên tập viên điều hành (managing editor) của tạp chí Foreign Affairs (Các vấn đề đối ngoại) và giữ chức vụ này trong 7 năm (từ năm 1993 đến năm 2000). Tạp chí này là một tập san chuyên đề bàn về các quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, được phát hành hai tháng một lần bởi Hội đồng về Các Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations, CFR). Tháng 10 năm 2000, ông được bổ nhiệm làm tổng biên tập (editor) của tạp chí Newsweek International (tức ấn bản quốc tế của tạp chí Newsweek). Với chức vụ này, ông chịu trách nhiệm trông nom các ấn bản tiếng Anh ở hải ngoại của tờ tạp chí nổi tiếng này, được phát hành khắp châu Âu, châu Á, châu Phi và vùng Trung Đông với trên 3 triệu ruỡi độc giả. Ngoài nhiệm vụ đó, ông còn thường xuyên viết bài cho các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ như New York Times, Wall Street Journal, Washington Post, New Republic, v.v… Ông còn cộng tác với nhiều đài truyền hình nổi tiếng như PBS (2005-2007), ABC (2002-2007) và CNN (từ tháng 6 năm 2008). Không chỉ là nhà báo, Zakaria còn là tác giả của một số cuốn sách nổi tiếng như: The Future of Freedom (Tương lai của Tự do, 2003) và The Post-American World (Thế giới hậu – Hoa Kỳ, 2008).

    Năm 1999, tạp chí Esquire vinh danh ông là “một trong 21 nhân vật quan trọng của thế kỷ 21″. Năm 2007 ông được các tạp chí Foreign Policy và Prospect xếp vào danh sách 100 nhà trí thức hàng đầu được nhiều người biết đến của thế giới. Tháng 1 năm 2009, tạp chí Forbes xếp Zakaria vào danh sách 25 nhà tự do (liberals) có ảnh hưởng nhất trong giới truyền thông Hoa Kỳ.

    Bài báo “Sự trỗi dậy của nền dân chủ phi-tự do” (The Rise of Illiberal Democracy) công bố trên tạp chí Foreign Affairs vào tháng 11 năm 1997 là tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất của Zakaria.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Operator Là Gì Và Những Điều Cần Biết
  • Sự Khác Nhau Giữa Du Lịch Bụi Và Du Lịch Theo Tour
  • Sự Khác Biệt Giữa Đêm Và Tối Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Chi Phí Và Giá Cả Là Gì?
  • Phân Biệt Price, Cost, Value Và Worth
  • Chuyên Đề 3: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Dân, Do Dân, Vì Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Pháp Quyền Với Việc Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cấy Que Tránh Thai Implanon – Hiệu Quả Ngừa Thai Lên Tới 3 Năm
  • Cái Kiểu Niềng Răng Tại Nha Khoa Bảo Việt
  • Tìm Hiểu Trước Khi Quyết Định Niềng Răng
  • So Sánh Sắc Ký Khí Và Sắc Ký Lỏng
  • (Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên chính khối Đảng, Đoàn thể năm 2022)

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

    1. Khái quát sự hình thành và nội dung tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

    1.1. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền

    Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 – 1704), Montesquieu (1698 – 1755), J.J.Rút-xô (1712 – 1778), chúng tôi (1724 – 1804), Hêghen (1770 – 1831)… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới.

    Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 – 1826 – tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 – 1809), Jôn A đam (1735 – 1826)…

    1.2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền trong ý nghĩa là biểu hiện tập trung của một chế độ dân chủ

    Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị – pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị – pháp lý nhân loại.

    Các giá trị phổ biến này được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởi các nhà lý luận, phụ thuộc vào lập trường chính trị – pháp lý và quan điểm học thuật của từng người. Các trình bày có thể khác nhau, song về bản chất có thể quy về các giá trị có tính tổng quát sau:

    a) Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước.

    Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện.

    b) Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    – Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

    – Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội.

    c) Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

    – Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp.

    – Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng. Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm.

    d) Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực. Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.

    đ) Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.

    – Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh.

    – Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi này.

    – Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

    e) Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.

    – Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của các mô hình kinh tế thị trường, theo hướng Nhà nước tôn trọng, phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh tế, đồng thời khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường.

    – Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản lý xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu trúc xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội).

    – Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác, quy định và chi phối lẫn nhau. Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội. Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật.

    1.3. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền

    Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Do vậy nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Trong ý nghĩa này nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Điều này có ý nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Điều này cắt nghĩa vì sao ý tưởng về một chế độ pháp quyền đã xuất hiện từ rất xa xưa, thậm chí từ thời cổ đại bởi các nhà tư tưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưng mãi đến khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực.

    Sự phủ nhận quan điểm nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:

    – Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuất hiện nhà nước pháp quyền. Do vậy trên thực tế tồn tại khái niệm nhà nước pháp quyền tư sản và về thực chất nhà nước pháp quyền đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển.

    – Nhà nước pháp quyền không những có thể xây dựng tại các quốc gia tư bản mà vẫn có thể xây dựng tại các quốc gia phát triển theo định hướng XHCN. Nhà nước pháp quyền với tính chất là một cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội có thể xây dựng trong điều kiện chế độ xã hội XHCN. Như vậy trong nhận thức lý luận và trong thực tiễn tồn tại nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

    1.4. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền ở mỗi quốc gia

    Nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc.

    Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố. Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống – văn hoá, tâm lý xã hội của mỗi một dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý. Các yếu tố này không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền.

    – Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng. Với ý nghĩa này nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia.

    – Không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp.

    – Thực tiễn xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền tại các nước cho thấy, mỗi một nước đều có cách thức xây dựng, tổ chức nhà nước pháp quyền theo cách riêng của mình. Các khảo sát kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền tại các nước Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Vương quốc Anh, Cộng hoà Ý đã cho thấy ở các nước này, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền được tổ chức vừa thống nhất vừa đa dạng, phản ánh các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, đồng thời các giá trị đặc thù của từng quốc gia. Thực tiễn này cũng đã được xác nhận tại Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác.

    – Thừa nhận tính đa dạng của mô hình nhà nước pháp quyền, đòi hỏi việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại mỗi một quốc gia phải đồng thời quán triệt các phương diện:

    + Phải xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế – văn hoá, chính trị và truyền thống dân chủ của dân tộc mình mà lựa chọn cách thức xây dựng và vận hành mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp. Nhà nước pháp quyền phải mang bản chất của chế độ chính trị, thể hiện được các đặc sắc của quốc gia, dân tộc.

    + Phải quán triệt các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, tiếp thu các giá trị phổ biến này trong sự tương hợp với các đặc điểm lịch sử, văn hoá, chính trị của quốc gia. Sự quán triệt các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền trong ý nghĩa là các giá trị chung của nhân loại mới có thể đảm bảo được tính pháp quyền của nhà nước theo các chuẩn mực đã được thừa nhận, khắc phục tính dân tộc cực đoan hay các dị biệt làm cho các giá trị dân chủ không được phát huy, tạo nguy cơ rơi vào tình trạng biệt lập trong một thế giới hiện đại ngày nay.

    + Sự thống nhất hữu cơ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nước pháp quyền là cơ sở lý luận cần quán triệt trong cuộc đấu tranh lý luận chống lại mọi sự áp đặt từ bên ngoài đối với mô hình nhà nước pháp quyền hay áp dụng một cách máy móc, giáo điều, dập khuôn mô hình nhà nước pháp quyền ở một nước này vào một nước khác. Điều này có nghĩa là không thể lấy các tiêu chuẩn của nhà nước pháp quyền tư sản để áp đặt cho các việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Mặt khác khi quán triệt các đặc điểm, đặc thù của mỗi nước cần phải đặt các điều kiện đặc thù ấy trong sự tương quan với các giá trị phổ biến và phải biến các giá trị phổ biến ấy thành các giá trị nội tại, chuyển hoá chúng thành các giá trị quốc gia.

    2. Quá trình nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

    Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố một nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Các tư tưởng Hồ Chủ Tịch về Nhà nước thật sự to lớn, sâu sắc không chỉ được thể hiện trong các bài viết, các bài phát biểu, trong các văn kiện quan trọng do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng và ban hành mà cả trong hành động thực tiễn của Người trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.

    Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền có thể khái quát trên các quan điểm sau:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân:

    Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”. Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân. Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân. “Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dân lập ra thông qua bầu cử dân chủ mà còn là nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của nhân dân. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân”. “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”. Người còn viết: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? là đầy tớ của dân từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng – Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh của Nhà nước, là nguồn trí tuệ của Nhà nước, là nguồn sáng kiến vô tận, nhà nước có chức năng khơi nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhân dân để xây dựng chính sách và luật pháp.

    Một nhà nước của dân, do dân, vì dân theo Hồ Chí Minh là một nhà nước nếu biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, biết tôn trọng bồi dưỡng và nâng cao sức dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân thì sẽ thấy nhân dân không chỉ nói lên những mong muốn của mình mà còn chỉ ra được nhà nước cần phải hành động như thế nào để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh. Chính vì lẽ đó Nhà nước được thành lập không vì mục đích làm thay cho dân, mà thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ, sức mạnh của mình giải quyết các vấn đề của chính mình. Người viết: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối”. Người nhắc nhở: “Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh…”.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước:

    Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, mở đầu một chính thể nhà nước mới ở Việt Nam: chính thể dân chủ cộng hoà. Sự ra đời của chính thể dân chủ cộng hoà thể hiện một tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước, vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phù hợp với các đặc điểm của đất nước.

    Tuy không tiếp nhận tư tưởng phân quyền vốn là nền tảng lý luận của mô hình nhà nước dân chủ phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước những yếu tố hợp lý và khoa học của nguyên tắc phân quyền. Theo đó, bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946 được thiết kế trên cơ sở phân chia quyền lực uyển chuyển giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước này, không có một cơ quan nào là độc quyền quyền lực, có quyền đứng trên cơ quan khác. Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22 – Hiến pháp 1946), nhưng không thể là cơ quan toàn quyền; Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43 – Hiến pháp 1946) nhưng không phải là cơ quan chấp hành của Quốc hội như các quy định của Hiến pháp 1992. Cơ quan tư pháp là hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử. Với quy định của Hiến pháp 1946 bộ máy nhà nước về cơ bản được cấu tạo theo ba quyền: quyền lập pháp (Nghị viện nhân dân); quyền hành pháp (Chủ tịch nước và Chính phủ); quyền tư pháp (Hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử).

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:

    Tiếp xúc với nền văn minh Âu – Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại.

    Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành “Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới – Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý nhà nước của Người.

    Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới – Hiến pháp năm 1959. Trong tư duy Hồ Chí Minh, một khi điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật “gốc” – Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình.

    Ngoài hai bản Hiến pháp năm 1946, 1959, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức nhà nước đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước có nhiều nhân tố cơ bản của một nhà nước pháp quyền.

    Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, một trong 5 nhiệm vụ để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên là “Tăng cường không ngừng chính quyền nhân dân. Nghiêm chỉnh thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế độ và pháp luật của Nhà nước”.

    Đảng ta khẳng định, nhiệm vụ lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiến quốc gia trên nền tảng dân chủ”. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về Nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước đã được thể chế hoá trong bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp 1946. Với Hiến pháp 1946, Đảng ta chủ trương thực hiện “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” nhằm đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo, đảm bảo các quyền tự do dân chủ. Hiến pháp 1959 đã thể chế hoá quan điểm Đảng ta về “sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản”.

    Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định: “Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên chính vô sản, một tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thể của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, một tổ chức thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển xã hội…”.

    Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới đã đặt ra những cơ sở quan trọng cho việc đổi mới tư duy, quan điểm về xây dựng nhà nước trong các điều kiện tiến hành cải cách kinh tế.

    Đảng ta khẳng định “Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể XHCN, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị. Trong thời kỳ quá độ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ XHCN…”.

    Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra nhiều yếu kém, bất cập của bộ máy nhà nước và cho rằng: “… cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho bộ máy nặng nề, nhiều tầng, nhiều nấc. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và chức năng, tiêu chuẩn cán bộ chưa được xác định rõ ràng”.

    Đại hội lần thứ VII của Đảng xác định thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Như vậy, việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị được Đảng ta đặt ra như một tất yếu để thực hiện và phát huy dân chủ XHCN. Để đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước theo hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý…”.

    Quan điểm của Đảng về Nhà nước trong Cương lĩnh 1991 đã nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nền tảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong một chế độ dân chủ – pháp quyền: có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật; thống nhất quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) với sự phân công rành mạch ba quyền đó. Tuy chưa đề cập trực tiếp đến phạm trù nhà nước pháp quyền, nhưng sự thể hiện các vấn đề cơ bản có tính pháp quyền trong tổ chức nhà nước ở tầm cương lĩnh chính trị cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng ta trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN trong bối cảnh cụ thể nước ta.

    Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam “tiếp tục xây dựng và  từng bước hoàn thiện  nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo.

    Với cách thể hiện trong văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, những quan điểm cơ bản về các nội dung chủ yếu của phạm trù Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân đã được xác lập, đặt cơ sở lý luận cho việc triển khai các chủ trương, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong những giai đoạn phát triển tiếp theo.

    Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá VII) đã đánh dấu một bước quan trọng trong việc cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VII là hội nghị chuyên bàn về nhà nước “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”. Sau khi đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, yếu kém trong tổ chức, hoạt động của nhà nước ta và những yêu cầu trước tình hình mới, văn kiện Hội nghị đã nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước cụ thể là:

    + Xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân;

    + Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp;

    + Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam;

    + Tăng cường pháp chế XHCN; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN;

    + Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

    Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứ VIII tiếp tục khẳng định 5 quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định, đồng thời đặt ra các nhiệm vụ: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính nhà nước đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp; củng cố kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp. Phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho toà án nhân dân huyện. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp…

    – Đại hội XII của Đảng (20/1- 28/1/2016) tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Báo cáo chính trị trình đại hội XII xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”, mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án, đặc biệt là thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính, qua đó, tăng cường khả năng kiểm soát của tư pháp đối với hệ thống cơ quan hành chính. Việc xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự và các vụ án hành chính của Tòa án bảo đảm đúng pháp luật, cơ bản bảo đảm đúng người, đúng tội trong vụ án hình sự và bảo vệ kịp thời các quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; yêu cầu tranh tụng đã bước đầu được thực hiện trong hoạt động tố tụng, qua đó các quyền con người, quyền công dân ngày càng được đề cao, tôn trọng và đảm bảo. Trách nhiệm của Tòa án, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được xác định rõ ràng, cụ thể hơn. Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán tiếp tục được thực hiện có kết quả. Những kết quả này đã góp phần bảo đảm các mục tiêu, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

    + Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ngày càng được đổi mới cả về nhận thức và tổ chức thực hiện. Kết quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát đã góp phần bảo đảm các mục tiêu, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, góp phần vào việc hình thành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, tránh sự lạm quyền, xâm phạm các quyền dân chủ của công dân, bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án, vụ việc.

    + Kiểm toán nhà nước với địa vị là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, là công cụ phục vụ cho sự minh bạch về tài chính ngân sách thông qua việc công khai kết quả kiểm toán báo cáo tài chính của các tổ chức, các cấp ngân sách. Hoạt động kiểm toán nhà nước là cơ sở cho việc giám sát của các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của công dân đối với công tác quản lý tài chính ngân sách, đặc biệt là các nguồn lực tài chính nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán, có thế phát hiện những hiện tượng, những dấu hiệu tham ô, lãng phí, không tuân thủ pháp luật trong quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực tài chính, tài sản nhà nước để có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Trong những năm vừa qua, Kiểm toán nhà nước đã góp phần tích cực vào việc phát hiện, xử lý vi phạm đối với nhiều vụ việc xảy ra thất thoát, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thu – chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại… Chính vì vậy, để nâng cao vị trí, vai trò của cơ quan này, Hiến pháp năm 2013 đã có một điều quy định về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước.

    + Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là những cơ quan chính quyền địa phương. Qua quá trình đổi mới, thể chế về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ngày càng được chú trọng. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (năm 2003), các luật chuyên ngành đã được xây dựng theo tinh thần kiện toàn tổ chức, tăng cường chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân; phân định thẩm quyền giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp, giữa mỗi cấp chính quyền địa phương tỉnh – huyện – xã, giữa tập thể Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Vì vậy, trong thời gian qua, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp đã từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Việc quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng ở địa phương của Hội đồng nhân dân đạt được nhiều kết quả, tạo cơ sở cho việc quản lý, điều hành kinh tế – xã hội ở địa phương; hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân ngày càng được tăng cường, góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, Ủy ban nhân dân đã thực hiện đúng vai trò là hành chính nhà nước ở địa phương, đề xuất để Hội đồng nhân dân quyết định các chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển địa phương; chủ động thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực và chỉ đạo, điều hành các mặt kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương. Từ năm 2009, thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ra nghị quyết thí điếm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đây là bước đệm quan trọng để làm cơ sở xác định mô hình chính quyền địa phương mới nhằm tinh gọn bộ máy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp địa phương.

                 – Về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

    Điều này cho thấy, trước khi có Hiến pháp năm 2013, mặc dù chưa ghi nhận nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước ở tầm hiến định song cách thức kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước đã có và ngày càng được củng cố, kiện toàn. Việc bổ sung, khẳng định nội dung “kiểm soát quyền lực” trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự phát triển về nhận thức trong việc thừa nhận nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Nội dung “kiểm soát quyền lực” được đưa vào Hiến pháp chính là sự bổ sung và hoàn thiện nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta, là cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong giai đoạn tới.

                – Vể bảo đảm vai trò của Hiến pháp và hệ thống pháp luật

    Hiến pháp được xác định giữ vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội; mọi văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp và không được trái với Hiến pháp. Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986) đến nay, Quốc hội đã 2 lần tiến hành hoạt động lập hiến (ban hành Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013) và 3 lần tiến hành hoạt động sửa đối Hiến pháp (năm 1988, 1989 – sửa đổi Hiến pháp năm 1980) và năm 2001 (sửa đổi Hiến pháp năm 1992).

    Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở sửa đổi toàn diện Hiến pháp năm 1980 để kịp thời thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng tại các Đại hội lần thứ VI, VII và Cương lĩnh năm 1991. Bản Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Tại kỳ họp thứ 10, ngày 25 tháng 12 năm 2001, Quốc hội đã xem xét, thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tiếp đó, trên cơ sở kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, đồng thời thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Hiến pháp năm 2013). Đây là sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. Như vậy, có thể thấy rằng, nếu như Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới thì Hiến pháp năm 2013 là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế và chính trị. Hiến pháp năm 2013 thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định rõ ràng, đúng đắn, đầy đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, về hiệu lực và quy trình sửa đối Hiến pháp.

    Cùng với hoạt động lập hiến, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo khung pháp lý cho sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập. Hệ thống pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, số lượng và chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ tính riêng hoạt động lập pháp của Quốc hội, từ năm 1987 đến nay, Quốc hội đã ban hành hơn 300 đạo luật Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, NxbCTQG, H,2000, tr.515.

    Sđd, tập 4, tr.56.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, tr.368.

    Sđd, tr.282.

    Sđd, tập 4, tr.56.

    Sđd, tập 4, tr.57.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, NxbCTQG, H,2000, tập 11, tr.235.

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III. Nxb Sự thật, H,1961, tr.179.

    Văn kiện Đảng toàn tập. NxbCTQG, H,2004, tập 37, tr.577.

    Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX). NxbCTQG, H,2006, tr.124.

    Sđd, tr.125.

    Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. NxbCTQG, H,2006, tr.297.

    Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Sđd, tr.510-514.

    Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB CTQG – ST 2022, tr.39 – 40.

    Sđd, tập 7, tr.499.

       Quốc hội khóa I đến Quốc hội khóa VII chỉ ban hành được 29 đạo luật; Quốc hội khóa VIII (1987-1992) ban hành 31 đạo luật; Quốc hội khóa IX (1992-1997) ban hành 41 đạo luật; Quốc hội khóa X (1997-2002) ban hành 35 đạo luật; Quốc hội khóa XI (2002-2007) đạt kỳ lục ban hành 84 đạo luật; Quốc hội khóa XII (2007­-2011) ban hành 67 đạo luật (nhiệm kỳ này chỉ có 4 năm); Quốc hội khóa XIII (2011 – 2022), tính đến kỳ họp thứ 6 (tháng 10 năm 2013) đã ban hành được 45 đạo luật.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việc Thực Hiện Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình
  • Thực Đơn Ăn Dặm Kiểu Nhật Cho Bé 5, 6 Tháng Chi Tiết 30 Ngày
  • Bí Kíp Ăn Dặm Kiểu Nhật Chi Tiết Nhất Mẹ Nào Cũng Nên Làm Theo
  • Giải Đáp 5 Truyền Thuyết Sai Lầm Về Phương Pháp Ăn Dặm Blw
  • Ăn Dặm Blw Và Những Kiến Thức Cơ Bản Mà Bố Mẹ Cần Nắm Vững
  • Dân Chủ Và Việc Thực Hiện Quyền Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • 7+ Ví Dụ Áp Dụng Nguyên Tắc Smart Trong Quản Lý Thời Gian
  • Sử Dụng Nguyên Tắc (Smart)S.m.a.r.t Trong Quản Lý Thời Gian Và Làm Việc Hiệu Quả!
  • Top 8 Công Cụ Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Quản Lý Công Việc Theo Phương Pháp Kanban Myxteam
  •  

     

     

    I. Khái luận chung về dân chủ và quyền dân chủ

     

    Dân chủ – phạm trù lịch sử và phạm trù nhân văn

    Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Là hình thức tổ chức chính trị của Nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, như vậy dân chủ là một phạm trù lịch sử, cũng như các biểu hiện khác của hình thái ý thức xã hội, dân chủ do tồn tại xã hội quyết định, do phương thức sản xuất vật chất của xã hội quyết định; và do đó, trình độ của phương thức sản xuất khác nhau tất yếu dẫn đến sự khác nhau về trình độ dân chủ (mức độ thực hiện dân chủ và dân chủ hoá trong xã hội). Dân chủ biến đổi và phát triển không ngừng cả về chất và lượng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, dân chủ với tính cách là giá trị xã hội, là thành quả giá trị nhân văn trước hết được sinh ra từ phương thức tổ chức hợp tác sản xuất vật chất và cấu kết cộng đồng giữa người với người thì đã tồn tại ngay từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ. Và do đó, với ý nghĩa này, dân chủ sẽ tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của con người, là một trong những phương thức tồn tại của con người ngay cả khi Nhà nước đã biến mất.

    Pháp luật- sự bảo đảm cho dân chủ

    Khác với hình thức khác của thiết chế nhà nước, trong thiết chế dân chủ, quyền của đa số, quyền bình đẳng của mọi công dân, tính tối cao của pháp luật được chính thức thừa nhận; đồng thời, các cơ quan quyền lực phải do bầu cử mà ra. ở đây, pháp luật được xem là nguyên tắc tối thượng của việc xây dựng thiết chế, quản lý và điều hành xã hội, là nền tảng của trật tự xã hội và là chuẩn mực có tính chất cưỡng chế nhằm điểu chỉnh hành vi của các cá nhân và các quan hệ trong xã hội. Nếu không có sự đề cao nguyên tắc tối thượng của pháp luật thì sẽ không có dân chủ, hay đúng hơn là dân chủ không thể được nảy sinh và tồn tại trên nền tảng của một xã hội mà ở đó các quan hệ xã hội và hành vi của con người hầu như chỉ được điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán thuần tuý. Các chuẩn mực như vậy chưa thể tạo ra cơ sở pháp lý cho sự nảy sinh dân chủ, bởi lẽ những cam kết và chuẩn mực có tính chất chính trị, đạo đức, tôn giáo, phong tục không đủ vững chắc và bảo đảm cho việc thực hiện quyền tự do lựa chọn người đứng đầu quốc gia, chức sắc tôn giáo hay quyền tự do phế truất,… cũng như không thể giúp cho các công dân có quyền tự do ứng cử vào các cơ quan của Nhà nước và chính quyền địa phương để tham gia vào việc giám sát, thực thi, điều hành và quản lý tất cả mọi hoạt động của xã hội và của Nhà nước. Những điều này chỉ có thể được hiện thực hoá từng bước tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội đó, ở trong một xã hội mà những cam kết về sự tự do của công dân hay cá nhân ấy phải được ghi nhận và quy định thành luật, nghĩa là trong một xã hội được tổ chức chặt chẽ bởi thiết chế luật pháp.

     

     Các hình thức dân chủ

         Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức biểu hiện của cùng thực thể dân chủ, cả hai hình thức này đều đóng một vai trò quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ, là hai hình thức không thể thiếu được của việc quản lý, điều hành, kiểm soát và thực thi quyền lực của nhân dân. Việc vận dụng chúng hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình cụ thể. Giữa hai hình thức này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại và chuyển hoá cho nhau. Để thực hiện được dân chủ đại diện thì phải cần đến dân chủ trực tiếp, chẳng hạn việc bầu cử lựa chọn ra các đại biểu Quốc hội hay đại biểu Hội đồng nhân dân, nghĩa là trước khi mỗi công dân chuyển giao quyền lực của mình cho người đại diện ư những đại biểu dân cử và cho Nhà nước thì họ đã phải thực hiện dân chủ trực tiếp bằng cách: thứ nhất, tham gia vào hội nghị hiệp thương nhân dân để lựa chọn các ứng cử viên hoặc thông qua tiếp xúc trực tiếp với một hay một số ứng cử viên mà mình sẽ lựa chọn; thứ hai, thông qua việc bỏ phiếu kín, trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, công bằng, công khai và minh bạch, để lựa chọn cho mình một đại biểu ưu tú dựa trên ý chí quyết định của chính mình. Ngược lại, đến lượt mình, các đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) khi thực hiện quyền lực của công dân (cử tri) giao cho thì lại cần phải dựa trên phương thức dân chủ trực tiếp, nghĩa là tham gia một cách trực tiếp và thể hiện ý chí của mình trong việc lập pháp cũng như các công việc quan trọng khác của Nhà nước.

        Chế độ xã hội của nước ta dựa trên nền dân chủ đại diện, nhưng không có nghĩa đó là hình thức dân chủ duy nhất, bởi vì bản thân dân chủ đã luôn luôn bao chứa trong nó cả hai hình thái tồn tại và chỉ có như vậy thì dân chủ mới thực hiện theo đúng nghĩa đầy đủ của nó, mà cần phải thấy rằng chính hình thức dân chủ trực tiếp là nội dung, là cái quyết định đối với nền dân chủ đại diện này. Chỉ khi nào mức độ dân chủ trực tiếp được hiện thực hoá một cách đầy đủ, hiệu quả và sâu rộng thì đó chính là tiền đề quan trọng cho việc thực hiện tốt hình thức dân chủ đại diện và nền dân chủ đại diện. Chẳng hạn, khi quyền làm chủ của nhân dân đã được uỷ thác cho những đại diện của mình ưđại biểu Quốc hội thì đòi hỏi những đại biểu này cần thường xuyên lắng nghe và phản ánh về những vấn đề thiết yếu hàng ngày của người dân. Những cuộc tiếp xúc trực tiếp với các cử tri và xử lý kiến nghị của cử tri cũng chính là một hình thức của dân chủ trực tiếp giúp cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở cấp đại diện (Quốc hội) được bảo đảm hiệu quả hơn, phản ánh đúng và sâu sát với những bức xúc, trăn trở của nhân dân. Hơn nữa, quyền lực của nhân dân do được thực hiện thông qua người đại diện của mình (đại biểu Quốc hội) cho nên đôi khi nó “bị khúc xạ” qua lăng kính trình độ và trách nhiệm của những người đại biểu. Do vậy, việc thực hiện dân chủ đại diện không thể tách rời dân chủ trực tiếp còn ở chỗ dân chủ trực tiếp chính là thước đo và là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm, giám sát và đánh giá dân chủ gián tiếp. Chẳng hạn, trước khi một dự luật được Quốc hội thông qua hay một chính sách, nghị định nào của Chính phủ được ban hành thì điều hết sức quan trọng là nó cần phải được gửi cho tất cả mọi công dân để lấy ý kiến của nhân dân, hoặc phải tiến hành trưng cầu dân ý ư đây chính là một hình thức của dân chủ trực tiếp. Hình thức này cần phải được coi là nền tảng để thực hiện dân chủ trực tiếp cũng như là cơ chế hết sức quan trọng để thực hiện quyền dân chủ của mọi công dân. Nghĩa là, trưng cầu dân ý cần phải trở thành nguyên tắc Hiến định đối với hoạt động thực thi và giám sát quyền lực của nhân dân. Quy chế dân chủ ở cơ sở là hết sức quan trọng và cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân thông qua hình thức dân chủ trực tiếp nhưng như thế vẫn chưa đủ, cần phải xây dựng một dự luật về trưng cầu dân ý. Chỉ có như vậy mới giúp cho việc lập pháp và việc hoạch định chính sách tránh được những bất cập, thiếu tính khả thi và chưa thực sự hiệu quả.

         Nguyên tắc nền tảng của việc thực thi và bảo đảm dân chủ đó là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Từ mục đích như vậy, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu này. Tổng thể các biện pháp này tạo ra một cơ chế hữu hiệu và duy nhất cho việc bảo đảm và thực thi quyền dân chủ rộng rãi trong xã hội. Chẳng hạn, nếu dân không được biết, không được tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, pháp luật, vào công việc của Nhà nước nghĩa là dân đã không được bảo đảm các quyền chính trị của mình. Dân không “biết”, dân sẽ không thể “bàn” được, và do đó sẽ không “làm” được và không thể “kiểm tra” được quá trình hay công việc đó.

     

    Quyền dân chủ

          Quyền dân chủ chính là những yêu sách, nhu cầu nội tại của mỗi cá nhân, với tư cách là công dân đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý dân chủ trong một thiết chế xã hội dân chủ nhằm bảo đảm sự tham gia một cách tự do, bình đẳng và đầy đủ vào các công việc của Nhà nước và toàn bộ đời sống xã hội của con người. Quyền dân chủ thực chất chính là yêu sách về bình đẳng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với Nhà nước, bảo đảm cho cá nhân khả năng hành động theo ý mình, cho sự tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không có hại cho người khác, và do đó cho khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân. Ph.Ăngghen khẳng định: “từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là những con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong xã  hội”1.

          Như vậy, quyền dân chủ trước hết là quyền con người; hơn nữa, nó nhấn mạnh đặc biệt đến các quyền về chính trị như là khả năng và điều kiện tiên quyết để thực hiện đầy đủ các quyền con người cơ bản khác. Bởi vì, sự giải phóng về chính trị là điều kiện tiên quyết đối với mọi sự giải phóng khác của con người, bình đẳng về chính trị là tiền đề của mọi sự bình đẳng. Hay nói cách khác, các quyền về chính trị (tự do bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tự do lập hội, hội họp, tự do báo chí…), một mặt, là tiền đề cho việc hiện thực hoá các quyền khác, mặt khác, là sự phản ánh về mức độ giải phóng “năng lực bản chất người” của mỗi cá nhân. Nó chính là nội dung cốt lõi của quyền con người, nó khẳng định con người là “một nhân tính tự do”“một nhân cách ư văn hoá” và “chủ thể sáng tạo của lịch sử và của giới tự nhiên”. Chính vì vậy, các nhà kinh điển mácưxít đã đặc biệt nhấn mạnh đến các quyền về chính trị như là bản chất của quyền dân chủ: “Vì thế, yêu sách khẩn cấp của công nhân và nhiệm vụ trước tiên để giai cấp công nhân có ảnh hưởng đến công việc của nhà nước là phải giành được tự do chính trị, nghĩa là tất cả mọi công dân đềuđược pháp luật đảm bảo cho họ trực tiếp tham gia việc quản lý nhà nước, tất cả mọi công dân đều được quyền tự do hội họp, bàn bạc công việc của mình, kinh qua các hội của mình và báo chí mà ảnh hưởng đến công việc của nhà nước. Giành lấy tự do chính trị trở thành “một việc làm khẩn cấp đối với công nhân” bởi vì không có tự do chính trị, không có và không thể có ảnh hưởng gì đến công việc của nhà nước và như vậy thì tất nhiên họ vẫn là một giai cấp không có quyền, bị lăng nhục và không được bày tỏ ý kiến của mình”2.

         Quyền dân chủ còn là một giá trị xã hội của con người đã được thể chế hoá thành hệ thống pháp luật của một nhà nước nhất định, gắn với một hệ thống chính trị nhất định dựa trên một trình độ phát triển nhất định về kinh tế và văn hoá. Vì vậy, quyền dân chủ một mặt là sự phản ánh bước tiến của con người về tự do, bình đẳng và sự giải phóng toàn diện năng lực bản chất người của mỗi cá nhân, mặt khác phản ánh sự phát triển của luật pháp, trình độ kinh tế, văn hoá và tiến bộ xã hội của quốc gia đó. Do đó, có thể nói: quyền dân chủ chính là quyền và tự do cơ bản của con người trong một chế độ xã hội dân chủ hay là yêu sách, nhu cầu chính đáng của con người về sự bình đẳng chính trị và bình đẳng xã hội với tính cách là môi trường và điều kiện cho sự tồn tại, phát triển và hoàn thiện nhân cách ư văn hoá và nhân tính ư tự do của mỗi cá nhân.

     

    II.       Thực hiện dân chủ và quyền dân chủ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

     

    1.   Một số thành tựu đạt được

            Kể từ khi công cuộc đổi mới toàn diện bắt đầu cho đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên mọi phương diện. Trong đó, quá trình dân chủ hoá, tôn trọng và bảo đảm quyền dân chủ ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng, nhất là trong vòng hơn 10 năm trở lại đây. Dân chủ đại diện đã được thực hiện và bảo đảm ngày càng có hiệu quả. Ví dụ từ các kỳ họp Quốc hội. Việc giải quyết công việc theo đúng hẹn, và đặc biệt là niêm yết công khai về các khoản thu chi, lệ phí, ngân sách… đều được thực hiện trong một quy trình thống nhất một đầu mối đó là “một cửa”, tức là cầu nối giữa người dân và chính quyền/các cấp chính quyền, mỗi khi người dân muốn phản ánh về vấn đề gì thì chỉ cần gặp, trình bày với bộ phận tiếp dân, cũng như nhận kết quả trả lời chỉ cần thông qua một bộ phận duy nhất, “cầu nối” duy   nhất.   Điều  này thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào  việc  giữ  vững ổn định chính trị, phát triển kinh  tế ư  xã hội  và bảo Văn hoá pháp luật,văn hoá chính trị và văn hoá nói chung của người cầm quyền và toàn xã hội còn hạn chế, chưa “cắm rễ” “ăn sâu” vào trong suy nghĩ, hành động của họ không những khắc phục được tình trạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân mà còn bảo đảm được việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân. Chẳng hạn, mô hình cơ chế “một cửa” trong quản lý nhà nước tại một số địa phương trong cả nước đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Mô hình này cho phép mọi công dân đều có cơ hội thực hiện quyền dân chủ của mình. Mô hình quản lý hành chính của cấp chính quyền địa phương được xây dựng thí điểm này được dựa trên nguyên tắc căn bản và nền tảng đó chính là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”: toàn bộ bộ máy chính quyền ở địa phương đó đã hoạt động hiệu quả, đáp ứng và giải quyết tương đối thoả đáng nguyện vọng và những vấn đề của người dân. Chẳng hạn, giải quyết những vấn đề từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, công việc riêng của từng người dân hay công việc chung của cộng đồng, khiếu nại, tố cáo của công dân, hồ sơ đất đai, giải quyết công văn đi, đến đúng thời gian,

          Quyền dân chủ của nhân dân thể hiện không chỉ thông qua việc thực hiện tốt quyền bầu cử, ứng cử mà còn là sự tôn trọng và thực hiện tốt quyền bãi miễn của nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay, tham nhũng, thoái hoá biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, hệ thống hành chính nhà nước đang được xem là “quốc nạn”. Quyền bãi miễn là một quyền của cử tri, của công dân nhằm kiểm tra và giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, là “thực hiện sự phục tùng thực sự của những người được bầu đối với nhân dân”, là nguyên tắc nhằm thực hiện triệt để chế độ dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Lênin nhấn mạnh “mọi cơ quan được bầu ra… đều có thể coi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thực sự cho ý chí của nhân dân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cử được thừa nhận và được áp dụng… từ chối không áp dụng bãi miễn, trì hoãn thi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ và hoàn toàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng XHCN đã bắt đầu ở nước Nga”3 và rằng “không có kiểm kê, kiểm soát thì không có chủ nghĩa xã hội”. Chính vì vậy, trong những năm qua, việc triển khai mạnh mẽ Quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” kết hợp với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia vào quá trình giám sát thực thi quyền lực nhà nước của toàn bộ hệ thống chính trị, hệ thống hành chính nhà nước. Nhờ có cơ chế dân chủ như vậy mà nhân dân đã tích cực tham gia vào cuộc chiến chống tệ tham nhũng, quan liêu và thoái hoá, biến chất trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ở tất cả các cấp.

     

    2. Một số vấn đề còn tồn tại

    Bên cạnh những thành tựu, cũng còn nhiều hạn chế và bất cập trong việc thực hiện dân chủ và quyền dân chủ, đã và đang làm cản trở tiến trình phát triển bền vững của đất nước, tiến bộ xã hội và việc tôn trọng, hiện thực hoá đầy đủ các quyền con người.

    a)   Dân chủ và quyền dân chủ có nơi, có lúc còn bị vi phạm nghiêm trọng và đáng báo động, đặc biệt ở cấp cơ sở. Nhiều vấn đề “quốc nạn” xảy ra và bùng phát từ cơ sở như nạn tham ô, tham nhũng, quan liêu, nhũng nhiễu, ức hiếp nhân dân diễn ra tràn lan, kéo dài và gây hậu quả đáng lo ngại. Hơn nữa, thước đo dân chủ và quyền dân chủ ư theo đúng ý nghĩa đích thực của nó, không phải cái gì khác hơn là mức độ dân chủ hoá và quyền dân chủ của nhân dân ở cấp cơ sở và ngay từ cấp cơ sở được tôn trọng và bảo đảm, nơi đóng vai trò quan trọng nhất của hệ thống chính trị, hệ thống hành chính nhà nước trong việc thực hành dân chủ và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Đúng như Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định: “Đội ngũ cán bộ ở cơ sở trong một thời gian dài không được quan tâm xây dựng, củng cố đúng với tầm quan trọng của nó trong việc đưa luật pháp, chính sách đi vào cuộc sống, phát huy quyền làm chủ và năng lực tự quản của dân”4.

    b)   Sự phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung của nước ta còn hạn chế và chưa tạo ra tiền đề vật chất đầy đủ cho việc thực hành dân chủ và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Dân chủ và quyền dân chủ không chỉ phản ánh bằng việc tham gia hiệu quả và thực sự vào đời sống chính trị, vào công việc của Nhà nước, mà còn là sự thể hiện trong hoạt động kinh doanh, trong đời sống kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế cho đến nay, quyền dân chủ trong kinh doanh của các thành phần và chủ thể kinh tế vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ vì vẫn chưa có luật cạnh tranh và khung pháp lý cần thiết để thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Chính phủ còn thiếu biện pháp cụ thể thực hiện chủ trương hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh, bất bình đẳng trong kinh doanh, không để cho độc quyền nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu biến thành độc quyền doanh nghiệp; chưa ngăn chặn được tình trạng giá một số sản phẩm và dịch vụ độc quyền quá cao, làm tăng chi phí và ảnh hưởng xấu đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp khác và toàn bộ nền kinh tế, làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư5.

    c)   Trình độ nhận thức về dân chủ cũng như việc tôn trọng và thực thi quyền dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo và chủ chốt còn nhiều hạn chế và chưa đầy đủ. Đồng thời, văn hoá pháp luật, văn hoá chính trị và văn hoá nói chung của người cầm quyền và toàn xã hội còn hạn chế, chưa “cắm rễ” và “ăn sâu” vào trong suy nghĩ, hành động của họ. Điều này làm cản trở không nhỏ cho việc tôn trọng và bảo đảm hiệu quả dân chủ và quyền dân chủ của nhân dân. Việc thực hiện dân chủ và quyền dân chủ ở nước ta vẫn còn những hạn chế và chưa hiệu quả cả về thiết chế cũng như tổ chức thực hiện. Chẳng hạn, chỉ Quy chế và các Nghị định của Chính phủ về việc xây dựng, triển khai và thực hiện dân chủ ở cơ sở là chưa đầy đủ và chưa mang tính pháp lý cao. Vì vậy, m ột mặt, cần phải thể chế hoá những nguyên tắc căn bản này vào trong hệ thống pháp luật quốc gia, mặt khác cần sớm xây dựng và thông qua Luật trưng cầu ý dân.

    d)   Không chỉ có việc thực hiện dân chủ trực tiếp còn nhiều hạn chế mà ngay cả dân chủ đại diện cũng còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Chẳng hạn, nhiều yêu cầu chính đáng của nhân dân do đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền chưa được giải quyết; tình trạng để vụ việc tồn đọng vẫn còn kéo dài; các Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn chỉ mới tổ chức tiếp dân và chuyển đơn thư là chính, chưa đủ điều kiện thực hiện đầy đủ quyền giám sát việc giải quyết đơn thư; các cơ quan của Quốc hội vẫn còn gặp khó khăn và chưa đạt hiệu quả cao về hoạt động giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và đơn thư khiếu tố trong khi kiến nghị và đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội ngày càng tăng và ngày càng gay gắt6. Trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, có nơi, có lúc chưa chú trọng đúng mức đến tiêu chuẩn đại biểu, do đó, còn có đại biểu với năng lực hạn chế, chưa bảo đảm đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn người đại biểu, phát huy vai trò của người đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và đại diện cho nhân dân cả nước, ít đóng góp ý kiến vào việc xem xét, thông qua các dự án luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và những nội dung khác được Quốc hội bàn bạc, xem xét. Cá biệt, một số ít đại biểu không giữ trọn đạo đức, phẩm chất, bị Quốc hội bãi nhiệm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của người đại biểu nhân dân. Còn thiếu quá nhiều đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và ở cả các Đoàn đại biểu Quốc hội. Các đại biểu hoạt động theo chế độ chuyên trách cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều đại biểu chưa dành được ít nhất 1/3 thời gian cho hoạt động của Quốc hội như luật định.

     

    3.   Phương hướng

    a) Tăng cường và mở rộng quyền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, chẳng hạn cần phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp; giao cho hội đồng quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ trong kinh doanh; quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng: xoá bỏ hoàn toàn bao cấp; doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh, nộp đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp.

    b)   Dân chủ với tính cách thuộc hình thái thượng tầng kiến trúc, hiển nhiên do cơ sở hạ tầng quyết định, mà trước hết phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ư vào sự phát triển kinh tế của xã hội. Vì vậy, cần phải thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường để tạo tiền đề vật chất cho việc thiết lập cơ chế dân chủ và bảo đảm rộng rãi quyền dân chủ cho tất cả mọi người. Trong chiến lược phát triển kinh tế, cần nêu cao nguyên tắc dân chủ hoá về kinh tế: coi các thành phần kinh tế đều là bình đẳng, cho phép tự do kinh doanh và sản xuất, tự do cạnh tranh trong khuôn khổ của pháp luật, đẩy mạnh cơ chế dân chủ ở cơ sở, dân chủ trong các doanh nghiệp, không được phép thiên vị hay tạo cơ chế độc quyền, bất bình đẳng trong kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhà nước…

    c) Tăng cường và mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp, đặc biệt và trước hết là ở cơ sởư đầu mối xung yếu và thước đo quan trọng nhất để đánh giá mức độ dân chủ hoá và quyền dân chủ của nhân dân. Kết hợp thật tốt và nâng cao chất lượng hoạt động của dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Các hình thức dân chủ đại diện là kết quả của quá trình hoàn thiện quy chế dân chủ, nhưng nó không loại trừ việc thực hiện dân chủ trực tiếp. Làm tốt dân chủ trực tiếp sẽ làm cho dân chủ đại diện được thực hiện tốt hơn và ngược lại. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở càng phải coi trọng và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Các

    đoàn thể nhân dân phải chủ động, gương mẫu trong việc vận động nhân dân thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước.

    d) Dân chủ với tính là giá trị xã hội, nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ giải phóng của con người về mặt nhận thức, về tri thức, về nhân cáchưtức là về mức độ xã hội hoá nhân cách “chủ thểư tự do” của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Chính vì vậy, cần nâng cao trình độ nhận thức và xây dựng văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật và văn hoá về quyền con người cho những người thực thi quyền lực nhà nước (đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt trong hệ thống chính trị) và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo tiền đề tốt hơn cho việc thực hành và bảo đảm dân chủ và quyền dân chủ.

    e) Tiếp tục tăng cường và phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở một cách rộng khắp ở tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị hành chính, các viện nghiên cứu, trường đại học… bằng việc tuyên truyền và giáo dục thường xuyên và mạnh mẽ về Quy chế và những thiết chế dân chủ này cho cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là cán bộ chủ chốt ở cơ sở và cán bộ chuyên trách của chính quyền các cấpưlà “cầu nối” giữa nhân dân và chính quyền. Cần tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng, triển khai và thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp, dân chủ ở cơ quan (trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính sự nghiệp…) và dân chủ ở xã.

    f)Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Đẩy mạnh tăng cường  cải cách hành chính toàn diện trên phạm vi cả nước, nhất là ở cấp cơ sở. Gắn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với cải cách hành chính, với nhiệm vụ phát triển kinh tếư văn hoáưxã hội, bảo đảm an ninh, ổn định chính trịưxã hội. Củng cố, kiện toàn tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư thôn bản, khu phố, đơn vị cơ sở,… nơi trực tiếp triển khai thực hiện, kiện toàn tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư thôn bản, khu phố, nơi trực tiếp triển khai thực hiện quy chế dân chủ, hương ước, quy ước của các tầng lớp nhân dân.

    g)   Tăng cường vai trò và mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi Nhà nước (hội thanh niên, hội phụ nữ, hội người già, hội người tàn tật, công đoàn,…), các thiết chế cộng đồng làng xã, khu phố, cơ quan, xí nghiệp, công ty,… được xây dựng và hoạt động theo hình thức tự quản. Tăng cường giáo dục về pháp luật, về quy chế dân chủ ở cơ sở… Đào tạo cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn và biết tiếng địa phương (dân tộc) giúp cho việc lắng nghe và giải quyết những tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề bức xúc mà người dân phản ánh.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Six Sigma Là Gì? Những Khái Niệm Cơ Bản Nhất
  • 6 Sigma Và Các Phương Pháp Áp Dụng ?
  • 5 Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột – Văn Phòng Ảo
  • Những Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Nơi Công Sở Mà Nhà Quản Lý Cần Biết
  • 7 Quy Trình Quản Trị Website Mang Lại Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp
  • Hiệp Định Tương Trợ Tư Pháp Và Pháp Lý Về Dân Sự Và Hình Sự Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 10 Môn Hóa Có Đáp Án 2022
  • Tìm Hiểu Nguyên Lý Hoạt Động Của Mạng Thông Qua 2 Mô Hình, Tìm Hiểu Đặc Điểm 2 Mô Hình Truyền Thông Osi Và Tcp
  • Định Nghĩa Mạng Nội Bộ, Các Loại Mạng Và Những Yêu Cầu Cho Mạng
  • Network Là Gì Sự Khác Biệt Giữa Internet Và Network Là Gì?
  • Vì Sao Khí Hậu Miền Bắc Và Miền Nam Của Việt Nam Khác Nhau?
  • HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VÀ PHÁP LÝ

    Về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

    Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc.

    Với lòng mong muốn phát triển hơn nữa những quan hệ anh em giữa hai Nhà nước và nhân dân hai nước, trên tinh thần hữu nghị và hợp tác, và để tạo thuận lợi cho các quan hệ pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa hai nước.

    Trên cơ sở Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ký kết giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, ngày 14 tháng 2 năm 1980.

    Đã quyết định ký Hiệp định này.

    Hai bên đã chỉ định đại diện toàn quyền của mình:

    Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cử:

    Phan Hiền, Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc cử:

    Antonin Kaspar, Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Séc.

    Phần 1

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Bảo hộ pháp lý

    1. Công dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ nước ký kết kia, đối với nhân thân và sở hữu của mình, cùng những quyền và cùng sự bảo hộ pháp lý như công dân nước ký kết kia.

    2. Phù hợp với quy định của khoản 1 điều nay, công dân nước ký kết này được tự do liên hệ với các tòa án và các cơ quan khác có thẩm quyền về dân sự và hình sự của nước ký kết kia và quyền đưa đơn kiện trước các cơ quan đó để bảo vệ các quyền nhân thân và quyền tài sản của mình.

    3. Các việc dân sự nói trong Hiệp định này cũng bao gồm các việc về gia đình và lao động.

    4. Những quy định của Hiệp định này đối với công dân cũng áp dụng đối với pháp nhân của hai nước ký kết.

    Điều 2. Tương trợ tư pháp

    1. Các Tòa án, các Viện kiểm sát và các cơ quan khác của hai nước ký kết, có thẩm quyền về dân sự và hình sự (sau đây gọi chung là cơ quan tư pháp) tương trợ nhau về mặt tư pháp theo những điều kiện quy định trong Hiệp định này.

    2. Các cơ quan tư pháp tương trợ nhau trong việc thực hiện các hành vi tố tụng, nhất là trong việc lấy lời khai của người làm chứng, của đương sự, của bị can hoặc của người khác, trong việc tiến hành giám định, trong việc lập chuyển và tống đạt giấy tờ.

    Điều 3. Cách thức liên hệ

    1. Các cơ quan tư pháp của các nước ký kết liên hệ với nhau qua cơ quan trung ương của mình trừ trường hợp Hiệp định này quy định khác.

    a) Về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    – Bộ Tư pháp

    b) Về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

    – Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Séc

    – Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Slovac.

    Điều 4. Tiếng nói

    Để thi hành Hiệp định này, khi liên hệ với nhau, các cơ quan của hai nước ký kết dùng tiếng nói chính thức của nước mình hoặc tiếng Nga, trừ phi Hiệp định này quy định khác.

    Điều 5. Ủy thác tư pháp

    1. Nếu Hiệp định này không có quy định khác, tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở bản ủy thác tư pháp phù hợp với pháp luật của nước được ủy thác.

    2. Bên ủy thác tư pháp và các văn bản phụ đính phải được Nhà chức trách có thẩm quyền ký tên và đóng dấu chính thức. Nếu cần kèm theo bản dịch thì bản dịch phải do người phiên dịch được ủy nhiệm cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của một nước ký kết chứng nhận là dịch đúng.

    3. Trong việc tương trợ tư pháp, cơ quan của mỗi nước ký kết có thể dùng giấy tờ in sẵn của mình.

    4. Bản ủy thác tư pháp cần nêu rõ:

    a) Tên cơ quan tư pháp ủy thác;

    b) Tên cơ quan tư pháp được ủy thác;

    c) Vụ kiện chính xác đòi hỏi việc tương trợ tư pháp, mục đích yêu cầu của việc ủy thác và những tài liệu cần thiết để thực hiện việc ủy thác;

    d) Họ, tên, quốc tịch, nơi thường trú hoặc tạm trú, nghề nghiệp của mỗi đương sự, bị can, bị cáo, người bị kết án, người làm chứng, và của người bị thiệt hại nếu có;

    e) Họ, tên và địa chỉ của những người đại diện hợp pháp trong trường hợp những người này đã được chỉ định.

    6. Nếu là ủy thác lấy lời khai thì còn phải ghi rõ những câu hỏi cần đặt.

    7. Trong những vụ án hình sự, giấy ủy thác còn phải nêu rõ tội danh và mô tả hành vi phạm tội, và trong chừng mực có thể, nêu rõ ngày sinh của các bị can và họ tên của bố mẹ họ.

    Điều 6. Thực hiện ủy thác tư pháp

    1. Để thực hiện ủy thác tư pháp thì áp dụng Điều 5 khoản 1 của Hiệp định này. Theo yêu cầu của bên ủy thác có thể thực hiện việc ủy thác tư pháp theo cách thức nói trong giấy ủy thác nếu làm như vậy không trái với pháp luật của nước được ủy thác.

    2. Khi được yêu cầu cơ quan tư pháp được ủy thác sẽ kịp thời thông báo cho cơ quan tư pháp ủy thác về nơi và ngày thực hiện việc ủy thác.

    3. Trong trường hợp cơ quan được ủy thác không phải là cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc ủy thác, thì cơ quan đó phải chuyển ngay giấy ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền.

    4. Nếu không thể thực hiện việc ủy thác, cơ quan được ủy thác trả lại giấy tờ cho cơ quan ủy thác và nói rõ lý do.

    Điều 7. Chuyển giao giấy tờ

    1. Những giấy tờ về dân sự cần tống đạt cho người thường trú trên lãnh thổ nước ký kết kia phải kèm hai bản vào giấy yêu cầu tống đạt.

    2. Đối với giấy cần tống đạt mà không viết bằng tiếng của nước ký kết được ủy thác hoặc không kèm theo bản dịch ra tiếng nước này, thì nước được ủy thác chỉ tống đạt khi đương sự đồng ý nhận.

    3. Về chứng minh việc tống đạt giấy tờ thì tuân theo pháp luật của nước đã nhận ủy thác. Giấy biên nhận về tống đạt phải ghi rõ nơi, ngày và cách thức tống đạt.

    4. Nếu không thể tống đạt giấy tờ ở địa chỉ đã ghi, cơ quan nhận ủy thác sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết để xác định địa chỉ đúng của người nhận. Trong trường hợp không có khả năng xác định địa chỉ này, cơ quan nhận ủy thác thông báo cho cơ quan ủy thác và đồng thời trả lại giấy tờ.

    5. Theo yêu cầu của cơ quan ủy thác, cơ quan được ủy thác trong khuôn khổ pháp luật hiện hành của nước mình, sẽ tìm mọi cách để tống đạt giấy tờ cho đích thân người nhận.

    Điều 8. Tống đạt giấy tờ cho công dân nước mình

    Các nước ký kết có thể tống đạt giấy tờ cho công dân của mình qua cơ quan ngoại giao cũng như cơ quan lãnh sự. Trong trường hợp này, không được sử dụng các biện pháp cưỡng chế.

    Điều 9. Bảo hộ người làm chứng và người giám định

    1. Một người làm chứng hoặc một người giám định thường trú trên lãnh thổ nước ký kết này không buộc phải trình diện khi có giấy gọi của một cơ quan nước ký kết kia vì vậy giấy gọi không được có khoản đe dọa dùng biện pháp cưỡng chế nếu không trình diện.

    3. Người làm chứng hoặc người giám định sẽ không được hưởng sự bảo hộ nói ở khoản 2 điều này nếu họ không rời khỏi lãnh thổ nước ký kết đã gọi họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được báo là sự có mặt của họ không còn cần thiết nữa, không tính vào thời hạn này những ngày người làm chứng, người giám định buộc phải ở lại vì những lý do ngoài ý muốn của họ.

    4. Những người bị gọi có quyền được thanh toán tiền tàu xe và phí tổn lưu trú, cũng như được hưởng một khoản phụ cấp, ngoài ra người giám định còn được hưởng thù lao giám định. Trong giấy gọi sẽ ghi rõ các khoản phụ cấp được hưởng, nếu yêu cầu, người bị gọi được ứng trước một phần các phụ cấp.

    5. Nếu một người được gọi để làm chứng lại đang bị bắt giam trên lãnh thổ của nước ký kết được yêu cầu, các cơ quan của nước này nói trong khoản 2 Điều 3 của Hiệp định sẽ thi hành những biện pháp cần thiết để chuyển người đó sang lãnh thổ của nước ký kết yêu cầu, với điều kiện là người đó tiếp tục bị giam ở nước này và được chuyển hóa lại ngay sau khi đã khai.

    Điều 10. Chi phí trong việc tương trợ tư pháp

    1. Mỗi nước ký kết gánh chịu những chi phí về tương trợ tư pháp trên lãnh thổ của mình.

    2. Khi được yêu cầu, cơ quan nhận ủy thác thông báo cho cơ quan ủy thác số tiền chi phí, số tiền này nếu thu được, sẽ thuộc quyền của nước ủy thác.

    Điều 11. Xác định địa chỉ

    Các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết sẽ giúp nhau tìm địa chỉ của những người đang trên lãnh thổ nước mình, khi việc này cần thiết để công dân nước kia đòi thực hiện quyền lợi.

    Điều 12. Thông tin pháp luật

    Các cơ quan trung ương của hai nước ký kết khi được yêu cầu, sẽ thông báo cho nhau về pháp luật tư pháp đang có hiệu lực hoặc trước đây đã có hiệu lực trên lãnh thổ nước mình, kể cả gửi văn bản và thông tin về các vấn đề pháp lý và về án lệ.

    Điều 13. Giá trị các giấy tờ

    1. Giấy tờ do các cơ quan có thẩm quyền lập ra hoặc chứng nhận ở nước ký kết này theo đúng thể thức quy định được miễn chứng thực khi đem sử dụng ở nước ký kết kia. Quy định này cũng áp dụng đối với các giấy tờ có chữ ký đã được chứng thực theo đúng thể thức của một nước ký kết.

    2. Quy định ở khoản 1 điều này cũng áp dụng đối với các bản sao, và các bản dịch được một cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

    3. Giấy tờ được coi là chính thức ở nước ký kết này cũng có giá trị là giấy tờ chính thức ở nước ký kết kia.

    Điều 14. Từ chối tương trợ tư pháp

    Có thể từ chối việc tương trợ tư pháp nói trong Hiệp định này nếu nước ký kết được yêu cầu cho rằng việc tương trợ tư pháp sẽ xâm phạm đến chủ quyền, hoặc đến an ninh hoặc đến các nguyên tắc pháp luật cơ bản của mình.

    Phần II

    CÁC VẤN ĐỀ DÂN SỰ

    Chương I

    NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC QUY CHẾ NHÂN THÂN

    Điều 15. Năng lực sử dụng quyền và năng lực hành vi

    1. Năng lực sử dụng quyền và năng lực hành vi của công dân mỗi nước ký kết do pháp luật của nước mà người đó là công dân quy định.

    2. Năng lực pháp lý của một pháp nhân do pháp luật của nước ký kết đã thành lập pháp nhân quy định.

    Điều 16. Mất và hạn chế năng lực hành vi

    1. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, cơ quan tư pháp của nước ký kết mà một người là công dân là cơ quan có thẩm quyền để tước hoặc hạn chế năng lực hành vi của người đó.

    2. Nếu thấy có lý do để tước hoặc hạn chế năng lực hành vi của công dân nước ký kết kia thường trú ở nước mình, cơ quan tư pháp của nước ký kết này sẽ thông báo cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết kia biết. Cũng có thể quyết định những biện pháp tạm thời cần thiết để bảo vệ nhân thân và tài sản của người công dân nước ký kết kia.

    3. Nếu trong thời hạn ba tháng kể từ ngày được thông báo về những sự việc nêu ở khoản 2 điều nay, có quan tư pháp của nước ký kết có công dân kia không tự mình tiến hành thủ tục cần thiết hoặc không bày tỏ thái độ thì cơ quan tư pháp của nước ký kết này sẽ tiến hành thủ tục tước hoặc hạn chế năng lực hành vi. Quyết định về việc này sẽ chuyển cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết có công dân.

    5. Cũng áp dụng những quy định của điều này trong trường hợp phục hồi hoặc thay đổi năng lực hành vi.

    Điều 17. Tuyên bố chết

    1. Việc tuyên bố một người chết thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp nước ký kết mà theo những tin tức cuối cùng, người đó là công dân trước khi chết.

    2. Cơ quan tư pháp của nước ký kết này có thể tuyên bố chết cũng như xác định ngày chết đối với công dân nước ký kết kia, theo yêu cầu của những người sống trên lãnh thổ nước ký kết kia, khi họ chứng minh là có quyền lợi theo pháp luật của nước ký kết này.

    3. Trong những trường hợp nói ở khoản 1 và khoản 2 điều nay, các cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật của nước mình.

    4. Những quyết định đã ra căn cứ vào khoản 2 điều này chỉ có hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ nước ký kết có cơ quan tư pháp đã ra quyết định.

    Chương II

    NHỮNG VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH

    Điều 18. Kết hôn

    1. Những điều kiện cho phép kết hôn giữa công dân nước ký kết này và công dân nước ký kết kia tùy thuộc pháp luật của nước mà họ là công dân. Về những trường hợp ngăn cấm tuyệt đối việc kết hôn, ngoài việc tuân theo pháp luật nước mình, công dân còn phải tuân theo pháp luật của nơi tiến hành kết hôn.

    2. Về hình thức kết hôn thì tuân theo pháp luật của nơi kết hôn.

    3. Về hình thức kết hôn trước đại diện cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự thì tuân theo pháp luật của nước ký kết có cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự.

    4. Việc kết hôn giữa công dân hai nước ký kết với nhau, nhất thiết phải theo hình thức Nhà nước mới có giá trị.

    Điều 19. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng

    1. Nếu hai vợ chồng cùng là công dân nước ký kết này và cùng thường trú ở nước ký kết kia, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa họ sẽ tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân.

    2. Nếu hai vợ chồng cùng là công dân một nước ký kết, nhưng người thường trú ở nước ký kết này, người thường trú ở nước ký kết kia thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân.

    3. Nếu hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú.

    4. Nếu hai vợ chồng nói ở khoản 3 đã không có nơi thường trú chung ở nước ký kết nào, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ giải quyết theo pháp luật của nước ký kết có tòa án nhận đơn kiện.

    5. Cơ quan tư pháp của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân có thẩm quyền để giải quyết về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ. Nếu khi mở đầu vụ kiện, khi vợ chồng cùng thường trú ở nước ký kết kia thì cơ quan tư pháp của nước ký kết kia cũng có thẩm quyền.

    6. Trong trường hợp hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú có thẩm quyền để giải quyết quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ. Nếu họ đã không có nơi thường trú chung thì cơ quan tư pháp của cả hai nước ký kết đều có thẩm quyền.

    Điều 20. Ly hôn

    1. Việc ly hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân khi đưa đơn ly hôn.

    2. Nếu hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì cơ quan tư pháp tiến hành tố tụng ly hôn sẽ xét xử theo pháp luật của nước mình.

    3. Đối với những vụ ly hôn nói ở khoản 1 điều này, thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân khi đưa đơn ly hôn. Nếu khi đưa đơn ly hôn, hai vợ chồng thường trú ở nước ký kết kia thì cơ quan tư pháp của nước ký kết kia cũng có thẩm quyền.

    4. Đối với những vụ ly hôn nói ở khoản 2 điều này, thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi hai vợ chồng đang hoặc đã cùng thường trú. Nếu người thường trú ở nước ký kết này, người thường trú ở nước ký kết kia thì thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của cả hai nước.

    Điều 21. Kết hôn vô hiệu

    1. Việc xác định có kết hôn hay không có kết hôn và việc tuyên bố tiêu hủy kết hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết nào đã được áp dụng khi kết hôn theo Điều 12 Hiệp định này.

    2. Về thẩm quyền của cơ quan tư pháp thì tuân theo quy định của Điều 20 Hiệp định này.

    Điều 22. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con cái

    1. Việc truy nhận, phủ nhận hoặc xác nhận quan hệ cha con thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người con là công dân khi sinh ra.

    2. Về hình thức truy nhận quan hệ cha con, chỉ cần tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi truy nhận.

    3. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con cái do pháp luật của nước ký kết mà người con là công dân điều chỉnh.

    4. Cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người con là công dân cũng như cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi người con thường trú đều có thẩm quyền để giải quyết các quan hệ nói trong các khoản của điều này.

    NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG

    Điều 23.

    1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con cái thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đòi cấp dưỡng là công dân.

    2. Cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi người đòi cấp dưỡng thường trú, có thẩm quyền để giải quyết các vụ kiện ở khoản 1 điều này.

    Điều 24.

    Hai nước ký kết sẽ tiến hành mọi biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và việc thi hành bản án hoặc quyết định khác của cơ quan tư pháp về cấp dưỡng. Hai nước ký kết sẽ có những biện pháp làm cho việc chuyển tiền cấp dưỡng cho trẻ em chưa thành niên được ưu tiên tiến hành và không hạn chế.

    Điều 25.

    Trong trường hợp cơ quan tư pháp của nước ký kết này xét đơn đòi cấp dưỡng đối với một người cư trú ở nước ký kết kia, cơ quan tư pháp của nước ký kết kia khi được yêu cầu sẽ giúp xác định nguồn và số thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

    NUÔI CON NUÔI

    Điều 26.

    1. Về nhận con nuôi và hủy bỏ việc nuôi thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đứng nuôi là công dân khi mở đầu thủ tục. Trong trường hợp nói ở khoản 2 Điều 27 Hiệp đình này, hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì phải tuân thep pháp luật của cả hai nước.

    2. Về sự cần thiết phải được sự thỏa thuận của đứa bé hoặc những người khác và của các cơ quan thì tuân theo pháp luật cả nước ký kết mà đứa trẻ là công dân.

    Điều 27.

    1. Thẩm quyền giải quyết việc nhận con nuôi và việc hủy bỏ việc nuôi thuộc cơ quan của nước ký kết mà người đứng nuôi là công dân khi mở đầu thủ tục.

    2. Nếu hai vợ chồng cùng đứng nuôi, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì thẩm quyền giải quyết việc nhận nuôi và việc hủy bỏ việc nuôi, thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú.

    GIÁM HỘ

    Điều 28.

    1. Về mở đầu và chấm dứt việc giám hộ thì phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người được giám hộ là công dân.

    2. Về quan hệ pháp lý giữa người giám hộ và người được giám hộ, thì tuân theo pháp luật của nước ký kết có cơ quan đã chỉ định người giám hộ.

    3. Về nghĩa vụ nhận và thực hiện nghĩa vụ giám hộ tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người giám hộ là công dân.

    4. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, cơ quan của nước ký kết mà người được giám hộ là công dân có thẩm quyền để quyết định về mở đầu và chấm dứt giám hộ.

    5. Những quyết định về mở đầu và chấm dứt việc giám hộ của cơ quan nước ký kết này đối với công dân nước mình cũng có hiệu lực ở nước ký kết kia.

    Điều 29.

    1. Nếu thấy cần thiết đặt một người giám hộ để bảo vệ quyền lợi của công dân nước ký kết kia thường trú hoặc tạm trú, hoặc có tài sản ở nước ký kết này, thì cơ quan tư pháp của nước ký kết này, báo ngay cho cơ quan ngoại giao hay cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia.

    2. Trong những trường hợp khẩn cấp, cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết này sẽ tiến hành những biện pháp tạm thời cần thiết, thep pháp luật của nước mình và thông báo ngay cho cơ quan ngoại giao hay cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia biết như nói ở khoản 1 điều này. Những biện pháp tạm thời này, có hiệu lực chừng nào mà cơ quan tư pháp của nước ký kết kia chưa quyết định biện pháp nào khác, hoặc có quyết định nhưng chưa thông báo cho cơ quan đã quyết định biện pháp tạm thời biết.

    Điều 30.

    1. Cơ quan tư pháp có thẩm quyền theo khoản 4 Điều 28 Hiệp định này có thể chuyển giao việc giám hộ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia nếu người được giám hộ thường trú ở nước ký kết kia. Việc chuyển giao có hiệu lực kể từ khi cơ quan của nước ký kết kia đảm nhiệm việc giám hộ. Cơ quan này, khi đảm nhiệm việc giám hộ, phải thông báo ngay cho cơ quan đã chuyển giao.

    2. Cơ quan có thẩm quyền đã đảm nhiệm việc giám hộ theo khoản 1 điều này, sẽ áp dụng pháp luật của nước mình. Cơ quan đó không có quyền quyết định về những vấn đề thuộc nhân thân người được giám hộ.

    Điều 31. Hậu quả của việc bắt đầu thủ tục tố tụng

    Nếu thủ tục tố tụng về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ chồng, về ly hôn cũng như về quan hệ cha mẹ, con cái đã bắt đầu tiến hành trước cơ quan tư pháp của nước ký kết này thì không được tiến hành thủ tục tố tụng trước cơ quan tư pháp của nước ký kết kia để xét về cùng vụ kiện giữa cùng các bên đương sự. Cơ quan tư pháp nhận được đơn kiện sau phải tự động tuyên bố không có thẩm quyền.

    Chương III

    Điều 32. Hình thức các giấy tờ pháp lý

    1. Hình thức các giấy tờ pháp lý phải tuân theo pháp luật hiện hành đối với mỗi loại giấy tờ. Tuy nhiên chỉ cần thỏa mãn những điều kiện quy định trong pháp luật của nơi giấy tờ được xuất trình.

    2. Hình thức các giấy tờ pháp là bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi có bất động sản.

    Điều 33. Trách nhiệm về thiệt hại gây ra

    Chương IV

    VẤN ĐỀ THỪA KẾ

    Điều 34. Nguyên tắc bình đẳng

    1. Công dân nước ký kết này, do thừa kế theo pháp luật hay thừa kế theo di chúc, có thể được hưởng tài sản và quyền lợi khác ở nước ký kết kia theo cùng điều kiện và cùng mức độ như công dân của chính nước ký kết kia.

    2. Công dân nước ký kết này có thể định đoạt bằng chúc thư về tài sản mà họ có ở nước ký kết kia.

    Điều 35.

    1. Pháp luật điều chỉnh quyền thừa kế động sản là pháp luật của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết.

    2. Pháp luật điều chỉnh quyền thừa kế bất động sản là pháp luật của nước ký kết nơi có bất động sản.

    3. Việc phân biệt tài sản thừa kế là động sản hay bất động sản sẽ theo pháp luật của nước mà ở đó có tài sản thừa kế.

    Điều 36.

    1. Năng lực để lập hoặc bãi bỏ chúc thư cũng như thủ tục, phản đối việc lập hoặc bãi bỏ chúc thư vì lý do ý chí của người để lại chúc thư không bình thường hoặc vì việc bày tỏ ý chí ấy không được tự do, được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại chúc thư là công dân khi lập hoặc bãi bỏ chúc thư.

    2. Về hình thức lập hoặc bãi bỏ chúc thư thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi lập hoặc bãi bỏ chúc thư. Hình thức lập hoặc bãi bỏ chúc thư cũng có giá trị nếu tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi lập hoặc bãi bỏ chúc thư.

    Điều 37. Không có người thừa kế

    Nếu không có người thừa kế theo pháp luật của nước ký kết có thẩm quyền về quan hệ thừa kế, thì động sản thuộc nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết; bất động sản thuộc nước ký kết nơi có bất động sản.

    Điều 38.

    1. Trừ đối với trường hợp nói ở khoản 2 Điều này, thẩm quyền giải quyết về thừa kế động sản thuộc về cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết.

    2. Trong trường hợp toàn bộ động sản thừa kế của công dân nước ký kết này lại để ở nước ký kết kia, thì cơ quan của nước ký kết kia có thể quyết định về khối động sản ấy khi được một người thừa kế nào đó yêu cầu và với điều kiện là tất cả những người thừa kế khác đều được biết và thỏa thuận.

    3. Thẩm quyền giải quyết về thừa kế bất động sản bao giờ cũng thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi có bất động sản.

    4. Quy định ở các khoản 1 và 3 Điều này cũng áp dụng để giải quyết các vụ kiện về thừa kế.

    Điều 39. Bảo quản tài sản thừa kế

    1. Nếu tài sản thừa kế của công dân nước ký kết kia lại để ở nước ký kết này, thì cơ quan của nước ký kết này sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết phù hợp với pháp luật của nước mình để bảo quan và để quản lý tài sản thừa kế ấy. Cũng tiến hành những biện pháp này cả trong trường hợp tài sản thừa kế có thể sẽ được chuyển cho công dân của nước ký kết kia hưởng.

    Điều 40. Công bố chúc thư

    Cơ quan tư pháp nước ký kết nơi giữ chúc thư có thẩm quyền để mở ra công bố chúc thư, để xác định tình trạng và nội dung chúc thư cũng như để tiến hành tố tụng về giá trị của chúc thư. Trong trường hợp người quá cố là công dân của nước ký kết kia khi chết, thì gửi cho cơ quan tư pháp của nước ký kết kia một bản sao chúc thư được chứng thực, cũng như văn bản về tình trạng và nội dung chúc thư. Nếu được yêu cầu thì gửi bản gốc chúc thư.

    Điều 41. Chuyển giao tài sản thừa kế

    1. Nếu động sản thừa kế của một người khi chết là công dân nước ký kết kia, lại để ở nước ký kết này, thì tài sản đó sẽ được chuyển cho cơ quan tư pháp, cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự nước ký kết kia để giải quyết, với điều kiện là quy định nói ở điểm b, khoản 4 điều này được tuân theo.

    2. Thuế về thừa kế bất động sản do nước ký kết nơi có bất động sản thu. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, thuế về thừa kế động sản do nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết thu.

    3. Trong trường hợp theo quyết định giải quyết việc thừa kế, tài sản thừa kế thuộc về những người thường trú ở nước ký kết kia, nhưng không có khả năng chuyển giao cho những người đã được xác định này, hoặc cho người thay mặt họ, thì chuyển giao tài sản thừa kế cho cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia.

    4. Tài sản thừa kế được chuyển giao với những điều kiện sau đây:

    a) Mọi khoản thuế và phụ thu về thừa kế đã được nộp đủ hoặc bảo đảm sẽ được nộp đủ.

    b) Cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép cần thiết cho việc chuyển đồ vật hoặc tiền thừa kế ra nước ngoài.

    c) Tất cả các món nợ của người quá cố, được khai báo trong thời gian quy định trong pháp luật của nước ký kết nơi để tài sản thừa kế, đã được thanh toán hoặc bảo đảm sẽ được thanh toán.

    Chương V

    ÁN PHÍ

    Điều 42. Miễn cước án phí

    1. Đối với công dân nước ký kết này tham gia tố tụng ở nước ký kết kia mà thường trú ở một trong hai nước thì không được bắt nộp bất cứ khoản án phí nào.

    Cơ quan tư pháp nước ký kết này có thể yêu cầu công dân nước ký kết kia ứng trước một phần chi phí về xác định chứng cứ trong cùng điều kiện và cũng mức độ như đối với công dân nước mình

    MIỄN ÁN PHÍ, LỆ PHÍ

    Điều 43.

    Công dân nước ký kết này được hưởng ở nước ký kết kia việc miễn án phí, miễn lệ phí công chứng và quyền được thay mặt không mất tiền theo cùng những điều kiện đối với công dân nước ký kết kia.

    Điều 44.

    1. Đơn xin miễn các khoản nói ở Điều 43 Hiệp đình này cũng có thể gửi đến cơ quan tư pháp nước ký kết mà người xin là công dân. Cùng với đơn xin miễn phí, có thể gửi đơn khởi kiện về vụ án trong đó xin miễn phí.

    2. Đơn xin miễn phí theo khoản 1 điều này và đơn khởi kiện nếu có, sẽ được chuyển cho cơ quan tư pháp của nước ký kết kia theo cách thức nói ở Điều 3 Hiệp định này.

    Điều 45.

    1. Đơn xin miễn phí nói ở Điều 43 Hiệp định này phải kèm theo giấy chứng nhận về tình hình nhân thân, gia đình và tài sản của người xin giấy chứng nhận này do cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nơi người xin thường trú cấp.

    2. Trong trường hợp người xin không thường trú ở nước ký kết nào, giấy chứng nhận có thể do cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết mà người xin là công dân cấp.

    3. Cơ quan tư pháp giải quyết việc xin miễn phí có thể yêu cầu cơ quan cấp giấy chứng nhận cho biết thêm tình hình hoặc giải thích các điểm cần thiết.

    Chương VI

    CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH

    Điều 46.

    b) Các quyết định về bồi thường thiệt hại trong các bản án hình sự.

    2. Các nước ký kết công nhận và thi hành trên lãnh thổ nước mình theo quy định của Hiệp định này, các quyết định của trọng tài.

    a) Nếu quyết định được căn cứ vào một hợp đồng viết xác định thẩm quyền của cơ quan trọng tài và quyết định ấy đã được cơ quan trọng tài ra trong phạm vi quyền hạn thỏa thuận;

    b) Và nếu hợp đồng xác định thẩm quyền của cơ quan trọng tài có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đương sự đã lựa chọn, hoặc trong trường hợp không có pháp luật được lựa chọn thì nó phải có giá trị theo pháp luật của nước ký kết nơi công nhận và thi hành quyết định.

    Điều 47.

    1. Các quyết định nói ở Điều 46 Hiệp định này sẽ được công nhận và thi hành nếu đủ những điều kiện dưới này:

    a) Quyết định đã có hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành theo pháp luật của nước ký kết nơi đã có quyết định;

    b) Cơ quan đã ra quyết định là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Hiệp định này hoặc theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu công nhận hoặc thi hành quyết định;

    c) Trước đây chưa có một quyết định có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ kiện giữa cùng một vụ kiện giữa cùng các bên đương sự của cơ quan tư pháp nước ký kết được yêu cầu thi hành quyết định, hoặc trước đây nước ký kết này chưa công nhạn một quyết định có hiệu lực pháp luật của nước thứ ba;

    d) Quyết định đã được ra căn cứ vào pháp luật nói trong Hiệp định này;

    e) Bên thua kiện đã không bị tước khả năng tham gia tố tụng và nếu thuộc trường hợp không có năng lực hành vi thì người ấy đã được thay mặt một cách hợp pháp; giấy gọi đến tòa án hoặc đơn khởi kiện đã được tống đạt cho đích thân người ấy;

    f) Nước ký kết được yêu cầu thấy rằng việc công nhận và thi hành quyết định không phương hại đến chủ quyền hoặc an ninh hoặc không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình.

    2. Những quyết định tạm thời và quyết định ứng trước trong lĩnh vực cấp dưỡng có thể thi hành ở nước ký kết được yêu cầu mặc dù có thể bị khiếu nại lên cơ quan tư pháp cấp trên.

    Điều 48.

    1. Những quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tư pháp nước ký kết này về hộ tịch của công dân nước ký kết kia sẽ được công nhận ở nước ký kết kia theo điều kiện nói trong Điều 47 Hiệp định này.

    2. Bất cứ người nào có lợi ích cũng có thể yêu cầu tiến hành việc công nhận nói ở khoản 1 điều này.

    Điều 49.

    Những quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tư pháp một nước ký kết về hộ tịch của công dân nước mình đều có giá trị ở nước ký kết kia, không cần phải kiểm tra lại.

    Điều 50.

    Cơ quan có thẩm quyền để công nhận và ra lệnh thi hành các quyết định là cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi quyết định phải được công nhận hoặc được thi hành.

    Điều 51.

    1. Đơn xin công nhận hoặc xin thi hành một quyết định có thể gửi thẳng cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết nơi công nhận hoặc thi hành quyết định, hoặc gửi cho cơ quan đã xử sơ thẩm. Ở trường hợp sau, đơn sẽ được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền của nơi công nhận hoặc thi hành quyết định, theo quy định của Điều 3 Hiệp định này.

    2. Đơn xin công nhận và thi hành quyết định phải kèm theo:

    a) Bản sao có thị thực của quyết định cùng văn bản xác nhận rằng quyết định đã có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành hoặc hiệu lực thi hành tạm thời, trừ phi bản thân quyết định đã thể hiện những điều này;

    b) Giấy chứng nhận hoặc chứng thực là người thua kiện vắng mặt khi ở phiên tòa đã được gọi đúng thể thức trong thời hạn quy định và nếu là thuộc trường hợp không có năng lực hành vi, thì người đó được thay mặt một cách hợp pháp;

    Điều 52.

    1. Cơ quan quyết định về việc công nhận và việc cho thi hành quyết định chỉ kiểm tra xem đã đủ các điều kiện nói ở các Điều 47 và 51 Hiệp định này chưa. Nếu đủ thì cơ quan ấy công nhận và ra lệnh thi hành quyết định.

    2. Trừ phi Hiệp định này quy định khác cơ quan tư pháp có thẩm quyền sẽ công nhận và cho thi hành các quyết định theo pháp luật của nước mình.

    Điều 53.

    1. Nếu một đương sự được miễn cược án phí theo Điều 42 Hiệp định này lại bị một quyết định có hiệu lực pháp luật buộc phải chịu án phí, cơ quan tư pháp của nước ký kết kia, theo yêu cầu của bên được hưởng, sẽ cho thi hành quyết định đó mà không thu một khoản tiền nào.

    3. Cơ quan có thẩm quyền để ra lệnh thi hành quyết định về án phí theo khoản 1 Điều này chỉ cần kiểm tra xem quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành chưa.

    Điều 54.

    Cơ quan của nước ký kết nơi nhà nước đã ứng trước các án phí sẽ yêu cầu cơ quan tư pháp của nước ký kết kia thu lại các khoản đó. Tiền thu được sẽ nộp cho cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết yêu cầu.

    Điều 55.

    Quy định của Hiệp định này về việc thi hành các quyết định không phương hại đến các quy định của các nước ký kết về việc chuyển ra nước ngoài tiền và đồ vật do thi hành các quyết định mà có.

    Chương VII

    CHUYỂN GIẤY HỘ TỊCH

    Điều 56.

    1. Nước ký kết này sẽ chuyển cho nước ký kết kia các trích lục hộ tịch của công dân nước ký kết kia. Việc chuyển tiến hành qua cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự và không lấy tiền.

    2. Các nước ký kết khi được yêu cầu, gửi cho nhau và không lấy tiền theo cách thức nói ở khoản 1 điều này, các trích lục hộ tịch để các cơ quan có thẩm quyền sử dụng trong công tác.

    3. Công dân nước ký kết này có thể trực tiếp gửi đến cho cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia để xin cấp trích lục hộ tịch hoặc tài liệu khác về hộ tịch. Các tài liệu sẽ gửi cho người xin qua cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của bên cấp, cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự khi giao tài liệu sẽ thu các lệ phí đã quy định.

    Điều 57.

    2. Nước ký kết này sẽ gửi cho nước ký kết kia bản sao những quyết định đã có hiệu lực pháp luật về hộ tịch của công dân nước ký kết kia.

    3. Các tài liệu nói ở khoản 1 và 2 điều này được gửi theo như quy định ở khoản 1 Điều 56 Hiệp định này, và không lấy tiền.

    Phần II

    NHỮNG VẤN ĐỀ HÌNH SỰ

    Chương I

    Điều 58. Tương trợ tư pháp

    Trừ phi phần này quy định khác, việc tương trợ tư pháp về hình sự sẽ theo các quy định của phần 1 Hiệp định này.

    Điều 59. Tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự

    1. Khi được nước ký kết kia yêu cầu, nước ký kết này theo pháp luật của mình, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự của công dân mình đã có hành vi phạm tội ở nước ký kết kia.

    2. Phạm vi cam kết tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm cả những hành vi, theo pháp luật của nước ký kết yêu cầu thì là tội phạm, nhưng theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu, thì không phải là tội phạm và thuộc các cơ quan không phải là toà án xử lý.

    3. Quyền được bồi thường của những người bị thiệt hại mà quá trình tiến hành tố tụng tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phát hiện ra sẽ được xem xét trong quá trình này, các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết đã tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, theo pháp luật của nước mình, sẽ có những biện pháp cần thiết để những yêu cầu về bồi thường thiệt hại được giải quyết trong quá trình tố tụng hình sự.

    Điều 60. Nội dung yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự

    a) Những điểm về hộ tịch kể cả về quốc tịch,

    b) Miêu tả sự việc xảy ra,

    c) Những chứng cứ,

    d) Bản sao các biên bản điều tra, xét hỏi nếu cần thiết, hoặc một số kết quả việc điều tra,

    e) Điều luật áp dụng theo pháp luật của nơi đã xảy ra hành vi phạm tội, kể cả điều luật về thời hiệu,

    f) Yêu cầu về bồi thường thiệt hại.

    2. Khi nước ký kết được yêu cầu đặt vấn đề, nước ký kết yêu cầu sẽ cung cấp những chứng cứ bổ sung.

    3. Nếu sau khi văn bản yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự được gửi di mà bị can bị tù hoặc bị tạm giam thì phải ra lệnh chuyển giao bị can cho nước ký kết được yêu cầu.

    4. Nước ký kết được yêu cầu thông báo cho nước ký kết yêu cầu quyết định cuối cùng. Nếu có đòi hỏi, sẽ gửi cho nước ký kết yêu cầu bản sao toàn văn quyết định.

    Chương II

    DẪN ĐỘ

    Điều 61. Nghĩa vụ dẫn độ

    Khi được yêu cầu, các nước ký kết, theo quy định của Hiệp định này sẽ chuyển giao cho nhau những người đang ở trên lãnh thổ mình để nước ký kết kia truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bắt thi hành hình phạt.

    Điều 62. Điều kiện dẫn độ

    1. Chỉ dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự những người đã có hành vi mà theo pháp luật của cả hai nước ký kết, có thể bị phạt từ trên một năm.

    2. Chỉ dẫn độ để bắt thi hành hình phạt những người phạm tội mà theo pháp luật của cả hai nước ký kết bị phạt tù trên một năm.

    Điều 63. Từ chối dẫn độ

    1. Sẽ không dẫn độ trong những trường hợp sau đây:

    a) Đối tượng dẫn độ là công dân của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ.

    b) Tội phạm đã xảy ra trên lãnh thổ nước ký kết được yêu cầu dẫn độ.

    c) Theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ không thể tiến hành tố tụng hoặc bắt chấp hành án vì lý do thời hiệu hoặc vì những lý do khác quy định trong pháp luật.

    d) Theo pháp luật của một trong hai nước ký kết không thể chấp nhận việc dẫn độ.

    e) Đối với đối tượng dẫn độ, về cùng hành vi phạm tội, đã có một bản án có hiệu lực pháp luật hoặc một quyết định miễn tố của nước ký kết yêu cầu dẫn độ.

    2. Nếu từ chối dẫn độ, nước ký kết được yêu cầu sẽ thông báo cho nước ký kết yêu cầu biết và nêu rõ lý do.

    Điều 64. Yêu cầu dẫn độ

    1. Công văn yêu cầu dẫn độ để tiến hành tố tụng hình sự phải kèm theo lệnh bắt, bản mô tả hành vi phạm tội, bản nêu lên những chứng cứ dẫn đến nhận định là có hành vi phạm tội cũng như điều văn của pháp luật áp dụng đối với hành vi phạm tội và điều văn của pháp luật về thời hiệu. Nếu hành vi phạm tội đã gây thiệt hại thì nêu mức độ và số lượng thiệt hại.

    2. Công văn yêu cầu dẫn độ để thi hành hình phạt phải kèm theo bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật cũng như điều văn của pháp luật áp dụng. Nếu người bị kết án đã thi hành một phần hình phạt thì nói rõ thời gian này.

    3. Công văn yêu cầu dẫn độ, trong phạm vi có thể sẽ được kèm theo bản tả nhận dạng đối tượng dẫn độ, tài liệu về hoàn cảnh người đó, một bức ảnh cũng như những điều cần biết về quốc tịch và nơi cư trú, trừ phi những điều này đã được nói trong lệnh bắt hoặc trong bản án.

    Điều 65. Bổ sung tài liệu về dẫn độ

    Nếu công văn yêu cầu dẫn độ chưa đủ những tài liệu cần thiết, nước ký kết được yêu cầu có thể đòi bổ sung và định một thời hạn hai tháng cho việc bổ sung. Chiểu theo đề nghị của nước ký kết yêu cầu, thời hạn này có thể kéo dài nhưng tối đa không quá hai tháng nữa.

    Điều 66. Bắt giữ để dẫn độ

    Sau khi nhận được công văn yêu cầu dẫn độ, nước ký kết được yêu cầu sẽ tiến hành ngay những biện pháp cần thiết để bắt giữ người bị dẫn độ. Không cần thiết tiến hành những biện pháp này nếu rõ ràng là, theo hiệp định này, không thể dẫn độ.

    Điều 67. Bắt giữ tạm thời

    1. Thể theo yêu cầu của nước ký kết kia, nước ký kết này có thể bắt giữ cả trước khi nhận được công văn yêu cầu dẫn độ, nếu cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết viện dẫn một lệnh bắt hoặc một bản án đã có hiệu lực pháp luật sau này sẽ cùng gửi với công văn yêu cầu dẫn độ, yêu cầu giữ trước có thể chuyển bằng bưu chính, tê-lếch, rađio, điện thoại hoặc phương tiện khác tương tự.

    2. Mặc dù không có yêu cầu theo khoản 1 điều nay, cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết này có thể bắt giữ một người đang có mặt ở nước mình nếu người đó đã phạm ở nước ký kết kia một tội đưa đến dẫn độ theo Hiệp định này.

    3, Việc bắt giữ theo các khoản 1 và 2 điều này phải được thông báo ngay cho nước ký kết kia.

    Điều 68.

    1. Nước ký kết được yêu cầu có thể trả tự do cho người bị bắt giữ nếu không nhận được tài liệu bổ sung theo thời hạn định trong Điều 65 Hiệp định này.

    2. Người bị bắt giữ theo Điều 67 Hiệp định này sẽ được trả tự do nếu nước ký kết đã bắt giữ không nhận được yêu cầu dẫn độ trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nước ký kết kia đã được thông báo về việc bắt giữ tạm thời.

    Điều 69. Hoãn dẫn độ

    Nếu người bị dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải thi hành hình phạt về một tội khác đã phạm ở nước ký kết được yêu cầu, có thể hoàn việc dẫn độ đến khi kết thúc tố tụng hình sự hoặc khi thi hành xong hình phạt.

    Điều 70. Dẫn độ tạm thời

    1. Nếu hoãn dẫn độ sẽ đưa đến thời hiệu hoặc gây trở ngại nghiêm trọng cho việc điều tra vụ án, thì theo yêu cầu có nói rõ lý do của nước ký kết kia, nước ký kết được yêu cầu có thể cho dẫn độ tạm thời để nước ký kết kia tiến hành một số hành vi tố tụng.

    Điều 71. Nhiều nước cùng yêu cầu dẫn độ

    Nếu nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một người thì nước ký kết được yêu cầu sẽ quyết định nên thoả mãn nước nào. Sẽ tính đến quốc tịch của người bị dẫn độ, nơi đã phạm tội và mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

    Điều 72. Giới hạn của việc truy cứu trách nhiệm hình sự

    1. Không có thoả thuận của nước ký kết được yêu cầu thì không được truy tố người bị dẫn độ cũng như không được bắt người đó thi hành hình phạt về những tội đã phạm trước khi bị dẫn độ và không phải là căn cứ để yêu cầu dẫn độ. Cũng không được giao người đó cho nước thứ ba.

    a) Người bị dẫn độ tuy không phải là công dân nước ký kết yêu cầu dẫn độ, và mặc dù có điều kiện người đó đã không rời khỏi nước dù trong thời hạn một tháng kể từ ngày kết thúc tố tụng hình sự hoặc thi hành xong hình phạt.

    Không tính vào thời hạn này, những ngày người bị dẫn độ không thể rời khỏi nước yêu cầu dẫn độ, về những lý do ngoài ý muốn của người đó.

    b) Sau khi rời khỏi nước ký kết yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ, người bị dẫn độ đã tự mình trở lại nước này.

    Điều 73. Thông tin về kết quả tố tụng hình sự

    Các nước ký kết sẽ thông báo cho nhau kết quả tố tụng hình sự đã tiến hành đối với những người bị dẫn độ. Nếu đã tuyên xử một bản án có hiệu lực pháp luật đối với những người đó, thì gửi một bản sao án cho nước ký kết kia.

    Điều 74. Thực hiện việc dẫn độ

    Nước ký kết được yêu cầu sẽ thông báo cho nước ký kết yêu cầu về địa điểm và ngày dẫn độ. Nếu nước ký kết đã yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ấn định để dẫn độ, thì người bị dẫn độ có thể được trả tự do. Theo thoả thuận của nước ký kết, thời hạn này có thể kéo dài nhưng tối da không quá 15 ngày nữa.

    Điều 75. Dẫn độ lại

    Nếu người bị dẫn độ đó tiến hành tố tụng hình sự hoặc để thi hành hình phạt trốn tránh việc tiến hành tố tụng hoặc việc thi hành hình phạt bằng bất cứ cách nào và quay trở lại hoặc có mặt ở nước ký kết đã dẫn độ, người đó sẽ bị dẫn độ lại, thể theo yêu cầu của nước ký kết kia. Yêu cầu dẫn độ lại không phải kèm theo những tài liệu nói ở Điều 64 Hiệp định này.

    Điều 76. Quá cảnh

    1. Thể theo yêu cầu của nước ký kết kia, nước ký kết này sẽ cho chuyển qua lãnh thổ của mình những người mà một nước thứ ba dẫn độ cho nước ký kết kia. Có thể từ chối, không cho quá cảnh nếu thuộc trường hợp không thể dẫn độ theo quy định của Hiệp định này.

    2. Việc xin quá cảnh phải làm và gửi theo đúng cách thức đối với việc xin dẫn độ.

    3. Các cơ quan của nước ký kết cho quá cảnh tiến hành việc quá cảnh theo cách thức thích hợp nhất đối với họ.

    Điều 77. Chi phí cho dẫn độ và quá cảnh

    1. Chi phí về dẫn độ trên lãnh thổ nước ký kết nào do nước ký kết nào do nước ký kết ấy chịu trừ chi phí về vận chuyển thì do nước ký kết yêu cầu dẫn độ chịu.

    2. Chi phí về quá cảnh do nước ký kết yêu cầu cho quá cảnh chịu.

    Điều 78. Chuyển giao đồ vật

    1. Những vật dùng để phạm tội – tội dẫn đến việc dẫn độ theo hiệp định này cũng như những vật do phạm tội mà chiếm được hoặc trị giá của nó, và bất cứ đồ vật gì của kẻ phạm tội mà có thể dùng làm chứng cứ trong tố tụng hình sự, đều sẽ phải chuyển giao cho nước ký kết yêu cầu. Cũng chuyển giao các đồ vật này cả trong trường hợp không thực hiện việc dẫn độ vì lý do người bị dẫn độ chết hoặc vì lý do khác.

    2. Nước ký kết được yêu cầu có thể tạm thời hoãn việc chuyển giao đồ vật nếu cần sử dụng những đồ vật ấy trong một vụ án khác.

    3. Quyền lợi của những người thứ ba đối với các đồ vật chuyển giao không bị phương hại. Sau khi kết thúc tố tụng hình sự, nước ký kết yêu cầu sẽ chuyển lại các đồ vật này cho nước ký kết được yêu cầu để trả cho những người có quyền lợi. Trong trường hợp những người có quyền lợi lại ở nước ký kết yêu cầu thì với sự thoả thuận của nước ký kết được yêu cầu, sẽ trao trả thẳng cho những người đó.

    Điều 79. Thông báo các bản án

    1. Hàng năm, hai nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những bản án hình sự có hiệu lực pháp luật đã tuyên xử đối với công dân của nước ký kết kia.

    2. Khi được yêu cầu, các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết sẽ gửi cho các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia và không lấy tiền, các trích lục lý lịch tư pháp.

    Phần IV

    ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

    Điều 80.

    Việc trao đổi thư phê chuẩn sẽ tiến hành ở Hà Nội

    Điều 81.

    Hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày thứ ba mươi sau ngày trao đổi thư phê chuẩn và có hiệu lực trong 5 (năm) năm.

    Hiệp định này được gia hạn từng năm năm một trừ phi một nước ký kết yêu cầu bãi bỏ bằng văn bản trong thời hạn 6 tháng trước khi kết thúc kỳ hạn năm năm hiện hành.

    Làm tại Praha ngày 12 tháng 10 năm 1982, thành hai bản gốc, một bản bằng tiếng Việt, một bản bằng tiếng Tiệp Khắc, hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

    ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    (Đã ký)

    Phan Hiền

     

    ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TIỆP KHẮC

    (Đã ký)

    Antonin Kaspar

      

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Sỉ Là Gì? Nhà Bán Sỉ, Bán Buôn, Bán Lẻ Có Gì Khác Nhau?
  • Ram Và Rom, Khác Nhau Ở Đâu?
  • Anh Văn Hay Là Pháp Văn?
  • Sự Gần Giống Như Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Gần Giống Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100