Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà

--- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • Sự Khác Biệt Giữa Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục
  • Biến Toàn Cục Và Biến Cục Bộ Trong C#
  • Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Trong lịch sử của mỗi dân tộc, những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến các nền văn hóa trước hết là trình độ kinh tế, chính trị; sự phát triển xã hội, sự sáng tạo của mỗi con người…Điều kiện tự nhiên tuy không thể quyết định đến nền văn hóa Ai Cập nhưng cũng ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm văn hóa của đất nước này cũng như khu vực Lưỡng Hà cổ đại.

    Lịch sử Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil. Sử gia Hy Lạp cổ đại là Herodote đã từng viết: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nil”. Điều đó nói lên rằng sông Nil có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của người Ai Cập thời cổ đại. Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10, nước sông Nil dâng cao gây nên những trận lụt lớn. Sang tháng 11, nước sông rút đi, để lại một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, rất thích hợp cho việc gieo trồng các loại ngũ cốc. Vì vậy, dân cư sống từ thời viễn cổ ở hai bên bờ sông Nil đã biết nghề nông rất sớm. Dọc hai bờ sông Nil và ven các hồ, đầm mọc rất nhiều một loại cây sậy – cây papyrut. Người Ai Cập thời xưa dùng vỏ cây papyrut để làm giấy viết.

    Giấy được làm từ vỏ cây Papyrut

    Ở những dãy núi phía đông và phía tây dọc thung lũng sông Nil, có rất nhiều loại đá khác nhau: đá vôi, đá huyền vũ, đá hoa cương, đá vân mẫu. Đây là những vật liệu kiến trúc quan trọng nhất của người Ai Cập thời cổ đại.

    Tài nguyên thiên nhiên có quan hệ đến việc ghi chép văn tự của người Ai Cập cổ đại. Văn tự Ai Cập cổ đại được ghi lại trên các cuốn giấy papyrut. Thân cây papyrut được người Ai Cập cổ đại dùng để làm giấy. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy. Chính các cuộn giấy papyrut này được lưu giữ ở các bảo tàng châu Âu(1) đã cho hậu thế biết được những trang sử, những thành tựu y học(2) và các thành tựu văn hóa khác của Ai Cập cổ đại.

    Văn tự Ai Cập cổ đại còn được khắc giữ trên các tường thành, các bia bằng đá. Văn tự cổ Ai Cập về sau đã trở thành “văn tự chết”, vì đã lâu người ta không dùng thứ văn tự này nữa và cũng quên cách đọc. Nhưng việc đọc lại được văn tự cổ đó sẽ rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử Ai Cập cổ đại. Chính là nhờ phát hiện được một tượng đá bằng phún thạch, trên mặt đá có ghi đầy đủ các loại chữ Ai Cập cổ, chữ Arập, chữ Hy Lạp cổ mà Jean Franςois Champollion đã có căn cứ để tìm cách đọc lại được văn tự Ai Cập cổ đại vào năm 1822(3).

    Bức tượng “Scribe accroupi”, viên thư lại ngồi xếp bằng

    Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Ai Cập cổ đại rất nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ kim. Những đền đài, cung điện, kim tự tháp còn bảo tồn đến ngày nay đều chứng minh điều đó. Những công trình văn hóa ấy đều gắn liền với đá – một tài nguyên dồi dào ở Ai Cập. Để xây những kim tự tháp, người ta phải dùng một khối lượng đá rất lớn gồm hàng chục triệu khối đá. Những khối đá ấy được mài nhẵn và ghép vào nhau rất sát. Những tác phẩm điêu khắc cũng thể hiện tài năng lỗi lạc của cư dân Ai Cập. Người ta đã khắc tượng các Pharaoh bằng đá. Bức tượng “người thư lại” ngồi xếp bàn được tạc bằng đá của thời Cổ vương quốc cũng khá nổi tiếng. Vẻ sinh động của các bức tượng cũng phải khiến người đời nay thán phục. Cũng nhờ được chế tác từ đá mà rất nhiều giá trị văn hóa cổ Ai Cập còn lưu lại được cho đến ngày nay. Nhờ vậy mà người Ai Cập có thể nói: Bất cứ cái gì đều sợ thời gian, nhưng bản thân thời gian thì phải sợ kim tự tháp.

    Giữa các kim tự tháp, trên cánh đồng Gize, gần Memfis, có tượng Sphinx dài 57 mét, cao 20 mét. Khi viễn chinh sang Ai Cập, Napoléon đã cho pháo binh bắn đại bác vào tượng đó, hòng mở một lối vào bên trong của tượng. Sau đó mới rõ bức tượng là một khối đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc thời bấy giờ tạc thành đầu người, mình sư tử để tượng trưng cho quyền lực Pharaoh “oai hùng và bất diệt”.

    Đại nhân sư Sphinx của Giza, bức tượng khổng lồ nửa người nửa sư tử nằm bên bờ tây sông Nile, gần Cairo

    Ở Ai Cập cổ đại, sự phát triển khoa học cũng gắn liền với điều kiện tự nhiên, với dòng sông Nil. Đúng như K. Marx đã nói: “Ở Ai Cập, trước hết là do sự cần thiết mới biết được mực nước sông Nil lên xuống nên đã đẻ ra thiên văn học Ai Cập…”. Vì muốn biết thời tiết và mực nước của sông Nil để sắp xếp công việc đồng áng nên người Ai Cập cổ đã sớm chú ý quan sát thiên văn. Các nhà thiên văn Ai Cập đã phát hiện các chòm sao và đã soạn ra bản đồ thiên thể được vẽ trên các cửa đền đài cổ. Còn truyền lại cho chúng ta ngày nay là bản đồ 12 cung hoàng đạo. Người ta đã vẽ chòm sao Bắc cực thành đầu một con bò. Họ cũng biết sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ và các hành tinh khác. Người Ai Cập cũng đã phát minh ra chiếc đồng hồ đo bóng mặt trời để tính thời gian trong một ngày. Họ chia một ngày ra làm 24 giờ rồi chiếu theo vị trí của bóng mặt trời ở trên đồng hồ đó mà đọc giờ, phút.

    Việc gieo trồng có quan hệ mật thiết với việc hiểu biết thời gian lên xuống của mực nước sông Nil. Muốn biết chắc chắn lúc nào nước sông Nil lên cao, người Ai Cập cổ phải quan sát bầu trời và làm lịch. Người Ai Cập nhận thấy đến một ngày nào đó, lúc sáng sớm mà có sao Lang (Sirius) mọc đúng ở đường chân trời thì đúng là lúc nước sông Nil bắt đầu dâng lên. Ở Ai Cập cổ đại, việc cần biết thời gian nào nước sông Nil lên cao, việc quan sát bầu trời để từ đó có tri thức về thiên văn học, việc làm lịch, ba việc đó có quan hệ mật thiết với nhau. Đơn vị “năm” trong lịch cổ Ai Cập là thời gian giữa hai lần lúc sáng sớm có sao Lang xuất hiện ở đường chân trời.

    Lịch sử văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với sông Nil nên trong tín ngưỡng người Ai Cập cổ đã sùng bái thủy thần Osiris tức là thần sông Nil. Những lời ca tụng sông Nil đã xuất hiện rất sớm trong đời sống của văn hóa Ai Cập:

    Chào người, ta chào sông Nil

    Từ quả đất này Người xuất hiện

    Người đến để nuôi sống Ai Cập

    Người tạo ra lúa mì, lúa mạch

    Khi Người trào dâng, thì mặt đất hoan hỷ

    Mọi người vui mừng

    Mọi cái lưng rung lên, vì những tiếng cười

    Mọi cái răng cắn lấy thức ăn…(4)

    Bản đồ văn minh Lương Hà ( phần phủ màu xanh)

    Lưỡng Hà hay Mésoptamie (có nghĩa là miền đất giữa hai con sông) là khu vực do hạ lưu hai con sông Tigris và Euphrates tạo thành. Giống như miền thung lũng sông Nil, lưu vực Lưỡng Hà cũng là một khu vực phì nhiêu, rất thích hợp cho nghề nông. Ở Lưỡng Hà rất hiếm đá và các loại khoáng sản nhưng chất đất ở Lưỡng Hà chủ yếu là đất sét dùng để làm gạch và đồ gốm rất tốt. Điều đó đã tạo nên một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa ở Lưỡng Hà.

    Vào giữa thế kỷ XIX các nhà khảo cổ học người Anh đã khai quật được tại Niniv kinh đô của đế quốc Assyrie một thư viện đồ sộ – thư viện của Hoàng đế Assurbanipal. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 22000 bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ. Những bảng gạch bằng đất sét có khắc chữ ấy đã giữ lại cho hậu thế những sự tích thần thoại, những tri thức khoa học và văn học nghệ thuật. Những bảng gạch bằng đất sét ấy bị chôn vùi dưới đất 2500 năm, đã được lửa làm cho rắn và…bền thêm nên đã không bị hủy hoại.

    Văn tự cổ còn lưu lại của nền văn minh Lưỡng Hà

    Các nhà khảo cổ học cho rằng có thể đây là bức thư đầu tiên của nhân loại. Bức thư này hiện đang được lưu giữ tại một viện bảo tàng ở Luân Đôn. Đó là một miếng đất sét nung, đào được ở vùng Caldée, có cả phong bì nặn theo hình cái túi cũng bằng đất sét nung. Theo các nhà khảo cổ thì người viết thư đó sống cách chúng ta khoảng 7000 năm ở vào thời vua Lacdu – vị vua thứ nhất của Vương quốc Babylone. Chữ viết trên bức thư là những nét gạch bằng que nhọn, khó khăn lắm người ta mới đọc được. Bức thư nói về việc bán hay cho thuê một mảnh đất do một người tên là A-ni-ni chuyển nhượng lại cho một người tên là Sim-đi-ha (5).

    Ở Lưỡng Hà vì hiếm đá nên đất sét cũng là vật liệu xây dựng chính. Ở đất nước Iraq ngày nay (thuộc vùng Lưỡng Hà xưa kia) có một địa danh hết sức nổi tiếng trong lịch sử: thành Babylone. Thành Babylone có tên trên bản đồ thế giới cổ đại vào nửa sau của thiên niên kỷ III trước công nguyên. Người Akkad đã đặt những nền móng đầu tiên cho nó vào những năm 2350 – 2150 TCN. Vào thời kỳ hưng thịnh của Babylone, Hoàng đế Nabochodonosor đã xây dựng lại trung tâm Babylone thành một đô thành nguy nga đồ sộ. Thành Babylone có mặt bằng hình chữ nhật. Toàn bộ tường thành có 9 cửa lớn. Ở phía bắc là cửa Ixta nổi tiếng ghép bằng gạch lưu ly màu, đó cũng chính là một sản phẩm độc đáo chỉ có ở vùng Lưỡng Hà. Theo nhà sử học Herodote thì Babylone “được chia làm hai phần bị cắt thẳng ở giữa bởi một con sông lớn, sâu và chảy xiết tên là sông Euphrates”.

    Những điều kiện đất đai, thủy văn, vật liệu xây dựng riêng biệt đã chi phối hoạt động kiến trúc của cư dân Lưỡng Hà cổ đại. Vùng đất này gần sông, nên đất không lấy gì làm chắc chắn, xung quanh là sa mạc, chỉ thỉnh thoảng mới có một vài khóm cọ…là những yếu tố đòi hỏi người thiết kế phải suy nghĩ từ kỹ thuật cho đến nghệ thuật.

    Vườn treo Babylon (cũng được gọi là vươn treo Semiramis)

    Ở Lưỡng Hà cổ đại, vượt lên trên tất cả thành quách, đền đài cung điện…được xây dựng công phu và đẹp đẽ là một công trình hết sức độc đáo: “vườn hoa không trung” hay còn gọi là “vườn treo” – là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Đây là món quà của vua Nabochodonosor tặng cho vợ của ông ta.

    “Vườn hoa không trung” này được xây dựng trên một quả đồi nhỏ. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát được cả thành Babylone.

    Điều đáng chú ý là vật liệu xây dựng thành Babylone cũng như xây dựng ngọn đồi nhân tạo để có một “vườn hoa không trung” chủ yếu là bằng gạch dựa trên cơ sở nguồn đất sét phong phú ở Lưỡng Hà. Vườn treo Babylone ngày nay chỉ để lại dấu vết là ít phần móng của công trình làm bằng đá, một loại vật liệu ít thấy và chỉ có ở cách Babylone hàng trăm km. Chính vì vậy mà các thành tựu kiến trúc của Lưỡng Hà cổ đại khó giữ lại gần nguyên vẹn như là ở Ai Cập cổ đại. Đứng trước Babylone, du khách không có cái “rợn ngợp” triết lý về mặt thời gian mà nhiều hơn là mối cảm hoài “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Cái tráng lệ và huy hoàng của Babylone xưa kia nay chỉ còn in dấu trên những bức tường, có bức được xây bằng gạch gốm tráng men ghép lại thành hình những con thú: sư tử, bò tót và con vật thần thoại – đầu rồng, mình cá, chân phượng hoàng hoặc là những hoa văn. Nhà hát Babylone, con đường “hành lễ” cũng chỉ còn lại những mảnh tường.

    Tại viện bảo tàng lịch sử Iraq hiện nay đang còn lưu giữ rất nhiều những hiện vật được chế tạo bằng đất sét từ thời kỳ cổ đại.

    Văn hóa là do con người sáng tạo ra trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Nhưng văn hóa cũng chịu ảnh hưởng của những điều kiện tự nhiên, khí hậu, tài nguyên, cảnh quan, sông núi…Những điều kiện tự nhiên ấy đã góp phần vào sự hình thành màu sắc và cả bản sắc văn hóa của một khu vực, một dân tộc…Con người sáng tạo văn hóa, dù muốn hay không cũng có mối quan hệ với hoàn cảnh tự nhiên, tìm thấy trong điều kiện tự nhiên những mặt thuận lợi và cả những mặt khó khăn, tìm thấy trong tự nhiên những gì có thể mang lại cho văn hóa những ảnh hưởng độc đáo, những nguồn cảm hứng sáng tạo.

    Chú thích:

    (1)Tại một viện bảo tàng ở Hà Lan có cuộn giấy papyrut ghi chép tác phẩm Lời khuyên răn của I-pu-xe; tại viện bảo tàng Saint Peterburg (Nga) còn lưu giữ cuộn giấy ghi chép tác phẩm Lời tiên đoán của Nê-phéc-ty.

    (2) Nhiều thành tựu y học được ghi lại trên các cuộn giấy papyrut của Ai Cập cổ đại (Chiêm Tế (1970), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 128).

    (3) Đặng Đức An chủ biên (1995), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.

    (4) Trích dịch từ sách Học tập lịch sử cổ đại, trung đại ở lớp 5, 6, E.I Nhi-ca-nô-ra-vôi chủ biên (1964), Mátxcơva. Bản dịch của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế.

    (5) Đắc Lê, “Bức thư đầu tiên”, Báo Quân đội Nhân dân, số 5187.

    Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Sự Khác Nhau Giữa Ai, Machine Learning Và Deep Learning

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Suv Và Crossover
  • Khác Biệt Giữa Dòng Xe Crossover Và Suv
  • Sự Khác Biệt Eau De Parfum Và Eau De Toilette?
  • Sự Khác Nhau Giữa Eau De Parfum Và Eau De Toilette
  • Sự Khác Biệt Giữa Báo Và Tạp Chí
  • AI là tương lai. AI là khoa học viễn tưởng. AI và machine learning đã là một phần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tất cả những tuyên bố đó là đúng, nó chỉ phụ thuộc vào mục đích của AI mà bạn đang đề cập đến.

    Ví dụ, khi chương trình AlphaGo của Google DeepMind đánh bại Master Lee Se-dol của Hàn Quốc trong trò chơi cờ vào đầu năm nay, các thuật ngữ AI, machine learning và deep learning đã được sử dụng trên phương tiện truyền thông để mô tả cách DeepMind giành chiến thắng. Và cả ba đều là một phần lý do khiến AlphaGo đánh bại Lee Se-Dol. Nhưng chúng không phải là những thứ giống nhau.

    AI là một phần trong trí tưởng tượng của chúng ta và mô phỏng trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu kể từ khi một số nhà khoa machine learning tập hợp tại Hội nghị Dartmouth năm 1956 và khai sinh ra lĩnh vực AI. Trong những thập kỷ kể từ đó, AI đã thay phiên được coi là chìa khóa cho tương lai tươi sáng nhất của nền văn minh của chúng ta.

    Trong vài năm qua, AI đã bùng nổ và đặc biệt là từ năm 2022. Phần lớn là do sự sẵn có rộng rãi của GPU giúp xử lý song song nhanh hơn, rẻ hơn và mạnh mẽ hơn. Nó cũng phải thực hiện đồng thời lưu trữ vô hạn thực tế và một luồng dữ liệu của mỗi dải (toàn bộ chuyển động Dữ liệu lớn) – hình ảnh, văn bản, giao dịch, dữ liệu ánh xạ, v.vv..

    Quay trở lại mùa hè năm 56 của hội nghị, giấc mơ của những người tiên phong AI đó là chế tạo những cỗ máy phức tạp – được kích hoạt bởi các máy tính hiện đại – sở hữu những đặc điểm giống nhau của trí thông minh con người. Đây là khái niệm mà chúng tôi nghĩ về như là General AI, một cỗ máy tuyệt vời có tất cả các giác quan của chúng ta (thậm chí nhiều hơn), tất cả phân tích, và suy nghĩ giống như chúng ta. Bạn đã xem những cỗ máy này – C-3PO – và kẻ thù – phim Kẻ hủy diệt. Những cỗ máy AI nói chung vẫn tồn tại trong các bộ phim và tiểu thuyết khoa học viễn tưởng vì lý do chính đáng; chúng ta không thể kéo nó ra, ít nhất là chưa.

    Những gì chúng ta có thể làm rơi vào khái niệm Narrow AI. Các công nghệ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể cũng như, hoặc tốt hơn, con người chúng ta có thể. Ví dụ về AI hẹp là những thứ như phân loại hình ảnh trên một dịch vụ như Pinterest và nhận dạng khuôn mặt trên Facebook.

    Đó là những ví dụ về AI hẹp trong thực tế. Những công nghệ này thể hiện một số khía cạnh của trí tuệ con người. Nhưng bằng cách nào? Trí thông minh đó đến từ đâu? Điều đó đưa chúng ta đến vòng tròn tiếp theo, machine learning.

    Machine learning ở mức cơ bản nhất là thực hành sử dụng các thuật toán để phân tích dữ liệu, học từ nó và sau đó đưa ra quyết định hoặc dự đoán về một cái gì đó trên thế giới. Vì vậy, thay vì các phần mềm mã hóa thủ công thường xuyên với một bộ hướng dẫn cụ thể để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể, máy được đào tạo bằng cách sử dụng một lượng lớn dữ liệu và thuật toán cho phép nó học cách thực hiện nhiệm vụ.

    Machine learning xuất phát trực tiếp từ suy nghĩ của đám đông AI ban đầu, và các phương pháp tiếp cận thuật toán trong nhiều năm bao gồm học cây quyết định, lập trình logic quy nạp. phân cụm, reinforcement learning và mạng Bayes trong số những thứ khác. Như chúng ta đã biết, không ai đạt được mục tiêu cuối cùng của General AI, và thậm chí Narrow AI chủ yếu nằm ngoài tầm với các phương pháp machine learning ban đầu.

    Hóa ra, một trong những lĩnh vực ứng dụng tốt nhất cho machine learning trong nhiều năm là thị giác máy tính , mặc dù nó vẫn đòi hỏi rất nhiều code tay để hoàn thành công việc. Mọi người sẽ đi vào và viết các trình phân loại được mã hóa bằng tay như các bộ lọc phát hiện cạnh để chương trình có thể xác định nơi một đối tượng bắt đầu và dừng lại; phát hiện hình dạng để xác định nếu nó có tám mặt; một bộ phân loại để nhận ra các chữ cái STOP. Từ tất cả các trình phân loại được mã hóa bằng tay, họ sẽ phát triển các thuật toán để hiểu ý nghĩa của hình ảnh và học tìm hiểu để xác định xem đó có phải là dấu hiệu dừng hay không.

    Tốt, nhưng không tuyệt vời. Đặc biệt vào một ngày sương mù khi dấu hiệu không thể nhìn thấy hoàn hảo, hoặc một cái cây che khuất một phần của nó. Có một lý do phát hiện hình ảnh và hình ảnh máy tính gần với đối thủ của con người cho đến gần đây, nó quá dễ vỡ và quá dễ bị lỗi.

    Thời gian, và các thuật toán học tập đúng đã tạo ra sự khác biệt.

    Một cách tiếp cận thuật toán khác từ đám đông machine learning ban đầu, mạng lưới thần kinh nhân tạo, đã đến và chủ yếu đi qua nhiều thập kỷ. Mạng lưới thần kinh được lấy cảm hứng từ sự hiểu biết của chúng ta về sinh học của bộ não con người – tất cả những mối liên kết giữa các tế bào thần kinh. Nhưng, không giống như một bộ não sinh học nơi bất kỳ tế bào thần kinh nào có thể kết nối với bất kỳ tế bào thần kinh nào khác trong một khoảng cách vật lý nhất định, các mạng thần kinh nhân tạo này có các lớp, kết nối và hướng truyền dữ liệu riêng biệt.

    Ví dụ, bạn có thể chụp ảnh, cắt nó thành một bó gạch được nhập vào lớp đầu tiên của mạng lưới thần kinh. Trong lớp tế bào thần kinh riêng lẻ ở lớp đầu tiên, sau đó chuyển dữ liệu sang lớp thứ hai. Lớp tế bào thần kinh thứ hai thực hiện nhiệm vụ của mình, và cứ thế, cho đến khi lớp cuối cùng và đầu ra cuối cùng được tạo ra.

    Mỗi nơ-ron gán một trọng số cho đầu vào của nó – nó đúng hay không chính xác so với nhiệm vụ đang được thực hiện. Đầu ra cuối cùng sau đó được xác định bởi tổng số trọng số đó. Vì vậy, hãy nghĩ về ví dụ dấu hiệu dừng của chúng tôi. Các thuộc tính của hình ảnh biển báo bị cắt xén và các tế bào thần kinh được kiểm tra bởi các tế bào thần kinh – hình dạng bát giác, màu đỏ của động cơ lửa, chữ cái đặc biệt, kích thước biển báo giao thông và chuyển động của nó hoặc thiếu. Nhiệm vụ của mạng lưới thần kinh là kết luận liệu đây có phải là dấu hiệu dừng hay không. Nó xuất hiện với một vectơ xác suất của người Hồi giáo, thực sự là một phỏng đoán có tính giáo dục cao, dựa trên trọng số. Trong ví dụ của chúng tôi, hệ thống có thể tin tưởng 86% hình ảnh là dấu hiệu dừng, 7% tự tin là dấu hiệu giới hạn tốc độ và 5% đó là con diều bị mắc kẹt trong cây, v.v. – và kiến ​​trúc mạng sau đó nói với mạng thần kinh dù đúng hay không.

    Ngay cả ví dụ này đang đi trước chính nó, bởi vì cho đến gần đây, các mạng lưới thần kinh đã bị cộng đồng nghiên cứu AI xa lánh. Chúng đã xuất hiện từ những ngày đầu tiên của AI, và đã sản xuất rất ít theo cách thức của trí thông minh. Vấn đề là ngay cả các mạng thần kinh cơ bản nhất cũng rất chuyên sâu về mặt tính toán, nó không phải là một cách tiếp cận thực tế. Tuy nhiên, một nhóm nghiên cứu nhỏ do Geoffrey Hinton đứng đầu tại Đại học Toronto đã duy trì, cuối cùng đã làm song song các thuật toán cho siêu máy tính chạy và chứng minh khái niệm này, nhưng phải đến khi GPU được triển khai trong nỗ lực thì lời hứa mới được thực hiện .

    Bước đột phá của Ng là lấy các mạng thần kinh này, và về cơ bản làm cho chúng trở nên khổng lồ, tăng các lớp và tế bào thần kinh, sau đó chạy một lượng lớn dữ liệu thông qua hệ thống để huấn luyện nó. Trong trường hợp của Ng, đó là hình ảnh từ 10 triệu video YouTube. Ng đưa sâu vào các bài deep learning, trong đó mô tả tất cả các lớp trong các mạng lưới thần kinh này.

    Ngày nay, nhận dạng hình ảnh bằng máy móc được đào tạo thông qua deep learning trong một số tình huống tốt hơn so với con người và từ mèo đến nhận dạng các chỉ số ung thư trong máu và khối u trong quét MRI. AlphaGo của Google đã học trò chơi và được đào tạo cho trận đấu Go của mình – nó đã điều chỉnh mạng lưới thần kinh của mình – bằng cách chơi với chính nó nhiều lần.

    Nhờ Deep Learning, AI có tương lai tươi sáng hơn

    Deep learning đã cho phép nhiều ứng dụng thực tế của machine learning và bằng cách mở rộng toàn bộ lĩnh vực AI. Deep learning phá vỡ các nhiệm vụ theo cách làm cho tất cả các loại hỗ trợ máy dường như có thể, thậm chí có khả năng. AI là hiện tại và tương lai. Với sự giúp đỡ của Deep learning, AI thậm chí có thể có được trạng thái khoa học viễn tưởng mà chúng ta đã tưởng tượng từ lâu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Machine Learning Và Deep Learning, Ai
  • Sự Khác Nhau Giữa Tuxedo Và Suit
  • Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Tuxedo Và Suit
  • Visa Là Gì ? Passport Là Gì ? Tất Tần Tật Từ A
  • Sự Khác Nhau Giữa Pop3 Và Imap Trong Smtp
  • Sự Khác Nhau Giữa Deep Learning, Machine Learning, Ai

    --- Bài mới hơn ---

  • Xe Suv Và Crossover Có Gì Khác Biệt?
  • Crossover Là Gì? Phân Biệt Crossover Và Suv Đơn Giản
  • Xe Crossover Là Gì? Suv Là Gì? So Sánh Khác Biệt Giữa Crossover Và Suv
  • Sự Khác Biệt Giữa Eau De Parfum, Eau De Toilette Và Eau De Cologne Với Các Loại Thuốc Xịt Cơ Thể Hiện Đại Là Gì? Khi Nào Và Ở Đâu Chúng Ta Nên Sử Dụng Chúng?
  • Sự Khác Biệt Giữa Eau De Toilette Và Eau De Parfum Nồng Độ Nước Hoa
  • Ở những năm trước đây, thuật ngữ “deep learning” đã chính thức là một từ trong ngôn ngữ kinh doanh khi hầu hết mọi cuộc hội thoại đều xoay quanh Trí tuệ nhân tạo (AI), Big Data, và phân tích. Đây là một bước tiến của công nghệ AI hứa hẹn sẽ mang lại sự phát triển về hệ thống tự quản và self-teaching mà qua đó sẽ cách mạng hóa nhiều ngành công nghiệp

    Người ta thường mô tả ML như là một phân nhánh phụ của công nghệ AI nhưng để diễn tả ML theo cách tốt hơn thì đó là công nghệ khoa học tiên tiến hiện đại nhất. Đó là một lĩnh vực về công nghệ AI hứa hẹn nhất đem lại những công cụ, tiện ích mang đến sự thay đổi trong các ngành công nghiệp và xã hội.

    Tiếp đến, deep learning được nhắc đến như là một công nghệ tiên tiến hơn của công nghệ tiên tiến. Trong khi ML là phần cốt lõi của công nghệ AI và tập trung vào giải quyết những vấn đề ở thế giới thực với mạng lưới nơ-ron được thiết kế nhằm bắt chước theo hành động của con người thì deep learning chú trọng vào phạm trù hẹp hơn về tập hợp những công cụ và kỹ thuật ML và ứng dụng nó để dàn xếp những khó khăn đòi hỏi “sự tư duy” của con người hoặc máy móc nhân tạo.

    Nó vận hành ra sao?

    Về cơ bản, deep learning đòi hỏi phải cung cấp vào hệ thống máy tính một lượng lớn dữ liệu dùng để đưa ra quyết định cho những dữ liệu khác. Những dữ liệu này được cung cấp thông qua mạng lưới nơ-ron và tương đồng như ML. Những mạng lưới được cấu tạo logic như thế này sẽ hỏi về một loạt câu hỏi đúng sai hoặc trích ra một giá trị bằng số của mỗi bit dữ liệu đi qua nó và phân loại chúng dựa theo câu trả lời nhận được.

    Hãy thử sử dụng một hệ thống được lập trình ghi tự động và báo cáo về số lượng phương tiện được thiết kế đặc biệt lướt qua đường xem. Đầu tiên, nó sẽ truy cập vào bộ dữ liệu khổng lồ về loại xe bao gồm hình dáng, kích cỡ và thậm chí là âm thanh từ động cơ máy. Điều này có thể được biên soạn thủ công hoặc trong các trường hợp tân tiến hơn và được thu thập tự động theo hệ thống nếu nó được lập trình để tìm kiếm trên internet và nhập dữ liệu nó tìm được.

    Cho đến nay việc thực hiện này tương đối là đơn giản. Qua thời gian hệ thống này cũng có thể tích lũy cho nó nhiều kinh nghiệm hơn và tăng tỷ lệ phân loại chính xác bằng cách tự “cập nhật” những dữ liệu mới mà nó nhận được. Nói cách khác là nó có thể học hỏi từ những sai lầm như con người vậy. Ví dụ nó có thể đưa ra hình ảnh sai về những phương tiện có hình dáng đặc biệt dựa trên kích cỡ tương đồng và tiếng ồn đặc trưng. Sau đó nó sẽ tìm ra được những khác biệt mà nó cho là có tỷ lệ chính xác thấp so với quyết định. Qua việc tìm ra được những khác biệt, nó sẽ nhận ra những điểm không tương đồng giữa hai phương tiện và cải thiện độ chính xác cho lần nhận diện tiếp theo.

    Định hướng xe tự lái bằng cách sử dụng những cảm biến và bộ phân tích tích hợp nhằm nhận diện những vật cản và cách giải quyết dựa vào cách sử dụng deep learning đúng đắn.

    Tự động phân tích và báo cáo. Hệ thống có thể phân tích dữ liệu và báo cáo thông tin chi tiết về âm thanh tự nhiên, ngôn ngữ con người cùng với đồ họa infographics mà ta có thể dễ dàng hiểu được.

    Chơi game. Hệ thống deep learning có thể được lập trình để chơi và thằng được một số loại game như cờ vây và phá đảo trò Breakout của công ty game Atari.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Deep Learning, Machine Learning Và Data Science
  • Bài 5: Sự Khác Nhau Giữa Machine Learning Vs Deep Learning
  • Sự Khác Nhau Giữa Ai (Artificial Intelligence) Machine Learning Và Deep Learning
  • Sự Khác Biệt Của Marketing Quốc Tế Với Marketing Quốc Gia
  • Sự Khác Biệt Giữa Chủ Thể Và Đối Tượng Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Ai (Artificial Intelligence) Machine Learning Và Deep Learning

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 5: Sự Khác Nhau Giữa Machine Learning Vs Deep Learning
  • Sự Khác Nhau Giữa Deep Learning, Machine Learning Và Data Science
  • Sự Khác Nhau Giữa Deep Learning, Machine Learning, Ai
  • Xe Suv Và Crossover Có Gì Khác Biệt?
  • Crossover Là Gì? Phân Biệt Crossover Và Suv Đơn Giản
  • Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) được ví như là công nghệ tương lai. Nó len lỏi vào trong mọi mặt đời sống của con người. Nhận định trên có lẽ đúng nhưng phải tùy thuộc vào lĩnh vực mà AI đang hướng đến.

    Ví dụ, chương trình AlphaGo của Google DeepMind đã đánh bại cao thủ Lee Se-dol đến từ Hàn Quốc về bộ môn cờ vây vào đầu năm nay. Người ta sử dụng thuật ngữ AI, Machine learning (ML) và Deep Learning (DL) để mô tả vì sao mà Alpha Go của DeepMind chiếm ưu thế. Tuy nhiên, ba lĩnh vực đó không hề giống nhau.

    Cách dễ nhất để nói về mối quan hệ giữa ba lĩnh vực này đó là hình dung nó như là một đường tròn đồng tâm. AI là lĩnh vực được phát triển đầu tiên, chiếm diện tích nhiều nhất. Tiếp đến là ML, công nghệ nở rộ sau đó và cuối cùng là sự bùng nổ DL.

    Người ta từ lâu đã hình thành suy nghĩ AI là công nghệ giả tưởng và nung nấu ý định nghiên cứu nó từ các phòng thí nghiệm kể từ khi một nhóm nhà khoa học máy tính tập xung xoay quanh một thuật ngữ tại hội nghị Dartmouth diễn ra năm 1956 và khai sinh ra lĩnh vực AI. Những thập kỷ sau đó, AI đột nhiên được hy vọng sẽ mang lại tương lai tươi sáng cho nhân loại. Cho đến năm 2012, thành thực mà nói, AI cũng đã có những đột phá nhất định.

    AI đã bùng nổ những năm trước đây đặc biệt kể từ năm 2022. Đầu tiên là khả năng vận hành tính toán GPU của nó có thể thực hiện các quy trình song song nhanh hơn, rẻ hơn và hữu hiệu hơn. Tiếp đến là khả năng thực hiện đồng thời việc lưu trữ thực tế vô hạn cũng như xử lý hàng tấn dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau như hình ảnh, văn bản, giao dịch, dữ liệu bản đồ hoặc bất cứ thứ gì bạn đặt tên cho nó.

    Tiếp theo ta sẽ tìm hiểu xem làm thế nào mà các nhà khoa học máy tính nghiên cứu phát triển công nghệ này từ bước khởi đầu cho đến khi nó bùng nổ vào năm 2012 cũng như sự ra đời của nhiều ứng dụng AI mà hàng triệu người hiện nay đang sử dụng.

    Trí tuệ nhân tạo hay Trí tuệ của con người được thể hiện qua máy móc

    Trở lại hội nghĩ Dartmouth năm 1956, khi ấy dự định của các nhà tiên phong về AI là nhằm xây dựng một hệ thống máy móc phức tạp có những đặc tính tương đương với trí tuệ con người. Người ta gọi khái niệm này là “General AI”, một hệ thống máy móc khổng lồ có cảm xúc, có tri giác và lí lẽ như con người. Khái niệm này đã được đưa vào trong nhiều bộ phim như là đồng minh của con người – trong C-3PO hay kẻ thù – trong The Terminator. Hệ thống General AI nãy cũng đã xuất hiện qua nhiều bộ phim hay tiểu thuyết khoa học giả tưởng.

    Còn về khái niệm “Narrow AI” thì sao? “Narrow AI” là công nghệ có khả năng thực hiện các công việc chi tiết thậm chí là tốt hơn cả con người. Các ví dụ Narrow AI điển hình đó là các dịch vụ phân loại hình ảnh như Pinterest hay nhận nhiện gương mặt trên Facebook.

    Các ví dụ kể trên đã thể hiện được nhiều khía cạnh ở trí thông minh con người. Nhưng trí tuệ đó xuất phát từ đâu và bằng cách nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu nó ở mục kế tiếp, Machine Learning.

    Machine Learning, bước tiến chinh phục Artificial Intelligence

    Machine Learning (Máy học hay học máy) là một lĩnh vực sử dụng thuật toán để phân tích cú pháp dữ liệu và “học” nó. Sau đó nó sẽ đưa ra những nhận định cũng như tiên đoán về sự vật trên thế giới. Do vậy khác với các việc lập trình các phần mềm viết tay để thực hiện một công việc cụ thể, các máy này sẽ được “huấn luyện” bằng việc sử dụng một lượng lớn dữ liệu và thuật toán mang lại cho nó có khả năng học được cách thực hiện các công việc.

    Thuật ngữ machine learning đã trực tiếp hiện diện trong suy nghĩ của các nhà nghiên cứu về AI cũng như phương pháp tiếp cận thuật toán qua nhiều năm bao gồm decision tree learning, lập trình logic quy nạp (ILP), tổ hợp, học tăng cường (reinforcement learning) và mạng Bayes. Theo ta được biết, sẽ không ai có thể đạt được mục đích cuối cùng của General AI và thậm chí là Narrow AI cũng sẽ khó mà với tới các phương pháp tiếp cận machine learning.

    Nhưng hóa ra, một trong các lĩnh vực ứng dụng tốt nhất mà machine learning đang thực hiện qua nhiều năm nay đó là computer vision (thị giác máy tính) dù nó đòi hỏi cần phải có việc lập trình bằng tay để hoàn thành công việc, Người ta thường thích viết các chương trình hand-coded classifiers như là edge detection filters mà qua đó chương trình này sẽ biết được đâu là điểm bắt đầu hay kết thúc của một vật thể hay là nhận diện hình dáng cũng như là nhận diện kí tự. Từ các chương trình hand – coded classifiers đó, lập trình viên sẽ phát triển các thuật toán nhằm mang lại các đặc tính cho hình ảnh cũng như để cho các máy này “học” được đâu là điểm bắt đầu cũng như kết thúc của hình ảnh đó.

    Mặc dù rất tốt nhưng machine learning chưa hẳn là hoàn hảo. Đặc biệt là các điểm nhận diện bị sẽ khó có thể nhìn rõ trong các ngày sương mù hay bị cây che khuất. Đây là lý do vì sao mà computer vision và công nghệ nhận diện hình ảnh vẫn chưa đủ khả năng đem ra so sánh với con người cho đến những năm gần đây. Nó rất dễ mắc lỗi trong quá trình nhận diện.

    Tuy nhiên thời gian cũng như các thuật toán đã mang đến sự khác biệt.

    Deep Learning – Kỹ thuật tăng cường Machine Learning

    Nhận diện và bóc tách hình ảnh con Mèo từ video trên Youtube là minh chứng đột phá đầu tiên về deep learning

    Một thuật toán, một khái niệm mới đã ra đời. Artificial Neural Networks (Mạng Nơ-ron Nhân tạo) đã xuất hiện và trải qua nhiều thập kỷ. Mạng nơ-ron lấy cảm hứng từ cấu trúc sinh học bên trong bộ não con người, nơi mà có sự liên kết giữa các nơ-ron với nhau. Nói giống cũng không phải khi ở não người, bất cứ nơ-ron nào cũng có thể liên kết với nơ-ron khác trong cùng một mạng lưới nhưng ở mạng nơ-ron nhân tạo sẽ có các lớp, sự liên kết cũng như hướng truyền dữ liệu riêng lẽ và rời rạc.

    Ví dụ ta chọn đại hình ảnh nào đó, tách nó thành các phần nhỏ hơn rồi sau đó đưa vào lớp đầu tiên trong mạng nơ-ron. Các nơ-ron riêng lẻ ở lớp đầu tiên này sẽ truyền dữ liệu sang lớp thứ hai. Nơ-ron ở lớp thứ hai sẽ thực hiện nhiệm vụ của nó và cứ như vậy cho đến khi lớp cuối cùng xuất ra kết quả mong muốn.

    so sánh giữa mô hình Machine learning truyền thống và Deep learning

    Mỗi nơ-ron sẽ được gán một trọng số vào input của nó. Qua đó sẽ cho biết được mối liên hệ giữa kết quả đúng hoặc không đúng với tác vụ đang được thực hiện như thế nào. Kết quả output cuối cùng sau đó sẽ được xét trên tổng trọng số. Ta sẽ lấy biển báo dừng (stop sign) làm ví dụ. Các thuộc tính trong hình ảnh biển báo sẽ được tách nhỏ ra rồi sau đó sẽ được nơ-ron “kiểm tra”. Biển báo này gồm tám cạnh, màu đỏ tươi, có các ký tự để phân biệt, kích cỡ bảng ký hiệu, chuyển động hay không chuyển động. Nhiệm vụ của mạng nơ-ron này là kết luận xem đây có phải là biển báo dừng hay không. Nó cũng sẽ đi kèm với một “vét tơ xác suất” cùng với những tiên đoán dựa trên trọng số. Hình ảnh do hệ thống xuất ra 86% sẽ là biển báo dừng, 7% là biển báo tốc độ và 5% là hình ảnh con diều mắc trên cây và cứ như thế. Sau cùng, kiến trúc mạng bên trong sẽ cho truyền dữ liệu lên mạng nơ-ron để cho biết kết quả cho ra có đúng hay không.

    Dù kết quả từ ví dụ trên khá ấn tượng nhưng gần đây cộng đồng nghiên cứu về AI vẫn chưa đón nhận mạng nơ-ron. Cộng đồng này đã tập trung nghiên cứu phát triển từ những ngày đầu hình thành AI và cũng đã cho ra một định nghĩa nào đó về “trí thông minh”. Vấn đề ở đây là thậm chí mạng nơ-ron cơ bản nhất đều là các phép tính chuyên sâu chứ không phải là tiếp cận thực tế. Do đó đội ngũ nghiên cứu lập dị do nhà khoa học máy tính Geoffey Hinton tại đại học Toronto dẫn đầu đã bắt tay vào nghiên cứu vấn đề trên và cuối cùng song song hóa các thuật toán vận hành cho siêu máy tính và đã minh chứng cho khái niệm này nhưng vẫn chưa đâu vào đâu cho đến khi người ta nỗ lực triển khai các phép tính GPU và mở ra nhiều hứa hẹn.

    Trở lại ví dụ về biển báo, xác suất kết quả cho ra rất ấn tượng khi mạng nơ-ron được điều chỉnh cũng như là cho nó xem qua nhiều kết quả sai. Cái mà mạng lưới này cần đó là training. Nó cần phải được xem qua hàng nghìn, thậm chí hàng triệu hình ảnh cho đến khi trọng số của nơ-ron input được điều chỉnh chính xác sao cho kết quả cho ra đúng như mong đợi chẳng hạn như phân biệt hình ảnh có sương mù hay không, trời mưa hay nắng. Đây chính là điểm mà mạng nơ-ron sẽ tự “dạy” cho nó xem xem biển báo dừng trông như thế nào, hay gương mặt ai đó trên Facebook trông ra sao hoặc bóc tách hình ảnh con mèo từ Youtube do giáo sư Andrew Ng thực hiện năm 2012 tại Google.

    Đột phá của giáo sư Ng là nhằm xây dựng mạng nơ-ron này to lớn hơn bằng cách tăng thêm nhiều lớp và nơ-ron. Sau đó một lượng dữ liệu khổng lồ sẽ được nạp vào để training hệ thống. Trong trường hợp của Ng là ông đã nạp vào lượng lớn hình ảnh từ 10 triệu video trên Youtube. Ông Ng đã đặt từ “deep” vào “deep learning” để mô tả cho tổng số các lớp trong mạng nơ-ron.

    Ngày nay, việc nhận diện hình ảnh bằng máy móc được training qua deep learning sẽ nhận diện tốt hơn so với con người và mở rộng từ nhận diện con mèo cho đến nhận diện chỉ số ung thư trong máu và khối u qua máy scan MRI. Chương trình AlphaGo của Google sẽ học cách chơi cờ và tự nó sẽ chơi với chính bản thân mình lần này qua lần khác.

    Tương lai tươi sáng của AI nhờ vào Deep learning

    Deep learning đã giúp cho các ứng dụng Machine learning đi vào thực tiễn cũng như mở rộng sự ảnh hưởng của AI trên các lĩnh vực. Deep learning ngày nay đã được ứng dụng trong khâu nhận diện hình ảnh, tích hợp vào xe tự lái, chuẩn đoán y tế và thậm chí là gợi ý các bộ phim hay. Công nghệ AI không chỉ phát triển ở hiện tại mà còn trong tương lai. Với sự hỗ trợ từ deep learning, công nghệ AI mà chúng ta thấy trong các bộ phim viễn tưởng sẽ không còn quá xa vời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Của Marketing Quốc Tế Với Marketing Quốc Gia
  • Sự Khác Biệt Giữa Chủ Thể Và Đối Tượng Là Gì?
  • Tuxedo Và Suit, Đâu Là Điểm Khác Biệt
  • Sự Khác Biệt Giữa Suit Và Tuxedo
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Khuôn Ép Nhựa 3 Tấm Và Khuôn Ép Nhựa 2 Tấm 2022
  • Sự Khác Nhau Giữa Cây Gai Dầu Và Cần Sa (Cập Nhật Năm 2022)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Cần Và Muốn
  • Sự Khác Biệt Giữa Yêu, Muốn Và Cần Một Ai Đó
  • Bạn Đang Làm Một Nghề Hay Đang Xây Dựng Sự Nghiệp?
  • Top 10 Câu Hỏi Người Mới Sử Dụng Cần Sa Cần Giải Đáp
  • Sự Khác Nhau Giữa Startup Và Khởi Nghiệp
  • Sự khác nhau giữa gai dầu và cần sa là gì?

    Trong khi gai dầu và cần sa thường được coi là ám chỉ một “loài” hoặc “giống” của cây Cannabis, nhưng thực ra về mặt kỹ thuật thì không phải vậy.

    Gai dầu và cần sa đơn giản là một cách thức phân loại được cộng đồng ghi nhận, nhưng không phải là cách phân loại nếu xét theo tiêu chỉ của phân loại học đối với cần sa.

    Gai dầu là gì?

    “Gai dầu” là thuật ngữ dùng để phân loại giống Cannabis chứa ít hơn hoặc bằng 0.3% THC (theo cân nặng khô)

    Trong khi khái niệm hợp pháp nêu trên được hợp pháp hóa trong Đạo luật Nông nghiệp năm 2022, “gai dầu” thường được dùng để mô tả giống Cannabis không gây tác động tâm lý được thu hoạch cho ngành công nghiệp sử dụng chiết xuất gai dầu.

    Với bằng chứng được ghi lại về việc sử dụng nó xuyên suốt lịch sử, bao gồm những khám phá về vật liệu làm từ gai dầu suốt 10,000 năm qua, nhiều người tin rằng gai dầu là loại lương thực đầu tiên được canh tác bởi loài người.

    Cần sa là gì?

    “Marijuana” (Một cách gọi tên của cần sa) là thuật ngữ để xếp loại giống Cannabis chứa nhiều hơn 0.3 % THC (theo cân nặng khô) và gây ra tác động tâm lý và hiệu ứng hưng phấn cho người sử dụng.

    Trong khi cách sử dụng của thuật ngữ này khá thông dụng trong văn hóa người Mỹ, nó tượng trưng cho sự hiểu biết nghèo nàn về Cannabis. Những cá nhân và tổ chức nổi tiếng trong ngành công nghiệp Cannabis từ chối sử dụng thuật ngữ này, thậm chí một số trong số họ còn cho rằng nó mang tính “phân biệt chủng tộc”.

    Trong những năm đầu lịch sử của người Mỹ, từ “marijuana” không hề tồn tại và “cannabis” được dùng chính cho việc phân loại loài thực vật này.

    Vào khoảng cuối 1910 đến đầu 1920, gần 1 triệu người Mexico nhập cư vào Mỹ, tìm kiếm nơi ẩn náu khỏi cuộc cách mạng Mexico.

    Trong suốt khoảng thời gian này, phong trào bài trừ người Mexico đã bắt đầu tăng nhanh và khái niệm “marijuana” này được sinh ra với mục đích liên hệ việc người Mexico sử dụng cần sa và tiêu cực hóa nó.

    Không lâu sau đó, những lời đồn vô căn cứ trở nên rầm rộ, cảnh báo người Mỹ về sự nguy hiểm và nguy cơ án mạng gây ra bởi việc sử dụng “cần sa Mexico” hay “hút cỏ”, gây ra sự định tệ hơn cho phong trào bài trừ người Mexico.

    Với định kiến về cần sa tăng cao, chính phủ Mỹ bắt đầu áp đặt luật với cây cần sa ngày càng mạnh mẽ.

    Đến 1927, 11 bang ở Mỹ thông qua luật bài trừ cần sa và tới thập niên 30, tuyên truyền bài trừ cần sa và nỗi sợ “cần sa điên cuồng” được áp dụng hoàn toàn.

    Sau khi thông qua luật liên bang “Đạo luật thuế cần sa năm 1937”, áp đặt nặng nề, vô lý các thuế lên việc tàng trữ, mua bán hay vận chuyển loại cây này, chính quyền liên bang chính thức cấm cần sa, đặt nền móng cho hành trình 80 năm cấm cây cần sa.

    Sự nhầm lẫn giữa gai dầu và cần sa

    Dựa trên thông tin được sử dụng để miêu tả cây gai dầu và cây cần sa, đặc điểm chuyên biệt để xác định chúng dựa trên một yếu tố – hàm lượng THC trong cây, đúng hơn là cái làm cho người dùng phê.

    Trong khi đặc tính gây phê của mỗi loại cây là một yếu tố quan trọng cần xem xét, việc phân loại Cannabis là cây gai dầu hoặc cần sa dựa trên một đặc điểm duy nhất là sự miêu tả sai lệch về Cannabis khiến người dùng không thể hiểu được sự đa dạng của nó.

    Phân loại Cannabis là cây gai dầu hoặc cây cần sa giống như phân loại tất cả các loại trái cây có múi vào 2 loại ngọt hoặc chua, mà không thừa nhận các đặc tính đa dạng của từng loại quả.

    Ngoài ra, cây gai dầu và cần sa thường có thể không thể phân loại riêng với nhau.

    Điều này đã dẫn đến nhiều vấn đề đối với cảnh sát khi bắt giữ và thu giữ cây gai dầu dù nó hợp pháp 100% nhưng lại trông giống hệt cần sa.

    Việc phân loại cây gai dầu hoặc cần sa thiếu sót sự hiểu biết thực sự về Cannabis, thể hiện một vấn đề rõ ràng về phân loại tác dụng.

    Giải pháp hữu hiệu là loại bỏ sự tồn tại của những từ này; tuy nhiên, bây giờ khi những khái niệm này đã ăn sâu vào xã hội của chúng ta, vấn đề này sẽ khó thay đổi.

    Giải pháp thực tế duy nhất hiện nay là giáo dục lại cho cộng đồng qua thời gian.

    Trong trường hợp đó, có lẽ tốt nhất là nên tuyên truyền định nghĩa về cây gai dầu và cây cần sa, cách sử dụng chúng thế nào trong xã hội và hệ thống pháp lý của chúng ta để tránh bất kỳ rắc rối nào khi sử dụng sản phẩm gai dầu hoặc CBD

    Là giống của cùng một loài thực vật, cây gai dầu và cây cần sa có nhiều điểm tương đồng và thậm chí có thể trông giống hệt nhau.

    Với các quy định pháp lý đối lập và các tác dụng, cách sử dụng rất khác nhau, bạn chắc chắn không muốn làm cho hai khái niệm này bị lẫn lộn.

    Để hiểu sự khác biệt của hai loại này, hãy xem xét 4 điểm khác biệt chính giữa cây gai dầu và cây cần sa.

    Cây gai dầu vs Cây cần sa: Thành phần

    Đặc điểm xác định giữa cây gai dầu và cây cần sa là thành phần hóa học có trong mỗi loại cây.

    Cả gai dầu và cần sa đều có thể cho ra một lượng lớn CBD, hợp chất không gây phê; tuy nhiên, THC lại được sản xuất ở các mức độ khác nhau.

    Trong khi gai dầu chứa không quá 0,3% THC theo khối lượng khô, cần sa có thể chứa tới 30% hàm lượng THC.

    Do sự khác biệt giữa mức độ THC của chúng, gai dầu và cần sa được quy định rất khác nhau theo luật.

    Mặc dù gai dầu trước đây được quy định là một chất cấm theo Đạo luật kiểm soát chất vào năm 1970, nhưng nó đã bị loại bỏ như một chất cấm theo Đạo luật cải tiến Nông nghiệp 2022, được liên bang hợp pháp hóa các sản phẩm từ cây gai dầu và sản phẩm từ gai dầu có chứa không quá 0,3% THC.

    Cần sa, mặc khác vẫn được coi như một hợp chất cần hạn chế và là chất cấm liên bang theo Đạo luật kiểm soát Chất.

    Cây gai dầu vs Cây cần sa: Canh tác

    Gai dầu và cần sa được thu hoạch cho các mục đích khác nhau, do đó, nghiễm nhiên, chúng đòi hỏi các điều kiện trồng khác nhau.

    Các giống cần sa được lai tạo chọn lọc trong môi trường có kiểm soát, được thiết kế để tối ưu các đặc tính của giống và tạo ra các cây cái có thể cho hoa.

    Để trồng cần sa hoặc cây cannabis khác đúng cách, người trồng phải chăm sóc kỹ lưỡng theo từng giai đoạn vòng đời cây và duy trì các điều kiện môi trường chính xác cho nó, như nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm thích hợp.

    Ngược lại, cây gai dầu có thể trồng đến tối đa kích thước và năng suất ở ngoài trời và không đòi hỏi mức độ kiểm soát và chăm sóc kỹ như với cây cần sa.

    Cây gai dầu vs Cây cần sa: Cách sử dụng

    Cây gai dầu và cây cần sa mỗi loại cho ra các liều lượng đặc biệt vì thành phần riêng của nó.

    Là chất tác động tâm sinh lý mạnh mẽ, THC có thể liên kết trực tiếp với các thụ thể CB1 và CB2 trong Hệ thống Endocannabinoid, gây ra các hiệu ứng thay đổi tâm lý, hưng phấn được gọi là “phê”.

    Trong khi cần sa thường được công nhận cho mục đích giải trí, các nghiên cứu đã tiết lộ tiềm năng của nó trong rất nhiều ứng dụng trị liệu.

    Trong khi đó, gai dầu được thu hoạch để sản xuất các sản phẩm với ứng dụng rộng, trong đó có thể kể đến:

    • Sản phẩm công nghiệp như giấy, vải vóc, vật liệu xây dựng và nhựa.
    • Thực phẩm như dầu ăn, bột gai dầu và sản phẩm từ hạt gai dầu.
    • Sản phẩm y tế như dầu CBD và kem bôi ngoài da CBD.

    Sự khác biệt giữa Tinh dầu CBD chiết xuất từ cây gai dầu và Tinh dầu CBD chiết xuất từ cây cần sa

    CBD có thể chiết xuất được cả từ cây gai dầu hoặc cây cần sa, tuy nhiên, do đặc điểm riêng của từng loại cây, người ta sẽ cho rằng CBD lấy từ mỗi cây sẽ khác nhau theo một cách nào đó.

    Đáng ngạc nhiên, chúng không hề.

    Vậy nếu CBD giống hệt nhau ở cấp độ phân tử, CBD nên hợp pháp cho dù nó có nguồn gốc từ gai dầu hay cần sa, miễn là nó có hàm lượng THC dưới 0,3%? Không hẳn…

    Mỹ là nơi luật pháp có thể gây ra một chút bối rối.

    Theo Đạo luật Nông nghiệp năm 2022, thường được gọi là Luật nhà nông, gai dầu và chiết xuất gai dầu đã được hợp pháp hóa.

    Luật nông trại năm 2022 hợp pháp hóa CBD nhưng nó bắt buộc phải được chiết xuất từ gai dầu và có nồng độ THC dưới 0.3%

    Dịch giả: Sunny Nguyen

    Nguồn: Hemp vs Marijuana: The Difference Explained (2019 Update)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Căn Hộ Khách Sạn Và Căn Hộ Chung Cư Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Căn Hộ Và Chung Cư
  • Sự Khác Nhau Giữa Căn Hộ Dịch Vụ, Nhà Ở Và Căn Hộ Chung Cư
  • Can Và Could Khác Nhau Ở Điểm Nào? Cách Dùng Ra Sao?
  • Sự Khác Nhau Giữa Web Service, Wcf, Wcf Rest, Web Api
  • Sự Khác Biệt Giữa Sài Gòn Và Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Một “rùa Hồ Gươm” Khác Đang Ở Tiền Giang ?
  • Sự Khác Biệt Và Tầm Quan Trọng Của Sổ Hồng Và Sổ Đỏ
  • Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Và Định Nghĩa Sổ Hồng Là Gì, Sổ Đỏ Là Gì
  • Big4Bank: Khác Nhau Sổ Đỏ Và Sổ Hồng
  • Sự Khác Nhau Giữa Sổ Hồng Và Sổ Đỏ
  • Ở Hà Nội, bạn hãy đứng giữa ngã tư tấp nập người qua để nói chuyện điện thoại –

    cho cả thế giới biết bạn là ai

    Ở Hà Nội: Đèn đỏ không được rẽ phải

    Ở Sài gòn: Đèn đỏ có nơi còn được quẹo trái

    Lơ đễnh đụng phải xe dừng đèn đỏ đằng trước

    Hà Nội: Fẹc đoẹ mịa @%$^&*

    Sài Gòn: Nạn nhân chỉ quay lại xem thủ phạm là ai rồi… chờ đèn xanh tiếp

    Sài Gòn: Ít Cafe + ít sữa + đá + đá + đá + … + đá = 1 ly phê sữa đá,

    xong cafe có 1 ấm trà to tướng… chan vào cafe uống ??? hết lại có thêm (kô cần xin)

    Hà Nội: Cafe + sữa + 2 cục đá = cốc nâu đá, xin mỏi miệng đuợc cốc nước lọc

    HN: Yêu vẫn phải giữ

    SG: Yêu là hết mình luôn

    Karaoke

    Hà Nội: Chọn bài, hát vui là chính, hát sai tông cũng kệ

    Sài Gòn: Chọn số, hát hay là chính vì thế hát rất tình cảm.

    Nhỡ mà sai tông sẽ quê lắm đấy ạ

    Siêu thị

    Hà Nội: Đắt đỏ, hàng hóa kô thiết thực

    Sài Gòn: Thuận tiện, giá rẻ như chợ. Là nơi thư giãn mỗi cuối tuần cả gia đình

    Nhà sách Hà Nội : Nhân viên hách dịch

    Sài Gòn : Vào đọc chùa thoải mái,

    nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi

    SG: chả ram, chả giò

    HN: nem rán

    HN có bún chả

    SG có cơm tấm

    Người Hà Nội gọi người yêu là anh yêu, em yêu

    Người Sài Gòn gọi người yêu là ông xã, bà xã

    Sài Gòn : Website mấy trường đại học tự làm ra

    Hà Nội : Tự lấy mấy website của người ta về làm

    Sài Gòn: Ra đường đầu tóc chỉnh tề

    Hà Nội: Đội nón tai bèo tà rề rề dạo phố

    Người Hà-nội: nói dài dòng nhưng khó hiểu!

    Người Sài-gòn: nói ngắn gọn nhung dễ hiểu!

    Người SG nói: dễ hiểu

    Người HN nói: suy nghĩ trước khi hiểu

    Hà-nội: Vào quán, ngôi lâu (hơn 30ph) là bị đuổi!

    Sài-gòn: Vào quán, muốn ngồi bao lâu thì tùy!

    Giục người bán hàng gói nhanh lên

    SG: Vâng em làm ngay đây

    HN: Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh biến sang hàng khác!

    Ở HN: nếu bạn gọi cái tẩy thì nó sẽ là cái tẩy

    Ở SG: nếu bạn gọi cái tẩy, họ sẽ mang đến cho bạn một ly nước đá

    HN : bắt nạt

    SG : ăn hiếp

    HN : mất điện, mất nước

    SG : Cúp điện, cúp nước

    Con gái SG : da rám nắng, nói năng dễ thương

    con gái HN : da trắng , lạnh lùng khó bắt chuyện

    Hà nội: chị ơi cho em cái túi nylon

    Sài gòn: chị ơi cho em cái bịch xốp

    Hà nội gọi quả dứa là quả dứa

    Sài gòn gọi quả dứa là trái thơm

    Sinh viên và cave

    Sài gòn: nhiều em sinh viên trông như cave

    Hà nội: nhiều em cave trông như sinh viên

    Có những dòng sông, chúng giống nhau đến lạ

    Sông kim ngưu ở hà nội

    Kênh nhiêu lộc ở Sài gòn

    Sài Gòn gọi là xí muội

    Hà Nội gọi là ô mai

    Hà Nội: Mời cơm … ứ dám ăn

    Sài Gòn: Mời cơm là … phải ăn

    Hà nội : Đổi tên công viên Lê Nin thành công viên Thống Nhất

    HCM : Đổi tên dinh Độc Lập thành hội trường Thống Nhất

    Hà Nội : Đường Giải Phóng chạy ra QL 1.

    HCM: Đường Hà Nội chạy ra QL 1.

    Hà nội: Gội đầu thư giãn

    Sài Gòn: Hớt tóc thanh nữ và hớt tóc máy lạnh

    Thực ra vào trong đó thì như nhau

    Hà Nội: nỡm ạ

    Sài Gòn: quỷ sứ, đồ quỷ

    Hà Nội: đèo em nhá

    Sài Gòn: chở em

    Sài Gòn: hun

    Hà Nội: hôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suzuki Satria F150 2022 Nhập Khẩu Chính Hãng Có Giá 52 Triệu Đồng
  • Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Rượu Vang Trắng Và Rượu Vang Đỏ
  • Sự Khác Biệt Thật Sự Của Vang Trắng Và Vang Đỏ
  • Theo Bạn Giữa Ly Vang Trắng Và Ly Vang Đỏ Có Sự Khác Biệt Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Rượu Vang Đỏ Và Vang Trắng
  • Văn Minh Phương Tây: Vùng Lưỡng Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Ac Và Eu: Khác Nhau Nhưng Cần Nhau
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Một nền văn minh vĩ đại đã hình thành ở Trung Đông từ các khu định cư ở vùng Crescent Màu Mỡ. Nơi an tọa của vị thánh siêu quần, chủ nghĩa siêu thực linh thiêng và chủ nghĩa thực dụng tàn nhẫn. Nơi chúng ta có thể tìm thấy cội nguồn luật pháp, buôn bán, tiền bạc và máu đổ tràn lan. “Vùng đồng bằng Lưỡng Hà” trong loạt phim Văn minh Phương Tây.

      Văn minh Lưỡng Hà được hình thành nhờ những nguy hiểm mà họ phải trãi qua. (thiên tai, chiến tranh) (Những cơn mưa xối xả và Con đường chiến trận thuận lợi)

    Khu vườn Địa đàng nhiều thảm họa thiên nhiên, những cơn mưa xối xả, vườn Địa đàng ở phía Đông của Eden: Nào thử bạn có nhận ra đoạn văn này không: ” Và Chúa đã tạo ra 1 khu vườn ở phía Đông của Eden, và ngài đặt ở đó con người ngài đã tạo nên, từ đất mà Chúa đã tạo ra con người. Người còn tạo ra các loài cây trông thì đẹp, ăn thì ngon,.. Và có 1 dòng sông chảy từ Eden tưới cho khu vườn và từ đó nó chia thành 4 nhánh. Nhánh thứ nhất là Pison, nhánh thứ 2 là Gikhon, nhánh thứ 3 là Hiddeken, nhánh này chảy vòng qua Assyria, ở đó chúng ta goi là Tigris, và nhánh thứ tư là Euphrates”. trong Sáng Thế ký. Nó mô phỏng lại hình ảnh của khu vườn giữa ốc đảo của dòng sông thứ 3 và 4 của Chúa. Khu vườn đầu tiên con người sống với các loài động vật ở giữa thiên nhiên hào phóng, và chưa mang lại 1 rắc rối nào. Đó là 1 phần của thiên đường. Và Vườn Địa đàng là 1 tên gọi khác của khu vườn. Và Vườn Địa đàng này chính là đồng bằng Lương Hà cổ đại. Vùng đất giữa những con sông. Nhưng vùng đb Lưỡng Hà và những vùng đất bao xung quanh nó, từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư, từ cao nguyên Iran đến Địa Trung Hải là 1 thiên đường bị bao trùm bởi các thảm họa thiên nhiên như khu vườn địa đàng là thiên đàng dưới bóng đen của sự sụp đổ. Vùng đất phải chịu những cơn mưa xối xả.

    Người Ai Cập đã nói về “dòng sông Nile của bầu trời”. Nó có những cơn cuồng phong và những trận bão cát khủng khiếp, những trận lũ điên cuồng như chúng ta biết về những dòng lũ lớn mà người Do Thái lấy ra từ sử thi Babylon. Dù khi thiên nhiên không còn làm cuộc sống khổ sở và khó lường trước nữa. Nhưng thung lũng sông Nile không bao giờ là lối đi thuận tiện cho những kẻ xâm lược. Một mặt hướng ra biển. Một mặt hướng ra vùng hoang vu ngổn ngang. Vì vậy Ai Cập có thể phát triển nền văn minh của mình, mà không phải chịu cảnh chiến tranh liên miên. Nhưng 2 con sông Tigris và Euphrates là những con đường tự nhiên tuyệt vời, không chỉ để buôn bán mà còn phục vụ cho quân đội di chuyển và sự di cư của loài người. Vì vậy những người ở Lưỡng Hà vừa là binh lính vừa là thương nhân. Chủ nghĩa hiện thực, sự hung ác, nhẫn tâm của họ, một phần là do hoàn cảnh địa lý của họ. Đó cũng là 1 trong những lý do khiến những vị thần của họ trở nên khủng khiếp, không thể dự đoán và có những cách hiển linh rất dễ sợ.

    Do thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh làm các phát minh vĩ đại ra đời: bánh xe, chữ viết trừu tượng, Toán học,…. Sợ thiên nhiên nên cần xây đền thờ.

    Việc xây dựng đền thờ cần nhu cầu có chữ viết để lưu việc thiết kế, thu, chi

    Nhiều thứ lớn lao bao quanh chúng ta ngày nay bắt nguồn từ 1 vùng đất nhỏ, không lớn hơn Đan Mạch, nằm trên châu thổ sông Tigris – Euphrates mà chúng ta biết với cái tên Sumer. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cộng với những cuộc chiến tranh triền miên của họ – đặc biệt là những cuộc chiến tranh do chính họ châm ngòi, đã mở đầu 1 loạt đột phá công nghệ và thúc đẩy chuyển biến về văn hóa, xã hội, kinh tế. Chính tại Sumer, qua hệ thống tưới tiêu và thoát nước, những ngôi làng đầu tiên từ lều tranh và gạch sống đã trở thành thành phố từ thiên niên kỷ IV TCN. Những con người sáng tạo ra nền VM Lưỡng Hà này được gọi là người Sumerian.

    Chính ở vùng đất này, chúng ta cho rằng bánh xe đầu tiên đã ra đời, phát triển từ bánh xe của thợ gốm, chúng đã thay thế các chiếc xe trượt tuyết, được vận chuyển để chở những hàng hóa nặng. Khoảng 2000 TCN, nan hoa được phát minh, làm những chiếc bánh xe nhẹ hơn nhiều. Và sau đó trục xe được phát minh. Và vì vậy những người ở Cận Đông là những người đầu tiên đi săn và đánh trận bằng xe ngựa. Công cụ này mang lại cho họ lợi thế rất lớn. Cho đến khi lịch sử bắt đầu, tức là khi những văn bản (chữ viết) đầu tiên xuất hiện, khoảng 3000 TCN, chúng ta tìm thấy ở Sumer không chỉ những thành phố mà cả những đền thờ rộng lớn và cấu trúc xã hội phức tạp được lãnh đạo bởi các thầy tu. Mối liên kết xã hội được tạo ra không chỉ bởi dòng sông và nguồn nước của nó như ở Ai Cập mà còn bởi ngôi đền. Ngôi đền điều khiển, thống trị cả cộng đồng, và các vùng quê. Quanh đền thờ 1 thành phố mọc lên.

    So sánh chữ viết của người Lưỡng Hà và Ai Cập, chữ viết LH trừu tượng hơn: Và chữ viết khi đã được người Lưỡng Hà phát triển, phản ảnh 1 trong những sự khác biệt chính giữa họ và người Ai Cập. Năng lực của họ về mức độ của sự trừu tượng hóa. Hãy nhớ rằng chữ tượng hình của người Ai Cập là 1 hình ảnh, là 1 bức tranh. Người Ai Cập là người tư duy cụ thể, nên kể cả khi họ đã sử dụng những ký hiệu để diễn tả 1 âm thanh hay 1 âm tiết, thì họ luôn muốn sử dụng hình vẽ. Kể cả khi ký hiệu Alphabe cũng không chỉ đơn thuần là những chữ cái trừu tượng, mà là những bức tranh nhỏ theo cách của chúng. Nhưng sau đó những người kế tục Sumerian, người Semite, tiến thêm 1 bước. Những người Semite đến từ sa mạc Ả Rập, họ đến châu thổ Lưỡng Hà vào thiên niên kỷ thứ III. Ngay sau đó họ tiếp thu được nền văn hóa Sumerian, họ đã kết hợp các dạng chữ cái Alphabe với những đường nét hình ảnh thành 1 hệ thống duy nhất với những ký hiệu trừu tượng thay thế những bức tranh cụ thể. Nhiều bức tượng Sumerian có xu hướng trừu tượng hóa.

    Người L Hà cũng rất giỏi Toán học, lĩnh vực mà người Ai cập tỏ ra cụ thể và chặt chẽ hơn nhiều. Đây là 1 phiến đất sét viết về 1 bài toán của những học viên L Hà.

    Tôn giáo siêu thực linh thiêng khác với tôn giáo Ai Cập bắt chước thần thánh: Trong tôn giáo cũng có những điểm khác biệt. Xã hội Ai Cập 1 mực bắt chước thần thánh. Nhưng trên thực tế, Ai Cập chính họ đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, 1 bản sao của thế giới thực, nhưng rộng lớn hơn và tốt đẹp hơn nhiều. Đây cũng là điều chúng ta tìm thấy ở Hy Lạp cổ đại. Mặt khác, người Simites đã sáng tạo ra 1 thế giới thần thánh, nó xa lạ với chính nó và tách biệt với tính thần thánh của nó. Họ đã cố ý sử dụng 1 dạng chủ nghĩa siêu thực linh thiêng để thoát ly khỏi chủ nghĩa hiện thực. Nhấn mạnh vào những khía cạnh siêu phàm của thần thánh, những đôi mắt to lớn biết thôi miên và những đặc điểm siêu nhiên của họ. Bạn có thể nói khi mà người Ai cập bắt được sự khác nhau giữa con người và thần thánh bằng cách mở rộng quy mô của mọi thứ, bằng cách xây dựng những ngôi mộ, bức tượng và hình ảnh lớn hơn, thì người Simites lại quan tâm đến chất lượng, sự bí mật, những ảo mộng và bản chất. Những ngôi đền của cư dân Lưỡng Hà và đời sống tôn giáo không chỉ phản ánh rõ ràng khuynh hướng trừu tượng này mà còn giúp tạo nên và tổ chức sự trừu tượng đó.

    Đó là do cuộc sống và xã hội người Lưỡng Hà tập trung phục vụ những ngôi đền, thần thánh và các thầy tu, ít nhất là vào giai đoạn đầu.

    – Hoạt động buôn bán, khuếch tán văn hóa: Thời gian. Nhưng những ngôi đền và những người phục vụ đền đài không tồn tại trong sự biệt lập. Thứ nhất, thành phố Sumerian cần nhiều hàng hóa nhập khẩu: gỗ, đá để xây dựng; kim loại để làm ra dụng cụ và vũ khí và sau đến là lễ vật dâng thần linh. Những viên đá quý giá từ Afganistan và Ấn Độ. Những viên ngọc trai từ vịnh Ba Tư. Và do đó họ buôn bán, buôn bán rộng rãi và nhộn nhịp. Một tầng lớp thương gia hỗn tạp và độc lập dần dần hình thành. Những đoàn dân buôn có vũ khí và các con tàu buôn thời bấy giờ là những tác nhân mạnh mẽ khuếch tán văn hóa của họ.

    Những thợ thủ công tự do có thể đi cùng những đoàn buôn tìm kiếm thị trường cho sản phẩm của họ. Nô lệ cũng là 1 phần trong hoạt động thương mại, bởi vì kẻ thù bại trận còn sống thì hữu ích hơn đã sống. Và những nô lệ này, cùng đi với đoàn buôn trên ngựa, hoặc trên tàu, sẽ phải được sắp xếp chổ ở khi tới các thành phố. Những người nước ngoài sẽ đòi hỏi, được đáp ứng về nhu cầu tôn giáo, giống như ngày nay có 1 nhà thờ Mỹ ở giữa Paris. Như thế những nghệ thuật và nghề thủ công đắc dụng được phát tán dễ dàng. Ví dụ cây rìu có chuôi của người Lưỡng Hà, là 1 sự phát triển lớn lao của cây rìu cổ xưa, được quấn quanh bởi những sợi thừng nhỏ. Những cây rìu của họ đã chu du tới Biển Đen và thành Troy. Những cái bánh xe quay tít của người thợ gốm, đã làm ra những cái lọ như thế này và được mang về phía Đông tới Ấn Độ, mang về phía Tây tới Hy Lạp, Ai Cập.

    Và Ai Cập đã tiếp thu những kỹ thuật làm chai lọ của người Lưỡng Hà 1000 năm sau khi chúng được phát minh ra. Khoảng 2500 TCN, Ai Cập mới tiếp thu làm chai lọ.

    – Nhưng quan trọng nhất có lẽ là những người thợ kim Lưỡng Hà và Anatonia (phía Bắc Lưỡng Hà) đã tìm cách sử dụng lò nung, để nung chảy các loại quặng: đồng đỏ vào khoảng thiên niên kỷ thứ tư, đồng vào thiên niên kỷ thứ 3 và sắt vào thiên niên kỷ thứ 2. Điều này đã làm ra các vạt dụng mới đẹp đẽ nhưng cùng làm ra các công cụ chiến tranh, giống như chiếc mũ sắt này. Kim loại cứng hơn tạo ra vũ khí mạnh hơn, dẫn đến áp đảo đối phương trong chiến tranh, và cũng áp đảo trong buôn bán vì bất cứ những gì bạn làm ra tốt hơn đối thủ của bạn, và bạn có thể bán chúng.

    – Buôn bán cũng làm cho dòng máu Sumerian pha trộn nhiều hơn, bởi vì những nhà buôn di chuyển, những nghệ nhân thợ thủ công di chuyển và nô lệ cũng đi từ nơi này tới nơi khác, vì vậy dòng máu nguyên thủy, mà tất cả người Sumerian bấy giờ thừa kế, từ 1 tổ tiên chung, ngày càng bị pha trộn mất. Kết quả là việc trông giữ ngôi đền trong thành phố lỏng lẻo dần. Và thánh nam thánh nữ trị vì thông qua các thầy tu cao nhất bị thay thế bằng 1 người thống trị thế tục hoặc 1 ông vua giống như thế này.

    – Quyền lực thế tục: Họ trị vì đất nước dưới danh nghĩa thần thánh. Bạn có thể nghĩ như thế cũng chẳng khác gì nhau, nhưng nó là bước đầu tiên tới sự quyền lực thế tục. Không thiêng liêng, ko cúng lễ, quyền lực giờ trong tay 1 người phàm trần. Mặc dù những ông vua thế tục này chỉ được coi như đại diện của thần thánh, được ủy thác để thực hiện ý chí của họ. Khi họ chiến đấu có thần chỉ huy, quân đội của họ và chính thần đánh trận chứ không phải họ. Điều đó có nghĩa là chiến thắng trong 1 trận chiến, xác định phận sự thiêng liêng của nhà vua. Và khi họ xây dựng luật pháp, họ chỉ đơn giản là diễn giải và áp dụng những nguyên tắc mà thần thánh đã nói cho họ, ngài muốn con người làm theo. Trong khi đó ở Ai Cập, công lý là 1 khía cạnh của trật tự thiêng liêng, trong đó pharaoh là 1 phần không thể tách rời. Ở đồng bằng L Hà cũng như Israel, công lý là biểu hiện các mệnh lệnh của thần thánh, ý chí của thần thánh, được viết ra bởi những người mà thần thánh tin tưởng. Ví dụ như cách mà Chúa tin tưởng Moses. Và vì vậy đấng thần linh tạo ra luật pháp, và những người truyền đạt luật pháp không còn là 1, và với sự tách biệt này, luật pháp có cuộc sống riêng của nó. Ví dụ 1 bộ luật thành văn là 1 giao kèo giữa 2 bên. Dân chúng phải tuân lệnh nhà vua, phải tuân theo luật của vua. Nhưng vua cũng phải tuân theo qui định dành riêng cho vua trong chính bộ luật đó. Và như thế, không ai đứng trên luật pháp, ít nhất trên lý thuyết là như vậy. Và mặc dù từ thời đó cho đến nay, lý thuyết thường bị phớt lờ. Đó vẫn là nguyên tắc cơ bản, có sức mạnh lớn lao, trường tồn. Bởi vì nó được tôn trọng thậm chí trong xung đột. Và vì vậy việc xây dựng và viết bộ luật thành văn bản sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và tư tưởng chính trị của cả xã hội qua các thời đại.

    – Chiến tranh tranh giành đất đai giữa các thành phố, hình thành đế chế: Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các vị vua của cư dân L Hà, chủ yếu là người điều hành quân đội và cương vị đó, chắc hẳn làm họ rất bận rộn. Bởi vì chiến tranh đóng 1 phần lớn trong cuộc sống của xã hội cổ xưa. Mặc dù những người nông dân này sản xuất thừa thải, nhưng chủ yếu nông sản tập trung vào tay 1 nhóm nhỏ trong xã hội. Điều này đã giới hạn khả năng mở rộng dân số nông thôn. Vì vậy nông dân nghèo phải tìm 1 vùng đất mới để sống. Thành phố Sumerian (chú trọng) việc khai hoang ở vùng sa mạc lẫn đầm lầy. Nhưng sau đó cũng như ngày nay, phần lớn những dụng cụ tiết kiệm lao động hiệu quả nhất bị ăn cắp. Vì vậy, có những cuộc chiến không ngừng giữa các thành phố, cố chiếm hoặc đoạt lại đất từ bên kia. Cuối cùng, chủ nghĩa đế quốc đúng nghĩa sẽ phát triển từ những cuộc chiến tranh như thế. Một số thành phố hoặc vùng đất sẽ mở rộng xa hơn, triệt tiêu các đối thủ xung quanh nó, và thiết lập sự thống trị của nó và sự thống trị của thần thánh mà nó đại diện lên những thành phố khác. Qua nhiều thế kỷ, bắt đầu khoảng 2400 TCN, có hàng loạt các đế chế, đầu tiên là các thành phố của người Ur hay Lagash và các thành phố ở phía Bắc như Akkad của người Semite (Sargon). Vị trí chính xác của Akkad vẫn chưa được xác định. Cuối cùng là Babylon, thủ đô của 1 dân tộc Semites, người Amorites. Babylon là 1 thành phố thương mại lớn nhất vùng. Có 1 lượng ngôn ngữ và phương ngữ khổng lồ được nói rất nhiều trên đường phố và các khu chợ. Nơi đã khơi dậy, truyền cảm hứng cho huyền thoại về tháp Baben. Mặc dù những ngôi đền bậc thang hay kim tự tháp bậc thang đầu tiên được tạo nên bởi người Sumerian.

    Bộ luật đầu tiên Hammurabi: Khoảng 1800 TCN, vua Babylon Hammurabi (1810 – trị vì 1792 – 1750 BC), đứng bên trái, đã công bố cho toàn dân 1 bộ luật viết tay, công và tư. Bộ luật Hammurabi đã được khắc ở đây, trên 1 bia tưởng niệm, đã trở thành nền tảng của luật thương mại quốc tế, làm xương sống cho các hợp đồng, lợi tức, các dạng thế chấp và tất cả các loại giao dịch thương mại. Nó cũng bao gồm cả mảng hình sự và khá nghiêm khắc trong lĩnh vực đó: “Luật thứ 8” nếu 1 người ăn trộm bò, cừu, lừa, lợn hay lạc đà của đền thờ hay cung điện sẽ bị phạt gấp 3 lần. Nếu lấy trộm của người bình thường, hắn sẽ bị phạt gấp 10 lần. Nếu tên trộm không thể trả tiền, hắn sẽ bị khép tội chết. Luật thứ 110: nếu 1 nữ tu sĩ, 1 người phụng sự cho thần thánh, mà không sống trong nhà tu kín, mở cửa 1 quán rượu hoặc đi vào quán rượu và uống rượu sẽ bị thiêu sống. Luật 196: nếu 1 người làm 1 quý ông mù mắt, hắn sẽ bị móc mắt. Vì vậy nền văn minh L Hà là nơi đầu tiên khai sinh ra những thứ mà ngày nay chúng ta cho là dĩ nhiên. Bao gồm cả luật nợ máu phải trả bằng máu. Cả bộ luật và các văn tự đã được chuẩn hóa dùng để lưu giữ bộ luật, đều đến từ hoạt động buôn bán.

    Cân đo đong đếm – Tiền: Bởi vì họ phải viết ra những thỏa thuận, và phải làm cho những thỏa thuận này thực sự có hiệu lực. Và cũng chính người đã phát minh ra việc cân đong đếm, rất cần thiết cho việc buôn bán và cực kỳ hữu ích để thống kê thu chi của đền thờ,và việc xây dựng các công trình công cộng. Và trong lúc ấy kiểu quan hệ có trật tự của cư dân thành thị, đã đòi hỏi cách chia thời gian chính xác hơn người nông thôn. Vì vậy người Sumerian đã chia ngày và đêm thành 2 giai đoạn 12 giờ, tức là 24 giờ như chúng ta có ngày nay. Họ đã chế tạo ra nhiều dụng cụ để đo những khoảng thời gian này. Họ và người Babylon cũng chia năm ra thành tuần, mỗi tuần có 7 ngày. Ý tưởng này sau đó được người Do Thái học tập và tiếp tục phát triển, bằng cách đưa ra 1 ngày nghỉ cuối tuần.

    Và cuối cùng những người Sumerian và những người bà con đầu nguồn của họ đã phát minh ra đơn vị đo mà ta gọi là tiền. Cho đến lúc đó thì sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ đã đóng 1 vai trò thực sự quan trọng trong nền kinh tế mới và 1 chuẩn mực chung là rất cần thiết để tất cả các loại hàng hóa đều được đo lường, đều được định giá. Cuối cùng thì 1 con bò đáng giá bao nhiêu? Hay 1 cái bình? Hoặc 1 tên nô lệ? và những chuẩn giá trị mang tính quy ước này sẽ được sử dụng như 1 vật ngang giá trong trao đổi, mà bạn có thể dùng để mua các vật dụng, và định giá công lao động – tức là trả lương.

    Vì vậy chuẩn đầu tiên được sử dụng có lẽ là lúa mạch, 1 thứ thiết yếu của cuộc sống. Trên thực tế, trả lương và trả tiền thuê nhà đất là hình thức chuyển đổi phổ biến nhất, dùng lúa mạch trong suốt 2000 năm, thậm chí cho đến khi Hammurabi ra đời, khoảng từ 1800 đến 1700 TCN. Nhưng sau đó là kim loại, cụ thể là bạc và đồng (cho những giao dịch nhỏ) đã được thừa nhận là vật ngang giá thuận tiện nhất. Thế kỷ thứ VIII TCN, vua Assyri đã bắt đầu đóng dấu trên những thanh bạc. Vào TK thứ VII TCN, các vị vua Lydian bắt đầu làm đồng xu như thế này. Nhưng ban đầu giá trị của bạc hay đồng trong trao đổi không phải là giá trị quy ước mà là lượng kim loại trong nó. Như vậy bạn phải cân, 1 chút bất tiện.

    Dù vậy, sự chấp nhận vật ngang giá bằng kim loại mang tính quy ước đã đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ nền kinh tế tự nhiên trong đó các vật dụng được đổi chác trực tiếp sang nền kinh tế tiền bạc, trong đó mọi thứ đều có thể được định giá, bằng rất nhiều đồng bạc hoặc nhiều bó lúa mạch. Và kết quả của việc này là bạn có thể đánh giá tài sản của ai đó không phải ở thực phẩm, ở nô lệ hay các vật dụng khác (chính chúng cũng có thể bị tiêu thụ, sử dụng hay thưởng thức) mà bằng 1 vật ngang giá trừu tượng chung thứ không thể được tiêu thụ mà chỉ có thể được trao đổi để lấy bất kỳ vật dụng hay dịch vụ hữu ích nào. Vì vậy người sản xuất có thể sản xuất chỉ để bán ra thị trường chứ không phải cho chính họ hoặc lao động cho 1 người có nhu cầu gì đó và sẵn sàng trả công cho anh ta. Bạn có thể sản xuất cho thị trường, bạn có thể tự định giá cho thị trường. Và bạn cũng có thể thể đổi nó đi, và dùng nó để lấy những gì bạn muốn ở 1 thời điểm khác. Thêm nữa vật ngang giá mới có thuộc tính như lúa mì, lúa mạch và gia súc: nó có thể tái tạo, nó có thể sinh sôi. Giống như ngũ cốc, giống như thú nuôi. Tiền có thể xem như nguồn vốn và có thể được sử dụng để đảm bảo nguồn thu tức là lợi nhuận và nếu bạn cho vay bạn sẽ được lãi. Vì vậy cho đến thời Hammurabi, khoảng 3800 năm trước, xã hội rất cần 1 hệ thống pháp luật, và bộ luật Hammurabi ra đời. Chúng ta sẽ xem xét nó trong chương trình tiếp theo….

    Ở các đế quốc Assyria, Persia và Neo-Babylon, kim loại đã làm một cuộc cách mạng không chỉ trong sản xuất dụng cụ mà còn trong cả xã hội.

    Vai trò to lớn của kim loại, nhất là sắt trong phát triển văn minh nhân loại

    Từ các cuộc chiến tranh đẫm máu của các đế chế cổ đại Assyria, Babylon, Ba Tư,…(1945 BC – 328 BC) hình thành nên nền văn minh. Khi 1 đế chế lật đổ 1 đế chế khác, thương mại và văn hóa phát triển, người man di bị chế ngự, những thành phố mới mọc quanh Địa Trung Hải. Nhờ vai trò của sắt.

    Chiến tranh tìm kiếm nguyên liệu, đã tạo sự thịnh vượng vùng Trung Đông: Vấn đề TIỀN: Ở vùng Lưỡng Hà, những nhà buôn ngày càng giàu có, ngân quỹ các ngôi đền ngày càng tăng. Họ còn cho vay tiền lấy lãi. Hoạt động như những Ngân hàng. Và thật sự, sự thịnh vượng này chỉ dành cho 1 phần nhỏ dân số. Thật kỳ quặc, 1 trong những nhân tố gây nên sự thịnh vượng và phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của kinh tế TNK 3, đó là những cuộc chiến tranh cướp bóc tàn bạo. Mà nhờ đó các hoàng đế của Akkad (2334 BC), sau đó là Babylon (1894 BC), Nineveh ghi danh vào lịch sử. Chính chiến tranh, chứ không phải hòa bình, đã dẫn tới bước nhảy vọt nhất của xã hội. Một phần mục đích của các cuộc chiến đấu này là kim cương và quặng kim loại mà họ không thể hoặc không muốn bỏ tiền ra mua của những bộ lạc thổ dân hay của ngoại quốc.

    Người Ai Cập thường hay tiến hành các cuộc viễn chinh để lấy quặng đồng trong sa mạc Sinai. Tương tự như thế người Sumer, và đặc biệt hơn là những vị vua Semitic ở Akkad và Babylon đã phái những đoàn thám hiểm tới phía Bắc và Tây để lấy những nguyên liệu thô họ cần: kim loại, đá, gỗ. Những cuộc chiến tranh cướp bóc của các vị hoàng đế như Sargon, Assyria khoảng 1850 TCN cũng gây thương vong khủng khiếp. Assyria, bắc Lưỡng Hà, các vị vua ngập chìm trong kiêu căng và máu. Những thành phố bị chiếm, cướp và thiêu cháy. Những tù nhân bị lột da sống hoặc đóng cọc xuyên qua người. Đầu, bàn tay và chân bị cắt ra nhiều vô kể.

    Chiến lợi phẩm quá dồi dào, chuyển thành hàng hóa làm phát triển kinh tế tiền tệ, phát triển giới thương nhân trung lưu: Nhưng bên cạnh sự cướp bóc, giết người và trấn áp là danh sách dài những chiến lợi phẩm vàng bạc, kim loại, nông sản, gia súc và nô lệ. Vua Arsurbanipal, Assyria, vào TK 7 BC đã khoe khoang như sau: con người, lừa, lạc đà, cừu ta mang về Assyria như hàng hóa. Khi Arsurbanipal phân phát lạc đà và cừu cho nhân dân, nhiều tới nỗi làm giá sụt xuống, cho tới khi chúng có 1 sự cân bằng trên thị trường. Những người chủ quán rượu được lạc đà. Những người nô lệ cũng có lạc đà. Sự phân phối những chiến lợi phẩm tràn lan (những thứ đáng lẽ cất trong kho nếu 1 đất nước không bị xâm lược) đã làm lan tỏa sức mua ra cả Lưỡng Hà. Điều đó khuyến khích cung và cầu đồng thời tù nhân bổ sung nguồn nô lệ và nhân công có tay nghề. Những nhà buôn ký giao kèo để được tùy ý sử dụng những của cướp được và đồ cống nạp sẽ kiếm nhiều lợi lộc. Và những người làm công cho họ cũng có lợi. Chúng ta gọi đó là giai cấp trung lưu, nằm giữa nhóm chính phủ và các thầy tu và bên kia là số đông người nghèo khổ. Nền kinh tế tiền tệ lan rộng cho đến khi cả đất đai không còn là riêng của Thượng đế hay vua, nó cũng có thể được mua bán giống như những vật phẩm khác.

    Công nghệ mới vũ khí đồng – kinh tế kim loại bền vững – thị trường thành thị: Chiến tranh giúp truyền bá cái ta gọi là có thể gọi là “văn hóa”. Ví dụ sự thành công của quân đội Akkadian là do họ có vũ khí và áo giáp bằng đồng. Muốn chống lại người Akkadian bắt buột phải có quân trang tương tự. Phải tìm thợ rèn và cung cấp nguyên liệu thô. Phải tổ chức thương mại. Những đế quốc như vậy ở Lưỡng Hà, có kẻ đi chinh phục và đồng hóa và có kẻ phản kháng lại. Và như vậy, sự phản kháng cũng làm nảy sinh các hình thái kinh tế thời đồng thau phụ thuộc vào thương mại. Cũng giống với kinh tế của kẻ xâm lược, người phản kháng có thể tạo ra. Trên thực tế, trong suốt lịch sử, tác nhân phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và kinh tế không phải cái cày mà chính là cổ chiến xa.

    Thực tế vào đầu Đồng thau, khoảng 2400 TCN, cũng là thực tế ở thời kỳ hỗn loạn, nhiều thế kỷ sau đó, khi các triều đại man di kế tiếp nhau ở Babylon và tài sản, cuộc sống của tất cả mọi người đều bị đe dọa trước những cuộc tấn công liên miên thời đó.

    Điều gì đã xảy ra trong những sự kiện đó? Là sự cướp bóc ở những làng quê. Sự sụp đổ của các khối bất động sản lớn. Điều đó nhấn mạnh 1 chân lý: nền kinh tế kim loại bền vững và cơ động có giá trị hơn nhiều so với kinh tế nông nghiệp thiết thực nhưng dễ phá hủy. Bảo vệ 1 túi bạc dễ hơn 1 cánh đồng lúa mạch. Trong suốt giai đoạn này, nền kinh tế tự nhiên đã sụp đỗ trong hỗn loạn hết lần này tới lần khác nhưng khuyến khích phát triển kinh tế tiền tệ. Kinh tế tiền tệ phát triển hay ít nhất sự trao đổi đã phát triển, thì việc sản xuất phục vụ thị trường trở nên thông dụng. Những thương nhân thấy họ có thể dùng thuyền nhập khẩu 1 số mặt hàng và họ kiếm được nhiều tiền hơn là làm đại lý mua 1 vài sản phẩm theo đặt hàng của Vua hay 1 đền thờ nào đó. Trên thị trường có nhiều người mua hơn. Ở Lưỡng Hà cũng như Ai Cập, cuối thiên niên kỷ thứ 2 đã chứng kiến sự lớn mạnh của 1 nhóm công chức trí thức được chính quyền chọn lựa, từ những thư lại nhỏ đến thẩm phán, làm nhiệm vụ thu thuế và tiền phạt và thống kê lại. Họ được trả công bằng tiền, họ không có đất đai riêng, không tự sản xuất ra nhu yếu phẩm. Cũng như những binh lính không sản xuất gì cả chỉ chinh chiến mang về các tù nhân và hàng hóa. Họ họp lại thành những người mua hàng ở thị trường. Có sự tăng số lượng giáo sỹ, thầy tu chuyên nghiệp đồng thời là nhà cầm quyền có thế lực, những công dân mộ đạo sẵn sàng cúng tiền cho đền thờ và nhà nguyện. Những thầy tu cũng là người mua hàng. Và như thế, thợ thủ công và nông dân có 1 thị trường ngày càng lớn (như những vại gốm). Như vậy bên cạnh việc đâm chém, bắt đầu chia sẻ lợi ích từ 1 nền văn minh chung.

    Sắt làm cuộc cách mạng – Mở rộng chiến tranh: Kim loại vươn tới làng quê, nông dân Ai Cập bắt đầu sử dụng công cụ kim loại. Vào khoảng 1700 hoặc 1600 TCN, đồ sắt hiếm đến nỗi nó đắt gấp 2 lần vàng. Sau 1200 TCN, họ biết hòa tan Các bon vào làm sắt cứng hơn, đồ sắt ngày càng rẻ hơn, cho phép tạo ra những cụ sắc nhọn dùng để cắt lông cừu, thiến súc vật hay con người. Sắt có sẵn và rẻ hơn đồng thau, nó dân chủ hóa (xã hội hóa?) nền công và nông nghiệp. Cho mãi đến khoảng 800 – 900 TCN kim loại rẻ mới hoàn chỉnh quá trình mà các đế quốc kinh tế đã bắt đầu từ 1000 năm trước đó. Người nông dân cuối cùng đã có thể mua rìu và lưỡi cày kim loại. Thợ thủ công bình thường có riêng bộ đồ nghề và không phụ thuộc vào Nhà thờ và ông chủ. Những người bình thường cũng có những vũ khí bằng sắt và trở thành hiệp sĩ thời đồ đồng. Kim loại đã dân chủ hóa (phát triển, mở rộng) chiến tranh. Những người nghèo và thổ dân lạc hậu bây giờ có thể thách thức quân đội của những đất nước văn minh, những người trước đó độc quyền binh khí đồng. Vai trò của sắt hay quá. Vậy 1 lần nữa, ảnh hưởng giữa chiến tranh và công nghệ trở nên rõ ràng. Thời đại đồng thau sụp đổ khoảng cuối TNK 2 và chúng ta thấy nổi lên những đế chế quân đội hùng mạnh có thể thực hiện ước mơ của các cường quốc Lưỡng Hà trước đó bằng cách gộp tất cả đất đai và nông sản mà nền kinh tế tự nhiên nghèo nàn của họ có thể cần tới. Tiếp theo là hàng thế kỷ của chết chóc và hổn độn.

    Nhưng lịch sử đã tiến thêm 1 bước. Khoảng giữa 1000 và 500 TCN, khu vực thuần túy thành thị đã mở rộng ra, lớn rất nhiều so với lúc nó mới xuất hiện vào TK 15 của thời đại đồng thau. Sự mở rộng chủ yếu nhờ những đế chế hùng hậu của Assyria và Tân Babylon và Ba tư. Mỗi đế chế đã hợp nhất những lãnh thổ vô cùng rộng lớn, mặc dù phải đánh đổi bằng rất nhiều tài nguyên và tính mạng.

    – Phát triển ngôn ngữ: Nhưng sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự giao thương chưa từng có, trên 1 vùng rộng lớn hơn trước rất nhiều. Khi quân đội, nô lệ, nghệ nhân và thương nhân di chuyển khắp khu vực rộng lớn này họ đã phát triển Alingua Franca, một thứ ngôn ngữ chung để giao tiếp. Nó là 1 ngôn ngữ Syrian từ vùng xung quanh Damascus và nó được gọi là Aramaic. Có chữ viết 22 ký tự, tất cả là phụ âm, giống như mọi ngôn ngữ Semitic khác. Sau đó nó được tiếp nhận bởi người Chadeal, chủ nhân Babylon, sau đó thành ngôn ngữ chính thức của đế quốc Ba Tư. Vào khoảng TK 6 TCN, trong quá trình nó đã thay thế tiếng Hebrew, trong 1 vài văn bản kinh Cựu ước. Và nó có lẽ chính là ngôn ngữ mà Chúa và các tông đồ của Người đã nói.

    – TK 5 BC, Hệ thống đường đưa thư, cống phẩm hình thành – Sự di dân – Phát triển các thành phố đa sắc tộc – Quân đội cũng cần nguồn từ các dân tộc thiện chiến – Phát triển văn minh hội tụ: Nhiều thế kỷ sau dó, người Assyria và nhiều hơn nữa, người Ba Tư, còn xây dựng những con đường đưa thư để thu thập cống phẩm hiệu quả hơn và những con đường này in vết chân của cả quân đội, viên chức, người đưa thư và các nhà buôn. Đến TK thứ 5 TCN, ngay cả những người bần cùng nhất, giống như Herodotus, nhà kí sự chuyên nghiệp đầu tiên, cũng đủ tiền để đi đến miền Viễn Đông châu Á. Người Assyria và người thừa kế của họ, Tân Babylon đã cưỡng chế di cư, những cộng đồng dông đúc từ đầu này sang đầu kia của đế chế. Họ đuổi dân chúng đi khỏi quê hương của họ để bớt nguy hiểm hơn. Hành động này mang lại 1 kết quả không được dự đoán trước: các thành phố lớn trở nên rất đa dạng về sắc tộc và văn hóa.

    Trong số các dân tộc nạn nhân của Assyria có Do Thái. Người Do Thái có lẽ tới từ Ur, Lưỡng Hà. Nhưng cuối cùng họ đã đến phía Tây, Canaan, sau khi vòng qua Ai Cập. Người Do Thái đã thiết lập 2 vương quốc ở Canan. Judah, kinh đô là Jerusalem. Và Israel. Israel bị phá hủy bởi người Assyria vào năm 722 TCN. Những văn bản Cựu ước Isaiah, được viết ngắn gọn sau đó: “Đất nước của ta chỉ còn là 1 đống đổ nát. Thành phố của ta bị thiêu cháy trong lửa; những kẻ ngoại bang tàn phá đất nước ngay trước mặt ta” “Vương quốc hoang tàn vì bị ngoại bang lật đổ, và đứa con gái của Zion bị bỏ lại, giống như 1 căn lều trong vườn nho, hay 1 túp lều giữa cánh đồng dưa, như 1 thành phố bị vây hãm”. Năm 586 TCN, vương quốc phía Bắc của người Do Thái, lại bị đánh bại, lần này bởi nhà vua Babylon Nebuchadnezzar II. Hàng ngàn tù nhân bị đem tới Babylon, biến thành nô lệ, cùng với các dân tộc khác. Có nhóm đưa vào phục vụ quân đội đế quốc.

    Vào TK 6 và 5 TCN, những hoàng đế Ba Tư đã thuê các cung thủ từ Trung Á và các đoàn chiến xa Ấn Độ để hợp binh cùng quân của Syri và lính đánh thuê Hy Lạp. Những người này đã trao đổi cho nhau mầm mống nền văn minh của họ, giống như đoàn xe hay đoàn thuyền buôn, đang di chuyển ngày 1 nhiều, trên khắp đế chế rộng lớn bao la, tương đối bình yên, tương đối an toàn. Đế chế lớn nhất trong số này, được thành lập vào TK 6 TCN khi Cyrus Đại đế liên kết với Babylon, sau đó ngài đã lãnh đạo 1 cuộc nổi dậy chống lại người Medes, lúc đó là thống trị của Ba Tư. Nhờ những cuộc chinh phạt sau đó, đế chế Ba Tư được mở rộng từ Ấn Độ tới biển Aegean.

    Người Ba Tư là những chiến binh trên lưng ngựa, thống trị 1 đế chế hổn tạp vô cùng. Với tư cách là kẻ chinh phục, Ba Tư và Medes có được đặc quyền là chủng tộc vượt trội. Hoàng đế của họ không phải là Chúa Trời, mà là đại diện cho Người. Những người địa phương đã bị lợi dụng để sai khiến, cách Chúa Trời lựa chọn Ngài cũng đặc biệt. Người lính chủ nhân của con ngựa, một động vật dễ hoảng sợ, đầu tiên cất tiếng hí chào bình minh sẽ trở thành Hoàng đế. Dù Hoàng đế vĩ đại là người thường hay thần thánh thì thần dân vẫn phải dâng cống phẩm, như hình trên thành Persepolis, thủ đô Ba Tư, nay thuộc Iran. Người Medes và Ba Tư chỉ phục vụ trong quân đội, nhưng khi đế chế mở rộng, không đủ người. Các dân tộc bị chinh phục cũng tòng quân. Điều đó họ bắt buột phải chiến đấu bảo vệ nhà nước đã biến họ thành nô lệ. Vì vậy người Ba Tư không thể tin họ hoàn toàn, thực tế đã chứng minh điều đó.

    Trong 1 thế kỷ hay dài hơn, nhà nước tập quyền và quan liêu Ba Tư đã giữ hòa bình, nhiều hay ít, không gì để chê trách. Sự hòa bình đó đã truyền bá văn minh từ Tiểu Á đến Địa Trung Hải.

    Dân man di tiếp thu văn minh tổng hợp làm phát sinh Văn minh La Mã: Tại vùng biển kín lớn nhất thế giới, vài trăm năm trước khi Chúa Giê – su ra đời, thấy những người dân man di vạm vỡ được khai hóa khi cọ sát với người Syri, người Phê ni xi, Assyri, Ai Cập. Chính những người dân man di này sắp tạo ra 1 thời kỳ phục hưng của trí tuệ và nghệ thuật, sự kết hợp giữa sức mạnh và 1 tầm nhìn mới, với những kỹ năng, cái mà họ đã học từ những nền văn hóa cổ xưa Cận Đông.

    Sau TK 9 TCN, người Phê ni xi lập những thành phố mới xung quanh Địa Trung Hải. Sau TK thứ 8, người Hy Lạp thành lập các thành phố của họ ven Bắc Địa Trung Hải và Biển Đen. Nhưng những TP đó không được xây dựng để trở thành thủ phủ hay đồn đóng quân hay trung tâm thu thuế cho chính quyền trung ương như những thành phố châu Á, Mà là, là nơi định cư ở nước ngoài, để nông dân ra ngoại quốc ở. Vì miền duyên hải chật hẹp của Phê ni xi hay những thung lũng nhỏ bé của Hy Lạp không đủ chổ cho họ. Cái mà những kẻ thực dân này muốn là đất mới để trồng trọt, khu nuôi cá mới, căn cứ mới để cướp biển và mua bán. Thế là người Phê ni xi chiếm Bắc Phi làm thuộc địa. Và từ Carthage họ tỏa ra chiếm Tây Sicile, Sardinia, bờ biển Tây Ban Nha làm thuộc địa. Trong khi người Hy Lạp tỏa ra xung quanh Biển Đen và miền Đông Sicile.

    Sau đó, chính người Etruscan (750 – 550 BC), 1 tộc nhỏ ở bán đảo Ý có thể thu nhận nền văn minh nhờ việc làm lính đánh thuê trong quân đội các đế quốc phía Đông và đã đặt được ách thống trị lên những người nông dân Ấn Âu xung quanh Florence. Người Etruscan áp đặt loại hình văn minh của họ lên những thổ dân bản địa và thành lập những thành phố nhỏ, những trung tâm của 1 nền kinh tế thành thị. Nhưng 1 số dân tộc bị họ thảo phạt quá tàn nhẫn có thể đánh bật họ ra khỏi đất nước và quay lại dùng văn minh như 1 vũ khí chống lại họ. Đáng chú ý nhất là 1 bộ tộc mông muội ở Trung Italya gọi là người La Mã.

    – Chữ viết: Dù sao đi nữa, 1 thứ những kẻ thực dân Phê ni xi và Hy Lạp đem tới đây là dạng chữ viết đơn giản, 22 ký tự phụ âm. Chữ viết này đã phát triển ở 1 số thành phố người Canaanite hay Phê ni xi và trở thành tổ tiên của chữ viết ngày nay. Cùng với bảng chữ cái để đơn giản hóa những công việc, việc đọc và viết đã trở nên đơn giản không kém ngày nay. Biết đọc, biết viết không còn độc quyền huyền bí của tầng lớp thầy tu và thơ lại cao quý. Những nhà quản lý, kỹ sư, thầy thuốc, thương lái, thậm chí 1 vài binh sĩ cũng biết đọc, biết viết. Vào TK 7 TCN, hầu hết lính đánh thuê cả Hy Lạp và Phê ni xi đều có thể viết nguệch ngoạc lên mũ sắt của họ. Những người Hy Lạp sau đó lấy chữ Phê ni xi thay đổi 1 số ký tự để phù hợp phụ âm Semite đặc trưng, sáng tạo thêm 1 vài ký tự để dùng tiếng Hy Lạp diễn đạt những nguyên âm mà người Semite bỏ đi, nhưng người Ấn Âu cần. Rõ ràng người Etruscan, sau đó người Rome đã học cách viết chữ từ thực dân Hy Lạp. Tất nhiên, những người biết đọc không nhiều, nhưng sự xuất hiện của họ có nghĩa có thêm tiêu chí mới củng cố thêm sự khác biệt sẵn có giữa người giàu và người nghèo, cao quý hay thấp hèn. Từ đó về sau, việc biết đọc biết viết mãi mãi tạo ra 1 khoảng cách giữa tầng lớp có học và vô học.

    – Lưu giữ thông tin: Nhưng việc biết đọc, biết viết cũng tạo phương tiện giao tiếp mới trường tồn với xuyên thời gian. Một công cụ giao tiếp không chỉ ổn định hóa mà còn tích lũy và phát triển nền văn hóa bằng những quyền lợi chung. Bởi kiến thức trước kia bị khóa chặt bởi chủ quyền, nếu có truyền miệng thì dễ bị sai lệch. Giờ đây có thể được ghi chép và bảo tồn, được tiếp thu bởi những thế hệ sau, được chuyển giao, được bổ sung, được tổng hợp lại thành kho ký ức và cảm hứng hoặc chỉ đơn giản là thông tin. Đây là nơi thế giới bắt đầu ở Trung Đông và Địa Trung Hải.

    Nếu bạn đang tìm về cội nguồn, có thể nói rằng nền văn minh Phương Tây là 1 nền văn minh châu Á, VM phương Tây có nguồn gốc trong 1 lớp bụi dày của lịch sử trãi từ Biển Đen đến vịnh Ba Tư. Mảnh đất tối tăm và đẩm máu, không bao giờ thôi khuấy đảo trong những vị thần, trong những cuộc chiến tranh, trong sự hiếu thắng của chúng ta và cả óc sáng tạo, táo bạo và chủ nghĩa bành trường của mình. Và còn 1 chân lý lớn hơn nữa, lịch sử Địa Trung Hải là 1 lịch sử nhiều biến động, xung quanh nó những nền văn minh cổ xưa đã biến đổi và từ đó tưới mát cả nền văn minh Phương Tây.

    Nguồn : 52 tập phim Văn Minh Phương Tây

    GS Eugen Weber, Giảng viên môn Lịch sử, U.C.L.A., Los Angeles

    --- Bài cũ hơn ---

  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • So Sánh Văn Hóa Hàn Quốc Và Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam
  • So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Việt Nam Có Gì Khác
  • Sự Khác Nhau Giữa Foreach Và For

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa For…in,and Foreach Trong Javascript
  • Sự Khác Nhau Giữa Big Và Large
  • Bạn Muốn Biết Sự Khác Nhau Và Giống Nhau Giữa Công Chức Và Viên Chức?
  • Duplex Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Căn Hộ Duplex Và Penthouse
  • Thẻ Căn Cước Công Dân Và Cmnd 12 Số Khác Nhau Thế Nào?
  • Có hai loại lập trình viên. Người viết code để làm và người muốn viết code tốt. Ở đây chúng ta nhận được một câu hỏi lớn. Code tốt là gì? Code tốt xuất phát từ thực hành lập trình tốt. Thực hành lập trình tốt là gì? Trên thực tế, mục tiêu của tôi ở đây không phải là để nói về thực hành lập trình tốt (tôi đang lập kế hoạch để viết code sắp tới!), Chứ không phải để nói chuyện nhiều hơn về cách viết một cái gì đó sẽ hiệu quả hơn. Tôi chỉ xem xét sâu hơn trong hai tuyến được sử dụng phổ biến hiện nay, và sự khác biệt của chúng trong các khía cạnh về hiệu suất.

    Phải làm quen với IL và assembly. Một số kiến ​​thức của JIT cũng cần thiết để hiểu điều gì đang xảy ra.

    Tôi sẽ ví dụ một phần nhỏ mã của 2 vòng lặp phổ biến là for và foreach. Chúng ta sẽ xem xét một số mã và sẽ thấy những gì nó làm được, chi tiết hơn về các chức năng.

    Cả hai mã sẽ tạo ra kết quả tương tự. foreach được sử dụng trên đầu trang của collections để thông qua trong khi for có thể được sử dụng trên bất cứ đâu. Tôi sẽ không giải thích gì về các mã. Trước khi đi vào sâu hơn, tôi nghĩ rằng các bạn đã quen thuộc với ILDASM được sử dụng để tạo ra mã IL, và công cụ CorDbg mà thường được sử dụng để tạo ra mã biên dịch JIT.

    Mã IL xuất bởi biên dịch C # được tối ưu hóa đến một số mở rộng, trong khi để lại một số phần đến JIT. Dù sao, điều này không thực sự quan trọng đối với chúng ta. Vì vậy, khi chúng ta nói về việc tối ưu hóa, có hai điều chúng ta phải xem xét. Đầu tiên là biên dịch C # và thứ hai là JIT.

    Vì vậy, thay vì tìm kiếm sâu hơn vào mã IL, chúng ta sẽ thấy thêm về mã được phát ra bởi JIT. Đó là đoạn code sẽ chạy trên máy tính của chúng ta. Bây giờ ta đang sử dụng bộ xử lý AMD Athlon 1900 +. Mã này rất phụ thuộc vào phần cứng của chúng ta. Vì vậy, những gì bạn có thể nhận được từ máy tính của bạn có thể khác với tôi đến một số mở rộng. Dù sao, các thuật toán sẽ không thay đổi nhiều.

    Trong khai báo biến, foreach có năm khai báo biến (ba số nguyên Int32 và hai mảng Int32) trong khi for chỉ có ba (hai số nguyên Int32 và một mảng Int32). Khi nó vào thông qua vòng lặp, foreach sao chép các mảng hiện tại đến một for hoạt động mới. Trong khi for không quan tâm phần đó.

    Ở đây, tôi sẽ chỉ vào sự khác biệt chính xác giữa các mã.

    cmp dword ptr total += myInterger i<myInterger.Length jl FFFFFFF8

    Tôi sẽ giải thích những gì đang xảy ra ở đây. ESI đăng ký giữ giá trị và chiều dài của mảng myInteger được so sánh ở hai đoạn. Đầu tiên được thực hiện chỉ một lần để kiểm tra điều kiện và nếu vòng lặp có thể tiếp tục, giá trị được thêm vào. Đối với các vòng lặp, nó được thực hiện ở đoạn thứ hai. Bên trong vòng lặp, nó được tối ưu hóa tốt và như đã giải thích, công việc được thực hiện tối ưu hóa hoàn hảo.

    cmp esi,dword ptr i<myInterger.Length jb 00000009 mov eax,dword ptr ,eax mov eax,dword ptr ,eax total += i inc esi ++i cmp esi,dword ptr jl FFFFFFE3 cmp esi,dword ptr [ebx+4]

    Nó cũng sử dụng báo cáo di chuyển không cần thiết làm giảm hiệu suất của mã. foreach được nghĩ rằng tất cả mọi thứ như collection và đối xử với chúng như collection. Tôi cảm thấy, sẽ làm giảm hiệu suất công việc.

    Vì vậy, tôi cảm thấy rằng nếu bạn đang có kế hoạch để viết mã hiệu suất cao mà không phải là collection, sử dụng cho FOR. Ngay cả đối với collection, foreach có thể nhìn thuận tiện khi sử dụng, nhưng nó không phải là hiệu quả. Vì vậy, tôi đề nghị tất cả mọi người sử dụng FOR thay vì FOREACH bất kỳ lúc nào.

    Trên thực tế, tôi đã làm một nghiên cứu nhỏ về vấn đề hiệu suất của các mã chủ yếu trên .NET. Tôi thấy rằng thực sự phải biết làm thế nào để JIT hoạt động và gỡ lỗi các mã được tạo ra bởi trình biên dịch JIT. Phải mất một thời gian để hiểu được mã.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mua Đồng Hồ Apple Watch Series 4 Cũ Ở Đâu? Acetop Store Chuyên Bán Đồng Hồ Apple Watch Series 4.
  • Khám Phá Mới Về Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna
  • Do You Know Sự Khác Nhau Giữa Dna Và Rna? ·
  • Tập Gym Và Yoga Cái Nào Tốt Hơn?
  • So Sánh 6 Khác Biệt Giữa Iphone Xs Và Iphone Xr Là Gì
  • Nền Văn Minh Lưỡng Hà (Bbc)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nền Văn Minh Của Nhân Loại (Phần I): Văn Minh Lưỡng Hà
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Bốn thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi Dabitum, người con gái tôi tớ bị phụ bạc gửi gắm tâm tư của mình đến người tình và cũng là ông chủ.

    “Nữ nô Dabitum hèn mọn xin kính cẩn thưa với đại chủ rằng điều thiếp nói trước với chàng nay đã xảy ra. Từ bảy tháng nay, tội nghiệp đứa con nhỏ đã chết mà không ai muốn lo cho thiếp cả. Xin chàng hãy thương hại mà ra tay, nếu không thiếp sẽ chết. Nếu số phận buộc thiếp phải chết thì thiếp cũng cam chịu, nhưng trước khi nhắm mắt, thiếp chỉ mong sao được nhìn thấy mặt chàng lần cuối.”

    Ngày nay, sở dĩ chúng ta vẫn có thể hiểu được tâm trạng của một thiếu nữ đã sống cách đây 4 ngàn năm, vẫn có thể thương cảm cho tình cảnh của nàng – bởi vì nàng đã dùng một phương tiện truyền thông độc đáo – đó là chữ viết có đã trên 5 ngàn năm.

    Chữ viết đầu tiên

    Chữ viết chắc chắn là một bước khởi đầu cho nền văn minh. Khi nàng Dabitum viết ra những hàng chữ tuyệt vọng đó thì văn tự đã hiện hữu trong nền văn hóa Nam Lưỡng Hà hơn một thiên niên kỷ.

    Lưỡng Hà, tiếng Âu châu là Mesopotamia, ngụ ý miền nằm giữa hai con sông. Ðó là sông Tigris và Euphrates nằm trong vùng mà nay là lãnh thổ Iraq. Di sản văn tự của nền văn hoá cổ xưa này được để lại nhiều hơn là những gì của các giai đoạn về sau.

    Người Lưỡng Hà viết bằng cách dùng một cái que để khắc hình hay dấu vào một mảnh đất sét còn dẻo chỉ nhỏ bằng bàn tay. Một khi đã được phơi khô hay nung, những văn tự bằng đất sét này rất bền.

    Theo chuyên gia Irving Finkel ở Viện Bảo Tàng Anh Quốc, những nổ lực ghi chép đầu tiên chưa thực sự có thể gọi là văn tự. “Ban đầu, khái niệm ghi chép rất là đơn giản. Ta có thể gọi đó là giai đoạn ‘ tiền văn tự’ . Người Lưỡng Hà cổ đại thường vẽ hình ảnh sơ sài để tượng trưng những gì mà họ muốn ghi chép.”

    “Chẳng hạn như khi muốn lập một danh sách các chum vại, họ cẩn thận vẽ hình cái chum trên một mảnh đất sét, rồi viết cạnh đó một con số. Mãi sau này mới có người chợt nghĩ ra là hình ảnh không những có thể chỉ vật đó mà còn diễn tả tên vật đó trong tiếng nói.”

    Như vậy, giả dụ tiếng Lưỡng Hà là tiếng Việt, ta có thể vẽ một cái ấm, và dùng cái đó để chỉ ra âm thanh ‘ ấm’ như trong chữ ‘ ấm ớ’ – tức là không có liên hệ gì với ấm nước cả. Người đầu tiên nghĩ ra việc dùng chữ chỉ tiếng gọi của một vật thay vì dùng hình ảnh của chính vật đó để mô tả nó chính là một thiên tài vĩ đại đã đóng góp lớn lao cho nền văn minh.

    Người này chắc hẳn thuộc dân tộc Sumer, vì Sumer nằm trong vùng Lưỡng Hà – nơi văn tự đầu tiên xuất hiện trong một ngôn ngữ gọi là tiếng Sumer. Nay ngôn ngữ học gọi văn tự của người Sumer là cuneiform – tdl là văn tự hình góc, vì chữ cunei của tiếng La tinh có nghĩa là một góc.

    Cũng học giả Irving Finkel cho biết, “Khi người Sumer bắt đầu dùng chữ viết, họ dùng rất nhiều đường cong. Nếu muốn viết chữ heo, họ vẽ một cái hình tiêu biểu là cái mõm, hai vành tai rồi vài sợi lông tua tủa. Nhưng đất sét không phải là một cái nền tốt để vẽ các đường cong.”

    ” Thành ra chẳng bao lâu các đường cong được quy ước hóa thành những đường thẳng mà người ta có thể nhanh chóng khắc hay nhấn vào đất sét bằng một cái que. Và văn tự hình góc phát triển theo lối đó.”

    Thoạt đầu, văn tự này được tạo ra không phải để viết thư hoặc để sáng tác một tác phẩm văn học. Nên biết chữ viết phát sinh từ hệ thống thư lại. Các nha lại – nôm na là thành phần thư ký kế toán – từ thời cổ đại đã muốn dùng ký tự để quản lý kinh tế hữu hiệu hơn – vì nhờ ký tự mà họ có thể kiểm soát các số liệu và lập ra những danh sách.

    Theo học giả Irving Finkel, những chứng tích cổ nhất về chữ viết còn tồn tại đến ngày nay là những bản kiểm kê tồn kho. “Nhưng chẳng bao lâu sau khi chữ viết được phát minh, người ta bắt đầu dùng nó vào các việc khác và ta thấy xuất hiện những văn bản nằm ngoài phạm vi hành chánh – đầu tiên là danh sách từ ngữ được thu lượm để dạy học và chẳng bao lâu sau đó, nền văn chương sơ khai dựa trên chữ viết bắt đầu ló dạng.”

    Đào tạo thư lại

    Trong nền văn minh Sumer, những bản từ vựng được soạn ra cốt để dạy các thiếu niên trở thành thư lại – đó là thành phần duy nhất trong xã hội Sumer biết đọc và viết. Ngay cả các vua chúa Sumer cũng hiếm có người biết chữ.

    “Buổi sáng tôi dậy sớm. Nhìn mẹ tôi nói: ‘Mẹ cho con đem gì theo để ăn trưa, con muốn đi đến trường’. Mẹ đưa cho tôi hai cái bánh và tôi lên đường. Mẹ cho tôi hai cái bánh và thế là tôi đi học. Ðến trường, thầy giám thị hỏi: ‘Sao con đến trễ?’ Tôi sợ quá, tim đập thình thình, tôi lật đật đi vào lớp trước cả ông thầy.”

    Giới thư lại Lưỡng Hà đã không tìm cách đơn giản hóa chuyện viết lách để khiến cho nhiều người có thể biết chữ hơn. Có thể là nhờ thói dấu nghề đó mà ít ai có thể cạnh tranh với họ về toán và viết.

    Toán học

    Người Sumer thời đó không có các mẫu tự để học. Mẫu tự chỉ xuất hiện mãi về sau vào khoảng năm 1000 B.C., tại vùng đất mà hiện nay là Syria. Nhưng học trình cho thư lại Sumer có cả môn toán cùng với môn đọc và viết. Bà Eleanor Robson thuộc trường đại học Oxford ở Anh Quốc giải thích rằng người Lưỡng Hà đếm theo hệ lục thập phân thay vì thập phân như chúng ta ngày nay.

    “Chúng ta còn thấy tàn dư của hệ lục thập phân này qua cách chúng ta tính thời gian – tức là 60 giây một phút và 60 phút một giờ. Và từ Lưỡng Hà cách đếm này đã đến với chúng ta một cách gián tiếp qua ngả thiên văn học của Hy Lạp.”

    Ngày nay chúng ta dùng 10 ký hiệu từ ” 0″ đến ” 9″ để viết các con số, nhưng người Sumer chỉ dùng hai ký hiệu mà thôi. Ðể viết con số 24 chẳng hạn họ vẽ hai mũi tên quay về phía trái để chỉ 20, rồi 4 vạch hình cọc thẳng để chỉ số 4. Ngoài mũi tên và cọc, họ không có một ký hiệu nào khác – không có dấu nhân, cũng không có ký hiệu đại số.

    Người Lưỡng Hà đã biết đến đại số học – thậm chí họ có thể giải cả phương trình với hai hoặc ba ẩn số nhưng tất cả đều được viết ra thành văn. Những phiến đất sét để lại từ thời 2000 năm trước Công Nguyên cho thấy các bài tóan mà học trò thời đó phải giải.

    Bà Eleanor Robson nhận xét có những bài toán của người Lưỡng Hà rất đáng chú ý – chẳng hạn như tính thể tích từ kích thước và hình dạng của một đống thóc. Ðó là những bài toán thực dụng. Họ cũng tính toán bằng phân số hay tỉ số. Nhưng cũng có những bài toán mà mục đích thuần túy là để tìm hiểu những logic của toán học.

    Ðiều đáng lưu ý nhất là họ phân biệt những bài toán thực tiễn và những bài toán lý thuyết. Dường như giới thư lại Sumer quan tâm đến toán học vì mê thích cái logic chứ không phải chỉ vì lợi ích thực tiễn của nó mà thôi. Rõ ràng đó là một dấu hiệu của văn minh.

    Nhưng học giả Irving Finkel thì cho rằng giới thư lại còn có một sở trường khác. “Họ luôn luôn ham thích những ngôn từ kỹ thuật. Ngay từ đầu họ đã soạn ra những quyển tự điển và họ luôn luôn luôn quan tâm đến góp nhặt ghi chú các từ ngữ và cách sử dụng cũng như phiên dịch chúng.”

    Bà Eleanor Robson cho biết các thư lại ứng dụng toán vào đo lường. “Ðó là khả năng cơ bản để quản lý nhân công và vật liệu ở tầm mức lớn. Tỷ như khi cần phải đào lại một con kênh, một nhà trắc địa phải đo đạc rồi tính toán để suy ra con số dân phu phải thuê.”

    “Rồi mỗi năm, tất cả công việc lại được thư lại tổng kê, để xem dân phu có làm đủ công hay chưa. Giới chủ nhân Lưỡng Hà cũng khôn lắm – nếu năm nay làm chưa đủ, thì dân phu phải làm bù trong năm tới, nhưng nếu năm nay họ làm quá mức thì họ ráng chịu – tức là năm tới không được nghỉ bù.”

    Ngoại ngữ

    Chữ viết lần đầu tiên được thông dịch sang một ngôn ngữ khác khi một tộc bộ Akkad thuộc giống nòi Semit đến Sumer. Người Akkad có một tiếng nói khác với người Sumer.

    Một số thư lại tại Lưỡng Hà chắc hẳn phải biết cả hai thứ tiếng – nhất là kể từ khi tiếng Akkad trở thành tiếng nói thường ngày của đại chúng, và tiếng Sumer chỉ còn là ngôn ngữ của sách vở và tôn giáo.

    Theo học giả Irving Finkel thành phần thư lại Lưỡng Hà nổi tiếng là có tài quan sát. “Quan sát là một điểm mạnh của họ – từ quan sát bệnh tật đến quan sát các vì sao – và họ còn ghi lại cẩn thận những gì thấy được. Các ghi chép của họ về sự di chuyển của các hành tinh quả thật là chính xác, vô cùng tỉ mỉ.”

    Lao động

    Đào kênh khơi ngòi là một công việc sống còn đối với một dân tộc cần phải có nguồn nước của các sông Tigris và Euphrates để tưới những cánh đồng khô cằn của họ. Quan hệ lao động trong mấy ngàn năm qua cũng không thay đổi gì mấy.

    Học giả Jeremy Black thuộc trường đại học Oxford cho biết tầm quan trọng của các công trình này được phản ảnh qua văn học Lưỡng Hà, nhất là trong huyền thoại sáng thế của họ.

    “Trong huyền thoại của người Lưỡng Hà, họ, các vị thần trẻ được mô tả như là những công nhân vô kỷ luật bị đưa đi lao động ở những công trường xây dựng, như được mô tả trong bài thơ ATRAHASIS.

    Thiên thần lam lũ

    đào kênh khơi ngòi

    khai thông huyết mạch

    làm đất phì nhiêu

    đào sông Tigris

    vét dòng Euphrates

    Thiên thần nhọc mệt

    đếm ngày đếm tháng

    hơn ba ngàn năm

    đêm đêm ngày ngày

    kêu lơn cải cọ

    còn đất còn đào

    Thấy các thiên thần quá khổ cực, Thượng Ðế bèn tạo ra con người để gánh bớt cái nợ đời cho họ. Huyền thoại sáng thế này còn phản ánh thời tiết, địa dư và sinh thái của vùng Lưỡng Hà nữa. Tỉ như truyền thuyết về lụt lội. Sông Tigris có thể gây ra những trận lụt khổng lồ vào mùa xuân. Vùng Lưỡng Hà mà nay là Iraq vốn rất bằng phẳng, thành ra nước sông không cần phải dâng cao lắm cũng có thể làm ngập toàn bộ vùng đất này”.

    Theo giáo sư Nicholas Postgate thuộc Ðại học Cambridge, có một giả thuyết cho rằng sở dỉ nền văn minh lại phát triển tại miền Nam Lưỡng Hà cũng như tại các nền văn minh cổ sơ khác như Ai Cập và Trung Quốc – là vì nhu cầu về nguồn nước của nông nghiệp.

    “Nông nghiệp càng phát triển thì càng cần phải có một cơ cấu hành chánh. Và văn minh nẩy sinh từ hệ thống hành chánh. Nhưng lúc gần đây các nhà nhân chủng và khảo cổ lại cho rằng vùng Nam Lưỡng Hà chỉ cần một hệ thống thủy lợi cỡ nhỏ cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu của họ. Nếu điều đó là đúng thì có lẽ xã hội đã trở nên phồn thịnh trước, rồi cơ cấu hành chánh phức tạp mới theo sau.”

    Văn minh

    Từ ” văn minh” như chúng ta biết có thể bao hàm các giá trị tinh thần cũng như vật chất. Về vật chất, nhờ văn minh mà cuộc sống được phồn thịnh hơn, xã hội được cai quản tốt hơn. Chữ viết cũng đã có vai trò trong chiến tranh. Trong số những văn bản cổ xưa đến từ Lưỡng Hà có một báo cáo của một chỉ huy trình lên cấp trên:

    “Ðã năm ngày nay bề tôi đóng ở chỗ như đã thoả thuận để chờ cho đám quân từ Hana tới, nhưng họ không chịu tập trung dưới cờ. Vậy rất mong tướng quân chấp thuận cho bề tôi đem một số phạm nhân trong ngục ra chém đầu để bêu chung quanh doanh trại để cho các binh sĩ kinh sợ mà mau chóng tập trung lại.”Dân Lưỡng Hà khá hiếu chiến và có vẻ cũng chẳng xem trọng tính mạng con người hơn những dân tộc cổ đại khác.

    Nhưng trong xã hội Lưỡng Hà vẫn có một cái gì đó mà ta có thể gọi là văn minh được.

    Chẳng hạn như có các vì vua đã dựng lên những tấm bia ghi lời tuyên bố cấm người giàu bóc lột người nghèo. Ðôi khi họ còn giúp đỡ dân nghèo bằng cách xóa nợ.

    Nhờ đó mà nhiều trẻ em bị đưa đi làm nô lệ đã được sớm về đoàn tụ với gia đình. Hành động nhân đạo đó đã được ghi lại trong các chiếu dụ của vua chúa Lưỡng Hà hồi 2400-2350 B.C

    Các từ ngữ nói lên các giá trị văn minh xuất hiện trong đủ mọi thứ văn bản của thời đó. Giáo sư Jeremy Black thuộc đại học Oxford đơn cử chữ ‘ nhân bản’ có từ thời Lưỡng Hà.

    “Trong một luận văn viết theo thể đối thoại mà các học trò thời đó phải học, ông thầy nói với học trò như thế này: ‘Ta đã cho con tất cả những gì con có. Khi con đến với ta, con như một con chó con chưa mở mắt. Ta đã giúp con nên người, ta đã cho con ‘ nhân bản’… Ðoạn văn này đã dùng đúng chữ ‘ nhân bản’ – danh từ trừu tượng chỉ đức tính của con người. Và đó ắt hẳn là một cái gì tương tự như khái niệm của chúng ta về một giá trị văn minh.”

    Những khái niệm trừu tượng

    Có một từ trong tiếng Sumer, một danh từ số nhiều, gọi là ” me” rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. ‘Me’ là sức mạnh điều hành vạn vật – kể cả văn minh của con người.

    Ðôi khi ” me” được mô tả như là một cái gì rất cụ thể – chẳng hạn như một ngôi đền hay một xã hội văn minh vì lý do nào đó bị suy đồi thì người ta nói cái ” me” của chúng bị gom lại và vứt một xó như là một đống dụng cụ vô dụng.

    Nhưng đôi khi ” me” cũng được liệt kê ra thành một danh sách, bao gồm công lý, trí khôn, hoà bình, chiến tranh, tiếng nói và yên lặng… như thể chúng là những yếu tố cấu thành của văn minh.Và ‘ me’ còn bao gồm vương chế và các cấp bậc tôn giáo, cùng những cơ cấu vô hình cần phải bảo trì.

    Trách nhiệm của nhà vua và các vị thần thánh là điều hành mọi chuyện sao cho đúng để bồi dưỡng cái ‘ me’ của xã hội và vũ trụ. Ðiều đó cho thấy người Lưỡng Hà xem văn minh là một cái gì rất mong manh mà sự tồn tại tùy thuộc vào ý chí và đạo đức của con người.

    Văn hóa thành thị

    Tại Lưỡng Hà, các đơn vị tổ chức chính trị đầu tiên là thành phố. Di tích các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà đã được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Ðông, nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng bằng Nam Lưỡng Hà.

    Chính văn hoá thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới cho loài người. Dù sao chăng nữa danh từ văn minh mà ta dùng để dịch chữ ‘civilisation’ của tiếng Anh vốn bắt nguồn từ chữ La tinh ” civis” có nghĩa là một người dân thành thị.

    Giáo sư Nichola Postgate thuộc đại học Cambridge giải thích mỗi thành thị Lưỡng Hà có một vị thần đở đầu. “Thần này ủy quyền cho một nhà chức trách để thay thần trông lo cho dân chúng.”

    ” Ðôi khi người lãnh đạo này được mô tả như một người chăn cừu, mà chủ của bầy cừu là vị thần đở đầu, còn dân chúng tất nhiên là bầy cừu.”

    “Mỗi thành phố có một huyền thoại như thế. Khi thành phố tập hợp lại thành một vương quốc thì người cai trị tối cao là vua. Vào khoảng các năm 2700, 2600 B.C. hay muộn hơn có một vị vua tên là Kish – người nắm quyền kiểm soát một số các đô thị Lưỡng Hà nhưng không nhân danh thần thánh nào cả.

    “Lại có một thành phố khác mà có vẻ như được coi là trung tâm tôn giáo của Nam Lưỡng Hà – đó là Nippur. Người cai trị Nippur hầu như không bao giờ có quyền lực chính trị, nhưng lại được chấp nhận là lãnh tụ tinh thần của toàn bộ Nam Lưỡng Hà.”

    Sau này, thành phố nổi tiếng nhất Lưỡng Hà là Babylon đã trở nên một trung tâm quyền lực. Tất cả các thành phố của vùng Lưỡng Hà đều sống nhờ vào nông phẩm thặng dư do các vùng quê chung quanh sản xuất. Việc phát minh ra một lưỡi cầy mới đã khiến cho Lưỡng Hà phồn thịnh về kinh tế và nhờ vậy đóng góp vào việc tạo dựng nền văn minh.

    Văn học

    Văn học Lưỡng Hà có những vần thơ tuyệt đẹp về khung cảnh đồng nội. Trong bài thơ sau đây, khi tân lang của nữ thần Inanna được các người hầu gái dẫn vào chiếc giường hợp cẩn, họ thỏ thẻ bên tai chàng như thế này:

    Mong chàng…

    như một nông phu – vun xới cánh đồng

    … như một kẻ chăn cừu – con chiên đầy đàn

    Mong thay…

    Trên giàn nho trổ thành chùm

    Ngoài đồng lúa mạch trổ bông

    Dưới sông cá chép tung tăng

    Trong đầm chim cò ríu rít

    Trong gió bải sậy rì rào

    Mong thay…

    Sa mạc đón mừng cây cỏ

    Rừng rú vui vầy hươu nai

    Những thửa vườn xanh mát

    sẽ cho mật ngon rượu nồng

    … và rau tươi trái ngọt ê hề

    Mong thay…

    với đức độ của chàng

    đời sống hoàng cung

    sẽ trở thành vĩnh cửu…

    Trong văn chương Lưỡng Hà, chất văn minh rỏ nét nhất là những quan tâm đối với thân phận con người, cũng như khả năng biến những quan tâm này thành những tác phẩm văn học có phẫm chất cao.

    Tất cả những tình cảm hỉ nộ ái ố được mô tả trong văn học Lưỡng Hà đã làm người ta ngạc nhiên vì cho dù hơn 4 ngàn năm đã trôi qua, chúng vẫn rất gần gủi với con người đương đại.

    Nền văn minh Lưỡng Hà là mốc cổ xưa nhất – mà di tích còn cho phép chúng ta tiếp cận được qua văn tự. Nếu đúng như ước đoán, ngôn ngữ con người đã hiện hữu cách đây khoảng một triệu năm. Nếu tính kể từ thời Lưỡng Hà cách đây khoảng 4, 5 ngàn năm, trên nhiều phương diện, người Sumer rất giống chúng ta.

    Trần Hạnh phóng viên BBC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Lưu Văn Học: Đặt Tên Nhân Vật. So Sánh Tiếng Anh Và Tiếng Việt.
  • Tiếng Việt Hay Tiếng Anh Dễ Hơn
  • Những Điểm Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Khác Nhau Giữa Văn Hóa Hàn Và Việt
  • “so Sánh Văn Hóa Hai Nước Việt Nam Và Nhật Bản Với Tiêu Chí Cư Dân Và Đặc Trưng Văn Hóa”
  • Sự Khác Nhau Giữa Work Và Job

    --- Bài mới hơn ---

  • Trợ Lý Và Thư Ký Giám Đốc Khác Nhau Như Thế Nào? – Trung Tâm Đào Tạo Và Tư Vấn Doanh Nghiệp
  • Phân Biệt Tiếng Trung, Tiếng Hoa, Tiếng Đài Loan Và Tiếng Hồng Kông
  • Tháo Gỡ Băn Khoăn Nên Dùng Son Kem Hay Son Thỏi
  • Son Kem Và Son Thỏi Son Nào Nhiều Chì Hơn?
  • Bạn Có Biết, Trầm Cảm Và Tự Kỷ Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự khác nhau giữa Work và Job

    Th.hai, 18/08/2014, 11:13

    Lượt xem: 7251

    Trước hết, về mặt ngữ pháp, work vừa là một động từ lại vừa là một danh từ, trong khi job chỉ là danh từ thôi.

    Giờ chúng ta sẽ nói tới nghĩa của các từ này.

    Work – làm việc – là một hoạt động mà bạn dùng tới nỗ lực hay năng lượng, thường là để đạt được một mục đích hay nhiệm vụ gì đó chứ không phải là để vui chơi, giải trí. Từ này ngược hẳn nghĩa với từ play, và to work có nghĩa là thực hiện hành động đó.

    Nhìn chung, chúng ta làm việc để kiếm tiền và chúng ta thường dùng từ này như một động từ; để miêu tả những gì việc chúng ta làm để kiếm tiền. Ví dụ:

    I work for the BBC – Tôi làm cho đài BBC.

    David works in a café – David làm ở một quán café.

     

    Trong các ví dụ này, chúng ta không biết chính xác nhiệm vụ hay trách nhiệm của người đó là gì. David làm việc ở quán café nhưng chúng ta không biết anh ấy làm việc dọn dẹp, phục vụ bàn, hay nấu đồ ăn.

    Vì thế work có một nghĩa chung chung, trong khi job lại rất cụ thể, và nghĩa thông dụng nhất của từ này là tên của chính công việc mà bạn làm để kiếm tiền. Ví dụ,

    David has now got a new job. He is a cook in a small restaurant. David vừa kiếm được việc mới. Anh làm đầu bếp tại một tiệm ăn nhỏ.

    Trong ví dụ này, chúng ta biết chính xác công việc mà David làm là gì vì chúng ta biết job – nghề của anh ấy là gì.

    Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng từ job chỉ một nghề, một công việc cụ thể hay một vị trí nghề nghiệp nào đó, như cook – đầu bếp, teacher – giáo viên, hay banker – nhân viên ngân hàng, trong khi work nói tới một hành động làm việc chung chung.

    Ví dụ, một người có thể working in their garden – làm việc trong vườn, có thể cắt cỏ, trồng hoa. Tuy nhiên đó là hoạt động vào thời gian rảnh rỗi của người đó, chứ không phải là một phần công việc mà họ vẫn làm để kiếm tiền của người đó.

    Khi là động từ, work còn có các nghĩa khác, chẳng hạn, nếu bạn tả một chiếc máy làm việc như thế nào, tức là bạn giải thích nó hoạt động ra sao.

    Ví dụ: Can someone show me how the photocopier works? I don’t know how to use it. – Ai có thể chỉ cho tôi máy photocopy làm việc như thế nào không? Tôi không biết dùng nó như thế nào cả.

    Tương tự, bạn có thể dùng từ work để nói nếu chiếc máy làm việc/hoạt động tốt.

    Ví dụ: Don’t try to use that computer. It doesn’t work. We are waiting for the engineer to fix it. – Đừng có dùng máy tính đó. Nó không làm việc. Chúng tôi đang đợi thợ đến sửa nó.

    Cuối cùng, mặc dù job là tên gọi công việc mà bạn làm để kiếm tiền, job cũng chỉ một việc cụ thể mà bạn phải làm; một việc đòi hỏi làm việc và một việc bạn có thể xác định cụ thể.

    Ví dụ: I have a few jobs to do at home this weekend. I need to paint my bedroom, fix a broken door and cut the grass. – Tôi có một vài công việc phải làm ở nhà vào cuối tuần. Tôi cần phải quét vôi phòng ngủ, chữa cái cửa ra vào bị hỏng và cắt cỏ.

    I’ve been working hard for the last few hours so I think it’s time for me to take a break– Tôi đã làm việc rất chăm chỉ trong suốt mầy tiếng đồng hồ vừa qua rồi, vì thế tôi nghĩ là đã đến lúc tôi có thể nghỉ ngơi.

    Fortunately, the work that I do in my job is very interesting, so even though it is hard work, I don’t think I will look for another job! – Rất may là công việc mà tôi làm trong nghề của mình là khá thú vị, vì vậy mặc dù cũng khá vất vả nhưng tôi không nghĩ là tôi sẽ đi kiếm một nghề/một công việc khác.

    Thế còn bạn thì sao, Giuliana? Are you a student or do you have a job – Bạn là sinh viên hay bạn đã đi làm và có một nghề rồi?

    Whatever you do, is it hard work? – Bạn làm gì đi chăng nữa thì đó có phải làm một công việc vất vả hay không?

    Source: bbc

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Core I5 Và Core I7
  • Alaska Và Husky Chó Nào Đắt Hơn
  • 4.2: Neurons And Glial Cells
  • Cách Sử Dụng Của Have Và Have Got Khác Nhau Như Thế Nào?
  • So Sánh Cách Sử Dụng Have Và Have Got
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100