Phong Tục Và Hủ Tục 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Miền Bắc Và Miền Nam Thái Lan Khác Biệt Như Thế Nào?
  • Pr Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Pr Và Quảng Cáo
  • 7 Yếu Tố Tạo Sự Khác Biệt Giữa 2 Công Cụ: Pr Và Quảng Cáo
  • Đạo Chúa Khác Đạo Phật
  • Sự Khác Biệt Giữa Nét Đẹp Của Phụ Nữ Á Đông Và Tây Phương
  • Mấy chục năm sống ở Tây Nguyên, tôi đã chứng kiến nhiều hủ tục và phong tục.

    Chỉ nói riêng ở Gia Lai nơi tôi đang sống thôi, nhiều hủ tục giờ hầu như chỉ còn trong dĩ vãng, nhiều người muốn “nghiên cứu” lại cũng chả còn, ví dụ như lặn nước, đổ chì để phân định đúng sai. Ví dụ như chôn chung, như vẫn bón thức ăn cho người chết sau khi đã chôn hàng tháng… Nhưng vẫn còn những hủ tục đang tồn tại, thảng hoặc đâu đó, ta vẫn nghe chuyện ma lai, chuyện thuốc thư, chuyện mẹ chết thì chôn theo con…

    Là đứng dưới góc độ văn minh mà xét, chứ khi một hiện tượng đã tồn tại, dù lâu dù mau, nó phải có lý của nó, kể cả đấy là hủ tục man rợ nhất. Lấy ví dụ hủ tục mẹ chết thì chôn theo con. Ai cũng biết người Tây Nguyên thời còn lạc hậu, khi đẻ người phụ nữ phải tự làm lấy mọi thứ. Giờ chuẩn bị sinh các bà mẹ trẻ và gia đình của họ lo lắng chuẩn bị từng ly từng tí, còn phụ nữ Tây Nguyên ư, tự vào rừng, làm một cái chòi, chuẩn bị ít mì, đu đủ, gạo, củi… vào đấy tự sinh, xong xuôi thì bế con về. Và trong hoàn cảnh ấy, thì nếu người mẹ chẳng may chết (hiện tượng chết này rất nhiều do sự thiếu thốn lạc hậu đủ bề), nếu để đứa bé thì cũng không cách gì có thể nuôi được. Chúng ta giờ có lồng ấp, có các phương tiện hiện đại, bác sĩ giỏi, các loại sữa đủ để thay sữa mẹ mà nuôi những đứa bé như thế còn khó khăn, thì thử hỏi người nhà đứa bé ở giữa rừng, lạc hậu như thế, đói khổ như thế, thiếu thốn như thế… có thể làm gì khi mẹ chúng mất, nguồn sữa duy nhất nuôi bé không còn. Cách tốt nhất trong hoàn cảnh ấy là cho đứa bé đi theo mẹ. Và trong hoàn cảnh ấy có thể hành động ấy là nhân văn với họ. Nhưng giờ, chỉ nghe nói thế là đã gai cả người. Ánh sáng của văn minh đẩy lùi hủ tục là như thế.

    Có những việc không phải hủ tục mà là phong tục, như lễ bỏ mả. Cái lễ này nó cũng như việc người Kinh cúng giỗ, gần gần hơn với làm lễ hết tang. Khi đủ điều kiện thì người Tây Nguyên tổ chức lễ bỏ mả. Đây là một cái lễ rất lớn, một hoạt động văn hóa trọng thể kéo dài so với các lễ khác. Cũng có nhiều ý kiến về lễ này, như có người bảo lãng phí, vì mỗi lễ bỏ mả như thế có khi người ta làm đến mấy chục con bò, chưa kể lợn dê gà, hàng mấy trăm ghè rượu… Thực ra cái gọi là lãng phí thì… người Kinh lãng phí hơn nhiều. Nên nhớ một gia đình người Tây Nguyên có khi cả đời họ mới tổ chức một lễ bỏ mả, bỏ một lúc cho nhiều người. Và dịp ấy họ mới làm bò. Còn chúng ta, ngày nào chả ăn thịt. Mà khách trong các cuộc bỏ mả ấy rất đông, cả khách được mời và khách đi qua ghé vào, khách tò mò đến xem… đều được mời ăn mời uống, thậm chí được chia phần mang về. Có chăng cái phần cần phải xử lý là vệ sinh thực phẩm và môi trường. Hãy hình dung, ở những khu nhà mả hẻo lánh ấy, phân, máu súc vật, nước lại hiếm, nền đất và cỏ, hàng trăm con người ăn uống nhảy múa… thì việc vệ sinh hoàn toàn có thể hiểu là bằng không. Rất nhiều cuộc ngộ độc tập thể xuất phát từ các cuộc như thế này…

    Trong đời sống hiện nay, có nhiều phong tục đẹp đang trở thành hủ tục.

    Như việc đi lễ chùa chiền đang bị biến tướng thành nơi xin xỏ cầu ước rất tầm thường. Các di tích lịch sử văn hóa đang trở thành nơi buôn thần bán thánh rất thực dụng. Các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc đang bị biến thành những thế lực để phân phát quyền và tiền. Thậm chí người ta đi vay tiền ở các vị danh nhân rồi trả gấp ba bốn lần như thế. Hay như nạn cưới xin rùm beng đang thành gánh nặng với những gia đình thu nhập thấp. Việc thăm nhau đang bị biến tướng thành đi “lễ”, đi “tết” với túi to nhỏ các loại…

    Và, phải nói thật với nhau, trong chúng ta có ai làm việc gì đấy, từ nhỏ như sửa cái cổng, mua cái xe, đến lớn như làm nhà, dựng vợ gả chồng, ma chay… mà không xem thầy xem ngày không, không sửa lễ cúng bái không? Và cũng không biết liệt những việc ấy vào phong tục hay hủ tục nhỉ?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Tục, Tập Quán Và Áp Dụng Tập Quán Trong Công Tác Xét Xử Án Dân Sự
  • Phong Tục Tập Quán Là Gì?
  • Thói Quen Dân Gian: Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống Và Phong Tục
  • Sự Khác Nhau Giữa Nhà Truyền Thống Thái Lan Và Việt Nam
  • Sự Khác Nhau Trong Phong Tục Ăn Mừng Năm Mới Giữa Châu Á Và Châu Âu
  • Phong Tục Đón Tết: Bạn Đã Biết Sự Khác Nhau Giữa 2 Miền Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Khác Biệt Thú Vị Giữa Ẩm Thực Hai Miền Nam Bắc
  • Phân Biệt Động Từ Must Và Have To Trong Tiềng Anh
  • Sự Khác Nhau Giữa Hub,switch Và Router
  • Sự Khác Biệt Giữa Hub, Switch Và Router
  • Sự Khác Biệt Giữa Hub,switch Và Router ???
  • Miền Bắc là hình ảnh đông vui nhộn nhịp với chợ tết đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ thì miền Nam lại đi chợ tết trên sông.

    2. Chơi hoa ngày tết

    Hoa đào tượng trưng cho sự may mắn, đủ đầy, tượng trưng cho những ước vọng hạnh phúc, yên bình với khởi đầu một năm mới tươi vui. Chính vì lẽ đó, người miền Bắc sử dụng hoa đào làm biểu tượng của ngày tết – tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở.

    3. Bánh cổ truyền

    Người miền Nam lại thích chơi hoa mai ngày tết – màu vàng rực rỡ tượng trưng cho sự sang trọng, quý phái nhưng chưa đựng vẻ đẹp dịu dàng báo hiệu mùa xuân đã về. Hoa mai nở rộ báo hiệu nhiều điều may mắn đến với gia đình.

    4. Mâm cơm ngày tết

    5. Mâm ngũ quả

    Bánh chưng vuông vắn ở miền Bắc trái ngược hoàn toàn với bánh tét tròn dài ở miền Nam. Mặc dù cả hai loại bánh đều có nguyên liệu giống nhau nhưng không thể thay thế cho nhau được.

    6. Cúng Ông Táo

    7. Tiếp đãi khách

    Miền Bắc nhất định phải có một bát canh bóng thì mâm cơm mới đủ đầy. Bát canh được làm từ da lợn đã được làm sạch và phơi khô, thêm vào vài cọng hành tươi cho đẹp mắt. Món canh này rất được ưa chuộng vì độ ngon ngọt của nước canh và cũng rất dễ ăn.

    Miền Nam lại phải có bát canh khổ qua hầm. Với những người mới ăn mướp đắng lần đầu hoặc không ăn quen thì món canh dù có độ ngọt cũng không thể át được vị đắng của khổ qua. Nhưng nếu đã ăn được thì sẽ rất thích, thậm chí rất “ghiền”, theo ngôn ngữ phương Nam.

    8. Đi chúc tết

    Miền bắc sẽ trang trí mâm ngũ quả với chuối xanh. Còn miền Nam lại không hề có loại quả này vì cho rằng nó “không được may mắn”.

    Vào 23 tháng chạp âm lịch, người miền Bắc sau khi cúng ông Táo xong thì sẽ thả kèm 3 chú cá chép với ý nghĩa để ông Táo “cưỡi” về trời.

    Tuy nhiên, cá chép với người miền Nam lại là loài vật rất linh thiêng và chỉ dùng cho vua chúa. Bởi vậy mà theo tục lệ, người miền Nam không thả cá chép.

    Chén trà, hạt bí, bánh, kẹo… là những thứ bạn sẽ bắt gặp trong ngày Tết ở người miền Bắc.

    Người miền Nam lại tiếp đón khách bằng việc mời ăn nhậu với bia, rượu và đồ nhắm.

    Người miền Bắc dành thời gian Tết để quây quần, sum họp gia đình sau một năm làm việc. Anh em, bạn bè ngồi lại với nhau trò chuyện, ăn uống hoặc đi chúc tết.

    Trái với quan niệm của miền Bắc, người miền Nam cho thời gian này là thời gian được nghỉ ngơi. Thế nên, họ có thể đi du lịch khắp nơi với người thân và bạn bè.

    Dù có sự khác biệt tới đâu, có 1 điều dù ở đâu cũng không thể thay đổi đó là ý nghĩa ngày tết: Đoàn viên – Hiếu kính – Mong cầu.

    Quất ‘độc tôn’, đào ‘long phụng’… những cây cảnh chưng tết có 1-0-2 khiến cư dân mạng bấn loạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Các Loại Dầu Bôi Trơn Công Nghiệp
  • Sự Khác Nhau Giữa Dầu Bánh Răng Và Dầu Thủy Lực
  • Sự Khác Nhau Giữa Công Nghệ In Laser Và In Phun
  • B2C Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Mô Hình B2B Và B2C Là Gì?
  • B2B Và B2C Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Mô Hình B2B Và B2C Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Trong Phong Tục Ăn Mừng Năm Mới Giữa Châu Á Và Châu Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Nhà Truyền Thống Thái Lan Và Việt Nam
  • Thói Quen Dân Gian: Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống Và Phong Tục
  • Phong Tục Tập Quán Là Gì?
  • Phong Tục, Tập Quán Và Áp Dụng Tập Quán Trong Công Tác Xét Xử Án Dân Sự
  • Phong Tục Và Hủ Tục 2022
  • Ở châu Âu, phong tục ăn mừng năm mới thường mang tính “hiện đại”. Những ngày cuối năm, người ta thường tổ chức những buổi tiệc tùng, diễu hành, ăn uống thâu đêm… để cùng nhau chào đón năm mới. Ở mỗi nước, lại có những phong tục, nghi lễ riêng biệt đến “kì lạ” nhưng đều hướng đến mục đích cuối cùng là mong muốn năm mới sẽ đem lại may mắn, hạnh phúc và an lành đến với mọi người.

    CÂY THÔNG NOEL TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI NGA

    Cây thông Noel với những ngọn nến con – Ảnh: chúng tôi

    Trang trí cho cây thông Noel vào dịp năm mới là một phong tục đặc sắc của người Nga, với hy vong rằng, khi trẻ con trong nhà thức dậy chúng sẽ có được một niềm vui vào sáng đầu tiên của năm mới. Bên cạnh đó là phong tục bà chúa tuyết và ông già tuyết tặng quà cho trẻ em.

    Ông già tuyết cùng bà chúa tuyết diễu hành- Ảnh: Igor Kovalenko

    Cũng như một số quốc gia phương Tây khác, người Nga cũng đón năm mới trong màn trình diễn pháo hoa và những buổi tiệc linh đình, gồm: thịt, đậu xanh, dưa chua, hành, sốt mayonnaise, cà rốt và khoai tây.

    Một bữa ăn chào đón năm mới của người Nga- Ảnh: Joe Protor

    PHONG TỤC “VỨT BỎ RỦI RO NĂM CŨ, CHÀO ĐÓN NĂM MỚI BÌNH YÊN” CỦA NGƯỜI ĐỨC

    Trước giao thừa 1 ngày, nam giới của Đức thường tập trung ăn uống, tiệc tùng đến tận đêm. Đến giao thừa, người Đức cũng tổ chức bắn pháo hoa, quây quần bên nhau, cùng chúc nhau năm mới bình an và họ còn đem nấu chì đổ vào cốc nước rồi nhìn hình dạng miếng chì trong nước và đoán vận hạn năm tới của mình.

    Những bữa tiệc thâu đêm tại Đức để chào đón năm mới- Ảnh: chúng tôi

    Lễ đón năm mới ở Đức kéo dài trong vòng 1 tuần. 15 phút trước giao thừa mọi người đều ngồi yên trên ghế, khi chuông đồng hồ điểm họ đều nhảy xuống khỏi ghế và ném một vật nặng ra phía sau coi như vứt bỏ mọi khó khăn, hoạn nạn để bước vào năm mới.

    Đên giao thừa tại cổng thành Bradenburg- Ảnh: chúng tôi

    Các bữa ăn trong dịp đón mừng năm mới của người Đức sẽ không thể thiếu cà rốt và bắp cải – hai thức ăn mà theo quan điểm của người dân Đức sẽ mang lại sự ổn định về tài chính…

    Hai món ăn đem lại sự ổn định về tài chính cho người Đức- Ảnh: chinhsuaanh

    NHỮNG LY RƯỢN MAY MẮN TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI PHÁP

    Rượu là một phần không thể thiếu trong phong tục chào đón năm mới của người Pháp. Người Pháp dùng rượu đón năm mới, từ đêm giao thừa mọi người bắt đầu mở tiệc ăn uống đến 3/1 mới kết thúc.

    Những ly rượu sẻ chia, mang đến niềm vui trong năm mới- Ảnh: Yoann Jezequel

    Phong tục đón năm mới của Pháp cũng có sự khác nhau giữa các miền. Ở miền Đông, lúc giao thừa, người ta sẽ ngậm đồng tiền vàng cầu mong phát đạt, giàu sang. Ở miền Tây, nam thanh nữ tú dắt nhau vào rừng tìm cây tầm gửi từ chiều cuối năm, anh chàng nào tìm thấy và mang về đầu tiên sẽ được phong “”””””””””””””””Vua tầm gửi””””””””””””””””, có quyền ôm hôn những cô gái đẹp đi ngang nhà mình trong suốt ngày mùng 1.

    Pháo hoa trong đêm giao thừa tại Paris (Pháp)- Ảnh: Antonio GAUDENCIO

    TỔ CHỨC DIỄU HÀNH ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI ANH

    Ngày đầu năm mới ngườiAnh thường tổ chức các cuộc diễu hành dọc các con đường đi qua Whitehall và trung tâm mua sắm Pall, và cuối cùng dừng chân ở quảng trường Berkley. Mọi người sẽ cùng nhau tập hợp lại cùng hát vang các bài hát truyền thống đón chào năm mới nghe tiếng chuông đồng hồ Bigbang điểm đúng thời khắc giao thừa.

    Diễu hành chào đón năm mới tại London (Anh)- Ảnh: Getty Images

    Một ngày trước Tết Dương lịch, mọi nhà sẽ mua rượu đổ đầy các chai, hũ trong nhà, trong bếp thì chứa thật nhiều thịt bởi người Anh quan niệm rằng, nếu rượu thịt không dư dả, năm mới sẽ gặp khó khăn, nghèo khổ. Cuối cùng, để đón chào một năm mới, người Anh có những phong tục rất lạ và độc đáo như tục lệ “Bước chân đầu tiên (The First Footing)”; không chọn những người tóc vàng và tóc đỏ xông nhà; mừng tuổi bằng những cành tầm gửi…

    PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI Ở CHÂU Á

    Khác biệt với châu Âu, phong tục ăn mừng năm mới ở châu Á mang tính “cổ truyền” hơn. Người châu Á khá chú trọng về các khâu chuẩn bị để có một lễ chào đón năm mới hoàn chỉnh.

    DỌN DẸP NHÀ CỬA ĐỂ ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Dọn dẹp nhà cửa chào đón năm mới sang- Ảnh: baomoi

    Việc dọn dẹp nhà cửa khởi nguồn từ ý niệm “quét sạch những điều không may mắn” trong năm cũ, chào đón một năm mới tốt đẹp. Tuy nhiên không nên dọn dẹp nhà cửa khi năm mới bắt đầu, vì nếu làm thế sẽ “quét sạch những điều may mắn vừa nhận được”.

    BÀY BIỆN NHỮNG MÂM CỔ TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Mâm cổ chào đón năm mới của người Việt Nam- Ảnh: afamily Món canh bánh gạo truyền thống được sử dụng trong ngày đón năm mới của người Hàn Quốc- Ảnh: deponline Khay bánh kẹo 8 món của người Trung Quốc với nghĩa số 8 là số may mắn- Ảnh: trithucsong

    Người dân châu Á thường có những mâm cổ với những loại thức ăn truyền thống, đa dạng về màu sắc lẫn hương vị.

    THỜ PHỤNG TỔ TIÊN VÀ THĂM HỎI ÔNG BÀ, CHA MẸ, HÀNG XÓM LÁNG GIỀNG

    Thờ phụng tổ tiên cầu mong điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới- Ảnh: tanhongthai165

    Người Indonesia cũng chuẩn bị đồ cúng đặt bàn thờ cúng các vị thần và tổ tiên vào đêm giao thừa. Đồ cúng gồm chủ yếu là bánh và trái cây. Đầu tiên, người Indonesia sẽ bày đồ cúng trên một chiếc bàn đặt phía ngoài ngôi nhà. Mỗi thành viên trong gia đình đốt hương, chắp tay và vái ba vái để bày tỏ tấm lòng thành kính và xin phép được vào nhà.

    Tục Sebae tại Hàn Quốc- Ảnh: spotlightkorea

    Vào dịp năm mới, người Hàn mặc những bộ hanbok đủ màu sắc và tiến hành nghi lễ biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên vào sáng đầu năm, hay còn gọi là tục Sebae. Con cái thăm cha mẹ và cầu chúc họ một năm mới hạnh phúc bằng cách quỳ lạy họ. Cha mẹ đáp lễ bằng cách cho con cái một số tiền mừng tuổi và những lời chỉ dạy sáng suốt.

    NHẬN TIỀN MỪNG TUỔI TRONG NGÀY ĐẦU NĂM MỚI

    Niềm vui của trẻ con khi nhận tiền mừng tuổi- Ảnh: chúng tôi Con cháu chúc thọ ông bà- Ảnh: chúng tôi

    Người lớn trao cho trẻ em những món quà là “tiền mừng tuổi” với hy vọng con cháu sẽ giỏi giang, mạnh khỏe trong năm mới. Con cháu có thể kính tặng “tiền mừng thọ” cho ông bà, cha mẹ với hy vọng ông bà, cha mẹ sẽ sống lâu trăm tuổi.

    VĂN HÓA ĐI CHÙA

    Đi lễ chùa đầu năm tại Việt Nam- Ảnh: trithucsong Người dân Indonesia cầu phúc năm mới tại chùa vihara dharma bhakti- Ảnh:portalkbr

    Thay vì đi đến các nhà hàng, quán bar… như người châu Âu, người châu Á thường đi lễ chùa. Với hy vọng cầu xin thánh thần sẽ ban cho một năm mới “vạn sự như ý”,”tấn tài tấn lộc”.

    LỄ HỘI MÚA LÂN, RỒNG, SƯ ĂN MỪNG NĂM MỚI ĐẾN

    Múa sư cổ truyền đầy màu sắc- Ảnh: chúng tôi Ông địa và con lân rước năm mới sang- Ảnh: normanchinmantis

    Người châu Á còn tổ chức các lễ hội múa lân, múa sư, múa rồng mang lại điềm lành, tạo bước khởi đầu tốt đẹp, thuận lợi, tô điểm thêm cho ngày chào năm mới.

    BẮN PHÁO HOA ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Pháo hoa đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới tại Singapo – Ảnh: Rexer Ong Những khoảnh khắc pháo hoa sáng chói chào đón năm mới đến- Ảnh: Hung Pham

    Vào nửa đêm, pháo hoa được bắn ở khắp mọi nơi. Đây là hành động để xua đuổi tà ma và tội ác, nhưng cũng để tăng thêm sự hứng khởi của mọi người trong lễ hội mừng năm mới. Theo truyền thống, vào thời khắc này, các gia đình đều mở toang cửa sổ và cửa chính để tiễn năm cũ đi và đón may mắn vào nhà trong năm mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Truyền Thông Và Pr
  • Sự Khác Nhau Giữa Quan Hệ Công Chúng (Public Relations) Và Quảng Cáo (Advertising)
  • Khác Biệt Giữa Marketing Và Pr
  • Sự Khác Biệt Giữa Quan Hệ Công Chúng (Pr) Và Marketing
  • Sự Khác Nhau Giữa Branding, Marketing, Quảng Cáo Và Pr
  • Ca Dao Tục Ngữ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại
  • Sự Khác Nhau Giữa Notepad, Wordpad Và Word
  • Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Các Xã Hội Ở Nông Thôn Và Thành Phố Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Thành Thị, Ngoại Ô Và Nông Thôn Là Gì?
  • Giáo Án Sinh Học 12 Bài 11: Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Ca dao là một từ Hán Việt. Trong đó, “ca” dùng để chỉ những bài hát; còn từ “dao” được dùng để chỉ những bài hát ngắn, thường không có chương khúc, giai điệu.

    Vì vậy, có thể hiểu ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, được dùng để miêu tả, ngụ ý hay diễn đạt tình cảm. Hầu hết ca dao đều là lời thơ trữ tình dân gian, thường được kết hợp với âm nhạc để diễn xướng và phản ánh thế giới nội tâm của con người.

    Ca dao được lưu truyền theo hình thức truyền miệng nên rất ngắn gọn, súc tích và sử dụng thể thơ dân tộc (thơ lục bát hoặc lục bát biến thể) cho dễ thuộc, dễ nhớ. Bên cạnh đó, ca dao cũng sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, ngôn ngữ gần gũi, đời thường và được diễn đạt mang đậm sắc thái dân gian.

    • Phản ánh lịch sử: Ca dao thường nhắc tên các sự kiện lịch sử và bày tỏ quan điểm, thái độ của nhân dân chứ không đi sâu vào quá trình hay diễn biến của nó.
    • Phản ánh phong tục – tập quán, nếp sống hay đời sống tình cảm của nhân dân trong quan hệ gia đình, lứa đôi, đất nước,…. Đồng thời, ca dao cũng phản ánh cuộc sống của nhân dân trong xã hội cũ, điển hình là những bài ca dao than thân.
    • Ca dao thể hiện tiếng cười bông đùa, trào phúng.

    Là những bài thơ ca truyền miệng của trẻ em và hầu như không có tác giả, ví dụ như vè. Đồng dao được chia thành hai loại chính là: gắn với trò chơi hoặc gắn liền với công việc của trẻ nhỏ.

    “Dung dăng dung dẻ

    Dắt trẻ đi chơi

    Đến hỏi ông trời

    Xin vài cái bánh

    Gặp xe thì tránh

    Đội mũ trên đầu

    Đi chậm đi mau

    Lâu lâu lại ngồi!”

    “Em là con gái nhà nông,

    Thấy anh gánh lúa vừa mừng vừa thương.

    Mồ hôi ướt đẫm trán lưng,

    Hỏi anh có mệt gánh giùm cho anh.

    Mời anh bát nước chè xanh,

    Thi nhau ta gánh cho nhanh bạn cùng.”

    “Ru con, con ngủ cho lâu

    Để mẹ đi cấy ruộng sâu lâu về

    Ru con, con ngủ cho mê

    Mẹ còn lo chuyện lê thê kéo cày

    Ru con, con ngủ cho say

    Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng

    Ru con, con ngủ cho nồng

    Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người.”

    “Thịt Mỡ dưa hành câu đối đỏ,

    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”

    “Chồng người đánh giặc sông Lô

    Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần

    Chồng người cưỡi ngựa bắn cung

    Chồng em ngồi bếp cầm thun bắn ruồi.”

    “Cô kia đứng ở bên sông,

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

    “Thân em như củ ấu gai

    Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

    Ai ơi, nếm thử mà xem

    Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.”

    “Nước non lận đận một mình,

    Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

    Ai làm cho bể kia đầy,

    Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”

    Tục ngữ là gì?

    Tục ngữ là gì? Đây là một thể loại văn học dân gian, được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích và có nhịp điệu nên rất dễ nhớ và dễ truyền đạt.

    Trong các câu tục ngữ, cả hình thức và nội dung luôn có sự gắn bó chặt chẽ với nhau để tạo thành một câu hoàn chỉnh và thống nhất. Một câu tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa là: nghĩa đen và nghĩa bóng.

    Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm sống thực tế

    * Ví dụ về câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

    Chúng ta có thể giải thích câu tục ngữ này theo hai nghĩa như sau:

    • Nghĩa đen: Nếu để mực rây ra tay thì sẽ bị dính màu đen của mực. Còn nếu ngồi gần đèn thì sẽ được nhìn rõ tất cả mọi vật do đèn chiếu sáng vào.
    • Nghĩa bóng: Cha ông ta muốn nhắn nhủ rằng môi trường sống có tầm ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến nhận thức và lối sống của mỗi cá nhân. Nếu sống sống trong môi trường có nhiều điều xấu, con người sẽ bị ảnh hưởng và có thể bị tha hóa về đạo đức sống. Ngược lại, nếu sống trong môi trường có nhiều điều tốt đẹp thì chúng ta sẽ sống lành mạnh, có ích hơn cho gia đình và xã hội.

    Tính hình tượng trong câu tục ngữ thường được thể hiện qua các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Ông cha ta muốn thông qua những sự vật, hiện tượng thân thuộc để thể hiện quan niệm và đúc kết thành chân lý, kinh nghiệm; vừa sáng tạo nhưng lại rất sâu sắc. Chính tính hình tượng hóa này sẽ giúp chúng ta dễ hiểu và biết các suy ngẫm.

    Bên cạnh đó, tục ngữ thường được gieo vần liền hoặc vần cách, được ngắt nhịp linh hoạt tạo nên sự hài hòa, cân đối và nhịp nhàng.

      Tục ngữ đúc kết và phản ánh kinh nghiệm sản xuất của người dân lao động.

    Ví dụ: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

    Ví dụ: “Ăn lông ở lỗ”, “Một người làm quan cả họ được nhờ”, “Cá lớn nuốt cá bé”,..

    Ví dụ: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,…

    Những câu ca dao tục ngữ Việt Nam hay nhất

    Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.”

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.”

    Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.”

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.”

    Theo đôi theo lứa mới thành thất gia.”

    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than!”

    Nuôi con mới biết công lao mẹ, thầy.

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.”

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.”

    1. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”.
    2. “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.
    3. “Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng”.

    Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.”

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.”

    Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.”

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.”

    Cười người hôm trước hôm sau người cười.”

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông.

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua dòng nước, nhờ ông lái đò!”

    1. “Kính lão đắc thọ”.
    2. “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”.
    3. “Đường mòn nhân nghĩa không mòn”.
    4. “Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho”.
      “Én bay thấp mưa ngập cầu ao

    Én bay cao mưa rào lại tạnh.”

    Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi

    Cơn đằng Bắc, đổ thóc ra phơi

    Cơn đằng Tây, mưa ngu bão ngáo.

    Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều.”

    Nuôi tằm ba lứa, ruộng cày ba năm

    Nhờ trời hòa cốc phong đăng

    Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi

    Được mùa dù có tại trời

    Chớ thấy sóng cả mà rời tay co.

    1. “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”.
    2. “Tháng bảy mưa gãy cành tràm”.
    3. “Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”.
    4. “Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”.

    Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

    Dạy con, dạy thuở còn thơ,

    Dạy vợ, dạy thuở ban sơ mới về.”

    Học buôn, học bán cho tày người ta.

    Con đừng học thói chua ngoa,

    Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan.

    Phòng khi đóng góp việc làng,

    Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

    Trước là đẹp mặt cho chồng,

    Sau là họ mạc cũng không chê cười.”

    Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

    Gái thời trinh trỉnh lòng son,

    Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

    Trai lành gái tốt ra người,

    Khuyên con trọng bấy nhiêu lời cho chuyên.”

    1. “Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật”.
    2. “Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp”.
    3. “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay”.
    4. “Nước đổ lá khoai”
    5. “Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi”.

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan”.

    Đến khi chết bỏng cứ tai mà rờ!”

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

    1. “Thân tự lập thân”.
    2. “Có thân phải khổ, có khổ mới nên thân”.
    3. “giúp lời không ai giúp của, giúp đũa không ai giúp cơm”.
    4. “Sông sâu sóng cả, chớ ngã tay chèo”.
      “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng”.

    Nước non a vẽ nên tranh họa đồ

    Cố đô rồi lại tân đô

    Nghìn năm văn vật bây giờ là đây”.

    Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui”.

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang”.

    Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An”.

    Sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ Việt Nam

    Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam đều là những câu nói ngắn gọn, súc tích; phản ánh tri thức của con người về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Bởi vậy mà rất khó để phân biệt hai khái niệm này.

    Tuy nhiên, bạn có thể phân biệt được thành ngữ và tục ngữ qua một số đặc điểm sau:

    Là cụm từ được cấu tạo cố định và thể hiện một ý nghĩa hoàn chỉnh.

    Là những câu nói ngắn gọn, có vần điệu và được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm sống thực tế của người dân.

    • Chưa diễn đạt trọn vẹn một ý mà chỉ đề cập đến như một khái niệm.
    • Thành ngữ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, thường là một vế câu được dùng để tạo câu hoặc chen thêm vào các câu nói.

    Ví dụ: Chúc cậu “mẹ tròn con vuông”.

    • Diễn đạt trọn vẹn một ý. Đó có thể là lời đánh giá, sự nhận xét hay một kinh nghiệm sống, một lời khuyên,… nhằm khuyên răn và hướng dẫn con người cách sống, cách ứng xử đúng đắn.
    • Tục ngữ thuộc lĩnh vực văn học, được dùng độc lập.

    Ví dụ: “Thất bại là mẹ thành công”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ 2022
  • Sự Khác Biệt Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Khi Người Việt “ném Đá” Áo Dài Việt
  • Sự Khác Biệt Giữa Data Analyst Và Business Analyst
  • Sự Khác Biệt Giữa Công Nghệ Và Khoa Học Dữ Liệu Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống, Phong Tục Và Văn Hóa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điểm Giống Nhau Kỳ Lạ Giữa Đức Phật Và Chúa Giê
  • Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ Là
  • Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ
  • Sự Khác Nhau Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý ⋆ Onetech Blogs
  • Sứ Mệnh Của Quân Đội Và Công An Nhân Dân Là Gì?
  • Sự khác biệt giữa truyền thống, phong tục và văn hóa là gì?

    A2A;

    Phong tục và truyền thống.

    Phong tục hôm nay là truyền thống của ngày mai. Cả hai từ có thể được sử dụng như từ đồng nghĩa khi chúng nhấn các bối cảnh tương tự. Mặc dù cả hai không giống nhau. Giải thích về ý nghĩa của Tùy chỉnh và Truyền thống có vẻ tương tự nhau. Một phong tục có thể là một thực hành hoặc niềm tin đã được thực hiện bởi một cá nhân hoặc một nhóm trong một thời gian dài. Chà, đó không phải là thứ có lịch sử thế hệ. Có thể có một phong tục nơi làm việc hoặc một phong tục thể chế mà chúng ta thực hành hoặc một cái gì đó mà cha mẹ chúng ta đã nói với chúng ta.

    Khi một phong tục được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có hình thức truyền thống. Do đó, truyền thống có thể được giải thích như một phong tục mà mọi người đã theo dõi trong một thời gian rất dài.

    Bắt tay

    là một phong tục đã được áp dụng ở nhiều quốc gia mặc dù cách họ thực hiện nó khác với từng quốc gia. Ví dụ: Trong

    , nó có thể được dự kiến ​​sẽ bắt tay phụ nữ đầu tiên. Dù là gì, bắt tay là một tùy chỉnh. Ở Ấn Độ,

    Nam vị

    cử chỉ thường được sử dụng ở nơi bắt tay. Nếu một người Ấn Độ gặp người nước ngoài, nếu anh ta thể hiện cử chỉ Nam vị; đó là truyền thống và thay vào đó nếu anh ấy bắt tay, đó là phong tục chúng tôi tuân theo khi gặp ai đó.

    Văn hóa

    EB Tylor đã nói, “(Văn hóa) là toàn bộ phức tạp bao gồm kiến ​​thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ khả năng và thói quen nào khác mà con người có được khi là thành viên của xã hội.”

    Đơn giản vậy thôi. Vì vậy, nếu văn hóa là não và truyền thống là tâm trí, văn hóa là cơ thể bao gồm cả và nhiều ràng buộc khác nhau khác. Khi sống trong một nhóm, con người trở thành động vật xã hội sẽ bị ảnh hưởng và định hướng phát triển một mô hình sống, suy nghĩ, hành xử tương tự khi sống trong một nhóm xã hội. Tất cả những yếu tố này có thể được gọi chung là Văn hóa. Đó là một mô hình của cuộc sống bao gồm truyền thống, phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, thiên nhiên và nhiều thứ khác. Chúng tôi thậm chí phát triển các nền văn hóa như văn hóa nơi làm việc yêu cầu chúng tôi tuân theo các quy định, quy tắc, phong tục của họ và một truyền thống phát triển.

    Một phong tục (còn được gọi là truyền thống) là một luật hoặc quyền không được viết và có trong thực tế từ rất lâu và được tổ tiên của chúng ta đưa ra. Đó là điều mà rất nhiều người làm, và đã làm trong một thời gian dài.

    Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hiến pháp được viết. Nhưng hiến pháp Anh là bất thành văn. Nó dựa trên phong tục và truyền thống cũng như các tập quán trong quá khứ. Không có nơi nào đề cập đến Thủ lĩnh của đảng đa số sẽ là Thủ tướng ở Anh. Nhưng thực tế làm cho nó như vậy và dựa trên thực tế mặt đất, vì chính phủ phải chịu trách nhiệm chung và nghiêm khắc đối với Quốc hội (Hạ viện).

    Văn hóa của người dân thường giống nhau ở một quốc gia. Hầu hết họ thuộc các tôn giáo tương tự hoặc tương tự như trường hợp với người Ấn giáo, Phật giáo, Jains và Sikh ở Ấn Độ. Họ có những nơi thờ cúng chung cũng như các phong tục và truyền thống tương tự. Cũng như vậy với người Hồi giáo Sunni và Shia và Công giáo và Tin lành giữa các Kitô hữu ở các quốc gia khác trên thế giới. Ngay cả người Ấn giáo và Hồi giáo cũng tôn thờ ‘Satyapir’ ở nhiều vùng của Đông Ấn Độ. Điều này là do hội nhập văn hóa trong một khoảng thời gian. Gần nhà, Đông Pakistan cũ đã tách ra khỏi Pakistan để thành lập quốc gia mới Bangladesh. Điều này về cơ bản là do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ giữa Tây và Đông Pakistan ngoài lý do chính trị. Trước khi Anh thống nhất Ấn Độ, Ấn Độ được chia thành nhiều vương quốc với nhiều ngôn ngữ. Tuy nhiên, văn hóa Ấn Độ là một quốc gia vì hầu hết mọi người thực hành cùng một truyền thống, phong tục và tôn giáo.

    Để kết luận văn hóa dựa trên các thực tiễn trong quá khứ đã trở thành một truyền thống hoặc tập quán theo thời gian. Văn hóa của những người khác nhau bao gồm các truyền thống và phong tục chung của họ.

    Truyền thống có thể có hai ý nghĩa. Nó có thể đề cập đến một cái gì đó đã trở nên phổ biến lặp đi lặp lại và tiếp tục xuống dòng như là kết quả của các hành vi học được lịch sử. ví dụ. Giáng sinh và Lễ Tạ ơn có thể được coi là được tổ chức theo truyền thống (gia đình / đất nước / đức tin của chúng tôi .. đã tổ chức lễ kỷ niệm những bữa tiệc này. Hoặc bạn có thể tranh luận rằng chúng tôi chỉ đơn giản là không thể làm những gì chúng tôi thích bởi vì đó sẽ là điều không thể điều chỉnh được. đã được thực hiện để chống lại những gì mọi người đã quen với … và sự không chấp nhận của chúng tôi về nó là mở và dứt khoát.

    Một nền văn hóa sẽ định nghĩa một nhóm theo cách tổng quát hơn như là một kỳ vọng chung về một bản sắc nhóm nhất định. Do đó, bạn có thể tham khảo một nhóm văn hóa châu Âu của người Hồi giáo hoặc một nền văn hóa châu Phi, và ngay lập tức nó sẽ gợi lên những kỳ vọng nhất định để nếu bạn gặp ai đó từ nền văn hóa đó, bạn sẽ biết vì họ đáp ứng những mong muốn đó, và sau đó sẽ có ảnh hưởng tối thiểu hoặc giảm bớt của các nền văn hóa khác.

    Điều quan trọng là phải nhận ra rằng, những người đã từng có các nhóm văn hóa được xác định rõ ràng trên thế giới, ngày nay, người và các nhóm đã trở nên lẫn lộn như một món salad trái cây và trong khi những đặc điểm nhất định có thể được xác định, thì đó không phải là lâu dài – và – đã từng như vậy. Các dân tộc đã trở thành những người du mục và những người di cư và những người khác trốn thoát chính trị vì áp lực hoặc áp lực kinh tế hoặc chính trị và chắc chắn họ đã được hòa nhập và tiếp thu vào các nền văn hóa khác để bây giờ mọi người đều là một người xám và không có cùng một sự tách biệt hay định nghĩa. ít phân biệt đối xử.

    Thường thì người già là người mang truyền thống, văn hóa và phong tục nếu không sẽ bị mất! Một ví dụ nổi tiếng là từ Nga, khi được Cộng sản tiếp quản, đã nghĩ rằng họ có thể xóa bỏ văn hóa Kitô giáo bằng cách phá hủy các phong tục và truyền thống của nó và vì vậy họ đã phá vỡ các nhà thờ và các tổ chức tôn giáo truyền thống, nhưng họ đã không tính đến việc tất cả được lưu trữ lên với Grannies! Tôi tập hợp lại rằng chính họ là người duy trì các phong tục và truyền thống cũ để họ không bao giờ bị mất.

    Văn hóa có thể được định nghĩa là một khía cạnh rộng lớn hơn bao gồm cuộc sống của con người bao gồm ngôn ngữ, tôn giáo, khiêu vũ, âm nhạc, kiến ​​trúc, thực phẩm và phong tục có thể khác nhau từ nơi này đến nơi khác.

    Truyền thống là các thuộc tính độc đáo đã được truyền qua thế hệ này sang thế hệ khác xác định lối sống của người dân. Trong truyền thống Ấn Độ là nam vị, tilak, ăn chay, chạm chân, bindii vv

    Đồ họa này tóm tắt sự khác biệt. Một phong tục có thể là một phần của truyền thống thường là một phần của văn hóa. Tất nhiên, có những truyền thống và phong tục bao trùm một số nền văn hóa chứ không phải những nền văn hóa khác, như bắt tay như một lời chào. Và làm thế nào để chúng ta xác định văn hóa của người Viking? Có một người Mỹ người Mỹ khác với một nền văn hóa người Tây Ban Nha không? Canada có văn hóa riêng không? Các nhóm chủng tộc người dân tộc và dân tộc Hồi giáo có văn hóa riêng của họ hay họ là một phần của Văn hóa Hoa Kỳ lớn hơn? Vì vậy, trong văn hóa của thành phố, có rất nhiều biến thể.

    Ví dụ, trẻ em ở một độ tuổi nhất định nhìn trực tiếp vào người lớn và giao tiếp bằng mắt có thể được coi là một dấu hiệu của sự tôn trọng trong một số nền văn hóa (hành vi chú ý) so với hành động tương tự được hiểu là sự thách thức, trong khi nhìn ra xa hoặc nhìn xuống là dấu hiệu của sự trì hoãn hoặc sự tôn trọng.

    Khi nào và làm thế nào mọi người cười và cười cũng được giải thích khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau.

    svcministry.org © 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Getting Started Trang 38 Unit 4 Sgk Anh 8 Mới, Viết C (Custom
  • Phân Biệt Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Trường Đại Học Và Cao Đẳng Cộng Đồng Tại Mỹ
  • Khác Biệt Giữa Môi Trường Học Ở Phổ Thông Và Đại Học
  • Sự Khác Biệt Về Môi Trường Học Giữa Học Sinh Và Sinh Viên
  • Câu 1 Phân Biệt Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính. Ý Nghĩa Của Chúng Với Quản Lý Và Đời Sống
  • Thói Quen Dân Gian: Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống Và Phong Tục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Tập Quán Là Gì?
  • Phong Tục, Tập Quán Và Áp Dụng Tập Quán Trong Công Tác Xét Xử Án Dân Sự
  • Phong Tục Và Hủ Tục 2022
  • Miền Bắc Và Miền Nam Thái Lan Khác Biệt Như Thế Nào?
  • Pr Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Pr Và Quảng Cáo
  • Trong cuộc sống của mỗi người, có những loại hành vi được thiết lập có thể áp dụng cho một tình huống cụ thể – thói quen. Nếu thói quen trở thành tài sản của một nhóm xã hội, chúng được gọi là phong tục. Phong tục, cố thủ trong lịch sử, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được chuyển thành truyền thống. Các truyền thống, chứa đầy ý nghĩa thiêng liêng, trở thành các nghi thức và các hành động mà chúng được thực hiện là các nghi thức. Có rất nhiều điểm tương đồng giữa các khái niệm quen thuộc như vậy quen thuộc với mọi người, nhưng khi xem xét kỹ hơn, bạn có thể thấy rằng sự khác biệt giữa truyền thống và tập quán không chỉ trong thời gian tồn tại.

    Truyền thống là gì

    Ban đầu, từ “truyền thống” có nghĩa là “truyền thống”. Ngày nay, truyền thống được gọi là một hiện tượng xã hội phản ánh kinh nghiệm cộng đồng, một hệ thống hành động tiêu chuẩn và định kiến ​​hành vi đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một thời gian dài.

    Truyền thống dựa trên nhu cầu của cuộc sống trong các điều kiện lịch sử cụ thể và được duy trì cho đến khi chúng đáp ứng nhu cầu của một nhóm người nhất định. Một tính năng quan trọng của hiện tượng này là tính phổ quát. Truyền thống thuộc về tất cả mọi người cùng một lúc và không ai cùng một lúc. Họ có thể được tôn trọng hoặc không gắn liền với bất kỳ giá trị. Tuy nhiên, chúng là một phương tiện mạnh mẽ để tác động đến mọi người – để định hình suy nghĩ của họ, chẳng hạn như hành vi. Bảo tồn truyền thống được đảm bảo bởi sức mạnh của dư luận.

    Ba loại truyền thống được phân biệt tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu của họ – dân tộc (văn hóa dân gian), xã hội và quốc gia. Nhóm đầu tiên gắn liền với nghệ thuật dân gian, chủ yếu là hàng thủ công. Truyền thống dân tộc là nhằm mục đích hình thành và rễ trong tâm trí của người dân tin tưởng vào sự vĩ đại của người dân của họ, ý nghĩa thế giới của họ và lịch sử vẻ vang. Xã hội không gắn liền với một quốc tịch cụ thể – chúng có thể là kết quả của sự pha trộn của các nền văn hóa thế giới khác nhau.

    Tùy chỉnh như một hiện tượng xã hội

    Tùy chỉnh là một khái niệm thực tế. Đây là một hành động lặp đi lặp lại, đặc trưng của một xã hội, nhóm xã hội nhất định. Việc thực hiện nó là một quy tắc bất thành văn, điều chỉnh các biểu hiện của con người trong cuộc sống công cộng, được khuyến nghị tuân theo.

    Phong tục đã hình thành trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống con người. Họ có thể là văn hóa và tôn giáo, gia đình hoặc chuyên nghiệp. Trong một số trường hợp, việc tuân thủ được coi là bắt buộc. Mặt khác, nó được cho là sử dụng các biện pháp trừng phạt không chính thức – không chấp thuận, kiểm duyệt, đôi khi là ép buộc.

    Đặc điểm chung của thói quen dân gian

    Truyền thống và phong tục phần lớn tương tự nhau. Tất cả chúng là những cách truyền tải kinh nghiệm cộng đồng được tích lũy bởi các thế hệ trước, xảy ra với sự trợ giúp của những hình ảnh sống động, dễ nhớ và dễ hiểu, thông qua việc thực hiện các hành động tượng trưng có điều kiện.

    Cả truyền thống và phong tục không phải là hiện tượng cá nhân. Họ không tồn tại mà không có sự hỗ trợ và chấp thuận của một nhóm người.

    Cả hai hiện tượng thể hiện mối liên hệ với tổ tiên, tôn trọng di sản, đoàn kết với hàng xóm.

    Mặc dù thực tế rằng sức mạnh và chiều sâu của thói quen tập thể là minh chứng cho văn hóa của người dân, đôi khi sự tồn tại của họ không chỉ trở nên vô dụng mà còn cản trở sự phát triển của cộng đồng.

    Sự khác biệt giữa truyền thống và phong tục

    Sự thay thế lẫn nhau của các khái niệm trong cuộc sống hàng ngày, nghiên cứu của các nhà văn hóa, sử gia và nhà dân gian – tất cả đều nói lên sự phụ thuộc của các hiện tượng. Để phân biệt giữa chúng, bạn cần biết các tiêu chí dễ thực hiện nhất:

    • Ứng dụng thực tế. Tùy chỉnh là, trước hết, hành động có mục đích.Nó có một ý nghĩa cụ thể trong một tình huống thực tế cuộc sống. Không giống như phong tục, truyền thống chủ yếu là thông tin.
    • Lĩnh vực thâm nhập. Do ý nghĩa thực tế của nó, tùy chỉnh có ứng dụng rộng hơn và thường xuyên hơn so với truyền thống.
    • Sự phức tạp của hiện tượng. Tùy chỉnh, không giống như truyền thống, là một thói quen đại chúng đơn giản, không phải là một hoạt động phức tạp.

    Cố gắng đưa ra những ví dụ cụ thể về sự khác biệt giữa truyền thống và phong tục, một số nhầm lẫn có thể được thực hiện – bởi vì tập quán của một nhóm xã hội có thể đã thuộc về truyền thống của một nhóm khác. Một minh họa rõ ràng là tình huống trừu tượng sau đây.

    Ivan là người đứng đầu gia đình và là người lãnh đạo trong nhóm bạn của anh ấy. Anh ta có thói quen thường xuyên gãi đầu sau tai phải. Tất cả người thân và bạn bè của Ivan cũng bắt đầu làm như vậy – điều này trở thành phong tục của nhóm xã hội này. Con trai và con gái, cháu trai của Ivan, con của bạn bè cũng vậy, gãi đầu bên phải của chúng. Custom đang trở thành một truyền thống trong vòng tròn của họ. Cháu trai của Ivan, Yegor, nói rằng gãi đầu sau tai phải là cần thiết để bảo vệ bản thân khỏi con mắt xấu xa của những kẻ xấu. Bây giờ đây là một nghi thức. Cháu trai của Yegor, Vasily, tuyên bố rằng chỉ bằng cách gãi phần bên phải phía sau đầu bằng tay trái, bạn có thể tự bảo vệ mình khỏi thiệt hại – bây giờ đây là một nghi thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Nhà Truyền Thống Thái Lan Và Việt Nam
  • Sự Khác Nhau Trong Phong Tục Ăn Mừng Năm Mới Giữa Châu Á Và Châu Âu
  • Phân Biệt Truyền Thông Và Pr
  • Sự Khác Nhau Giữa Quan Hệ Công Chúng (Public Relations) Và Quảng Cáo (Advertising)
  • Khác Biệt Giữa Marketing Và Pr
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Các Con Đường C3,c4 Và Cam?
  • Phân Biệt Rạch Ròi Giữa Từ Láy Và Từ Ghép Trong Tiếng Việt Lớp 4
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy
  • Bài “Bàn về thành ngữ, tục ngữ” của Lê Xuân Mậu trong tạp chí Ngôn ngữĐời sống số 5 (91) – 2003, tác giả viết: “Với những đơn vị “lưỡng tính” thực ra khó xác định được khởi nguồn của nó là thành ngữ hay tục ngữ, gọi tất cả là “thành ngữ bị tục ngữ hóa” có thể là không bao quát mọi trường hợp…”.

    Theo chúng tôi nghĩ thành ngữ và tục ngữ không thể “lưỡng tính”, không thể là một câu vừa là tục ngữ vừa là thành ngữ được, cũng không thể nói “thành ngữ bị tục ngữ hóa” và càng không thể như Phạm Thuận Thành cho (theo Lê Xuân Mậu) tục ngữ không thể có nghĩa bóng, chỉ có thành ngữ mới có nghĩa bóng. Nói như vậy là không có căn cứ, phiến diện, thiếu thuyết phục.

    Theo chúng tôi, muốn phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, phải có cơ sở khoa học, có tiêu chí để phân định.

    Đầu tiên xin nói về tục ngữ: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, gọn sắc, xuôi tai, diễn đạt trọn vẹn một ý mà nội dung thuộc về những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân. Tục ngữ là một phán đoán, chẳng hạn “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Còn thành ngữ chỉ là một cụm từ (cụm từ cố định) diễn đạt một khái niệm một cách có hình ảnh.

    Xét về mặt ngữ pháp thì tục ngữ là một câu, là một phán đoán, còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu. Xin nêu ví dụ:

    Tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”.

    Thành ngữ “Tôi chúc chị “Mẹ tròn con vuông”

    Xét về mặt ý nghĩa thì tục ngữ diễn đạt một ý trọn vẹn, là một phán đoán, còn thành ngữ diễn đạt một khái niệm – ngang một từ, một cụm từ.

    Nộidung của tục ngữ thuộc về đúc rút kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội, chẳng hạn đúc rút về kinh nghiệm canh tác: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

    Còn thành ngữ là một hình ảnh sinh động, biểu cảm, giàu tính hình tượng. Thành ngữ thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hay nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn: “Chân cứng, đá mềm” (tu từ hoán dụ).

    “Kiến bò miệng chén (tu từ ẩn dụ).

    Nói tục ngữ không có nghĩa bóng là sai. Đa số tục ngữ có hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) mà nghĩa bóng là thông báo chủ yếu của tục ngữ. Chẳng hạn câu “Có sừng thì đừng hàm trên”. Nghĩa đen nói về hình ảnh con trâu, nghĩa bóng (nghĩa chính) nói về quy luật phân phối tự nhiên và xã hội, về tính tương đối của mọi sự vật hiện tượng đời sống. Một số câu tục ngữ chỉ có nghĩa đen như:

    Chuồn chuôn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm

    Câu tục ngữ trên đúc rút kinh nghiệm về dự báo thời tiết của nhân dân.

    Thành ngữ mang tính biểu trưng, khái quát, cô đọng và tính hình tượng bóng bẩy. Thực ra tính hình tượng và tính biểu trưng là những đặc điểm có quan hệ mật thiết với nhau trong thành ngữ. Do đó thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào trong lời nói, chẳng hạn: Tôi mong anh đi “chân cứng đá mềm” tức mong anh đi mạnh khoẻ.

    Một điều đáng lưu ý nữa là: Tục ngữ thường dùng độc lập vì nó đã thành câu, đã diễn đạt một ý trọn vẹn. Chẳng hạn người ta thường nhắc nhau:

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    Còn thành ngữ chưa thành câu chỉ là một cụm từ (cụm từ cố định) chỉ là một thành phần của câu nên người ta thường dùng chêm xen trong câu nói. Chẳng hạn: Chúng ta không nên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” mà mất đoàn kết hay Anh cũng như “kiến bò miệng chén” thôi.

    Tóm lại tục ngữ là một câu nói, diễn đạt một ý trọn vẹn. Tục ngữ thường là những câu đúc rút kinh nghiệm về cuộc sống, về thiên nhiên – xã hội. Tục ngữ thường được dùng độc lập, còn thành ngữ là một ngữ (cụm từ) cụm từ cố định, là một thành phần câu, thường được dùng chêm xen trong câu nói. Thành ngữ là một hình ảnh giàu tính hình tượng, giàu tính biểu cảm.

    Chúng tôi xin có một số ý kiến nhỏ mong góp thêm ý cùng bàn luận về thành ngữ, tục ngữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Some, Many, Much, Any, A Lot Of, Lots Of, Few, A Few, Little And A Little
  • Cách Phân Biệt Some Và Any Trong Tiếng Anh ‘chuẩn Nhất’
  • Cách Phân Biệt Son Mac Chính Hãng Với Son Mac Fake
  • Review Son Mac Ruby Woo Mẫu Mới Lên Màu Như Thế Nào?
  • Son Mac Chính Hãng Giá Bao Nhiêu
  • Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Public Administration Là Gì? Điểm Khác Của Hành Chính Công Với Tư
  • Sự Khác Biệt Giữa Hành Chính Công Và Tư Nhân
  • Sự Khác Nhau Giữa Hộ Chiếu Và Visa?
  • 1. Tục ngữ và Thành ngữ:

    – Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm,

    một luân lý, có khi là một sự phê phán.

    – Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người

    đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn

    Về hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.

    Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.

    Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em.

    Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”,

    “Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”….

    đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”…

    đều là tục ngữ.

    Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu

    rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ

    (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).

    Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những

    câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự

    nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một

    số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội,

    hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ :

    “Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi“, thì ” xỏ chân lỗ mũi ” là thành ngữ.

    2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Hát mừng, hát chào

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoán Dụ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Hoán Dụ Là Gì? Các Kiểu Hoán Dụ? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Sự Khác Nhau Giữa Dung Tích, Xi Lanh Và Công Suất?
  • Bàn Về Khái Niệm ‘dư Luận Xã Hội’
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Phiên Dịch Và Biên Dịch Viên
  • Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • So Sánh Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại
  • Sự Khác Nhau Giữa Notepad, Wordpad Và Word
  • Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Các Xã Hội Ở Nông Thôn Và Thành Phố Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Thành Thị, Ngoại Ô Và Nông Thôn Là Gì?
  • 1. Tục ngữ và Thành ngữ:

    – Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm,

    một luân lý, có khi là một sự phê phán.

    – Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người

    đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn

    Về hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.

    Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.

    Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em.

    Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”,

    “Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”….

    đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”…

    đều là tục ngữ.

    Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu

    rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ

    (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).

    Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những

    câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự

    nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một

    số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội,

    hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ :

    “Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi“, thì ” xỏ chân lỗ mũi ” là thành ngữ.

    2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Hát mừng, hát chào

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Khi Người Việt “ném Đá” Áo Dài Việt
  • Sự Khác Biệt Giữa Data Analyst Và Business Analyst
  • Sự Khác Biệt Giữa Công Nghệ Và Khoa Học Dữ Liệu Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Hệ Thống Olap Và Oltp?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phở Và Hủ Tiếu 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phở 3 Miền
  • Phân Biệt Lan Phi Điệp Và Lan Trầm Hình Ảnh Đẹp Chi Tiết
  • 5 Khác Biệt Giữa Lan Var Và Lan Cấy Mô
  • Tất Tần Tật Về Phong Lan Phi Điệp
  • Dân Chơi Tiết Lộ: 5 Khác Biệt Giữa Lan Var Việt Và Lan Cấy Mô Đài Loan
  • Phở bò

    Ít ai biết, trong các món ăn về nước thì phở là món cực công và tốn nhiều gia vị nhất. Phở ở Việt Nam được chia ra làm hai kiểu riêng biệt cho thích hợp với khẩu vị và sở thích ăn uống khác nhau của từng miền. Kiểu truyền thống thì có lẽ phải nói đến phở Bắc, với thành phần chính là nước dùng siêu chất lượng được nấu từ xương bò và tá các loạt gia vị chuyên dụng cho phở.

    Ngoài ra còn có bánh phở trắng mềm (một số nơi khi ăn vào có cảm giác hơi dai nhưng các bạn coi chừng vì đó là do người ta sử dụng hoá chất formon tẩm ướp rất nguy hại), còn ngon nhất là nạm bò và thịt tái. Đặc biệt, người Hà Nội còn có khoái khẩu là món phở Gà với thịt Gà là chính. Kèm theo những thành phần chính đó thì người dân ở đây cũng hay dùng thêm món trứng chần làm” phụ kiện” thêm cho tô phở vốn đã chất lại càng thêm chất, hehe…

    Phở bò miền Nam nè

    Ngoài các thành phần chính như phở Bắc thì phở ở đây còn có thêm nhiều loại bò khác nữa, như là: bắp bò, gân bò (có cả mềm và cứng), tuỷ bò, óc bò… (có nơi còn có cả bò viên- một dạng thịt bò xay, trộn bột và hấp chín- nữa chứ). Gia vị để thực khách tự làm thì đã có tương đen, tương đỏ, chanh và ớt tươi cắt lát. Để đỡ ngán vì một bát phở toàn chất đạm, họ cho thêm rau và già đỗ vào (Điều này đã giúp món phở miền Nam ghi thêm điểm cho mình với những người thích ăn thực vật hơn động vật.)

    Tô to thế này mà có 20K thôi

    Có một số quán khác ở Sài Gòn mà các bạn cũng nên ăn thử: phở Hoà, phở Ngân (Pauster), phở Hùng (Nguyễn Trãi), phở Cao Vân (Mạc Đĩnh Chi), phở Quyền hoặc Trang (Phan Đang Lưu), phở Hiền Văn Hiến (Phú Nhuận), phở Lệ… Bình dân một chút thì có phở sáng ở đầu hẻm nhà thờ Bình Hoà (Nơ Trang Long, Bình Thạnh)

    Hủ tiếu Nam Vang

    Còn một món nữa, dạng như phở nhưng khác thành phần, gia vị và xuất xứ. Đó là Hủ Tiếu Nam Vang, một món khoái khẩu của miền Nam, được du nhập từ Campuchia, món mà ai ai cũng thích. Hủ tiếu là cọng phở dai, cứng được chần cho chính mềm rồi bỏ vào tô. Thêm thịt bằm, trứng chim cút, tôm luộc, gan và thịt heo, sườn(xương) heo nữa là thành một món ngon hương vị độc đáo. Hủ tiếu khác phở ở chỗ thành phần chính của nó đa số làm từ thịt heo (còn phở là thịt bò hoặc gà). Và hơn nữa, hủ tiếu còn được chia ra làm 2 dạng là “khô” và” ướt”. Một tô hủ tiếu khô thì gốm các thành phần như đã nêu trên, rồi được trộn với một hỗn hợp gia vị như xì dầu, tiêu, sốt… và tất nhiên không thể thiếu hành phi, hành lá. Ngoài tỏi và ớt ngâm chua, khách có thể cho thêm tương ớt, chanh và nước tương vào cho hợp khẩu vị của chính mình (nhưng thường thì nó đã được trộn đều và đủ rồi). Còn hủ tiếu ướt thì có nước lèo trong vắt và vị hơi ngọt. Nước dùng cho hủ tiếu ướt được hầm từ xương heo là chính, có vài chỗ thêm khô mực nướng bỏ vào để tăng độ ngọt thật cho nồi nước lèo của mình.

    Hủ tiếu thịt heo ngon cực

    Cũng như món phở miền Nam, hủ tiếu dù khô hay ướt thì cũng có riêng 1 đĩa rau gồm: giá đỗ, tần ô, salad… rất màu sắc và hấp dẫn.

    Một số quán hủ tiếu ngon: chất lượng một chút thì các bạn ăn ở quán Nhân hay Quỳnh (Nguyễn Trãi), Hồng Phát (Võ Văn Tần – quận 3), Ty Lym (Huỳnh Mẫn Đạt – quận 5), Cả Cần (góc Hùng Vương – Nguyễn Tri Phương), Tân Lạc Viên (Nguyễn Trãi), Liến Húa (An Dương Vương)… Bình dân thì đã có: quán lề đường trong hẻm nhỏ ở đường Võ Văn Tần, hẻm chùa Viên Quang ở đường Phan Văn Trị (Bình Thạnh)…

    Tuy nhiên, với giá cả từ 13k đến 40k/tô của những quán trên thì không phải teen nào cũng có thể ăn thường xuyên được. Vì vậy, một số người miền Trung vào Nam lập nghiệp đã cho ra đời món hủ tiếu bình dân (hủ tiếu gõ) đúng chất với: hủ tiếu, nước lèo và thịt heo cắt lát siêu mỏng. Dù hạn chế nhiều thứ nhưng hủ tiếu gõ lề đường vẫn thu hút sinh viên, học sinh và nhất là người lao động nghèo với giá chỉ từ 5k đến 8k/tô.

    Riêng với loại quán cóc này thì chúng ta có thể dễ dàng thấy ở các góc đường, hàng hiên trên mọi ngả đường ở Sài Gòn, từ khu trung tâm đến cả vùng ven. Với điểm trừ về vệ sinh thì có vẻ như tất cả những điểm còn lại về giá cả, phục vụ nhanh lẫn vị trí thoáng mát đã khiến hủ tiếu gõ tạp được chỗ đứng cho riêng mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Post Và Put
  • Sự Khác Nhau Giữa Bộ Bài Tarot, Oracle Và Lenormand
  • Sự Khác Biệt Giữa Bài Tarot Và Bài Oracle?
  • Tìm Hiểu Những Điểm Khác Nhau Giữa Tarot Và Bài Oracle
  • Bài Tarot, Oracle Và Lenormand Sự Giống Và Khác Nhau Thế Nào