Sự Khác Nhau Giữa Virus, Vi Khuẩn Và Kí Sinh Trùng

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn, Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa
  • So Sánh Nên Mua Vario 150 Hay Vario 125Cc Tại Các Đại Lý Honda Tư Nhân
  • Windows 32Bit Và 64Bit Là Gì? Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Chúng
  • Xăng A95 Và A92 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Api Và Web Service
  • Theo Business Insider, virus tồn tại từ rất lâu. Virus xuất hiện đầu tiên và có thể là tổ tiên xa xưa nhất của con người. Virus giúp xây dựng bộ gene của tất cả các loài, bao gồm con người. Bộ gene của chúng ta chứa đến 50% ADN từ retrovirus (virus chứa vật chất di truyền là phân tử ARN. Ngoài ra, virus có thể mở đường cho việc hình thành nhiều enzyme sao chép ADN, đóng vai trò thiết yếu cho sự phân chia và phát triển của tế bào.

    Virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm đối với con người và động vật, một số loại thậm chí còn có khả năng lây bệnh từ động vật sang người và ngược lại. Vòng đời virus có hai giai đoạn. Khi chúng ở ngoài tế bào, chúng được gọi là những hạt virion vô sinh. Khi lọt vào tế bào, chúng lợi dụng bộ máy của tế bào để nhân bản. Một số nhà khoa học cho rằng, virus tồn tại ở dạng hữu sinh khi ở trong tế bào.

    Dù tiếp xúc với các phân tử virus hàng ngày, không phải lúc nào chúng ta cũng nhiễm bệnh, do hệ miễn dịch có thể giải quyết phần lớn các loại virus này. Chúng ta chỉ ốm khi lần đầu tiên tiếp xúc với virus mới hoặc bị phơi nhiễm với một số lượng lớn virus. Đó là lý do các cơ quan y tế luôn khuyến khích tiêm chủng cúm định kỳ hàng năm. Các chủng cúm thông thường có thể thay đổi mỗi năm, và khả năng miễn dịch từ lần nhiễm bệnh trước đó hoặc qua vắc-xin không thể bảo vệ chúng ta trong trường hợp tiếp xúc với chủng đã biến đổi.

    Khả năng lây lan và tái tạo nhanh chóng làm cho một số loại virus trở thành tác nhân gây bệnh đáng sợ, đến mức được coi là vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ngoài ra, một số virus giết người một cách từ từ, điển hình là virus bệnh dại với thời gian ủ bệnh dài (1 – 3 tháng). Tuy bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, khi các triệu chứng xuất hiện, người bệnh gần như chắc chắn tử vong.

    Vắc-xin là cách phòng chống virus tốt nhất. Vắc-xin kích hoạt phản ứng miễn dịch, cho phép cơ thể phản ứng hiệu quả hơn khi nhiễm bệnh. Vắc-xin cũng làm giảm độ nguy hiểm của nhiều loại virus có thể gây chết người như bệnh sởi, rubella, cúm và bệnh đậu mùa. Ngoài ra, rửa tay và che mũi khi hắt hơi là những cách giúp hạn chế virus lây lan.

    Một số vi khuẩn có lợi cho chúng ta, cung cấp hệ thống bảo vệ chống các tác nhân gây bệnh và giúp ích cho quá trình tiêu hóa đường ruột. Tuy nhiên, một số loại không lành tính như vậy. Các loại vi khuẩn chuyên gây bệnh phổ biến là nhiễm khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus), ngộ độc (Clostridium botulinum), bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae), loét dạ dày (Helicobacter pylori), bạch hầu (Corynebacterium diphtheriae) và bệnh dịch hạch (Yersinia pestis).

    Độc tố vi khuẩn sản xuất sẽ xâm nhập vào các tế bào hoặc mạch máu, hoặc cạnh tranh chất dinh dưỡng với vật chủ, từ đó dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Các phương pháp điều trị phải phụ thuộc vào cách thức vi khuẩn gây bệnh. Ví dụ, trong trường hợp ngộ độc, người mắc bệnh khi ăn phải thực phẩm nhiễm độc hoặc các bào tử vi khuẩn C. botulinum. Khi bệnh nhân hấp thụ độc tố, các triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 6 – 36 giờ. Nếu nuốt phải bào tử, các triệu chứng này chỉ xuất hiện sau một tuần.

    Chăm sóc hỗ trợ là phương pháp điều trị chính nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm các biến chứng và duy trì sức khỏe bệnh nhân. Các loại kháng sinh điều trị nhiễm trùng bằng cách tiêu diệt vi khuẩn, nhưng đối với ngộ độc, vi khuẩn khi bị tiêu diệt có thể tiết ra nhiều độc tố khiến bệnh trầm trọng hơn. Các bác sĩ điều trị độc tố bằng cách dùng thuốc kháng độc hoặc khiến bệnh nhân ói mửa. Ngày nay, do sự lạm dụng và sử dụng sai kháng sinh, vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng. Vào năm 2013, khoảng 480.000 trường hợp mắc bệnh lao kháng thuốc (MDR-TB).

    Sử dụng thay phiên các loại kháng sinh khác nhau có thể làm giảm nguy cơ kháng thuốc. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang phát triển một số phương pháp khác, như sử dụng virus kháng khuẩn phage (một loại virus giết chết vi khuẩn) hay enzyme có khả năng phá hủy bộ gene của vi khuẩn kháng thuốc. Trong thực tế, virus kháng khuẩn đang được sử dụng rộng rãi ở Đông Âu.

    Các vắc-xin dành cho vi khuẩn như vắc-xin DPT chống bạch hầu, ho gà và uốn ván đang được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, nhiều giải pháp đơn giản có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh như rửa tay đúng cách, khử trùng bề mặt các dụng cụ, sử dụng nước sạch và nấu ăn với nhiệt độ thích hợp để loại bỏ vi khuẩn.

    Ký sinh trùng kẻ ăn bám cơ thể chúng ta

    Ký sinh trùng, nhóm thứ ba trong bộ ba mầm bệnh, là tên gọi chung cho nhiều sinh vật đa dạng, sống trong hoặc trên cơ thể vật chủ và ăn bám vật chủ đó, bao gồm con người. Ký sinh trùng bao gồm sinh vật đơn bào như protozoa, hoặc sinh vật lớn hơn như giun hoặc bọ ve. Ký sinh trùng đơn bào có nhiều điểm chung với các tế bào cơ thể người hơn so với các loại vi khuẩn. Ký sinh trùng có ở khắp nơi, đóng một vai trò quan trọng và phức tạp trong hệ sinh thái.

    Ký sinh trùng cũng có thể gây ra nhiều bệnh, đặc biệt ở nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhiễm ký sinh trùng thường đi kèm điều kiện vệ sinh thiếu thốn và đói nghèo. Bệnh sốt rét cứ 30 giây lại giết chết trẻ em và 90% ca nhiễm bệnh tập trung ở châu Phi. Đây là bệnh do ký sinh trùng gây chết người nhiều nhất, dù có nhiều tiến bộ trong việc ngăn chặn bệnh dịch này. Những bệnh do ký sinh trùng phổ biến khác như bệnh Leishmaniasis, bệnh giun chỉ và bệnh phù chân voi.

    Nhiều ký sinh trùng truyền qua muỗi và các loại côn trùng. Với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, nhiều bệnh ký sinh trùng đang lan rộng đến các khu vực phía bắc.

    Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa tìm ra vắc-xin phòng bệnh ký sinh ở người, nhưng nhiều loại thuốc hiện nay có thể chống lại ký sinh trùng. Ví dụ, giải Nobel Y học 2022 được trao cho các nhà khoa học có công phát triển thuốc phòng chống ký sinh trùng (Ivermectin dùng cho giun và Artemisinin để điều trị bệnh sốt rét).

    Phương Chu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học 10
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virut
  • Sự Khác Nhau Giữa Virus
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Trùng Và Vi Khuẩn
  • Sự Khác Biệt Giữa Tivi 4K Và Tivi Full Hd
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus

    --- Bài mới hơn ---

  • Trợ Lý Và Thư Ký Giám Đốc Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Hồng Kông Và Trung Quốc
  • Đâu Là Sự Khác Biệt Giữa Son Thỏi Và Son Kem?
  • Giải Đáp Thắc Mắc Sự Khác Biệt Giữa Son Thỏi Và Son Kem
  • Sự Khác Nhau Giữa Trầm Cảm Và Tự Kỷ
  • Vậy làm thế nào để chúng có thể xâm nhập và gây bệnh cho cơ thể chúng ta và vi khuẩn và virus khác nhau như thế nào?

    Những khác biệt cơ bản

    Mặc dù đều có kích thước nhỏ bé, khả năng sinh sản nhanh, có khả năng gây bệnh trong thời gian ngắn,… nhưng vi khuẩn và virus là 2 loài hoàn toàn khác nhau. Trong khi vi khuẩn là một sinh vật tiền nhân, có cấu tạo tiền nhân thì virus chỉ là một đại phân tử nucleoprotein, có cấu tạo ở mức dưới tế bào. Vi khuẩn và virus được phân biệt bằng những đặc điểm cơ bản sau:

    Vi khuẩn và virus đều gây bệnh cho con người và hàng ngày chúng ta vẫn tiếp xúc với chúng thông qua môi trường nước, không khí, đất, bề mặt dụng cụ,… Các bệnh do vi khuẩn hay virus xảy ra rất phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi và biểu hiện các mức độ khác nhau từ nhẹ, thậm chí không có biểu hiện đến biểu hiện rất nặng. Mặc dù mọi người đã biết không ít thông tin về vi khuẩn và virus, tuy nhiên trên thực tế chúng đều không thể quan sát được bằng mắt thường, do vậy không dễ để hiểu tường tận về chúng. Vấn đề quan trọng là cần nắm được những điểm khác biệt cơ bản giữa vi khuẩn và virus.

    Hình ảnh virus Adeno.

    Vi khuẩn có thể phát hiện được trong các cơ thể sống và bên ngoài môi trường. Chúng là các vi sinh vật sống được biết đến với các tên: sinh vật nhân sơ, sinh vật đơn bào. Vi khuẩn là nhóm sinh vật đơn bào không có nhân chiếm số lượng đông đảo nhất trong sinh giới. Chúng có nhiều hình dạng khác nhau, hình que, hình cầu, hình xoắn, một số còn có lôi roi giống như chiếc đuôi giúp chúng di chuyển. Đa phần mọi người sẽ cho rằng sự hiện diện của vi khuẩn là mối hại cho con người, như việc chúng gây ra đủ thứ bệnh tật viêm nhiễm khắp các cơ quan trong cơ thể, mụn nhọt, nhiễm trùng vết thương, vết mổ… Nhưng thực tế chúng đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và môi trường sống của con người. Có hàng trăm loại vi khuẩn có lợi khác nhau sống trong đường ruột của chúng ta. Chúng giúp tiêu hóa thức ăn, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột, và còn đóng vai trò miễn dịch. Vi khuẩn ở đại tràng còn giúp tổng hợp vitamin K nữa. Các vi khuẩn trong môi trường giúp đất đai màu mỡ hơn, giúp tạo nên các loại phân bón vi sinh để cải tạo đất.

    Có một số khác biệt cơ bản giữa vi khuẩn và virus mà chúng ta cần nắm được. Kích thước của virus nhỏ hơn vi khuẩn từ 10 đến 100 lần. Không giống như vi rút chỉ được coi là các cấu trúc hữu cơ thông qua tương tác với các cơ thể sống khác để sống sót và nhân lên, vi khuẩn là các tổ chức sống có khả năng sinh sản thông qua quá trình sinh sản vô tính còn gọi là sinh sản phân đôi. Trong khi virus chỉ có vỏ protein, không có vách tế bào hay ribosom, còn vi khuẩn có ribosom và vách cứng tạo thành bởi peptidoglycan. Trong khi ARN và ADN của virus được bao trong vỏ protein, thì vật liệu di truyền của vi khuẩn lại trôi nổi trong bào tương. Bào tương của vi khuẩn được tạo thành bởi các enzyme, các chất dinh dưỡng, chất thải, và khí được bao trong vách tế bào và màng tế bào.

    Các vi khuẩn có thể đem đến lợi ích, còn các virus nhìn chung không có lợi ích gì; một số được sử dụng trong lĩnh vực công nghệ gene. Ngoài ra, một số nghiên cứu được tiến hành đã chỉ ra rằng có một loại virus đặc biệt có thể được sử dụng để phá hủy các khối u trong não. Mặc dù cả virus và vi khuẩn đều gây bệnh, tuy nhiên nhiễm trùng do vi khuẩn đa phần là nhiễm trùng khu trú tại một hay một vài vị trí trên cơ thể, trong khi virus thường gây nhiễm trùng toàn thân.

    Vi khuẩn H. pylori.

    Tiêu diệt chúng bằng cách nào?

    Vi khuẩn rõ ràng là sinh vật sống, ta có thể sử dụng cả vắc-xin và kháng sinh để phòng ngừa và tiêu diệt. Vắc-xin là chế phẩm có tính kháng nguyên, có thể là vi khuẩn và virus đã bị giảm độc lực hoặc các vi sinh vật bất hoại, đã chết hay chế phẩm từ vi sinh vật, dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động. Vắc-xin sẽ khiến hệ miễn dịch “ghi nhớ” và tạo ra kháng thể chống lại nó. Khi bạn tiếp xúc với tác nhân gây bệnh thực sự, hệ miễn dịch sẽ nhận ra và có khả năng chống lại.

    Còn kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn và để hệ miễn dịch tự xử lý. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử. Tuy nhiên, kháng sinh lại không thể tiêu diệt virus. Bởi chúng là một thứ hoàn toàn khác.

    Các bệnh gây ra do vi khuẩn phần lớn có thể điều trị được bằng kháng sinh. Tuy nhiên, kháng sinh lại chẳng diệt được virus hay giúp ích gì trong điều trị các bệnh do virus. Các thuốc kháng virus thường dùng để điều trị một bệnh cụ thể do virus và chỉ giúp làm giảm quá trình nhân lên của virus bằng cách can thiệp vào quá trình gắn vào tế bào của virus hoặc ngăn chặn vật liệu di truyền của virus bên trong tế bào chủ. Một số bệnh do virus có thể ngăn ngừa bằng vắc-xin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Work Và Job
  • So Sánh Core I5 Và Core I7 Khác Nhau Như Thế Nào
  • Sự Khác Biệt Giữa Malamute Alaska Và Husky Siberian
  • Sự Khác Biệt Giữa Ethernet Switch, Hub Và Splitter
  • Sự Khác Biệt Giữa ‘hear’ Và ‘listen’
  • So Sánh Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Virus Và Vi Khuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Windows 10 Home Và Windows 10 Pro
  • 12 Trang Web So Sánh Giá Uy Tín Và Chính Xác Nhất Năm
  • So Sánh Honda Wave Alpha Và Honda Blade Nên Mua Xe Nào?
  • Honda Wave Alpha 110, Wave Rsx Fi 110 Và Blade 110 Có Thêm Bộ Áo Mới
  • So Sánh Iphone Xr Và Xs Max: Rẻ Hơn 5 Triệu Thì Nên Chọn Máy Nào?
  • Khi bạn tìm hiểu các thông tin về sức khỏe, chắc chắn sẽ gặp khái niệm về virus và vi khuẩn. Khá nhiều người không phân biệt được virus và vi khuẩn khác nhau như thế nào. Bài viết này sẽ chỉ ra sự giống và khác nhau giữa virus và vi khuẩn, so sánh chúng và chỉ ra sự khác biệt.

    Virus là gì?

    Nhìn chung, virus là những sinh vật có hại cho sức khỏe và chúng chỉ sống và phát triển được dựa trên các tế bào sống khác. Khi ở ngoài tế bào sống, nó sẽ tự hủy diệt và không tồn tại được. Virus xâm nhập vào cơ thể người và động vật qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc bởi các lỗ hổng trên da, khiến cơ thể bị xâm nhập và gây bệnh như chúng ta thường thấy.

    Virus có kích thước nhỏ hơn vi khuẩn. Trung bình một con virus có kích thước bằng 1/100 của một con vi khuẩn.

    Vậy Vi khuẩn là gì

    Vi khuẩn là những vật thể đơn bào và chúng có mặt ở khắp mọi nơi. Vi khuẩn không hẳn là xấu và chúng được chia làm 2 loại: vi khuẩn có lợivi khuẩn có hại.

    Chỉ một giọt sữa chua có thể chữa hết đến 100 triệu vi khuẩn, vi khuẩn đóng một vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hóa của người và động vật. Không có vi khuẩn thì cơ thể không thể tiêu hóa được. Điều này cũng giải thích các hiện tượng như lá cây rụng xuống đất để lâu mủn ra, cơm và thức ăn để lâu bị thiu, xác động vật sau khi chết bị thối rữa… Tất cả đều do vi khuẩn.

    Có đến 40 triệu vi khuẩn trong một gram đất và hàng triệu tế bào trong 1 mm nước ngọt, trên trái đất của chúng ta có khoảng 5×10 30 vi khuẩn – một con số khổng lồ!

    Sự khác nhau giữa virus và vi khuẩn khi trị bệnh

    Vi khuẩn có thể là nguyên nhân gây ra một số bệnh ở con người. Ví dụ như uấn ván, thương hàn, giang mai, bệnh lao, bệnh tả… Khi con người mắc các bệnh do vi khuẩn thì bắt buộc phải dùng kháng sinh

    Còn khi chúng ta bị bệnh do virus thì không cần dùng kháng sinh vi kháng sinh vô dụng với vi rút. Một số bệnh do vi rút như bệnh viêm gan B và C, bệnh bại liệt, bệnh đậu mùa, sốt xuất huyết, cúm… Khi điều trị các bệnh do vi rút gây nên thì phải sử dụng đến các loại vắcxin.

    Cũng cần lưu ý rằng khi thời tiết trở lạnh, thay đổi mùa là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.

    Như vậy bạn đã phân biệt được sự khác và giống nhau giữa virus và vi khuẩn. Do đó để phòng tránh bệnh tật chúng ta cần thực hiện lối sống khoa học, vệ sinh cá nhân sạch sẽ cũng như môi trường sống để hạn chế tối đa nguy cơ mắc các bệnh phổ biến do virus và vi khuẩn gây nên. Đặc biệt là đối với trẻ em vì sức đề kháng của trẻ em rất yếu

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Honda City Và Toyota Vios: Sự Lựa Chọn Khó Khăn Phân Khúc B
  • So Sánh Toyota Vios G Cvt Và Honda City 1.5 Top (2020)
  • So Sánh Xe Honda City Và Toyota Vios, Gia Đình Việt Nên Mua Loại Xe Nào?
  • Hóa Ra Biết Sự Khác Nhau Giữa Thẻ Visa Và Mastercard Cũng Chẳng Để Làm Gì
  • Thẻ Mastercard Khác Gì Với Thẻ Visa? Nên Sử Dụng Loại Thẻ Nào?
  • Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Paralegals Và Trợ Lý Pháp Lý
  • Sự Khác Biệt Giữa Một Thư Ký Và Một Bộ Trưởng Là Gì?
  • 6 Sự Khác Biệt Chính Giữa Hồng Kông Và Trung Quốc Đại Lục
  • Sự Khác Biệt Giữa Hong Kong Và Trung Quốc Không Phải Ai Cũng Biết?
  • Sự Khác Biệt Văn Hóa Giữa Hồng Kông Và Trung Quốc Đại Lục Mà Người Hồng Kông Muốn Nói Đến Là Gì?
  • * Tôi nôm na hiểu rằng virus nguy hiểm hơn vi khuẩn nhưng chưa biết tường tận về hai loại “vi” gây nên dịch bệnh này. Xin quý báo giải thích. (Trần Mỹ Nữ, Thanh Khê, Đà Nẵng).

    – Khác biệt đầu tiên giữa hai loại “vi” này là về tên gọi.

    Vi khuẩn [微菌] là cách gọi Hán Nôm của bacterium (số nhiều là bacteria) – từ gốc tiếng Anh và tiếng Latinh chỉ một nhóm (giới hoặc vực) vi sinh vật nhân sơ đơn bào có kích thước rất nhỏ; một số thuộc loại ký sinh trùng. Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng. Chữ trùng tương đương với chữ khuẩn trong các cụm từ chỉ phân loại hình thái như: “Tụ cầu trùng” = “tụ cầu khuẩn”; “trực trùng” = “trực khuẩn”…

    Hình ảnh SARS-CoV-2 gây nên Covid-19 (ảnh trái) và vi khuẩn chúng tôi gây nên bệnh tiêu chảy. Nguồn: Internet

    Virus – từ gốc tiếng Pháp (trong bài này chúng tôi thống nhất dùng từ virus) là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus còn được gọi là siêu vi, siêu vi khuẩn hay siêu vi trùng. Chính cách gọi này làm nhiều người nhầm lẫn rằng “vi” trong virus và “vi” trong siêu vi, vi khuẩn, vi trùng có “họ hàng” với nhau.

    Giữa vi khuẩn và virus, về mặt kích cỡ, nguồn gốc và tác hại lên cơ thể người có sự khác biệt cơ bản.

    Virus là dạng sống nhỏ nhất và đơn giản nhất; chúng nhỏ hơn vi khuẩn từ 10 tới 100 lần. Vi khuẩn là sinh vật đơn bào sống cả bên trong lẫn bên ngoài tế bào khác. Chúng có thể tồn tại mà không cần tới tế bào túc chủ. Còn virus, chỉ có thể ký sinh nội bào, nghĩa là chúng xâm nhập vào tế bào chủ và sống bên trong tế bào. Virus thay đổi vật liệu di truyền của tế bào chủ để khiến chúng (tế bào chủ) không hoạt động bình thường và để virus tự nhân lên.

    Virus và vi khuẩn có sự khác biệt trong sinh sản.

    Virus cần tới một vật chủ sống (thực vật hay động vật) để nhân lên, trong khi hầu hết vi khuẩn có thể phát triển trên những bề mặt không có sự sống.

    Vi khuẩn có đủ bào quan (thành phần cấu trúc hợp thành tế bào) để phát triển và nhân lên và thường sinh sản vô tính.

    Ngược lại, virus thường chỉ chứa thông tin – DNA hoặc RNA, bao quanh bởi lớp vỏ protein. Chúng cần bào quan của tế bào chủ để sản sinh. Phần “chân” của virus sẽ bám vào bề mặt tế bào và rồi vật liệu di truyền bên trong virus sẽ được truyền vào tế bào. Nói cách khác, virus không thực sự “sống”, chỉ cơ bản là thông tin (DNA hay RNA) trôi nổi cho tới khi chúng gặp vật chủ phù hợp.

    Vi khuẩn là sinh vật sống nên có thể sử dụng cả vắc-xin và kháng sinh để phòng ngừa và tiêu diệt.

    Virus, về cơ bản, không phải sinh vật sống, bởi chúng cơ bản ở trong tình trạng “ngủ đông”. Khi virus xâm nhập vào cơ thể người, nó sẽ bị hệ miễn dịch tiêu diệt nếu bị nhận diện là kẻ xâm nhập trước khi tiếp xúc được với một tế bào. Nếu không bị tiêu diệt, quá trình lây nhiễm sẽ bắt đầu. Khi đó, virus chỉ hoạt động nhờ DNA hoặc RNA nên rất khó bị nhận diện. Dùng kháng sinh diệt virus cũng sẽ diệt luôn tế bào chủ.

    Vì vậy, để tiêu diệt virus, người ta sử dụng các thuốc kháng virus, chứ không phải thuốc kháng sinh. Tiêm vaccine là cách phòng, chống virus tốt nhất.

    Theo bài viết “Bác bỏ 15 hiểu lầm về virus SARS-CoV-2 và bệnh Covid-19” đăng trên Báo điện tử Dân trí (dantri.com.vn), thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng với vi khuẩn, chứ không có tác dụng với virus. Mà SARS-CoV-2 là một loại virus. Tuy nhiên nếu bạn phải nhập viện do Covid-19 gây ra bởi SARS-CoV-2 thì bạn vẫn có thể phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị các tình huống nhiễm trùng do vi khuẩn.

    ĐNCT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Trùng Do Vi Khuẩn Và Virus
  • Sự Khác Biệt Giữa Laptop Asus Core I5 Và Core I7 Là Gì
  • Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Bộ Xử Lý I5 Và I7?
  • Sự Khác Biệt Giữa Máy Tính Xách Tay I5 Và I7
  • Bạn Đã Biết? Sự Khác Biệt Giữa Các Chứng Chỉ Ielts, Toeic Và Toefl
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Nhiễm Trùng (Do Vi Khuẩn Và Virus) Là Gì?
  • Tổng Quan Về Các Loại Axit Béo Omega 3 – 6 – 9
  • Tác Dụng Của Omega 3
  • Quyền Hạn Và Quyền Lực
  • Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước
  • Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách thức chúng có thể gây hại cho con người để biết cách phòng ngừa, chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả…

    Nhiễm trùng xảy ra khi một sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể người và gây hại. Mặc dù vi khuẩn và virus đều có thể gây nhiễm trùng từ nhẹ đến nghiêm trọng, nhưng chúng là hai loại vi sinh vật hoàn toàn khác nhau. 

    Do phương pháp điều trị vi khuẩn và virus không thể thay thế cho nhau, do đó xác định rõ nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus là rất quan trọng. Chúng ta có thể gây ra tình trạng đề kháng kháng sinh nếu điều trị nhầm kháng sinh cho các trưởng hợp nhiễm virus. 

    Sự khác biệt về mặt vi sinh

    Vi khuẩn và virus quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường và chỉ có thể nhìn được dưới kính hiển vi. Chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự và thường có cùng con đường lây lan. Tuy nhiên, cấu trúc và cách tồn tại của chúng lại khác nhau.

    Virus có kích thước từ đường kính khoảng 20 đến 400 nanomet. Hàng tỷ virus có thể chỉ  vừa trên đầu của một cục pin. Virus có hình que, tròn, xoắn ốc v.v. Nó không thể tự sinh sản ngoài cơ thể sống khác. Nó chỉ là một hạt ngủ đông có chứa axit nucleic, hoặc DNA hoặc RNA, được bao quanh bởi vỏ protein và đôi khi là các chất béo gọi là lipid. 

    Vi khuẩn có kích thước lớn hơn virus từ 10 đến 100 lần. Vi khuẩn có hình dạng tương tự, nhưng nó có thể tồn tại độc lập. Vi khuẩn chỉ mang một bộ nhiễm sắc thể, chúng nhân bản với cùng một vật liệu di truyền. 

    Coronavirus được đặt tên theo hình dáng của chúng, ‘’thân răng’’ hoặc ‘’vương miện’’. (Ảnh: Pixabay)

    Vi khuẩn sống chung với con người

    Vi khuẩn tồn tại trong khắp cơ thể của chúng ta, bao gồm da, ruột và màng nhầy. Trên thực tế, cơ thể chúng ta chứa các tế bào vi khuẩn nhiều hơn ít nhất 10 lần so với tế bào của chính chúng ta. Chỉ riêng vi khuẩn trong đường tiêu hóa của con người đã bao gồm ít nhất 10 nghìn tỷ sinh vật, đại diện cho hơn 1.000 loài, được cho là ngăn chặn ruột bị các sinh vật gây bệnh xâm chiếm. 

    Đại đa số các vi khuẩn cộng sinh dai dẳng trong cộng đồng phức tạp trong và trên bề mặt cơ thể chúng ta. Trong nhiều trường hợp, các vi khuẩn có được lợi ích mà không gây hại cho chúng ta, trong các trường hợp khác, cả vật chủ và vi khuẩn đều có lợi. Ví dụ vi khuẩn giúp tổng hợp vitamin, phá vỡ thức ăn thành các chất dinh dưỡng có thể hấp thụ và kích thích hệ thống miễn dịch của chúng ta.

    Chỉ một số ít vi khuẩn gây hại khi hàng rào bảo vệ cơ thể bị phá vỡ như trầy xước, lở loét, vết thương do phẫu thuật v.v hay do hệ miễn dịch bị suy yếu. 

    Virus chính là những thực thể sinh học dồi dào nhất từ trước tới nay trên Trái Đất. Chúng có thể xâm nhiễm lên tất cả các dạng tế bào bao gồm của động vật, thực vật, vi khuẩn, vi khuẩn cổ và nấm. Tuy nhiên, những loại khác nhau của virus thì chỉ có thể lây nhiễm trên một phạm vi giới hạn những vật chủ khác nhau, và nhiều loại có tính đặc hiệu loài. 

    Một số virus, ví dụ như virus đậu mùa, chỉ có thể nhiễm vào một loài duy nhất – trong trường hợp này là con người, và vì thế chúng được nói rằng có “biên độ vật chủ” (host range) hẹp. 

    Những virus khác, ví dụ như virus dại, có thể lây lan trên nhiều loài động vật có vú, và do vậy có biên độ rộng. Virus mà chỉ lây nhiễm vào thực vật thì vô hại với động vật, và hầu hết virus mà xâm nhiễm lên các động vật khác thì vô hại với con người. 

    Tuy nhiên, khi virus “biến thể” và lây từ động vật sang người, thì chúng thường có thể gây nên các căn bệnh nguy hiểm. Ví dụ virus HIV-1 lây từ loài tinh tinh sang người, các virus trong họ Corona như SARS, MERS hay SARS-CoV 2 có nguồn gốc từ dơi v.v

    SARS-CoV, chủng Virus Corona từng gây ám ảnh cho người dân toàn cầu… (CDC)

    Cách thức xâm nhập của virus và vi khuẩn

    Virus hoạt động khi xâm nhập vào tế bào chủ thích hợp thông qua một loại chìa khóa chuyên biệt gắn trên vỏ ngoài của nó, chiếm quyền điều khiển bộ máy trao đổi chất của tế bào để tạo ra các bản sao của chính nó. Sau đó làm vỡ và thoát ra khỏi tế bào để lây nhiễm tế bào khác. 

    Tương tự muốn làm cho chúng ta bị bệnh, vi khuẩn phải gắn vào vị trí mục tiêu mà chúng đang cố gắng lây nhiễm để không bị đánh bật và nhân lên nhanh chóng. Chúng giết chết các tế bào và mô hoàn toàn, ngoài ra còn tạo ra độc tố có thể làm tê liệt, phá hủy các tế bào trao đổi chất.

    Các “ngõ vào” của vi khuẩn và virus

    Vi khuẩn và virus xâm nhập vào cơ thể người với 4 con đường tương tự nhau: 

      1. Lây qua tiếp xúc: trực tiếp với dịch cơ thể, máu, thực phẩm ô nhiễm, nước bẩn v.v. , các vết trầy xước, vết thương hở, gián tiếp qua bề mặt có chứa vi khuẩn hay virus.

      2. Qua giọt bắn có chứa virus hay vi khuẩn qua hắt hơi, ho hoặc nói chuyện. SARS, bệnh lao và cúm là những ví dụ về các bệnh lây truyền qua đường truyền giọt bắn trong không khí.

      3. Qua không khí bay hơi hoặc các hạt bụi có chứa vi sinh vật lơ lửng trong không khí trong một khoảng thời gian. 

      4. Thông qua các trung gian truyền bệnh như: muỗi, bọ chét, ve, chuột, ốc sên và chó v.v.

    Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

    Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn và virus gây nhiễm virus.

    Điều quan trọng là phải biết liệu vi khuẩn hay virus gây ra nhiễm trùng, bởi vì phương pháp điều trị khác nhau. Trong một số trường hợp, có thể khó xác định liệu vi khuẩn hoặc virus gây ra các triệu chứng của bạn. Nhiều bệnh – như viêm phổi, viêm màng não và tiêu chảy – đều có thể do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

    Một số ví dụ về nhiễm virus

    • Cảm lạnh thông thường, chủ yếu gây ra bởi coronavirus và adenovirus.

    • Viêm não và viêm màng não, do enterovirus và virus herpes gây ra.
    • Mụn cóc và nhiễm trùng da, gây ra bởi virus papilloma ở người (HPV) và virus herpes simplex (HSV).
    • Các virus khác bao gồm: Virus Zika, virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV),  viêm gan C, bệnh bại liệt, cúm, Bệnh sốt xuất huyết, Cúm lợn, Ebola, Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV), SARS-CoV 2 v.v

    Một số bệnh do vi khuẩn gây chết người. Một số ví dụ về các bệnh gây ra do vi khuẩn như: dịch tả, bạch hầu, kiết lỵ, bệnh dịch hạch, viêm phổi, bệnh lao, thương hàn, sốt phát ban v.v 

    Để phân biệt nhiễm khuẩn do vi khuẩn và do virus, các bác sĩ cần khám bệnh và có thể cần các xét nghiệm sinh hóa và lấy mẫu nước tiểu, phân hay máu của bạn để làm xét nghiệm “nuôi cấy” để có các khuẩn lạc xác định được dưới kính hiển vi.

    Điều trị nhiễm vi khuẩn khác với virus

    Các bác sĩ thường điều trị nhiễm vi khuẩn bằng kháng sinh. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn hoặc làm ngừng sự nhân lên của chúng. Nhưng từ khi vấn đề kháng kháng sinh gia tăng, kháng sinh có lẽ chỉ nên được kê đơn cho các nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Hãy nhớ rằng: thuốc kháng sinh không có tác dụng đối với nhiễm virus.

    Việc điều trị nhiễm virus có thể bao gồm:

    • Điều trị triệu chứng: chẳng hạn như mật ong để giảm ho và chất lỏng ấm như súp gà nhằm giảm khô miệng.

    • Hạ sốt bằng Paracetamol.

    • Thuốc kháng virus làm ngừng sự sinh sản virus như các thuốc cho HIV / AIDS và Herpes.

    • Ngăn ngừa nhiễm trùng từ lúc mới sinh ra, chẳng hạn như các vắc-xin cho cúm và viêm gan.

    Nói cách khác là chờ đợi sức sống của virus trong cơ thể rút lui và biến mất – cách nhìn này chính là bắt đầu thoát ly khỏi mặt ngoài của sự vật, và tiếp cận với bản chất ở bên trong. (Ảnh: Shutterstock)

    Tầm quan trọng của hệ miễn dịch

    Bệnh, thường chỉ xảy ra ở một tỷ lệ nhỏ người nhiễm khuẩn. Quan trọng là hệ miễn dịch của bạn có đủ “khỏe” để đánh bật tác nhân gây bệnh xâm nhập cơ thể.

    Để đáp ứng được với nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của bạn phải hoạt động. Các tế bào bạch cầu, kháng thể và các cơ chế khác hoạt động để loại bỏ kẻ xâm lược. Thật vậy, rất nhiều triệu chứng khiến một người mắc phải khi bị nhiễm như sốt, khó chịu, đau đầu, phát ban là do các hoạt động của hệ thống miễn dịch đang cố gắng loại bỏ nhiễm trùng khỏi cơ thể.

    Nếu hệ miễn dịch hoạt động tốt, bạn có thể đang nhiễm khuẩn mà không có triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài, hoặc triệu chứng nhẹ và tự hết. 

    Nếu hệ miễn dịch yếu hay nồng độ vi sinh vật quá nhiều, chúng có thể tránh và sống sót sau cuộc tấn công của hệ thống miễn dịch. Đôi khi chúng kích hoạt hệ miễn dịch hoạt động thái quá dẫn đến việc tiết ra các hóa chất nội sinh, không chỉ giết vi khuẩn mà giết luôn cả tế bào và mô lành. 

    Điều này có thể giải thích tại sao Coronavirus mới chủ yếu gây bệnh nặng trên nhóm những người già hay có bệnh nền, hoặc suy giảm hệ miễn dịch. 

    Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách mà chúng có thể gây hại cho con người cũng như cách thức  phòng ngừa và chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả. 

    Mỹ Tâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nồi Chiên Không Dầu Và Lò Nướng – Nên Mua Loại Nào Đây?
  • Cách Mạng Tháng Mười Nga Vĩ Đại Với Cách Mạng Việt Nam .công An Tra Vinh
  • Cách Mạng Tháng Mười Nga Và Cách Mạng Tháng Tám Việt Nam
  • So Sánh Lò Nướng Và Lò Vi Sóng
  • Phân Biệt Lò Vi Sóng, Lò Nướng Vi Sóng Và Lò Nướng
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn (Bacteria) Và Siêu Vi Trùng (Viruses).

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẻ Visa Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Thẻ Mastercard Và Visa
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Thẻ Visa Và Thẻ Mastercard
  • Visa Và Master Card Và Sự Khác Biệt Của Hai Loại Thẻ
  • Due To Là Gì? Cách Dùng Và Sự Khác Biệt Với “because Of”?
  • Giữa Số Phận Và Định Mệnh Là Cả Một Sự Khác Biệt Lớn, Bạn Có Biết?
  • Thứ sáu – 28/04/2017 10:34

    Virus và Vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa Virus và Vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do Vi khuẩn, hoặc Virus gây ra.

    Virus chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật, và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

    Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài Virus khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như: AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

    Khác với Vi khuẩn, Virus đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng, mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vaccin.

    Riêng các loại Virus gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh, nên vaccin chế từ Virus năm này lại không hữu hiệu với cùng Virus ấy cho năm tới. Vì thế các loại vaccin hiện có không ngừa được Virus cúm A (H1N1).

    Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh, sẽ là điều kiện thuận lợi để Virus gây bệnh.

    4. Tại sao thuốc kháng sinh (antibiotic) không điều trị được bệnh do Virus gây ra ?

    Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh (antibiotic) diệt khuẩn, và đặt tên là penicillin.

    Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà Nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin mới được Chính phủ Mỹ chấp nhận, và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

    Từ penicillin, nhiều nhà Nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau, và đã xếp chúng thành nhiều nhóm, dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với Vi khuẩn.

    Kháng sinh (Antibiotic) đối với Virus thì như thế nào?

    Do cấu tạo Virus hoàn toàn khác biệt với tế bào Vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào Vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”.

    Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc Virus phải sống ký sinh bên trong tế bào ký chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì Virus không có hệ thống enzym hoàn chỉnh, nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình, hoặc tự sinh sôi nảy nở được.

    Do đó, để tồn tại và phát triển thì Virus phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào ký chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

    Khi vào cơ thể, lớp vỏ protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết được. Hơn nữa, kháng sinh diệt được Vi khuẩn, vì Vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào, nên kháng sinh có thể diệt nguyên Vi khuẩn, còn Virus nằm trong vật chất di truyền của tế bào ký chủ, cho nên nếu kháng sinh diệt Virus thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của ký chủ (người, hoặc động vật).

    Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công Virus, sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào ký chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn.

    Hơn thế nữa, Virus còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

    Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với Virus, các nhà Khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt Virus dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc, và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào ký chủ của Virus.

    Tuy vậy, Virus luôn thay đổi hình dạng, và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

    5. Virus và Vi khuẩn lây lan như thế nào ?

    – Một người bị lạnh có thể lây nhiễm Vi khuẩn, hoặc Virus bằng cách ho, hoặc hắt hơi.

    – Vi khuẩn, hoặc Virus có thể được lây lan bằng cách chạm, hoặc bắt tay với người khác.

    – Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn, cũng sẽ cho phép Virus, hoặc Vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

    -Lây qua dịch cơ thể: như máu, nước bọt, và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm, hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do Virus như viêm gan, hoặc AIDS).-

    Virus lây lan theo nhiều cách; Virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài .Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng;trong khi Virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những vector. côn trùng hút máu

    Virus cúm lan truyền thông qua ho, và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng, và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, hay nước uống.

    HIV là một trong vài loại Virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục, và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh.Mỗi Virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” ( host range ); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau, mà Virus có khả năng lây nhiễm.

    Sự xâm nhập của Virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ Virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vaccin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một Virus xâm nhiễm nhất định.

    Tuy nhiên, một số Virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên, và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa số các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với Virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng Virus được phát triển.

    6.Làm thế nào để tránh nhiễm trùng ?

    – Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

    – Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt, hoặc mũi của bạn sau đó.

    – Thức ăn phải được nấu chín, hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

    – Rau, và thịt phải được lưu giữ riêng, và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

    – Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi, cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa Virus, Vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy), và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.

    – Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, Vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do Vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

    – Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

    – Giữ phong cách sống, và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

    7. Một số bệnh do Virus gây ra và cách phòng bệnh:

    – Tiêu chảy do Virus: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota Virus gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh, hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải.Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong, nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

    – Sốt do Virus: Các triệu chứng sốt Virus điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C, hoặc cao hơn nữa. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi.

    Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối, và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

    Sốt Virus là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt Virus nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C, và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

    8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn và virus gây ra:

    Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh.

    Vì khi hệ miễn dịch yếu thì Vi khuẩn, hoặc Virus nào cũng có thể tấn công bạn.

    – Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn.

    -Uống đủ nước và đúng cách.

    -Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

    – Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

    -Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

    -Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp.

    – Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

    – Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt bảo đảm cho bản thân và gia đình. ./.

    Tác giả bài viết: Van Tran

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Thật Về “university” Và “college” Trong Hệ Thống Giáo Dục Mỹ
  • So Sánh Tivi Full Hd Và 4K Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Tivi 4K Là Gì? Có Khác Gì So Với Tivi Full Hd, Tivi Hd?
  • Cơ Hội Kinh Doanh Là Gì? 3 Cách Để Sáng Tạo Ý Tưởng Kinh Doanh Mới Độc Lạ
  • Điều Gì Tạo Nên Sự Khác Biệt Ở Chương Trình Kinh Doanh Của Đại Học Idaho?
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Trùng Do Vi Khuẩn Và Virus

    --- Bài mới hơn ---

  • Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus
  • Sự Khác Biệt Giữa Paralegals Và Trợ Lý Pháp Lý
  • Sự Khác Biệt Giữa Một Thư Ký Và Một Bộ Trưởng Là Gì?
  • 6 Sự Khác Biệt Chính Giữa Hồng Kông Và Trung Quốc Đại Lục
  • Sự Khác Biệt Giữa Hong Kong Và Trung Quốc Không Phải Ai Cũng Biết?
  • Vi khuẩn và virus có thể gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng phổ biến. Nhưng sự khác biệt giữa hai loại sinh vật truyền nhiễm này là gì?

    Vi khuẩn là những vi sinh vật nhỏ bé được tạo thành từ một tế bào. Chúng rất đa dạng, và có thể có nhiều hình dạng và đặc điểm cấu trúc. Vi khuẩn có thể sống trong hầu hết mọi môi trường có thể tưởng tượng được, kể cả trong hoặc trên cơ thể con người.mChỉ một số ít vi khuẩn gây nhiễm trùng ở người. Những vi khuẩn này được gọi là vi khuẩn gây bệnh.

    Virus là một loại vi sinh vật nhỏ bé khác, mặc dù chúng thậm chí còn nhỏ hơn vi khuẩn. Giống như vi khuẩn, chúng rất đa dạng, có nhiều hình dạng và tính năng. Virus là ký sinh trùng. Điều đó có nghĩa là chúng đòi hỏi các tế bào sống hoặc mô để phát triển. Virus có thể xâm chiếm các tế bào trong cơ thể bạn, sử dụng các thành phần của tế bào để phát triển và nhân lên. Một số virus thậm chí giết chết tế bào chủ như là một phần của vòng đời của chúng.

    2. Nhiễm khuẩn lây lan như thế nào?

    Nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn truyền nhiễm, có nghĩa là chúng có thể lây từ người sang người. Có nhiều cách có thể xảy ra, bao gồm:

    – Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm vi khuẩn, bao gồm chạm và hôn.

    – Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, đặc biệt là sau khi quan hệ tình dục, hoặc khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi.

    – Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

    – Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm, chẳng hạn như tay nắm cửa hoặc tay cầm vòi, sau đó chạm vào mặt, mũi hoặc miệng của bạn.

    Ngoài việc lây lan từ người sang người, nhiễm trùng vi khuẩn cũng có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng.

    3. Nhiễm khuẩn phổ biến là gì?

    Một số ví dụ về nhiễm khuẩn bao gồm:

    – Viêm họng liên cầu khuẩn.

    – Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI).

    – Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn.

    – Bệnh da liễu.

    – Bệnh lao.

    – Viêm màng não do vi khuẩn.

    – Viêm mô tế bào.

    – Bệnh Lyme.

    – Uốn ván.

    4. Nhiễm virus lây lan như thế nào?

    Giống như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiều bệnh nhiễm virus cũng dễ lây lan. Chúng có thể lây từ người này sang người khác theo nhiều cách giống nhau, bao gồm:

    – Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm virus.

    – Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm virus.

    – Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

    – Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm.

    Ngoài ra, tương tự như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiễm virus có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh hoặc thông qua việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nước đã bị ô nhiễm.

    5. Nhiễm virus phổ biến là gì?

    Một số ví dụ về nhiễm virus bao gồm:

    – Cúm.

    – Cảm lạnh thông thường.

    – Viêm dạ dày ruột.

    – Thủy đậu.

    – Bệnh sởi.

    – Viêm màng não do virus.

    – Mụn cóc.

    – Virus gây suy giảm miễn dịch ở người.

    – Viêm gan virus.

    – Virus zika.

    – Siêu vi trùng Tây sông Nile.

    6. Là vi khuẩn hay virus gây cảm lạnh?

    Cảm lạnh có thể gây nghẹt hoặc chảy nước mũi, đau họng và sốt thấp, nhưng là do vi khuẩn hoặc virus gây cảm lạnh?

    Cảm lạnh thông thường được gây ra bởi một số loại vi-rút khác nhau, mặc dù các loại virut tê giác thường là thủ phạm. Bạn không thể làm gì nhiều để điều trị cảm lạnh ngoại trừ chờ đợi và sử dụng thuốc không kê đơn (OTC) để giúp giảm các triệu chứng của bạn.

    Trong một số trường hợp, nhiễm trùng thứ cấp có thể phát triển trong hoặc sau khi bị cảm lạnh. Các ví dụ phổ biến về nhiễm khuẩn thứ cấp bao gồm:

    – Viêm xoang.

    – Nhiễm trùng tai.

    – Viêm phổi.

    Bạn có thể đã bị nhiễm vi khuẩn nếu:

    – Các triệu chứng kéo dài hơn 10 đến 14 ngày.

    – Các triệu chứng tiếp tục trở nên tồi tệ hơn là cải thiện trong vài ngày.

    – Bạn bị sốt cao hơn bình thường khi bị cảm lạnh.

    7. Bạn có thể sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem đó có phải là nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus không?

    Bạn nên tránh sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem bạn có bị nhiễm virus hay vi khuẩn hay không.

    Có một niềm tin từ lâu rằng chất nhầy màu xanh lá cây cho thấy nhiễm trùng do vi khuẩn cần kháng sinh. Trên thực tế, chất nhầy màu xanh lá cây thực sự được gây ra bởi các chất được giải phóng bởi các tế bào miễn dịch của bạn để đáp ứng với kẻ xâm lược.

    Bạn có thể có chất nhầy màu xanh lá cây do nhiều thứ, bao gồm virus, vi khuẩn hoặc thậm chí là dị ứng theo mùa.

    8. Rối loạn tiêu hóa do vi khuẩn hay virus?

    Khi bạn gặp các triệu chứng như buồn nôn, tiêu chảy hoặc chuột rút bụng, bạn có khả năng bị rối loạn tiêu hóa . Nhưng đó có phải là do nhiễm virus hay vi khuẩn?

    – Viêm dạ dày ruột là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa. Nguyên nhân là do tiếp xúc với phân hoặc chất nôn từ người bị nhiễm trùng.

    – Ngộ độc thực phẩm là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do tiêu thụ thực phẩm hoặc chất lỏng bị ô nhiễm.

    Viêm dạ dày ruột và ngộ độc thực phẩm có thể do cả virus và vi khuẩn. Bất kể nguyên nhân là gì, nhiều lần các triệu chứng của bạn sẽ biến mất trong một hoặc hai ngày với sự chăm sóc tốt tại nhà.

    Tuy nhiên, các triệu chứng kéo dài hơn ba ngày, gây tiêu chảy ra máu, hoặc dẫn đến mất nước nghiêm trọng có thể chỉ ra nhiễm trùng nặng hơn cần được điều trị y tế kịp thời.

    9. Làm thế nào chẩn đoán được nhiễm trùng?

    Đôi khi bác sĩ có thể chẩn đoán tình trạng của bạn dựa trên tiền sử bệnh và các triệu chứng của bạn.

    Ví dụ, các tình trạng như sởi hoặc thủy đậu có các triệu chứng rất đặc trưng có thể được chẩn đoán bằng một kiểm tra thể chất đơn giản.

    Ngoài ra, nếu có dịch bệnh hiện tại của một bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ đưa yếu tố đó vào chẩn đoán. Một ví dụ là cúm, gây ra dịch bệnh theo mùa trong những tháng lạnh hàng năm.

    Nếu bác sĩ của bạn muốn biết loại sinh vật nào có thể gây ra tình trạng của bạn, họ có thể lấy một mẫu để nuôi cấy. Các mẫu có thể được sử dụng để nuôi cấy thay đổi theo điều kiện nghi ngờ, nhưng có thể bao gồm:

    – Máu.

    – Chất nhầy hoặc đờm.

    – Nước tiểu.

    – Da.

    – Dịch não tủy.

    Khi một vi sinh vật được nuôi cấy, nó cho phép bác sĩ xác định những gì gây ra tình trạng của bạn. Trong trường hợp nhiễm vi khuẩn, nó cũng có thể giúp họ xác định loại kháng sinh nào có thể hữu ích trong việc điều trị tình trạng của bạn.

    10. Những bệnh nhiễm trùng được điều trị bằng kháng sinh?

    Thuốc kháng sinh là thuốc dùng để điều trị nhiễm khuẩn. Có nhiều loại kháng sinh khác nhau, nhưng tất cả chúng đều có tác dụng ngăn vi khuẩn phát triển và phân chia hiệu quả. Chúng không hiệu quả chống lại nhiễm virus.

    Mặc dù thực tế là bạn chỉ nên dùng kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, nhưng kháng sinh thường được yêu cầu cho nhiễm virus. Điều này là nguy hiểm vì kê đơn kháng sinh quá mức có thể dẫn đến kháng kháng sinh.

    Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thích nghi để có thể kháng một số loại kháng sinh. Nó có thể làm cho nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn khó điều trị hơn.

    Nếu bạn được kê đơn thuốc kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, hãy uống toàn bộ quá trình kháng sinh – ngay cả khi bạn bắt đầu cảm thấy khỏe hơn sau vài ngày. Bỏ qua liều có thể ngăn chặn tất cả các vi khuẩn gây bệnh khỏi bị giết.

    11. Nhiễm virus được điều trị như thế nào?

    Không có điều trị cụ thể cho nhiều bệnh nhiễm virus. Điều trị thường tập trung vào việc giảm các triệu chứng trong khi cơ thể bạn hoạt động để loại bỏ nhiễm trùng. Điều này có thể bao gồm những thứ như:

    – Uống nước để ngăn ngừa mất nước.

    – Nghỉ ngơi nhiều.

    – Sử dụng thuốc giảm đau OTC như acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin, Advil) để giảm đau, đau và sốt.

    – Dùng thuốc thông mũi OTC để giúp chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi.

    – Viên ngậm để giúp giảm đau họng.

    12. Thuốc kháng vi-rút

    Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng vi-rút để giúp điều trị tình trạng của bạn.

    Thuốc kháng vi-rút ức chế vòng đời của virus theo một cách nào đó. Một số ví dụ bao gồm các loại thuốc như oseltamivir (Tamiflu) trong điều trị nhiễm cúm hoặc valacyclovir (Valtrex) đối với nhiễm virus herpes simplex hoặc herpes zoster (bệnh zona)

    13. Làm thế nào để ngăn ngừa nhiễm trùng?

    Hãy chắc chắn rửa tay trước khi ăn, sau khi sử dụng phòng tắm, và trước và sau khi xử lý thực phẩm.

    Tránh chạm vào mặt, miệng hoặc mũi nếu tay bạn không sạch. Không dùng chung vật dụng cá nhân như dụng cụ ăn uống, ly uống nước hoặc bàn chải đánh răng.

    Vô số vắc xin có sẵn để giúp ngăn ngừa các bệnh do virus và vi khuẩn khác nhau. Ví dụ về các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin bao gồm: sởi, uốn ván, cúm, bệnh ho gà.

    Đừng ra ngoài nếu bạn bị bệnh

    Ở nhà nếu bạn bị bệnh để giúp ngăn ngừa lây nhiễm. Nếu bạn phải ra ngoài, rửa tay thường xuyên và hắt hơi hoặc ho vào khuỷu tay hoặc vào khăn giấy. Hãy chắc chắn để vứt bỏ bất kỳ mô được sử dụng.

    Thực hành tình dục an toàn

    Sử dụng bao cao su có thể giúp ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs).

    Hãy chắc chắn rằng thức ăn được nấu chín kỹ

    Hãy chắc chắn rằng tất cả các loại thịt được nấu đến nhiệt độ thích hợp. Hãy chắc chắn rửa kỹ bất kỳ trái cây hoặc rau sống trước khi ăn. Đừng để đồ ăn thừa ở nhiệt độ phòng. Thay vào đó, làm lạnh chúng kịp thời.

    Bảo vệ chống lại côn trùng

    Hãy chắc chắn sử dụng các thành phần có chứa thuốc chống côn trùng như DEET hoặc picaridin nếu bạn đang ở bên ngoài nơi côn trùng như muỗi và ve thường gặp. Mặc quần dài và áo sơ mi dài tay, nếu có thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Laptop Asus Core I5 Và Core I7 Là Gì
  • Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Bộ Xử Lý I5 Và I7?
  • Sự Khác Biệt Giữa Máy Tính Xách Tay I5 Và I7
  • Bạn Đã Biết? Sự Khác Biệt Giữa Các Chứng Chỉ Ielts, Toeic Và Toefl
  • Sự Khác Biệt Giữa Toeic Và Ielts
  • Sự Khác Nhau Giữa Vi Khuẩn Và Virus: Nhận Biết Đúng Để Điều Trị Đúng

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Vi Khuẩn Và Virus ·
  • Nên Tiêm Vacxin 5In1 Hay 6In1 Cho Trẻ
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Vacxin 5 Trong 1 Và Vacxin 6 Trong 1
  • Đưa Con Đi Tiêm Phòng: Hãy Hiểu Rõ Sự Khác Nhau Giữa Vắc Xin 5 Trong 1 Và Vắc Xin 6 Trong 1
  • Công Dụng Và Sự Khác Nhau Giữa Thẻ Mastercard Với Thẻ Visa
  • Vi khuẩn và virus đều là những tác nhân gây bệnh

    Virus là gì?

    Virus quá nhỏ nên không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chúng không thể tự nhân lên, vì vậy chúng phải xâm nhập vào cơ thể vật chủ để tiếp tục sinh sôi, tạo ra nhiều virus hơn.

    Virus gồm các vật liệu di truyền (ADN hoặc RNA) được bao quanh bởi một lớp bảo vệ protein. Chúng có khả năng bám vào các tế bào và đi sâu vào bên trong chúng. Các tế bào của màng nhầy, chẳng hạn như những màng lót đường hô hấp chính là nơi mà virus thường “tấn công” vì chúng mở, không được da bảo vệ.

    Vi khuẩn là gì?

    Vi khuẩn là sinh vật được tạo thành từ một tế bào. Chúng có khả năng tự nhân lên, vì chúng có thể tự phân chia. Hình dạng của chúng thay đổi, bác sỹ sử dụng những đặc điểm này để tách chúng thành các nhóm.

    Vi khuẩn tồn tại ở khắp mọi nơi, bên trong và trên cơ thể chúng ta. Hầu hết trong số chúng là hoàn toàn vô hại, một số vi khuẩn thậm chí còn có ích với sức khỏe. Tuy nhiên, một số vi khuẩn có thể gây bệnh.

    Virus và vi khuẩn lây lan như thế nào? Virus và vi khuẩn tồn tại ở khắp mọi nơi

    Virus và vi khuẩn về cơ bản lây lan theo cùng một cách. Người bị cảm lạnh có thể lây nhiễm khi ho và hắt hơi. Vi khuẩn hoặc virus có thể truyền qua bằng cách chạm vào hoặc bắt tay với người khác. Chạm vào thức ăn bằng tay bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn xâm nhập.

    Cách phòng tránh nhiễm trùng

    Dịch tiết cơ thể, chẳng hạn như máu, nước bọt, tinh dịch có thể chứa các vi sinh vật lây nhiễm và truyền dịch bệnh, ví dụ như tiêm, quan hệ tình dục, đặc biệt là nhiễm virus như viêm gan hoặc AIDS.

    – Rửa tay kỹ (đây là một trong những cách tốt nhất để phòng tránh cảm lạnh).

    – Bắt tay với người đang bị cảm lạnh khá nguy hiểm, vì vậy, bạn nên tránh dụi mắt hoặc mũi ngay sau đó.

    – Thực phẩm nên được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

    – Rau và thịt phải được bảo quản riêng và được chế biến trên các thớt riêng biệt.

    – Hãy nhớ rằng, không nhất thiết phải có mùi hôi, thức ăn vẫn có thể chứa virus và vi khuẩn. Nấu chín thức ăn có thể giết chết vi khuẩn, nhưng chúng vẫn có thể để lại chất độc hại gây tiêu chảy, ói mửa.

    Điều trị nhiễm khuẩn như thế nào?

    – Sử dụng bao cao su trong khi quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

    Nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng một loại kháng sinh đặc biệt, giúp giết chết vi khuẩn gây ra căn bệnh này. Để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh có phải do vi khuẩn hay không, bác sỹ có thể thực hiện xét nghiệm dịch tiết cơ thể (dùng tăm bông lấy) hoặc xét nghiệm máu.

    Điều trị nhiễm virus như thế nào?

    Nên đọc

    Virus không thể nhân lên cho đến khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Đây là lý do tại sao việc điều trị nhiễm virus thường là do hệ miễn dịch của người bệnh thực hiện, mặc dù thật khó chấp nhận khi nghe bác sỹ nói rằng “để bệnh tự khỏi”.

    Việc điều trị nhiễm virus, chẳng hạn như cúm, thường gồm:

    – Uống nhiều nước.

    – Ở nhà. Nếu bệnh nhân vẫn đi học hoặc vẫn đi làm không chỉ có nguy cơ lan truyền virus sang người khác mà còn có nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn cao hơn.

    – Dùng thuốc giảm đau, hạ sốt, chẳng hạn như paracetamol (ví dụ: Panadol) hoặc ibuprofen (ví dụ: Nurofen).

    – Tiêm vaccine phòng bệnh đầy đủ.

    Thuốc kháng sinh không có tác dụng điều trị virus gây cảm lạnh hoặc cúm. Sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh làm giảm hiệu quả của chúng bằng cách khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn gây kháng kháng sinh. Kháng kháng sinh là vấn đề nghiêm trọng đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu.

    Vân Anh H+ (Theo netdoctor)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Thị Ở Giai Đoạn Nào Thúc Đẩy Người Tiêu Dùng Mua Hàng Nhiều Nhất
  • Điểm Khác Nhau Của Tivi Độ Phân Giải Full Hd Và Tivi 4K Bạn Cần Biết
  • Làm Thế Nào Để Tạo Sự Khác Biệt Trong Kinh Doanh
  • Bạn Đã Biết Cách Tạo Ra Sự Khác Biệt Trong Kinh Doanh Chưa?
  • Những Điểm Khác Biệt Của Honda Sh 125 Và Sh 150
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Virus Và Vi Khuẩn Mà 99% Mọi Người Không Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Pain, Hurt Và Ache
  • Sự Khác Nhau Giữa Wifi Và Bluetooth
  • Kinh Nghiệm Chăm Sóc Rùa Cảnh
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Luật
  • Sự Khác Nhau Giữa Đèn Tuýp Led Và Đèn Tuýp Huỳnh Quang
  • Một trong những câu hỏi hàng đầu được đặt ra trên các diễn đàn về sức khỏe là sự giống và khác nhau giữa virus và vi khuẩn. Nhắc đến virus và vi khuẩn đây là hai loại thường gây bệnh cho con người nhất và có những tác hại nhất định đối với mọi người nên bạn nên tìm hiểu thật kĩ về hai loại này. Thật ra muốn phân biệt không hề khó chút nào bạn chỉ cần hiểu qua một chút về virus và vi khuẩn và từ đó tìm ra được những điểm khác nhau. Bạn nên chú ý đến những tác hại mà hai loại virus, vi khuẩn mang đến cho con người để có những cách phòng tránh hợp lí.

    Vậy mời bạn cùng với chúng tôi cùng nhau tìm hiểu thêm về những sự giống và khác nhau giữa virus và vi khuẩn là ở điểm nào.

    Vi khuẩn là những vật thể đơn bào và chúng có mặt ở khắp mọi nơi. Vi khuẩn không hẳn là xấu và chúng được chia làm 2 loại: vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại.

    Chỉ một giọt sữa chua có thể chữa hết đến 100 triệu vi khuẩn, vi khuẩn đóng một vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hóa của người và động vật. Không có vi khuẩn thì cơ thể không thể tiêu hóa được. Điều này cũng giải thích các hiện tượng như lá cây rụng xuống đất để lâu mủn ra, cơm và thức ăn để lâu bị thiu, xác động vật sau khi chết bị thối rữa… Tất cả đều do vi khuẩn.

    Có đến 40 triệu vi khuẩn trong một gram đất và hàng triệu tế bào trong 1 mm nước ngọt, trên trái đất của chúng ta có khoảng 5×1030 vi khuẩn – một con số khổng lồ!

    Nhìn chung, virus là những sinh vật có hại cho sức khỏe và chúng chỉ sống và phát triển được dựa trên các tế bào sống khác. Khi ở ngoài tế bào sống, nó sẽ tự hủy diệt và không tồn tại được. Virus xâm nhập vào cơ thể người và động vật qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc bởi các lỗ hổng trên da, khiến cơ thể bị xâm nhập và gây bệnh như chúng ta thường thấy.

    3. Những điểm khác nhau giữa vi khuẩn và virus khi điều trị bệnh

    Vi khuẩn có thể là nguyên nhân gây ra một số bệnh ở con người. Ví dụ như uốn ván, thương hàn, giang mai, bệnh lao, bệnh tả… Khi con người mắc các bệnh do vi khuẩn thì bắt buộc phải dùng kháng sinh

    Còn khi chúng ta bị bệnh do virus thì không cần dùng kháng sinh vi kháng sinh vô dụng với vi rút. Một số bệnh do vi rút như bệnh viêm gan B và C, bệnh bại liệt, bệnh đậu mùa, sốt xuất huyết, cúm… Khi điều trị các bệnh do vi rút gây nên thì phải sử dụng đến các loại vắcxin.

    Cũng cần lưu ý rằng khi thời tiết trở lạnh, thay đổi mùa là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.

    Trên bài viết chúng tôi đã lí giải cho bạn sự giống và khác nhau giữa virus và vi khuẩn để các bạn có thêm những thông tin hữu ích nhất có thể. Không khó để phân biệt nên chỉ cần bạn chú ý một chút đã có thể phân biệt rồi, những loại này rất gây hại cho cơ thể. Bạn nên tập cho mình một lối sống khoa học cũng như biết những biện pháp phòng tránh cơ bản nhất để cho bạn và gia đình có thể bảo vệ tốt sức khỏe. Hẹn gặp lại các bạn ở các bài viết tiếp theo cùng với chúng tôi để có thêm những thông tin hữu ích nhất trong việc chăm sóc sức khỏe.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Chip Intel Core I3 I5 I7 Và I9 Official Homepage
  • Điểm Đáng Chú Ý Giữa Nhãn Hiệu Và Thương Hiệu,sự Giống Khác Nhau?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thương Hiệu Và Nhãn Hiệu ?
  • Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại ?
  • Phân Biệt Về Git Và Github
  • Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn, Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Nên Mua Vario 150 Hay Vario 125Cc Tại Các Đại Lý Honda Tư Nhân
  • Windows 32Bit Và 64Bit Là Gì? Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Chúng
  • Xăng A95 Và A92 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Api Và Web Service
  • Sự Khác Nhau Giữa Web Service, Wcf, Wcf Rest, Web Api
  • Virus và vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa virus và vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

    Vi rút là những sinh vật nhỏ li ti, muốn nhìn thấy chúng phải nhờ kính hiển vi điện tử. Vi rút lớn lên và phát triển chỉ khi chúng sống trong tế bào sống. Sống ngoài tế bào sống, vi rút sẽ tự hủy diệt, không thể phát triển, trừ khi chúng sống trong tế bào động vật, thực vật hay vi khuẩn. Vi rút gây bệnh cho người và vật do thở hay nuốt vào, đột nhập vào lỗ hổng trên da.

    Virus bao gồm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi một lớp phủ bảo vệ của protein. Có khả năng bám vào các tế bào và nhận được bên trong chúng.

    Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ. Virus được tìm thấy ở hầu hết mọi hệ sinh thái trên Trái Đất và là dạng có số lượng nhiều nhất trong tất cả các thực thể sinh học. Một virus có kích thước trung bình vào khoảng 1/100 kích cỡ trung bình của một vi khuẩn.

    * Nguồn gốc của virus:

    – Dựa vào cấu tạo: Virut do sự kết hợp giữa các đại phân tử protêin và axit nuclêic, nằm giữa ranh giới của vật thể sống và không sống.

    – Dựa vào lối sống kí sinh bắt buộc: Virut bắt nguồn từ một loại vi sinh vật sống kí sinh thoái hóa dần các cơ quan không cần thiết.

    – Dựa vào cách nhân lên: Virut có thể là một đoạn gen hay một bào quan nào đó đã tách ra hoạt động độc lập. khi kí sinh lại, chúng có thể nhân lên hay xen cài vào nhiễm sắc thể của tế bào.

    Vi khuẩn thuộc loại đơn bào, có ở khắp mọi nơi, chỉ một giọt sữa chua là có thể chứa 100 triệu vi khuẩn. Hầu hết các vi khuẩn sinh sản bằng cách phân bào ( một tế bào tách làm đôi ). Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của người và vật, giúp hóa mùn cây cối và súc vật chết, giúp cho tiến trình lên men hiệu quả.

    Có khoảng 40 triệu tế bào vi khuẩn trong một gram đất và hàng triệu tế bào trong một mm nước ngọt. Ước tính có khoảng 5×10 30 vi khuẩn trên Trái Đất, tạo thành một lượng sinh khối vượt hơn tất cả động vật và thực vật. Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tái chế chất dinh dưỡng như cố định nitơ từ khí quyển và gây thối rữa sinh vật khác.

    3. Sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus

    (Chú thích: dấu + là Có, dấu – là Không)

    * Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được

    Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng, chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác. Một số là tác nhân gây bệnh và gây ra bệnh uốn ván, thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao. Một số nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra khắp cơ thể và trở thành bệnh toàn thân. Bệnh do vi khuẩn lây nhiễm qua tiếp xúc, không khí, thực phẩm, nước và côn trùng.

    Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được mầm bệnh, bệnh do bị nhiễm khuẩn có thể trị bằng thuốc kháng sinh, được chia làm hai nhóm là diệt khuẩn (bacteriocide) và kìm khuẩn (bacteriostasis), với liều lượng mà khi phân tán vào dịch cơ thể có thể tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn.

    * Kháng sinh vô tác dụng với vi rút

    Vi rút chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

    Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài vi rút khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

    Khác với vi khuẩn, vi rút đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vắc xin. Riêng các loại vi rút gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh nên vắc – xin chế từ vi rút năm này lại không hữu hiệu với cùng vi rút ấy cho năm tới. Vì thế các loại vắc xin hiện có không ngừa được virus cúm A (H1N1).

    Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh sẽ là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.

    4. Tại sao kháng sinh không điều trị được bệnh do virut?

    Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh diệt khuẩn và đặt tên là penicillin. Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin được Chính phủ Mỹ chấp nhận và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

    Từ penicillin, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau và đã xếp chúng thành nhiều nhóm dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với vi khuẩn.

    Kháng sinh đối với virut thì như thế nào?

    Do cấu tạo virut hoàn toàn khác biệt với tế bào vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”. Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc virut phải sống ký sinh bên trong tế bào túc chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì virut không có hệ thống enzym hoàn chỉnh nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình hoặc tự sinh sôi nảy nở được. Do đó, để tồn tại và phát triển thì virut phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào túc chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

    Khi vào cơ thể, áo protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết. Hơn nữa, kháng sinh diệt được vi khuẩn vì vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào nên kháng sinh có thể diệt nguyên vi khuẩn, còn virut nằm trong vật chất di truyền của tế bào túc chủ cho nên nếu kháng sinh diệt virut thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của túc chủ (người hoặc động vật). Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công virut sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào túc chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn. Hơn thế nữa, virut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

    Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với virut, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt virut dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào túc chủ của virut. Tuy vậy, virut luôn thay đổi hình dạng và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

    5. Virus và vi khuẩn lây lan như thế nào

    – Một người bị lạnh có thể lây nhiễm vi khuẩn/virus bằng cách ho hoặc hắt hơi.

    – Vi khuẩn hoặc virus có thể được lây lan bằng cách chạm hoặc bắt tay với người khác.

    – Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

    – Lây qua dịch cơ thể: như máu, nước bọt và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do virus như viêm gan hoặc AIDS).

    – Virus lây lan theo nhiều cách; virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những côn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector.

    Virus cúm lan truyền thông qua ho và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn hay nước uống.

    HIV là một trong vài loại virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” ( host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau mà virus có khả năng lây nhiễm.

    Sự xâm nhập của virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vắc-xin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một virus xâm nhiễm nhất định.

    Tuy nhiên, một số virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa phần các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng virus được phát triển.

    – Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

    – Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt hoặc mũi của bạn sau đó.

    – Thức ăn phải được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

    – Rau và thịt phải được lưu giữ riêng và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

    – Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa virus, vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy) và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.

    – Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

    – Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

    – Giữ phong cách sống và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

    7. Một số bệnh do vi rút gây ra và cách phòng bệnh

    Tiêu chảy do vi rút: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota vi rút gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Hiện nay, chưa có trị liệu đặc hiệu đối với vi-rút Rota.

    Hiện nay đã có vacxin ngừa Rotavirus, 60% nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Bạn nên cho bé đi uống vacxin từ tháng thứ 2 sau sinh.

    Sốt do vi rút: Các triệu chứng sốt vi rút điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C hoặc cao hơn. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

    Sốt vi rút là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt vi rút nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

    8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn, virus gây ra

    – Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn,

    – Uống đủ nước và đúng cách.

    – Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

    Monkey Junior – Cho Bé Nền Tảng Ngôn Ngữ Vững Chắc

    – Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

    – Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

    – Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp

    – Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

    – Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt đảm bảo cho bản thân và gia đình.

    Bài viết khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Virus, Vi Khuẩn Và Kí Sinh Trùng
  • Giải Bài Tập Sinh Học 10
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virut
  • Sự Khác Nhau Giữa Virus
  • Sự Khác Biệt Giữa Vi Trùng Và Vi Khuẩn
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100