Sự Khác Nhau Giữa Rồng Châu Âu Và Rồng Châu Á

--- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Soát Và Cân Bằng Quyền Lực
  • Quyền Lực Nhân Dân Và Quyền Lực Nhà Nước Qua Các Hiến Pháp Việt Nam
  • Sự Khác Biệt Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Giúp Bạn Trả Lời Câu Hỏi Sĩ Quan Quân Đội Là Gì?
  • Phân Biệt “quân Nhân Chuyên Nghiệp” Và “sĩ Quan”
  • Sự khác biệt về hình dáng

    Rồng phương Đông hay rồng ở các quốc gia châu Á được mô tả trong các truyền thuyết, truyện cổ thường có mình dài, toàn thân có vảy. Không có cánh nhưng lại có thể tự do bay lượn. Đầu có bờm sư tử và sừng hươu. Đa phần rồng ở các quốc gia châu Á được mô tả là có màu vàng.

    Trong khi đó rồng phương Tây hay rồng ở các quốc gia châu Âu lại được mô tả là một loài vật có sức mạnh to lớn, thường có 3 đầu. Một số con cũng chỉ có một đầu. Tuy nhiên hình dáng thì khác hẳn so với rồng phương Đông. Nó được mô tả giống như một loài thằn lằn, có thể khè ra lửa. Da dày và rắn chắc. Chúng có đôi cánh như cánh rơi nhưng to khỏe và có thể bay lượn dễ dàng.

    Rồng phương Đông mang nhiều ý nghĩa tâm linh

    Sự khác biệt về tính biểu tượng.

    Trong văn hóa tâm linh của con người thuộc các quốc gia phương Đông, rồng luôn là một biểu tượng văn hóa đẹp đẽ. Đó là đại diện cho những gì cao quý nhất và đáng tôn thờ nhất. Rồng tượng trưng cho vua, cho thần thánh. Đây là biểu tượng của sự ban phát điềm lành, của sự bao bọc mà những thế lực linh thiêng dành cho con người. Nó còn đại diện cho chủ nghĩa anh hùng. Chính vì vậy rồng rất được tôn thờ trong văn hóa phương Đông.

    Đối với văn hóa phương Tây thì tính biểu tượng của con rồng lại mang một thái cực hoàn toàn khác. Rồng trong văn hóa phương Tây lại là đại diện cho thứ sức mạnh tà ác. Chúng tồn tại cùng với sức mạnh của mình luôn là một nỗi ám ảnh đối với con người. Tuy nhiên, trong hầu hết các thần thoại Tây phương chúng đều chết thảm dưới tay của các hiệp sĩ.

    Rồng phương Tây là đại diện cho sức mạnh hung hãn, đáng sợ.

    Sự khác biệt về hành vi.

    Rồng trong tưởng tượng của các quốc gia châu Á mang tính linh thiêng. Thường mang sức mạnh to lớn của mình, đại diện cho thần thánh cứu giúp dân lành. Rồng chính là linh thú bảo vệ xã tắc bình an.

    Rồng trong thần thoại phương Tây lại thường sử dụng sức mạnh của mình vào mục đích đen tối. Nó thường canh giữ của cải, người đẹp…Tuy nhiên lại tỏ ra là một thứ sức mạnh “hữu dũng vô mưu”. Nó luôn được miêu tả là một loài quái vật hung tợn và tăm tối.

    Rồng phương Đông là đại diện cho điềm lành

    Sự khác biệt về mặt ý nghĩa xã hội.

    Rồng phương Đông đại diện cho vua chúa, cho cuộc sống vương giả. Đây là linh thú đứng đầu trong tứ linh của văn hóa phương Đông là long, ly, quy, phượng. Vì vậy rồng mang ý nghĩa xã hội vô cùng to lớn trong đời sống văn hóa tâm linh của người châu Á.

    Rồng phương Tây mang một ý nghĩa xã hội hoàn toàn khác. Đây là loài vật đại diện cho những gì xấu xa nhất và là thế lực mà con người luôn muốn chống lại.

    Rồng phương Tây là thứ sức mạnh mà con người luôn muốn chống lại.

    Như vậy sự xung đột văn hóa Đông Tây là điều vẫn luôn luôn hiện diện. Do vị trí địa lý, địa hình, quá trình phát triển… mà sự xung đột này luôn tồn tại. Điều này đã tạo nên sự đa dạng vô cùng thú vị. Sự khác biệt của văn hóa Đông Tây sẽ luôn là một đề tài hay ho cho những ai thích khám phá văn hóa và văn minh nhân loại.

    Rồng là loài vật hư cấu được phát triển và xuất hiện trong văn hóa nhiều quốc gia châu Á cũng như châu Âu. Theo tác giả Ingersoll Ernest trong cuốn “Hình tượng rồng và văn hóa rồng”, tại Trung Quốc, sinh vật này được xem là biểu tượng của vua (thiên tử) với sức mạnh phi thường như hô phong hoán vũ, lấp trời vá bể.

    Trong quan niệm của châu Á, rồng thường có mình dài như rắn, 4 chân và biết bay dù không có cánh. Lí giải điều này, một nguyên nhân cơ bản được đưa ra là bởi rồng đại diện cho thế lực siêu nhiên, có năng lực phi phàm, không cần dùng cánh vẫn bay được. Rồng châu Á có thể phun lửa hoặc hút nước làm mưa vô cùng đa dạng.

    Rồng trong quan niệm của người Trung Quốc thể hiện sự trường sinh bất tử, sức mạnh vô song và vượt qua mọi chướng ngại.

    Trái lại, rồng châu Âu mang hơi hướng của một loài sinh vật hung dữ với toàn thân phủ vảy như rắn, miệng luôn phun lửa và đôi cánh như cánh dơi để bay lên trời. Trong truyện cổ hay phim ảnh, rồng Tây có vẻ bay khá “vất vả” vì phải tuân theo quy luật vật lý. Điều này dường như phản ánh tư duy thiên về logic của người phương Tây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Mật Về Rồng: Rồng Phương Đông Và Phương Tây Khác Nhau Ra Sao?
  • Sự Khác Biệt Giữa Rồng Phương Đông Và Rồng Phương Tây.
  • Tài Liệu Sự Khác Biệt Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại (2)
  • Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Có Điểm Gì Khác Nhau?
  • Sự Khác Nhau Giữa Rồng Châu Âu Và Rồng Châu Á 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • 27 Điềm Mơ Thấy Rồng Đen, Rồng Vàng, Rồng Đỏ Rồng Đen Bay Lượn Đánh Nhau, Mơ Thấy Rồng Đánh Con Gì?
  • Chế Độ Chính Trị Và Tổ Chức Quyền Lực Nhà Nước Trong Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992
  • Sự Khác Nhau Giữa Iso 9001 Và Iso 22000
  • Sự Khác Nhau Giữa Massage Đá Nóng Và Massage Thông Thường
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Google Home Và Google Home Mini
  • Sự khác biệt về hình dáng

    Rồng phương Đông hay rồng ở các quốc gia châu Á được mô tả trong các truyền thuyết, truyện cổ thường có mình dài, toàn thân có vảy. Không có cánh nhưng lại có thể tự do bay lượn. Đầu có bờm sư tử và sừng hươu. Đa phần rồng ở các quốc gia châu Á được mô tả là có màu vàng.

    Trong khi đó rồng phương Tây hay rồng ở các quốc gia châu Âu lại được mô tả là một loài vật có sức mạnh to lớn, thường có 3 đầu. Một số con cũng chỉ có một đầu. Tuy nhiên hình dáng thì khác hẳn so với rồng phương Đông. Nó được mô tả giống như một loài thằn lằn, có thể khè ra lửa. Da dày và rắn chắc. Chúng có đôi cánh như cánh rơi nhưng to khỏe và có thể bay lượn dễ dàng.

    Rồng phương Đông mang nhiều ý nghĩa tâm linh

    Sự khác biệt về tính biểu tượng.

    Trong văn hóa tâm linh của con người thuộc các quốc gia phương Đông, rồng luôn là một biểu tượng văn hóa đẹp đẽ. Đó là đại diện cho những gì cao quý nhất và đáng tôn thờ nhất. Rồng tượng trưng cho vua, cho thần thánh. Đây là biểu tượng của sự ban phát điềm lành, của sự bao bọc mà những thế lực linh thiêng dành cho con người. Nó còn đại diện cho chủ nghĩa anh hùng. Chính vì vậy rồng rất được tôn thờ trong văn hóa phương Đông.

    Đối với văn hóa phương Tây thì tính biểu tượng của con rồng lại mang một thái cực hoàn toàn khác. Rồng trong văn hóa phương Tây lại là đại diện cho thứ sức mạnh tà ác. Chúng tồn tại cùng với sức mạnh của mình luôn là một nỗi ám ảnh đối với con người. Tuy nhiên, trong hầu hết các thần thoại Tây phương chúng đều chết thảm dưới tay của các hiệp sĩ.

    Rồng phương Tây là đại diện cho sức mạnh hung hãn, đáng sợ.

    Sự khác biệt về hành vi.

    Rồng trong tưởng tượng của các quốc gia châu Á mang tính linh thiêng. Thường mang sức mạnh to lớn của mình, đại diện cho thần thánh cứu giúp dân lành. Rồng chính là linh thú bảo vệ xã tắc bình an.

    Rồng trong thần thoại phương Tây lại thường sử dụng sức mạnh của mình vào mục đích đen tối. Nó thường canh giữ của cải, người đẹp…Tuy nhiên lại tỏ ra là một thứ sức mạnh “hữu dũng vô mưu”. Nó luôn được miêu tả là một loài quái vật hung tợn và tăm tối.

    Rồng phương Đông là đại diện cho điềm lành

    Sự khác biệt về mặt ý nghĩa xã hội.

    Rồng phương Đông đại diện cho vua chúa, cho cuộc sống vương giả. Đây là linh thú đứng đầu trong tứ linh của văn hóa phương Đông là long, ly, quy, phượng. Vì vậy rồng mang ý nghĩa xã hội vô cùng to lớn trong đời sống văn hóa tâm linh của người châu Á.

    Rồng phương Tây mang một ý nghĩa xã hội hoàn toàn khác. Đây là loài vật đại diện cho những gì xấu xa nhất và là thế lực mà con người luôn muốn chống lại.

    Rồng phương Tây là thứ sức mạnh mà con người luôn muốn chống lại.

    Như vậy sự xung đột văn hóa Đông Tây là điều vẫn luôn luôn hiện diện. Do vị trí địa lý, địa hình, quá trình phát triển… mà sự xung đột này luôn tồn tại. Điều này đã tạo nên sự đa dạng vô cùng thú vị. Sự khác biệt của văn hóa Đông Tây sẽ luôn là một đề tài hay ho cho những ai thích khám phá văn hóa và văn minh nhân loại.

    Rồng là loài vật hư cấu được phát triển và xuất hiện trong văn hóa nhiều quốc gia châu Á cũng như châu Âu. Theo tác giả Ingersoll Ernest trong cuốn “Hình tượng rồng và văn hóa rồng”, tại Trung Quốc, sinh vật này được xem là biểu tượng của vua (thiên tử) với sức mạnh phi thường như hô phong hoán vũ, lấp trời vá bể.

    Trong quan niệm của châu Á, rồng thường có mình dài như rắn, 4 chân và biết bay dù không có cánh. Lí giải điều này, một nguyên nhân cơ bản được đưa ra là bởi rồng đại diện cho thế lực siêu nhiên, có năng lực phi phàm, không cần dùng cánh vẫn bay được. Rồng châu Á có thể phun lửa hoặc hút nước làm mưa vô cùng đa dạng.

    Rồng trong quan niệm của người Trung Quốc thể hiện sự trường sinh bất tử, sức mạnh vô song và vượt qua mọi chướng ngại.

    Trái lại, rồng châu Âu mang hơi hướng của một loài sinh vật hung dữ với toàn thân phủ vảy như rắn, miệng luôn phun lửa và đôi cánh như cánh dơi để bay lên trời. Trong truyện cổ hay phim ảnh, rồng Tây có vẻ bay khá “vất vả” vì phải tuân theo quy luật vật lý. Điều này dường như phản ánh tư duy thiên về logic của người phương Tây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 27 Điềm Mơ Thấy Rồng (Rồng Đen, Vàng, Đỏ, Trắng), Đánh Con Gì
  • Rồng Phương Đông Vs Rồng Phương Tây. Đâu Mới Là Con Rồng Bá Đạo Nhất Trong Huyền Thoại.
  • Truyền Thuyết Về Loài Rồng
  • Sự Khác Biệt Chính Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây Là Gì?
  • Công Ty Tnhh Kiến Trúc Nội Thất Nhà Việt
  • Sự Khác Nhau Trong Phong Tục Ăn Mừng Năm Mới Giữa Châu Á Và Châu Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Nhà Truyền Thống Thái Lan Và Việt Nam
  • Thói Quen Dân Gian: Sự Khác Biệt Giữa Truyền Thống Và Phong Tục
  • Phong Tục Tập Quán Là Gì?
  • Phong Tục, Tập Quán Và Áp Dụng Tập Quán Trong Công Tác Xét Xử Án Dân Sự
  • Phong Tục Và Hủ Tục 2022
  • Ở châu Âu, phong tục ăn mừng năm mới thường mang tính “hiện đại”. Những ngày cuối năm, người ta thường tổ chức những buổi tiệc tùng, diễu hành, ăn uống thâu đêm… để cùng nhau chào đón năm mới. Ở mỗi nước, lại có những phong tục, nghi lễ riêng biệt đến “kì lạ” nhưng đều hướng đến mục đích cuối cùng là mong muốn năm mới sẽ đem lại may mắn, hạnh phúc và an lành đến với mọi người.

    CÂY THÔNG NOEL TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI NGA

    Cây thông Noel với những ngọn nến con – Ảnh: chúng tôi

    Trang trí cho cây thông Noel vào dịp năm mới là một phong tục đặc sắc của người Nga, với hy vong rằng, khi trẻ con trong nhà thức dậy chúng sẽ có được một niềm vui vào sáng đầu tiên của năm mới. Bên cạnh đó là phong tục bà chúa tuyết và ông già tuyết tặng quà cho trẻ em.

    Ông già tuyết cùng bà chúa tuyết diễu hành- Ảnh: Igor Kovalenko

    Cũng như một số quốc gia phương Tây khác, người Nga cũng đón năm mới trong màn trình diễn pháo hoa và những buổi tiệc linh đình, gồm: thịt, đậu xanh, dưa chua, hành, sốt mayonnaise, cà rốt và khoai tây.

    Một bữa ăn chào đón năm mới của người Nga- Ảnh: Joe Protor

    PHONG TỤC “VỨT BỎ RỦI RO NĂM CŨ, CHÀO ĐÓN NĂM MỚI BÌNH YÊN” CỦA NGƯỜI ĐỨC

    Trước giao thừa 1 ngày, nam giới của Đức thường tập trung ăn uống, tiệc tùng đến tận đêm. Đến giao thừa, người Đức cũng tổ chức bắn pháo hoa, quây quần bên nhau, cùng chúc nhau năm mới bình an và họ còn đem nấu chì đổ vào cốc nước rồi nhìn hình dạng miếng chì trong nước và đoán vận hạn năm tới của mình.

    Những bữa tiệc thâu đêm tại Đức để chào đón năm mới- Ảnh: chúng tôi

    Lễ đón năm mới ở Đức kéo dài trong vòng 1 tuần. 15 phút trước giao thừa mọi người đều ngồi yên trên ghế, khi chuông đồng hồ điểm họ đều nhảy xuống khỏi ghế và ném một vật nặng ra phía sau coi như vứt bỏ mọi khó khăn, hoạn nạn để bước vào năm mới.

    Đên giao thừa tại cổng thành Bradenburg- Ảnh: chúng tôi

    Các bữa ăn trong dịp đón mừng năm mới của người Đức sẽ không thể thiếu cà rốt và bắp cải – hai thức ăn mà theo quan điểm của người dân Đức sẽ mang lại sự ổn định về tài chính…

    Hai món ăn đem lại sự ổn định về tài chính cho người Đức- Ảnh: chinhsuaanh

    NHỮNG LY RƯỢN MAY MẮN TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI PHÁP

    Rượu là một phần không thể thiếu trong phong tục chào đón năm mới của người Pháp. Người Pháp dùng rượu đón năm mới, từ đêm giao thừa mọi người bắt đầu mở tiệc ăn uống đến 3/1 mới kết thúc.

    Những ly rượu sẻ chia, mang đến niềm vui trong năm mới- Ảnh: Yoann Jezequel

    Phong tục đón năm mới của Pháp cũng có sự khác nhau giữa các miền. Ở miền Đông, lúc giao thừa, người ta sẽ ngậm đồng tiền vàng cầu mong phát đạt, giàu sang. Ở miền Tây, nam thanh nữ tú dắt nhau vào rừng tìm cây tầm gửi từ chiều cuối năm, anh chàng nào tìm thấy và mang về đầu tiên sẽ được phong “”””””””””””””””Vua tầm gửi””””””””””””””””, có quyền ôm hôn những cô gái đẹp đi ngang nhà mình trong suốt ngày mùng 1.

    Pháo hoa trong đêm giao thừa tại Paris (Pháp)- Ảnh: Antonio GAUDENCIO

    TỔ CHỨC DIỄU HÀNH ĂN MỪNG NĂM MỚI CỦA NGƯỜI ANH

    Ngày đầu năm mới ngườiAnh thường tổ chức các cuộc diễu hành dọc các con đường đi qua Whitehall và trung tâm mua sắm Pall, và cuối cùng dừng chân ở quảng trường Berkley. Mọi người sẽ cùng nhau tập hợp lại cùng hát vang các bài hát truyền thống đón chào năm mới nghe tiếng chuông đồng hồ Bigbang điểm đúng thời khắc giao thừa.

    Diễu hành chào đón năm mới tại London (Anh)- Ảnh: Getty Images

    Một ngày trước Tết Dương lịch, mọi nhà sẽ mua rượu đổ đầy các chai, hũ trong nhà, trong bếp thì chứa thật nhiều thịt bởi người Anh quan niệm rằng, nếu rượu thịt không dư dả, năm mới sẽ gặp khó khăn, nghèo khổ. Cuối cùng, để đón chào một năm mới, người Anh có những phong tục rất lạ và độc đáo như tục lệ “Bước chân đầu tiên (The First Footing)”; không chọn những người tóc vàng và tóc đỏ xông nhà; mừng tuổi bằng những cành tầm gửi…

    PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI Ở CHÂU Á

    Khác biệt với châu Âu, phong tục ăn mừng năm mới ở châu Á mang tính “cổ truyền” hơn. Người châu Á khá chú trọng về các khâu chuẩn bị để có một lễ chào đón năm mới hoàn chỉnh.

    DỌN DẸP NHÀ CỬA ĐỂ ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Dọn dẹp nhà cửa chào đón năm mới sang- Ảnh: baomoi

    Việc dọn dẹp nhà cửa khởi nguồn từ ý niệm “quét sạch những điều không may mắn” trong năm cũ, chào đón một năm mới tốt đẹp. Tuy nhiên không nên dọn dẹp nhà cửa khi năm mới bắt đầu, vì nếu làm thế sẽ “quét sạch những điều may mắn vừa nhận được”.

    BÀY BIỆN NHỮNG MÂM CỔ TRONG PHONG TỤC ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Mâm cổ chào đón năm mới của người Việt Nam- Ảnh: afamily Món canh bánh gạo truyền thống được sử dụng trong ngày đón năm mới của người Hàn Quốc- Ảnh: deponline Khay bánh kẹo 8 món của người Trung Quốc với nghĩa số 8 là số may mắn- Ảnh: trithucsong

    Người dân châu Á thường có những mâm cổ với những loại thức ăn truyền thống, đa dạng về màu sắc lẫn hương vị.

    THỜ PHỤNG TỔ TIÊN VÀ THĂM HỎI ÔNG BÀ, CHA MẸ, HÀNG XÓM LÁNG GIỀNG

    Thờ phụng tổ tiên cầu mong điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới- Ảnh: tanhongthai165

    Người Indonesia cũng chuẩn bị đồ cúng đặt bàn thờ cúng các vị thần và tổ tiên vào đêm giao thừa. Đồ cúng gồm chủ yếu là bánh và trái cây. Đầu tiên, người Indonesia sẽ bày đồ cúng trên một chiếc bàn đặt phía ngoài ngôi nhà. Mỗi thành viên trong gia đình đốt hương, chắp tay và vái ba vái để bày tỏ tấm lòng thành kính và xin phép được vào nhà.

    Tục Sebae tại Hàn Quốc- Ảnh: spotlightkorea

    Vào dịp năm mới, người Hàn mặc những bộ hanbok đủ màu sắc và tiến hành nghi lễ biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên vào sáng đầu năm, hay còn gọi là tục Sebae. Con cái thăm cha mẹ và cầu chúc họ một năm mới hạnh phúc bằng cách quỳ lạy họ. Cha mẹ đáp lễ bằng cách cho con cái một số tiền mừng tuổi và những lời chỉ dạy sáng suốt.

    NHẬN TIỀN MỪNG TUỔI TRONG NGÀY ĐẦU NĂM MỚI

    Niềm vui của trẻ con khi nhận tiền mừng tuổi- Ảnh: chúng tôi Con cháu chúc thọ ông bà- Ảnh: chúng tôi

    Người lớn trao cho trẻ em những món quà là “tiền mừng tuổi” với hy vọng con cháu sẽ giỏi giang, mạnh khỏe trong năm mới. Con cháu có thể kính tặng “tiền mừng thọ” cho ông bà, cha mẹ với hy vọng ông bà, cha mẹ sẽ sống lâu trăm tuổi.

    VĂN HÓA ĐI CHÙA

    Đi lễ chùa đầu năm tại Việt Nam- Ảnh: trithucsong Người dân Indonesia cầu phúc năm mới tại chùa vihara dharma bhakti- Ảnh:portalkbr

    Thay vì đi đến các nhà hàng, quán bar… như người châu Âu, người châu Á thường đi lễ chùa. Với hy vọng cầu xin thánh thần sẽ ban cho một năm mới “vạn sự như ý”,”tấn tài tấn lộc”.

    LỄ HỘI MÚA LÂN, RỒNG, SƯ ĂN MỪNG NĂM MỚI ĐẾN

    Múa sư cổ truyền đầy màu sắc- Ảnh: chúng tôi Ông địa và con lân rước năm mới sang- Ảnh: normanchinmantis

    Người châu Á còn tổ chức các lễ hội múa lân, múa sư, múa rồng mang lại điềm lành, tạo bước khởi đầu tốt đẹp, thuận lợi, tô điểm thêm cho ngày chào năm mới.

    BẮN PHÁO HOA ĂN MỪNG NĂM MỚI

    Pháo hoa đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới tại Singapo – Ảnh: Rexer Ong Những khoảnh khắc pháo hoa sáng chói chào đón năm mới đến- Ảnh: Hung Pham

    Vào nửa đêm, pháo hoa được bắn ở khắp mọi nơi. Đây là hành động để xua đuổi tà ma và tội ác, nhưng cũng để tăng thêm sự hứng khởi của mọi người trong lễ hội mừng năm mới. Theo truyền thống, vào thời khắc này, các gia đình đều mở toang cửa sổ và cửa chính để tiễn năm cũ đi và đón may mắn vào nhà trong năm mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Truyền Thông Và Pr
  • Sự Khác Nhau Giữa Quan Hệ Công Chúng (Public Relations) Và Quảng Cáo (Advertising)
  • Khác Biệt Giữa Marketing Và Pr
  • Sự Khác Biệt Giữa Quan Hệ Công Chúng (Pr) Và Marketing
  • Sự Khác Nhau Giữa Branding, Marketing, Quảng Cáo Và Pr
  • Môn Sử: Các Nước Á, Phi Và Mĩ Latinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Honda Và Giấc Mơ Nước Nhật
  • Sự Khác Nhau Trong Quang Hợp Giữa Thực Vật C4 Và Thực Vật Cam Là Gì?
  • Ý Nghĩa, Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Xương Tay Và Xương Chân
  • Sự Khác Nhau Giữa Đám Cưới Xưa Và Nay
  • Marry Blog :: Sự Khác Nhau Trong Đám Cưới Xưa Và Nay
  • Trong bài số 3 này, chúng tôi Vũ Quang Hiển sẽ hướng dẫn các bạn ôn thi nội dung “Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 – 2000)”.

    A. Mục tiêu:

    – Trình bày được những biến đổi quan trọng ở khu vực Đông Bắc Á từ năm 1945 đến năm 2000; diễn biến cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949) và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội (1949 – 1959), công cuộc cải cách mở cửa (1978 – 2000) và chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

    – Khái quát được những biến đổi to lớn của khu vực Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000: cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thắng lợi, sự phát triển kinh tế, sự hợp tác khu vực.

    – Trình bày được diễn biến phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ (1945 – 1950). Nêu được những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước (1950 – 2000) và đánh giá được vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế.

    – Tóm tắt được các giai đoạn phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Phi và khu vực Mĩ Latinh.

    – Phân tích được ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc đối với bản đồ chính trị thế giới.

    – Giải thích được các khái niệm: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cải cách mở cửa, liên kết chính trị – kinh tế.

    B. Nội dung:

    I. Khu vực Đông Bắc Á

    – Là khu vực rộng lớn, đông dân. Trước chiến tranh thế giới II, hầu hết khu vực này là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.

    – Từ sau chiến tranh thế giới II, ngày càng biến đổi sâu sắc:

    • Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời (1-10-1949). Tuy nhiên, một số vùng đất vẫn là thuộc địa của Anh, Bồ Đào Nha, phải đến cuối những năm 1990 mới được trả về Trung Quốc: Hồng Kông (1997), Ma Cao (1999).
    • Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt, hình thành hai quốc gia. Trong những năm 50 và 60 (thế ki XX), hai nhà nước ở trong tình trạng căng thẳng, đối đầu. Từ những năm 70, đặc biệt từ năm 1990 hai bên chuyển dần sang hoà dịu, đối thoại.
    • Từ những nước nghèo nàn, lạc hậu, hoặc bị chiến tranh tàn phá, khu vực này có sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế. Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông được đánh giá là những con rồng kinh tế.
    • Nhật Bản từ chỗ suy kiệt do chiến tranh, từ năm 1952 đến năm 1973 phát triển thành một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.
    • Từ những năm 80 của thế kỉ XX, nền kinh tế Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh và cao nhất thế giới. Đến cuối thế kỉ XX, Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới.

    a. Sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

    – Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở Trung Quốc có ảnh hưởng của cả hai phe. Trung Hoa Quốc dân đảng dựa vào sự giúp đỡ của Mĩ. Lực lượng cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo dựa vào sự giúp đỡ của Liên Xô.

    • 20/7/1946, Trung hoa Quốc dân đảng phát động nội chiến chống Đảng Cộng sản Trung Quốc.
    • Trong năm đầu (từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947), lực lượng cách mạng thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực, không ham giữ đất, chỉ nhằm tiêu diệt lực lượng đối phương.
    • Từ giữa năm 1947, Quân Giải phóng Trung Quốc chuyển sang phản công, lần lượt giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Tháng 4-1949, tiến vào giải phóng Nam Kinh.
    • Tháng 9-1949 cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng. Lực lượng Quốc dân đảng chạy ra Đài Loan.
    • Ngày 1/10/1049, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập.

    – Cuộc cách mạng này có tính chất là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ.

    – Ý nghĩa:

    – Đối với Trung Quốc:

      Đánh dấu cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc đã hoàn thành; chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, xoá bỏ chế độ phong kiến, quân phiệt, đưa nước Trung Hoa vào kỉ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    – Đối với thế giới:

    • Làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, nối liền từ Âu sang Á.
    • Có ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực.

    b. Thành tựu 10 năm đầu xây dựng chế độ mới (1949 – 1959)

    – Cuối năm 1952, Trung Quốc thực hiện thắng lợi công cuộc khôi phục kinh tế (1950 – 1952).

    – Từ năm 1953, thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên (1953 – 1957), tiến hành những cải cách quan trọng: cải cách ruộng đất và hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công – thương nghiệp tư bản tư doanh; tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Bộ mặt đất nước có những thay đổi rõ rệt: đến năm 1957 có 246 công trình được xây dựng, sản lượng công nghiệp tăng 140%, nông nghiệp tăng 25% (so với năm 1952). Văn hoá, giáo dục có những bước tiến lớn.

    – Về đối ngoại, Trung Quốc thi hành chính sách củng cố hoà bình và thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới; địa vị quốc tế ngày càng được nâng cao. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

    c. Công cuộc cải cách – mở cửa (1978 – 2000)

    – Tháng 12/1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối cải cách kinh tế – xã hội, do Đặng Tiểu Bình khởi xướng; được nâng lên thành đường lối chung từ Đại hội XII (1982) và Đại hội XIII (1987) của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    – Nội dung căn bản của đường lối cải cách: lấy phát triển kinh tế làm trung tâm; kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông); tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; tiến hành bốn hiện đại hoá nhằm mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh.

    – Thành tựu:

    • GDP tăng trung bình hằng năm 8%; năm 2000, GDP đạt 1080 tỉ USD, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
    • Về khoa học – kĩ thuật: tháng 10/2003, phóng thành công con tàu “Thần Châu 5” đưa nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ bay vào vũ trụ, trở thành nước thứ ba trên thế giới có tàu và người bay vào vũ trụ.
    • Về đối ngoại: cải thiện quan hệ với các nước: thiết lập quan hệ ngoại giao với Mĩ (1979); từ những năm 80 (thế kỉ XX), bình thường hoá quan hệ với Liên Xô, Việt Nam; địa vị quốc tế không ngừng được nâng cao.
    • Trung Quốc thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công (7-1997) và Ma Cao (12-1999).

    II. Các nước Đông Nam Á 1. Cuộc đấu tranh giành độc lập ở khu vực Đông Nam Á

    – Đông Nam Á là khu vực rộng 4,5 triệu km2, gồm 11 quốc gia, dân số 528 triệu người (năm 2000).

    – Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các đế quốc Âu, Mĩ.

    – Khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á. Từ cuộc đấu tranh chống thực dân Âu, Mĩ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang cuộc đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng đất nước. Tận dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng đồng minh (8/1945), nhân dân nhiều nước đứng lên giành độc lập hoặc giải phóng phần lớn lãnh thổ khỏi ách chiếm đóng của quân Nhật.

    • Ngày 17/8/1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hoà Inđônêxia.
    • Ở Việt Nam, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, dẫn tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/9/1945).
    • Tháng 8/1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 12/10/1945 nước Lào tuyên bố độc lập.
    • Nhân dân các nước Miến Điện, Mã Lai và Philippin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng nhiều vùng rộng lớn.

    – Ngay sau đó, các nước thực dân Âu, Mĩ quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Nhân dân các nước Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược.

    – Giữa những năm 50 (thế kỉ XX), nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi tiếp tục chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 giành thắng lợi hoàn toàn.

    – Các nước thực dân Âu, Mĩ cũng lần lượt công nhận nền độc lập của Philippin (7-1946), Miến Điện (1-1948), Inđônêsia (8-1950), Malaisia (8-1957), Singapore giành quyền tự trị (1959), Brunây (1984). Đông Timo trở thành một quốc gia độc lập (5-2002).

    – Sự ra đời nước Lào độc lập: Lợi dụng thời cơ tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, từ ngày 23/8/1945 nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền. Ngày 12/10/1945, nhân dân Thủ đô Viêng chăn khởi nghĩa thắng lợi, Chính phủ dân tộc Lào ra mắt quốc dân và tuyên bố nền độc lập của Lào.

    – Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954):

    • Tháng 3/1946, thực dân Pháp trở lại xâm lược Lào.
    • Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của Việt Nam, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào ngày càng phát triển. Các chiến khu được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào. Quân giải phóng Lào và Chính phủ kháng chiến Lào được thành lập.
    • Trong những năm 1953 – 1954, quân dân Lào phối hợp cùng quân tình nguyện Việt Nam mở các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào…, giành thắng lợi to lớn.
    • Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được kí kết (7/1954), công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Lào, thừa nhận địa vị hợp pháp của lực lượng kháng chiến Lào với một vùng giải phóng ở Sầm Nưa và Phongxalì.

    – Kháng chiến chống Mĩ (1954-1975):

    • Sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được kí kết, Mĩ thay chân Pháp, âm mưu biến Lào thành thuộc địa kiểu mới.
    • Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, cuộc đấu tranh chống Mĩ được triển khai trên ba mặt trận (quân sự, chính trị, ngoại giao), làm thất bại các cuộc tiến công của Mĩ và tay sai.
    • Đến đầu những năm 60 (thế kỉ XX), quân dân Lào đã giải phóng 2/3 lãnh thổ, từng bước đánh bại Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mĩ.
    • Tháng 2/1973, Hiệp định Viêng Chăn về lập lại hoà bình và thực hiện hoà hợp dân tộc ở Lào được kí kết. Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp được thành lập.
    • Từ tháng 5 đến tháng 12/1975, nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.
    • Ngày 2/12/1975 nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập. Từ đây, nhân dân Lào bước vào công cuộc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và hướng tới chủ nghĩa xã hội.

    – Chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc (1945-1954):

    • Tháng 10/1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (từ năm 1951 là Đảng nhân dân Cách mạng Campuchia), nhân dân Campuchia đứng lên kháng chiến. Lực lượng kháng chiến ngày càng trưởng thành.
    • Ngày 9/11/1953, do cuộc vận động ngoại giao đòi độc lập của Xihanuc, Pháp kí hiệp ước “trao trả độc lập cho Campuchia”. Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Campuchia.
    • Sau thất bại ở Điện Biên Phủ (1954), thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào và Việt Nam.

    – Giai đoạn 1954 – 1970: Chính phủ Xihanuc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, không tham gia bất cứ khối liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía không có điều kiện ràng buộc.

    – Kháng chiến chống Mĩ (1970-1975):

    • Chính phủ Xihanuc bị thế lực tay sai của Mĩ lật đổ (18/3/1970). Từ đây nhân dân Campuchia cùng nhân dân Việt Nam, Lào tiến hành kháng chiến chống Mĩ.
    • Từ tháng 9/1973, lực lượng vũ trang Campuchia liên tục tiến công, bao vây thủ đô Phnôm Pênh và các thành phố lớn khác.
    • Mùa xuân năm 1975, quân dân Campuchia mở cuộc tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (17/4/1975), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.

    – Cuộc đấu tranh lật đổ tập đoàn Khơme đỏ (1975-1979):

    • Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cách mạng Campuchia bị phản bội. Tập đoàn Pôn-pốt thi hành chính sách diệt chủng.
    • Nhân dân Campuchia lại phải tiến hành cuộc đấu tranh chống chế độ diệt chủng. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia (thành lập ngày 3 /12/1978), với sự giúp đỡ của Việt Nam, quân và dân Campuchia nổi dậy ở nhiều nơi. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Nhân dân Campuchia bước vào thời kì xây dựng lại đất nước.

    – Nội chiến và tái lập vương quốc (1979-1993):

    • Từ năm 1979 cuộc nội chiến diễn ra giữa lực lượng của Đảng nhân dân với phe phái đối lập, chủ yếu với Khơme đỏ.
    • Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình về Campuchia được kí kết tại Pari. Sau cuộc Tổng tuyển cử tháng 9/1993, Quốc hội Campuchia thông qua Hiến pháp, tuyên bố thành lập Vương quốc Campuchia do Xihanuc làm quốc vương. Đất nước Campuchia bước vào một thời kì mới.

    4. Quá trình xây dựng và phát triển đất nước của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN (Singapore, Indonesia, Thái Lan, Malaisia, Philippin)

    – Sau khi giành độc lập (những năm 50 và 60 của thế kỉ XX) các nước này tiến hành công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (chiến lược kinh tế hướng nội) nhằm nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, xây dựng nền kinh tế tự chủ; đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, chiến lược này dần bộc lộ những hạn chế (thiếu nguồn vốn, nguyên liệu và công nghệ; tệ tham nhũng, quan liêu phát triển; chưa giải quyết được quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội).

    – Từ những năm 60 – 70 trở đi, các nước này chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá lấy xuất khẩu làm chủ đạo (chiến lược kinh tế hướng ngoại), tiến hành mở cửa để thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hoá xuất khẩu, phát triển ngoại thương. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân lớn hơn nông nghiệp, mậu dịch đối ngoại tăng trưởng nhanh. Singapore trở thành “con rồng” nổi trội nhất trong bốn “con rồng” ở châu Á. Mặc dù vậy, chiến lược kinh tế hướng ngoại cũng có hạn chế (phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn và thị trường bên ngoài, đầu tư không hợp lí).

    5. Sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN a. Sự ra đời của tổ chức ASEAN

    – Sau hơn 20 năm đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, các nước trong khu vực bước vào thời kì ổn định và phát triển kinh tế, nhiều nước có nhu cầu hợp tác với nhau để cùng giải quyết khó khăn và phát triển.

    – Trong bối cảnh Mĩ ngày càng sa lầy trên chiến trường Đông Dương, các nước Đông Nam Á muốn liên kết lại, nhằm giảm bớt sức ép của các nước lớn.

    – Những tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là sự thành công của Khối thị trường chung châu Âu (EEC) có tác dụng cổ vũ các nước Đông Nam Á.

    – Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc với sự tham gia của Indonesia, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Singapore.

    b. Quá trình phát triển

    – Tuyên bố Băng Cốc (1967) nêu rõ mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế, văn hoá thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hoà bình và ổn định khu vực. Tuyên bố Kualalămpua (1971) đưa ra đề nghị xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, tự do, trung lập. Hiệp ước Bali (1976) xác định mục tiêu xây dựng mối quan hệ hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo nên cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh.

    – Trong giai đoạn đầu (1967-1975), ASEAN là tổ chức non trẻ, quan hệ hợp tác còn lỏng lẻo, chưa có vị thế quốc tế.

    – Sự khởi sắc được đánh dấu từ Hội nghị cấp cao Bali (2/1976): các nước kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, xây dựng nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước:

    • Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
    • Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
    • Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình.
    • Hợp tác, giúp đỡ nhau cùng phát triển.

    – Hiệp ước Bali mở ra thời kì mới trong quan hệ giữa các nước thành viên và giữa ASEAN với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện, thể hiện ở việc thiết lập quan hệ ngoại giao và những chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao. Từ đầu những năm 90, Chiến tranh lạnh chấm dứt và “vấn đề Campuchia” được giải quyết, ASEAN có điều kiện phát triển.

    – Mở rộng thành viên ASEAN: Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào và Mianma (1997), Campuchia (1999):

    – Đẩy mạnh hoạt động hợp tác xây dựng một cộng đồng ASEAN về kinh tế, an ninh và văn hoá: quyết định thành lập một khu vực mậu dịch tự do (AFTA) (1992); lập diễn đàn khu vực (ARF) với sự tham gia của 23 nước trong và ngoài khu vực (1993); chủ động đề xuất diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM); tích cực tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC); kí kết bản Hiến chương ASEAN (2007) nhằm xây dựng một Cộng đồng ASEAN có vị thế cao hơn và hiệu quả hơn.

    – Trong quá trình phát triển và hội nhập, ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế các nước thành viên phát triển mạnh, với tư cách là một tổ chức liên minh chính trị – kinh tế, ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xây dựng thành khu vực hoà bình, ổn định và phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế và ngày càng nâng cao địa vị quốc tế của ASEAN.

    III. Ấn Độ 1. Quá trình đấu tranh giành độc lập

    – Phong trào đấu tranh giành độc lập (1945 – 1947):

    • Năm 1946, nổ ra 848 cuộc đấu tranh, tiêu biểu cuộc khởi nghĩa ngày 19/2/1946 của 2 vạn thuỷ binh trên 20 chiến hạm ở cảng Bombay. Ngày 22/2/1946, nổ ra cuộc bãi công, biểu tình của 20 vạn công nhân, học sinh, sinh viên Bombay. Sau đó phong trào lan ra các tỉnh khác: Cancutta, Carasi, Mađrat… Ở nông thôn có phong trào Têphaga, đòi chỉ nộp 1/3 thu hoạch cho địa chủ.
    • Đầu năm 1947, cao trào bãi công của công nhân bùng nổ ở nhiều thành phố lớn, tiêu biểu là cuộc bãi công của hơn 40 vạn công nhân Cancútta.

    – Kết quả:

    • Thực dân Anh nhận thấy không thể thống trị theo hình thức chủ nghĩa thực dân như cũ được nữa, phải nhượng bộ, hứa trao quyền tự trị cho Ấn Độ, rút khỏi Ấn Độ trước tháng 7/1948.
    • Để thực hiện cam kết này, Anh cử phó vương Maobattơn thương lượng với Đảng Quốc đại và Liên đoàn Hồi giáo Ấn Độ, đề ra phương án độc lập cho Ấn Độ. Theo đó, ngày 15/8/1948, Ấn Độ tách thành hai quốc gia tự trị dựa trên cơ sở tôn giáo: Ấn Độ của những người theo Ấn Độ giáo và Pakixtan của những người theo Hồi giáo.

    – Không thoả mãn với quy chế tự trị, Đảng Quốc đại tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh, buộc thực dân Anh phải công nhận độc lập hoàn toàn của Ấn Độ. Ngày 26/1/1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hoà.

    2. Những thành tựu chính trong công cuộc xây dựng đất nước

    – Sau khi tuyên bố độc lập, Ấn Độ bước vào thời kì xây dựng đất nước, đạt được nhiều thành tựu.

    – Nông nghiệp: Dựa vào thành tựu của cuộc “cách mạng xanh”, từ giữa những năm 70 của thế kỉ XX, Ấn Độ đã tự túc được lương thực và từ năm 1995, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới.

    – Công nghiệp: chế tạo được máy móc, thiết bị ngành dệt, hoá chất, máy bay, tàu thuỷ, đầu máy xe lửa… Nhiều nhà máy điện được xây dựng. Vào những năm 80 (thế kỉ XX), Ấn Độ đứng thứ 10 trong những nước công nghiệp lớn nhất thế giới.

    – Về khoa học – kĩ thuật: đầu tư nhiều vào lĩnh vực công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin và viễn thông, ngày càng cố gắng vươn lên hàng các cường quốc về công nghệ phần mềm, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ.

    IV. Phong trào đấu tranh giành độc lập ở các nước châu Phi

    – Châu Phi là lục địa lớn thứ ba thế giới, gồm 57 quốc gia, năm 2002 có 839 triệu người; bị thực dân phương Tây thống trị nhiều thế kỉ, là châu lục nghèo nàn, lạc hậu hơn so với các châu lục khác.

    – Từ năm 1945 đến nửa đầu những năm 50

    Phong trào đấu tranh bùng nổ sớm nhất ở Bắc Phi, sau đó lan ra các vùng khác. Mở đầu là cuộc binh biến của sĩ quan và binh lính yêu nước Ai Cập (7/1952) lật đổ vương triều Pharúc, chỗ dựa của thực dân Anh, lập nên nước Cộng hoà Ai Cập. Cùng năm 1952, nhân dân Libi giành được độc lập.

    – Từ nửa sau thập niên 50 đến năm 1960

    Hệ thống thuộc địa của thực dân ở châu Phi nối tiếp nhau tan rã, các quốc gia độc lập lần lượt xuất hiện như Tuynidi, Marốc, Xu-đăng (1956); Gana (1957); Ghinê (1958),…

    – Từ năm 1960 đến năm 1975

    Năm 1960 được lịch sử ghi nhận là “Năm châu Phi” với 17 quốc gia giành được độc lập. Năm 1975, nhân dân Môdămbích và Ănggôla giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống thực dân Bồ Đào Nha, về cơ bản chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi.

    – Từ sau năm 1975 đến đầu những năm 90

    Đây là giai đoạn hoàn thành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi: Nước Cộng hoà Dimbabuê thành lập (18/4/1980); chính quyền Nam phi phải trao trả độc lập cho Nammibia và Namibia tuyên bố độc lập (3/1990). Tại Nam Phi, trước áp lực đấu tranh của người da màu, bản Hiến pháp 11/1993 đã chính thức xoá bỏ chế độ phân biệt chủng tộc (A-pác-thai).

    V. Các nước Mĩ Latinh đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc

    – Mĩ Latinh gồm 33 nước, diện tích trên 20,5 triệu km2 và dân số là 531 triệu người (2002). Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, về hình thức nhiều nước ở Mĩ Latinh là những quốc gia độc lập, nhưng thực tế lại bị lệ thuộc vào Mĩ, là “sân sau”của nước Mĩ.

    – Sau chiến tranh, cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài thân Mĩ bùng nổ, tiêu biểu là thắng lợi của cách mạng Cuba, lật đổ chế độ độc tài Batixta, nước Cộng hoà Cuba ra đời (1-1-1959), mở ra bước phát triển mới của phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mĩ Latinh.

    – Phong trào trong những năm 60 – 80 của thế kỉ XX:

    • Dưới ảnh hưởng của cách mạng Cuba, những năm 60 – 70, phong trào đấu tranh chống Mĩ và chế độ độc tài thân Mĩ ở khu vực ngày càng phát triển.
    • Cùng với các hình thức bãi công của công nhân, nổi dậy của nông dân, đấu tranh nghị trường để thành lập các chính phủ tiến bộ, phong trào đấu tranh vũ trang diễn ra mạnh mẽ, biến Mĩ Latinh thành “lục địa bùng cháy”.
    • Nhân dân Panama sôi nổi đấu tranh, Mĩ phải trả lại chủ quyền kênh đào cho Panama. Đến năm 1983, trong vùng Caribê đã có 13 quốc gia độc lập.
    • Phong trào đấu tranh vũ trang chống chế độ độc tài ở các nước Vênêxuêla, Goatêmala, Côlômbia, Pêru, Nicaragoa, Chilê, En Xanvađo… diễn ra liên tục, lật đổ các chính quyền độc tài, thiết lập các chính phủ dân tộc dân chủ.

    C. Câu hỏi ôn tập

    Câu 1. Tóm tắt cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949) và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nêu ý nghĩa sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

    Câu 2. Nêu nội dung cơ bản của đường lối cải cách và những thành tựu chính của Trung Quốc trong quá trình thực hiện đường lối đó.

    Câu 3. Khái quát cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới II.

    Câu 4. Tóm tắt các giai đoạn phát triển của lịch sử Lào từ năm 1945 đến năm 1975. Nêu những điểm giống nhau của lịch sử Lào và lịch sử Việt Nam trong thời gian trên.

    Câu 5. Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào trong 30 kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (1945 – 1975).

    Câu 6. Tóm tắt các giai đoạn lịch sử Campuchia từ năm 1945 đến năm 1979.

    Câu 7. Trình bày những biến đổi quan trọng của các nước Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000. Biến đổi nào là quan trọng nhất? Vì sao?

    Câu 8. Nêu những nét chính về tổ chức ASEAN (Bối cảnh thành lập, mục tiêu, sự mở rộng về tổ chức, hoạt động). Hãy cho biết thời cơ và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập ASEAN.

    Câu 9. Trình bày và nhận xét sự phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Câu 10. Nêu những thành tựu xây dựng đất nước và chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ sau ngày tuyên bố độc lập đến năm 2000.

    Câu 11. Khái quát các giai đoạn phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến đầu những năm 90 của thế kỉ XX.

    Câu 12. Tóm tắt quá trình đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập của các nước Mĩ Latinh từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000.

    Câu 13. Sự kiện nào là mốc đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Mĩ Latinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai? Trình bày sự phát triển của phong trào từ sau sự kiện đó.

    Bài tập thực hành.

    Bài 1. Lập niên biểu về sự ra đời các quốc gia độc lập ở Đông Nam Á (tên quốc gia, niên đại, nội dung sự kiện).

    Bài 2. Lập bảng so sánh các chiến lược hướng nội và hướng ngoại của nhóm nước sáng lập ASEAN (thời gian, mục tiêu, nội dung, thành tựu, hạn chế).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Phò Giá Về Kinh
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Hàng Hóa Sức Lao Động Và Hàng Hóa Thông Thường?
  • Cấu Tạo Của Tảo Xoắn, Sự Khác Nhau Giữa Tảo Xoắn Với Rêu Và Rong Mơ
  • Sứ Mệnh Của Quân Đội Và Công An Nhân Dân Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý ⋆ Onetech Blogs
  • Mộc Châu: Mốc Son Trong Lịch Sử Đấu Tranh Cách Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Chữ Viết Tiếng Việt
  • Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ Từ 1615 Đến 1861: Quá Trình La
  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ
  • Tìm Hiểu Tội Ác Bên Trong “địa Ngục Trần Gian” Khi Đến Với Côn Đảo
  • Tour Côn Đảo 2 Ngày 1 Đêm
  • Với địa hình phức tạp, đa dạng do kiến tạo núi đá vôi chạy quanh viền biên giới Việt – Lào, Mộc Châu được coi là huyết mạch giao lưu kinh tế và cơ động lực lượng, vận chuyển lương thực, vũ khí, đảm bảo cho lực lượng vũ trang tác chiến ở miền Tây Bắc, chi viện quốc tế cho nước bạn Lào. Bên cạnh sông Đà là các hệ thống sông suối lớn, nhỏ có nguồn gốc khác nhau, trong đó, suối Sặp chảy qua huyện Mộc Châu và Yên Châu được coi là tài nguyên nước quý giá phục vụ cho đời sống và sản xuất của nhân dân.

    Phát huy truyền thống của cha ông từ ngàn xưa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; anh dũng, kiên cường trong đấu tranh, lập nên nhiều chiến công, ghi những mốc son trong chiến đấu, dựng nước và giữ nước.

    Cổng vào khu di tích Mộc Lỵ

    Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc nói chung và nhân dân các dân tộc Mộc Châu nói riêng. Tháng 10/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Mộc Châu được thành lập, chế độ cũ bị xóa bỏ, nhân dân các dân tộc thoát khỏi kiếp đời nô lệ. Từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước cùng với nhân dân các dân tộc Mộc Châu bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Từ thực tiễn đấu tranh, Mộc Châu đã nổi tiếng với các địa danh lịch sử, nhiều tấm gương dũng cảm đã đi vào sử sách, như: dãy núi Pu Tên, Đội du kích Pơ Tào, Hũ rượu bản Lòm; chiến sỹ Quách Công Đăm, Vì Văn Sam và nhiều chiến sỹ khác đã từng làm cho quân thù kinh hồn, bạt vía. Đặc biệt trận đánh Hũ rượu ngàm bản Lòm là chiến công đầu có ý nghĩa quan trọng và trở thành chiến công huyền thoại của nhân dân các dân tộc Sơn La nói chung và huyện Mộc Châu nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

    Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, tháng 3-1947, chi bộ đảng đầu tiên của Mộc Châu được thành lập với 3 đảng viên là đồng chí Bùi Thọ Chuyên, đồng chí Động Lực và đồng chí Quàng Dương, đến tháng 7-1947 các đoàn thể cứu quốc của Mộc Châu lần lượt ra đời và đi vào hoạt động. Đầu năm 1948 Ủy ban hành chính kháng chiến Mộc Châu được thành lập, đến cuối năm 1948 tất cả các xã trong huyện đã có chính quyền của nhân dân và ngày 22-12-1949, huyện đội Mộc Châu được thành lập. Ngày 8-4-1950 Trung đội bộ đội địa phương đầu tiên của Mộc Châu ra đời, với lực lượng ban đầu gồm 90 chiến sỹ, ngay trận đầu ra quân đánh đồn Tà Phềnh, diệt 4 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị của địch. Để tạo ra cục diện mới cho cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, cùng với thế trận trong toàn vùng từ Nghĩa Lộ( Yên Bái) đến huyện Phù Yên. Đúng 23 giờ ngày 19-11-1952, quân ta nổ súng tấn công đồn Mộc Lỵ, sau 3 giờ chiến đấu ác liệt, trận chiến kết thúc thắng lợi. Sau đó, ta tiếp tục bao vây tấn công đồn Pa Khôm, đồn Pa Háng, ngày 20-11-1952 Mộc Châu hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc Mộc Châu.

    Địa thế đặc biệt của điểm di tích Mộc Lỵ.

    Kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ và nhân dân Mộc Châu tập trung sức lực, trí tuệ khôi phục và phát triển kinh tế -xã hội nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ an ninh tổ quốc, tiêu biểu trong phong trào Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp là: HTX A Má, xã Lóng Sập. Đây được coi là lá cờ đầu của tỉnh Sơn La và khu Tây Bắc, được Trung ương công nhận là HTX tiên tiến của các tỉnh miền núi Phía Bắc; mô hình định canh định cư ở bản Suối Lìn.. xã Phiêng Luông – lá cờ đầu về công tác bảo vệ trị an toàn miền Bắc; xã Mường Tè – đơn vị điển hình trong công tác xóa mù chữ… Ngày 8-4-1958 Trung ương đã quyết định thành lập Nông trường Quân đội 280 (tiền thân của Nông trường quốc doanh Mộc Châu), Những công nhân đầu tiên của công trường là các chiến sỹ thuộc trung đoàn 280, sư đoàn 335 Quân tình nguyện Việt Nam hoạt động ở trung Lào về nước, nhiệm vụ được giao là trồng cây lương thực, trồng chè, chăn nuôi bò đàn và bò sữa.

    Trong quá trình đẩy mạnh phát triển sản xuất, ngày 8-5-1959, Bác Hồ về thăm Mộc Châu để lại lời nhắn nhủ gồm16 chữ vàng: “Luôn luôn cố gắng, khắc phục khó khăn, tiến lên thật hăng, làm tròn nhiệm vụ”. Có thể nói, đây là một vinh dự lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Mộc Châu trong công cuộc xây dựng và thi đua lao động sản xuất. Từ đây, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu như: Anh hùng lao động Bàn Văn Mình, Phan Gần, chiến sỹ thi đua toàn quốc Vì Thị Áo…

    Giai đoạn từ 1965 đến 1972, trong cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, cả Mộc Châu như một pháo đài quân sự kiên cường đã bắn rơi 31 máy bay các loại và bắt sống 7 tên giặc lái, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên gián điệp, biệt kích, góp phần giữ vững an ninh chính trị… Ghi nhận những chiến công, đóng góp, cống hiến to lớn đó, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho xã Mộc Hạ và huyện Mộc Châu; tập thể dân quân du kích xã Tú Nang (hiện xã Tú Nang thuộc huyện Yên Châu) đã được Hội đồng Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang; 15 tập thể và 14 cá nhân đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng và chiến sỹ thi đua; 2 bà mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; nhiều cán bộ chiến sỹ được Chính phủ Lào tặng huân, huy chương vì có công đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Lào. Đây cũng là nền tảng sức mạnh, ý chí kiên cường tạo đà cho Đảng bộ và nhân dân Mộc Châu ngày một vững bước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Hiện nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, Mộc Châu đang đứng trước nhiều cơ hội chuyển mình. Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có những chuyển biến tích cực, tập trung khai thác các tiềm năng thế mạnh để hình thành các vùng nguyên liệu gắn với chế biến các sản phẩm từ sữa, chè, tre; khai thác chế biến khoáng sản và vật liệu xây dựng, đặc biệt đã và đang tập trung đầu tư xây dựng cụm công nghiệp Mộc Châu. Công tác thu hút đầu tư đạt được kết quả tích cực, đã thu hút được 36 nhà đầu tư, đăng ký đầu tư 55 dự án trên địa bàn huyện, với tổng vốn đăng ký 3.169 tỷ đồng. Hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư khá đồng bộ, nhất là giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện; diện mạo đô thị và nông thôn ngày một khởi sắc; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, số hộ khá, hộ giàu tăng lên, hộ nghèo giảm xuống còn 25,75% (theo tiêu chí mới). Với những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất.

    Thực hiện Nghị quyết số 72 NĐ/NQ-CP ngày 10/6/2013 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mộc Châu để thành lập huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La; đầu tháng 10 năm 2013, Mộc Châu chính thức tách thành 2 huyện Mộc Châu và Vân Hồ. Đây là cơ hội và điều kiện để Đảng bộ và nhân dân trong huyện tiếp tục phát huy mọi tiềm năng và lợi thế, chủ động, sáng tạo, thực hiện thắng lợi mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đã đề ra là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc… xây dựng huyện Mộc Châu trở thành huyện phát triển của tỉnh”.

    Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu trên Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện lời Bác Hồ dạy, đồng tâm hiệp lực, nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, sâu rộng công cuộc đổi mới với tinh thần cầu thị.Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Mộc Châu mong muốn được đón những doanh nghiệp, những nhà đầu tư, những người yêu mến vùng đất cao nguyên thơ mộng, đầy nắng và gió hãy đến với Mộc Châu, cùng với nhân dân các dân tộc Mộc Châu xây dựng cao nguyên ngày một văn minh, giàu đẹp và thực sự là hòn ngọc của Tổ quốc Việt Nam.

    Nam Khánh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Nam Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam 90 Năm Qua Internet
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam 90 Năm
  • Tổ Chức Cuộc Thi “tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Đảng Bộ Tỉnh Bình Định”
  • Mời Tham Gia Cuộc Thi “tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Định”
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh: Một Số Lưu Ý
  • Kèo Châu Á Là Gì? Cách Phân Biệt Các Loại Kèo Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Biết Đúng Các Loại Da Bạn Đã Biết Hay Chưa?
  • Phân Biệt Các Loại Túi, Bạn Đã Biết Bao Nhiêu Loại?
  • Phân Biệt Các Loại Đá Trang Trí Trong Thiết Kế Và Thi Công Nội Thất
  • # Phân Biệt Các Loại Đế Giày Đá Banh Chính Hãng
  • Cách Phân Biệt Các Loại Da Cơ Bản Làm Dây Đồng Hồ
  • Kèo châu Á là một trong những hình thức kèo cơ bản khi tham gia cá cược bóng đá châu Á. Kèo châu Á được sử dụng khá nhiều trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều người chơi vẫn mơ hồ về loại kèo này. Bài biết sau sẽ đem đến cho bạn những thông tin chi tiết và rõ ràng nhất về kèo châu Á.

    Kèo châu Á là gì?

    Đúng như cái tên của nó, kèo châu Á hay còn gọi là kèo Handicap được sử dụng chủ yếu trong các trận bóng ở thị trường châu Á. Dùng để phân tích và đánh giá sức mạnh của các đội bóng trong một trận đấu. Từ góc nhìn của những người tham gia cá cược thể thao.

    Loại kèo này từ khi xuất hiện đã phát triển khác mạnh, cũng như là nền tảng phát triền nhiều loại kèo mới. Nếu các bạn đã từng chơi tỷ lệ kèo thẻ vàng, kèo tài xỉu hay kèo phạt góc. Đều là những loại kèo được tạo nên từ kèo gốc châu Á.

    Mục đích của kèo châu Á là hỗ trợ người tham gia cá cược bóng đá trong việc đánh giá đội bóng. Khi mà mọi thứ về lối chơi, cách chơi bóng hay điều kiện thi đấu. Các bạn chỉ có thể nhận diện và phân tích trực tuyến thông qua internet.

    Kèo châu Á giúp cho bạn biết được đội thi đấu nào mạnh hơn, giành nhiều cơ hội thắng hơn. Từ đó sẽ có quyết định đúng đắn và nhanh chóng hơn khi tham gia đặt cược.

    Đối với kèo châu Á, thời gian được tính cho một trận đấu sẽ là 90 phút chính thức, tính cả thời gian được bù. Như vậy, kết quả đặt cược của người chơi sẽ được công bố sau 90 phút.

    Trong trường hợp có những trận đấu phụ được tổ chức để phân định thắng thua. Thì kèo châu Á sẽ được cung cấp thêm loại kèo mới để người chơi tính trong khoảng thời gian này.

    Phân biệt kèo nhà cái châu Á

    Hiện nay có tổng cộng năm nhà cái áp dụng tỷ lệ cược kèo châu Á là kèo thập phân DEC, kèo US, Indonesia. Và đặc biệt phải kể đến hai cái tên được biết đến nhiều nhất là Macau và Malaysia.

    Kèo Macau

    Hay còn được gọi là kèo Hong Kong, là một loại kèo châu Á phổ biến và được nhiều người ưa chuộng. Xuất phát từ Macau, cái nôi của các loại cá cược, đây được xem là quy chuẩn khi tham gia các trận cá cược.

    Ưu điểm lớn nhất khi tham gia kèo bóng đá Macau là các bạn sẽ được cung cấp tất cả trận đấu. Cách đọc kèo lại khá đơn giản, những người mới bắt đầu cũng có thể dễ dàng gia nhập. Ngoài ra thì tỷ lệ thắng cược của kèo Macau cũng vô cùng cao.

    Kèo Malaysia

    Kèo Malaysia bắt nguồn từ chính những nhà cái lớn và chuyên nghiệp tại quốc gia này. Nên lối chơi cũng sẽ có một số điểm khác biệt đặc trưng. Tuy nhiên thì khi du nhập vào Việt Nam, loại kèo này cũng đã được biến tấu rất nhiều để phù hợp hơn.

    Ở bảng tỷ lệ kèo bóng đá này sẽ chỉ hiển thị hai loại dữ liệu là dấu dương (+) và dấu âm (-). Đơn vị được xem là lớn nhất đối với tỷ lệ kèo Malaysia là 1.00. Có nghĩa là giá trị tuyệt đối của nó sẽ luôn ở mức nhỏ hơn 1.

    Ví dụ, trong bảng tỷ lệ kèo, các bạn sẽ chỉ thấy những con số như 0.25 (1/4), 0.5 (1/2), 0.75 (3/4) và 1. Với những điểm có dấu âm có nghĩa là đội kèo trên bị giảm đi số điểm tương ứng so với cửa dưới.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Các Loại Giày Đá Bóng Mizuno
  • ⭐⭐ 5 Kinh Nghiệm Phân Biệt Các Loại Giày Bóng Đá Phù Hợp Cho Bạn.
  • Cách Nhận Biết Các Loại Da Mặt Đơn Giản Và Cách Chăm Sóc Từng Loại Da
  • Cách Nhận Biết Các Loại Da Mặt Bằng Giấy Thấm Dầu Cực Đơn Giản
  • Cách Nhận Biết Da Mặt Thuộc Loại Nào Bằng Giấy Thấm Dầu
  • Sự Gia Tăng Dân Số Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Mạng Máy Tính (Có Đáp Án)
  • Giải Mã Câu Chuyện: Tự Nhiên Mọc Nốt Ruồi Son Có Điềm Gì?
  • Nổi Chấm Đỏ Trên Da Như Nốt Ruồi Son Là Bị Gì, Có Nguy Hiểm Không?
  • Giải Thích Nốt Ruồi Trên Cơ Thể, Tốt Hay Xấu?
  • Vì Sao Người Có Nốt Ruồi Son Ở Trên Mu Bàn Tay Sẽ Bạc Tình Bạc Nghĩa?
  • Hình ảnh những đoàn tàu chật kín người cả trong lẫn ngoài khá phổ biến ở Ấn Độ (Ảnh: Business Insider)

    Tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực châu Á luôn ở mức cao, con số này tăng lên gấp 4 lần trong vòng 1 thế kỷ qua. Tăng trưởng dân số trong tương lai phụ thuộc nhiều vào khả năng sinh sản. Mức sinh toàn cầu được dự báo sẽ giảm từ 2,5 trẻ/phụ nữ trong gian đoạn 2010-2015 xuống còn 2,4 trẻ/phụ nữ vào giai đoạn 2025-2030 và còn 2,0 trẻ/phụ nữ vào giai đoạn 2095-2100. Tuy nhiên, đối với các nước có mức sinh cao thì không có sự chắc chắn trong việc dự báo mức sinh. Ở những nước này, người phụ nữ có trung bình 5 con trở lên trong suốt cuộc đời của họ. Trong số 21 quốc gia có khả năng sinh sản cao, có 19 quốc gia thuộc khu vực châu Phi và 2 quốc gia ở châu Á.

    Mặc dù, châu Á có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng sinh học, nhưng sự gia tăng dân số nhanh dẫn đến sự thiếu hụt nguồn lực, đồng thời phá hủy những nguồn tài nguyên hiện có. Theo dự báo, dân số châu Á sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong một thời gian dài, điều này sẽ tiếp tục gây áp lực lên các nguồn lực. Dựa trên các ước tính hiện tại, đến năm 2050, dân số sẽ tăng ở hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á, ngoại trừ ở Nhật Bản và Kazakhstan. Một số quốc gia bao gồm Afghanistan, Nepal và Pakistan sẽ tăng gấp đôi về dân số trong thời gian này, trong khi Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các quốc gia khác có tỷ lệ tăng trưởng cao đặc biệt. Tuy nhiên, nhiều quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số thuộc nhóm cao lại là những quốc gia có thu nhập thuộc nhóm thấp, các nước này ít có khả năng xử lý được những áp lực về tài nguyên và các nguồn lực.

    Người Trung Quốc chen chúc trong một hồ bơi (Ảnh: Business Insider).

    Nam Á là khu vực đông dân nhất châu Á, với các quốc gia đông dân điển hình như Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Không có khu vực nào trên thế giới có những vấn đề về dân số nghiêm trọng như những nước ở khu vực này. Sự sụt giảm mức sinh ở Sri Lanka, Pakistan và Ấn Độ gần đây chỉ mang lại sự cải thiện không đáng kể, vì số dân hiện tại của các quốc gia này vẫn tiếp tục gia tăng. Áp lực về dân số bắt đầu hiện hữu ở khu vực Nam Á từ những thập niên sau cai trị của đế quốc Anh. Khu vực này cần có những biện pháp để cải thiện chất lượng y tế công cộng, nâng cao năng suất nông nghiệp, xây dựng luật pháp và trật tự xã hội, giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của nạn đói, giảm tỷ lệ tử vong và đồng thời tăng tuổi thọ.

    Cấu trúc nhân khẩu học của các quốc gia Nam Á được mô tả bằng hình ảnh kim tự tháp tuổi và giới tính của Ấn Độ, trong đó nhóm tuổi trẻ là lớn nhất. Gần 40% dân số khu vực này dưới 15 tuổi (đối với các quốc gia Nepal và Bangladesh, con số này lần lượt là 42% và 45%). Cấu trúc tuổi này gây áp lực lên việc cung cấp các dịch vụ giáo dục, thực phẩm, bệnh viện và nhà ở cho thanh thiếu niên, tiêu tốn một phần lớn ngân sách quốc gia. Việc xem xét các kim tự tháp dân số đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá các xu hướng trong tương lai.

    Khi dân số trẻ chuyển sang khung tuổi trưởng thành (có nghĩa là di chuyển vào nhóm tuổi lao động), các chương trình phúc lợi xã hội sẽ còn đối mặt với nhiều áp lực hơn. Các vấn đề như thất nghiệp, thiếu lương thực, mù chữ và điều kiện sống thấp tại các quốc gia này sẽ còn trầm trọng hơn. Tình trạng hiện nay đã rất nghiêm trọng, tuy nhiên, dự báo trong tương lai thậm chí còn tồi tệ hơn.

    Dân số đông đi kèm với tình trạng nghèo đói (Ảnh: Reuters).

    Nhìn chung, phần đông số dân trong độ tuổi lao động ở châu Á làm việc trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, công nghệ lạc hậu và môi trường không an toàn. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng lao động kém hiệu quả. Ví dụ, trên một trang trại điển hình hoặc một văn phòng nhà nước, có đến 5 hay nhiều lao động sẵn sàng làm công việc mà chỉ 2 người có thể thực hiện dễ dàng. Trong các nhà máy, nhiều hoạt động được xử lý thủ công bởi nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, hàng triệu người vẫn thất nghiệp.

    Tại Indonesia, các chuyên gia nhân khẩu học đã cảnh báo về thời kỳ bùng nổ dân số sắp diễn ra. Nếu sự gia tăng dân số tiếp tục với nhịp độ cao thì Indonesia sẽ phải đối mặt với những vấn đề tồi tệ như tình trạng thiếu nhà ở, nước và lương thực, sự tàn phá thiên nhiên. Trong nhiều năm gần đây, quốc gia này đã phải nhập khẩu thực phẩm cơ bản bởi không đủ ruộng đất trồng lương thực.

    Một vấn đề về dân số khác mà các quốc gia châu Á đặc biệt là khu vực Đông Nam Á đang phải đối diện, đó là tình trạng đô thị hóa nhanh. Trong thập kỷ qua, quá trình đô thị hóa ở nhiều khu vực không thực sự mang lại cho người dân ở đó mức sống tốt hơn. Thậm chí, còn có lo ngại rằng, khu vực Đông Nam Á có thể sẽ bước vào thời kỳ mà đô thị hóa không song hành với tăng trưởng.

    Đô thị hóa và tắc đường ở Việt Nam (Ảnh: BizLive).

    Dự báo đến năm 2030, dân số đô thị ở khu vực này sẽ tăng thêm khoảng 100 triệu người, đạt mốc 373 triệu. Các đô thị lớn ở Đông Nam Á có thể kể đến như Phnom Penh (Campuchia), Jakarta (Indonesia), Kuala Lumpur (Malaysia), Manila (Philippines), Bangkok (Thái Lan), TP. Hồ Chí Minh (Việt Nam) và Singapore (quốc đảo Singapore). Trong đó, Singapore dẫn đầu về tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế trong khu vực, đến mức quốc gia này được xếp vào cùng nhóm với các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản, Canada và Australia. Malaysia xếp sau với tốc độ đô thị hóa đạt 75%, tương đương với Hàn Quốc. Indonesia và Thái Lan cùng có tốc độ đô thị hóa là hơn 50%, trong khi Philippines đạt mức 45%.

    Tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam mới đạt mức 33,6% trong khi Campuchia chỉ là 20,7%. Những con số này của Việt Nam và Campuchia là khá tương đồng với tốc độ phát triển kinh tế của hai quốc gia. Trong khi một số khu vực tại Đông Nam Á đã được đô thị hóa và phát triển nhanh thì một số khu vực khác vẫn còn chưa theo kịp sự chuyển dịch này. Tại Việt Nam, không khó để nhận ra quá trình đô thị hóa nhanh dẫn đến hàng loạt những vấn đề như ô nhiễm môi trường nước, không khí, giao thông quá tải, thiếu các cơ sở công cộng quan trọng như bệnh viện, trường học…

    Dưới những áp lưc do tăng trưởng dân số, các quốc gia châu Á cần có những giải pháp cho các vấn đề nhân khẩu học. Các nước châu Á cũng cần mở rộng phạm vi và lợi ích của các hệ thống bảo trợ xã hội, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ hưu trí công. Đây là vấn đề cần được tập trung khắc phục, nhất là đối với các quốc gia có mức độ quản lý, đóng góp và lợi ích phân chia lương hưu không phù hợp, thỏa đáng cho tầng lớp người già, người nghèo như ở Trung Quốc và Thái Lan.

    Cải thiện năng suất lao động là điều kiện tiên quyết, tối quan trọng cần được chính phủ các quốc gia khẩn trương đề ra phương án thực hiện. Theo đó, các quốc gia châu Á có thể đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua cải cách công nghệ và thực hiện chính sách đã được các nền kinh tế phát triển sử dụng, đơn cử là việc tận dụng tối đa sự phát triển và hỗ trợ của máy móc, robot…

    Thêm vào đó, các kế hoạch nhằm tăng năng suất lao động cũng được xem là phương pháp tốt để tích lũy được nhiều lợi ích khác nhau. Nhờ đối sách này, các quốc gia như Bangladesh, Ấn Độ… có thể nâng cao năng suất lao động của người dân, để bù đắp và tiếp tục phát triển ổn định trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm.

    Hồng Nhung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Đất Nước Ta Còn Nghèo
  • Vì Sao Nước Ta Có Khí Hậu Nhiệt Đới Ẩm Gió Mùa?
  • Bão Là Gì? Vì Sao Lại Có Bão? Ở Việt Nam 1 Năm Có Bao Nhiêu Cơn Bão?
  • Vì Sao Vòng Năm Của Cây Có Thể Phản Ánh Lịch Sử Ô Nhiễm Môi Trường?
  • Vì Sao Nói Rừng Xanh Là “lá Phổi” Của Trái Đất?
  • Phân Biệt Sàn Gỗ Công Nghiệp Châu Á Và Châu Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Become, Get, Go, Grow… Khi Nói Đến Sự Thay Đổi
  • Sự Khác Nhau Giữa “get Up” Và “wake Up”
  • Sự Khác Nhau Giữa Gỗ Công Nghiệp Mdf, Mfc Và Hdf
  • Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Ván Gỗ Gb, Gỗ Mdf, Plywood, Hdf
  • Ván Mdf Là Gì? Ván Mdf Có Gì Khác So Với Mfc Và Hdf?
  • Sự khác nhau giữa sàn gỗ công nghiệp châu Á châu Âu như thế nào? Công Ty TNHH TTNH Hùng Huy sẽ đưa ra các điểm khác nhau cho quý khách khi bạn đưa ra quyết định chọn loại sàn gỗ nào.

    Sự khác nhau giữa sàn gỗ châu Á và sàn gỗ châu Âu

    Sàn gỗ công nghiệp Châu Á Sàn gỗ công nghiệp Châu Á có khả năng chống ẩm, chịu nước tốt. Mặt khác nó có bề mặt sần và cứng có khả năng chống xước, chống cháy cao. Đặc biệt giá thành sản phẩm khá mềm. Phù hợp với hầu hết điều kiện của người dùng hiện nay. Nếu có nhu cầu trang bị sàn gỗ công nghiệp Châu Á các bạn có thể tham khảo các sản phẩm được nhập từ Thái Lan, Malaysia. Ngoài ra có thể tham khảo những sản phẩm “made in Viet Nam”.

    Tuy nhiên sàn gỗ công nghiệp Châu Á cũng tồn tại một số nhược điểm. Chẳng hạn như tính thẩm mỹ chưa cao, sản xuất với công nghệ chưa chuẩn. Bởi vậy nên có thể sẽ bị cong vênh sau một thời gian sử dụng.

    Sàn gỗ công nghiệp Châu Âu

    Khác hoàn toàn với sàn gỗ công nghiệp Châu Á. Sàn gỗ công nghiệp Châu Âu là dòng sàn gỗ công nghiệp đứng đầu thị trường hiện nay. Bởi dòng sản phẩm này mang trong mình rất nhiều ưu điểm vượt trội. Chẳng hạn như vân gỗ tự nhiên, cốt gỗ tốt, không độc hại cho con người cũng như cho môi trường. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm được kiểm định nghiêm ngặt trước khi cung cấp ra thị trường.

    Độ chống xước

    Sàn gỗ Châu Âu có bề mặt chống xước rất tốt. Bề mặt được cấu tạo bởi lớp Melamine resins cùng với sợi thủy tinh được ép dưới nhiệt độ cao. Nhờ đó sản phẩm có khả năng chống cháy rất tốt.

    Khả năng chống thấm nước

    Khả năng chống thấm nước của dòng sản phẩm này được đánh giá khá ổn. Các sản phẩm sàn gỗ công nghiệp Châu Âu khi bị ngấm nước thì độ giãn nở rất thấp.

    Màu sắc sàn và vân gỗ

    Bên cạnh đó, sàn gỗ công nghiệp Châu Âu có màu sắc rất thật, vân gỗ tự nhiên và tinh tế, có khả năng giữ màu rất tốt, không bị phai màu theo thời gian.

    Khả năng chịu va đập

    Với cốt gỗ HDF được làm từ các loại gỗ tốt nên có độ cứng cao, khả năng chịu va đập tốt. Trang bị sàn gỗ công nghiệp Châu Âu bạn sẽ không phải lo lắng đến vấn đề thi công. Bởi sử dụng hệ thống hèm khóa hiện đại nên việc lắp đặt hay tháo dỡ cũng sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng.

    Mức giá vừa phải

    Về giá của sàn gỗ Châu Âu cũng rất đa dạng với đầy đủ các mức giá cao thấp khác nhau phù hợp với túi tiền của từng đối tượng người dùng. Nếu hầu bao hạn hẹp bạn có thể chọn sàn gỗ công nghiệp giá rẻ còn nếu điều kiện dư dả thì hãy tô điểm cho ngôi nhà của mình bằng những dòng sản phẩm cao cấp.

    Và còn rất nhiều điều tuyệt vời khác sàn gỗ công nghiệp Châu Âu mang đến cho ngôi nhà của bạn mà chỉ khi chính bạn có cơ hội trải nghiệm và sử dụng thì mới có thể cảm nhận hết tất cả những điều tuyệt vời đó.

    Vậy nên chọn mua loại sàn gỗ công nghiệp châu âu nào chất lượng?

    Sàn gỗ Kronoswiss Thụy Sĩ với các tính năng vượt trội như: sàn gỗ chịu nước tốt, chống trầy xước, không cong vênh, co ngót, mối mọt, ít bám bẩn, dễ lau chùi các vết bẩn như trà, coffee, thức ăn,…, chống cháy do gạt tàn thuốc, không chứa hoá chất độc hại, thân thiện môi trường sẽ là sự lựa chọn ưu việt nhất cho căn bếp nhà bạn!

    Công ty TNHH TTNT Hùng Huy là đơn vị phân phối độc quyền duy nhất Sàn gỗ Kronoswiss tại khu vực phía Nam, được sản xuất 100% tại Thụy Sĩ & hàng chính hãng. Công ty cam kết xuất xứ và sẵn sàn bồi thường số tiền lên đến 10.000.000.000 vnđ (mười tỷ đồng) nếu như không phải chính hãng.

    Để mua được Sàn gỗ Kronoswiss chính hãng và chất lượng vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi:

    Địa chỉ: 285 Tô Hiến Thành, P.13, Q.10, Tp. HCM

    Hotline: 0989 029 589

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Bột Giấy Làm Từ Cây Gỗ Cứng Và Cây Gỗ Mềm
  • Sự Khác Nhau Giữa Seo Và Google Adwords Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Seo Và Google Adwords
  • Sự Khác Nhau Giữa Seo Và Quảng Cáo Google Adwords
  • Sự Khác Nhau Giữa Seo Và Quảng Cáo Google Adwords
  • 28. Vài Nét Về Phật Giáo Ở Châu Á Và Châu Âu Trong Thế Kỷ Xx

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Nhận Thức Cơ Bản Về Phật Giáo
  • Hiểu Những Điều Căn Bản Về Đạo Phật Trong 5 Phút Vấn Đáp
  • 5 Vị Chức Sắc Phật Giáo Trúng Cử Đại Biểu Quốc Hội
  • Tìm Hiểu Về Phẩm Vị Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài
  • Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật
  • Phật giáo không còn nằm ở phương Đông nữa. Theo quy luật tiến hóa, giao lưu dần dần Phật giáo đã chuyển đến phương Tây. Phương Tây với những điều kiện xã hội, kinh tế và khoa học tiên tiến nhất trên thế giới sẽ có thể trở thành đầu tàu cho sự chấn hưng của đạo Phật trong thiên niên kỷ mới.

    Mồng 8 tháng chạp nữa lại đến, thiêng liêng rộn rã trong niềm hân hoan của những người con Phật, chào đón ngày kỷ niệm Đức Bổn Sư Thích-ca thành đạo, đặc biệt năm nay Hòa Thượng Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương, cùng chư vị Tôn Túc, Thượng Toạ, Đại Đức tăng ni, quý Phật tử Việt Nam đã từ Việt Nam đáp máy bay sang Bồ-đề Đạo Tràng- Ấn Độ, các tăng ni sinh đang du học tại Ấn Độ từ thủ đô Delhi, các thành phố lớn Chandigarh, Varanasi…cũng vân tập tại Bồ-đề Đạo Tràng để cùng tổ chức đại lễ tôn nghiêm nơi chính cội cây Bồ-đề mà Đức Phật đã giác ngộ.

    Hầu như tất cả mọi người con Phật chúng ta đều biết chính Hoàng đế A-dục là người đầu tiên đã gởi thông điệp của Đức Thích-ca-mâu-ni Phật vượt ra ngoài biên giới Ấn Độ 3 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt niết bàn. Từ đó Phật giáo trải qua những biến đổi thăng trầm.

    Tại Ấn Độ, quê hương của Đức Phật, Phật giáo đã bị lãng quên trong 800 năm. Ngay cả vùng núi Himalaya nơi Phật giáo đã thịnh hành trong nhiều thế kỷ đã bị suy tàn vì sự nghèo nàn và tình trạng bất ổn. Trường phái Nguyên thủy Phật giáo bị mờ nhạt dần khỏi miền đất này, trong khi trường phái Đại thừa lại được hưng thịnh.

    Do hai cuộc chiến tranh thế giới trong suốt thế kỷ vừa qua, cộng với những cuộc khủng hoảng chính trị, các nước như Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Điện đã không thể thực hiện tiến trình truyền bá Phật giáo, nhưng quần chúng ở tại các quốc gia này vẫn duy trì Phật giáo với lòng tận tụy. Một số những người quy y theo Phật giáo cũng dần dần gia tăng đáng kể. Một sự kiện đáng kể nữa là việc phát sanh hàng trăm tông phái Phật giáo mới từ trường phái đại thừa Phật giáo. Tại Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc, Tây Tạng, các tông phái mới này đã trở thành những tổ chức tôn giáo lớn, nhưng dường như có một cuộc cạnh tranh giành ảnh hưởng đối với tín đồ. Tuy nhiên, điều này là một dấu hiệu tốt của sự kế thừa trong suốt thế kỷ qua.

    Ở Nhật Bản, trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, Phật giáo được sự bảo trợ của hoàng gia, nhưng sau chiến tranh và với sự cải tổ quản trị hành chánh mới đã tách Phật giáo ra khỏi chính phủ và mỗi bên có chức năng độc lập riêng.

    Suốt thế kỷ vừa qua tại châu Á, các nước như Tích Lan, Bhutan và Miến Điện đã có được sự bảo trợ của chính phủ trong việc truyền bá và duy trì Phật pháp, Phật giáo đã được coi trọng trong hiến pháp của các quốc gia đó.

    Trong thế kỷ 20, phương pháp thiền Phật giáo trở nên phổ biến và số người tu tập ngày càng gia tăng. Thiền như là một tinh hoa của Phật giáo phương Đông. Đây là một phương pháp rất bổ ích và phổ biến cả trong đạo lẫn ngoài đời, đã mang đến một tinh thần trong sáng, định tĩnh và một thân thể khỏe mạnh đầy sức sống cho mọi con người thực tập thiền. Phải nói đây là một phương pháp sống hữu hiệu cho tất cả, bất luận là người phương Đông hay Tây, là tôn giáo hay không tôn giáo.

    Hai quốc gia chủ yếu theo Phật giáo đại thừa là Nhật Bản và Đại Hàn đã thực hiện một sự đóng góp lớn lao trong việc khởi xướng “Phật giáo quốc tế” bằng việc cúng dường tịnh tài cho Ấn Độ để phục hồi và phát triển những thánh tích Phật giáo như : Bồ-đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Lộc Uyển (Sarnath), Câu-thi-na (Kushinagar), Na-lan-đà, núi Linh Thứu (Rajgir), Tỳ-xá-ly (Vaishali) Na-lan-đà (Nalanda) và Xá-vệ (Sravasthi). Họ cũng đã đóng góp to lớn việc xây dựng để xây cất các tự viện lớn và sửa sang những con đường dẫn đến các thánh tích chính. Về phía Việt Nam, có Hòa Thượng Huyền Vi, Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới, đã xây chùa Việt Nam tại Lumbini và Kushinagar; Thượng Tọa Như Điển, viện chủ Chùa Viên Giác, Đức Quốc, đang xây Trung Tâm Tu học Viên Giác tại Bồ-đề Đạo Tràng. Đặc biệt nhất là Thượng Tọa Huyền Diệu người đầu tiên đã xây hai ngôi chùa Việt Nam tại Bồ-đề Đạo Tràng và Lumbini, và cũng như cũng đã đóng góp vào việc xây dựng một chiếc cầu tại Lumbini cho dân làng ở hai bên kênh sông có phương tiện qua lại dễ dàng.

    Trong các quốc gia như Singapo, Đài Loan, Tích Lan và Hồng Kông cũng tiến hành công cuộc chấn hưng Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Đã xuất bản hàng ngàn bản kinh ấn tống cho giới phật giáo trong và ngoài nước một cách rộng rãi, trong đó phải kể đến như The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation, Taipei…

    Ở châu Á, trong số các quốc gia mà Hồi giáo có ảnh hưởng lớn như Malaysia và Indonesia thì Phật giáo cũng được phát triển do phật tử từ Tích Lan và Trung Quốc đến xây dựng nhiều tự viện và duy trì Phật giáo suốt thế kỷ vừa qua. Nhưng không có một sự cải thiện Phật giáo ở các nước như là Pakistan và Afganistan nơi mà một số lớn pháp bảo của Phật giáo đã được khai quật khảo cổ. Trong quần đảo Malpes không một ai có thể và được phép xây cất chùa chiền bởi vì sự quản lý chặt chẻ của Hồi giáo.

    Nepal, (Lumbini, nơi đản sanh thái tử Tất-đạt-đa) là một quốc gia có hiến pháp tôn trọng Ấn giáo nhưng cộng đồng Phật giáo cũng được phát triển một cách độc lập mạnh mẽ.

    Trung Quốc là một quốc gia có truyền thống đại thừa Phật giáo, sau cuộc cách mạng ở thế kỷ qua đã khiến Phật giáo và nhà nước tách biệt. Theo hiến pháp, mội người có quyền không theo tôn giáo nào cả. Nhưng trong suốt ba thập kỷ vừa qua của thế kỷ XX người dân đã biến Phật giáo thành một “tôn giáo bản địa” (chớ không coi là ngoại lai từ Ấn Độ).

    Cũng chính trong suốt thế kỷ XX này, các tổ chức Phật giáo mạnh mẽ đại diện cho thế giới như là Hội nghị Tăng già Thế giới ( World Sangha Council), Hội nghị Phật giáo Thế giới ( World Buddhist Conference), Tổ chức Phật giáo Thế giới ( World Buddhist Organization), Hội Tăng già Phật giáo Thế giới ( International Buddhist Brotherhood), Hội nghị Phật giáo Châu Á ( Asian Buddhist Conference), và Hội đồng Tăng già Quốc Tế ( International Sangha Council). Những tổ chức này đã đấu tranh cho quyền lợi của cộng đồng Phật giáo trên khắp thế giới.

    Một sự kiện đáng chú ý khác nữa trong thế kỷ qua là việc trân trọng trụ đá hình sư tử của vua A Dục ở Sarnath làm quốc huy của đất nước Ấn Độ, và trên quốc kỳ của Ấn Độ có biểu tượng Chuyển Pháp Luân ở Sarnath.

    Tuy nhiên, có người đã cho rằng nếu mà người dân châu Á đã không bị hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng chính trị suốt thế kỷ qua thì có lẽ Phật giáo sẽ hưng thịnh như thời đại hoàng kim của vua A Dục, phải không? Có lẽ cũng phải, nhưng thực tế mỗi quốc gia mỗi khác, nhìn chung tất cả đang cùng khắc phục những hoàn cảnh khó khăn riêng của từng nước mình và sự nhận thức về Đức Phật và Phật giáo trong quần chúng nhân dân và giới trí thức châu Á đã được gia tăng và có “sự tiến triển phía trước” (forward march) trong việc truyền bá Phật giáo và phát triển cộng đồng Phật giáo ở châu Á trong suốt thế kỷ qua.

    Đó là đôi nét về Phật giáo ở Châu Á.Giờ xin phép được giới thiệu tiếp “Vài nét về Phật giáo phương Tây trong thế kỷ XX.”

    Như chúng ta đã biết nhờ vào những tiến bộ không ngừng của kỹ thuật truyền thông và vận chuyển, sự giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây đã trở thành mỗi ngày một thêm phong phú và mau lẹ. Đó là hiện tượng toàn cầu hóa ( mondialisation) của thế giới về các mặt văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội. Phật giáo cũng thế, lần đầu tiên khi truyền đạt đến phương Tây đã đối mặt với khoa học kỹ thuật là tinh hoa của nền văn minh phương tây, phát xuất từ nền văn minh cổ Hy Lạp; đã đối mặt với khoa học tâm thần, tôn giáo thần khải (Ky-tô Giáo); với nền văn minh vật chất cực thịnh, với kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản, khuynh hướng tiêu thụ và hưởng thụ đang tràn lan.

    Tuy nhiên, thử thách lớn nhất của Phật giáo không phải là khoa học, bởi vì nếu tìm hiểu suy nghĩ về những lời căn bản của Đức Phật dạy, ta thấy đầy đặc tính duy lý và tính khách quan của khoa học; cũng không phải đạo Phật đối mặt với tôn giáo thần quyền, vì xã hội ngày nay đang đi đến chiều hướng mất thiêng liêng ( desacralisation), những gì lỗi thời sẽ bị lùi dần và tan biến trong lịch sử. Cái thử thách lớn nhất của Phật giáo khi đến phương Tây là nền văn minh vật chất đang lan tràn.

    Quan niệm hạnh phúc của phương Tây được thiết lập trên cơ sở ảo giác của đầy đủ về vật chất và tiền bạc; và những điều này chi phối toàn bộ đời sống con người. Thế nhưng, Eric Fromm- nhà tâm lý học xã hội Mỹ thật sự có lý khi nhận định rằng:

    “Tuy có sự tăng trưởng sản xuất và tiện nghi, con người ngày càng đánh mất ý thức về bản thân, cảm thấy cuộc sống của mình ngày càng vô nghĩa, mặc dù cái cảm giác đó phần lớn không được biết đến.”6

    Đúng vậy! Họ đang trở thành những người trống trải trong đời sống tâm linh đến nỗi họ phải than rằng: “Trong thế kỷ XX, vấn đề là con người đã chết.”7Vì vậy, họ bắt đầu đi tìm một lối thoát trong ngõ cụt đó bằng cách hướng về các truyền thống tâm linh của phương Đông mà cụ thể là giáo lý của Đức Phật.

    Quay về nguồn cội lịch sử Phật giáo du nhập phương Tây trong thế kỷ XX như thế nào? Trước tiên chúng ta phải nói đến sự truyền bá Phật giáo qua phương tiện văn chương sách vở.

    Nói đến tác phẩm sớm nhất viết về Phật giáo trong thế kỷ XX này là phải nói đến tác phẩm ” Eastern Monachism” của Spence Hardy được xuất bản ở Anh vào ngày 1-5-1850.

    Công việc phiên dịch những kinh điển của Đức Phật sang các ngôn ngữ châu Âu bắt đầu bởi Ông Burnout và xuất bản tác phẩm ” Manual ofBuddhism” của Hardy vào năm 1860 đã gây cảm hứng cho Fausboll bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển từ nguồn Pali.

    Chẳng bao lâu sau tác phẩm nổi tiếng ” The Light of Asia” của Edwin Arnold ra đời năm 1879, Max Muller đã bắt đầu với dịch phẩm đồ sộ của mình là ” Sacred books of the East”(Thánh điển Phương Đông). Đây là bộ sách bán chạy nhất trong tất cả các sách Phật giáo ở phương Tây. Những bài thơ dựa trên ” Lalita Vistara” là một tác phẩm thuộc Bắc Phạn (Sanskrit) mà có lẽ được biên soạn vào thế kỷ thứ V. Đó là sự chỉ dấu đầu tiên đến hàng triệu học giả phương Tây về sự hiện hữu của một tôn giáo mà Edwin Arnold đã nói ” hơn một phần ba nhân lọai đã mang ơn tư tưởng và đạo đức Phật giáo.”

    Cùng thời điểm đó sách Phật giáo đã đánh thức sự quan tâm Phật giáo ở người phương Tây. Một trong những cuốn sách đã bán rộng khắp các nước phương Tây kể cả châu Mỹ là cuốn ” The Light of Asia.”8

    Vào năm 1880, Rockhill, Oldenberg, Samuel Beal, Childers và một vài người nữa đã cùng nhau trình bày sự cần thiết về hệ thống hóa các kinh điển Pali trước thế giới phương Tây; vì vậy Hội Kinh Điển Pali ( Pali TextSociety) được thành lập năm 1881. Đó là một sự sáng tạo có giá trị bất hủ của học giả Phật giáo nổi tiếng là Ông T.W. Rhys Davids và sau đó là vợ ông đã được cử làm chủ tịch của Hội Pali Text Society từ khi chồng bà mất vào năm 1923.

    Thật ra trong số những người phương Tây, thì người Đức là người đầu tiên đã nghe về Đức Phật cao quý tối thượng có thể từ các nhà Thần học, mà các nhà Thần học này đã đọc các tác phẩm của Thánh Hieronymus, một trong các Cha của giáo hội Thiên Chúa đã mô tả về sự đản sanh kỳ diệu của Đức Phật. Nhưng về giáo lý của Đức Phật dường như không ai biết tí nào cả trong suốt thời trung cổ. Mãi cho tới thế kỷ XVII, các nhà triết học người Đức mới biết về Phật giáo. Chính Wilhelm Leibniz Gottfried (1644-1716) đã chọn vài điểm tinh hoa của giáo lý Phật giáo Trung Hoa rồi biên sọan thành những tác phẩm của mình.

    Ở Đức, lãnh vực rộng lớn của tri thức Phật giáo là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của Immanuel Kant (1724-1804) nhưng chính Arthur Schopenhaver trong tác phẩm của mình đã giới thiệu một cách chi tiết về Phật giáo như là trí tuệ của người Ấn.9

    Giai đoạn chói sáng nhất của Phật giáo ở phương Tây bắt đầu vào năm 1893 khi mà Hội Nghị Tôn giáo thế giới ( The World Parliament of Religions) được tổ chức ở Chicago, Hoa Kỳ.

    Ngài Anagarika Dharmapala là người sáng lập ra Hội Đại Bồ-đề ở Ấn Độ vào tháng 5 năm 1891, và đã đại diện cho cộng đồng Phật giáo thế giới. Lần đầu tiên, hầu hết tất cả các đại biểu của các quốc gia phương Tây đã nghe ngài Anagarika Dharmapala đã nói về Đức Phật và giáo pháp cao thượng của Đức Phật. Bài thuyết trình của ngài diễn ra tại Hội Nghị Phật giáo thế giới với đề tài: “Thế giới đã mang ơn Đức Phật” ( The world Debt to the Buddha) đã gây ấn tượng sâu sắc đến các đại biểu tôn giáo thế giới.

    Những tác phẩm viết về Đức Phật và Phật giáo ở Anh, Mỹ và Đức trong những giai đọan đầu hầu hết là những người truyền giáo Thiên Chúa. Vào thời buổi đầu, những nhà phương Tây đã thu thập kiến thức về Phật giáo chỉ qua sách vở và văn chương, và lần đầu tiên họ mới chính tai nghe được những pháp thọai nổi tiếng đầu tiên về Phật giáo do ngài Anagarika Dharmapala giảng tại Hội Nghị Tôn giáo thế giới, Chicago.

    Sau Hội nghị này, ngài Anagarika Dharmapala được mời thuyết gỉang Phật pháp tại Tòa Thị Sảnh (Town Hall), New York và trong pháp thoại đó, ngài đã trình bày như sau:

    “Thông điệp của Đức Phật đem tới cho chúng ta sự giải thoát khỏi thần học, nghi lễ, nghi thức, giáo điều, thiên đàng, địa ngục và các nguyên tắc lỗi thời của thần học. Đức Phật đã dạy cho dân tộc Aryans của Ấn Độ cách đây 25 thế kỷ một tôn giáo khoa học chứa đựng nền đạo đức vị tha vô ngã cao nhất, một triết lý sống xây dựng trên nhân sinh quan và vũ trụ quan hòa hợp với địa lý thiên văn, thuyết điện tử và thuyết tương đối.”

    Ông bà Rhys Davids đã đóng một vai trò hướng đạo quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo ở phương Tây, trong khi ” The Light of Asian” của Adwin Arnold thì đóng vai trò đã thúc đẩy sự hiểu biết giáo pháp và đời sống của Đức Phật.

    Thế kỷ XX bắt đầu với một sự kiện quan trọng trong thế giới phương Tây là ông Charles Henry Allan Bennett (sanh tại Luân Đôn) đã có kiến thức uyên bác về Phật giáo qua việc đọc các bản dịch kinh điển, và đã xuất gia trở thành tỳ-kheo với pháp danh là Ananda Metteya.

    Từ đầu thế kỷ XX, Phật giáo đã đánh thức sự quan tâm đáng kể ở phương Tây với những nền tảng như trên và có nhiều người đã tiếp thu những quan điểm của các hiệp hội phương Tây hoặc của Phật giáo hoặc của những người có tình cảm với Phật giáo. Điều này có lẽ được minh họa nhiều nhất từ lời phát biểu của nhà đại khoa học Albert Einstein ở thế kỷ XX rằng mặc dù ông không phải là một người theo tôn giáo, nhưng nếu là người có tín ngưỡng thì ông sẽ chọn là một phật tử.

    Phật giáo đã chiếm một vị trí nào đó trong tâm tư của quần chúng và trong nhiều nước, đạo phật đã trở thành một tôn giáo thứ ba sau Ky Tô giáo và Hồi giáo.

    Một trong những đặc điểm đầu tiên có thể được đánh giá cao là Phật giáo không bị hạn cuộc bởi văn hóa ( culture-bound), nói như vậy có nghĩa là Phật giáo có thể hòa đồng mà không bị giới hạn bởi bất kỳ xã hội hoặc nhóm chủng tộc nào, trong khi đó có vài tôn giáo khác thì bị hạn cuộc vào văn hóa, chẳng hạn như Do Thái Giáo, Ấn Giáo…

    Suốt thế kỷ XX, Phật giáo đã dễ dàng du nhập vào các nước phương Tây từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác, bởi vì trọng tâm của Phật giáo là nhấn mạnh trong sự tu tập nội tâm hơn là các hình thức lễ nghi tôn giáo bên ngoài. Cũng giống như các truyền thống Phật giáo của các nước như Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Việt Nam, trong suốt các thế kỷ vừa qua, Phật giáo ở các nước phương Tây như Anh, Pháp, Ý, Mỹ đã được nổi dậy và phát triển. Phật giáo đã trở nên phổ biến ở phương Tây vì các yếu tố như tính thiết thực của Đạo Phật (phương pháp tu tập), cách ứng xử đối với các vấn đề thực tiển và không quan tâm đến các vấn đề học thuật cũng như lý thuyết siêu hình.

    Cô Nathalie Verburgh, người Bỉ, hiện là sinh viên của viện Phật giáo quốc tế Karmapa tại New Delhi trong buổi chuyện trò với Jigme Rinpoche đã hỏi ngài nhìn thấy Phật giáo phát triển ở phương Tây như thế nào? Và ngài Rinpoche đã trả lời :

    Và phương pháp để giúp người phương Tây đạt được sự trong sáng, chánh niệm trước lối sống vật chất đó thì không gì khác hơn là thiền định. Thiền định Phật giáo đã là một đề tài thu hút người phương Tây suốt thế kỷ vừa qua.

    Ngoài ra với khuynh hướng “Thế tục hóa tâm linh,” cho nên đa phần đạo Phật ở phương Tây chủ yếu đạo của những người cư sĩ. Những vị phật tử tại gia này vẫn tiếp tục sống đời sống với gia đình, với xã hội nhưng tuân theo lời Phật dạy. Trong khi áp dụng đạo Phật vào xã hội phương Tây với những đặc điểm đặc thù của nó, người phật tử phương Tây bắt buộc phải sáng tạo, khế cơ, tìm ra những giải pháp thích hợp cho các vấn đề của thời đại, và hợp theo tinh thần của đạo Phật. Đối với họ đó là một vấn đề tự nhiên và tất nhiên, bởi vì không thể nào tránh khỏi đổi thay và chọn lựa, trong khi áp dụng một giáo lý cổ xưa, thuộc vào một nền văn minh xa lạ. Đó là nguồn sinh khí mới mà đạo Phật phương Tây mang lại cho Phật giáo thế giới là một cái nhìn mới về đạo Phật, và những kinh nghiệm mới, trong khi áp dụng đạo Phật vào cuộc sống mới.

    Ở Châu Âu và Châu Mỹ, nói chung Phật giáo được tin tưởng bằng niềm tin ( saddha) với chánh kiến hơn là sự sùng tín ( bhakti) vào những vị thần linh đầy những phép mầu cứu vớt họ. Thêm vào đó, nhờ sống quen trong tinh thần khoa học, nên họ nghiên cứu Phật giáo cũng với tinh thần rất khoa học, phê phán và luôn luôn sẵn sàng đặt lại vấn đề.

    Phật học cũng trở thành một ngành chuyên môn được giảng dạy trong các trường đại học lớn trên thế giới, và đã có nhiều công trình nghiên cứu phật học nghiêm chỉnh và có giá trị xuất phát từ đây.

    Nhà sử học văn minh Arnold Toynbee đã nói rằng: ” Sự kiện có ý nghĩa nhất của thế kỷ XX này là sự gặp gỡ giữa đạo Phật và phương Tây.”

    Sự nhận định đó đã được chứng minh một cách hùng hồn bởi sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo tại các nước Âu, Mỹ, và Úc Châu trong mấy thập niên vừa qua. Hàng ngàn tự viện, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức đã hình thành tại phương Tây. Điều này xuất phát từ hai lý do chính: một là tính phổ biến của Phật giáo, hai là sự hiện diện của nhiều giới xuất gia và tại gia thuộc trường phái đại thừa đến từ các nước như Đại Hàn, Lào, Việt Nam, Miến Điện, Tây Tạng và Cam Bốt…Hoặc tạm cư hoặc định cư, các vị này cũng đã tổ chức các khóa tu học Phật, khóa thiền, khóa nhập thất ngắn ngày… Với những không khí đầy sinh động đó, khiến cho giới Phật tử theo tu tập ngày càng đông. Ngoài ra, họ còn cho in ấn kinh sách Phật, các lời dạy của các vị Lama tu chứng, các thiền sư, pháp sư nổi tiếng trên thế giới để phổ biến giáo lý Phật. Đặc biệt cuối thế kỷ XX và từ đầu thế kỷ XXI trở đi này với những phương tiện truyền thông điện tử dồi dào, qua các phương tiện viễn thông trên mạng internet hay website…họ đã đóng góp một phần rất lớn, nếu không nói là hàng đầu trên thế giới trong việc truyền bá Phật giáo đến với mọi người trên thế giới rất nhanh chóng mà có năng suất hiệu quả cao.

    Tất cả điều này đã chứng tỏ rằng người phương Tây đã rất quan tâm đến Phật giáo.

    Hội nghị truyền bá Phật giáo đầu tiên tổ chức tại Kyoto vào tháng 4/1998 đã quyết định truyền bá Phật giáo vào phương Tây trong kế họach của thế kỷ XXI này.

    Như vậy Phật giáo không còn nằm ở phương Đông nữa, mà theo quy luật tiến hóa giao lưu dần dần chuyển đến phương Tây. Đạo Phật phương Tây sẽ là đầu tàu cho sự chấn hưng của đạo Phật với những điều kiện xã hội, kinh tế và khoa học tiên tiến nhất trên thế giới.

    “Sự gặp gỡ giữa đạo Phật và phương Tây trong thế kỷ 20 là một điều bổ ích, không riêng cho phương Tây mà cho cả thế giới nữa. Đây là một dịp may lớn đối với đạo Phật, sẽ mang lại cho đạo Phật một nguồn sinh khí cần thiết. Đó có thể là một cuộc chuyển pháp luân mới.”

        Christmas Humphreys, The Development of Buddhism in England. London: The Buddhist Lodge, 1937.
    • Glasenapp, Helmuth Von,The Influence of Buddhist Philosophy in East and West.
    • Sautina, Peter Della, Fundamentals of Buddhism. 1997.
    • Machinery, Arthur, Mahayana Buddhism in the West,1993.
      International Buddhist Conference , Delhi, 1992.
      , vol. 65, May 1957. The Maha Bodhi Journal Maha Bodhi Centenary Volume, ed. Upali Rupasinghe, Mahabodhi of India, chúng tôi Maha Bodhi, March 1895.
      Báo cáo Tổng Kết công tác Phật Sự năm 1999 của GHPGVN ngày 3-1-2000.
      số 30 ngày 24-8-2000 và Báo Giác Ngộ Nguyệt San Giác Ngộsố 10, tháng 1-1997.

    Trong “Một cuộc chuyển pháp luân mới”, Báo Giác Ngộ số 30, 24-8-2000 trang 3, 6 và 7.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Nét Văn Hóa Phật Giáo Thái Lan
  • Tìm Hiểu Về Tôn Giáo Ở Hồng Kông
  • Phật Giáo Có Mối Liên Hệ Với Bà La Môn Giáo Và Ấn Độ Giáo Hay Không?
  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy
  • Về Giáo Lý Của Phật Giáo Nguyên Thủy
  • Nước Hoa Singapore Và Kim Tự Tháp Chất Lượng Nước Hoa Ở Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Nền Giáo Dục Và Các Lựa Chọn Trường Học Tại Singapore
  • Sữa Non Alpha Lipid Có Thật Sự Tốt? Tác Dụng Gì? Mua Ở Đâu?
  • Sữa Non Alpha Lipid Lifeline Có Tốt Không ? Lợi Ích Của Sữa Non
  • Sữa Non Alpha Lipid Lifeline Của Tập Đoàn New Image New Zealand
  • Sữa Pediasure Có Mấy Loại_Có Sữa Pediasure Giả Không
  • “Một ngày kia, trên 1 diễn đàn về nước hoa mà tôi thường xuyên post bài, có 1 phụ nữ muốn biết về cái gọi là “Nước hoa Singapore”, cô ta là người Singapore và chưa bao giờ nghe nói về cụm từ này.

    Vâng, tôi giải thích 1 cách thẳng thừng rằng “Nước hoa Singapore” chỉ là 1 thuật ngữ hay là 1 phép ẩn dụ của những người bán lẻ nước hoa làm giả ở Phillipin

    tháng 1 năm 1987 chính phủ Singapore đã ban hành 1 điều luật nhằm chấm dứt tình trạng làm giả băng đĩa nhạc,sách, phần mềm máy tính và NƯỚC HOA,cá nhân bị phát hiện bán hàng fake sẽ bị phạt tới 50,000$ hoặc 5 năm tù giam ! ). Vậy, như đã nói ở trên , tuy không xác định được chính xác nguồn gốc của “Nước hoa Singapore” , có thể là từ Trung Quốc hay 1 nước nào đó, nhưng có thể chắc chắn không có cái gọi là “Nước hoa fake 1 sản xuất tại Singapore” !

    Sitoy cũng đưa ra 1 quan điểm khá thú vị về câu hỏi : tại sao lại là nước hoa Singapore mà không phải là nước nào khác ? Và tại sao cụm từ đó chỉ xuất hiện ở Phillipin (cô ta không biết rằng ở Việt Nam cũng như thế :D). Theo đó, nguyên nhân có thể xuất phát từ quan niệm về đẳng cấp và giáo dục. Rằng thứ gì đó từ Singapore chắc chắn phải có chất lượng cao và vượt trội so với nguồn gốc từ Phillipin (hay Trung Quốc, Việt Nam,…tất cả phần còn lại của châu Á). Một chi tiết nữa mà các nhà bán lẻ nước hoa kiểu này đưa ra là loại “Nước hoa Singapore” này chất lượng vượt trội so với “Nước hoa Hồng Kông”, và ngang ngửa với “Nước hoa Dubai”- loại mà độ lưu hương gần bằng “Nước hoa US”. Như vậy có thể thấy có 1 kim tự tháp về chất lượng nước hoa hình thành ở đây: Ở dưới cùng là hàng Hồng Kông/ Trung Quốc, phía trên là Singapore, trên nữa là nước hoa Dubai và trên đỉnh là hàng Mĩ. Ở Việt Nam khái niệm “Nước hoa DuBai” chưa thấy được nhắc đến, nhưng theo tôi sớm muộn gì nó cũng sẽ xuất hiện.

    Và theo thông tin của nhiều người buôn nước hoa thì các quốc gia sản xuất nước hoa fake phổ biến nhất trên thế giới là: Tàu khựa (tất nhiên) bao gồm đại lục (hàng lởm) và Hồng Kông , nước hoa fake Tàu khựa thuộc hàng chiếu dưới, Sản phẩm tinh vi hơn bắt nguồn từ Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Và chắc chắn Singapore ko có tên trên bản đồ nước hoa fake thế giới.

    Ở bài tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét liệu có nên sử dụng nước hoa fake ? 1 phân tích so sánh cụ thể giữa 2 chai nước hoa fake Chanel no 5 nổi tiếng,…Mời các bạn theo dõi…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Nước Hoa Singapore Lại Rẻ? Sự Thật Ngỡ Ngàng
  • Những Nét Đặc Trưng Về Văn Hóa Và Con Người Singapore
  • Tìm Hiểu Những Điều Thú Vị Về Tính Cách Con Người Singapore
  • Du Học Quốc Tế Nhật Anh Avi
  • Tổng Quan Về Hệ Thống Giáo Dục Singapore