Đóng Vai An Dương Vương Kể Lại Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Cho Câu Hỏi Vì Sao Adn Có Tính Đa Dạng Và Đặc Thù
  • Tại Sao Châu Phi Lại Nghèo?
  • Châu Âu Đổi Sang Giờ Mùa Đông
  • Châu Âu Đổi Giờ Và Sự Rắc Rối Không Cần Thiết
  • Tại Sao Không Có Cảm Giác Đi Cầu?
  • 7 Bài văn mẫu Hóa thân thành An Dương Vương

    Ngoài ra, chúng tôi đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THPT miễn phí trên Facebook: Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất. Tài liệu học tập lớp 10.

    Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện

    Đóng vai An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 1

    Ta là An Dương Vương, vị vua của nước Âu Lạc năm nào. Ngồi dưới thuỷ cung ngắm cá bơi lội, nghe tiên nữ hát ca mà lòng ta vẫn âu lo nỗi buồn. Nhớ năm xưa, chuyện ta dựng nước rồi làm mất nước mà đau đớn vô vàn.

    Năm đó, sau khi lên ngôi vua, ta bèn nghĩ việc xây thành. Nhưng khốn đốn thay, xây thành ở đất Việt Thường hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Nghe nói vì đất nơi này còn vương vẩn những hồn ma của các vị tướng bại trận mà họ không cho ta thuận lợi đắp thành. Ta lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng bảy tháng bảy ta bỗng thấy một cụ già từ phương Đông đứng trước cửa thành mà than rằng: “Xây dựng thành này bao giờ cho xong được”. Ta thấy thế, mừng rỡ lắm, đón vào trong điện, thi lễ hỏi lý do đắp thành mãi không xong thì cụ già trả lời: “Sẽ có xứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”, rồi từ biệt ra về.

    Nghe lời đó, ngày hôm sau ta đứng ngoài cửa đông chờ đợi, và bất ngờ thấy một con Rùa Vàng nổi lên mặt nước, nói sõi tiếng người, xưng là sứ Thanh Giang, ta mừng rỡ vội vã dùng xe nghênh đón, rước Rùa Vàng vào thành. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, thành sau nửa tháng thì xong. Ngắm nhìn thành mới mà lòng ta vui sướng. Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn ốc nên ta gọi nó là Loa Thành.

    Rùa Vàng ở với thành ta được ba năm rồi ra về. Trước khi đi, ta bày tỏ lòng thành kính cảm tạ và hỏi thần nếu giặc đến, làm thế nào giữ nước. Rùa Vàng nghe hỏi rồi tháo vuốt đưa ta, dặn: “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”

    Nghe lời thần, ta đưa Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy và đặt tên là “Linh quang Kim Quy thần cơ”. Thời gian sau, quân Triệu Đà cử binh xâm lược nước ta, ta lấy nỏ thần ra bắn, làm quân giặc khiếp sợ và thua trận, chạy về Trâu Sơn đắp luỹ và xin hoà.

    Không bao lâu sau, Đà cầu hôn. Ta gả con gái xinh đẹp Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thuỷ và để cho hắn ở lại cung. Nhưng đó quả thật là sai lầm. Ta không nghĩ đến rằng, con rể lại dụ dỗ Mị Châu ngây thơ cho xem nỏ thần rồi đánh tráo nỏ thần mang về phương Bắc.

    Có được nỏ thần, Triệu Đà mang quân đến đánh. Khi đó ta vẫn chưa biết chuyện, vẫn ung dung chơi cờ vì nỏ thần còn trong tay thì ta chẳng sợ gì. Nhưng éo le thay, khi ta biết nỏ kia không phải nỏ thần thì quá muộn, giặc đã tiến sát thành, ta phải cùng Mị Châu lên ngựa bỏ chạy về phương Nam.

    Nhưng càng chạy thì ta vẫn thấy giặc đuổi theo sau. Đến tới bờ biển, ta biết đó là đường cùng. Ta bèn kêu rằng: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” Rùa Vàng từ dưới nước xuất hiện, thét lớn: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Ta bất ngờ quay lại nhìn thấy đường rải đầy lông ngỗng, trên tay con gái Mị Châu là áo lông ngỗng, ta hiểu ra chuyện và vô cùng tức giận. Ta tức giận vừa đau lòng mà tuốt kiếm chém Mị Châu. Mị Châu thấy vậy, bèn khấn với ta: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Dù đau lòng nhưng là một kẻ phản nghịch, tội đồ quốc gia ta không thể tha thứ với cương vị một người đứng đầu đất nước.

    Ta theo Rùa Vàng xuống biển. Mị Châu con ta chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai ăn vào tạo thành hạt châu. Trong Thuỷ đến đó, thấy con ta đã chết, ôm xác về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Con ta chết, Trọng Thuỷ cũng đau đớn, nhớ mong mà tự tử ở giếng. Nước giếng đó rửa ngọc ở biển Đông thì ngọc vô cùng sáng và đẹp

    Câu chuyện năm nào được nhân dân ta truyền nhau khiến ta càng day dứt không yên. Chỉ vì những phút giây thiếu cảnh giác mà ta làm mất nước. Đó là bài học xương máu, đau đớn dành cho ta.

    Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện với ngôi thứ nhất mẫu 2

    Chuyện xảy ra đã lâu, nhưng mỗi khi nhắc tới, tôi lại không khỏi dằn vặt bản thân đã làm cơ đồ rơi vào tay giặc. Đến bây giờ, nỗi ăn năn, hối hận vẫn còn ám ảnh trong tôi.

    Trước đây, tôi vốn là vua của nước Âu Lạc thân yêu, tên họ Thục Phán. Tôi có xây thành ở đất Việt Thường, nhưng ngặt nỗi đắp tới đâu lại lở ra tới đó. Tôi buồn bã, tôi thất vọng tràn trề. Tôi lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần, mong được sự giúp đỡ. Tôi luôn hi vọng có ai đó giúp tôi trong việc xây thành khó khăn này. Bất ngờ thay, ngày mồng bảy tháng ba, từ phương đông bỗng có một cụ già đến trước cửa thành mà than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được!”. Tôi mừng rỡ, đoán biết là người tài mà mình đang cần chiêu mộ. Tôi liền sai người đón vào điện, làm nghi lễ chào mừng và bày tỏ nỗi lòng mình. Tôi thành thực mà giãi bày: “Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Nghe xong, có già chỉ đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”. Cụ già nói xong rồi từ biệt ra về mà không kịp để tôi hỏi han thêm điều gì nữa.

    Cả tối đêm ấy, tôi trằn trọc, băn khoăn không ngủ được. Tôi suy nghĩ về lời cụ già đó nói. Hôm sau, tôi ra cửa đông sớm, ngóng đợi. Chợt tôi thấy có một con rùa Vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước. Kì lạ là nó nói sõi tiếng người và tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Tôi mừng rỡ vì biết người mình cần đã xuất hiện. Đúng như lời cụ già đã báo cho tôi trước đó, sứ Thanh Giang nay đã xuất hiện rồi. Tôi lập tức chuẩn bị nghi lễ, dùng xe vàng rước vào trong thành.

    Thành xây nhanh hơn tôi nghĩ. Trong vòng nửa tháng, thành đã hoàn thành xong. Thành nhìn đẹp lắm. Tôi vẫn nhớ thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành hay còn gọi là Quỷ Long Thành. Tôi mừng rỡ khi thành được xây dựng xong. Tôi cũng phần nào an tâm vì sự bình yên cho dân làng. Rùa Vàng ở lại với chúng tôi ba năm rồi từ biệt ra về. Lúc tiễn đưa, tôi đã gửi lời cảm tạ: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”. Rùa Vàng liền đáp lại: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận. Nhà vua ước muốn ta có tiếc chi”. Nói xong, Rùa Vàng bèn tháo vuốt đưa cho tôi và nói: “Đem vật này làm lẫy nó, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Dứt lời, Rùa Vàng trở về biển Đông.

    Tôi nhanh chóng sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy. Tôi gọi nỏ là “Linh quang Kim Quy thần cơ”. Chẳng bao lâu sau, như sự lo lắng của tôi, nước có giặc tràn vào. Triệu Đà đem quân đến giao chiến, hòng thâu tóm thành. Tôi bèn lấy nỏ thần ra bắn, trăm phát trăm trúng, quân Đà thua thảm, bèn rút quân về Trâu Sơn đắp lũy không dám đối chiến, viết thư xin cầu hòa.

    Cuộc sống dân chúng từ đó được yên ổn, xã tắc bình an. Tôi vốn có một cô con gái xinh đẹp, nết na tên là Mị Châu đương độ tuổi kén chồng. Lúc ấy, Đà sang cầu hôn. Tôi vô tình đồng ý mà không mảy may nghĩ tới mối thù xưa. Tôi cứ nghĩ cuộc hôn nhân này là môn đăng hộ đối, là vừa lứa xứng đôi, các con sẽ trăm năm hạnh phúc. Nhưng tôi đã lầm. Đây chỉ là một kế của Đà hòng cướp đoạt nỏ thần của tôi. Vậy mà khi ấy, tôi chẳng hề để ý. Mị Châu là đứa con gái ngoan ngoãn, là một người vợ hiền hết mực thương chồng. Trong một lần Mị Châu cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, Trọng Thủy đã tráo nỏ thần đem về phương Bắc, lấy lí do thăm cha. Lúc ấy, tôi vẫn không hề biết rằng nỏ thần đã bị cô con gái thân yêu của mình vô ý trao tay giặc.

    Không bao lâu sau ngày Trọng Thủy về phương Bắc, Triệu Đà đem quân sang đánh. Tôi cũng không ngờ Đà vẫn còn nặng thù với việc thua ngày xưa. Nhưng tôi đã có nỏ thần trong tay, tôi ung dung, thản nhiên ngồi đánh cờ. Tôi mặc kệ Đà đánh chiếm ra sao. Chỉ khi Đà cho quân tiến sát vào, tôi mới đem nỏ thần ra đánh. Nhưng… nỏ thần đâu? Kia chỉ là cái nỏ rất bình thường. Tôi hoảng loạn khi nỏ thần bị đánh cắp. Tôi cùng con gái bỏ chạy về phía phương Nam. Tôi và Mị Châu cứ chạy, Mị Châu cứ lặng lẽ rải lông ngỗng trên đường mà tôi không hề biết. Chạy đến bờ biển, đường cùng, tôi bèn kêu lớn: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu”. Rùa Vàng khi ấy mới hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó”. Tôi quay qua Mị Châu, không khỏi sững sờ khi con gái mình chính là giặc, chính là kẻ đã đưa mình đến bước đường cùng. Chẳng nghĩ ngợi, đắn đo, tôi tuốt kiếm chém Mị Châu, máu chảy lênh láng. Tôi cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn tôi xuống biển.

    Tôi đang sống dưới hải cung, nhưng không khỏi thương tiếc về đất nước mình. Tôi đã lầm lỡ, đã quá tự tin, đã không hề cảnh giác với kẻ thù, để khi mọi chuyện lỡ rồi cũng không còn đường rút. Hi vọng mọi người đừng ai sơ ý giống tôi, cũng đừng ai mất cảng giác như tôi để chuyện xấu không xảy đến.

    Nhập vai An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 3

    Ta là An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc. Bây giờ ta đang ở dưới biển nhờ sự giúp đỡ của rùa vàng. Đến bây giờ ta vẫn nhớ như in việc ta đã làm mất nước ta vào tay kẻ thù như thế nào. Bây giờ ta sẽ kể lại cho mọi người chuyện đau lòng ấy mà có thể ta không bao giờ quên được.

    Sau khi ta nổ lực xây thành nhưng hễ đắp đến đâu lại lỡ đến đấy. Một ngày nọ, ta gặp được Rùa Vàng và được ngài ấy giúp đỡ. Cuối cùng ta cũng xây được một ngôi thành kiên cố lấy tên là Loa Thành hay Cổ Loa.

    Rùa Vàng ở lại ba năm rồi cũng trở về. Trước khi về ngài đã lấy vuốt của mình và trao cho ta rồi bào: “Người hãy đem vuốt này làm lẫy nỏ để chế tạo ra nỏ thần và chống lại quân giặc”. Ta cảm tạ Rùa Vàng và tiễn ngài ấy trở về. Sau đó, ta làm theo và giao việc làm lẫy nỏ cho Cao Lỗ. Thế là ta đã có được một chiếc nỏ thần và khi bắn ra thì có một trăm mũi tên bay ra và giết chết hàng trăm quân giặc.

    Khi Triệu Đà tiến quân sang xâm lược nước Âu Lạc, may nhờ có nỏ thần mà ta chiến thắng được Triệu Đà. Sau đó không lầu, Triệu Đà sang cầu thân xin cho con trai của mình là Trọng Thủy được kết thân cùng với con gái của ta là Mị Châu – đứa con gái mà ta hết mực yêu thương. Nhưng vì tình giao hảo giữa hai nước, ta đã đồng ý với hắn. Vã lại, ta nghĩ mình đã có nỏ thần trong ta nên kẻ thù không làm gì được.

    Mà nhìn lại Trọng Thủy, ta thấy hắn cũng là một người anh tuấn. Nhìn bề ngoài trông hắn cũng không đến nỗi là người xấu nên ta mới đồng ý gã con gái ta cho hắn, chỉ mong Mị Châu được hạnh phúc. Nhưng vì quá thương con, không nỡ rời xa đứa con thân yêu và sợ khi về nước chồng sẽ không được coi trọng và hạnh phúc nên ta liền nghị với Triệu Đà cho Trọng Thủy sang ở rễ. Nào ngờ, Triệu đà đồng ý ngay mà ta nào biết âm mưu của hắn. Mãi đến sau này, ta mới biết ta đã vô tình tiếp tay cho kế hoạch của hắn.

    Trong thời gian ở rễ, Trọng Thủy luôn tỏ ra là một con người tốt nên ta cũng chẳng mảy may nghi ngờ mà nới lỏng phòng bị. Ta nào ngờ hắn lại lợi dụng đứa con gái ngây thơ của ta. Hắn dụ dỗ Mị Châu dẫn đến nơi cất dấu nỏ thần và đánh tráo. Sau khi đạt được mục đích, hắn xin về nước thăm cha. Mị Châu nghe vậy lòng buồn rười rượi nhưng cũng đồng ý.

    Không lâu sau, quả thật Triệu Đà đã mang quân sang đánh. Ta ỷ lại có nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Đến khi giặc tiến quân đến sát cửa thành, ta mới sai người đem nỏ thần ra bắn. Lúc này, ta mới phát hiện nỏ thần không còn và biết rằng nỏ thần đã bị lấy trộm và thủ phạm là Trọng Thủy – chồng của con gái mình. Thấy thế quân khó chống, ta leo lên lưng ngựa và để Mị Châu phía sau, phi ngựa về hướng Nam. Chạy ra đến biển mà giặc vẫn còn đuổi theo. Ta liền kêu lớn: “Rùa vàng ơi mau đến cứu nguy”. Rùa Vàng hiện ra và nói: “Giặc ở ngay sau lưng ngươi”. Câu nói ấy làm ta bất ngờ vì phía sau ta chỉ có đứa con gái yêu quý. Nhưng khi nhìn thấy tấm áo lông ngỗng của con gái trở nên xơ xác thì ta liền tỉnh ngộ và nhận ra mọi chuyện.

    Dù không muốn nhưng khi nghỉ đến việc nước mất nhà tan, làm hại bao nhiêu người dân vô tội thì ta đã tuốt kiếm xuống tay giết đi đứa con gái ruột của mình. Sau đó nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng mà ta xuống được biển và ở lại đến ngày hôm nay. Sau này, ta biết Mị Châu đã nhận ra lỗi lầm mà mình đã gây nên. Mị Châu nói rằng: “Nếu tấm lòng trung hiếu bị người đời lừa dối ta xin nguyện biến thành châu ngọc”. Sau khi chết, xác Mị Châu biến thành ngọc thạch, còn máu được trai ăn vào hóa thành ngọc trai. Điều đó nói lên sự trung hiếu của Mị Châu với đất nước. Sau đó Trọng Thủy cũng đau lòng mà chết.

    Qua bài học đắt giá này, ta muốn khuyên mọi người không nên chủ quan, khinh địch, dễ tin người, phải biết đặt lợi ích của mọi người lên trên lợi ích của cá nhân để không phải hối hận như ta.

    Hóa thân thành An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 4

    Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy bói xem voi” thì truyền thuyết có “Ta và Mị Châu – Trọng Thủy”. Truyền thuyết là “nghệ thuật lựa chọn các sự kiện và nhân vật để xây dựng các hình tượng nghệ thuật, phản ánh tập trung nhất lịch sử của địa phương, quốc gia, dân tộc… Nếu lịch sử cố gắng phản ánh chính xác các sự kiện và nhân vật, thì truyền thuyết lại quan tâm hơn đến sự lay động tình cảm và niềm tin của người nghe sau những sự kiện và nhân vật đó.” Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại. Truyền thuyết “Ta và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của ta là vua Âu Lạc xây thành, chế nỏ, giữ nước thành công và bi kịch tình yêu của Mị Châu gắn liền bi kịch mất nước của ta.

    Trong buổi đầu dựng nước, ta đã rất có công với dân tộc. Ta cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ta bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ta dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ta, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ta đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ta còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho ta một cái vuốt. Ta đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng ta quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ.

    Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn của ta. Khi Đà sang cầu hôn, ta đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau.

    “Một đôi kẻ Việt người Tàu

    Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”

    “Một đôi kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng ta không hề màng tới điều đó. Có lẽ ta chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ta không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ta nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ta đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”.

    “Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn

    Những chiếc lông không tự biết giấu mình” “Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu

    Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống

    Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng

    Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào

    Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu

    Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác

    Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước

    Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”

    Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, ta dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ta “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: ‘Đà không sợ nỏ thần sao?'” ta đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ta mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ta chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ta còn không nhận ra được đâu là giặc, ta chỉ ngửa mặt kêu “trời” mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ta đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ta là một vị minh quân. Ta đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ta. Khi ta không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ta lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bảo ta và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ta. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ta về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

    Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của ta mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại “vô tư” đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa “tình nhi nữ” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: ” Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: ” Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình.

    Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ.

    Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như ta “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm sự” đã nói:

    Nhập vai An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 5

    Hôm nay, ta thành thật thú nhận tội lỗi của mình đã vô tình để xảy ra cho đất nước nhân dân Âu Lạc một cuộc chiến tranh mà đáng lẽ không thể có.

    Ta là An Dương Vương, vị vua đã xây nên thành Cổ Loa bền vững và đã được thần Kim Quy trao tặng cái lẫy thần nên giữ được bình yên cho muôn dân. Lúc đó, Triệu Đà sang xâm lược nhiều lần nhưng hắn phải thất bại trước cái nỏ thần linh thiêng kì diệu ấy: Chỉ cần một mũi tên bắn ra là có biết bao quân sĩ gục ngã. Tức giận, hắn chờ đợi thời cơ; còn ta tự đắc trước những chiến công nên không dè dặt nghĩ đến những âm mưu hiểm độc của Triệu Đà.

    Một ngày kia, một tên tâm phúc của Triệu Đà mang lễ vật đến xin cầu hòa. Ta nhận lời ngay vì không muốn kéo dài binh đao khói lửa. Từ đó, hắn cho con trai là Trọng Thủy sang lân la với con gái ta là Mị Châu. Trọng Thủy là chàng trai lịch lãm nên hắn dễ dàng lấy được lòng cha con ta. Thế rồi, Triệu Đà chính thức mang lễ vật đến cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy. Đã từ lâu Mị Châu cũng phải lòng Trọng Thủy rồi nên ta không có lí do gì mà từ chối. Chúng cưới nhau và sống hết sức thuận hòa hạnh phúc. Nhưng đối với ta, Trọng Thủy có vẻ hơi khác thường.

    Một thời gian, Trọng Thủy xin phép về thăm cha rồi không bao lâu quay trở lại. Ta cho quân bày yến tiệc và rót rượu cho Trọng Thủy nhưng hắn từ chối. Ngược lại, hắn lại mời ta uống liên tiếp đến nỗi ta say mèm chỉ thoáng thấy bóng hắn vụt qua rồi ta không biết gì nữa. Đến khi tỉnh lại, ta thấy Trọng Thủy đang ngồi bên cạnh ta cung kính nói:

    – Thưa nhạc phụ, người đã khỏe chưa?

    – Ta khỏe rồi. Sao con không đến với Mị Châu? Ta thì thào.

    – Hiền thê đã có nô tì chăm sóc rồi! Hắn nhỏ nhẹ đáp.

    Ta lại nói tiếp:

    – Được rồi, con cứ đến thăm vợ con đi.

    Hắn kính cẩn chào:

    – Xin phép nhạc phụ, con đi.

    Tất cả những nghi ngờ trong ta từ trước đến nay đã tan biến hết. Đang sống yên vui, bất ngờ Trọng Thủy lại xin về nước khiến Mị Châu buồn bã vô cùng. Chỉ mấy ngày sau, Triệu Đà ùn ùn kéo đại quân sang. Ta ngạc nhiên quá, nhưng tin tưởng vào nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ chờ quân giặc đến gần thành rồi bắn luôn. Không ngờ, nỏ thần hết hiệu nghiệm mà quân thù đang đi vào thành. Vừa hoảng sợ và thắc mắc ta không hiểu nổi lí do nào mà nỏ thần không còn ứng nghiệm nữa. Cuối cùng trước tình thế cấp bách ta cùng Mị Châu lên ngựa tháo chạy về phía đông. Nhưng chạy đến đâu cũng nghe tiếng reo hò quân giặc đuổi theo. Cùng đường, ta hướng mắt về phía biển khơi gọi thần Kim Quy cứu giúp. Bỗng thần nổi lên và dõng dạc nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!”.

    Ta quay lại nhìn thì chỉ có Mị Châu với chiếc áo lông ngỗng đã trụi cả lông. Ta chợt hiểu ra tất cả. Thì ra bọn giặc dò theo dấu lông ngỗng để đến được đây. Và cũng chính Mị Nương, đứa con gái thơ ngây của ta đã vô tình tiết lộ bí mật quốc gia cho tên gián điệp Trọng Thủy cho nên ta mới có ngày này. Quá tuyệt vọng, không còn con đường nào khác ta rút gươm ra chém chết Mị Châu rồi tự tử. Nhưng thần Kim Quy lại rẽ mặt nước cho ta đi xuống biển.

    Nhập vai An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 6

    Sau khi kế tục sự nghiệp dựng nước của 18 đời Hùng vương, An Dương Vương Thục Phán đã đánh tan năm mươi vạn quân Tần xâm lược; đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc và dời dô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh, Phong Châu xuống vùng Phong Khê, hay còn gọi là vùng Kẻ Chủ, tức cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay.

    An Dương vương bắt tay ngay vào việc xây thành nhưng ngặt nỗi cứ ngày xây lên đêm lại đổ xuống, mãi không xong. Nhà vua bèn sai các quan lập đàn để cẩu đảo bách thần, xỉn thần linh phù trợ. Ngày mồng bảy tháng ba năm ấy, nhà vua bỗng thấy cỏ một cụ già râu tóc bạc phơ, tay chống cây gậy trúc, thong thả từ phía Đông đi tới trước cổng thành, ngửa cổ mà than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được!”. Mừng rỡ, An Dương Vương rước cụ già vào trong điện, kính cẩn hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã tốn nhiều công sức mà không được, là cớ làm sao?”. Cụ già thong thả đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thì mới thành công”. Nói xong, cụ già từ biệt ra đi.

    Sáng hôm sau, có một con rùa lớn nổi lên mặt nước, tự xưng là sứ Thanh Giang, bảo với An Dương Vương rằng muốn xây được thành thì phải diệt trừ hết lũ yêu quái thường hay quấy nhiễu. Quả nhiên, sau khi Rùa Vàng giúp nhà vua diệt trừ yêu quái thì chỉ khoảng nửa tháng là thành đã xây xong. Thành xây theo hình trôn ốc, rộng hơn ngàn trượng nên gọi là thành Ốc hay Loa Thành. Rùa Vàng ở lại ba năm thì ra đi. Lúc chia tay, An Dương vương cảm tạ nói: “Nhờ ơn Thần mà thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?”. Rùa Vàng tháo một chiếc vuốt trao cho An Dương Vương, dặn hãy lấy làm lẫy nỏ. Giặc đến, cứ nhằm mà bắn thì sẽ không lo gì nữa. Dứt lời, Rùa Vàng trở về biển Đông. Nhà vua sai một tướng tài là Cao Lỗ chế ra chiếc nỏ lớn lấy vuốt của Rùa Vàng làm lẫy. Đó là nỏ thần Kim Quy.

    Ít lâu sau, Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc. An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn, mỗi phát chết hàng vạn tên giặc. Chúng hoảng sợ quay đầu chạy về đến núi Trâu, cầm cự được vài ngày rồi rút về nước. Dân chúng Âu Lạc hân hoan mừng chiến thắng vẻ vang của vị vua tài giỏi.

    Thấy không nuốt nổi Âu Lạc bằng phương cách tấn công, Triệu Đà nghĩ ra một âm mưu thâm hiểm khác. Hắn cho con trai là Trọng Thủy qua cầu hôn Mị Châu, con gái yêu của An Dương Vương. Không chút nghi ngờ, nhà vua vui lòng gả và còn cho phép Trọng Thủy được ở rể trong Loa Thành.

    Theo lời cha dặn, Trọng Thủy ngầm để ý dò xét khắp nơi và rắp tâm phát hiện bằng được bí mật của nỏ thần. Mị Châu nhẹ dạ, lại thực lòng yêu thương chổng nên đã đưa Trọng Thủy vào tận nơi cất giấu nỏ thần. Trọng Thủy chế ra chiếc lẫy giống y như thật rồi đánh tráo, thay vuốt Rùa Vàng. Xong việc, Trọng Thủy nói với vợ: “Tình vợ chổng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta trở lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Mị Châu ngây thơ đáp: “Thiếp có cái áo lông ngỗng thường mặc, khi gặp biến, đi đến đâu sẽ rắc lông ngỗng ở ngã ba đường làm dấu mà tìm nhau”.

    Trọng Thủy về đến nhà, Triệu Đà lập tức cất binh sang đánh Âu Lạc. Nghe tin báo hàng chục vạn quân giặc đã tràn sang, cậy có nỏ thần, An Dương vương vẫn ngồi ung dung đánh cờ và cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?” Quân Đà tiến sát cổng thành, vua mới sai lấy nỏ thần ra bắn nhưng không linh nghiệm nữa.

    Hai cha con đành lên ngựa, nhằm hướng phương Nam mà chạy, nhưng chay đến đâu quân giặc cứ theo dấu lông ngỗng mà đuổi theo đến đó. Ra tới sát bờ biển, An Dương vương cùng đường bèn kêu lớn: “Sứ Thanh Giang ở đâu mau đến cứu ta!”. Ngay lập tức, Rủa Vàng hiện lên, chỉ tay vào Mị Châu mả nói với An Dương Vương rằng: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!”. Hiểu ra cơ sự, An Dương Vương nổi giận, tuốt gươm định chém Mị Châu thì vừa lúc ấy, Trọng Thủy cũng đến nơi. Chàng lao vào đỡ nhát kiếm oan nghiệt của An Dương Vương thay cho người vợ thân yêu. Bỗng nhiên, mặt nước rẽ ra, Rùa Vàng đón An Dương Vương xuống biển. Mị Châu nước mắt chan hòa, vùng chạy theo cha nhưng những đợt sóng giận dữ tung bọt trắng xóa đã ngăn bước chân nàng. Nàng gục xuống bên xác chồng, nức nở.

    Đóng vai nhân vật An Dương Vương kể lại Truyện Mị Châu – Trọng Thuỷ mẫu 7

    Trong kho tàng văn học của Việt Nam, em thích nhất là câu chuyện “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” vì đó là một trong những câu chuyện tiêu biểu cho thể loại truyền thuyết. Truyện khái quát để chúng ta hiểu thêm về việc An Dương vương xây thành và chế tạo nỏ thần cũng như giúp chúng ta hiểu thêm về mối tình bi kịch giữa Mị Châu -Trọng Thủy và nguyên nhân mất nước Âu Lạc của An Dương Vương.

    An Dương Vương là vua nước Âu Lạc. Khi vua xây thành, hễ đắp tới đâu lại lỡ tới đấy nên vua bèn lập đàn trai giới cầu thần. Đến ngày mồng bảy tháng ba, bỗng thấy có một cụ già từ phương đông tới, vua lập tức mời vào và hỏi chuyện. Cụ già nói rằng sẽ có sứ Thanh Giang tới giúp nhà vua xây thành rồi ra về. Ngày hôm sau, có một con Rùa Vàng từ phương đông lại và tự xưng là sứ Thanh Giang đến giúp vua. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng mà chỉ trong vòng nửa tháng, thành đã được xây xong. Thành có hình trôn ốc nên được gọi là Loa thành. Sau ba năm, Rùa Vàng từ biệt ra về. An Dương Vương suy nghĩ về việc giữ nước nên đã hỏi ý kiến của Rùa Vàng. Rùa Vàng bèn trao cho nhà vua móng vuốt của mình và dặn vua hãy lấy đó làm lẫy nỏ.

    Một thời gian sau, Triệu Đà đem quân sang xâm lược, vua bèn lấy nỏ thần ra bắn. Quân của Triệu Đà thua to, bèn cầu hòa. Chính nhờ yếu tố thần kì về Rùa Vàng đã giúp An Dương Vương đạt được ý nguyện chính đáng mà cũng phù hợp với ý nguyện của nhân dân, của trời đất.

    Chẳng bao lâu sau, Triệu Đà cầu hôn. An Dương Vương gả con gái của mình là Mị Châu cho con trai của Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy lừa Mị Châu cho coi lẫy rời làm một cái khác thay thế cho vuốt Rùa Vàng. Trọng Thủy nói dối Mị Châu để chạy về phương Bắc. Sau khi có được nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm. An Dương Vương chủ quan nên đã bị thất bại. Ta thấy được bi kịch mất nước Âu Lạc là do sự chủ quan của An Dương Vương và Mị Châu. An Dương Vương làm mất nước do chủ quan, khinh địch, mất cảnh giác với kẻ thù. Mị Châu đã mất cảnh giác khi cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Mị Châu đã đặt chữ tình, đặt nặng trách nhiệm của một người vợ lên trên quốc gia, dân tộc. Lời kết tội của Rùa Vàng: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó” đại diện cho công lí, đứng trên quyền lợi của nhân dân, tổ quốc để phán xét hành động vô tình phản quốc của Mị Châu. Khi chém chết Mị Châu, An Dương Vương đã đứng vào quyền lợi của quốc gia, tổ quốc để phán xét Mị Châu.Từ việc mất nước Âu Lạc, ta rút ra được bài học là cần phải biết xử lí đúng đắn mối quan hệ chung va riêng, cá nhân và nhà nước. Mị Châu đã không đặc trách nhiệm lên trên tình cảm để rồi gây ra việc mất nước.

    Trọng Thủy sau khi chiếm được nước Âu Lạc đã lần theo dấu lông ngỗng mà Mị Châu đã rắc từ trước. Khi đến nơi quân Đà không thấy bóng dáng gì trừ xác của Mị Châu. Trọng Thủy thương tiếc Mị Châu vô cùng để rồi một lần tưởng thấy bong giáng Mị Châu dưới giếng nên lao đầu xuống dưới mà chết. Người đời sau cho rằng khi lấy ngọc ở biển Đông mà rửa tại giếng này thì ngọc sẽ sang thêm. Chi tiết này cho chúng ta thấy được cái nhìn bao dung của nhân dân.

    Thông qua hình tượng nhân vật và những chi tiết hư cấu trong truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” nhân dân ta đã giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó nhân dân ta muốn nên lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyện Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Bị Chảy Máu Cam
  • Bài 37. Tại Sao Có Gió?
  • Anh Rời Liên Minh Châu Âu: 28
  • Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • Khắc Phục Lỗi Airpods Không Kết Nối Được Với Apple Watch
  • Các Lỗi Thường Gặp Trên Tai Nghe Apple Airpods Và Cách Khắc Phục
  • Ngày Đổi Giờ Mùa Đông Tại Châu Âu 2021
  • Châu Âu Sẽ Thay Đổi Múi Giờ Mùa Đông Vào Ngày 28/10/2018
  • Sự Xâm Nhập Của Ruồi
  • TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY, BÀI HỌC ĐẰNG SAU BI KỊCH SỐ PHẬN

    Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy dung lượng không dài nhưng phản ánh khá đầy đủ quá trình mất nước – tan nhà xoay quanh ba nhân vật – một gia đình, trong cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Đằng sau những bi kịch số phận ấy là bài học tầm vóc quốc gia, trường tồn cùng lịch sử dân tộc.

       

               1. An Dương Vương – hai mặt sáng tối của người anh hùng.

    Truyền thuyết không nói rõ quá trình chinh phục Văn Lang để lập nên nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương đã diễn ra như thế nào mà nhấn mạnh hơn chi tiết việc dựng nước. Chọn việc xây thành để nói việc dựng nước của An Dương Vương, cha ông ta xưa đã dùng thủ pháp ẩn dụ sâu sắc. Xây thành trì là để bảo vệ đất nước cũng như việc xây dựng pháp chế để bảo vệ chế độ, đó là công việc tất yếu của triều đại, chính thể nào mới lên cầm quyền thực hiện. Thế nhưng “thành cứ xây lên rồi lại đổ” mà không hiểu lẽ tại sao? Hết cách, An Dương Vương trai giới, lập đàn cầu bách thần. Sau đó, Người gặp được “một ông lão râu tóc bạc phơ” bảo sẽ có sứ Thanh Giang đến giúp. Như vậy tấm lòng chân thành của An Dương Vương đã động đến đất trời, thần linh – khi việc cầu đảo thuận ý trời, hợp lòng dân.

    An Dương Vương mong muốn xây dựng nhà nước Âu Lạc với nền thái bình thịnh trị. Những buổi đầu sự nghiệp ấy hết sức gian nan, gặp muôn vàn trắc trở bởi “âm hồn vua quan, tướng sĩ triều đại trước” phá phách. “Âm hồn” ấy theo cách nhìn triết học hiện đại, đó chính là quyền lợi của những người gắn với vương triều trước bị mất, là tư tưởng “tôi trung không thờ hai chúa” còn rơi rớt lại.

    Giãi bày tấm lòng mình (trai chay – cầu khấn), An Dương Vương đã có xuất phát điểm dựng nước từ cái Tâm, chữ Tín nên sớm thu phục được lòng người mà tác giả dân gian đã hình tượng hóa bằng sự việc được Rùa Vàng (sứ Thanh Giang) giúp sức tiêu diệt con gà trắng chín đuôi – “âm hồn” vua quan tướng sĩ triều đại trước, xây dựng được Loa Thành.

    Như vậy, về công việc dựng nước, An Dương Vương đã hoàn thành xuất sắc, thuận ý trời, hợp lòng dân. Thành Cổ Loa vững chắc sừng sững được ghi chép trong sử sách Trung Hoa là Côn Lôn Thành. Và thành trì chống giặc ngoại xâm ấy, bằng tấm lòng chân thành, An Dương Vương xây dựng vững chắc trong tấm lòng mỗi con dân Âu Lạc.

    Một mặt sáng nữa cần nói đến là An Dương Vương biết nhìn xa trông rộng. Thành trì kiên cố chưa phải là bảo đảm cho việc giữ nước. Tâm sự của nhà vua với thần Kim Quy: “Nhờ ơn thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài lấy gì mà chống?” cho thấy rõ điều đó. Sự việc thần Kim Quy rút móng tặng An dương Vương, rồi An Dương Vương sai tướng Cao Lỗ chế nỏ thần đây chính là sự kết hợp trí tuệ, sức lực để hiện đại hóa vũ khí của quân và dân. “Ý dân là ý trời”, “hợp lòng dân là thuận ý trời”. Sứ Thanh Giang chính là biểu tượng trí tuệ, sức mạnh của nhân dân. Móng vuốt là một phần xương thịt của thần và đó cũng chính là của nhân dân. Có cuộc chiến tranh nào mà nhân dân không đổ xương máu?

    Vậy nên, Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc lần thứ nhất thất bại thảm hại, An Dương Vương chỉ “bắn một phát giặc đã tan ngay”. Chiến thắng ấy là sự đoàn kết của toàn dân tộc cộng với vũ khí hiện đại, thành trì vững chắc (thành trì này xin được hiểu hai nghĩa như đã nói ở trên).

    Mặt tối của người anh hùng dân tộc là say sưa với chiến thắng, thỏa mãn với chiến thắng chống quân xâm lược, từ đó nảy sinh tư tưởng chủ quan khinh địch, mất cảnh giác, kiêu ngạo trước kẻ thù. Minh chứng rõ ràng nhất thể hiện qua các sự việc:

         – Chấp nhận giảng hòa với Triệu Đà, nhận Trọng Thủy làm con rể.

          – Khi Trọng Thủy về thăm cha, chiến tranh xảy ra nhưng vẫn không một mảy may nghi ngờ.

          – Khi Triệu Đà phát động cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai, đã tiến sát chân thành, An dương Vương vẫn “điềm nhiên đánh cờ”, nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”.

    Chỉ khi nỏ thần mất hết linh nghiệm, An Dương Vương mới cùng Mị Châu chạy trốn. Chạy không khỏi, quân giặc truy sát ngày một gần, An dương Vương biết đâu kẻ chỉ đường cho giặc chính là cô con gái yêu của mình. Cùng đường, khấn sứ Thanh Giang cứu, Rùa Vàng hiện lên thét: “Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó” thì An dương Vương mới hiểu cơ sự! Truyền thuyết không miêu tả nỗi lòng đau đớn của An Dương Vương như thế nào khi chính tay mình chém chết con gái yêu. Hành động oan nghiết ấy cho đến nay vẫn nhói lòng dân tộc. Nhói lòng nhưng phải chấp nhận vì hoàn cảnh khi ấy là hoàn cảnh khốc liệt nơi chiến trường, không có chỗ cho sự cân đong đo đếm giữa lý và tình. An Dương Vương giết Mị Châu là hành động của vị vua giết kẻ nối giáo cho giặc. Cả dân tộc đau thương trong chiến tranh không lý gì gia đình công dân số một đất nước lại ven toàn. Quy luật nghiệt ngã nước mất nhà tan không buông tha một riêng ai.

    Bài học mất nước nhìn từ góc độ trách nhiệm người lãnh đạo – An Dương Vương, thể hiện ở những điểm:

         – Nuông chiều con cái quá mức, thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ bí mật quân sự, bí mật quốc gia.

         – Tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh vũ khí trong khi vũ khí không còn là bí mật nữa (đã đem dùng, kẻ thù đã biết).

         – Biết Triệu Đà là kẻ thù nhưng vẫn chấp nhận để con trai hắn là Trọng Thủy ở rể để thực hiện chính sách hòa hoãn hòa bình. Đặt niềm tin vào kẻ có dã tâm xâm lược đây chính là biểu hiện của sự ngây thơ chính trị.

    Nước Âu Lạc rơi vào tay giặc trách nhiệm thuộc về An Dương Vương – người đã đánh giặc đến hơi sức cuối cùng hoặc là tuẫn tiết, đó mới chính là sự thật lịch sử. Đánh giá công lao, tinh thần yêu nước của Người, cha ông ta đã sáng tạo chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước vua đi xuống biển” – tức là tiếp tục sống trong lòng “nước”, lòng dân, hết sức ý nghĩa, nhân văn. Những sai lầm của An Dương Vương, suy cho cùng, tha thứ được, An Dương Vương là ông vua nhưng cũng là con người.

     

             2. Công chúa Mị Châu – “trái tim lầm chỗ để trên đầu”.

    Mị Châu là nàng công chúa trong trắng, ngây thơ được vua cha hết mực yêu chiều. Cuộc sống nhung lụa gấm vóc nơi cung cấm, các nghi lễ triều đình tách nàng ra khỏi đời sống hiện thực xã hội, nàng không hiểu mặt trái của xã hội, lại càng mơ hồ về chính trị.

    Truyền thuyết không đề cập đến hoàng hậu, có lẽ vì mồ côi mẹ quá sớm nên nàng được vua cha dồn cho tất cả tình thương yêu chăng?

    Khi kết duyên cùng Trọng Thủy, Mị Châu có thêm bầu bạn tâm sự, lại thêm có người yêu chiều nên sống trong mái ấm hạnh phúc ấy nàng không hề để ý chuyện gì khác. Mị Châu tin tình cảm của Trọng Thủy đối với mình cũng hết mực chân thành, đằm thắm như bản thân mình đối với Trọng Thủy. Tình cảm lứa đôi đẹp đẽ của Mị Châu đáng được ca ngợi.

    Không trách Mị Châu được, vua cha đã chon Trọng Thủy cho nàng, vua cha hết lòng tin tưởng con rể thì lý gì nàng nghi ngờ, phân vân khi Trọng Thủy hỏi xem nỏ thần? Đắng cay nhất, đau khổ nhất của đời người chính là bị lợi dụng lòng tin mà Mị Châu là một trong số đó.

    Tình yêu Trọng Thủy quá lớn nên Mị Châu không phát hiện con người thật của Trọng Thủy khi hắn lộ sơ hở: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng biết lấy gì làm dấu?”.

    Nghe thế,Mị Châu chỉ chú ý mấy chữ “ta lại tìm nàng biết lấy gì làm dấu?”. quên đi trước đó là “hai nước thất hòa”. Không mảy may suy nghĩ vì sao khi Trọng Thủy xa cách thì chiến tranh xảy ra mà chỉ nghĩ làm sao tìm được nhau. Quá yêu Trọng Thủy – yêu gia đình nhỏ của mình nên vận mệnh quốc gia bị che mờ. So sánh sự việc này của nàng Mị Châu xưa với cô du kích trạc tuổi nàng trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Tố Hữu có tứ thơ rất hay:

    Có cô du kích xóm Lai Vu

    Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù

    Mĩ hại trăm nhà lo diệt trước

    Rắn – mình em chịu có sao đâu.

     

    Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

    Trái tim lầm chỗ để trên đầu

    Nỏ thần vô ý trao tay giặc

    Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

    (Tâm sự)

    Khi Trọng Thủy chưa biết cách nào ‘tìm ra nhau”, Mị Châu đã nói: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảch biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường đểv làm dấu, như vậy có thể tìm được nhau”. Đúng là một giải pháp hết sức thông minh, chỉ rắc “ở ngã ba đường”, nếu rắc dọc đường thì Trọng Thủy có theo dấu cũng chỉ được một quãng mà thôi!

    Chỉ khi nghe tiếng thét của Rùa Vàng – phán quyết của nhân dân, Mị Châu mới bừng tỉnh, hối hận vì đã vô ý nối giáo cho giặc. Lời khấn và cái chết của nàng chứng thực cho Mị Châu chưa bao giờ có ý nghĩ phản bội tổ quốc. Hành động nối giáo cho giặc chỉ là sự lầm lỡ của một trái tim mù quáng. Lúc này chỉ có cái chết mới giải thoát nỗi giày vò ân hận do chính nàng gây ra; và cũng chỉ có cái chết mới minh chứng cho tâm hồn trong sáng của nàng.

    Chi tiết ngọc trai được rửa nằng nước giếng Cổ Loa sáng rực, đó không phải là sự gặp gỡ, đoàn tụ của Mị Châu – Trọng Thủy sau cái chết, mà đó là ứng nghiệm của lời nguyền “bị người lừa dối”. Nhân dân ta thương cảm Mị Châu, dẫu gì cũng đã có thời gian Mị Châu hạnh phúc bên Trọng Thủy, nên không nỡ để từ “hắn”, “nó”, “y” khi Mị Châu nói về Trọng Thủy mà dùng chữ “người” – với nghĩa “người ta”, âu cũng là thể hiện bề dày ứng xử văn hóa. Từ dùng đó cho thấy Mị Châu không đẩy hết tội lỗi về Trọng Thủy, người nghe biết hàm ý nhận lỗi của Mị Châu trong đó.

    Bi kịch của Mị Châu là bi kịch niềm tin bị đánh cắp. Niềm tin càng lớn thì bi kịch càng cao, cái giá phải trả càng đắt.

     

             3. Trọng Thủy – bi kịch của tham vọng công danh và tình yêu đôi lứa.

    Theo lệnh Triệu Đà, Trọng Thủy đến Cổ Loa làm rể An Dương Vương. Làm rể chỉ là cái vỏ bọc chắc chắn cho hoạt động gián điệp nhằm ly gián vua tôi An Dương Vương, nắm được bí mật quân sự, bí mật quốc gia đối phương.

    Triệu Đà đã thất bại trước An Dương Vương, nhưng với dã tâm xâm lược cháy bỏng hắn đã thuộc lòng, nghiền ngẫm kỹ nguyên nhân thất bại để loại bỏ nó, đi tới thành công. Lần thứ hai xâm lược Âu Lạc, Triệu Đà sử dụng kế sách: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.

    Để “biết người”, Triệu Đà dùng con trai mình làm chàng rể – con tin, với nhiệm vụ gián điệp tìm cho ra sức mạnh quân sự của An Dương Vương. Trọng Thủy có thể bị chết dưới bàn tay An Dương Vương nếu bị phát giác, nhưng tham vọng xâm lược của Triệu Đà lớn hơn tình phụ tử!

    Khách quan mà nói, Trọng Thủy là chàng trai xuất chúng, bằng suy luận, chúng ta hiểu điều đó. Trọng Thủy chiếm trọn lòng tin An Dương Vương, mê hoặc Mị Châu, thực hiện xuất sắc điệp vụ Triệu Đà giao phó. Là điệp viên, đặt trách nhiệm phụng sự tổ quốc lên trên hết nhưng Trọng Thủy không khỏi không có những giây phút yếu mềm, suýt để lộ chân tướng khi chia tay với Mị Châu. Về với Triệu Đà, Trọng Thủy lập được đại công, nổi danh thiên hạ; ở lại với An Dương Vương, Trọng Thủy có được tình yêu đôi lứa tuyệt mĩ. Trọng Thủy biết hắn chỉ có được một trong hai điều đó mà thôi. Là chàng trai xuất chúng, Trọng Thủy không cam chịu, bi kịch cuộc đời y cũng từ đó mà ra.

    Nếu như Mị Châu bình thường như bao phụ nữ khác thì Trọng Thủy dễ dàng dứt bỏ. Tài năng, uy quyền hoàng tử khó gì chuyện kén vợ xinh đẹp kiêu sa đầy đủ chuẩn mực theo quan niệm phong kiến. Điều làm cho Trọng Thủy day dứt là tấm chân tình, là niềm tin tưởng tuyệt đối, là sự trong trắng và trí thông minh…của Mị Châu.

    Hoàn thành nhiệm vụ cho vua cha, Trọng Thủy nghĩ ngay đến việc riêng của mình là làm sao giữ trọn tình nghĩa vợ chồng với Mị Châu. Trọng Thủy đã giữ lời hứa khi chia tay Mị Châu nhưng hắn không hiểu được chân lý: “nước mất – nhà tan”. Trọng Thủy không thể từ bỏ công danh để bảo vệ tình yêu đôi lứa khi quyền lợi dân tộc Âu Lạc không thể chấp nhận điều đó, và Mị Châu lại càng không thể! Vinh quang chỉ là một khoảnh khắc, tình yêu mới theo suốt cuộc đời, Trọng Thủy nhận ra điều đó đã muộn. Cái chết của Trọng Thủy cảnh tỉnh cho những ai đặt công danh, quyền lợi lên trên tình yêu.

    Viết đến đây tôi chợt nghĩ Trung Quốc vừa rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam, thật ấu trĩ cho những ai xem đó là chiến thắng. Nhiều thông tin cho thấy, ngoài quần đảo Hoàng Sa đã nuốt trọn, Trung Quốc đã xây dựng xong sân bay quân sự trên một đảo chìm ở quần đảo Trường Sa! Dã tâm xâm lược Việt Nam chưa bao giờ ngưng chảy trong dòng máu những kẻ cầm quyền Bắc Kinh. Trên đất liền, tại Vũng Áng – Hà Tĩnh, số lượng kỹ sư, công nhân lao động hợp pháp và bất hợp pháp người Trung Quốc có số lượng tương đương sư đoàn; địa bàn chiến lược Tây Nguyên cũng vậy, chưa kể rải rác ở các địa phương khác. Trong số những người Trung Quốc đó, bao nhiêu là lao động đích thực, bao nhiêu là “Trọng Thủy”? Điều này chúng ta chỉ biết trông đợi vào lòng yêu nươc, sự lãnh đạo sáng suốt, cảnh giác của lãnh đạo các cấp mà thôi.

    Biết cái sai của lịch sử mà lại đi vào vết xe đổ của lịch sử là phản quốc. Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, thời điểm lịch sử hiện nay càng thể hiện rõ giá trị về bài học mất nước. Đảng – Nhà nước – Nhân dân cùng thấm nhuần bài học lịch sử này chắc chắn: “Non sông muôn thuở vững âu vàng”.

                                                                                       ĐÀO MẬU THẮNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Tải Được Sticker Zalo, Giải Pháp Là Đây
  • Ip Để Xem Các Trang Web Bị Chặn Ở Nước Ngoài ▷ ➡️ Ngừng Sáng Tạo ▷ ➡️
  • Cách Vào Các Trang Web Nước Ngoài Bị Chặn
  • Cách Rút Tiền Từ Airpay Về Tài Khoản Ngân Hàng Nhanh Nhất
  • Chuyển Tiền Từ Ví Airpay Về Tài Khoản Ngân Hàng
  • Tìm Hiểu Truyện – Tác Phẩm An Dương Vương Và Mị Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • George Washington – Tổng Thống Hoa Kỳ Đầu Tiên
  • 25 Sự Thật Sững Sờ Mà Bạn Phải Biết Về Bộ Truyện One Piece
  • 10 Ý Nghĩa Nhân Văn Sâu Sắc Ẩn Sau Các Tập Phim One Piece
  • Bài 2 – Tìm Hiểu Về Onedrive – Blog Chia Sẽ Kiến Thức Học Excel
  • Oracle Database Là Gì? Phân Biệt Oracle Với Oracle Database
  • Tìm hiểu Truyện – Tác phẩm An Dương Vương và Mị Châu -Trọng Thuỷ

    Mục đích :

    – Nắm được đặc trưng thể truyền thuyết : lịch sử gắn với tưởng tượng , thể hiện quan điểm của nhân dân .

    – Nắm được bài học lịch sử từ bi kịch mất nước , bi kịch tình yêu .

    I.Tìm hiểu chung

    – Thể truyền thuyết : là loại truyện dân gian , kể về các sự kiện , nhân vật lịch sử , thể hiện nhận thức , quan điểm của nhân dân về lịch sử . đặc điểm nổi bật của thể truyền thuyết : có sự hoà quyện giữa tưởng tượng và lịch sử , không chú trọng đến tính chân thực , xây dựng những hình tượng độc đáo .

    – Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thuỷ :

    + Xuất xứ : Trích trong truyện “ Rùa vàng” , in trong quyển “ Lĩnh Nam chích quái” ( thế kỉ 15 )

    + Bố cục : 2 phần : An Dương Vương là vua Âu Lạc xây thành , chế nỏ , giữ nước thành công và Bi kịch tình yêu của Mị Châu gắn liền bi kịch mất nước của An Dương Vương .

    Tóm tắt :

    An Dương Vương xây thành Cổ Loa , xây mãi vẫn đổ , nhờ có Rùa Vàng giúp mới xây xong . Rùa cho nhà vua lẫy nỏ , nhờ đó mà đánh bại quân xâm lược Triệu Đà . Triệu Đà cầu hoà , cho con trai Trọng Thuỷ sang kết thân với Mị Châu , con gái An Dương Vương và ở rể trong thành Cổ Loa . Trọng Thuỷ ăn cắp lẫy nỏ , Triệu Đà liền cử quân sang tái xâm lược Âu Lạc . An Dương Vương thua trận , đem theo Mị Châu chạy trốn . Đến bờ biển , Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu , vua chém đầu con gái rồi đi xuống biển . Trọng Thuỷ tiếc Mị Châu , tự vẫn ở giếng trong thành . Mị Châu chết , máu thành ngọc trai , xác thành ngọc thạch , ngọc đem rửa nước giếng trong thành thì sáng hơn .

    II. Tìm hiểu chi tiết .

    1. Nhân vật An Dương Vương

    a. Trong quá trình giữ nước .

    – An Dương Vương trong những năm đầu đã làm được những việc trọng đại , thu được những thành công to lớn : chuyển đô từ miền núi về đồng bằng , xây được thành cao hào sâu , chế được nỏ tốt , chiến thắng Triệu Đà , bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước .

    – Nguyên nhân thành công :

    + do An Dương Vương kiên trì , quyết tâm , không nản chí trước khó khăn , thất bại tạm thời .

    + do An Dương Vương thành tâm cầu tài : lập đàn cầu .

    + vua có tinh thần cảnh giác cao , có sự lo tính , chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nguy cơ xâm lược của kẻ thù ( xây thành , chế nỏ ) .

    – Thái độ của nhân dân : tôn vinh, ngưỡng mộ ADV . Hình ảnh Rùa Vàng và nỏ thần mà nhân dân sáng tạo ra chính là sự kỳ ảo hoá , thần thánh hoá , bất tử hoá sự nghiệp dựng , giữ nước chính nghĩa , hợp lòng dân của ADV . Nỏ thần là sự kỳ ảo hoá vũ khí tinh xảo của người Việt xưa .

    b. Trong quá trình mất nước .

    – Nguyên nhân mất nước :

    + do ADV lơ là cảnh giác , không nhận ra dã tâm nham hiểm của Triệu Đà .

    + Vua liên tiếp mắc sai lầm : nhận lời cầu thân của Triệu Đà , cho phép Trọng Thuỷ ở rể trong thành mà không chút đề phòng , dạy dỗ con gái không nghiêm , lơ là trong việc phòng thủ bảo vệ nước , chủ quan khinh địch , sớm có mong muốn hưởng nhàn .

    – Kết cục của ADV : Nhà vua rơi vào bi kịch nước mất nhà tan . Ông chỉ tỉnh ngộ khi thành đã mất , lâm vào bước đường cùng , phía sau lưng là giặc , phía trước mặt là biển khơi mênh mông , không lối thoát ; tự tay ông phải chém đầu con gái yêu và kết thúc cuộc đời mình . Đó là hành động trừng phạt nghiêm khắc , đích đáng , đau đớn , đầy bi kịch .

    – Thái độ của nhân dân với ADV :

    + một mặt nêu ra bài học đắt giá cho người thủ lĩnh mất cảnh giác , để mất nước một cách bi thảm . Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử .

    + mặt khác nhân dân vẫn kính trọng những việc ông đã làm cho đất nước nên đã giảm nhẹ tội cho ông bằng cách sáng tạo ra lỗi lầm của Mị Châu và để ông cầm sừng tê đi xuống lòng biển về với Lạc Long Quân bất tử .

    + cách hoá thân của An Dương Vương có ý nghĩa răn dạy vô cùng sâu sắc nếu so sánh với cách hoá thân của Thánh Gióng . Thánh Gióng có công cứu nước , khi hoá thì bay lên trời khiến người đời sau nhớ đến thì ngước nhìn lên ngưỡng vọng . ADV mang tội đánh mất nước , có cách hoá đi xuống lòng biển khiến người đời sau khi nhớ đến ông phải cúi nhìn sâu vào mà luôn cảnh giác với chính bản thân mình .

    2. Mối tình Mị Châu-Trọng Thuỷ .

    a. Mị Châu .

    – Có vị trí cao trong đất nước lẽ ra phải ý thức sâu sắc được trách nhiệm cá nhân của mình với đất nước nhưng lại chỉ biết đắm chìm trong hạnh phúc lứa đôi cá nhân .

    – Nàng ngây thơ cả tin đến mức sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng , để bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà không hay biết .

    – Khi nước đã mất vào tay Triệu Đà , trên đường chạy trốn , vẫn ngây thơ đánh dấu đường cho chồng , để nên nỗi hai cha con bị dồn vào đường cùng không lói thoát .

    – Hậu quả của sự ngây thơ , thiếu ý thức trách nhiệm : Mị Châu bị kết tội là giặc , tình yêu , niềm tin tan vỡ , bị vua cha chặt đầu  đây là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử . Mị Châu phải trả giá đắt cho tội lỗi của mình .

    – Thái độ của nhân dân với Mị Châu :

    + một mặt đưa ra bản án nghiêm khắc , đích đáng trừng trị tội lỗi của nàng . Từ bi kịch của Mị Châu , nhân dân muốn nhắc nhở con cháu , đặc biệt là thế hệ trẻ cần có thái độ đúng đắn trong việc giả quyết mối quan hệ giữa nước và nhà , chung và riêng .

    + một mặt thương cho nàng , bao dung cho nàng vì nàng có tâm hồn trong sáng , phạm tội do vô tình chứ khong phải cố ý . Vì vậy , nhân dân đã sáng tạo ra lời khấn linh nghiệm của Mị Châu : máu biến thành ngọc trai , xác biến thành ngọc thạch .

    b. Nhân vật Trọng Thuỷ .

    – Là nhân vật truyền thuyết khá phức tạp , có nhiều mâu thuẫn .

    + trong thời kỳ đầu , Trọng Thuỷ đóng vai trò gián điệp , theo lệnh vua cha sang dò la bí mật quốc gia của Âu Lạc , đánh cắp lãy nỏ .

    + trong quá trình sống chung với Mị Châu , có thể Trọng Thuỷ đã yêu nàng thực sự . Câu nói trước lúc chia tay MC về nước phàn nào thể hiện chân tình , sự lo lắng của Trọng Thuỷ về sự tan vỡ của hạnh phúc . Khi Mị Châu chết , Trọng Thuỷ ôm xác vợ khóc lóc , sau đó thì tự tử .

    – cái chết của Trọng Thuỷ : cho thấy sự bế tắc , sự ân hận muộn màng của y . Trọng Thuỷ vừa là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc vừa là nạn nhân trong tham vọng bá quyền của Triệu Đà . Trọng Thuỷ bị kẹt giữa 2 tham vọng quyền lực và hạnh phúc lứa đôi . Hai tham vọng đó không dung hoà được với nhau , tạo nên mâu thuẫn không thể giải quyết trong chính con người Trọng Thuỷ , do đó ,y chỉ còn mỗi cách kết liễu cuộc đời vì bế tắc .

    – Thái độ nhân dân với Trọng Thuỷ :

    + một mặt nhân dân ta vẫn kết tội cướp nước của Trọng Thuỷ , cái chết vì mâu thuẫn giằng xé là cái giá hắn phải trả .

    + mặt khác , nhân dân ta vẫn bao dung vì dù sao Trọng Thuỷ đã hối lỗi và phải trả giá , nên đã sáng tạo ra chi tiết ngọc trai biển Đông nơi Mị Châu chết sẽ sáng hơn nếu đem vào rửa nước giếng nơi Trọng Thuỷ tự vẫn thể hiện , đó coi như sự tha thứ của Mị Châu cho hắn .

    III. Tổng kết .

    – Truyện nêu ra bài học sâu sắc , thấm thía về ý thức cảnh giác trong dựng , giữ nước , bài học về cách xử lý mối quan hệ giữa nước và nhà .

    – Truyện có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố thần kỳ và cốt lõi lịch sử , sáng tạo nhân vật giàu tính tư tưởng , sử dụng nhiều hình ảnh ấn tượng .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Gì Độc Đáo Và Hấp Dẫn Đến Vậy?
  • Đất Nước Mặt Trời Mọc
  • Trao Giải Cuộc Thi “Tìm Hiểu Về Thân Thế, Sự Nghiệp Đại Thi Hào Nguyễn Du Và Tác Phẩm Truyện Kiều”.
  • Phân Tích Nhân Vật Mị Châu
  • Quản Trị Kinh Doanh Là Gì? Chuyên Ngành Quản Trị Kinh Doanh Nên Chọn
  • Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyền Thuyết An Dương Vương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Con Người, Văn Hóa, Phong Tục Nhật Bản
  • Top 8 Bài Phân Tích Nhân Vật An Dương Vương Đầy Đủ Nhất
  • Phân Tích Và Dàn Ý Chi Tiết Về Nhân Vật An Dương Vương
  • Tìm Hiểu Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Office 365 Là Gì? Công Cụ “nghìn Tay” Hấp Dẫn Cho Doanh Nghiệp
  • (Văn mẫu lớp 10) – Em hãy phân tích nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

    Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một tác phẩm vô cùng tiêu biểu, để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Nhắc đến tác phẩm này, không ai là không nhớ tới nàng Mị Châu xinh đẹp, nết na, nhưng vì tình yêu với chồng, vì sự nhẹ dạ cả tin nên đã trở thành tội nhân thiên cổ và chết trong đau đớn.

    Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải chịu trách nhiệm lớn trước bi kịch “nước mất nhà tan”. Đó là một nàng công chúa xinh đẹp, ngây thơ và trong trắng, không một chút ý thức gì về trách nhiệm công dân, ý thức chính trị, chỉ biết đắm mình trong tình yêu, tình cảm vợ chồng.

    Mị Châu ngây thơ, cả tin đến mức: tự tiện sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng, khiến bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà hoàn toàn không biết ; Lại chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân khi đánh dấu đường cho Trọng Thuỷ đuổi theo.

    Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, người lên án, kẻ bênh vực.

    Bị kết tội là giặc ngồi sau lưng ngựa, là đúng và đích đáng, mà người ra tay chính là cha đẻ của nàng. Mị Châu tội lỗi thật nặng nề, thật đáng bị trừng trị nghiêm khắc. Nàng phải trả giá cho những hành động cả tin, ngây thơ, khờ khạo của mình bằng tình yêu tan vỡ, bằng cái chết của chính mình.

    Mặc dù là nàng công chúa gây ra hậu quả mất nước, nhưng với Mị Châu, nhân dân thật công bằng, bao dung, độ lượng và nhân hậu khi thờ An Dương Vương trong đền Thượng, mà thờ công chúa Mị Châu trong am bà Chúa, (trong đó thờ bức tượng không đầu).

    Nhưng công bằng mà nói, Mị Châu cũng thật đáng thương, đáng cảm thông, do tất cả những sai lầm, tội lỗi đó đều xuất phát từ sự vô tình, từ tính ngây thơ nhẹ dạ, cả tin đến mức mù quáng của nàng. Nàng chỉ hành động theo tình cảm, chứ chẳng hề đắn đo suy xét, chỉ biết việc riêng, chẳng lo việc chung. Tố Hữu đã viết về nàng một cách công bằng và nghiêm khắc trong bài Tâm Sự:

    Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

    Trái tim lầm chỗ để trên đầu

    Nỏ thần vô ý trao tay giặc

    Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

    Chi tiết Mị Châu cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần chứng tỏ Mị Châu nặng về tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ, trách nhiệm với Tổ quốc. Có thể khẳng định Mị Châu đã vi phạm vào nguyên tắc của bề tôi đối với vua cha. Nàng đã tiết lộ bí mật quốc gia. Đành rằng tình cảm vợ chồng tuy gắn bó cũng không thể vượt lên trên tình cảm đất nước. Nước mất dẫn đến nhà tan, không ai có thể bảo toàn hạnh phúc. Lông ngỗng có thể rắc cùng đường nhưng Trọng Thuỷ cũng không thể cứu được Mị Châu. Chúng ta cần xuất phát từ cơ sở phương pháp luận và ý thức xã hội, chính trị-thẩm mĩ của nhân dân trong đặc điểm thể loại Truyền thuyết để nhìn nhận về nhân vật Mị Châu. Thể loại này nhằm đè cao cái tốt đẹp, phê phán cái xấu, cái ác, theo quan niệm nhân dân. Truyền thuyết đề cao lòng yêu nước, ý chí vì độc lập – tự do, không thể ca ngợi nàng công chúa con vị vua anh hùng, khổ công xây dựng thành giữ nước lại chỉ biết nghe lời chồng, không nghĩ đến bổn phận công dân với vận mệnh Tổ quốc. Nhìn ngược lại lịch sử để rút ra kinh nghiệm, giáo dục tình yêu nước, đề cao ý thức công dân, đặt việc nước cao hơn việc nhà. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

    Nàng Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lỗi của lớn của mình và không hề chối tội. Nàng chỉ muốn thanh minh ” Nếu có lòng phản nghịch, mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù“. Nàng chỉ mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu”, chỉ muốn mọi người hiểu rằng mình ” một lòng trung hiếu mà bị lừa dối” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Công chúa Mi Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót vì đã biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội. Nếu lấy đạo “tam tòng” để thanh minh cho Mị Châu, rằng nàng chỉ là phận gái, rằng nàng làm vợ chỉ cần phục tùng chồng là đủ thì chính là đã hạ thấp bản lĩnh và tư cách của nàng công chúa nước Âu Lạc này.

    Hình ảnh ngọc trai – ngọc minh châu là hoá thân của nàng. Mị Châu đã phải chịu thi hành bản án của lịch sử xuất phát từ truyền thống yêu nước, tha thiết với độc lập tự do của người Việt cổ. Tuy nhiên số phận Mị Châu chưa dừng lại ở đó. Nhưng nàng không hoá thân trọn vẹn trong một hình hài duy nhất. Nàng hoá thân- phân thân: máu chảy xuống biển, trai ăn phải hoá thành ngọc trai. Xác nàng hoá thành ngọc thạch. Hình ảnh đó vừa thể hiện sự bao dung, thông cảm với sự trong trắng ngây thơ, vô tình khi phạm tội vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc cùng bài học lịch sử về giải quyết quan hệ giữa nhà với nước, chung với riêng.

    Bài học về nhân vật Mị Châu là một bài học vô cùng cay đắng xót xa cho người con gái thánh thiện nhưng quá khờ khạo và cả tin. Đó cũng là bài học về sự cảnh giác và đặt niềm tin đúng chỗ cho biết bao thế hệ người Việt Nam chúng ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyện An Dương Vương Và Mị C
  • Ngành Quản Trị Kinh Doanh Là Gì, Làm Gì?
  • Giải Địa Lí 11 Bài 4: Thực Hành: Tìm Hiểu Những Cơ Hội Và Thách Thức Của Toàn Cầu Hóa Đối Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Địa Lí 11 Bài 4 Ngắn Nhất: Thực Hành: Tìm Hiểu Những Cơ Hội Và Thách Thức Của Toàn Cầu Hóa Đối Với Các Nước Đang Phát Triển.
  • Bài Giảng Tìm Hiểu Một Số Nghề Thuộc Ngành Giao Thông Vận Tải Và Địa Chất
  • Giáo Án Bài Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Trọng Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Nguyễn Du Và Sưu Tầm “truyện Kiều” Để Hướng Tới Phục Nguyên Văn Bản “truyện Kiều”
  • Tìm Hiểu Về Nhật Bản
  • Công Nghệ Là Gì? Học Những Gì? Và Ra Trường Làm Gì?
  • Tổng Quan Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • XÂY DỰNG BÀI HỌC MINH HỌA THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

    Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần?

    – Xác định những chi tiết, sự việc tiêu biểu.

    Nêu nội dung chính của từng phần.

    Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

    – Phân tích, đánh giá nội dung của từng phần.

    Dựa trên những hiểu biết về cốt truyện, kể lại truyện theo lời văn của em.

    Tưởng tượng và viết tiếp câu chuyện về cuộc gặp gỡ của các nhân vật sau khi chết.

    – Có những nhân vật nào trong tác phẩm? Xác định nhân vật chính.

    – Chỉ ra hành động của các nhân vật đó.

    – Phân tích đặc điểm của các nhân vật để thấy thái độ tình cảm của nhân dân với các nhân vật đó .

    – Nêu ý nghĩa của những hành động đó.

    – Nhận xét, đánh giá về nhân vật.

    Nếu viết lại tác phẩm này, có những hành động nào của các nhân vật mà em sẽ thay đổi? Tại sao em lại thay đổi như thế?

    Chỉ ra những chi tiết hoang đường, kì ảo trong tác phẩm.

    Phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó.

    Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.

    Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm?

    Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian.

    Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

    Bước 5. Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả

    – Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần?

    – Tác phẩm có những chi tiết, sự việc tiêu biểu nào?

    – Nêu nội dung chính của từng phần.

    – Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

    – Phân tích, đánh giá nội dung của từng phần.

    – Dựa trên những hiểu biết về cốt truyện, kể lại truyện theo lời văn của em.

    Em hãy tưởng tượng và viết tiếp câu chuyện về cuộc gặp gỡ của các nhân vật sau khi chết.

    – Có những nhân vật nào trong tác phẩm? Ai là nhân vật chính?

    + Chỉ ra những hành động của ADV trong quá trình xây thành chế nỏ?

    + ADV đã có những hành động, thái độ như thế nào khi kén rể và trước sự xâm lược của Triệu Đà?

    + Trước bi kịch mất nước, ADV đã có những hành động gì?

    + Chỉ ra những hành động của Mị Châu với Trọng Thủy.

    + Trước sự truy đuổi của quân Triệu Đà, Mị Châu đã làm gì?

    + Khi bị rùa vàng kết tội, Mị Châu đã làm gì?

    + Nêu sự hóa thân của MC sau khi chết.

    + Nêu những hành động của Trọng Thủy để tìm cách lấy cắp nỏ thần?

    + Nêu kết cục dành cho Trọng Thủy?

    + Em thấy ADV là một vị vua như thế nào trong quá trình xây thành chế nỏ?

    + Qua những hành động của ADV, em thấy nguyên nhân nào khiến ADV để mất nước?

    + Em đánh giá như thế nào về những hành động đó?

    + Thái độ, tình cảm của tác giả dân gian dành cho nhân vật ADV như thế nào?

    + Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là vợ của Trọng Thủy?

    + Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là một công chúa của nước Âu Lạc?

    + Em có nhận xét gì về lời kết tội của rùa vàng?

    + Hình ảnh ngọc trai giếng nước có ý nghĩa gì?

    + Động cơ nào khiến Trọng Thủy trở thành con rể của ADV?

    + Kết cục đó có hợp lý không? Vì sao?

    + Em rút ra bài học gì từ quá trình để mất nước của ADV?

    + Nếu em là ADV, em có hành động như vậy không? Tại sao?

    + Em đồng tình hay phản đối lời kết tội của rùa vàng dành cho MC? Tại sao?

    + Em nhận xét gì về thái độ của nhân dân khi xây dựng hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”?

    + Nếu là Trọng Thủy, em có hành động như vậy không? Tại sao?

    + Em đánh giá như thế nào về con người của Trọng Thủy?

    Nếu viết lại tác phẩm này, có những hành động nào của các nhân vật mà em sẽ thay đổi? Tại sao em lại thay đổi như thế?

    Chỉ ra những chi tiết hoang đường, kì ảo trong tác phẩm

    Phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó?

    Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.

    Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm?

    Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian.

    Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

    Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt

    Hoạt động 1. Khởi động

    + Theo em, trong cuộc sống, khi tình yêu cá nhân mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, em sẽ lựa chọn điều gì? Tại sao em lại lựa chọn như vậy?

    + Thiết lập mục đích: Đọc một tác phẩm truyền thuyết bàn về mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân và lợi ích quốc gia, để hiểu về ý nghĩa của những lựa chọn của mỗi người.

    – Hoạt động 2. Hình thành kiến thức

    I. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những nét khái quát về truyền thuyết ADV & MCTT

    – Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần? Nội dung chính của từng phần?

    – Tác phẩm có những chi tiết, sự việc tiêu biểu nào?Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

    II, Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyền thuyết:

    1, Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhân vật ADV:

    + Chỉ ra những hành động của ADV trong quá trình xây thành chế nỏ?

    + ADV đã có những hành động, thái độ như thế nào khi kén rể và trước sự xâm lược của Triệu Đà?

    + Trước bi kịch mất nước, ADV đã có những hành động gì?

    + Qua những hành động của ADV, em thấy nguyên nhân nào khiến ADV để mất nước?

    + Em đánh giá như thế nào về những hành động đó?

    + Thái độ, tình cảm của tác giả dân gian dành cho nhân vật ADV như thế nào?

    + Em rút ra bài học gì từ quá trình để mất nước của ADV?

    + Nếu em là ADV, em có hành động như vậy không? Tại sao?

    2, Hướng dẫn hs tìm hiểu nhân vật Mị Châu

    + Chỉ ra những hành động của Mị Châu với Trọng Thủy.

    + Trước sự truy đuổi của quân Triệu Đà, Mị Châu đã làm gì?

    + Khi bị rùa vàng kết tội, Mị Châu đã làm gì?

    + Nêu sự hóa thân của MC sau khi chết.

    + Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là vợ của Trọng Thủy?

    + Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là một công chúa của nước Âu Lạc?

    + Em có nhận xét gì về lời kết tội của rùa vàng?

    + Hình ảnh ngọc trai giếng nước có ý nghĩa gì?

    3, Hướng dẫn HS tìm hiểu nhân vật Trọng Thủy

    + Nêu những hành động của Trọng Thủy để tìm cách lấy cắp nỏ thần?

    + Nêu kết cục dành cho Trọng Thủy?

    + Kết cục đó có hợp lý không? Vì sao?

    + Nếu là Trọng Thủy, em có hành động như vậy không? Tại sao?

    4, Hướng dẫn HS tìm hiểu những chi tiết kì ảo.

    Em hãy nêu những chi tiết kì ảo trong tác phẩm?

    – Hãy phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó?

    – Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.

    5, Hướng dẫn Hs tìm hiểu những bài học lịch sử trong tác phẩm.

    – Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm?

    – Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian.

    – Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

    Hs nêu đúng tên tác phẩm truyền thuyết đã học và đã đọc.

    Hs nêu quan điểm của mình bằng dạng nói hoặc dạng viết (ngắn).

    I. Tìm hiểu chung

    I. Vài nét về truyền thuyết ADV & MCTT

    3 đoạn

    – Đoạn1: ADV xây thành chế nỏ bảo vệ vững chắc đất nước :Từ đầu đến “bèn xin hoà”

    – Đoạn2: Cảnh nước mất nhà tan ; Tiếp đến “dẫn vua xuống biển”

    – Đoạn3: Mượn hình ảnh “Ngọc trai- giếng nước” để thể hiện thái độ của tác giả dân gian đối với Mị Châu : Đoạn còn lại

    2.Tóm tắt:Truyền thuyết miêu tả quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của ADV và bi kịch mất nước nhà tan. Đồng thời, thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả dân gian với từng nhân vật.

    II, Đọc hiểu truyền thuyết:

    1, Nhân vật ADV

    a. Vai trò của ADV trong sự nghiệp giữ nước.

    *. Quá trình xây thành, chế nỏ:

    – Thành đắp tới đâu lại đổ tới đó

    – Lập bàn thờ, giữ mình trong sạch để cầu đảo bách thần.

    – Nhờ cụ già mách bảo, sứ Thanh Giang (tức Rùa Vàng) giúp nhà vua xây thành “nửa tháng thì xong”

    – Trước sự băn khoăn của nhà vua “Nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống”, Rùa Vàng đã cho ADV cái vuốt để làm lẫy nỏ (ADV là người có ý thức, trách nhiệm)

    * ADV được thần linh giúp đỡ vì: có ý thức đề cao cảnh giác, lo xây thành, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến. Qua đó, tác giả dân gian ngợi ca nhà vua, tự hào về chiến công xây thành, chế nỏ chiến thắng ngoại xâm của dtộc.

    b. Ý nghĩa của những chi tiết kỳ ảo

    – Khẳng định việc làm của ADV là hợp lòng trời, hợp lòng dân.

    – Công cuộc dựng nước, giữ nước của ADV có tính chất chính nghĩa

    – Thần thánh hoá sức mạnh của vũ khí, khẳng định tinh thần cảnh giác, chuẩn bị chống giặc của ADV

    truyện an dương vương và mị châu trọng thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Quản Trị Kinh Doanh Có Đặc Điểm Gì?
  • Ngành Quản Trị Kinh Doanh
  • Hướng Dẫn Kết Nối Thanh Toán Online Qua Ví Momo
  • Ví Momo Là Gì? Cách Sử Dụng Momo 31/01/2021
  • Ví Momo Là Gì? Toàn Tập Về Ví Momo (Chi Tiết)
  • Kể Lại Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Trọng Thuỷ Theo Lời Của Nhân Vật Trọng Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Cuộc Thi “tìm Hiểu Về Thân Thế, Sự Nghiệp Đại Thi Hào Nguyễn Du Và Tác Phẩm Truyện Kiều”
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 34, 35: Đọc Thêm Dọn Về Làng
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về 8 Câu Cuối Bài Trao Duyên Trong Truyện Kiều Của Nhà Thơ Nguyễn Du
  • 4 Cuốn Sách Để Tìm Hiểu Về Nhật Bản
  • Tìm Hiểu Lý Do Người Nhật Bản Lại Đi Bên Trái Đường
  • (Văn mẫu lớp 10) – Kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ theo lời của nhân vật Trọng Thủy từ khi lao đầu xuống giếng mà chết. (Bài làm của học sinh lớp 10 trường THPT Bình Giang).

    Đề bài: Hãy tưởng tượng mình là Trọng Thủy trong ” Chuyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” để kể câu truyện từ sau khi mình lao đầu xuống giếng mà chết với bản thân em câu chuyện sáng tạo đó có ý nghĩa như thế nào.

    BÀI LÀM

    Chìm đắm trong sự nuối tiếc hối hận muộn màng Trọng Thủy. Tôi – người đã nội gián giúp vua cha Triều Đà xâm chiếm Âu Lạc, người đã khiến người vợ yêu dấu của mình Mị Châu bị chính cha ruột giết chết vẫn ngày đêm nghĩ về nàng. Chính vì vậy, khi tôi đi ra giếng mà Mị Châu hay tắm nhìn thấy bóng nàng mà lao xuống giếng sâu để rồi mong sau này gặp được Mị Châu trong sự đau thương bi ai dưới thủy cung lộng lẫy đẹp vô ngàn.

    Tưởng chừng đây vẫn là nơi đáy giếng sâu lạnh lẽo nhưng khi tôi mở mắt lại thấy một thế giới khác đẹp đẽ lung linh kì lạ mà tôi từng biết, chưa từng nhìn qua. Đang trong sự hoang mang hơi bất ổn của mình bỗng nhiên có một vị thần cá đến nói với tôi.

    Long Vương chính vì thấu hiểu tấm lòng ngài luôn luôn nghĩ tốt Mị Châu nên đã đưa ngài đến đây. Mời ngài theo ta đến thủy cung.

    Đến bây giờ tôi mới hiểu ra thì ra đây là thủy cung và Mị Châu – nàng ấy đang ở đây ta có thể gặp lại nàng có thể giải thích nỗi lòng mình cho nàng hiểu. Trên lưng thần cá tôi vượt qua những rặng san hô hùng vĩ nhiều màu sắc lung linh tuyệt đẹp vô cùng. Mọi vạt không ngừng hoạt động từng đàn cá khổng lồ bơi lượn tạo thành những dòng sóng ngầm dưới đáy đại dương, đâu đó dưới đáy kia là những con cá đuối, cua tôm chậm rãi kiếm mồi thật sống động. Nhưng hơn hết một kệu đài nguy nga lộng lẫy đang dần hiện ra trước mắt tôi người người tấp nập như đang chuẩn bị hội tiệc linh đình. Theo sau thần cá tôi vào gặp Long Vương cảm tạ người ơn cứu mạng rồi đi xung quanh trốn kiếm hình bóng người con gái trong lòng bấy lâu.

    Dạo bước một lúc xung quanh thủy cung bất chợt tôi lại xúc động trước bóng hình người con gái đẹp sắc kia. Nàng trông vẫn vậy vẫn đẹp vô ngần nhưng phần nào không còn ngây thơ trong sáng nữa mà là sự thận trọng già dặn hơn. Cũng phải thôi là tại tôi khiến nàng có cảnh nước mất nhà tan. Nàng hình như nhìn thấy ta đi liền đi đến lại gần giọng chua ngoa.

    Không phải người hưởng vinh quang phú quý trên kia hay sao khi đã cướp mất nước ta khiến cho ta thành kẻ bất hiếu bất trung hay sao.

    Lời nói của nàng thật cay nghiệt làm sao như những mũi dao gim vào lòng ta vậy. Nhưng cũng đúng thôi bởi ta là kẻ tạo phản ta là nội gián, cướp đi hạnh phúc của nàng. Dù sao ta cũng là chồng nàng người chung chăn chung gối suốt bấy lâu người mà nàng yêu thương mà tôi liền cất lời.

    Mị Châu xin nàng hãy tha lỗi cho ta xin nàng hãy trở về bên ta cùng ta sống một cuộc sống hạnh phúc ở dưới này. Chẳng phải ta và nàng có bao nhiêu kỉ niệm vợ chồng hay sao, chả phải tình yêu ta trao nàng to lớn biết chừng nào. Nàng mất đi ta không ngày nào không nghĩ đến nàng, không giây nào chưa từng hối hận nuối tiếc về ngày sai lầm ấy.

    Nói đến đây, Mị Châu cũng rơi nước mắt ta biết nàng vẫn còn thương ta vẫn còn nhớ đến ta, nói giọng oán trách.

    Vậy ta sao chàng lại lừa dối thiếp lại lợi dụng lòng tin mà thiếp trao cho chàng.

    Đúng là khi xưa ta đã từng đến Âu Lạc chỉ vì mục đích là nội gián tìm hiểu nguyên nhân mà tại sao nước ta lại không đánh thắng nước nàng. Nhưng rồi khi ở cùng nàng ta đã bị tấm lòng trong sáng của nàng cảm hóa ta day dứt vô cùng. Một bên là trách nhiệm với đất nước một bên là nạn nhân ta phải chọn gì đây. Sau khi trộm được nỏ thần nước ta đánh thắng nhưng thực sự lòng ta chưa một giây nào vui sướng nàng có biết không? Nàng hãy hiểu cho ta hãy tha thứ cho ta để hai ta được trở về xưa cũ.

    Mị Châu vẫn không ngừng khóc tôi cũng vậy nắm lấy tay nàng mong nàng tha thứ, trái tim tôi đã đau dứt khi thấy nàng khổ tâm như vậy mong chờ vào câu trả lời của nàng.

    Thiếp hiểu được lòng chàng rồi, thiếp biết được nỗi day dứt trong lòng chàng. Nhưng chàng ơi! hạnh phúc đã trôi qua thì không thể nào lấy lại được bởi thời gian nó là vĩnh cửu nó là thứ đáng sợ khủng khiếp. Cũng như lỗi lầm mà thiếp đã gây ra cho đất nước Âu Lạc. Bây giờ thiếp tự cho mình hạnh phúc cùng chàng. Vậy còn nhân dân bách tính Âu Lạc thì sao, ai sẽ cho họ. Mong chàng đừng mong chờ thiếp nữa, thiếp xin lỗi chàng.

    Trái tim ta lại rỉ máu lại đau đớn khi cánh tay nàng đã rút hình bóng nàng lại càng xa nhưng ta hét lên nói với nàng lần cuối cùng.

    Mị Châu đời đời kiếp kiếp ta vẫn yêu nàng. Đợi kiếp sau ta và nàng sẽ không phải hoàng tử hay công chúa, không phải người phương Bắc và người phương Nam nữa mà sẽ là những con người bình thường ta sẽ đến tìm nàng cùng nàng sống nốt hạnh phúc dở dang này.

    Cứ thế chúng tôi chia tay nhau tôi biết rằng cả hai cùng hướng tới ước mơ gặp lại nhau đó mong rằng nước biển mặn mà xanh đẹp này sẽ xóa nhòa cuốn đi những sai lầm mất mát này của tôi cuốn đi sự đau thương, vét máu lòng này. Rồi như thế tôi đã chết đi hóa đá nằm sâu thẳm dưới lòng đại dương này nhưng tấm lòng nguyện ước ấy không phai nhòa.

    Tình yêu chính là liều thuốc hạnh phúc của con người là tình cảm mà không ai có thể thiếu. Ai ai cũng đều mong mình được sống trong hạnh phúc cùng người mình yêu thương nhưng không phải ai cũng có thể không phải tình yêu nào cũng chấp nhận. Đôi lúc ta cần phải biết hi sinh vì tập thể tránh để như Mị Châu ” trái tim lầm lỡ để trên đầu” để rồi nước mất nhà tan gây bao đau thương cho cả dân tộc. Đồng thời cũng cần phải thận trọng tránh cả tin nếu không kết quả chỉ có bi thương đau khoor mà thôi.

    Tác giả: Anthoy Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Kinh Doanh Là Gì? Tìm Hiểu Chi Tiết Về Ngành Này Nhé
  • Khoa Quản Trị Kinh Doanh
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Ngành Quản Trị Kinh Doanh
  • Ngành Học Quản Trị Kinh Doanh: Học Gì Và Ra Trường Làm Gì?
  • Tìm Hiểu Về Ngành Quản Trị Kinh Doanh
  • Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyện An Dương Vương Và Mị C

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyền Thuyết An Dương Vương
  • Tìm Hiểu Về Con Người, Văn Hóa, Phong Tục Nhật Bản
  • Top 8 Bài Phân Tích Nhân Vật An Dương Vương Đầy Đủ Nhất
  • Phân Tích Và Dàn Ý Chi Tiết Về Nhân Vật An Dương Vương
  • Tìm Hiểu Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Đề bài: Phân tích nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy và trình bày quan điểm của anh chị về nhân vật này.

    Phân tích nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy

    I. Dàn ý Phân tích nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy

    – Giới thiệu truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu-Trọng Thủy.

    – Giới thiệu nhân vật Mị Châu.

    a. Xuất thân, hoàn cảnh:

    – Mị Châu là con gái duy nhất của An Dương Vương.

    – Từ nhỏ cuộc sống của nàng vốn dĩ đã sung sướng, được bảo bọc và nhận đủ tình yêu thương cưng chiều của vua cha.

    – Được gả cho Trọng Thủy, con trai của Triệu Đà, kẻ mới trước đây đã dẫn quân sang với ý đồ xâm lược u Lạc, nhưng thất bại.

    3. Kết bài

    Nêu cảm nhận.

    II. Bài văn mẫu Phân tích nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy

    Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, đã từng xuất hiện những tích, những con người thần thánh khiến biết bao thế hệ tôn thờ như Thánh Gióng, Sơn Tinh, thế như cũng có những truyền thuyết, những câu chuyện đầy đau thương, bi kịch, không chỉ để lại cho người đọc nhiều băn khoăn, trăn trở mà đó còn là những bài học sâu sắc và quý giá mà cha ông ta từ thuở xa xưa muốn con cháu không bao giờ được quên. Truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu – Trọng Thủy chính là một trong số ấy. Ba nhân vật chính mỗi người đều có những sai lầm, những ngu muội ích kỷ riêng, người thì đắc thắng, quên đề phòng, kẻ tin người, mê muội trong tình yêu, kẻ lại ác tâm dối gạt lợi dụng tình yêu và niềm tin của người khác. Mỗi nhân vật đều có những khía cạnh tính cách và tâm hồn đáng khai thác và tìm hiểu, trong đó nhân vật Mị Châu chính là một nhân vật có nhiều nét đặc sắc đồng thời cũng để lại cho nhân thế nhiều bài học sâu sắc, trong đó đặc biệt nhất là bài học về việc cân bằng giữa tình cảm cá nhân và lợi ích dân tộc.

    Mị Châu là con gái duy nhất của An Dương Vương, từ nhỏ cuộc sống của nàng vốn dĩ đã sung sướng, được bảo bọc và nhận đủ tình yêu thương cưng chiều của vua cha. Nhưng có lẽ An Dương Vương đã quá chủ quan, lơ là hoặc là thật sự tự tin vào tài cán bảo vệ đất nước thế nên người đã bỏ qua việc chỉ dạy cho Mị Châu những bài học về trách nhiệm của một công dân đối với đất nước, đặc biệt nàng lại còn là một công chúa. Vua cha vì sự tự tin và kiêu ngạo của mình đã dễ dàng gả con gái cho Trọng Thủy, con trai của Triệu Đà, kẻ mới trước đây đã dẫn quân sang với ý đồ xâm lược u Lạc, nhưng thất bại, mà không một chút mảy may nghi ngờ về sự lợi hại trong ấy. Cho đến bây giờ người ta vẫn không thể lý giải được, tại sao đường đường là một vị vua anh minh lỗi lạc như An Dương Vương mà lại cũng có những lúc hồ đồ, thiếu sáng suốt đến bực ấy, gả con gái yêu của mình cho con trai của kẻ thù và cuối cùng chính tay đẩy nàng, mình và cả đất nước vào bi kịch diệt vong không lối thoát. Có thể nói rằng, bi kịch của Mị Châu đều bắt nguồn từ người cha của mình, nàng không có lỗi gì trong việc trở thành vợ của Trọng Thủy, thậm chí ngay lúc đó nàng còn là người có công bình ổn và tham gia vào mối quan hệ “hòa bình” giữa hai quốc gia. Thế nhưng sau tất cả nàng vẫn phải chấp nhận cái danh tội nhân của bi kịch mất nước. Cuộc sống được bảo bọc, yêu thương và chăm sóc đã dưỡng ra một nàng công chúa ngây thơ, không thấu hiểu sự đời cũng như thờ ơ với lợi ích của quốc gia dân tộc, mà thay vào đó là sự say đắm trong tình yêu, hạnh phúc với người chồng mới cưới là Trọng Thủy. Thú thật rằng, quan niệm xuất giá tòng phu, lấy chồng thì phải theo chồng vốn dĩ đã có từ bao đời nay, kể từ khi con người chuyển từ chế độ Mẫu hệ sang Phụ hệ và trở thành một quy tắc bất thành văn ăn sâu vào bản tính của nhiều người phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên bản thân Mị Châu lại là một công chúa, cái sự phục tùng và nghe lời chồng trở thành lưỡi dao giết chết nàng và cả đất nước, thành một mối họa mà nàng không thể tưởng tượng được. Dẫu bản thân Mị Châu không tham gia quốc sự, chỉ phụ trách việc sống trong nhung lụa và hưởng thụ thế nhưng không lẽ nào nàng không biết được sự lợi hại của nỏ thần và tầm quan trọng của nó với sự tồn vong của đất nước? Ấy thế mà nàng công chúa ngây thơ đã dễ dàng lén lấy nó đem ra cho chồng mình là Trọng Thủy xem trộm mà không một chút nghi ngờ hay đề phòng. Hành động vô phép này của nàng quả thực là một sự ngu muội khó chấp nhận, nàng chỉ biết đến việc Trọng Thủy là chồng mình, mà không hề nghĩ đến Trọng Thủy với cha chồng đồng thời cũng là kẻ thù dạo trước, là kẻ vẫn thường nhăm nhe xâm lược đất nước mình để mà đề phòng. Lấy trộm nỏ thần cho chồng xem lại là một chuyện, đến cả cái việc đáng ngờ khi Trọng Thủy xin về nước thăm cha mà Mị Châu cũng vẫn không hề nhận thức được sự kỳ lạ trong lời nói của chàng ta rằng “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ, ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Nếu tỉnh táo và chịu suy nghĩ thấu đáo, thì rõ ràng người ta đã nhận ra được ẩn ý về một cuộc xung đột sắp xảy ra giữa hai nước. Thế nhưng không, Mị Châu trẻ dại và quá chìm đắm trong tình yêu cũng như nỗi buồn sắp ly biệt đã không đủ tỉnh táo để nhận ra được điều đơn giản ấy, mà vẫn một mực đợi chờ Trọng Thủy trở về. Và chồng nàng cũng trở về thật, tuy nhân là trở về với một cuộc xâm lược tàn khốc, biến đất nước vốn đang yên bình thành một mảnh hỗn loạn, nhân dân lầm than. Mị Châu phải theo vua cha chạy trốn trên một con ngựa, tình cảnh thảm hại vô cùng, ấy vậy mà người ta vẫn không hiểu nổi rốt cuộc vì nguyên do gì mà Mị Châu lại vẫn tin tưởng Trọng Thủy đến thế, khi mà bi kịch mất nước đã diễn ra ngay trước mặt. Nàng ta một mặt theo vua cha chạy trốn, một mặt rải áo lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo, một sự ngu muội và phản bội chính cha mình trong vô thức. Cuối cùng với tất cả những ngu muội và tội lỗi tày đình của mình, Mị Châu đã phải trả một cái giá quá đắt, nước mất, nhà tan, tình thân chấm hết, nàng đã chết dưới lưỡi kiếm của cha để đền tội, nhưng vẫn mãi mãi ôm trong mình nỗi oán hận và day dứt khôn nguôi.

    Nhưng bên cạnh bi kịch tội nhân phản quốc, thì Mị Châu cũng phải gánh chịu một bi kịch khác ấy chính là bi kịch trong tình yêu. Như đã nói, Mị Châu sống mười mấy năm trong bảo bọc, nhung gấm sau lại được gả cho Trọng Thủy, hoàng tử của nước láng giềng. Truyện không nói nhiều về nhân vật Trọng Thủy, thế nhưng đoán chắc rằng đây cũng là một người tài hoa, diện mạo sáng sủa và có lẽ cũng biết cách yêu thương thế nên nàng Mị Châu mới có thể một lòng si mê và dành hết tình yêu cả đời mình cho hắn như thế. Tình yêu của Mị Châu là tình yêu thuần nhất và chung thủy, không hề vụ lợi hay suy tính thiệt hơn, nàng giống như một con chiên hết lòng phục đạo, hết lòng tin tưởng và dâng toàn bộ trái tim cho Trọng Thủy mà chưa một lần suy nghĩ cho bản thân hay suy nghĩ cho quốc gia dân tộc. Thú thật rằng, đối với một cô gái còn gì hạnh phúc sung sướng hơn khi được sống trong cảnh yên bình ấm êm bên cạnh chồng, bên cạnh cha mà không phải mảy may lo nghĩ điều gì. Sự che chở ấy quả thực là bảo vật của thế gian. Nàng ngây thơ tin tưởng vào tình yêu của mình và đồng thời cũng nghĩ rằng Trọng Thủy cũng dành cho mình những tình cảm trong sáng và sâu sắc hệt như nàng đối với hắn. Thế nên với những yêu cầu xem nỏ thần, hay thỏa thuận việc tìm lại nhau lỡ như loạn lạc, đối với Mị Châu lại trở thành việc bình thường và nghiễm nhiên giữa các cặp vợ chồng ân ái. Nàng nghĩ rằng vợ chồng với nhau thì chẳng thiết gì mà phải giữ bí mật, nàng hy vọng rằng việc cho Trọng Thủy xem nỏ thần, chính là thể hiện thành ý và tình yêu sâu sắc của nàng dành cho hắn, để từ đó tình cảm vợ chồng càng thêm thắm thiết, bền chặt. Còn chuyện áo lông ngỗng, lúc ấy Mị Châu nghe đến việc Trọng Thủy về thăm cha, lại nghĩ đến cảnh phải xa cách một khoảng thời gian lâu, cũng như những chuyện bất trắc khiến lòng người con gái vốn yếu mềm và có nhiều tình yêu này trở nên yếu đuối. Nàng không còn nghĩ được gì ngoài nỗi buồn ly biệt, thế nên Mị Châu chỉ hòng tìm cách làm sao để bảo vệ mối duyên tơ, chứ nào đâu nghĩ đến cảnh diệt quốc và bi kịch những ngày sau vì sự mù quáng, tin tưởng của mình. Cuối cùng đáp lại nàng đó chính là sự lừa dối và phản bội đầy đau đớn của Trọng Thủy, người nàng hết mực tin yêu. Chính tay chồng nàng đã đẩy nàng vào bi kịch phản quốc, bi kịch phản bội vua cha và phải chịu cái chết đầy đau đớn và tội lỗi, chết mà vẫn còn mang nhiều uất hận ngàn năm khó rửa sạch. Khi ấy, Trọng Thủy đuổi được tới nơi, hắn hối hận và đau đớn vì cái chết của người vợ yêu quý, người con gái một đời dành tình yêu cho hắn. Cuối cùng Mị Châu cũng nhận được tình yêu của Trọng Thủy, nhưng đó lại là một tình yêu mang đầy tội lỗi, đau thương, bản thân Mị Châu sẽ chẳng bao giờ còn có thể chấp nhận được nữa, lòng nàng chỉ còn lại sự thù hận, chán ghét và tuyệt vọng. Nàng chết đi máu nhỏ thành ngọc trai, một sự hóa thân không toàn diện vừa là sự trừng phạt, cũng lại là sự thương xót cho một kiếp hồng nhan lắm truân chuyên, đau đớn. Thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhân dân ta về những lỗi lầm không thể vãn hồi của nàng Mị Châu, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự cảm thông thấu hiểu cho những bi kịch mà nàng phải gánh chịu chỉ vì sự ngây thơ, tin tưởng quá đỗi vào tình yêu.

    Mị Châu đáng thương hay đáng trách? Chúng ta và hậu thế về sau vĩnh viễn không bao giờ có thể trả lời được câu hỏi này. Nàng đáng trách khi đã không đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, lại chỉ biết ích kỷ nghĩ đến tình yêu một cách mù quáng và thiếu sáng suốt dẫn đến kết cục không thể nào đau thương hơn – nước mất, nhà tan. Nhưng nàng cũng là một nhân vật đáng thương, phải gánh chịu bi kịch tình yêu đầy đau đớn, cái chết ghê gớm và nỗi oan ức ngàn đời không thể rửa sạch. Câu chuyện và bi kịch của Mị Châu chính là một bài học lớn cho mỗi con người chúng ta, khuyên răn rằng sống trên đời phải biết cân nhắc lợi hại giữa lợi ích chung và riêng, giữa tình thân và tình yêu, đừng để mọi chuyện đi quá xa rồi rơi vào kết cục không thể vãn hồi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Quản Trị Kinh Doanh Là Gì, Làm Gì?
  • Giải Địa Lí 11 Bài 4: Thực Hành: Tìm Hiểu Những Cơ Hội Và Thách Thức Của Toàn Cầu Hóa Đối Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Địa Lí 11 Bài 4 Ngắn Nhất: Thực Hành: Tìm Hiểu Những Cơ Hội Và Thách Thức Của Toàn Cầu Hóa Đối Với Các Nước Đang Phát Triển.
  • Bài Giảng Tìm Hiểu Một Số Nghề Thuộc Ngành Giao Thông Vận Tải Và Địa Chất
  • Ví Điện Tử Momo Là Gì? Sử Dụng Momo Có An Toàn Không?
  • Tại Sao Châu Phi Lại Nghèo?

    --- Bài mới hơn ---

  • Châu Âu Đổi Sang Giờ Mùa Đông
  • Châu Âu Đổi Giờ Và Sự Rắc Rối Không Cần Thiết
  • Tại Sao Không Có Cảm Giác Đi Cầu?
  • Dựng Nước Phải Luôn Đi Đôi Với Giữ Nước, Có Dựng Được Nước Mạnh Thì Mới Giữ Được Nước Bền
  • Bài Học “dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Điều khiến người ta ngạc nhiên là số phận kém may mắn mà châu Phi phải chịu đựng trong suốt gần 50 năm qua kể từ ngày thoát khỏi ách thuộc địa. Đầu những năm 60 thế kỉ 20 châu Phi cũng không kém cạnh những nước như Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) hay Malajsia lúc bấy giờ. Trong khi những nước này trở thành những con rồng kinh tế thì GDP (tổng sản phẩm nội địa) của châu Phi trong hai thập kỉ trở lại đây giảm mạnh. Châu Phi không giàu thêm mà ngược lại, có vẻ như chỉ nghèo đi.

    Địa lý

    Châu Phi là nạn nhân của địa lý. Châu Phi nghèo vì châu Phi có số phận đen đủi. Đất châu Phi không màu mỡ, phù nhiêu như đất châu Á. Lục địa đen cũng phải chịu nhiều bệnh tật hơn. Đa số dân cư sống không tập trung gần bờ biển cộng với hệ thống đường và sông nước kém gây cản trở giao thương và phát triển kinh tế. Việc điều khiển quốc gia tại châu Phi rất khó khăn vì chính phủ còn yếu mà lí do đơn giản cũng chỉ bởi do sự nghèo. Mà đã nghèo thì không thể dự trữ được vốn quan trọng nhằm gây dựng một tương lai sáng sủa hơn.

    Chính trị

    Lí do nghèo vì chính trị thực sự là bi quan hơn rất nhiều so với lí do địa lý. Hàng tấn tai họa mà châu Phi phải gánh chịu như chiến tranh, chuyên chế, tham nhũng, hạn hán, đói nghèo, bạo lực hàng ngày tạo nên một cuộc khủng hoảng ở mức độ khó có gì thay đổi nổi. Nguồn gốc khủng hoảng nằm ở những người cầm quyền tại châu Phi do họ không có khả năng điều khiển đất nước.

    Mặc dù thế, sau khi giành được độc lập triển vọng phát triển của lục địa đen không có vẻ tồi lắm. Hạ tầng cơ sở do người phương Tây để lại vẫn trong tình trạng tốt. Tuy nhiên xã hội châu Phi không nhận được văn hóa chính trị thích hợp để có thể điều khiển được sự tồn tại của các bộ tộc, sự khác biệt giữa các vùng miền hay giữa các tôn giáo. Sau những hào hứng đầu tiên những khó khăn và lý tưởng chính trị giảm một cách bi thảm. Đường lối đặc trưng của hầu hết các nước châu Phi là sự tách biệt với xã hội và tạo hệ thống tham nhũng.

    TUY NHIÊN CÒN CÓ NHỮNG LÍ DO ĐƠN GIẢN KHÁC MÀ TƯỞNG AI CŨNG BIẾT!

    Thất nghiệp – cái nghèo nơi thành thị

    Tại các thành phố tỉ lệ thất nghiệp vẫn tăng. Các nhà máy, xí nghiệp không có khả năng tạo ra công ăn việc làm ổn định. Điều này trong tương lai hẳn sẽ còn là một vấn đề lớn bởi số người ở độ tuổi lao động đến 25 tuổi tăng gấp đôi. Vùng nam châu Phi đến khu vực Sahara tỉ lậ lao động này tăng 2,6% mỗi năm. Vấn đề hệ trọng hơn việc thất nghiệp là thiếu việc làm. Thiếu việc làm ở đây nghĩa là có đi làm nhưng việc làm nay đây mai đó, làm việc với năng xuất thấp và với đồng lương bèo bọt. Tỉ lệ thiếu việc làm này chiếm nhiều hơn tỉ lệ thất nghiệp.

    Vấn đề tiếp theo là việc những người trẻ tuổi không có cơ hội kiếm việc làm. Ở một số nước 80% dân số tạo nên tỉ lệ thất nghiệp. Theo phỏng đoán, chỉ tầm 5-10% số người tìm việc có cơ hội kiếm cho mình một công việc ổn định trong khi đó 55% dân châu Phi ở độ tuổi đến 18.

    Một lí do chính nữa đó là dịch HIV, đặc biệt ở các nước nam châu Phi. Vì lí do này mà tỉ lệ nam lao động ở nam Phi giảm từ 79,1% xuống 63,3%. Nếu tình hình vẫn cứ tiếp diễn như trên thì tương lai cho việc giảm nghèo là rất u ám.

    Hạn hán – cái nghèo miền nông thôn

    Ngành công nghiệp ở các nước châu Phi chỉ chiếm vị trí thứ hai. Gần 80% dân số lệ thuộc vào nông nghiệp. Tuy nhiên số hoa màu trồng được không đủ nuôi sống số dân đang tăng nhanh. Thức ăn cho người còn không có huống hồ là thức ăn cho súc vật. Các sa mạc đã chiếm tới 40% diễn tích đất canh tác.

    Trong hai thập kỉ cuối châu Phi phải gánh chịu nhiều nạn hán lớn bất thường so với những mùa khô ở các thập kỉ trước và so với 100 trở lại đây thì hậu quả gánh phải có lẽ là tồi tệ nhất. Những nước chịu hậu quả nhiều nhất là Etiopie, Sudan, Chad và nhất là Somalia, nơi mỗi ngày có hơn 700 người chết (đặc biệt là trẻ em) với số nạn nhân của dịch đói vẫn không chịu giảm.

    Hạn hán đang đe dọa mạng sống của hơn 30 triệu dân châu Phi ở Angola, Botswana, Lesotho, Malawi, Mosambique, Nambia, Swaziland, Tanzanie, Zambie và Zimbabwe. Mạng sống của 130 triệu người khác đang nằm trong mức độ đặc biệt nguy hiểm. Hạn hán đang phá hủy nền kinh tế của các nước này.

    Châu Phi là châu lục nghèo nhất với số nước kém phát triển nhiều nhất thế giới, nơi đói nghèo hoành hành và cũng từ đó là nạn suy dinh dưỡng với bệnh tật. Hậu quả của đại hán hán năm 1973-1974 ở những vùng quanh Sahara khiến 6 triệu người lâm vào cảnh đói ăn. Gió thổi mạnh làm đất mất màu, những chuồng gia súc chết hết và những người dân đói khát phải được gửi vào các trại cứu hộ để nhận sự giúp đỡ cần thiết nhất. Năng suất sản phẩm kém đến mức hậu quả của việc kinh tế giảm vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ. Đối với những người nông dân nghèo ở vùng khô hạn thì sự thay đổi thời tiết cộng với lượng mưa hàng năm có ảnh vô cùng lớn đến sự sống còn.

    Một tác nhân quan trọng gây ra sự thoái hóa môi trường tự nhiên và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên chính là do người dân, cái đói cộng với sự nghèo nàn. Nông nghiệp châu Phi thường xuyên phải gánh chịu hậu quả thiên tai không thể nuôi nổi những người dân đói vẫn đang ngày một tăng. Tỉ lệ dân số tăng rất nhanh (hơn 3% một năm). Châu Phi không thể đáp ứng được những yêu cầu của lượng dân đang tăng và hậu quả là những nguồn tài nguyên thiên nhiên đang kiệt quệ, sự thoái hóa đât và môi trường thiên nhiên bị phá hỏng khiến vòng quay của nạn hạn hán không thể thay đổi mà chỉ thêm tệ đi.

    Cuộc chạm trán giữa các tôn giáo

    Những tín đồ cơ đốc mền nam Phi chết vì đói do lính hồi giáo chiếm tất cả những gì người nghèo gieo trồng được trên mảnh ruộng của mình. Nơi đây nạn đói hoành hành và nhiều thành phố đang lụi tàn. Bệnh viện nằm trong tình trạng tiêu điều. Cả đất nước thì khủng hoảng (nhất là nam Sudan). Hầu như đa số dân chúng không thiết trồng trọt gì trên đồng nữa vì theo họ làm thế là vô ích. Đằng nào thì lính tráng cũng sẽ cướp hết. Mặc dù nơi đây có sự trợ giúp nhân đạo song rất nhiều người nghèo đã chết trên đường đến những tổ chức nhân đạo vì trên đường đi họ uống phải nguồn nước nhiễm độc. Đối với người dân nam Sudan thì thức ăn, đồ uống và thuốc là những thứ xa xỉ.

    Theo nhà kinh tế học người Mỹ Jeffrey Sachs thì những nước giàu có làm rất ít để giúp đỡ những nước nghèo như châu Phi. Có nhiều giải pháp được đặt ra nhằm giúp đỡ châu Phi như xóa nợ cho châu Phi, tăng cường giúp đỡ về mọi mặt, kết thúc thương mại chính trị.

    Cụ thể là: bổ sung thực phẩm chưa nhiều chất khoáng và vitamin cần thiết nhằm giảm số lượng người chết đói hay suy dinh dưỡng, sử dụng phân bón và hệ thống làm ẩm để cải tạo đất, phân phối lưới, màn chống muỗi sốt rét và thuốc chống các triệu chứng AIDS, hủy bỏ lệ phí y tế cho những dịch vụ cơ bản, tăng cường giáo dục phổ cập, xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc,…

    Kết thúc cảnh nghèo sẽ sớm đạt được nếu Mỹ và các nước phát triển chịu rút thêm tiền từ hầu bao và tăng cường sự giúp đỡ của mình lên gấp đôi.

    Tuy nhiên sự việc không hề đơn giản như trên lý thuyết. Trong thời buổi kinh tế hoảng lọan như hiện nay thì chẳng mấy ai muốn rút tiền ra giúp những nước nghèo mà không biết kết quả có đạt được gì không. Lí do đơn giản ở đây là nạn tham nhũng đang hoành hành khắp châu Phi. Nhiều sự giúp đỡ từ nước ngoài rơi vào túi các viên chức chính phủ hay túi người thân, gia đình của họ. Hay nhiều khi những công trình như trường học, đường xá, bệnh viện được xây lên lại bị phá hỏng và tất cả lại bắt đầu từ số không.

    Xem ra tìm ra một giải pháp cứu giúp châu Phi thoát ra khỏi tình trạng hiện này vẫn sẽ còn là một bài toán khó giải.(opera.com)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Cho Câu Hỏi Vì Sao Adn Có Tính Đa Dạng Và Đặc Thù
  • Đóng Vai An Dương Vương Kể Lại Truyện An Dương Vương Và Mị Châu
  • Truyện Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Bị Chảy Máu Cam
  • Phân Tích Nhân Vật Mị Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • Trao Giải Cuộc Thi “Tìm Hiểu Về Thân Thế, Sự Nghiệp Đại Thi Hào Nguyễn Du Và Tác Phẩm Truyện Kiều”.
  • Đất Nước Mặt Trời Mọc
  • Có Gì Độc Đáo Và Hấp Dẫn Đến Vậy?
  • Tìm Hiểu Truyện – Tác Phẩm An Dương Vương Và Mị Châu
  • George Washington – Tổng Thống Hoa Kỳ Đầu Tiên
  • Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải chịu trách nhiệm lớn trước bi kịch “nước mất nhà tan”.

    Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, người lên án, kẻ bênh vực. Những người bênh vực thì đã lấy đạo “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), một quan điểm đạo đức thời phong kiến để bênh vực cho nàng. Theo họ, Mị Châu là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, lấy chồng thì một lòng tin yêu chồng. Sao có thể trách nàng mất cảnh giác với cả chồng mình được? Vì vậy việc Mị Châu không giấu giếm Trọng Thuỷ điều gì là vô tội. Nhưng họ đã quên rằng, trong một đất nước nhiều giặc giã, một nàng công chúa lại chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà vô tình với vận mệnh quốc gia là có tội. Mị Châu tin yêu chồng không có gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một người dân đối với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dù đó chỉ là do sự nhẹ dạ, vô tình. Nếu sự mất cảnh giác của An Dương Vương  là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hoạ nước mất. Mị Châu tin yêu chồng bằng một tình yêu ngây dại. Nhân dân ta đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự ngây dại đáng trách của Mị Châu. Trọng Thuỷ đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Ta phải về Bắc thăm hỏi cha mẹ, sau này hai nước nếu có thất hoà, nam bắc cách biệt, ta trở lại tìm nàng, làm thế nào có thể gặp được?” Mị Châu đáp: “Thiếp là thân nữ nhi, gặp cảnh chia li thì đau đớn lắm”. Trọng Thủy nói: “Nàng vẫn mang chiếc áo lông ngỗng bên mình, đi tới đâu rắc lông ngỗng ra đánh dấu đường, ta nhìn thấy sẽ đến cứu”. Trọng Thuỷ vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, lẫy nỏ không còn, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải biết đó là âm mưu của Trọng Thuỷ, thế mà Mị Châu vẫn không suy xét sự tình, vẫn rắc lông ngỗng làm dấu, có khác gì chỉ đường cho giặc đuổi theo mình. Việc làm đó của nàng đã trực tiếp dẫn tới bi kịch nhà tan. Vì vậy, không thể cho rằng làm một người vợ thì Mị Châu phải tuyệt đối nghe và làm theo lời chồng. Không thể cho rằng nàng là người vô tội, không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì trước bi kịch nước mất nhà tan. Tội lỗi của nàng là hết sức nặng nề. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

    Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình, vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra không phải là chủ ý của nàng mà do nàng quá nhẹ dạ, yêu chồng bị lừa dối mà mắc tội. Hơn nữa, cuối cùng, nàng cũng đã tỉnh ngộ nhận ra kẻ thù và chấp nhận một cái chết đau đớn. Mị Châu có tội nàng đã phải đền nhưng nỗi oan của nàng cũng cần được giải. Sáng tạo nên chi tiết thần kì, ứng nghiệm với lời cầu khấn trước khi chết của Mị Châu, nhân dân ta đã bày tỏ thái độ bao dung, niềm cảm thông mà minh oan cho nàng. Đồng thời, thông qua chi tiết thần kì đó, ông cha ta cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của mình và truyền lại một bài học lịch sử muôn đời cho con cháu trong việc giải quyết mối quan hệ riêng – chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Kinh Doanh Là Gì? Chuyên Ngành Quản Trị Kinh Doanh Nên Chọn
  • Bài 4: Thực Hành: Tìm Hiểu Những Cơ Hội Và Thách Thức Tòan Cầu Hóa Đối Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Giáo Án Ngoài Giờ Lên Lớp 11
  • Momo Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Momo
  • Danh Mục Các Mã Ngành Nghề Kinh Doanh Thông Thường Năm 2021
  • Tại Sao Bệnh Tiểu Đường Lại Gây Liệt Dương?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đái Tháo Đường Ảnh Hưởng Đến Sự Lành Vết Thương Như Thế Nào?
  • Cách Điều Trị Vết Thương Tiểu Đường
  • Lý Giải Tại Sao Bệnh Tiểu Đường Vết Thương Lâu Lành?
  • Tại Sao Em Ra Đi
  • Lời Bài Hát Sao Em Nỡ Ra Đi
  • 5

    1111111111

    Rating 5.00 (1 Vote)

    Biến chứng liệt dương trong bệnh tiểu đường do mạch máu bị tổn thường khiến máu chảy về thể hang không đủ.

    Sự bất lực xuất hiện khi bệnh nhân tiểu đường có tai biến về mạch máu, khiến lượng máu chảy về dương vật không đủ để gây cương. Một số biện pháp điều trị có thể cải thiện phần nào sự cố này.

    Các thống kê trên thế giới cho thấy, ở tuổi 70, cứ 10 người thì có một người mắc bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin (ta thường gọi là bệnh đái tháo đường type 2). Bệnh thường bị chẩn đoán muộn, trung bình là khoảng 7 năm kể từ khi mắc. Khi chẩn đoán được bệnh, các biến chứng thường đã xảy ra và có đến 50% trường hợp bị tổn thương mạch máu lớn. Đây là nguyên nhân chính gây liệt dương.

    Biến chứng liệt dương thường gặp ở nam giới bị tiểu đường

    Biến chứng liệt dương thường gặp ở nam giới bị tiểu đường

    Bệnh lý thần kinh cũng là một biến chứng thường gặp của đái tháo đường. Tỷ lệ bệnh lý thần kinh lâm sàng ước tính vào khoảng 50% sau 25 năm diễn biến. Những tổn thương này có thể là nguyên nhân gây mù lòa, bệnh lý tim mạch, giảm ham muốn tình dục ở phụ nữ và liệt dương ở nam giới.

    Những triệu chứng lâm sàng gợi ý đái tháo đường gồm: Hội chứng uống nhiều – tiểu nhiều, nhiễm trùng tái diễn ngoài da hoặc ở bộ phận sinh dục, những biến chứng bệnh lý vi mạch, bệnh xơ vữa mạch máu giai đoạn sớm hoặc đã nặng; giảm thị lực, suy giảm chức năng tình dục, giảm ham muốn tình dục, xuất tinh sớm, sức cương của dương vật không còn như trước, bất lực và dẫn đến tình trạng liệt dương tuyệt đối.

    Có vài phương pháp để điều trị biến chứng của đái tháo đường gây liệt dương: Uống thuốc và dùng thuốc tại chỗ, tiêm thuốc vào dương vật, giải phẫu mạch máu, dùng dụng cụ bơm chân không.

    Trong điều trị bệnh đái tháo đường, quan trọng nhất là phải thường xuyên theo dõi và kiểm soát lượng đường trong máu, ngăn chặn hay làm chậm lại các biến chứng thần kinh, thận và mạch máu.

    Sức Khỏe & Đời Sống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Âm Đạo Bị Khô Hạn Sau Khi Sinh Và Cách Khắc Phục Từ Chuyên Gia!
  • Khô Vùng Kín Sau Sinh: Nỗi Khổ Của Mẹ Bỉm Sữa Và Cách Điều Trị Hiệu Quả Nhất
  • Vì Sao Phụ Nữ Lại Bị Khô Khi Quan Hệ
  • Vì Sao Đông Ấm, Vì Sao Hạ Mát Full 49/49 Vietsub + Thuyết Minh
  • Taisaozayha Blogspot : Tại Sao Zậy Hả
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100