Top 3 # Xem Nhiều Nhất Tại Sao Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Dựng Nước Phải Luôn Đi Đôi Với Giữ Nước, Có Dựng Được Nước Mạnh Thì Mới Giữ Được Nước Bền

Lời dạy của Bác chính là sự tổng kết quy luật tất yếu của lịch sử. Chính bởi thế nó như một lời hiệu triệu, thúc giục cháu con từ khắp mọi miền tổ quốc quyết tâm giữ gìn non sông đất nước của cha ông để lại. Đến nay và mãi mãi mai sau lời dạy của Bác vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Lời nói ấy luôn làm sôi động trong lòng mỗi người chúng ta khi phải vượt qua khó khăn trong đấu tranh cách mạng, bởi nó chứa chất bên trong một chân lý đơn giản nhưng vĩnh cửu: Dựng nước phải luôn đi đôi với giữ nước, có dựng được nước mạnh thì mới giữ được nước bền.

Chúng ta biết rằng sau năm 1954, do điều kiện lúc đó còn nhiều khó khăn về phương tiện thông tin, nên việc ghi chép, quay phim, chụp ảnh còn hạn chế. Trong tình hình lúc đó lại phải đảm bảo bí mật an toàn cho Bác nên việc Bác về Đền Hùng các cán bộ địa phương đều không được biết và tham dự. Các cán bộ của Đại đoàn 308 khi được chỉ thị về Đền Hùng cũng không biết để gặp ai và làm gì ? sau đó mỗi người lại đi ngay để thực hiện nhiệm vụ của mình. Cả nước phải tập chung cho việc kháng chiến và kiến quốc.

Bài viết sớm nhất mang tính tường thuật lại sự việc này được đăng trong tờ báo “Lập công” của Đại đoàn, số ra ngày 25 tháng 9 năm 1954, đã viết:

LỜI HỒ CHỦ TỊCH

Kết quả cuộc hội hội thảo khoa học năm 1984, đã phân tích ý nghĩa và giá trị câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định những thành tựu của khoa học lịch sử về việc nghiên cứu chứng minh thời đại Hùng Vương dựng nước là có thật, với nền văn minh sông hồng mà trung tâm là vùng đất Phú Thọ. Các vua Hùng là người có công lập ra nhà nước đầu tiên trong lịch sử – nhà nước Văn Lang.

Tiếp tục công việc nghiên cứu để đưa ra những thông tin chính xác nhất về sự kiện Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1954, các cơ quan chuyên môn, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều tâm huyết tìm tòi, gặp gỡ nhân chứng và sưu tầm các tài liệu. Để chuẩn bị cho cuộc hội thảo khoa học lần hai thành công, hai cuộc tọa đàm khoa học đã diễn ra:

– Lần 1: vào ngày 02/4/1992, Cuộc tọa đàm này đã làm sáng tỏ những vấn đề: Về đường đi của bộ đội; Về thời gian Bác đến và ở Đền Hùng. Đã sưu tầm thêm được một số hình ảnh về Bác ngồi nói chuyện dưới gốc cây Vạn Tuế trước cửa chùa Thiên Quang với đ/c Thanh Quảng và đ/c Song Hào.

– Lần 2: vào ngày 02/5/1992, Tọa đàm gặp mặt với các nhân chứng tại Đền Hùng, gồm 04 đồng chí: Đại tá Ngô Thế Lương, nguyên là cán bộ tiểu đoàn đi từ Đại Từ về; Đại tá Tống Xuân Đài, nguyên là người tổ chức bảo vệ cho Bác về Đền Hùng, qua phà Bình Ca, phà Đoan Hùng và phân định chỗ cho bộ đội ngồi nghe Bác nói chuyện; Đ/c Khánh Tiếp (phóng viên báo quân đội nhân dân) được chỉ thị đến nghe Bác nói chuyện để viết bài; và Đại tá Nguyễn Văn Cẩn, ở đơn vị trao trả tù binh.

Một là, khẳng định hành trình của Bác là đi từ Đại Từ – Thái Nguyên về Đền Hùng và từ Đền Hùng trở về Thái Nguyên trong 2 ngày (18/9 đến 19/9/1954).

Hai là, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm viếng Đền Hùng và nói chuyện với bộ đội là chủ ý và mục đích của Bác, điều đó đã có sự chuẩn bị kỹ càng từ trước. có sự bố trí và phối hợp chặt chẽ giữa Văn phòng Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân, Bộ tư lệnh Đại đoàn quân Tiên Phong – Sư đoàn 308 và các cơ quan Phủ Chủ tịch.

Ba là, lần đầu tiên xác định những đền, chùa Bác đã thăm viếng ở Đền Hùng và nhà Oản ở Đền Giếng là nơi Bác ngủ lại đêm ngày 18/9/1954.

Bốn là, khi đi thăm các đền, Bác đã ngồi nghỉ dưới gốc cây Vạn tuế trước cửa Chùa Thiên Quang để nghe đ/c Song Hào báo cáo cụ thể về tình hình đưa bộ đội vào tiếp quản Thủ đô. Cùng dự có đ/c Thanh Quảng – Phó Văn phòng quân ủy Trung ương.

Năm là, xác định chính xác vị trí nơi Bác ngồi nói chuyện với Đoàn quân Tiên phong là ở đền Giếng. Và nhất quán chính thức từ đây sẽ trích dẫn câu nói của Bác theo tinh thần bài viết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đăng trên báo nhân dân ngày 29/4/1969 là : “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Vì câu nói này đã phản ánh đúng tư tưởng, nội dung về dựng nước và giữ nước của Bác, đồng thời khi câu nói này được công bố trên báo Nhân dân đúng vào dịp giỗ Tổ Hùng Vương năm 1969, lúc đó Bác còn sống và Người đã không có ý kiến gì.

Trải qua gần 40 năm, sau hai cuộc Hội thảo và hai cuộc tọa đàm khoa học với biết bao công sức và tâm huyết của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý. Giờ đây, chúng ta có thể hình dung một cách đầy đủ về sự kiện lịch sử Bác Hồ về thăm viếng Đền Hùng năm 1954 với lời căn dặn bất hủ của Người mùa thu năm ấy:

Ngày 18 – 9 – 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ô tô Zep mang biển số KT.032 (KT là ký hiệu của Ban kiểm tra 12, Bí danh của Văn phòng Phủ Thủ tướng lúc đó) cùng đi với Bác có Đ/c Nguyễn Văn Nền (Lái xe của Văn phòng Thủ tướng), đ/c Đinh Văn Cẩn người phục vụ, đ/c Dũng bảo vệ và nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định cùng một số đ/c khác.

Xe đi từ Điện Biên Phủ đến Đại Từ – Thái Nguyên – Đoan Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thăm đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam mới ở Lào về đóng ở đồi Chân Mộng (huyện Phù Ninh), sau đó tới thăm Thị xã Phú Thọ. Trên đường đi Người đã dừng xe nói chuyện với 2 thương binh rồi vào thăm Tỉnh uỷ Phú Thọ lúc đó mới chuyển căn cứ về đóng ở Thanh Hà (Thị xã Phú Thọ). Đón Chủ Tịch Hồ Chí Minh thăm Tỉnh uỷ Phú Thọ có các đồng chí: Phạm Dụ (lúc này là Chánh văn phòng Tỉnh uỷ), Đ/c Trần Lưu Vị (Bí thư Ban cán sự, kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính thị xã Phú Thọ) và một số đ/c khác. Đồng chí Trần Lưu Vị kể lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc một bộ quần áo bà ba màu gụ, đầu đội chiếc mũ cát rộng vành, chòm râu che trong một chiếc khăn bông buông từ trên đầu xuống 2 bên má. Người hỏi về tình hình chung của tỉnh Phú Thọ và việc Hoàng thân Xu-Va-Nu-Vông (Lào) vừa đi qua, dặn phải giúp đỡ Hoàng thân, giúp đỡ đồng bào hồi cư nhanh chóng ổn định đời sống.

Chiều tối ngày 18/9/1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Đền Hùng, Người nghỉ đêm tại nhà Oản thuộc đền Giếng.

Sáng sớm ngày 19/9/1954, Bác đi thăm các đền trên núi Hùng, khi đến chùa Thiên Quang, Bác dừng lại ngồi cạnh gốc cây Vạn tuế trước cửa chùa để nghe đồng chí Song Hào – Chính uỷ Đại đoàn quân tiên phong báo cáo với Bác về tình hình của Đại đoàn, kế hoạch đưa bộ đội về tiếp quản Thủ đô. Sau đó Người lên Đền Thượng, xem quả chuông treo ở cây đại phía bên trái đền và chụp nhiều ảnh kỷ niệm ở trước cửa đền Thượng.

Sau khi thăm xong các đền, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đi xuống đền Giếng chờ bộ đội. Khoảng 9h có cán bộ của 3 Trung đoàn bộ binh, gồm: Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô); Trung đoàn 36 và Trung đoàn 88 (Tu Vũ) và một số tiểu đoàn trực thuộc Đại đoàn Quân tiên Phong – Sư đoàn 308 đi từ các hướng đổ về đền Hùng gồm: từ núi Thằn lằn (Vĩnh Phúc) lên; từ Gia Thanh( Phù Ninh) xuống; từ Trại Cờ Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang; từ Đại Từ (Thái Nguyên) về; từ Phùng (ngoại vi Tây Bắc – Hà Nội) lên.

Cùng đi còn có các cán bộ văn công Đại đoàn và các tiểu đoàn trực thuộc Đại đoàn cũng có mặt. Tất cả khoảng gần 100 người đều là những cán bộ chủ chốt, chỉ huy từ cấp đại đội đến cán bộ đại đoàn của Đại đoàn quân Tiên Phong.

Lý do mà Đại đoàn quân Tiên Phong vinh dự được gặp Bác Hồ và được giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô lúc đó là:

Thứ nhất: đó là Đại đoàn chủ lực được được thành lập đầu tiên, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ đi tiên phong trên con đường vận động chiến đấu, từng mang danh hiệu “Quân Tiên Phong”

Thứ hai: trong đội hình của Đại đoàn, có Trung đoàn Thủ đô – con đẻ cuộc chiến đấu “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của Hà Nội, mùa Đông 1946 lúc ra đi, ước hẹn một ngày về.

Thứ ba: Tư lệnh Đại đoàn Vương Thừa Vũ, nguyên là Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội năm 1946, nay trở về trên cương vị Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố với quân hàm Thiếu Tướng

Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Bác Hồ và Đại đoàn Quân Tiên Phong diễn ra lúc 10h sáng ngày 19/9/1954 trong thời gian khoảng 45 phút đến 1h. Trong buổi nói chuyện, Bác ngồi trên bờ cửa, đồng chí Thanh Quảng, đồng chí Song Hào ngồi trên bậc lát gạch, các đồng chí cán bộ khác ngồi dưới sân đền.

Bài nói chuyện với các chiến sỹ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị những nội dung chính từ trước, nhưng khi nói chuyện với bộ đội, Người nói thân tình chứ không cần giấy ra đọc. Nội dung cuộc nói chuyện của Bác chủ yếu là nhắc nhở bộ đội về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Phải thường xuyên học tập, rèn luyện đạo đức, giữ nghiêm kỷ luật, thực hiện tốt chính sách dân vận, giữ vững lập trường giai cấp; việc tiếp quản Thủ đô phải thận trọng, chu đáo, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản của nhân dân, cảnh giác với kẻ thù…

Trong thời điểm năm 1954 ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc dân tộc là : Dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành, qui luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc, các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam.

Từ sự khẳng định của Người mà suốt các thập kỷ sau đó cho đến hôm nay, đã có biết bao những công trình nghiên cứu về thời đại Hùng Vương. Bằng những chứng cứ xác thực nhất của lịch sử, đó là những giá trị văn hoá vật thể mà 2 nghìn năm trước Công nguyên, người Việt cổ đã để lại những dấu tích của mình ở khắp mọi nơi trong lòng đất nước ta. Nhờ đó mà các bộ môn chuyên ngành lịch sử Việt Nam đã chứng minh thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật và là buổi bình minh của lịch sử nước nhà.

Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”, Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quí mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời nay luôn hiện hữu trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật của người Việt.

Trở về Đền Hùng, chọn Đền Hùng – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho mỗi người đất Việt về ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn về một dân tộc đã có bề dày lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước; nhắc nhớ các thế hệ con cháu người Việt Nam nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước là con đường tất yếu để đất nước trường tồn và phát triển. “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời Người nói thật giản dị mà thân thương gần gũi, biểu lộ ý chí đoàn kết thống nhất và nguyện vọng bảo vệ Tổ quốc để xây dựng đất nước. Miền Bắc sau năm 1954, vừa thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH, vừa trở thành hậu phương lớn để chi viện cho miền Nam ruột thịt tiếp tục hoàn thành công cuộc chống Mỹ giành độc lập, thống nhất đất nước.

Ngày nay quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước thể hiện trong hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng đường lối đổi mới, nhân dân ta đang ra sức xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó chính là thực hiện tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phạm Quỳnh – Hoàng Oanh

Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước, Bảo Vệ Toàn Vẹn Lãnh Thổ Cha Ông Ta Để Lại (*)

Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cha ông ta để lại (*)

– Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các vị đại biểu khách quý, – Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí!

Hôm nay, tôi rất vui mừng về dự Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng và để lại lời căn dặn bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi thân ái gửi đến các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động; các vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí lời chức sức khỏe, hạnh phúc!

– Thưa các vị đại biểu khách quý, – Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí,

Từ bao đời này, trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, các Vua Hùng là Quốc Tổ của dân tộc Việt Nam, người đầu tiên có công dựng nên đất nước Việt Nam. Công lao khai sơn, phá thạch dựng nước của các Vua Hùng muôn đời được các thế hệ người Việt Nam ghi nhớ. Người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài đều tự hào mang trong mình dòng máu “con Lạc – cháu Hồng”. Đền Hùng và tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng là bản sắc văn hóa, đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa sâu xa, nhắc nhở, kết nối, củng cố tình đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của cộng đồng dân tộc Việt Nam, những người cùng chung một cội nguồn.

Tại đất thiêng Đền Hùng, đúng ngày này 60 năm trước, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dặn dò cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn Quân Tiên Phong trước khi về tiếp quản Thủ đô: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Lời căn dặn của Bác tôn vinh công lao dựng nước của các Vua Hùng, của các bậc tiền nhân, đồng thời nhắc nhở ý thức trách nhiệm giữ nước của cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn Quân Tiên Phong nói riêng và của chúng ta, của mỗi người dân Việt Nam nói chung. Thực hiện lời Bác, trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang suốt mấy chục năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giành thắng lợi to lớn: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế và tiến hành công cuộc đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trên chặng đường 60 năm thực hiện lời căn dặn của Bác và 45 năm thực hiện Di chúc của Người, cùng với đồng bào và chiến sỹ cả nước, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ luôn đoàn kết một lòng anh dũng, cần cù, vượt qua mọi khó khăn thử thách, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Trong các cuộc kháng chiến cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, Phú Thọ đã huy động cao nhất sức người, sức của góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc; hàng vạn con em Phú Thọ đã hăng hái nhập ngũ, anh dũng chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các chiến trường. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, lao động sáng tạo, tạo nên những chuyển biến rất quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị để từ một tỉnh nghèo, đến nay, đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Ghi nhận những thành tích đã đạt được, Đảng và Nhà nước trao tặng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Thọ danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và nhiều phần thưởng cao quý.

– Thưa các vị đại biểu khách quý, – Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí,

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, dân tộc ta đã bao lần đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với biết bao hy sinh xương máu. Cũng chính vì thế mà dân tộc ta thiết tha yêu chuộng hòa bình, mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng đất nước, mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch luôn âm mưu đe dọa xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống phá sự phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và mỗi người dân Việt Nam cần phải ghi nhớ, khắc sâu, thấm nhuần và thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Nỗ lực phát triển đất nước, đồng thời kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc để đất nước Việt Nam luôn tươi đẹp, dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, văn hiến của chúng ta mãi mãi trường tồn, vẻ vang sánh vai cùng bạn bè năm châu.

Một lần nữa, tôi xin chúc các vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn.

Tại Sao Nước Biển Lại Mặn?

Tất cả nước trên hành tinh của chúng ta, kể cả nước mưa, đều chứa những hợp chất hóa học mà các nhà khoa học gọi là “muối”. Dù vậy, không phải loại nước nào cũng có vị mặn. Tất cả chúng ta đều biết rằng nước biển thì luôn có vị mặn trong khi nước mưa, nước ở ao hồ, sông suối thì không. Vậy có bao giờ bạn tự hỏi tại sao lại có sự khác nhau như vậy?

Nước biển mặn đến mức nào?

Hãy dùng một thí nghiệm nho nhỏ để xem nước biển mặn đến mức độ nào. Hãy lấy một cốc nước lọc bình thường, dĩ nhiên là bạn có thể uống cốc nước một cách ngon lành. Giờ hãy cho thêm vào đó một ít muối, bạn bắt đầu cảm thấy vị mặn những có thể vẫn uống được một ít do độ mặn chưa đạt đến ngưỡng chịu đựng của bạn. Giờ hãy tiếp tục cho thêm thật nhiều muối vào và chắc chắn ly nước bây giờ đã không thể nào uống được nữa.

Vị giác của bạn sẽ kịch liệt phản đối với bạn rằng ly nước này quá mặn để uống. Nước biển cũng tương tự như vậy, con người không thể nào uống được. Nước biển hoàn toàn đối lập với nước lọc mà chúng ta vẫn dùng hàng ngày. Nó có chứa rất nhiều loại hợp chất hòa tan bên trong và cơ thể con người không thể nào chấp nhận được.

Vậy nước biển mặn đến mức nào? Một vài nhà hóa học đã ước tính rằng các đại dương trên Trái Đất có chứa hơn 50 triệu tỷ tấn chất hòa tan. Nếu muối trong nước biển có thể được tách ra và mang lên mặt đất, nó sẽ tạo ra một lớp dày tới 152 mét trải đều khắp các lục địa. Chiều cao này tương đương với một tòa nhà 40 tầng hiện nay.

Hãy thử so sánh lượng muối của nước biển so với lượng muối chứa trong nước tại ao hồ. Trong 28 lít nước biển có chứa khoảng 1kg muối. Trong khi đó, nước tại một hồ nước thông thường chỉ chứa khoảng 4,54 gram muối các loại. Do đó, về mặt tính toán thì chúng ta có thể suy ra rằng, nước biển mặn hơn nước ngọt trong hồ khoảng 220 lần.

Nguồn gốc của đại dương

Đại dương (hay biển) trên hành tinh của chúng ta bao gồm: Bắc và Nam Thái Bình Dương, Bắc và Nam Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương và vùng biển Nam Cực. Dựa vào các hóa thạch sinh vật cổ đại được tìm thấy dưới đáy biển, các nhà khoa học đã dự đoán rằng đại dương có tuổi vào khoảng hơn 500 triệu năm. Cho đến nay vẫn có nhiều giả thuyết lý giải cho nguồn gốc của đại dương. Dù vậy, vẫn chưa có giả thuyết nào có thể lý giải toàn bộ các khía cạnh của vấn đề.

Nhiều nghiên cứu về Trái Đất đồng ý với giả thuyết rằng, cả khí quyển và đại dương đều được tích lũy dần dần từ thời điểm kiến tạo địa chất thông qua quá trình “loại khí” của Trái Đất. Theo lý thuyết này, các đại dương được bắt nguồn từ hơi nước và các loại khí khác thoát ra từ mắcma nóng chảy của Trái Đất. Sau đó bay lên cao và được làm lạnh thành mây bao phủ bên trên.

Sau khi bề mặt Trái Đất nguội đi dưới điểm sôi của nước, mưa bắt đầu rơi và rơi liên tục trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Sau khi toàn bộ lượng nước rơi xuống, nó bao phủ hầu như toàn bộ bề mặt Trái Đất và đại dương nguyên sinh đầu tiên ra đời. Đồng thời, lúc bấy giờ nước cũng được trọng lực giữ lại nên không bị rơi ra khỏi Trái Đất.

Nguồn gốc của muối

Nước biển là một hỗn hợp phức tạp của các loại muối khoáng và hợp chất từ xác sinh vật biển bị phân hủy. Hầu hết muối khoáng trên đại dương được tích tụ dần dần. Đây là kết quả từ các quá trình làm nguội mắcma trên vỏ Trái Đất bởi phong hóa và xối mòn. Khi núi được hình thành, nước mưa, các dòng suối đã mang các loại khoáng chất từ trên đất liền đổ ra biển và tích tụ dần thành một lượng lớn như ngày nay.

Một số loại muối trong đại dương cũng có nguồn gốc từ trong đá và các trầm tích bên dưới đáy biển. Một nguồn muối khác của đại dương là từ các loại chất rắn và khí thoát ra khỏi vỏ Trái Đất bằng các miệng núi lửa. Núi lửa sẽ mang các loại hợp chất bên trong lòng Trái Đất thoát ra bên ngoài và tích tụ lại trong đại dương.

Nếu nước ngọt chảy ra biển, vậy tại sao nước biển vẫn mặn?

Lượng nước ngọt từ sông Amazon, Mississippi, Mê Kông,… ngày đêm đều tuôn đổ ra Thái Bình Dương, Đại Tây Dương,… và tất cả nước biển đều mặn. Tại sao nước trong đại dương không bị dòng nước ngọt làm loãng ra? Lý do vị mặn của đại dương là kết quả của nhiều quá trình tự nhiên, lượng muối bên trong đại dương chỉ là 1 trong những yếu tố tạo nên vị mặn này.

Vào lúc ban đầu, biển cổ đại chỉ có chứa một lượng nhỏ muối và chưa đạt được độ mặn như ngày nay. Nhưng sau khi những cơn mưa đầu tiên xối xuống Trái Đất trẻ vào hàng trăm triệu năm trước, dòng nước đã phá vỡ các lớp địa chất và vận chuyển những loại khoáng sản ra biển. Kể từ đó, đại dương bắt đầu dần dần mặn hơn. Người ta ước tính rằng những con sông và suối từ Mỹ chảy ra biển hàng năm đã mang theo 225 triệu tấn chất rắn hòa tan và 523 triệu tấn trầm tích để cung cấp cho đại dương.

Trong một tính toán mới đây đã cho thấy rằng khối lượng các chất rắn hòa tan từ đất chiếm khoảng 2,3 tấn trên 1 km vuông đất tại Úc cho tới 46,3 tấn trên 1km 2 đất tại châu Âu. Theo ước tính, tất cả các con sông trên thế giới đã mang theo 4 tỷ tấn muối khoáng hòa tan ra biển mỗi năm. Lượng muối này sẽ nằm lại dưới đáy đại dương và dần hình thành nên những lớp trầm tích mới. Nói cách khác, lượng muối đi vào và đi ra tất cả cá đại dương trên Trái Đất hiện tại luôn được cân bằng.

Như vậy, lượng muối đi vào đại dương dưới dạng hòa tan và đi ra đại dương dưới dạng trầm tích vẫn chưa giải thích được nguồn gốc vị mặn của nước biển. Chúng ta vẫn biết, muối luôn tập trung ở biển và không thể di chuyển theo hơi nước. Khi mặt trời truyền nhiệt xuống mặt biển, hơi nước gần như tinh khiết bốc lên cao nhưng lượng muối khoáng vẫn nằm lại biển. Quá trình này là 1 phần của vòng tuần hoàn liên tục diễn ra giữa Trái Đất mà khi quyển: Vòng tuần hoàn của nước.

Hơi nước bốc lên từ bề mặt đại dương và được những cơn gió mang tới nơi khác. Khi hơi nước gặp được khối không khí lạnh hơn ở trên cao, nó ngưng tụ lại (chuyển từ thể khí sang thể lỏng) và rơi xuống mặt đất tạo thành mưa. Mưa trên đất liền được quy lại bởi các dòng sông, suối và cuối cùng lại chảy ra biển. Và chu trình cứ thế lại diễn ra liên tục. Chính vì lý do đó, nước tại các con sông trên đất liền không có vị mặn, nhưng khi chảy ra biển lại tiếp tục hòa tan lượng muối vẫn còn dưới biển và tiếp tục có vị mặn. Trên thực tế, kể từ khi những cơn mưa đầu tiên rơi xuống, biển đã dần trở nên mặn hơn.

Nước biển không hề đơn giản

Các nhà khoa học đã nghiên cứu về nước biển trong nhiều thế kỷ nay. Dù vậy, cho đến nay họ vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết những thành phần hóa học của nó. Một phần nguyên nhân là do thiếu các phương pháp và quy trình đúng đắn để đo lường các thành phần trong nước biển. Nguyên nhân sâu xa cản trở quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học chính là kích thước quá lớn của Đại dương, chiếm tới 70% bề mặt Trái Đất, và hệ thống các hợp chất hóa học hết sức phức tạp vốn có trong môi trường biển, trong số đó lại có những nguyên tố liên tục biến đổi theo chu kỳ thời gian.

Cho đến hiện nay, chỉ mới có 72 nguyên tố hóa học được phát hiện ra trong nước biển. Đây là con số rất nhỏ so với số lượng hợp chất thực sự tồn tại trong đại dương. Một số nhà khoa học cho rằng tất cả các nguyên tố hóa học tự nhiên của Trái Đất đều tồn tại trong nước biển. Đồng thời, các nguyên tố này cũng kết hợp với nhau bằng nhiều cách khác nhau ở cả 2 dạng hòa tan, hoặc kết tủa thành những chất lắng đọng dưới đáy biển và hình thành nên trầm tích. Tuy nhiên, ngay cả khi đã được kết tủa, các hợp chất này vẫn có khả năng thay đổi thành phần hóa học do phải luôn chịu sự tác động của các quá trình diễn ra liên tục trong môi trường biển.

Độ mặn của nước biển có sự thay đổi

Các nhà đại dương học đã dùng đơn vị phần nghìn (o/oo) để đo lường về độ mặn (tính chung tất cả các loại muối) và nồng độ của một số thành phần đặc biệt trong nước biển như NaCl, Natri, Magie,… Theo đó, khi nói độ mặn 35 o/oo có nghĩa là 35 pound (15kg) muối trong 1000 pound nước biển. Tương tự, nồng độ NaCl 10 o/oo có nghĩa là có 10 pound NaCl trong 1000 pound nước biển.

Độ mặn của nước biển cũng có sự biến thiên. Nó phụ thuộc vào các yếu tố như mức độ băng tan, lượng nước chảy từ sông suối, mức độ bay hơi, lượng mưa, tuyết rơi, gió, chuyển động của sóng và chuyển động của các dòng hải lưu. Tất cả các yếu tố đó đều gây ra sự khác nhau về độ mặn của nước biển tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.

Nước biển mặn nhất…

Vùng biển có độ mặn nhất (40 o/oo) thuộc về biển Đỏ và khu vực vịnh Ba Tư. Đây là 2 khu vực có tốc độ bay hơi của nước biển cao nhất. So sánh giữa các đại dương lớn với nhau, Đại Tây Dương có mức độ mặn của nước biển lớn nhất với độ mặn trung bình vào khoảng 37,9 o/oo. Chỉ tính riêng Bắc Đại Tây Dương, biển Sargasso là khu vực có độ mặn lớn nhất với diện tích vào khoảng 5,18km 2. Độ mặn khá cao của nước biển tại khu vực này một phần là do nhiệt độ. Vùng biển này có nhiệt độ khá cao (vào khoảng 28 o C). Điều này tạo làm cho nước có tỷ lệ bay hơi cao. Thêm vào đó, khu vực biển này cách đất liền khá xa (cách đảo Canary khoảng 2000 km về phía tây) nên cũng không nhận được nguồn nước ngọt từ sông suối.

Nơi có độ mặn của nước biển thấp nhất thuộc về khu vực biển Bắc cực và Nam Cực. Nguyên nhân đây là khu vực có nhiệt độ thấp, hơn nữa, nước biển luôn được pha loãng bởi băng tan chảy và mưa liên tục. Những vịnh nhỏ ven biển cũng có độ mặn thấp hơn so với mức trung bình. Điển hình như biển Baltic (độ mặn từ 5 đến 15 o/oo), biển Đen (độ mặn dưới 20 o/oo)… Phần lớn những khu vực biển này đều được bổ sung nguồn nước ngọt mới khối lượng vài tỷ tấn mỗi ngày.

Tương tự, độ mặn của những vùng biển dọc theo miền duyên hải của các quốc gia cũng có độ mặn thay đổi tương ứng với thời gian trong năm và vị trí địa lý của nó. Điển hình như khu vực ven biển tại bang Miami, Hoa Kỳ. Độ mặn của nước biển thay đổi từ 34,8 o/oo vào tháng 10 và đạt mức 36,4 o/oo vào tháng 5, tháng 6. Trong khi đó, với những khoảng thời gian tương tự thì bờ biển Astoria, bang Oregon lại có độ mặn của nước biển là 0,3 o/oo vào tháng 4,5 và đạt mức 2,6 vào tháng 10.

Nguyên nhân cho sự khác nhau là do vùng ven biển Miami ít bị pha loãng bởi nước ngọt hơn so với khu vực biển Astoria. Còn vùng biển Astonia lại được pha loãng do nguồn nước ngọt từ sông Columbia cung cấp.

Nhìn chung, thành phần muối chứa trong nước biển từ các nguồn có sẵn từ trước và từ nhiều nguồn trên đất liền. Điều này làm cho độ mặn của nước biển thường vào khoảng từ 22 o/oo đến dưới 38 o/oo. Trên toàn thế giới, độ mặn trung bình của nước biển là khoảng 35 o/oo. Đây là độ mặn trung bình được nhà khoa học William Dittmar ước tính hồi năm 1884 từ việc phân tích 77 mẫu nước biển tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới trong cuộc thám hiểm khoa học do Anh thực hiện.

Cuộc thám hiểm khoa học được Chính phủ Anh thực hiện do sự đề xuất của hiệp hội khoa học hoàng gia nhằm nghiên cứu sinh vật biển, kiểm tra các tính chất hóa học và vật lý của biển, khảo sát các chất hóa học dưới đáy đại dương và theo dõi nhiệt độ của nước biển. Cuộc hành trình bắt đầu vào năm 1872 và kết thúc sau 4 năm lênh đênh trên biển với hải trình dài 68.890 hải lý. Cho đến hiện nay, đây là cuộc thám hiểm biển có thời gian trên biển dài nhất.

Sự khác nhau về thành phần nước sông và nước biển

Từ bảng phân tích trên cho thấy, thành phần của nước biển bao gồm nhiều loại hợp chất khác nhau. Natri và Clo (kết hợp thành NaCl, thường được thấy dưới dạng muối ăn) chiếm 85% thành phần chất hòa tan trong nước biển. Đây chính là nhân tố chủ yếu tạo nên vị mặn của nước biển. Qua so sánh với nước từ sông, ta nhận thấy rằng sông suối đã mang đến nước biển lượng Canxi nhiều hơn Clo. Dù vậy, các đại dương vẫn chứa lượng Clo gấp 46 lần so với Canxi.

Bên cạnh đó, nước sông có chứa một lượng Silicat và hợp chất sắt trong khi nước biển thì không. Hợp chất Canxi Bicacbonat chiếm gần 50% các chất rắn hòa tan chứa trong nước sông nhưng vẫn chứa ít hơn 2% so với nước biển.

Các sinh vật sống dưới biển có ảnh hưởng thế nào đến thành phần nước biển?

Từ việc so sánh sự khác nhau giữa nước sông và nước biển, chúng ta có thể phần nào lý giải được ảnh hưởng của các sinh vật biển đến thành phần của nước biển. Như ta đã biết, nước biển không chỉ đơn thuần là dung dịch muối mà còn chứa nhiều chất khác có nguồn gốc từ sinh vật biển. Các sinh vật biển đồng thời cũng sử dụng các chất trong nước biển trong hoạt động sống của mình. Các loại động vật thân mềm (hàu, trai, ốc,…) có khả năng trích xuất canxi từ nước biển để tạo nên vỏ và xương. Tương tự, nhiều loại sinh vật phù du và giáp xác cũng sử dụng canxi từ biển để tạo nên bộ xương cho mình.

Đồng thời, các loại sinh vật phù du cũng ảnh hưởng đến thành phần nước biển bởi các chất thải mà nó tạo thành. Ngoài ra, một số loài động vật có khả năng liên tục tiết ra các hợp chất do chúng tạo thành nhằm tránh bị kẻ thù phát hiện. Tôm hùm có khả năng kết hợp đồng và cobalt. Vài loại ốc có khả năng tiết ra chì. Bọt biển lại có khả năng chiết xuất nên vanadi đồng thời chúng cũng có tách iodine từ nước biển.

Do đó, các sinh vật sống dưới biển cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới thành phần của nước biển. Tuy nhiên, có một vài nguyên tố hóa học từ biển mà không một sinh vật nào có thể phân giải được. Điển hình như cho đến nay, con người chưa tìm thấy loài sinh vật nào có thể loại nguyên tố Natri ra khỏi nước biển.

Tỷ lệ các thành phần chính của nước biển gần như không đổi

Hầu như, tỷ lệ của các thành phần chính trong nước biển tại khắp nơi trên thế giới là không thay đổi. 77 mẫu nước biển của Dittmar cho thấy hầu như không có sự khác biệt rõ rệt về thành phần tương đối và tỷ trọng của chúng trong nước biển tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Nghiên cứu phân tích đã được Dittmar thực hiện trong 9 năm liên tục và ông đã đi đến kết luận rằng NaCl, Magie, Sulfat, Canxi và Kali chiếm tới 99% các hợp chất rắn hòa tan trong nước.

Nói cách khác, kết quả trên cho thấy: mặc dù độ mặn và tổng số muối chứa chứa bên trong nước biển có sự khác nhau giữa các nơi trên thế giới, nhưng tỷ lệ của các thành phần chính (như NaCl là một ví dụ) trong tổng số các hợp chất là gần như không đổi. Tuy nhiên, tỷ lệ các nguyên tố khác không phổ biến như nhôm, đồng, thiếc,… cũng như các chất khí hòa tan như Oxi, CO 2, Nitơ có sự khác biệt giữa các vùng nước biển khác nhau. Dù vậy, do các thành phần chính của nước biển hầu như không có sự khác biệt nên các nhà khoa học có thể dựa vào đây để đánh giá tổng quát tác động của các nhân tố nhiệt độ, áp suất,… đến độ mặn của nước biển.

Kết

Nguyên nhân của độ mặn của nước biển bắt nguồn từ sự tích tụ dần dần các hợp chất bị xối mòn trên vỏ Trái Đất và trôi xuống biển. Các chất rắn và khí thoát ra từ miệng núi lửa trên đất liền cũng được gió đưa xuống với đại dương. Các hợp chất được giải phóng từ những lớp trầm tích dưới đáy đại dương cũng góp phần vào độ mặn của nước biển như hiện nay.

Độ mặn của nước biển có thể được tăng lên hoặc giảm đi phụ thuộc vào nhiệt độ mặt biển, lượng mưa và vị trí địa lý của vùng biển đó có nhận được lượng nước ngọt dồi dào hay không. Độ mặn trung bình của nước biển là 35 o/oo và nơi có độ mặn cao nhất là Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư với độ mặn kỷ lục là 40 o/oo. Những nơi có độ mặn thấp nhất thường là khu vực biển ở 2 cực, vùng nước ven biển hoặc gần cửa các con sông lớn.

Nước biển không chỉ mặn hơn so với nước sông mà thành phần và tỷ lệ của các loại muối hòa tan bên trong cũng khác nhau. NaCl (muối ăn) chứa 85% các chất rắn hòa tan trong nước biển. Đây chính là nguyên nhân cho độ mặn đặc trưng của nước biển.

Nước Biển Cũng Là Nước Mà Tại Sao Không Được Uống?

Theo nhiều nhà nghiên cứu, con người có thể nhịn ăn trung bình 6-8 tuần mà không sao (tất nhiên có những trường hợp nhịn ăn được lâu hơn hoặc ít hơn) nhưng chỉ có cầm cự được 3-5 ngày nếu như thiếu nước.

Việc thiếu nước sẽ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến cơ thể, từ việc giảm lượng nước thải ra, đến nôn nao, ói mửa, trường hợp nặng hơn, sẽ mất dần khả năng vận động, gặp ảo giác và cuối cùng là dẫn đến tử vong!

Vậy nếu bị trôi lênh đênh trên biển, không thức ăn, không nước uống thì phải làm sao? Tại sao chúng ta không uống nước biển để cầm hơi chờ cứu hộ?

Sự thật thì không ai làm thế và cũng không thể làm thế. Ta đều biết điều đó nhưng lại không hiểu vì sao!

Lý do con người không thể uống nước biển!

Đa phần nước biển trên thế giới có nồng độ dao động từ 3,1 – 3,5% (có nghĩa cứ cứ 1 lít nước biển thì có đến 35g muối và chủ yếu là muối NatriClorua NaCl).

Không kể đến việc nó rất mặn và bạn vẫn nhắm mắt nhắm mũi uống thì điều này cũng khiến cho cơ thể bạn chịu 1 áp lực lớn hơn nhiều so với giới hạn tối đa có thể chịu được. Cụ thể, khi uống 1 lượng nhỏ nước biển được pha với 1 lượng lớn nước ngọt thì sẽ không gây hại mấy.

Nhưng nếu bạn sử dụng nước biển để đỡ khát thì chắc chắn sẽ phản tác dụng! Việc có quá nhiều muối vào cơ thể sẽ khiến cho chúng ta mất nhiều nước hơn để thải chính lượng muối đó ra ngoài.

Hơn thế nữa, thận người chỉ có thể điều tiết lượng muối trong cơ thể ở mức 9g/L (tương đương 0,9%), nếu bổ sung thêm nước biển, nó sẽ khiến thận phải làm việc nhiều hơn gấp bội. Điều đó chưa kể với nồng độ 3,5%, lượng muối vào vượt quá cả giới hạn tối đa công suất làm việc của thận!

Thực tế, trong nước biển ngoài NaCl thì còn chứa 1 số loại muối khác, vô cùng độc hại đối với sinh vật sống. Nếu uống quá nhiều nước biển, dần dần, lượng muối trong cơ thể ngày càng tăng, vượt đến ngưỡng ngộ độc, gây ra ngập máu, loạn nhịp tim và có thể gây tử vong nhanh chóng!

Tuy nhiên, vẫn có 1 số loài vật có thể chịu được độ mặn của nước biển như hải âu chẳng hạn. Chúng có tuyến đặc biệt ở sau hốc mắt, nó sẽ thu hết muối trong nước mà chúng uống rồi biến thành dung dịch để thải ra ngoài.

Hay như ở loài mèo, thận của chúng có khả năng hydrat hóa natri cực kỳ hiều quả, vượt trội hơn nhiều so với loài người, cho nên nếu bắt buộc phải sử dụng nước biển, chúng vẫn có thể sống tốt!

Tham khảo nhiều nguồn