Tiếp Cận Liên Ngành Trong Việc Nghiên Cứu Những Vấn Đề Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Nghiên Cứu Thị Trường (Nghiên Cứu Marketing)
  • Nhân Học Và Nhân Học Văn Hóa
  • Ngôn Ngữ Học Học Nhân Chủng – Nghiên Cứu Trường Hợp Thành Ngữ Tiếng Việt
  • Một Nhà Nhân Chủng Học Thực Sự Làm Gì?
  • Trung Tâm Nghiên Cứu Ong
  • Tiếp cận liên ngành trong việc nghiên cứu những vấn đề xã hội: Những quan điểm lý thuyết của Mỹ  về thời kỳ chuyển tiếp từ niên thiếu đến trưởng thành

    Tác giả: Mary Elizabeth Collins, A.M., Ph.D.

    Giáo sư, Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Boston

    Học giả Chương trình Fulbright, Trường ĐHKHXHNV, ĐHQG-HCM

    Người dịch: Phạm Thị Ly (2012)

    Tóm tắt

    Từ khóa:  mô hình sinh thái học, chuyển tiếp đến tuổi trưởng thành, lý thuyết gắn kết, lý thuyết mạng xã hội, lý thuyết lên chương trình

    Trọng tâm của nghề công tác xã hội là trình bày những vấn đề xã hội mà những vấn đề ấy thì thường đòi hỏi cái nhìn liên ngành để có thể tiếp cận một cách thấu đáo, nhờ đó có thể hiểu đúng và xây dựng những cách can thiệp có hiệu quả.  Một trọng tâm quá hẹp, chú trọng chỉ một bộ khung chuyên ngành, sẽ đem lại một bức tranh thiên lệch cao độ về các hiện tượng xã hội. Hơn thế nữa, mô hình sinh thái học (Garbarino, 1982) là một bộ khung được sử dụng rộng rãi trong ngành công tác xã hội.  Mô hình sinh thái học chiếm một vị trí trung tâm trong những phân tích về công tác xã hội như một phương tiện khảo sát mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và các hệ thống xã hội, tổ chức và bối cảnh văn hóa.

    Thuyết gắn kết “Thuyết gắn kết” tạm dịch từ thuật ngữ “Attachment Theory”, là một lý thuyết liên ngành miêu tả về sự vận động của những mối quan hệ dài hạn giữa người với người.  Nguyên lý quan trọng nhất của lý thuyết này là một đứa trẻ cần xây dựng quan hệ với ít nhất một người chính yếu cho nó sự chăm sóc quan tâm, để có thể phát triển một cách bình thường về mặt cảm xúc và về mặt xã hội (Chú thích của người dịch).

    [2] Thuyết lên chương trình tạm dịch từ thuật ngữ Agenda-Setting Theory, một học thuyết cho rằng những phương tiện truyền thông tin tức có một ảnh hưởng to lớn với người nghe nhìn, theo nghĩa chuyện gì được coi là tin tức đáng giá để đưa lên mặt báo và tầm quan trọng của tin tức ấy được thể hiện qua thời lượng hay không gian dành cho tin tức ấy là lớn tới cỡ nào  (Chú thích của người dịch).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Luận Văn Thạc Sĩ
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Tốt Nghiệp Phổ Biến
  • Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế Eg05
  • Đáp Án Môn Eg05
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Luật Học (Phạm Duy Nghĩa)
  • 5 Why: Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Bằng Cách Đặt Câu Hỏi Tại Sao?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Xét Nghiệm Western Blot
  • Hướng Dẫn Đầy Đủ Và Chi Tiết Các Bước Thi Công Hệ Thống Cống Thoát Nước
  • Máy Phân Tích Xrf Kiểm Tra Thành Phần Hóa Học Kim Loại Nặng Độc Hại
  • Xốp Cách Nhiệt Xps Là Gì? Ưu Điểm Và Ứng Dụng Ra Sao?
  • Báo Giá Tấm Cách Nhiệt Cách Âm Xốp Xps
  • Chúng ta ai cũng có lúc gặp khó khăn khi phải giải quyết một xung đột nào đó. Nhưng có một cách rất hiệu quả để giải quyết mọi vấn đề. Và điểm trừ duy nhất của cách này là nó khiến bạn có vẻ như một đứa trẻ đang tham dự một chuyến hành trình dài đầy hứng khởi.

    Bí quyết để giải quyết xung đột, theo lời quản lý cấp cao Taiichi Ohno đã quá cố của Toyota, là “hỏi ‘Tại sao’ 5 lần liền”. Nhờ thế, bạn sẽ tiếp cận được nguyên nhân gốc rễ và học được từ khó khăn mà mình gặp phải – do đó tránh lặp lại những hành động ngốc nghếch hoặc thiếu hiệu quả.

    Để cách này có hiệu quả, đừng coi xung đột là một cái gì đó tiêu cực vì theo Ohno, “Không gặp vấn đề gì mới là vấn đề lớn nhất”.

    1. “Tại sao con robot ngừng chạy?” Mạch bị quá tải, khiến cầu chì bị đứt.

    2. “Tại sao mạch lại quá tải?” Ổ bi hết dầu, nên nó cứng lại.

    3. “Tại sao ổ bị lại hết dầu?” Bộ phận bơm dầu trên robot không bơm đủ dầu.

    4. “Tại sao bộ phận đó lại không bơm đủ dầu?” Lỗ hút dầu bị vụn kim loại làm tắc.

    5. “Tại sao lỗ hút lại bị vụn kim loại làm tắc?” Vì bơm không có bộ lọc.

    Toyota vẫn sử dụng chiến thuật này, nhưng nó đã được áp dụng rộng khắp chứ không chỉ cho lĩnh vực sản xuất xe hơi. Doanh nhân Eric Ries coi đây là một chiến lược đầu tư trong cuốn sách The Lean Startup của mình. Quỹ đầu tư lớn nhất thế giới (Bridgewater) cũng sử dụng nó như một nguyên tắc quản trị chủ chốt.

    Phương pháp này có tác dụng vì nó buộc người ta phải hiểu rõ một vấn đề trước khi cố gắng tháo gỡ nó, trái lại nhiều người trong số chúng ta lại chỉ quan tâm đến diện mạo của vấn đề mà thôi: “Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích khi giúp ta đào sâu qua lớp dữ kiện và thông tin để tiếp cận lớp cảm xúc, và rốt cuộc đến được với các giá trị và động cơ thực sự thúc đẩy hành động của mỗi người”, nhà tâm lý học Liane Davey cho biết.

    Hãy thử đặt mình vào hoàn cảnh sau: Bạn vừa có một bài thuyết trình với PowerPoint, và hơi dài quá thời gian quy định một chút. Khách hàng thì có kế hoạch đã định nên họ không thể nghe được đầy đủ đề xuất của bạn. Khi đó bạn hoặc cấp trên của bạn có thể đặt ra những câu hỏi như thế này:

    1. “Tại sao khách hàng không nghe được toàn bộ để xuất của mình?” Vì tôi không có đủ thời gian.

    2. “Tại sao anh không có đủ thời gian?” Vì tôi hơi dài dòng khi trình bày các slide.

    3. “Tại sao anh lại trình bày dài dòng?” Vì tôi không tập thuyết trình vào đêm hôm trước.

    4. “Tại sao anh không tập trước?” Vì tôi bận một số việc với bạn tôi và có nhiều việc phải làm cả ngày hôm qua.

    5. “Tại sao anh lại để mình bị vướng bận đúng vào ngày trước một buổi thuyết trình quan trọng?”

    Câu trả lời cho câu hỏi thứ 5 có thể khác nhau. Chẳng hạn: “Vì tôi không xác định được mức độ ưu tiên cho các vấn đề trong công việc và cuộc sống”, hay “Vì tôi muốn kiểm soát mọi thứ nên không nhờ người khác giúp giải quyết những việc còn lại”, hoặc “Vì tôi biết mình không giỏi ăn nói, nhưng thay vì nhờ người khác thuyết trình hay giúp tôi rèn luyện, tôi lại tự làm rối beng mọi thứ”.

    Dù câu trả lời là gì, thì biết được nguyên nhân gốc rễ gây ra vấn đề đó cũng rất cần thiết nếu muốn giải quyết được vấn đề ấy.

    Và nếu chỉ hỏi “tại sao” khiến bạn thấy phiền hà và cảm giác như bị buộc tội, Davey gợi ý đặt ra những câu hỏi khác nhưng ở dạng tương tự: “Làm thế nào mà anh lại trả lời thế?” “Anh đã cân nhắc những yếu tố nào?”, “Ý của anh là gì khi anh nói rằng…?”, hay “Suy nghĩ đó thực ra mang ý nghĩa gì?”.

    Tất cả đều có thể gợi ra những câu trả lời có cân nhắc và trung thực mà không đặt người bị hỏi vào thế của kẻ bị buộc tội.

    Kĩ năng giải quyết vấn đề là một kĩ năng quan trọng người lao động nào cũng cần có, nó đánh giá khả năng bạn thích ứng với công việc và đạt kết quả cao trong công việc đó. Lấy một ví dụ về ưu điểm của kĩ thuật 5 whys như sau: “Bạn thường xuyên đi muộn vào mỗi buổi sáng, và bạn bị sếp khiển trách, do đó bạn tìm cách để mình có thể đi làm sớm hơn”, nếu không áp dụng 5 whys, thường giải pháp được đưa ra ngay lập tức sẽ là: “Vậy thì từ ngày mai mình sẽ đặt đồng hồ sớm hơn để có thể đi làm đúng giờ”. Nhưng nếu bạn đặt câu hỏi 5 whys thì giải pháp sẽ thay đổi theo một hướng khác.

    1. Tại sao bạn thường xuyên đi làm muộn?

    Trả lời: Bởi vì tôi không thể dậy sớm để đi làm vào mỗi buổi sáng.

    2. Tại sao bạn lại không thể dậy sớm để đi làm vào mỗi buổi sáng?

    Trả lời: Bởi vì tôi thích ngủ hơn là đi làm.

    3. Tại sao bạn lại không thích đi làm?

    Trả lời: Bởi vì công việc tôi đang làm không dùng những kỹ năng tốt nhất mà tôi có.

    4. Tại sao bạn lại gắn bó với công việc này khi nó không đòi hỏi những kĩ năng tốt nhất của bạn?

    Trả lời: Bởi vì tôi đã bỏ thời gian ra để học những kỹ năng được yêu cầu trong công việc này, mặc dù tôi không thích nó lắm.

    5. Tại sao bạn lại quan tâm học những kĩ năng đó mặc dù bạn không thích lĩnh vực ấy?

    Trả lời: Bởi vì tôi sợ phải thừa nhận với gia đình và bạn bè rằng tôi đã sai lầm khi chọn công việc này.

    Kết luận: Sau 5 câu hỏi nguyên nhân gốc rễ đã được hé mở “Bạn thường xuyên đi muộn bởi vì bạn chọn sai sự nghiệp” và từ đó cũng dễ dàng đưa ra những giải pháp cụ thể.

    Ví dụ thứ 2: Vợ chồng bạn thường xuyên đi làm về muộn và không có thời gian ăn tối với con? Con bạn thường xuyên ăn tối cùng người giúp việc hoặc ông bà và bạn muốn thay đổi điều này vì những bữa tối gia đình cùng nhau rất tốt cho sự phát triển tâm sinh lí của con bạn, vì vậy bạn thử đặt 5 câu hỏi tại sao và trả lời nó để có thể tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.

    1. Tại sao vợ chồng bạn lại không ăn tối với các con?

    Trả lời: Bởi vì chúng tôi luôn về nhà muộn hơn dự định

    2. Tại sao bạn lại về nhà muộn hơn dự định?

    Trả lời: Bởi vì chúng tôi có rất nhiều việc phải làm vào cuối ngày làm việc, và vì vậy chúng tôi không thể về đúng giờ.

    3. Tại sao bạn lại có nhiều việc để làm vào cuối ngày làm việc?

    Trả lời: Bởi vì mỗi ngày, chúng tôi đều có ý định đến sớm để sắp xếp công việc, nhưng chúng tôi lại thường xuyên đến muộn và sau đó tham gia luôn vào một cuộc họp nào đó.

    4. Vậy, tại sao bạn lại luôn đến làm muộn vào buổi sáng?

    Trả lời: Chúng tôi luôn mong muốn đi làm đúng giờ, nhưng chúng tôi thường xuyên mất hơn 20 phút so với bình thường để chuẩn bị cho các con của tôi đến trường.

    5. Tại sao bạn lại mất nhiều hơn 20 phút để chuẩn bị cho các con của bạn đến trường?

    Trả lời: Bởi vì chúng tôi đã mất khá nhiều thời gian để chuẩn bị quần áo cho con vào mỗi buổi sáng.

    Kết luận: Sau khi đã đặt và trả lời 5 câu hỏi tại sao, bạn cũng đã thấy được vấn đề thực sự mà bạn gặp phải và cũng có hướng đề giải quyết vấn đề này. Một trong những giải pháp đó là bạn và con bạn hãy chuẩn bị quần áo sẵn sàng từ tối hôm trước.

    Thông qua 2 ví dụ ở trên, chúng ta thấy rằng , sử dụng kĩ thuật 5 câu hỏi tại sao rất đơn giản, dễ sử dụng và giúp bạn tìm ra được vấn đề cốt lõi một cách dễ dàng cho những vấn đề không quá phức tạp.

    Khi nào bạn nên sử dụng 5 whys?

    Sử dụng 5 whys khi xử lý sự cố, cài thiện chất lượng, và giải quyết vấn đề, nhưng nó được sử dụng hiệu quả khi giải quyết những vấn đề có độ khó trung bình.

    Đây là một kĩ thuật đơn giản, nhưng nó có thể giúp bạn tìm ra gốc rễ vấn đề nhanh, vì vậy khi gặp vấn đề bạn hãy thử phương pháp 5 whys này trước khi đi sâu hơn với những phương pháp khác như sử dụng biểu đồ xương cá Fishbone.

    Bạn có thể sử dụng 5 whys khi giải quyết vấn đề cùng với nhóm hoặc một mình.

    Sử dụng 5 whys như thế nào?

    Bước 1: Thành lập một team để cùng giải quyết vấn đề.

    Team được thành lập sẽ gồm những người hiểu được chi tiết vấn đề đang gặp phải. Đề cử một người là người điều phối, người này sẽ giúp nhóm theo sát mục đích tìm ra gốc rễ vấn đề.

    Bước 2: Định nghĩa vấn đề.

    Đưa vấn đề cần giải quyết ra với cả nhóm, giải thích cụ thể vấn đề gặp phải.

    Bước 3: Đặt câu hỏi “Tại sao” đầu tiên

    Bước 4: Tiếp tục đặt 4 câu hỏi “Tại sao” cho đến khi bạn tìm ra được vấn đề gốc rễ.

    Bước 5: Giải quyết nguyên nhân gốc rễ

    Quy tắc khi cùng giải quyết vấn đề với kĩ thuật 5 câu hỏi tại sao:

    1. Sử dụng giấy hoặc bảng thay vì máy tính.

    2. Viết vấn đề cần giải quyết ra giấy và đảm bảo rằng mọi người đều hiểu nó.

    3. Chú ý đến logic của mối quan hệ nguyên nhân và kết quả.

    4. Hãy chắc chắn rằng nguyên nhân gốc rễ chắc chắn dẫn đến sai lầm/ vấn đề bằng cách đảo ngược các câu được tạo ra.

    5. Cố gắng đưa ra những câu trả lời tóm lược.

    6. Hãy tìm nguyên nhân từng bước một. Đừng nhảy đến kết luận.

    7. Đánh giá quá trình, không phải con người.

    8. Không bao giờ đổ lỗi cho “lỗi của con người”, “lỗi do không chú ý”, “do một người khác”.

    9. Tôn trọng và tin cậy người khác trong team.

    10. Đặt câu hỏi “Tại sao?” cho đến khi nguyên nhân gốc được xác định.

    Lợi ích của việc sử dụng 5 whys.

    1. Giúp tìm ra vấn đề của con người.

    Theo Taiichi Ohno khi chúng ta lặp lại câu hỏi tại sao 5 lần, thì không những vấn đề gốc rễ được tìm ra mà giải pháp cũng trở lên rõ ràng hơn.

    Ví dụ: Server bị lỗi.

    – Tại sao: Bởi vì một API mới vừa được đưa lên server

    – Tại sao: Bởi vì chúng ta đưa ra một tính năng mới, tính năng này đã sử dụng API đó sai cách.

    – Tại sao: Bởi vì chúng ta có một kĩ sư mới gia nhập nhóm, và anh ta đã không biết sử dụng API đó đúng cách.

    – Tại sao: Bởi vì kĩ sư mới vào đã không được đào tạo.

    – Tại sao: Bởi vì quản lý của chúng ta không tin tưởng vào việc đào tạo

    Như vậy vấn đề con người ở đây đó là: “Kĩ sư đã không được đào tạo”

    2. Ngăn chặn vấn đề tiếp tục xảy ra

    Bởi vì chúng ta cố gắng tìm và giải quyết vấn đề cốt lõi, nên sẽ ngăn chặn được vấn đề tiếp tục xảy ra trong tương lai.

    Một số vấn đề có thể gặp phải trong công việc:

    – Dạo này tôi rất hay buồn ngủ trong giờ làm việc.

    – Dự án thường có lỗi mỗi lần release.

    – Mối quan hệ của tôi với các đồng nghiệp không tốt.

    – Tôi thường xuyên không làm đúng deadline đề ra.

    – Tôi thường xuyên đi làm muộn buổi sáng.

    – Tôi không thể tập trung để học một công nghệ mới, mặc dù tôi biết nó cần thiết với công việc của tôi.

    Vấn đề: Khách hàng của bạn đang từ chối trả tiền cho các tờ rơi bạn in cho họ.

    • Tại sao? Việc giao hàng trễ, do đó các tờ rơi không thể sử dụng được.
    • Tại sao? Công việc mất nhiều thời gian hơn so với chúng tôi dự đoán.
    • Tại sao? Chúng tôi hết mực máy in.
    • Tại sao? Tất cả mực đã được sử dụng hết cho 1 đơn hàng lớn vào phút chót.
    • Tại sao? Chúng tôi không đủ mực có sẵn và chúng tôi không thể đặt thêm mực kịp.

    Biện pháp ứng phó: Chúng tôi cần phải tìm một nhà cung cấp có thể chuyển mực in đến trong thời gian ngắn.

    Khi đến kiểm tra một Trung tâm xử lý đơn hàng của chúng tôi tỷ phú Jeff Bezos được biết một nhân viên ở đây vừa gặp tai nạn lao động và gãy một ngón tay. Ông tìm một bảng trắng và bắt đầu sử dụng kỹ thuật Five Whys.

    Tại sao ngón tay cái của người nhân viên bị thương?

    – Bởi vì ngón cái của anh ta bị kẹt trong băng chuyền.

    Tại sao ngón cái của anh bị kẹt trong băng chuyền?

    – Bởi vì anh ta đang đuổi theo cái túi của mình, trên một băng chuyền đang chạy.

    Tại sao anh ta đuổi theo chiếc túi của mình?

    – Bởi vì anh ta đã đặt túi của mình lên băng chuyền, và sau đó băng chuyền bất ngờ hoạt động.

    Tại sao túi của anh ấy lại trên băng chuyền?

    – Bởi vì anh ta đang sử dụng băng tải như một cái bàn.

    Và như vậy, nguyên nhân sâu xa của ngón tay cái bị thương của người nhân viên là anh ta chỉ cần một cái bàn. Vì xung quanh không có cái bàn nào và anh ta phải sử dụng băng chuyền như một cái bàn tạm. Để loại bỏ các trường hợp tương tự, chúng tôi cần cung cấp bàn tại các vị trí thích hợp và cập nhật đào tạo an toàn.

    Hãy thử đặt mình vào hoàn cảnh sau: Bài thuyết trình về một dự án kinh doanh mới dài quá thời gian quy định. Khách hàng có kế hoạch đã định trước nên bỏ về, không nghe hết toàn bộ bài thuyết trình. Khi đó, hãy tự vấn- đáp 5 lần liên tục:

    “Tại sao khách hàng không nghe được toàn bộ thuyết trình?” – “Vì tôi không có đủ thời gian”.

    “Tại sao không đủ thời gian?” – “Vì tôi trình bày hơi dài dòng”.

    “Tại sao trình bày dài dòng?” – “Vì tôi không tập thuyết trình tối hôm trước”.

    “Tại sao không tập thuyết trình trước?”- “Vì tôi bận một số việc quan trọng với bạn tôi cả ngày”.

    “Tại sao bị vướng bận đúng vào ngày trước buổi thuyết trình quan trọng?” – “Vì tôi không xác định được mức độ ưu tiên các vấn đề trong công việc và cuộc sống”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Kỹ Thuật 5 Whys Để Giải Quyết Vấn Đề
  • Cải Thiện Điều Kiện Lao Động Tại Nơi Làm Việc Theo Phương Pháp Wise
  • Procurement Là Gì? 5 Cách Cải Thiện Phương Pháp Procurement Marketing
  • Lựa Chọn Phương Pháp Vô Cảm Nào Tốt Nhất Cho Sản Phụ?
  • Những Ưu Điểm Của Nghề Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • 6 Bước Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Hóa Nhiệt Luyện Là Gì? Có Bao Nhiêu Phương Pháp?
  • 6 Yếu Tố Quyết Định Chi Phí Cắt Bao Quy Đầu Hết Bao Nhiêu Tiền
  • 5 Bước Ra Quyết Định Hiệu Quả Cho Nhà Quản Trị
  • Quyết Định Cá Nhân Và Quyết Định Nhóm
  • Phương Pháp Ra Quyết Định Thùng Rác (Garbage Can Model)
  • 3. Hiểu vấn đề

    Không phải tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến bạn đều do chính bạn giải quyết. Nếu bạn không có quyền hạn hay năng lực để giải quyết nó, cách tốt nhất là chuyển vấn đề đó sang cho người nào có thể giải quyết. Có một câu nói nửa đùa nửa thật nhưng cũng đáng để bạn lưu ý: “Nhiệt tình cộng với thiếu hiểu biết đôi khi thành phá hoại”. Cũng có những vấn đề bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho cấp dưới thay vì tự mình phải giải quyết, bởi vậy việc phân quyền và khuyến khích tính tích cực của mọi người trong giải quyết vấn đề là điều rất cần thiết.

    Nội dung quan trọng nhất khi ra quyết định là sự kịp thời và hiệu quả. Các quyết định cần được xem xét kỹ lưỡng nhưng đảm bảo tốc độ nhanh chóng.

    Yếu tố sáng tạo sẽ giúp nhà quản lý tìm được giải pháp đôi khi hơn cả mong đợi. Cần lưu ý là một giải pháp tối ưu phải đáp ứng được ba yếu tố: có tác dụng khắc phục giải quyết vấn đề dài lâu, có tính khả thi, và có tính hiệu quả. Các công cụ hiện đại và ý kiến tham chiếu phát huy mạnh mẽ tác dụng của mình trong bước này. Những phương pháp quyết định có hệ thống sẽ hỗ trợ cho việc sáng tạo, gạt đi các ý tưởng lỗi thời, không phù hợp. Tất cả các lựa chọn cần được cân nhắc kỹ lưỡng và phán đoán kết quả trong tương lai. Khi ra một quyết định quan trọng, nhà lãnh đạo luôn đối mặt với những rủi ro tiềm tàng. Điều này là không thể tránh khỏi. Một vấn đề bạn cần tránh khi ra quyết định là suy nghĩ theo cảm tính thay vì logic, hệ thống.

    Khi bạn tin rằng mình đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, bạn có thể bắt tay vào hành động. Để đảm bảo các giải pháp được thực thi hiệu quả, nhà quản lý cần phải truyền đạt rõ ràng, chính xác, nhanh chóng tới đội ngũ của mình. Bạn cần lên kế hoạch thực thi, xác định ai là người chịu trách nhiệm, phân công công việc, thời gian để thực hiện, những nguồn lực cần thiết là gì, khuyến khích mọi người tham gia lập kế hoạch hành động. Trong quá trình thực thi, các công cụ theo dõi sẽ phát huy tác dụng và cho bạn những phản hồi liên tục về tiến độ, kết quả thực hiện.

    Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, bạn cần kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không. Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều “calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau.

    Kenneth Stott & Allan Waler (1992), Making Management Work – A Practical Approach.

    Thực hiện theo các bước trên sẽ giúp bạn giảm thiểu rủi ro, cảm tính và đưa ra được quyết định sáng suốt hơn. Công cụ này cũng giúp bạn tiết kiệm thời gian đối với các vấn đề tương tự hay lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tới cách giải quyết triệt để.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Tham Vấn Tâm Lý Hiệu Quả
  • Lãnh Đạo Và Phong Cách Ra Quyết Định
  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Ra Quyết Định Tập Thể
  • Tuyển Chọn 10 Tình Huống Sư Phạm Thường Gặp Ở Tiểu Học Và Cách Giải Quyết Hay Nhất Cho Giáo Viên
  • 10 Câu Hỏi Phỏng Vấn Thường Gặp Nhất Và Cách Trả Lời Hay Nhất
  • Báo Cáo Giải Quyết Vấn Đề 8D

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Giải Quyết Vấn Đề Theo Phương Pháp 8D – Imt
  • Nano Là Gì? Vật Liệu Nano Là Gì? Ứng Dụng Của Vật Liệu Và Công Nghệ Nano?
  • Nghiên Cứu Chế Tạo Và Ứng Dụng Vật Liệu Nano
  • Công Nghệ Nano Là Gì? Ứng Dụng Của Công Nghệ Nano Trong Đời Sống.
  • Nano Là Gì? Công Nghệ Nano Là Gì?
  • 8D là một phương pháp giải quyết vấn đề được sử dụng trên toàn cầu, chủ yếu trong ngành sản xuất bởi các nhà quản lý, kỹ sư và vận hành chất lượng. Mục đích của phương pháp giải quyết vấn đề 8D là xác định, khắc phục và ngăn ngừa các sự cố ảnh hưởng đến khách hàng và hiệu quả hoạt động. Đó là một cách tiếp cận giải quyết vấn đề tương tự như chu trình PDCA (Lập kế hoạch -Thực hiện – Kiểm tra – Hành động).

    Phương pháp giải quyết vấn đề 8D ban đầu được phát triển trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng nó đã trở thành một phương pháp chính thức vào năm 1974, khi nó được Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng cho các hoạt động quân sự của mình với tên Tiêu chuẩn quân sự 1520. Sau đó, nó đã được Ford Motors điều chỉnh và phổ biến với một chút sửa đổi trong phương pháp luận.

    8D có 8 nguyên tắc mà bất kỳ quy trình hoặc hoạt động nào cũng phải tuân theo để giải quyết các vấn đề xảy ra. Kết quả của 8D là một báo cáo có tên Báo cáo 8D, ghi lại các vấn đề, nguyên nhân gốc và các hành động khắc phục và phòng ngừa

    1D – Đội hình:

    Bước đầu tiên và quan trọng nhất không chỉ trong 8D mà còn trong bất kỳ sáng kiến hay dự án nào khác là Đội hình, vì bất kỳ sáng kiến nào cũng không thể thành công nếu không có một đội ngũ phù hợp. Đội được chọn phải được cam kết, có thẩm quyền, phối hợp, có chức năng chéo với sự đại diện từ tất cả các đội và phải có kiến thức về phương pháp 8D.

    2D – Mô tả sự cố:

    Sau khi chọn nhóm, chúng ta nên tập trung vào chi tiết vấn đề. Nhóm nên thu thập chi tiết về vấn đề, để hiểu hoàn toàn chiều sâu của vấn đề. Tất cả các chi tiết nên được dựa trên dữ liệu và thực tế.

    3D – Thao tác ngăn chặn tạm thời:

    4D – Phân tích nguyên nhân gốc rễ:

    Sau khi thực hiện các hành động ngăn chặn, nhóm nên tham gia vào việc xác định (các) nguyên nhân gốc rễ cho vấn đề. Các phương pháp và công cụ như Phân tích 5-Why, sơ đồ xương cá, Phân tích Pareto, 7 công cụ QC, v.v … có thể được sử dụng để xác định nguyên nhân gốc. Một điểm quan trọng cần lưu ý là: Dù sử dụng phương pháp nào cho RCA, thì nó phải dựa trên dữ liệu & thực tế.

    5D – Xây dựng hành động khắc phục:

    Sau khi tìm được nguyên nhân gốc rễ, nhóm nên xây dựng các hành động khắc phục được thực hiện để khắc phục sự cố. Các công cụ như Brain Storming, sơ đồ quan hệ, vv có thể được sử dụng.

    6D – Xác thực hành động khắc phục:

    Sau khi xây dựng được các hành động khắc phục, nhóm nên xác thực xem các giải pháp có hiệu quả hay không. Có một số công cụ như Kiểm tra tốc độ hoạt động, mô phỏng, vv….. có sẵn phục vụ cho mục đích này. Sau đó, giải pháp có thể được thực hiện trong quá trình. Cách tiếp cận giải pháp từ bước 4-6 nên được lặp lại cho đến khi vấn đề được loại bỏ hoàn toàn.

    7D – Hành động phòng ngừa:

    Xác định và thực hiện các hành động khắc phục chỉ là một giải pháp tạm thời giúp hệ thống hoạt động hoặc giống như “Sống với vấn đề” bằng cách thực hiện các biện pháp đối phó. Giải pháp lâu dài là xác định một giải pháp dài hạn tiềm năng sẽ không cho phép sự cố (vấn đề tương tự) xảy ra lần nữa vào hệ thống. Đôi khi hành động khắc phục sẽ khá tốn kém và mất thời gian. Hành động phòng ngừa thực hiện các thay đổi trong hệ thống, các quy trình ngược dòng hoặc hạ nguồn để toàn bộ hệ thống được sửa đổi hoặc căn chỉnh cho “Vấn đề hoạt động miễn phí”.

    8D – Công nhận nhóm và cá nhân:

    Một khi vấn đề được giải quyết hoàn toàn, nhóm và những người đóng góp khác thường phải được khen thưởng và công nhận một cách thích hợp. Điều này như một yếu tố tạo động lực cho các nhân viên khác.

    Đây là các bước của phương pháp 8D. Tóm lại, 8D là một phương pháp tổng thể, có hệ thống và đã được chứng minh để giải quyết vấn đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Nipt Là Gì?
  • Xét Nghiệm Sàng Lọc Tiền Sản Nipt Là Gì
  • Tầm Quan Trọng Của Việc Sàng Lọc Trước Sinh, Xét Nghiệm, Sàng Lọc Nipt
  • Tổng Quan Về Nlp (Lập Trình Ngôn Ngữ Nơ Ron
  • Tất Tần Tật Những Điều Cần Biết Về Nlp (Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy)
  • Ppdh Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn Spkt
  • Giới Thiệu Sách ” Phương Pháp Dạy Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Phổ Thông”
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên Và Xã Hội
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • PPDH PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Phương ph¸p d¹y häc ph¸t hiện và giải quyết vấn ®Ò lµ mét trong nh÷ng ph­¬ng ph¸p d¹y häc tÝch cùc hiÖn nay. §©y kh”ng ph¶i lµ mét ph­¬ng ph¸p d¹y häc míi nh­ng nÕu ¸p dông ®óng møc víi tõng m”n häc cô thÓ sÏ “ph¸t huy ®­îc tÝnh tÝch cùc, chñ ®éng, s¸ng t¹o cña häc sinh, ®em l¹i niÒm vui, høng thó häc tËp cho häc sinh”. Ph­¬ng ph¸p nµy míi được c¸c nhà lÝ luận học ViệtNamvà trªn thế giới nghiªn cứu, song mầm mống ban đầu của phương ph¸p này đ· xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XIX.

    Vào những năm 70 của thế kỉ XIX c¸c nhà sinh học chúng tôi Ghecđơ, B.E.Raic”p, c¸c nhà sử học MM.Xtaxiulevic, N.A R”giơc”p,… đ· nªu lªn phương ¸n t×m tßi ph¸t kiến (ơrictic) trong dạy học nhằm h×nh thành năng lực nhận thức cho học sinh bằng c¸ch đưa HS tham gia vào qu¸ tr×nh hoạt động nhằm t×m kiếm tri thức, ph©n tÝch c¸c hiện tượng. Đ©y là một trong những cơ sở của dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ).

    Phương ph¸p giải quyết vấn đề ra đời trªn c¬ së nh÷ng năm 50 của thế kỉ XX, x· hội bắt đầu ph¸t triển, lóc đã xuất hiện m©u thuẫn trong qu¸ tr×nh dạy học: đã là m©u thuẫn giữa yªu cầu dạy học ngày càng cao, khả năng s¸ng tạo của HS ngày càng tăng với việc tổ chức cßn lạc hậu.. chúng tôi – nhà gi¸o dục học của Ba Lan làm s¸ng tỏ PPDH nªu vấn đề thực sự là một PPDH mới cã t¸c dụng ph¸t huy được năng lực nhận thức của học sinh, kÝch thÝch học sinh tÝch cực suy nghĩ, chủ động t×m tßi, s¸ng tạo để giải quyết vấn đề đạt tới kiến thức mới một c¸ch s©u sắc, x©y dựng cho người học ý thức liªn hệ, bồi dưỡng høng thó thực hành và xu hướng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, nhưng øng chỉ dừng lại ở việc ghi lại những thực nghiệm thu được trong qu¸ tr×nh dạy học nªu vấn đề, Ýt chó trọng x©y dựng cơ sở lÝ luận khoa học cho PP này.

    Đến những năm 70, nhà lÝ luận học người Nga M.I Mackmutov đ· chÝnh thức đưa ra những cơ sở lÝ luận của phương ph¸p dạy học (PPDH) giải quyết vấn đề được kế thừa bởi dạy học Algorit ho¸ và Ơrixtic, đưa PP này trở thành PPDH tÝch cực. Trªn thế giới, ngoài M.I Mackmutov cßn cã rất nhiều nhà khoa hoc, gi¸o dục nghiªn cứu về PPDH GQVĐ : M.N Xcatlin, Lecne, A.M Machiuskin, N.A P”lơnic”va…

    Dạy học nªu vấn đề được quan t©m nhiều ở c¸c nước XHCN, đặc biệt là ở Ba Lan. Ở đây vấn đề đ· được gi¸o sư ¤k”n, Cupª Xevit và nhiều người kh¸c tÝch cực nghiªn cứu.

    Ở Việt Nam, từ trước đến nay, đã có nhiều người đề cập đến PPDH này như : Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá chúng tôi nhiên các tác giả đều viết về PPDH GQVĐ trong dạy học ở nhà trường phổ thông và đại học, tác giả Nguyễn Kì đã nghiên cứu việc áp dụng PPDH GQVĐ ở Tiểu học, bước đầu tiến hành thực nghiệm ở một số môn Toán, TN – XH, Đạo đức. Hiện nay, PPDH GQVĐ đã và đang được coi trong trong giáo dục nói chung và trong trường tiểu học nói riêng.

    Phương pháp DH phát hiện và giải quyết vấn đề có những tên gọi khác:

    DH nêu vấn đề “, ” DH giải quyết vấn đề “, ” DH gợi vấn đề”. Trong cuốn Phương pháp dạy học Toán -Giáo sư Nguyễn Bá Kim đã sử dụng thuật ngữ “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề “. Chúng tôi cũng xin chọn sử dụng thuật ngữ này trong bài viết của mình.

    – Một trong sáu nguyên tắc dạy học là đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của học sinh được thể hiện ở việc học sinh ý thức được đủ mọi mục đích, nhiệm vụ học tập, có ý thức trong việc lĩnh hội tri thức, rèn kỹ năng…trong việc vận dụng những điều đã học được, có ý thức tự kiểm tra, đánh giá.

    Trong phương pháp dạy học toán của giáo sư Nguyễn Bá Kim giới thiệu hai quan điểm cơ bản là: vấn đề và tình huống gợi vấn đề.

    Theo từ điển của Hoàng Phê thì vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cưú, giải quyết.

    Để có hiệu quả trong quá trình giáo dục, người ta thường hiểu khái niệm này như sau:

    – Học sinh chưa giải đáp được câu hỏi đó hoặc chưa thực hiện được hành động đó.

    – Học sinh chưa được học một quy tắc có tính chất thuật toán nào để giải đáp câu hỏi hoặc thực hiện yêu cầu đặt ra.

    Hiểu theo nghĩa trên thì vấn đề không đồng nghĩa với bài tập. Những bài tập nếu có chỉ yêu cầu học sinh trực tiếp vận dụng một quy tắc có tính chất thuật toán, chẳng hạn giải một phương trình dựa vào công thức đã học thì không phải là những vấn đề.

    * Khi tìm hiểu về vấn đề chúng ta cần lưu ý một số điều sau:

    (1) Vấn đề không đồng nghĩa với bài toán.

    Như vậy, những thuật toán nếu chỉ đơn thuần yêu cầu HS trực tiếp áp dụng một thuật giải đã biết thì không phải là những vấn đề.

    (2) Khái niệm vấn đề như trên thường được dùng trong giáo dục. Vấn đề trong giáo dục khác với vấn đề trong nghiên cứu khoa học.

    (3) Vấn đề trong giáo dục mang tính tương đối.

    Tình huống gợi vấn đề ( còn được gọi là tình huống có vấn đề ) là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.

    (Phương pháp dạy học môn Toán – Nguyễn Bá Kim)

    Như vậy, tình huống gợi vấn đề là một tình huống thoả mãn các điều kiện sau:

    Ta nhận xét xem tình huống này có thoả mãn những yêu cầu của một tình huống có vấn đề hay không?

    – Tồn tại một vấn đề: HS chưa biết cách tìm số trừ.

    + HS đã biết về tìm số bị trừ, tìm hiệu.

    + HS mong muốn tìm ra công thức tìm số trừ.

    Vậy đây là một tình huống có vấn đề.

    Từ quan niệm về vấn đề, chúng ta làm sáng tỏ quan niệm về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.

    2. Quan niệm ” Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề “

    Theo V. Ôkôn thì “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là dạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học sinh độc lập giải quyết các bài toán thực hành hay lí thuyết

    Theo M.I.Mackmutov: “Tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập” đó là thực chất của quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.

    Từ những quan niệm cơ bản nêu trên, Giáo sư Nguyễn Bá Kim đã khái quát được quan niệm về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề như sau:

    Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là pp dạy học mà trong đó thầy giáo tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện ra vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực để giải quyết vấn đề và thông qua đó lĩnh hội tri thức, kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác.

    Nhóm chúng tôi xin đưa ra định nghĩa như sau: PP dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học, trong đó, giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề, yêu cầu học sinh tự phát hiện và giải quyết. Thông qua việc giải quyết vấn đề đó mà học sinh lĩnh hội được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

    Để hiểu được phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là như thế nào và nó khác với những phương pháp dạy học khác ở điểm nào, chúng ta hãy tìm hiểu đến bản chất của phương pháp này.

    Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có bản chất cơ bản sau đây:

    – HS được đặt vào một tình huống có vấn đề chứ không phải được thông báo dưới dạng tri thức có sẵn.

    – HS hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, huy động tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải nghe thầy giảng một cách thụ động.

    – Mục tiêu dạy học là phát triển khả năng tiến hành những quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề. HS không phải chỉ được học nội dung vấn đề mà còn nắm được con đường và cách thức tiến hành dẫn đến những kết quả đó, tạo cho các em hứng thú học tập.

    Sau khi nắm vững bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, chúng ta cần có sự nhận thức một cách thấu đáo những đặc điểm của phương pháp này đề từ đó có thể vận dụng linh hoạt vào quá trình dạy học.

    Có thể có rất nhiều tác giả nêu lên các bước của một qui trình dạy học của phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề nhưng sau đây chúng tôi xin đề cập đến quan điểm của Giáo sư Nguyễn Bá Kim về qui trình của phương pháp dạy học này.

    Theo quan điểm của Giáo sư Nguyễn Bá Kim, quá trình dạy học của phương pháp PH & GQVĐ gồm 4 bước: [Phương pháp dạy học Toán – Nguyễn Bá Kim – xuất bản 2004]

    – Từ tình huống gợi vấn đề, HS phát hiện, suy nghĩ, tìm tòi.

    – Giải thích và chính xác hoá tình huống.

    – Phát hiện vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó.

    – Tìm cách giải quyết vấn đề. Việc này thường được thực hiện theo sơ đồ:

    Khi phân tích vấn đề cần làm rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm. Từ đó đề xuất và thực hiện hướng giải quyết. Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướng giải quyết là hình thành một giải pháp.

    Việc tiếp theo là kiểm tra giải pháp có đúng hay không. Nếu giải pháp đúng thì đi đến kết thúc ngay. Nếu giải pháp sai thì lại phải bắt đầu từ bước phân tích vấn đề. Nếu có nhiều phương pháp đúng thì cũng có thể so sánh để chọn giải pháp tối ưu.

    Bước 3: Trình bày giải pháp

    -Khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, HS trình bày toµn bộ quá trình tiến hành dẫn đến giải pháp đúng.

    Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp

    – Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả.

    Dạy học Toán ở Tiểu học cũng đi theo 4 bước của Giáo sư Nguyễn Bá Kim:

    Bước 2: Phân tích bài toán

    Bước 3: Trình bày lời giải

    Bước 4: Mở rộng, nâng cao, phát triển lời giải của bài toán.

    Theo ®æi míi vÒ ph­ư¬ng ph¸p d¹y häc m”n To¸n ë TiÓu häc, qu¸ tr×nh d¹y häc ph¸t hiÖn vµ gi¶i quyÕt vÊn ®Ò gåm nh÷ng bư­íc sau:

    Bư­íc 3: X¸c ®Þnh l­îc ®å gi¶i quyÕt

    Bư­íc 4: TiÕn hµnh gi¶i quyÕt vÊn ®Ò, ®­a ra lêi gi¶i

    Bư­íc 5: Ph©n tÝch, khai th¸c lêi gi¶i

    Theo chúng tôi Vũ Hồng Tiến : cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau

    – Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

    – Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề.

    – Bước 2: HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề theo các cách khác nhau.

    Để minh hoạ qui trình 5 bước trên, chúng tôi xây dựng bài: 9 cộng với một số : 9 + 5 (SGK Toán lớp 2)

    Yêu cầu trọng tâm của tiết dạy này là:

    – Giúp HS hình thành bảng cộng 9

    – Rèn kỹ năng đặt tính theo cột dọc.

    Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề: GV đưa ph ép tính 9 + 5 = ?

    Và yêu cầu học sinh tìm kết quả.

    Bước 2: HS tự lực giải quyết vấn đề: Các phương án HS có thể đưa ra như sau:

    GV nhận xét kết quả của HS và cùng HS khẳng định 9 + 5 = 14 là đúng. Trong đó:

    * Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể được thực hiện qua 2 giai đoạn thông qua hoạt động của giáo viên và học sinh:

    (*) Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị

    + Xác định nội dung trọng tâm:

    + Phân tích và đưa ra tình huống có vấn đề:

    – Tình huống trong bài học này là:

    + Dự kiến các tình huống HS có thể đưa ra khi giải quyết vấn đề

    Các phương án giải quyết tình huống trên có thể là:

    + Đưa ra tình huống có vấn đề

    + Tổ chức hướng dẫn HS phát hiện ra vấn đề

    HS đưa ra các hướng suy nghĩ để GQVĐ.

    Nếu HS không tìm được cách GQVĐ thì GV có thể đưa ra câu hỏi gợi mở như sau:

    HS trình bày giải pháp theo các hướng suy nghĩ như trên để GQVĐ

    GV cho HS tự trình bày giải pháp của mình trước lớp. GV giải thích ưu, nhược điểm của các giải pháp, từ đó đưa ra kết luận.

    + Khái quát hoá, hệ thống hoá lại những tri thức mà HS đưa ra trong quá trình giải quyết vấn đề

    – So sánh với các phương pháp truyền thống thì PPDH này tạo điều kiện tốt hơn để đưa HS vào vị trí trung tâm nhằm hình thành và phát triển ở HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.

    – Giúp HS tích cực, tự giác, chủ động, hứng thú trong học tập → làm cho HS năng động, sáng tạo → hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.

    – Góp phần hình thành ở các em nếp nghĩ, làm việc sáng tạo, độc lập, sự nhanh nhạy và linh hoạt. Về lâu dài, hoạt động học tập sẽ hình thành ở HS những năng lực khác nhau, trong đó, có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.

    – Gợi nhu cầu nhận thức cho người học, kích thích sự ham mê khám phá của học sinh, đồng thời tạo điều kiện tạo cho học sinh niềm tin có thể giải quyết được vấn đề nếu các em nổ lực hoạt động. HS tập trung, chú ý hơn vào bài học, các em hăng say kiến tạo tri thức mới, lĩnh hội một cách chủ động, không bị áp đặt miÔn cưỡng. Do đó học sinh nhớ bài sâu và lâu hơn.

    – GV chủ động đưa ra tình huống dạy học, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học kết hợp với các phương pháp khác (vấn đáp, trực quan…), có thể thay đổi trật tự nội dung bài dạy.

    – Tất cả HS trong lớp đều phải tích cực hoạt động, tập trung tối đa để hoàn thành nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện thuận lợi cho GV bao quát lớp tốt hơn.

    – GV không phụ thuộc hoàn toàn vào SGK và sách hướng dẫn để truyền đạt kiến thức một cách cứng nhắc, khô khan.

    Bên cạnh một số ưu điểm và thuận lợi trên thì phương pháp này còn tồn tại có một số nhược điểm, khó khăn như sau:

    – GV phải đầu tư nhiều công sức để nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị bài dạy, đồ dùng dạy học.

    – GV phải đưa ra tình huống dạy học phù hợp ( nội dung dạy học, mục tiêu dạy học, thời gian ): nội dung tích hợp vừa phải, thời điểm đưa ra câu hỏi phải đúng lúc, lựa chọn câu hỏi mang tính tổng quát và câu hỏi mang tính gợi mở sao cho phù hợp.

    – GV không linh hoạt, chủ động trong từng tình huống cụ thể, GV khó kiểm soát được lớp học, và bị động trước những tình huống mà học sinh nêu ra dẫn đến tình trạng ” cháy giáo án”.

    – GV phải có khả năng điều khiển, tổ chức, dự kiến các tình huống có thể xảy ra, dự kiến được thời gian.

    Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề

    Giáo viên nêu bài toán : phép cộng 9 + 5?

    Bước 2 :Học sinh tự giải quyết vấn đề theo các c¸ch khac nhau

    a. Học sinh đếm các que tính, được 14 que tính

    b. Học sinh lấy 9 que tính thêm 1que tính là 10 que tính, 10 que tính thêm 4 que tính là 14 que tính.

    c. Học sinh đếm 9 que tính với 1 que tính là 10 que tính, 10 que tính thêm 1 que tính là 11 que tính…, 13 que tính thêm 1 que tính là 14 que tính

    • Giáo viên khuyến khích học sinh tìm ra kết quả và ghi nhớ 9 + 5 = 14
    • Giáo viên kết luận: Đưa ra cách tính như phương án thứ hai.

    Học sinh tự lập bảng cộng dạng 9 cộng với một số, chẳng hạn: 9 + 2, 9 + 3,…, 9 + 9.

    Kiểm tra lại toàn bộ kết quả của bảng cộng 9 cộng với một số (bằng cách gộp thành 1 chục và cộng với một số)

    SƯU TẦM TỪ WEB VIOLET CỦA CÔ GIÁO LÊ THỊ HẰNG

    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 13:03 09/11/2014

    Số lượt xem: 873

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Dạy Học Phát Triển Năng Lực Là Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Trong Trường Sư Phạm
  • Dạy Học Theo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Sự Biến Đổi Của Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Ở Nhật Bản
  • Quy Trình Giải Quyết Vấn Đề 8D

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Số Beta Là Gì. Ý Nghĩa Và Ứng Dụng Của Hệ Số Beta Trong Chứng Khoán
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 7902:2008 (Iso 15213 : 2003) Về Vi Sinh Vật Trong Thực Phẩm Và Thức Ăn Chăn Nuôi
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Nano Trong Điều Trị Xuất Tinh Sớm !
  • Nano Là Gì? Công Nghệ Nano Được Ứng Dụng Như Thế Nào Trong Đời Sống
  • Nano Là Gì? Tạo Ví Và Mua Bán Đồng Nano Coin Ở Đâu? Có Nên Đầu Tư?
  • Thực hiện theo 8 bước này để chẩn đoán, điều trị và loại bỏ vấn đề chất lượng.

    Khi công ty bạn vướng vào một vấn đề lớn, bạn cần giải quyết nó một cách nhanh chóng. Tuy nhiên bạn cũng cần giải quyết nó kỹ lưỡng và đảm bảo nó không tái diễn – và điều này có thể mất rất nhiều công sức và thời gian.

    Mô hình giải quyết vấn đề 8D giúp bạn làm cả những điều dường như mâu thuẫn, một cách chuyên nghiệp và kiểm soát. Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét quá trình giải quyết vấn đề 8D, và chúng ta sẽ thảo luận làm thế nào bạn có thể sử dụng nó để giúp đội nhóm giải quyết vấn đề lớn.

    Nguồn gốc của công cụ

    Công ty Ford Motor phát triển quá trình giải quyết vấn đề 8D (8 điều luật), và công bố nó năm 1987, “Team Oriented Problem Solving (TOPS).” Vào giữa những năm 90, , Ford bổ sung thêm một, D0: Kế hoạch. Quá trình hiện này là tiêu chuẩn toàn cầu của Ford, và được gọi là Global 8D.

    8 quy trình đó được thể hiện trong hình 1 bên dưới.

    Trước khi bạn bắt đầu thiết lập một đội để giải quyết vấn đề, bạn cần có kế hoạch tiếp cận. Điều này có nghĩa là suy nghĩ về những người sẽ có trong đội nhóm, khung thời gian của bạn, và tài nguyên mà nạn cần để giải quyết vấn đề.

    Bước 1: Xây dựng đội nhóm

    Bạn nên cố gắng thiết lập đội nhóm có những kỹ năng cần thiết để giải quyết vấn đề, và có thời gian và năng lượng để cam kết cho quá trình giải quyết vấn đề.

    Hãy nhớ rằng một nhóm đa dạng có khả năng cao hơn để tìm ra một giải pháp sáng tạo hơn là một đội ngũ những người có tầm nhìn như nhau (mặc dù, nếu tầm nhìn quá đa dạng, mọi người có thể mất thời gian để tranh luận dẫn đến không có gì được thực hiện).

    Thiết lập điều lệ đội, vạch ra mục tiêu đội nhóm và xác định vai trò của từng người. Sau đó, làm những gì bạn có thể để xây dựng lòng tin và để tất cả mọi người tham gia vào quá trình.

    Nếu nhóm của bạn được tạo thành từ các chuyên gia những người không làm việc với nhau trước đó, xem xét bắt đầu xây dựng hoạt động team-building để đảm bảo mọi người thấy thoải mái khi làm việc với nhau.

    Khi nhóm đã được thiết lập, mô tả vấn đề một cách chi tiết. Chỉ rõ ai, cái gì, khi nào, tại sao, như thế nào và bao nhiêu và sử dụng các kỹ thuật như CATWOE, quá trình xác định vấn đề đảm bảo bạn đang tập trung vào đúng vấn đề.

    Bắt đầu bằng cách thực hiện phân tích rủi ro – nếu vấn đề gây ra rủi ro nghiêm trọng, ví dụ, tới sức khỏe hay cuộc sống của mọi người, thì bạn cần phải có hành động thích hợp. (Nó có thể bao gồm việc dừng mọi người sử dụng sản phẩm họ tới khi vấn đề được giải quyết).

    Nếu vấn đề là với một quá trình, sử dụng Sơ đồ luồng, Sơ đồ làn bơi và Storyboard – Phân cảnh nội dung giúp các thành viên trong nhóm hiểu quá trình hoạt động như thế nào, và sau đó, suy nghĩ làm thế nào tốt nhất để sửa chữa nó.

    Xác định gốc rễ của vấn đề trong quá trình, sau đó mới giải quyết, vì vậy đừng lãng phí thời gian. Ngay bây giờ, mục tiêu của bạn là nhìn vào những điều đã sai, và đảm bảo nhóm hiểu được toàn bộ vấn đề.

    Bước 3: Thực hiện một bản sửa lỗi tạm thời

    Khi nhóm bạn hiểu được vấn đề, đưa ra một bản sửa chữa tạm thời. Điều này đặc biệt quan trọng nếu vấn đề đang ảnh hưởng tới khách hàng, chất lượng sản phẩm giảm, hoặc làm chậm quá trình làm việc.

    Khai thác kiến thức của mọi người trong nhóm. Đảm bảo ý tưởng của mỗi người đều được lắng nghe, xem xét sử dụng các kỹ thuật như Brainstorming , Động não vòng tròn , Phương pháp đóng góp ý kiến của Crawford cùng với đội nhóm thảo luận giải quyết vấn đề .

    Bước 4: Xác định và loại bỏ nguyên nhân gốc rễ

    Khi sửa chữa tạm thời, đó là thời gian để khám phá nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.

    Tiến hành phân tích nguyên nhân và tác động xác định nguyên nhân có thể có của vấn đề. Công cụ này rất hữu ích vì nó giúp bạn phát hiện ra nhiều nguyên nhân có thể có, và nó làm nổi bật các vấn đề khác mà bạn có thể chưa biết. Tiếp theo, áp dụng phân tích gốc rễ vấn đề tìm ra căn nguyên của vấn đề mà bạn đã xác định.

    Một khi bạn xác định được gốc rễ vấn đề, phát triển một số giải pháp lâu dài cho nó.

    Bước 5: Xác minh giải pháp

    Khi nhóm bạn đồng ý về một giải pháp lâu dài, hãy chắc chắn bạn kiểm tra kỹ trước khi thực hiện, trong các bước tiếp theo.

    • Tiến hành phân tích FMEA tìm ra vấn đề tiềm ẩn.
    • Sử dụng phân tích tác động để đảm bảo không có hậu quả không mong muốn trong tương lai.
    • Sử dụng 6 chiếc mũ tư duy kiểm tra sửa chữa từ nhiều quan điểm khác nhau về quan điểm.

    Cuối cùng, tiến hành phânt ích điểm mù để xác nhận bạn, và nhóm bạn không bỏ qua yếu tố quan trọng nào, hoặc đưa ra giả định không chính xác về giải pháp này.

    Bước 6: Thực hiện một giải pháp vĩnh viễn

    Khi nhóm đạt đến sự đồng thuận về giải pháp, hãy thực hiện. Giám sát chặt chẽ giải pháp mới này với một thời gian thích hợp để đảm bảo rằng nó hoạt động một cách chính xác và đảm bảo không có tác dụng phụ không mong muốn.

    Bước 7: Ngăn chặn vấn đề tái diễn

    Khi bạn chắc chắn rằng giải pháp lâu dài đã giải quyết được vấn đề, tập hợp nhóm lại với nhau một lần nữa để xác định cách thức ngăn chặn các vấn đề xảy ra trong tương lai.

    Bạn có thể cần phải cập nhật các tiêu chuẩn, chính sách, thủ tục, hoặc đào tạo để phản ảnh sửa chữa mới. Bạn có thể cũng cần đào tạo người khác quy trình hoặc tiêu chuẩn mới. Cuối cùng, bạn sẽ cần phải xem xét có nên thay đổi phương thức quản lý của mình hoặc các thủ tục để ngăn ngừa tái phát.

    Bước 8: Ăn mừng thành công đội nhóm

    Trước khi nhóm tan rã, tiến hành dánh giá xem giải pháp của bạn có hoạt động như bạn nghĩ, và để cải thiện giải quyết vấn đề trong tương lai.

    Vào cuối những năm 1980, công ty Ford Motor phát triển quá trình giải quyết vấn đề 8D(8 điều luật) để giúp đội sản xuất và kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và loại bỏ các vấn đề chất lượng. Tuy nhiên, các đội trong bất cứ ngành nào cũng có thể sử dụng quy trình giải quyết vấn đề này.

    Nó bao gồm:

    Quá trình giả quyết vấn đề 8D tốt nhất nên được sử dụng với đội nhóm giải quyết vấn đề phức tạp; Tuy nhiên, cá nhân cũng có thể sử dụng nó để giải quyết những vấn đề của riêng họ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Nipt Là Gì? Phương Pháp Sàng Lọc Dị Tật Trước Sinh Hiệu Quả Cao
  • Xét Nghiệm Nipt Là Gì Và Những Ưu Điểm Khi Thực Hiện
  • Nlp Là Gì? Lợi Ích Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy Nlp Đem Lại
  • Mbo Là Gì? Cách Doanh Nghiệp Hiện Thực Mô Hình Quản Trị Của Mình
  • Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Đánh Giá Hoạt Tính Sinh Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên
  • Thực Trạng Sử Dụng Mạng Xã Hội Facebook Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Livestream Bán Hàng Trên Facebook Hiệu Quả Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Live Stream Facebook Là Gì ? Cách Live Stream Facebook
  • 20+ Thuật Ngữ Trên Facebook Mà Người Làm Facebook Ads Phải Nắm Rõ
  • 50+ Thuật Ngữ Cơ Bản Về Quảng Cáo Facebook Mà Ai Cũng Phải Biết
  • Bạn Có Biết: Các Bài Đăng Facebook Tiết Lộ Phần Lớn Tính Cách Người Dùng!
  • Mạng xã hội Facebook ra đời năm 2004 và có mặt ở Việt Nam vào năm 2009, hiện tại nước ta có lượng người dùng Facebook cao thứ 7 thế giới. Cùng TDFOSS tìm hiểu về thực trạng sử dụng và tầm ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook đối với chúng ta như thế nào trong bài viết sau.

    1. Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook

    Facebook là một dịch vụ mạng xã hội truy cập miễn phí do Mark Zuckerberg sáng lập. Mục đích của mạng xã hội này là để người dùng có thể tham gia mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho người khác cũng như người dùng có thể cập nhật hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè. Thêm một đặc tính nổi bật của Facebook chính là người dùng có thể cập nhật trạng thái và bộc lộ suy nghĩ của mình. Chính những đặc điểm trên khiến Facebook trở thành mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay. 

    Năm 2022, người dùng Internet ở Việt Nam đạt 33.86 triệu người, tăng 6.9% so với năm 2022. Dự đoán đến năm 2022, ở Việt Nam sẽ có khoảng 40.55 triệu người dùng Facebook. Tính đến quý 2 năm 2022, có hơn 2 tỷ lượt truy cập Facebook mỗi ngày. Việt Nam hiện đang xếp thứ 7 trong số các quốc gia có lượng người dùng lớn nhất. Tính chung về mảng mạng xã hội, Việt Nam có khoảng 40% người dùng, phân bổ chủ yếu là ở giới trẻ và ngày càng đa dạng về đối tượng và lượng người sử dụng. Vào tháng 5/2019 Việt Nam có 57,43% cư dân sử dụng Facebook (Theo báo cáo của Social Media Stats).

    Việt Nam nằm trong TOP 7 về lượng người sử dụng Facebook (Nguồn: Báo Dân Trí 04/2018)

    Có thể nói, mạng xã hội Facebook ra đời là một trong những bước tiến của các phương tiện truyền thông mới, bởi thực sự nó đã mang đến nhiều tiện ích, đáp ứng nhu cầu, mục đích vô cùng đa dạng của mỗi cá nhân: từ công việc, học tập, kinh doanh và đặc biệt là khả năng mở rộng và thiết lập các mạng lưới giao tiếp một cách nhanh chóng mà không bị giới hạn về không gian và thời gian với chi phí rẻ nhất. Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng trở thành một kênh giải trí hoàn hảo khi trở thành nơi lý tưởng để giới trẻ giải tỏa áp lực trước những vấn đề mà họ phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Trước hàng loạt tiện ích, mạng xã hội dường như đang trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật của thanh thiếu niên.

    Mặc dù sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến bộ phận này đang được nhìn nhận theo nhiều chiều hướng khác nhau, song dù thế nào cũng cần thừa nhận những bước tiến khả quan của các trang mạng xã hội ở Việt Nam với số lượng người sử dụng có thể tiếp tục gia tăng trong tương lai.

    2. Tìm hiểu lợi ích và tác hại từ mạng xã hội Facebook

    Lợi ích của mạng xã hội facebook là gì?

    • Giúp bạn kết nối mọi người: Với mạng xã hội facebook, bạn có thể dễ dàng làm quen với nhiều người. Với tính năng chat miễn phí và không giới hạn thì đây là một công cụ giúp bạn có thể trò chuyện và tán gẫu một cách thuận tiện nhất.Đây cũng là công cụ giúp bạn liên lạc với bạn bè của bạn ngay cả khi bạn không có thời gian gặp gỡ họ.

    Giao tiếp qua mạng xã hội

    • Cập nhập thông tin nhanh chóng: Đây được đánh giá là tính năng “hấp dẫn” người dùng của facebook.Với facebook, bạn có thể nắm bắt thông tin xã hội vô cùng nhanh chóng, và theo xu hướng phát triển của xã hội.

    • Facebook là công cụ giải trí hữu ích: Cụ thể, Facebook xuất hiện hàng trăm những video hài hước của các nước trên thế giới, hàng ngàn những bức ảnh vui nhộn đầy sáng tạo của các bạn trẻ và hàng nghìn những đoạn phim cắt ra từ những tác phẩm điện ảnh kinh điển… có tác dụng giải trí cao. Ứng dụng này cũng là kho trò chơi khổng lồ đầy hấp dẫn được cập nhật thường xuyên, bạn có thể tha hồ lựa chọn.

    • Địa điểm kinh doanh, mua bán lý tưởng: Những năm gần đây, facebook được xem là “mảnh đất màu mỡ” để những người thích kinh doanh có thể rao bán những mặt hàng của mình. Bên cạnh đó, người mua hàng cũng sẽ rất thuận tiện khi chỉ cần ngồi nhà, chọn một mặt hàng trên Facebook và đợi người ta chuyển hàng đến chứ không cần phải mất công đi lựa chọn ở những cửa hàng xa xôi.

    • Phương tiện giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn: Facebook cũng là nơi bồi dưỡng tâm hồn, đời sống tình cảm của con người. Đây là nơi tập trung những thước phim cảm động đầy giá trị nhân sinh, những câu chuyện cảm động về tình người và cả những hình ảnh khơi gợi lên những cảm xúc tốt đẹp nhất về tình yêu, tình thương với căm ghét, lòng căm phẫn với cái xấu xa bạo ngược…

    Những tác hại từ mạng xã hội Facebook

    Bên cạnh lợi ích thì facebook cũng tồn tại nhiều hạn chế cụ thể như sau:

    • Giảm tương tác giữa người với người: Hiện nay, nghiện mạng xã hội đang là thực trạng phổ biến, khiến nhiều người dùng dành ít thời gian cho người thật việc thật ở quanh mình. Bên cạnh đó, nó cũng khiến bạn buồn phiền khi bạn coi trọng bạn bè “ảo” hơn cuộc sống thực. Dần dà, làm giảm tương tác giữa người với người trong đời sống thực tế.

    • Làm mọi điều chỉ để gây chú ý: Có thể thấy, việc đăng những status mơ hồ nhầm “câu like” và view không còn là chuyện lạ, song nó thực sự khiến người khác phát bực nếu quá thường xuyên. Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng góp phần tăng sự ganh đua, sự cạnh tranh không ngừng nghỉ để tìm like và notification sẽ cướp đi đáng kể quỹ thời gian của bạn.

    • Facebook làm xao nhãng mục tiêu cá nhân: Việc quá chú tâm vào mạng xã hội dễ dàng làm người ta quên đi mục tiêu thực sự của cuộc sống. Thay vì tìm kiếm công việc trong tương lai bằng cách học hỏi những kĩ năng cần thiết, các bạn chỉ cắm đầu vào mạng xã hội.

    • Tăng nguy cơ trầm cảm: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy,  những người sử dụng mạng xã hội càng nhiều thì càng cảm thấy tiêu cực hơn, thậm chí có thể dẫn đến trầm cảm. Chính vì thế, nếu bạn có biểu hiện thường xuyên cảm thấy mất tinh thần, có lẽ đã đến lúc tạm biệt Facebook trong một thời gian.

    • Giết chết sự sáng tạo: Mạng xã hội cũng có thể làm tê liệt và giết chết quá trình sáng tạo. Quá trình lướt những trang mạng xã hội có tác động làm tê liệt não bộ tương tự như khi xem tivi trong vô thức. Trong thời gian dài, có thể gây ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người dùng.

    Sử dụng Facebook quá nhiều cũng gây “nghiện”

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạng Xã Hội Facebook Phương Tiện Hữu Ích Hỗ Trợ Hoạt Động Của Các Cơ Quan Thông Tin
  • Tìm Hiểu Cách Sử Dụng Facebook Watch
  • Facebook Là Gì Và Cách Sử Dụng Để Có Được Hiệu Quả
  • Facebook Cho Những Người Mới Bắt Đầu
  • Các Bước Thiết Lập Và Chạy Quảng Cáo Facebook Ads Cơ Bản Nhất
  • Cách Giải Quyết Vấn Đề Khi Làm Sữa Chua Mà Bạn Nên Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Ăn Yến Mạch Giảm Cân Đúng Cách Để Nhanh Lấy Lại Được Vóc Dáng Đáng Mơ Ước
  • Giảm Cân Bằng Yến Mạch Chi Tiết Nhất[A
  • Giảm Nhanh 8Kg/2 Tuần Với Chế Độ Ăn Yến Mạch Giảm Cân
  • Cách Giảm Cân Bằng Yến Mạch Và Khoai Lang Trong 1 Tuần
  • Thực Đơn Và Cách Giảm Cân Với Bột Yến Mạch Khiến Ai Cũng Thèm Muốn
  • là một loại thức ăn rất tốt cho cơ thể và cũng rất thơm ngon. Sữa chua có vị chua chua ở đầu lưỡi và hàm lượng chất dinh dưỡng cũng như các vi khuẩn có lợi cao. Cách để làm không khó, nó rất dễ đối với bất kì ai. Nhưng thực sự là có rất nhiều bạn thắc mắc tại sao bạn ấy làm 2 lần sữa chua vẫn hỏng có bạn làm 5-6 lần mà vẫn không dùng được mặc dù đã thử qua rất nhiều loại men sữa tươi khác nhau. Chính vì vậy mà hôm nay Wikicachlam sẽ chỉ ra các vấn đề bạn thường mắc phải khi làm sữa chua tại nhà và hướng dẫn bạn cách giải quyết các vấn đề này một cách triệt để nhất.

    Cách giải quyết vấn đề khi làm sữa chua mà bạn nên biết

    Khi nhìn bên ngoài thấy sữa rất đặc, có thể dốc ngược mà không hề hấn gì. Nhưng khi xúc vào trong thì cảm giác như sữa dính lằng nhằng với nhau, giống như lòng trắng trứng vậy. Khi múc lên, miếng sữa cũng không tách rời ra được mà có một phần kéo theo. Sữa chua bị nhớt cũng khác với sữa chua dẻo mềm, sữa chua dẻo mềm có thể hơi dính nhưng khi dùng thìa xúc vẫn tạo ra được miếng gọn gàng.

    Men chưa hết lạnh và không được trộn vào sữa đúng cách.

    Sữa chua dùng làm men cần được để hết lạnh hoàn toàn và chuyển về trạng thái lỏng chứ không cứng đặc như khi còn trong tủ lạnh. Việc này sẽ giúp cho khâu trộn sữa chua men với phần sữa còn lại dễ dàng hơn và giúp cho vi khuẩn men không bị “sốc” nhiệt khi chuyển từ môi trường lạnh đến môi trường ấm.

    Nếu sữa chưa hết lạnh hoàn toàn thì khi trộn sẽ dễ có các “vụn” sữa chua không tan hết. Đặc biệt nếu dùng nhiều sữa chua làm men cái thì việc này càng dễ gặp phải hơn. Ngoài ra, nếu sữa chua không lỏng hoàn toàn, khi trộn sẽ có thể phải quấy mạnh tay, cũng làm ảnh hưởng tới hoạt động của men.

    Ủ quá lâu ở nhiệt độ không ổn định (thấp hơn mức cần thiết)

    Men hoạt động tốt nhất ở khoảng 40 – 44 độ C. Nên nếu giữ được nhiệt độ của sữa trong khoảng này thì sau khoảng 4h là sữa đã có thể đông chắc lại rồi. Nếu bỏ mặc sữa qua đêm thì thường là sữa bị nhớt hoặc lỏng hoàn toàn.

    Sữa nhiễm khuẩn trong quá trình lên men

    Mặc dù dụng cụ đã được khử trùng nhưng nếu môi trường ủ không sạch, thì sau khoảng 6 – 10h ủ, sữa vẫn có thể nhiễm khuẩn từ môi trường ủ và bị nhớt.

    Do loại men và hàm lượng Protein trong sữa

    Nên dùng sữa có Protein cao một chút (hoặc thêm sữa bột), sẽ hạn chế được hiện tượng nhớt hơn.

    Sữa chua có vị bột hoặc nhám

    Sử dụng sữa bột

    Các bạn cần đảm bảo sữa bột được quấy tan hoàn toàn trong hỗn hợp sữa lỏng

    Sữa bị lay động nhiều hoặc lay động

    Các bạn hạn chế đặt sữa đang ủ ở nơi dễ bị rung lắc

    Trộn men cái với sữa không đều

    Sữa tươi có hàm lượng kháng sinh hơi cao

    Kháng sinh này ức chế men trong sữa, hạn chế hoạt động của men. Nên sản phẩm sữa chua làm từ sữa tươi loại này sẽ kém mịn mượt, có thời gian lên men dài hơn và dễ tách nước.

    Trên bề mặt sữa chua có thể có một lớp nước màu vàng nhạt. Lớp nước này là hoàn toàn bình thường và cũng có chứa nhiều chất dinh dưỡng, có thể uống được nên không nhất thiết phải đổ đi.

    Nhiệt độ ủ hơi cao quá

    Sữa bị lay động nhiều hoặc lay động

    Có sự xê dịch, lay động, quấy đảo sữa trong quá trình ủ (thường nước đi kèm với sữa chua bị vữa)

    Sữa tươi có hàm lượng kháng sinh hơi cao

    Như trên đã nói

    Nếu sữa đông đặc mịn nhưng không đủ chua thì các bạn có thể tăng thời gian ủ. Thông thường thì mình ủ trong khoảng 4 – 6h nếu muốn ăn ngọt nhiều và 6 – 7h nếu muốn vị chua rõ hơn.

    Sữa chua không đông (và không chua)

    Do chất lượng men

    Men cũ, ít vi khuẩn men hoặc vi khuẩn men hoạt động yếu.

    Do chất lượng sữa

    Sữa có dư lượng kháng sinh cao làm ảnh hưởng đến men.

    Do nhiệt độ ủ hoặc nhiệt độ sữa quá cao làm chết men

    Sữa chua lỏng nhưng chua nhiều, có thể bị nhớt

    Protein trong sữa thấp

    Nhiệt độ ủ không ổn định, ủ quá lâu

    Một số cách làm sữa chua: Wiki Cách Làm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập 15 Áng Thơ Tình Hay Nhất Của “ông Hoàng Thơ Tình” Xuân Diệu
  • Nhà Thơ Xuân Diệu: Thơ Tình Hay Vì Yêu Thật, Sống Thật
  • Cách Khắc Phục Tivi Sony Không Kết Nối Được Internet
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Tivi Sony 43W800C Không Kết Nối Được Wifi
  • Tivi Không Kết Nối Được Wifi: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục
  • Phương Pháp Dạy Học “Nêu Giải Quyết Vấn Đề”

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp “Phương Pháp Dạy Và Học Ngoại Ngữ Hiệu Quả”
  • Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ
  • Dạy Học Theo Định Hướng Nghiên Cứu Bài Học Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học : Trường Thcs Quảng Hợp
  • Tổng Hợp Các Giải Pháp, Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả
  • Seminar: “Vận Dụng Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non”
  • Phương pháp dạy học Nêu và giải quyết vấn đề có tính

    chất nghiên cứu: Đây là phương pháp mà tình huống có vấn đề do giảng viên

    tạo ra hoặc do người học chủ động tạo ra nhưng quá trình giải quyết vấn đề là

    hoàn toàn do người học độc lập thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

    Trong các phương pháp nêu trên, phương pháp thuyết trình nêu vấn đề và

    phương pháp tìm tòi bộ phận được đánh giá là phù hợp với người học trình độ

    sơ cấp và trung cấp nghề. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, với một mục tiêu và

    nội dung phù hợp thì chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng phương pháp dạy

    học Nêu và giải quyết vấn đề có tính chất nghiên cứu cho đối tượng học viên

    học nghề mà cụ thể là dưới hình thức tiếp cận dạy học theo dự án đang được

    thử nghiệm và thực hiện trong thời gian gần đây.

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 1

    PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC

    “NÊU GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ”

    A. Dẫn nhập:

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn

    diện giáo dục và đào tạo đã nêu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy

    và học theo hướng hiện đại phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận

    dụng kiến thức, kỹ năng của người học khắc phục lối truyền thụ áp đặt một

    chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự

    học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát

    triển năng lực…”.

    Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích

    cực, chủ động sáng tạo của người học đã được đặt ra, và là định hướng quan

    trọng về cải cách giáo dục của nước ta hiện nay. Dưới làn sóng đó, yêu cầu

    cấp thiết đặt ra là giáo dục phải đào tạo ra những con người năng động và

    sáng tạo, có tính thích nghi cao đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã

    hội. Với phương châm “dạy học lấy người học làm trung tâm”, bao gồm

    nhiều phương pháp dạy học khác nhau như: Phương pháp dạy học chương

    trình hóa, phương pháp dạy hợp tác, dạy học khám phá, dạy học theo dự án…

    Trong đó, phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” là một

    trong những phương pháp dạy học phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục

    nước ta hiện nay. Mặc dù, dạy học không đơn thuần là truyền thụ kiến thức

    mà là một quá trình trong đó người lĩnh hội, tự kiến tạo những kỹ năng, tri

    thức cần thiết cho cuộc sống của mình, nhằm đáp ứng những thách thức của

    cuộc sống mà người học sẽ đối diện. Việc áp dụng phương pháp dạy học

    “Nêu và giải quyết vấn đề” sẽ giúp cho người học chủ động, tích cực hơn

    trong việc học cũng như trong cuộc sống tương lai.

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 2

    B. Nội dung:

    1. Một số khái niệm đƣợc dùng trong phƣơng pháp dạy học “Nêu

    và giải quyết vấn đề”:

    Khái niệm vấn đề:

    Theo chúng tôi lence: “Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay đặt ra cho chủ thể

    mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải, nhưng

    chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu sử dụng thích hợp vào việc tìm

    tòi đáp án”.

    Theo quan niệm của V-okon, vấn đề trong học tập có một số nét đặc

    trưng như: vấn đề đặt ra phải tương đối hấp dẫn, có tính tự nhiên, gần gũi

    với cuộc sống của người học. Như thế, vấn đề sẽ có khả năng kích thích thính

    tích cực của người tham gia vào giải quyết vấn đề đó; Vấn đề phải bao hàm

    trong đó một khó khăn lớn cần giải quyết. Cảm giác thấy khó khăn là điểm

    xuất phát để đặt các vấn đề và nêu lên các giả thuyết; Vấn đề còn hàm chứa

    trong nó tính cơ động – đó là sự chuyển tiếp một cách tự nhiên từ giả thuyết

    này sang giả thuyết khác, hay sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn

    khác để đi đến kết quả giải quyết được vấn đề. Vì vậy, theo ông: “vấn đề

    trong học tập hình thành từ một khó khăn về lý luận hay thực tiễn mà việc giải

    quyết khó khăn đó là kết quả của tính tích cực nghiên cứu của bản thân học

    sinh” . Vấn đề đặt ra phải có một cái gì đó chưa biết vì nếu biết tất cả thì sẽ

    không còn gì để suy nghĩ, tìm kiếm. Đồng thời, vấn đề phải có cái gì đã biết

    hay đã có vì nếu không cho gì thì sẽ không thể nhận thức được điều gì cả.

    Cuối cùng, trong mỗi vấn đề phải có điều kiện quy định mối liên hệ giữa các

    nhân tố đã biết với các nhân tố chưa biết tạo điều kiện cho người học tháo gỡ

    được vấn đề.

    Khái niệm tình huống có vấn đề

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 3

    Tình huống có vấn đề đó chính là mâu thuẫn nhận thức giữa “cái đã

    biết” (kinh nghiệm, tri thức và cách thức hành động đã biết của chủ thể để tự

    tìm kiếm tri thức với sự nỗ lực lớn về trí tuệ và thể lực) và “cái chưa biết”

    (những tri thức những cách thức hành động trong nội dung dạy học mà chủ

    thể chưa biết, cần phải tìm tòi và đạt tới). Mâu thuẫn này phải vừa sức với

    người học để với sự nổ lực cao về cả trí tuệ và ý chí người học có thể giải

    quyết mâu thuẫn, tháo gỡ được khó khăn và tạo được sự thoải mái, phấn khởi

    khi đã giải quyết nhiệm vụ. Nếu khó khăn đề ra quá dễ hoặc quá khó thì ít có

    khả năng làm xuất hiện nhu cầu nhận thức ở người học (trạng thái tâm lý của

    nhận thức) và như thế tình huống có vấn đề sẽ mất đi giá trị của nó.

    Cơ chế phát sinh tình huống có vấn đề trong dạy học giải quyết vấn đề:

    “Hoạt động nhận thức – học tập của học viên là hoạt động có đối tượng Bản

    thân sự tồn tại của bài toán oristic chưa làm nó trở thành đối tượng của hoạt

    đông nhận thức của sinh viên trên giảng đường. Nó chỉ trở thành đối tượng

    của hoạt động này chừng nào nó làm xuât hiện trong ý thức của sinh viên một

    mâu thuẫn nhận thức tự giác, một nhu cầu bên trong muốn giải quyết mâu

    thuẫn đó (tức là bài toán). Như vậy, bài toán mà giáo viên đưa ra luôn chứa

    đựng mâu thuẫn. Nhưng mâu thuẫn này tồn tại một cách khách quan đối với

    người học. Chỉ khi nào người học tiếp nhận bài toán, thấy mâu thuẫn và có

    nhu cầu giải quyết mâu thuẫn của bài toán thì khi đó người học mới là chủ thể

    của hoạt động nhận thức mà bài toán là đối tượng. Khi ấy, tình huống có vấn

    đề mới xuất hiện và tồn tại trong ý thức của người học.

    Phân loại tình huống có vấn đề, trong dạy học thường có những loại

    tình huống có vấn đề sau:

    + Tình huống nghịch lý: Đó là tình huống thoạt nhìn tưởng như vô lý,

    đi ngược lại những lý thuyết đã được công nhận chung. Đối với người học,

    tình huống này được tạo ra bằng cách giới thiệu những sự kiện, hiện tượng

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 4

    trái với quan điểm thông thường, với kinh nghiệm của cá nhân họ. Việc giải

    quyết những tình huống này có thể đem lại một lý thuyết mới, phế bỏ những

    lý thuyết lỗi thời.

    + Tình huống lựa chọn: Đó là tình huống xuất hiện khi người học đứng

    trước nhiều phương án giải quyết, phương án nào cũng có lý. Nhưng chỉ có

    thể lựa chọn một phương án duy nhất mà thôi.

    + Tình huống bác bỏ: Đó là tình huống đặt ra khi người học đứng trước

    một kết luận, một luận đề sai lầm, phản khoa học. Nhiệm vụ của người học là

    đưa ra những luận chứng để bác bỏ chúng.

    + Tình huống tại sao: Là tình huống trong đó có những sự kiện, hiện

    tượng mà với kinh nghiệm cũ người học không thể giải quyết và luôn thốt ra

    câu hỏi “Tại sao”. Trong dạy học, tình huống này rất phổ biến và hiệu

    nghiệm.

    Dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề”:

    Dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” là một phân hệ của phương pháp

    dạy học vì nó tập hợp nhiều phương pháp cụ thể thành một chỉnh thể nhằm

    đạt mục đích sư phạm, là tổ chức hoạt động nhận thức sáng tạo của người

    học, trên cơ sở vừa tiếp thu được kiến thức vừa hình thành được những kinh

    nghiệp kỹ năng trên cơ sở tìm tòi nghiên cứu. Trong dạy học “Nêu và giải

    quyết vấn đề”, có đặc trưng là đặt người học tình huống có vấn đề, mà một

    tình huống có vấn đề đối với người học khi nó chứa đựng vấn đề chưa biết,

    phù hợp với nhu cầu, khả năng vốn có của cá nhân đó và khi giải quyết được

    vấn đề, cá nhân đạt được một bước phát triển mới. Như vậy, phương pháp dạy

    học “Nêu và giải quyết vấn đề” được xây dựng dựa trên bản chất của hoạt

    động dạy học, xem hoạt động dạy học là một quá trình nhận thức tích cực.

    Ngoài ra, phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” còn được xây

    dựng “trên nguyên tắc tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của người học

    trong giáo dục bời vì nó khêu gợi được động cơ học tập”.

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 5

    2. Đặc điểm, bản chất của phƣơng pháp dạy học “Nêu và giải quyết

    vấn đề”:

    Phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” là một hệ thống

    phương pháp trong đó xây dựng tình huống có vấn đề là trung tâm chỉ đạo,

    liên kết các phương pháp khác thành một hệ thống chặc chẽ.

    Mục đích của Phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” không

    chỉ là giúp người học có được tri thức mới mà còn thông qua quá trình giải

    quyết vấn đề để rèn cho người học năng lực giải quyết vấn đề, tinh thần sáng

    tạo, tự học.

    Phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” được thực hiện theo

    hướng quy nạp, nghĩa là nội dung được tiếp cận thông qua quá trình giải

    quyết vấn đề thay vì giải quyết vấn đề sau khi đã giới thiệu nội dung.

    Trong phương pháp dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” có tác dụng

    tích cực hóa hoạt động của người học. Đặt người học vào trong tình huống có

    vấn đề, thúc đẩy người học sẵn sàng hoạt động một cách tự giác, tích cực, có

    động cơ, có mục đích và khi vấn đề được giải quyết, người học có được niềm

    vui và động lực mới cho những lần học sau.

    3. Cấu trúc của dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề”:

    “Một phương pháp dạy học chỉ có khả năng bồi dưỡng những phẩm

    chất của tư duy khi nó thực sự phát động, thúc đẩy sự suy nghĩ tích cực của

    người học và dẫn dắt sự suy nghĩ ấy theo con đường ngắn nhất, hợp lý nhất,

    để đạt tới kiến thức và kỹ năng”. Dạy học giải quyết vấn đề là một phương

    pháp như vậy.

    Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu về tư duy, người học đứng

    trước tình huống có vấn đề, người học sẽ băn khoăn suy nghĩ, tìm cách giải

    quyết nhưng lại chưa biết suy nghĩ bắt đầu từ đâu, theo phương hướng nào.

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 6

    Ở đây phải có một bước tiến lên mang chất lượng mới: ý thức được

    (Hoặc biểu đạt được) vấn đề, thường thể hiện ra ở chỗ “đặt được câu hỏi”

    hoặc “nêu được thắc mắc” (trong nghiên cứu là xác định được đề tài khoa

    học). Nếu thiếu khả năng hoặc thiếu kiến thức cần thiết, chúng ta sẽ không ý

    thức được vấn đề, không đặt được câu hỏi hoặc đặt câu hỏi vụng về. Lúc đó

    người người dạy cần giúp đỡ ngưởi học bằng cách nêu câu hỏi hoặc gợi ý cho

    người học nêu lên những thắc mắc cần thiết. Vậy, học sinh đi từ chỗ biết “ở

    đây có điều mình chưa biết” đến chỗ thấy rõ “mình chưa biết cái gì?” và tư

    duy thực sự diễn ra.

    Hình 1 bên dưới cũng có thể xem như là cấu trúc của dạy học nêu và

    giải quyết vấn đề theo quan điểm của V-okon. Và bởi lẻ đây là sơ đồ của một

    quá trình tư duy trọn vẹn nên đây cũng là cơ sở cho cách phân chia các giai

    đoạn của dạy học nêu và giải quyết vấn đề.

    Cũng theo V-okon, nếu tóm tắt dưới hình thức sơ đồ thì một quá trình

    tư duy trọn vẹn sẽ bao gồm các khâu như sau:

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 7

    – Băn khoăn, thắc mắc, ý thức được

    là có vấn đề cần giải quyết.

    – Ý thức được vấn đề: Đâu lả cái cần

    biết.

    – Gợi lại các kinh nghiệm và tri thức

    đã có, đối chiếu với câu hỏi.

    – Gợi lại những nguyên tắc tổng quát

    đã biết để giải quyết vấn đề, đối

    chiếu với câu hỏi

    – Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,

    trừu tượng hóa.những kiến thức đã

    được gợi lại, cả những câu hỏi đặt ra

    nhằm tìm ra trong đó những quan hệ

    mới, đáp ứng đúng câu hỏi(dưới

    dạng ban đầu hoặc dưới dạng đã biến

    đổi nhờ các thao tác tư duy)

    – Thoải mái, phấn khởi vì đã giải

    quyết xong vấn đề, đạt tới tri thức

    mới.

    Hình 1: Cấu trúc Dạy học “nêu và giải quyết vấn đề”

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 8

    4. Giai đoạn thực hiện/Quy trình dạy học “Nêu và giải quyết vấn

    đề”:

    Ở đây, chúng ta có thể chia quy trình dạy học giải quyết vấn đề thành

    3 giai đoạn:

    4.1 Giai đoạn 1: Đặt vấn đề/Nêu vấn đề

    Ở giai đoạn này, người dạy giao nhiệm vụ nhận thức thông qua việc

    làm xuất hiện tình huống vấn đề, phân tích tình huống đặt ra nhằm giúp người

    học nhận biết được vấn đề, sẵn sàng và mong muốn tham gia giải quyết vấn

    đề. Với sự dẫn dắt của người dạy, giai đoạn này có thể thực hiện theo 2 bước:

    Bước 1: Giới thiệu tình huống có vấn đề

    Tùy vào tình huống có vấn đề được nêu ra mà chúng ta có thể sử dụng

    nhiều cách thức khác nhau để giới thiệu nó như kể một câu chuyện, xem một

    đoạn video, đưa ra một câu hỏi, sử dụng tình huống thực tế xảy ra trong cuộc

    sốngchứa đựng vấn đề người dạy dự định trước đó. Tuy nhiên, việc lựa

    chọn cách thức giới thiệu phải hết sức thận trọng, không làm mất thời gian và

    gây sự nhầm lẫn ở người học, khiến người học khó tiếp cận vấn đề nêu ra.

    Bước 2: Làm sáng tỏ vấn đề

    Mục đích của bước này là giúp người học nhận diện được vấn đề tồn

    tại trong tình huống. Trong thực tế dạy học, rất ít khi tất cả người học có thể

    nhận ra vấn đề ngay sau khi tình huống được đưa ra. Lúc đó, người dạy sẽ sử

    người học. Theo đó, có hai dạng câu hỏi được đề cập. Một là, những câu hỏi

    gợi lại dấu hiệu đã biết trong tình huống. Hai là, những câu hỏi giúp người

    học xác định điều mà chúng cần biết thêm.

    Cùng với việc giới thiệu tình huống có vấn đề và làm sáng tỏ vấn đề thì

    việc kích thích hứng thú nhận thức ở người học cũng là điều hết sức quan

    trọng trong giai đoạn này. Muốn vậy, hình thức giới thiệu phải lôi cuốn và sau

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 9

    khi đứa người học nhận diện được vấn đề thì cần làm cho chúng hiểu được

    đó là vấn đề mà việc giải quyết nó là hêt sức cần thiết với chính người học.

    4.2 Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề

    Sau khi nắm bắt vấn đề, tiếp nhận nhiệm vụ nhận thức thì người học

    quyết vấn đề sau đó lựa chọn cách giải quyết và lên kế hoạch thực hiện nó.

    Giai đoạn này có thể thực hiện theo các bước:

    Bước 1: Đề xuất các ý tưởng, giả thuyết.

    cần), các nhóm sẽ đưa ra ý tưởng và giả thuyết về vấn đề. Tại thời điểm này,

    ý tưởng và giả thuyết chưa được kiểm chứng, chưa có căn cứ chắc chắn.

    Bước 2: Xác định các kiến thức cần cho việc giải quyết vấn đề.

    Dựa trên các ý tưởng, giả thuyết đã nêu ra trong bước 1, người học sẽ

    liệt kê các kiến thức cần có để kiểm chứng đồng thời xác định kiến thức nào

    này, vai trò của người dạy là hết sức quan trọng trong việc định hướng cho

    người học tự xác định chính xác nội dung cần nghiên cứu.

    Sau khi xác định đâu là những kiến thức mình cần có thêm để giải

    quyết vấn đề thì người học sẽ có định hướng về các nguồn thông tin cần tham

    khảo. Đó có thể là giáo trình, tài liệu học tập và các thông tin trên internet, sự

    tham vấn của người dạy, các chuyên gia và bạn bè cùng họcỞ bước này,

    người học có thể chia nhóm, phân chia các nội dung cần nghiên cứu và sau

    hóa kiến thức mới nhận được. Điều này đảm bảo cho tất cả các thành viên

    hiểu được nội dung kiến thức mới từ đó biết được ý nghĩa của nó trong việc

    đánh giá các ý tưởng, giả thuyết.

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 10

    Bước 4: Kiểm nghiệm, đánh giá ý tưởng, giả thuyết.

    Từng ý tưởng, giả thuyết sẽ được xem xét, kiểm chứng về tính đúng

    đắn. Trên cơ sở đó, vấn đề được giải quyết. Nếu như khi kiểm chứng, không

    một giả thuyết nào đưa ra được chấp nhận thì cần phải quay trở lại vấn đề ban

    đầu, đề xuất giả thuyết mới, rồi kiểm chứng lại.

    Kết thúc giai đoạn này, người học đã giải quyết được vấn đề nêu ra. Có

    thể nói, đây là giai đoạn mà người học phải vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

    đã có, tiến hành các thao tác tư duy để đưa ra những giả phương án giải quyết

    vấn đề gặp phải. Các phương án được tìm ra cần được phân tích, so sánh và

    đánh giá xem có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay không, so sánh để

    lựa chọn phương án tối ưu. Nếu quá trình thực hiện kế hoạch giải quyết vấn

    đề gặp trở ngại, người học sẽ quay trở lại xem xét vấn đề và lựa chọn phương

    án khác, phù hợp hơn. Vì thế, việc khuyến khích người học đưa ra nhiều

    phương án là việc làm hết sức quan trọng trong giai đoạn này. Việc tin tưởng

    và dành thời gian cho người học thực nghiệm phương án lựa chọn cũng rất

    cần thiết. Làm việc nhóm sẽ giúp người học rút ngắn thời gian giải quyết vấn

    đề, dễ dàng hơn trong việc lựa chọn phương án tối ưu cũng như giúp cho môi

    trường học tập trở nên thân thiện, cởi mở, tạo động lực cho việc giải quyết các

    khó khăn.

    4.3 Giai đoạn 3: Kiểm tra cách giải quyết vấn đề, kết luận vấn

    đề/Trình bày kết quả:

    Kết quả của việc giải quyết vấn đề được thể hiện thông qua việc hiểu

    vấn đề và sự lí giải hợp lý cho vấn đề. Sự hiểu biết về vấn đề có thể được

    người học thể hiện thông qua việc viết báo cáo về vấn đề, tạo ra sản phẩm,

    nêu các giải pháp về vấn đề

    Cũng có khi trong một thời gian học tập nhất định, người học không thể

    giải quyết vấn đề thì thay vì trình bày kết quả thu được sau khi giải quyết vấn

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 11

    tồn động chưa được giải quyết, nảy sinh những vấn đề mới nào và lấy đó làm

    cơ sở cho việc tiếp tục giải quyết vấn đề cũ cũng như giải quyết vấn đề mới

    phát sinh.

    Như vậy, thông qua việc phân tích cấu trúc của dạy học giải quyết vấn

    đề, chúng ta có thể thấy trong suốt quá trình giải quyết tình huống có vấn đề

    đặt ra ngay ở đầu buổi học, người học có thể gặp phải rất nhiều vấn đề khác.

    Vì thế chu trình thực hiện các bước trên được thực hiện nhiều lần, các bước

    có thể được thực hiện cùng lúc. Nhưng nhìn chung, xét về tổng thể thì giờ học

    vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề luôn có cấu trúc gồm

    ba giai đoạn như đã nêu.

    5. Các mức độ hay các phƣơng pháp dạy học trong dạy học “Nêu

    và giải quyết vấn đề”

    Việc xác định mức độ của dạy học nêu vấn đề tùy thuộc vào mức độ

    tham gia của người học vào việc giải quyết vấn đề học tập cũng như mức độ

    tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình người học tiếp xúc và giải quyết vấn

    đề của người học. Tương ứng với mỗi mức độ là một phương pháp trong hệ

    phương pháp dạy học Nêu và giải quyết vấn đề.

    + Mức độ 1 – phương pháp thuyết trình (diễn giảng) nêu vấn đề: Đây

    là mức thấp nhất của dạy học giải quyết vấn đề. Giảng viên nêu vấn đề, đặt

    đứa người học vào tình huống có vấn đề để định hướng cho hoạt động tư duy

    của người học, nhưng người học không phải là người trực tiếp giải quyết vấn

    đề mà chỉ là người quan sát, tư duy để hiểu cách giải quyết vấn đề của giảng

    viên. Như vậy, ở mức độ này, mặc dù người học vẫn nắm bắt được vấn đề

    nhưng vai trò tích cực, chủ động của người học chưa được phát huy.

    + Mức độ 2 – Phương pháp tìm tòi bộ phận: Ở mức độ này, sau khi đặt

    đứa người học vào tình huống có vấn đề, làm xuất hiện ở người học nhu cầu

    giài quyết tình huống có vấn đề thì giảng viên định hướng và tổ chức cho

    người học hành động giải quyết một phần tình huống có vấn đề bằng cách xây

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 12

    dựng hệ thống câu hỏi để người học suy nghĩ, giải đáp và giải quyết vấn đề

    (phương pháp đàm thoại nêu vấn đề) hoặc giảng viên có thể chia nhỏ nhiệm

    vụ học tập phức tạp thành những nhiệm vụ học tập nhỏ vừa sức. Người học tự

    mình giải quyết các nhiệm vụ nhỏ, lớn dần và cuối cùng giải quyết vấn đề của

    bài học.

    + Mức độ 3 – Phương pháp dạy học Nêu và giải quyết vấn đề có tính

    chất nghiên cứu: Đây là phương pháp mà tình huống có vấn đề do giảng viên

    tạo ra hoặc do người học chủ động tạo ra nhưng quá trình giải quyết vấn đề là

    hoàn toàn do người học độc lập thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

    Trong các phương pháp nêu trên, phương pháp thuyết trình nêu vấn đề và

    phương pháp tìm tòi bộ phận được đánh giá là phù hợp với người học trình độ

    sơ cấp và trung cấp nghề. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, với một mục tiêu và

    nội dung phù hợp thì chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng phương pháp dạy

    học Nêu và giải quyết vấn đề có tính chất nghiên cứu cho đối tượng học viên

    học nghề mà cụ thể là dưới hình thức tiếp cận dạy học theo dự án đang được

    thử nghiệm và thực hiện trong thời gian gần đây.

    6. Những lƣu ý khi áp dụng phƣơng pháp dạy học “Nêu và giải

    quyết vấn đề”:

    Vấn đề đưa ra phải phù hợp với thời điểm, hoàn cảnh và đặc biệt phải

    phù hợp với đối tượng người học, đảm bảo đưa người học vào tình huống có

    vấn đề. Đặt vấn đề quá khó hay quá dễ đều không thể đưa người học vào tình

    huống có vấn đề. Mức độ thành công của phương pháp này phụ thuộc rất

    nhiều vào nghệ thuật đặt vấn đề và dẫn dắt giải quyết vấn đề của người dạy.

    Muốn thành công, người dạy phải nắm chắc kiến thức, phải hiểu người học.

    Vì thế, cùng một giáo án, khi dạy ở các lớp khác nhau sẽ được nêu vấn đề

    theo những cách thức và mức độ khác nhau.

    Sau khi đặt vấn đề, việc hướng dẫn người học trong quá trình giải quyết

    vấn đề rất linh hoạt. Kịp thời khuyến khích những hướng đi đúng và khuyến

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 13

    khích những giải pháp tốt đồng thời uốn nắn những giải pháp chưa hợp lý

    hoặc chưa sát với mục đích mà người dạy đang hướng quá trình nhận thức của

    người học đạt tới. Phần tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức từng phần hay toàn

    bài phải cô đọng, ngắn gọn, nêu được giải pháp giải quyết vấn đề đang cần

    tìm.

    Chú ý quản lý thời gian và tiến trình giờ giảng cho tốt. Trong khuôn

    khổ thời gian của một bài dạy, nếu cách nêu vấn đề không được chuẩn bị kĩ,

    còn lan man, việc tổng kết không trọng tâm, trọng điểm… dễ làm cho bài

    giảng thiếu thời gian, không đạt kết mong muốn.

    Nên phối hợp phương pháp này với các phương pháp giảng dạy khác.

    Không nên áp dụng đơn điệu một phương pháp. Trong mỗi bài dạy nên có

    một phương pháp chủ đạo và nhiều phương pháp khác bổ trợ.

    C. Kết luận

    Dạy học “Nêu và giải quyết vấn đề” là phương pháp dễ áp dụng và dễ

    đạt hiệu quả cao. Áp dụng phương pháp này sẽ kích hoạt tính tích cực của

    người học, tạo điều kiện cho người học chủ động tìm kiếm tri thức, nâng cao

    hiệu quả học tập, có điều kiện rèn luyện toàn diện bản thân. Những cái khó

    khi áp dụng phương pháp này là người dạy phải rất hiểu trình độ của người

    học, phải nắm rất vững nội dung bài dạy và luôn linh hoạt khéo léo đưa người

    học vào hoàn cảnh có vấn đề, giúp họ giải quyết vấn đề để thoát khỏi tình

    huống đó. Ngoài ra, người dạy phải luôn luôn quản lí tốt thời gian và tiến

    trình giờ giảng. Cuối cùng, người dạy phải biết kết hợp với các phương pháp

    dạy học khác khi cần thiết. Có như vậy mới có thể đạt được những giờ dạy

    thành công.

    Dạy học Nêu và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học có thể

    phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, của mỗi cá nhân học viên nhằm

    chuần bị cho học viên học nghề thích ứng và hội nhập tốt trong một xã hội

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 14

    đang phát triển và thay đổi liên tục. Học tập với Phương pháp dạy học Nêu

    và giải quyết vấn đề, kiến thức, kĩ năng được hình thành ở học viên một cách

    vững chắc hơn.

    ———–oOo———–

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 15

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu trong nƣớc:

    1. Nguyễn Lăng Bình (2010), Dạy học tích cực, Một số phương pháp và

    kỹ thuật dạy học (Dự án Việt-Bỉ), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà

    Nội.

    2. Lê Huy Hoàng (2010), Dạy học Giải quyết vấn đề, Nhà xuất bản Đại

    học Sư phạm, Hà Nội.

    3. Trần Thị Hương (2012), Dạy học tích cực, Nhà xuất bản Đại học Sư

    phạm Tp. Hồ Chí Minh.

    4. Nguyễn Văn Khôi (2010), Mô đun dạy học dựa trên giải quyết vấn đề,

    Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

    5. Lê Nguyên Long (1998), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu

    quả, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

    6. Nguyễn Hữu Lương (2002), Dạy và học hợp quy luật trí óc, Nhà xuất

    bản Văn hóa thông tin Hà Nội.

    7. Lê Văn Năm (2008), Dạy học nêu vấn đề lý thuyết và ứng dụng, Nhà

    xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.

    8. Nguyễn Cảnh Toàn (1998), Quá trình dạy-tự học, Nhà xuất bản Giáo

    dục, Hà Nội.

    9. Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại, Nhà xuất bản Đại học

    Quốc gia Hà Nội.

    GVHD: Trần Hữu Thi Tiểu luận Phƣơng pháp dạy học “Nêu và Giải quyết vấn đề”

    HVTH: Lê Văn Trung Trực Trang 16

    Tài liệu nƣớc ngoài:

    1. I.F. Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như

    thế nào, Nxb Giáo dục Hà Nội.

    2. V O Kon (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, Nhà xuất

    bản Giáo dục Hà Nội.

    3. chúng tôi Lecne (1977), Dạy học nêu vấn đề, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà

    Nội

    4. Machiuskin A. M. (1972), Các tình huống có vấn đề trong tư duy và

    trong dạy học, Nhà xuất bản Giáo dục học, Mat-Sco-Va.

    5. M.A. Makhamutop (1977), Dạy học nêu vấn đề, Nhà xuất bản Giáo

    dục.

    6. Carl Rogers (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả, Nhà xuất bản

    Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

    ———–oOo———–

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    • tr_30082016_tieu_luan_ppdh_1459.pdf

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Flipped Classroom (Lớp Học Đảo Ngược) Thay Đổi Cách Tiếp Cận Giáo Dục – Omt
  • Phương Pháp Tổ Chức Dạy Các Dạng Bài Tập Luyện Từ Và Câu Cho Học Sinh Lớp 4 – ( Cô Giáo Nguyễn Thị Tuyết ) : Phòng Gd&đt Giao Thủy
  • Mô Hình Học Tập Lấy Học Sinh Làm Trung Tâm: Bắt Đầu Từ Giáo Viên
  • Hiểu Và Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Lấy Học Trò Làm Trung Tâm Ra Sao?
  • Dạy Học Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Phương Pháp Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn Spkt
  • Giới Thiệu Sách ” Phương Pháp Dạy Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Phổ Thông”
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên Và Xã Hội
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Phương Pháp Dạy Học Steam Thcs Như Thế Nào? Lợi Ích Là Gì?
  • PPDH PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I. lịch sử vấn đề

    pháp dạy học phát và đề là một trong những phương pháp dạy học tích cực hiện nay. Đây không phải là một phương pháp dạy học mới nhưng nếu áp dụng đúng mức với từng môn học cụ thể sẽ “phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Phương pháp này mới các nhà lí Nam và trên nghiên , song ban pháp này đã XIX.

    Vào 70 XIX các nhà sinh chúng tôi , B.E.Raicôp, các nhà MM.Xtaxiulevic, N.A Rôôp,… đã nêu lên án tìm tòi phát () trong hình thành cho sinh cách HS tham gia vào quá trình tìm tri , phân tích các . Đây là trong đề ().

    pháp đề ra trên cơ sở những 50 XX, xã phát , lúc mâu trong quá trình : là mâu yêu ngày càng cao, sáng HS ngày càng còn .. chúng tôi – nhà giáo Ba Lan làm sáng PPDH nêu đề là PPDH có tác phát huy sinh, kích thích sinh tích suy , tìm tòi, sáng để đề cách sâu , xây cho ý liên , hứng thú hành và xu vào , ứng ở ghi thu trong quá trình nêu đề, ít chú xây lí khoa cho PP này.

    70, nhà lí Nga M.I Mackmutov đã chính ra lí pháp (PPDH) đề Algorit hoá và , PP này thành PPDH tích . Trên , ngoài M.I Mackmutov còn có nhà khoa hoc, giáo nghiên PPDH : M.N Xcatlin, Lecne, A.M Machiuskin, N.A Pôôva…

    nêu đề quan tâm ở các XHCN, là ở Ba Lan. Ở đây đề đã giáo Ôkôn, Cupê Xevit và khác tích nghiên .

    Ở Việt Nam, từ trước đến nay, đã có nhiều người đề cập đến PPDH này như : Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá chúng tôi nhiên các tác giả đều viết về PPDH GQVĐ trong dạy học ở nhà trường phổ thông và đại học, tác giả Nguyễn Kì đã nghiên cứu việc áp dụng PPDH GQVĐ ở Tiểu học, bước đầu tiến hành thực nghiệm ở một số môn Toán, TN – XH, Đạo đức. Hiện nay, PPDH GQVĐ đã và đang được coi trong trong giáo dục nói chung và trong trường tiểu học nói riêng.

    Phương pháp DH phát hiện và giải quyết vấn đề có những tên gọi khác:

    ” DH nêu vấn đề “, ” DH giải quyết vấn đề “, ” DH gợi vấn đề”. Trong cuốn Phương pháp dạy học Toán -Giáo sư Nguyễn Bá Kim đã sử dụng thuật ngữ “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề “. Chúng tôi cũng xin chọn sử dụng thuật ngữ này trong bài viết của mình.

    II. cơ sở khoa học

    1. Cơ sở triết học

    Theo quan điểm của triết học duy vật biên chứng: mâu thuẫn là động lực của quá trình phát triển. Quá trình học tập của học sinh luôn luôn xuất hiện mâu thuẫn. Đó chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với tri thức và kinh nghiệm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ppdh Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Dạy Học Phát Triển Năng Lực Là Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Trong Trường Sư Phạm
  • Dạy Học Theo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100