Quá Trình Phong Hóa Khoáng Vật Và Đá

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Sữa Dưỡng Da Và Kem Dưỡng Da Body
  • Cách Phân Biệt Loại Da Bò Và Da Pu
  • Da Pu Và Da Bò Có Ưu Điểm? Nhược Điểm Như Thế Nào?
  • Da Nhiễm Corticoid Là Bị Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Và Điều Trị Thế Nào?
  • Cách Nhận Biết Da Bị Nhiễm Corticoid Chứa Trong Mỹ Phẩm
  • 1.2. QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ

    1.2.1. Khái niệm

    Đá và khoáng sau khi hình thành dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh dần bị biến đổi. Tổng hợp những sự biến đổi lâu dài phức tạp làm cho đá, khoáng bị phá huỷ và quá trình đó được gọi là quá trình phong hoá.

    Sự phong hoá đá, khoáng là tổng hợp những quá trình phức tạp, đa dạng làm biến đổi về lượng và chất của chúng dưới tác dụng của môi trường.

    Kết quả của sự phong hoá là làm cho đá và khoáng bị phá huỷ, biến thành tơi xốp, có khả năng thấm khí và nước tốt. Những chất mới này được gọi là “Mẫu chất”.

    Lớp vỏ Trái đất ở đó diễn ra quá trình phong hoá và sản phẩm của quá trình phong hóa được giữ lại đó thì gọi là vỏ phong hoá.

    1.2.2. Các dạng phong hoá đá và khoáng vật

    1.2.2.1. Phong hoá lý học

    Phong hoá lý học là quá trình phá huỷ đá về mặt cấu trúc, hình dạng nhưng không làm thay đổi về thành phần hoá học.

    Trong những yếu tố gây ra phong hoá lý học thì nhiệt là yêú tố phổ biến và quan trọng hơn cả, ngoài ra còn do gió, nước, hoạt động địa chất v.v…

    – Nhiệt độ:

    Chúng ta đều biết các khoáng vật và đá đều bị giãn nở phụ thuộc vào nhiệt độ. Mỗi loại khoáng vật có hệ số giãn nở vì nhiệt khác nhau, ví dụ:

    Thạch anh có hệ số giãn nở là: 0,00031

    Mica có hệ số giãn nở là: 0,00035

    Canxit có hệ số giãn nở là: 0,00020

    Octoclaz có hệ số giãn nở là: 0,00017

    Sự thay đổi nhiệt độ tạo ra biên độ nhiệt độ càng lớn sẽ làm đá bị giãn nở và co lại đột ngột. Do trong đá chứa các khoáng vật khác nhau có hệ số giãn nở khác nhau, gây nên sự giãn nở không đều dẫn đến đá bị nứt nẻ vỡ vụn ra. Trong thực tế nhiều nơi trên vỏ Trái đất có biên độ nhiệt độ ngày đêm lên đến 40 – 60ºC đã làm cho đá càng chóng bị phá hủy.

    Tốc độ phá huỷ đá do nhiệt độ phụ thuộc rất lớn vào các mặt sau:

    + Sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, theo mùa trong năm. Biên độ nhiệt độ càng lớn thì quá trình phá huỷ càng mạnh.

    + Phụ thuộc vào thành phần khoáng vật chứa trong đá, nếu đá có cấu tạo bởi càng nhiều khoáng vật thì càng dễ bị phá huỷ.

    + Phụ thuộc vào màu sắc và cấu trúc của đá, đá có màu sẫm, cấu trúc mịn, dễ hấp thu nhiệt nên bị phá huỷ mạnh hơn đá màu sáng, cấu trúc hạt thô.

    Phong hoá lý học được tăng cường khi có sự tham gia của nước. Nước thấm vào kẽ nứt gây áp lực mao quản, những vùng giá lạnh khi nước đóng băng thể tích của nó tăng lên làm đá bị phá huỷ mạnh.

    – Dòng chảy, gió:

    Nước chảy mạnh, gió có thể cuốn đá va đập vào nhau và vỡ vụn ra.

    Kết quả của phong hoá lý học là làm cho đá, khoáng vỡ vụn ra, tạo ra một số tính chất mới mà đá nguyên chất trước đây không có, như khả năng thấm khí, nước v.v. Phong hoá lý học làm cho bề mặt tiếp xúc của đá, khoáng với môi trường xung quanh tăng lên và từ đó tạo điều kiện cho các quá trình phong hoá khác tiếp theo được thuận lợi hơn.

    1.2.2.2. Phong hoá hoá học

    Phong hoá hoá học là sự phá huỷ đá, khoáng bằng các phản ứng hoá học.

    Bởi vậy phong hoá hoá học làm thay đổi thành phần và tính chất của đá, khoáng. Đây cũng là đặc điểm cơ bản khác với phong hoá lý học đã được trình bày ở phần trên. Những tác nhân quan trọng nhất trong quá trình này là H 2O, CO 2 và O 2.

    Các quá trình chủ yếu của phong hoá học là: quá trình hoà tan, hydrat hoá, hoá sét và oxy hoá.

    – Quá trình hoà tan:

    Quá trình hoà tan là hiện tượng các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước.

    Tất cả các loại đá, khoáng khi tiếp xúc với nước đều bị hoà tan nhưng mức độ rất khác nhau. Có mức độ hoà tan nhỏ bé đến mức ta không thể nhận ra chúng bằng những cách thông thường. Quá trình này đã làm thay đổi thành phần và tính chất của các loại đá, khoáng.

    Ví dụ:

    CaCO 3 + CO 2 + H 2O  Ca(HCO 3) 2

    Quá trình hoà tan chịu ảnh hưởng của 1 số yếu tố sau:

    + Nhiệt độ làm tăng cường quá trình hoà tan. Thông thường nhiệt độ tăng lên 10 0 C thì sự hoà tan tăng lên từ 2 – 3 lần. Nước ta là nước nhiệt đới ẩm nên quá trình hoà tan rất đáng quan tâm.

    + Độ pH của môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến sự hoà tan. Khi nước chứa CO 2, độ pH của nó giảm, độ hoà tan của các loại muối Cacbonat trong nó tăng lên rõ rệt.

    + Các loại muối Clorua, Nitrat của kim loại kiềm, kiềm thổ dễ tan trong nước. Các loại muối Sunphat, Cacbonat của kim loại kiềm thì dễ tan, nhưng của kim loại kiềm thổ lại khó tan trong nước.

    + Bề mặt tiếp xúc của chất tan với dung môi càng lớn khả năng tan của nó càng tăng. Phong hoá lý học đã làm cho các khối đá, khoáng vỡ vụn do đó làm tăng bề mặt tiếp xúc của đá với môi truờng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hoà tan.

    – Quá trình hydrat hoá:

    Là quá trình nước tham gia vào mạng lưới tinh thể của khoáng vật, thực chất đây là quá trình nước kết hợp với khoáng vật làm thay đổi thành phần hoá học của khoáng vật.

    Ví dụ:

    Fe 2O 3 + 3H 2O Fe 2O 3. 3H 2 O

    (Hematit) (Limonit)

    CaSO 4 + 2H 2O CaSO 4. 2H 2 O

    (Thạch cao khan) (Thạch cao thường)

    Quá trình này làm cho thể tích của khoáng vật tăng lên, thành phần hoá học thay đổi, độ bền liên kết giảm, tạo điều kiện tốt cho quá trình hoà tan và các phản ứng hoá học khác.

    Quá trình sét hoá:

    Các khoáng vật silicat, nhôm silicat do tác động của H 2O, CO 2 sẽ bị biến đổi tạo thành các khoáng sét. Các chất kiềm và kiềm thổ trong khoáng vật bị H+ chiếm chỗ trong mạng lưới tinh thể được tách ra dưới dạng hoà tan. Như vậy thực chất của quá trình sét hoá là các quá trình hoà tan, hydrat hoá chuyển các khoáng vật silicat, nhôm silicat thành các khoáng vật thứ sinh, các muối và oxyt.

    Ví dụ:

    K 2Al 2Si 6O 16 + H 2O + CO 2 H 2Al 2Si 2O 8. 2H 2O + SiO 2.nH 2O+ K 2CO 3

    (Phenphatkali) (Sét Kaolinit) (Opan)

    Quá trình sét hoá rất phổ biến và có tầm quan trọng trong phong hoá hoá học vì phần nhiều các loại khoáng trong đất thuộc nhóm Silicat và Alumin – silicat.

    + Quá trình oxy hoá:

    Đa số các khoáng vật dễ bị oxy hoá và phá huỷ nhanh chóng, nhất là các khoáng vật có chứa sắt như Olivin, Ogit, Hoocnơblen, Pyrit,… có chứa nhiều Fe 2+ nên rất dễ tham gia vào quá trình oxy hoá.

    Ví dụ điển hình như pyrit có quá trình oxy hoá như sau:

    2FeS 2 +7O 2 + 2H 2O  2FeSO 4 + 2H 2SO 4

    12FeSO 4 + 3O 2 +6H 2O  4Fe 2(SO 4) 3 + 4Fe(OH) 3

    2Fe 2(SO 4) 3 +9H 2O  2Fe 2O 3.3H 2O + 6H 2SO 4

    (Limonit)

    Vì lý do trên các loại đá có chứa sắt khi lộ ra ngoài không khí thường hình thành lớp vỏ limonit có màu nâu đỏ rất cứng bảo vệ cho đá ít bị phong hoá tiếp.

    Phong hoá hoá học không những làm thay đổi thành phần, tính chất của đá, khoáng mà nó còn có thể tạo ra một số khoáng vật mới (thứ sinh) và hàng loạt những chất đơn giản. Phong hoá hoá học phụ thuộc nhiều vào ẩm độ, nhiệt độ. Nhiệt độ cao, độ ẩm lớn phong hoá hoá học sẽ hoạt động mạnh. Bởi vậy đây là loại phong hoá diễn ra mạnh trong khu vực nhiệt đới trong đó có nước ta. Càng lên cao nhiệt độ càng giảm nên cường độ của loại phong hoá này càng giảm đi.

    1.2.2.3. Phong hoá sinh học

    Sự phá huỷ cơ học và sự biến đổi tính chất hoá học của đá, khoáng dưới tác dụng của sinh vật và những sản phẩm từ hoạt động sống của chúng được gọi là sự phong hoá sinh học.

    – Trong quá trình sống, sinh vật trao đổi chất với môi trường, đặc biệt là môi trường đất. Sự trao đổi đó đã làm xuất hiện hoặc thay đổi các quá trình hoá học khác. Trong đời sống của mình, sinh vật sử dụng những chất dinh dưỡng khoáng làm thay đổi hàm lượng các chất đó trong đất, đưa vào môi trường những chất mới đặc biệt là những axit: H 2CO 3, HCl, H 2SO 4, HNO 3, các axit hữu cơ…, đó là những lý do làm cho đá và khoáng bị phá huỷ.

    – Tác động cơ giới do rễ cây len lỏi vào các kẽ nứt của đá làm đá bị phá huỷ, hiện tượng này thấy rất rõ trên các vách núi đá vôi có cây sinh sống.

    Khi trên trái đất chưa có sinh vật thì đá và khoáng chỉ bị phá huỷ bởi quá trình phong hoá lý học và hoá học. Khi sinh vật xuất hiện trên trái đất, lúc đầu là các vi sinh vật và cuối là thực vật thượng đẳng thì sự phong hoá sinh học trở thành phổ biến và quan trọng, nhất là những vùng nhiệt đới ẩm.

    Tóm lại: Tùy theo điều kiện cụ thể mà dạng phong hóa này hay phong hóa kia chiếm ưu thế, nhưng nhìn chung chúng đều có tác dụng xúc tiến lẫn nhau và hỗ trợ nhau để phát triển. Ở Việt Nam các quá trình phong hóa xảy ra mãnh liệt và triệt để vì chịu ảnh hưởng của điều kiện nhiệt đới ẩm. Trong các dạng phong hóa thì phong hóa hóa học chiếm ưu thế.

    1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT

    1.3.1. Tuần hoàn vật chất và sự hình thành đất

    Ta có thể chia quá trình hình thành đất làm 2 giai đoạn:

    + Đá bị phong hoá thành mẫu chất, giai đoạn này được gọi là quá trình phong hoá.

    + Mẫu chất biến thành đất, giai đoạn này được gọi là quá trình hình thành đất.

    Đá mẹ

    Mẫu chất

    Đất

    Quá trình

    Phong hoá

    Quá trình

    hình thành đất

    Mẫu chất đã có khả năng thấm, giữ nước và khí nhưng còn thiếu phần quan trọng nhất để trở thành đất đó là chất hữu cơ.

    Khi trên trái đất chưa có sự sống, lúc đó mới chỉ có các quá trình phong hoá lý, hoá học. Các sản phẩm phong hoá một phần nằm lại tại chỗ, phần khác theo nước di chuyển xuống chỗ trũng, đại dương. Ở những nơi đó chúng lại trầm lắng, chịu sự tác động của áp suất và các yếu tố khác và hình thành nên đá trầm tích.

    Do sự vận động địa chất, khối đá trầm tích này lại được nâng lên phong hoá theo một vòng mới khác. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại trong một phạm vi lớn, và kéo dài tới hàng tỷ năm, nên được gọi là “Đại tuần hoàn địa chất”. Bản chất của vòng đại tuần hoàn địa chất là quá trình tạo lập đá đơn thuần xảy ra rộng khắp và theo một chu trình khép kín.

    Khi sinh vật xuất hiện lúc đầu là các vi sinh vật và các thực vật hạ đẳng, chúng sử dụng các chất dinh dưỡng khoáng để nuôi cơ thể, chết đi chúng trả lại toàn bộ cho đất. Cứ như vậy sinh vật ngày càng phát triển và lượng chất hữu cơ tích luỹ trong đất ngày một nhiều, nó đã biến mẫu chất trở thành đất. Vòng tuần hoàn này do sinh vật thực hiện và diễn ra trong thời gian ngắn, phạm vi hẹp nên được gọi là “Tiểu tuần hoàn sinh vật”.

    Bởi vậy “Đại tuần hoàn địa chất” là cơ sở của quá trình hình thành đất, còn “Tiểu tuần hoàn sinh vật” là bản chất của nó. Đất được hình thành kể từ khi xuất hiện sinh vật.

    1.3.2. Các yếu tố hình thành đất

    Đocutraiep – ông tổ thổ nhưỡng người Nga là người đầu tiên cho rằng đất được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian.

    Vai trò của con người trong sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng góp phần to lớn vào sự hình thành đất. Bởi vậy ngày nay phần lớn người ta coi đất được hình thành do 6 chứ không phải 5 yếu tố như quan điểm của Đocutraiep.

    1.3.2.1. Đá mẹ

    Đá mẹ bị phong hoá thành mẫu chất, rồi thành đất. Như vậy rõ ràng đá mẹ là nguyên liệu đầu tiên của quá trình hình thành đất, vì vậy người ta còn gọi là nguyên liệu mẹ. Đá mẹ ra sao sẽ sinh ra đất mang dấu ấn của mình. Ví dụ:

    – Các loại đá macma axit có cấu trúc hạt thô, khó phong hoá tạo nên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng còn ngược lại các loại đá mẹ macma trung tính hay bazơ có cấu trúc mịn, dễ phong hoá thì tạo ra các loại đất có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày hơn.

    – Những loại đất hình thành trên đá mẹ gnai, granit thường giàu K+ vì trong những loại đá đó giầu mica, mà mica bị phong hoá sẽ giải phóng ra K+. Đất hình thành trên đá bazan thường giầu Mg++, P 2O 5 vì loại đá này chứa nhiều Mg và photphorit.

    Tuy nhiên sự ảnh hưởng của đá mẹ đối với đất lớn nhất ở giai đoạn đầu, giai đoạn đất còn trẻ. Theo thời gian và môi trường mà đất tồn tại, cùng với sự tác động của con người vai trò của đá mẹ ngày càng lu mờ. Ví dụ:

    – Những vùng đất phát triển trên đá vôi đáng ra không chua nhưng đến nay có vùng đã chua thậm chí rất chua do bị xói mòn, rửa trôi nghiêm trọng.

    Một số vùng đất cùng phát triển trên đá cát nhưng nay có tính chất rất khác nhau do quá trình canh tác rất khác nhau tại một số vùng.

    1.3.2.2. Khí hậu

    Khí hậu có sự tác động tới sự hình thành đất vừa trực tiếp thông qua nhiệt độ, lượng mưa, vừa gián tiếp thông qua sinh vật.

    + Nhiệt độ và lượng mưa là hai yếu tố quan trọng đầu tiên trong sự phong hoá đá, khoáng. Hai yếu tố này còn chi phối tất cả các quá trình khác trong đất: quá trình rửa trôi, xói mòn, tích tụ, mùn hoá, khoáng hoá,… Cường độ, chiều hướng của chúng góp phần chi phối quá trình hình thành đất.

    Lượng mưa ảnh hưởng lớn tới độ chua và hàm lượng kiềm trao đổi trong đất. Theo Jeny khi nghiên cứu đất vùng nhiệt đới (đảo Mabrikia) thì lượng mưa hàng năm càng tăng, độ pH và tổng các cation kiềm trao đổi càng giảm. Điều này giải thích lý do đất Việt Nam đặc biệt là đất rừng thường chua và độ no kiềm thấp (Bảng 1.5).

    Trên trái đất có những đai khí hậu khác nhau: Hàn đới, ôn đới, nhiệt đới. Tại những đai đó, những sinh vật tương ứng được hình thành và bởi vậy xuất hiện những đai đất đi kèm. Điều đó nói lên vai trò của khí hậu với sự hình thành đất thông qua sinh vật.

    Ví dụ:

    – Vùng lạnh, khô đặc trưng là kiểu rừng lá kim nên hình thành đất podzol chua và nghèo dinh dưỡng.

    – Vùng lạnh ẩm hình thành đồng cỏ hoặc rừng lá rộng ôn đới nên có đất đen ôn đới (Checnozom).

    – Vùng nhiệt đới nóng ẩm hình thành loại rừng lá rộng, thường xanh nên có đất đỏ vàng.

    Bảng 1.5: Ảnh hưởng của lượng mưa đến một số tính chất của đất

    Lượng mưa hàng năm (mm)

    Nhiệt độ (0oC)

    [H+]

    (lđl/100g đất)

    Tổng số cation kiềm trao đổi (lđl/100g đất)

    pH

    (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)

    1.3.2.3. Sinh vật

    Sinh vật là yếu tố chủ đạo cho quá trình hình thành đất vì sinh vật cung cấp chất hữu cơ, yếu tố quan trọng nhất để biến mẫu chất thành đất. Đất là môi trường sôi động của sự sống, là địa bàn sinh sống của vi sinh vật, thực vật, động vật.

    – Vi sinh vật:

    Một gam đất chứa hàng chục triệu thậm chí hàng tỉ vi sinh vật. Trung bình 1 gam đất của Việt Nam chứa khoảng 60 – 100 x 10 6 vi sinh vật, chúng có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành đất, cụ thể:

    + Cung cấp chất hữu cơ cho đất: Vi sinh vật là những sinh vật đi tiên phong, chúng là sinh vật đầu tiên sống trên mẫu chất và chết đi cung cấp lượng chất hữu cơ nhỏ nhoi nhưng vô cùng quý giá đầu tiên cho mẫu chất để biến mẫu chất thành đất.

    + Đóng vai trò quan trọng trong việc phân giải và tổng hợp chất hữu cơ: Cây chỉ có thể hút các dinh dưỡng từ đất dưới dạng các chất khoáng đơn giản do vậy các chất hữu cơ và ngay cả 1 số loại phân bón khi được bổ sung vào đất đều phải nhờ vi sinh vật phân giải cây mới có khả năng hấp phụ. Mặt khác trong quá trình phân giải chúng lại tổng hợp nên một dạng hữu cơ đặc biệt, rất quan trọng trong đất đó là hợp chất mùn.

    + Cố định đạm từ khí trời: Trong đá mẹ, mẫu chất thiếu một yếu tố dinh dưỡng cơ bản đó là N. Vi sinh vật cố định đạm góp phần tạo ra đạm mà mẫu chất không có.

    Tuy nhiên ngoài mặt có lợi vi sinh vật đất còn có một số mặt hại như: Làm mất đạm, thải ra một số khí độc, làm giảm pH đất, gây bệnh cho cây….

    – Thực vật:

    Thực vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất. Tuỳ theo thảm thực bì số lượng cũng như chất lượng chất hữu cơ trả lại cho đất khác nhau.Thường 1 ha rừng trả lại cho đất 10 tấn cành khô, lá rụng/năm, khoảng 80 % lượng chất hữu cơ trong đất có nguồn gốc từ thực vật.

    Một số loại thực vật được dùng làm cây chỉ thị cho một số tính chất đất. Ví dụ: Cây sim, mua chỉ thị đất chua; cây sú, vẹt chỉ thị cho đất mặn…

    Tóm lại tác dụng của thực vật thể hiện ở các mặt sau:

    + Cung cấp chất hữu cơ, tăng hàm lượng mùn, cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất.

    + Tập trung dinh dưỡng ở tầng sâu lên tầng đất mặt.

    + Hút và trả lại cho đất các chất dinh dưỡng phù hợp hơn với thế hệ sau do hút dinh dưỡng có chọn lọc.

    + Che phủ mặt đất, chống xói mòn.

    – Động vật:

    Có nhiều loại động vật sinh sống trong đất từ nguyên sinh động vật, giun, dế, kiến, mối đến chuột, dúi …. Tác dụng của chúng thể hiện qua các mặt sau:

    + Chúng chết đi cung cấp chất hữu cơ cho đất, tuy số lượng ít nhưng có chất lượng cao.

    + Chuyển hoá chất hữu cơ tạo thành các chất dễ tiêu cho cây.

    + Xới xáo làm cho đất tơi xốp. Đại diện như giun đất là “anh thợ cày” tích cực, 1 ha đất tốt có bón phân có thể có tới 2,5 triệu con giun.

    1.3.2.4. Địa hình

    Địa hình tác động đến quá trình hình thành đất thể hiện ở chỗ:

    – Ở các vùng cao có nhiệt độ thấp hơn nhưng ẩm độ cao hơn. Càng lên cao xuất hiện nhiều cây lá nhỏ, chịu lạnh, đất có hàm lượng mùn tăng, quá trình feralit giảm. Đây là lý do các vùng cao như Đà lạt, Mộc Châu, Sa Pa có khí hậu mát mẻ và đất có hàm lượng mùn khá hơn.

    – Địa hình còn làm thay đổi tiểu vùng khí hậu do nhiều nơi địa hình quyết định hướng và tốc độ của gió, làm thay đổi độ ẩm, thảm thực bì của đất rất lớn. Do bị chắn bởi dãy Trường sơn mà 1 số vùng bị ảnh hưởng của gió phơn tây nam rất mạnh như: Hoà Bình, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An…

    Địa hình trong khu vực nhỏ trực tiếp góp phần phân bố lại vật chất, làm thay đổi độ ẩm, nhiệt độ, độ tăng trưởng của sinh vật, sự vận chuyển nước trên bề mặt và trong lòng đất. Những nơi địa hình cao, dốc, nước chảy bề mặt nhiều, nước thấm ít, độ ẩm đất thấp hơn chỗ trũng. Do dòng chảy bề mặt lớn, đất bị xói mòn, rửa trôi xuống các vũng trũng nên các chỗ trũng, bằng phẳng thường có tầng đất dày hơn, hàm lượng dinh dưỡng khá hơn so với nơi dốc nhiều.

    1.3.2.5. Thời gian

    Từ đá phá huỷ để cuối cùng hình thành đất phải có thời gian nhất định. Thời gian biểu hiện quá trình tích luỹ sinh vật, thời gian càng dài thì sự tích luỹ sinh vật càng phong phú, sự phát triển của đất càng rõ. Người ta chia tuổi của đất thành 2 loại là: tuổi hình thành tuyệt đối và tuổi hình thành tương đối.

    – Tuổi tuyệt đối: là thời gian kể từ khi bắt đầu hình thành đất đến nay (từ lúc xuất hiện sinh vật ở vùng đó đến nay).

    – Tuổi tương đối: là sự đánh dấu tốc độ tiến triển tuần hoàn sinh học, nói lên sự chênh lệch về giai đoạn phát triển của loại đất đó dưới sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Nói cách khác là chỉ tốc độ phát triển của đất. Có nhiều loại đất được hình thành cùng thời gian nhưng do các điều kiện ngoại cảnh tác động khác nhau mà có tuổi tương đối khác nhau. Có loại tuổi tuyệt đối rất trẻ nhưng nhiều nơi đất đã phát triển đến đỉnh cao của nó, biểu hiện ở hiện tượng kết von, đá ong.

    1.3.2.6. Hoạt động sản xuất của con người

    Hoạt động sản xuất của con người ngày nay đã trở thành yếu tố quyết định tới sự hình thành đất. Sự ảnh hưởng này phụ thuộc vào yếu tố xã hội và trình độ sản xuất của con người.

    Con người luôn tìm cách tác động vào đất để khai thác tiềm năng của nó và mang lại lợi nhuận tối đa cho mình.

    Tất cả những hoạt động sản xuất như trồng rừng, khai thác rừng, đốt nương làm rẫy, định canh định cư, sử dụng phân bón, thuỷ lợi,… đều tác động không nhiều thì ít tới sự hình thành đất. Những hồ thuỷ điện, hồ chứa nước cho nông nghiệp đã chi phối không nhỏ chiều hướng và tốc độ hình thành đất.

    Tóm lại, nếu sử dụng đất có ý thức bảo vệ và cải tạo thì đất sẽ ngày một tốt lên còn ngược lại nếu chỉ biết bóc lột thì đất nhanh chóng nghèo kiệt, thoái hoá.

    1.3.3. Hình thái phẫu diện đất

    1.3.3.1. Khái niệm

    Tất cả những quá trình diễn ra trong đất đều để lại những dấu vết trong nó. Nghiên cứu những dấu vết đó, ta biết được tính chất, đặc điểm của đất. Thậm chí, ta còn biết được lịch sử của sự hình thành đất và chiều hướng phát triển của nó. Đặc điểm phân lớp là đặc điểm quan trọng của đất, mà nhiều tính chất lý hoá học và độ phì của đất phụ thuộc vào nó.

    Mặt cắt thẳng đứng từ mặt đất xuống đến tầng đá mẹ, nó thể hiện các tầng đất được gọi là phẫu diện đất.

    Phẫu diện đó được mô tả thông qua những đặc điểm bề ngoài có thể cảm nhận được bằng các giác quan thì gọi là hình thái phẫu diện đất. Từ hình thái, ta có thể suy ra những tính chất bên trong của nó.

    1.3.3.2. Các tầng đất và đặc điểm của chúng

    Một phẫu diện đất địa thành điển hình thường gồm các tầng đất sau: Tầng thảm mục, tầng mùn (tầng rửa trôi), tầng tích tụ, tầng mẫu chất, tầng đá mẹ (Hình 1.1).

    – Tầng thảm mục nằm trên mặt đất. Tầng này được kí hiệu là Ao (có sách kí hiệu là O), ở đây nó chứa những cành lá, xác thực vật rơi rụng. Tầng này cũng được chia nhỏ hơn A 01, A 02 và A 03. Tầng A 01 chứa những chất hữu cơ chưa phân giải. Tầng A 02 chứa những chất hữu cơ đã bị phân giải một phần, A 03 chứa những chất hữu cơ đã phân giải mạnh, một phần đã thành mùn.

    Ở nước ta, càng lên cao theo độ cao tuyệt đối, càng dễ tìm thấy tầng A 0. Dưới rừng cây họ dầu, cây lá kim cũng dễ xuất hiện tầng A 0 hơn.

    – Tầng mùn (tầng rửa trôi): ký hiệu là A.

    Tại đây, các hợp chất mùn được hình thành. Đất thường màu đen, nâu đen. Đất thường có kết cấu viên, tơi xốp, giầu dinh dưỡng.Tuy nhiên dưới tác dụng của nước nó cũng là tầng bị rửa trôi.Phần lớn các loại vi sinh vật đất đều tập trung ở tầng này. Trong tầng A lại có thể xuất hiện những tầng khác nhau: A 1, A 2, A 3.

    + A­ 1 là tầng tích luỹ mùn nhiều nhất, màu đen nhất. Tại đây các hợp chất hữu cơ được phân giải, tổng hợp để tạo nên các hợp chất mùn trong đất. Đất thường có kết cấu viên, tơi xốp, giàu dinh dưỡng.

    + A 2 là tầng rửa trôi mạnh nhất. Tại đây các chất dinh dưỡng và hợp chất mùn bị phá huỷ và rửa trôi xuống các tầng sâu. Bởi vậy, hàm lượng chất dinh dưỡng và mùn ở đây thấp. Tuy nhiên theo Fritland thì đất Việt nam thường có tầng A 2 không điển hình.

    + Tầng A 3 là tầng chuyển tiếp đến tầng B.

    – Tầng tích tụ: ký hiệu là B

    Tầng B lại có thể chia nhỏ hơn thành B 1, B 2, B 3:

    + Tầng B 1 là một phần của tầng A chuyển tiếp đến tầng B.

    + Tầng B 2 là tầng tích tụ điển hình.

    + Tầng B 3 là phần chuyển tiếp của tầng B đến tầng C.

    Tầng A và B là phần điển hình của đất, nó tạo nên độ dầy của đất. Độ dày tầng đất được tính từ trên mặt đất xuống đến hết tầng B.

    – Tầng C được gọi là tầng mẫu chất, nó được hình thành từ sự phong hoá đá và khoáng ban đầu. Đất được hình thành từ những loại đá khó bị phong hoá, thì tầng C rất mỏng.

    – Cuối cùng là tầng đá mẹ ký hiệu là D.

    Để phân biệt các tầng đất, người ta có thể căn cứ vào: màu sắc, độ chặt, thành phần cơ giới, chất mới sinh, chất xâm nhập…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ngọc Bích Và Ngọc Cẩm Thạch
  • Thanh Toán T/t Là Gì ?, Thanh Toán D/a, D/p Là Gì ?
  • Cách Nhận Biết Và Phân Biệt Được Da Pu, Da Simili Và Da Thật
  • Phân Biệt Da Thật, Da Pu Và Simili Như Thế Nào?
  • Simili Là Gì? Phân Biệt Da Thật, Da Pu Và Simili & Ứng Dụng Simili Là Gì?
  • Sinh Lý Quá Trình Thụ Thai Và Mang Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Biết Các Dấu Hiệu Mang Thai Ngoài Tử Cung
  • Dấu Hiệu Thụ Thai Thành Công Sau Khi Quan Hệ 1 Tuần
  • Những Dấu Hiệu Mang Thai Mẹ Nào Cũng Nằm Lòng
  • Sau Chuyển Phôi Nên Làm Gì? Một Số Vấn Đề Cần Lưu Ý
  • Sự Phát Triển Của Thai 8 Tuần
  • DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG

    Làm sao phụ nữ biết là mình có thai? Chỉ có một cách chắc chắn là khám thai hay vùng tiểu khung. Hầu hết phụ nữ nghi mình có thai khi không thấy kinh mặc dù có nhiều nguyên nhân khác có thể gây mất kinh và một vài phụ nữ tiếp tục có kinh trong vài tháng đầu của thai kỳ. Tuy vậy, việc mất kinh là dấu hiệu khá chính xác để chỉ hiện tư­ợng này.

    Những hiện tượng sớm về việc có thai có thể phát triển từ 6 đến 12 tuần lễ, những sự thay đổi này hầu như xuất hiện khi ng­ười phụ nữ có thai khoảng 3 tuần (nghĩa là 1 tuần sau chu kỳ kinh đáng ra phải có, và 5 tuần sau kỳ kinh cuối khởi đầu). Những hiện tượng được gây ra do những thay đổi các mức nội tiết tố, một phần của thai kỳ.

    Một phụ nữ có thể phát triển một vài triệu chứng hoặc không có triệu chứng nào cả, cũng có thể người đó có tất cả các triệu chứng sau:

    1. Ngực phát triển và căng.
    2. Ốm nghén. (buồn nôn và ói không nhất thiết phải vào buổi sáng)
    3. Hay đi tiểu.
    4. Mệt mỏi, cần ngủ nhiều.
    5. Lên cân.
    6. Phát triển bụng dưới.
    7. Tăng thân nhiệt
    8. Trạng thái buồn buồn.
    9. Thay đổi ham muốn tình dục.
    10. Thèm ăn.
    11. Ăn nhiều.

    Một vài phụ nữ cho biết rằng họ biết có thai ngay sau khi thụ thai, nghĩa là họ cảm thấy khang khác, nhất là phụ nữ đã từng mang thai do có kinh nghiệm về những thay đổi. Nhưng cách chắc chắn nhất vẫn là thử thai và khảo sát vùng tiểu khung.

    NHỮNG CÁCH THỬ THAI

    Có nhiều cách để thử thai, gồm cả việc mua dụng cụ thử thai ở tiệm thuốc để thử lấy ở nhà. Việc thụ thai căn cứ vào sự phát triển nội tiết tố HCG trong cơ thể người phụ nữ. Hầu hết các cách sử dụng để thử (gồm cả việc thử ở nhà) là để kiểm tra sự hiện diện của nội tiết tố này trong nước tiểu, cũng có những cách thử tốn kém hơn như kiểm tra sự hiện diện của kích thích tố này qua mẫu máu, do bác sĩ hay nhà chuyên môn thực hiện. Các phương pháp thử, kể cả cách thực hiện ở nhà, có thể chính xác khoảng 97%.

    Nếu muốn tính ngày sinh (ngày đứa trẻ ra đời theo dự tính) họ có thể sử dụng luật Nagele bằng cách lấy ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối trừ đi ba tháng và thêm bảy ngày.

    Ví dụ : Nếu thấy ngày kinh sau cùng khởi sự ngày đầu tháng Giêng, bạn sẽ sinh ngày 8 tháng Mười tới.

    Biết đ­ược ngày sinh là điều rất quan trọng để bạn chuẩn bị (lư­u ý đây chỉ là dự tính), vì việc mang thai bình thường có thể thay đổi từ 38 đến 42 tuần, có nghĩa xê xích nhau khoảng 2 tuần là bình thường. Trên thực tế, d­ưới 10% phụ nữ nói đúng ngày sinh, và một nửa. số trẻ sinh sớm hơn m­ươi ngày hoặc sau mươi ngày theo ngày dự tính.

    VIỆC SĂN SÓC TIỀN SINH

    Sau khi thụ thai, bạn nên có kế hoạch thăm thai. Người theo dõi có thể là người sẽ đỡ đẻ cho bạn sau này.

    Trong những lần khám thai, bạn sẽ được khám tổng quát, gồm vùng tiểu khung và xét nghiệm kính phết Pap. Ngày sinh con cũng đ­ược tính, rồi tiền sử chi tiết sức khỏe của bạn (và của gia đình chồng hay bạn tình) cũng sẽ được hỏi rõ. Bác sĩ lấy mẫu máu để xem có bị bệnh thiếu máu, loại máu và tính miễn dịch đối với một vài bệnh nhiễm trùng nào đó. Nếu bạn từ 35 tuổi trở lên (hoặc trong gia đình có những trường hợp khuyết tật lúc sinh), xét nghiệm này được gọi là chọc dò màng ối qua bụng.

    Sau lần khám thai đầu tiên, bạn sẽ được thời khóa biểu thăm thai hàng tháng và đến tháng thứ bảy sẽ khám hai tuần lần cho đến tháng cuối thai kỳ; trong tháng cuối cùng này, bác sĩ sẽ khám mỗi tuần một lần đến ngày sinh. Những lần khám này, bạn thường được cân, đo huyết áp xét nghiệm nước tiểu, đo kích thước tử cung, kiểm tra tư thế và nhịp tim của thai nhi. Trừ trường hợp có nguy cơ cao, còn không, việc khám vùng tiểu khung không cần thiết phải khám thường xuyên.

    Ngoài ra, bạn còn được hướng dẫn về chế độ dinh dư­ỡng, những thứ cần kiêng cữ như thuốc lá, rượu .v.v…, một toa thuốc bổ riêng vì sự mang thai làm tiêu hao sức khỏe người mẹ, và hầu hết phụ nữ cần bổ sung chất sắt và sinh tố. Việc bổ sung sinh tố xem chừng là điều cần thiết kể cả khỉ bạn ăn uống cân bằng dinh dưỡng.

    NHỮNG TRƯỜNG HỢP CÓ NGUY CƠ CAO

    1- Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi và dưới 18 tuổi thường có tỷ lệ biến chứng cao hơn những phụ nữ mang thai khác.

    2- Các vấn đề sức khỏe như tiểu đường, cao huyết áp hoặc bệnh tim có khả năng gây nguy hiểm đối với ng­ười mẹ và gây hậu quả không tốt đối với thai nhi.

    3- Vài số thuốc như những loại thuốc khống chế cơn động kinh có thể gây hại thai nhi.

    4- Phụ nữ có tiền sử sảy thai, sanh thai chết, hoặc sinh con có khuyết tật đều có nguy cơ gặp những rắc rối cho lần mang thai sau.

    5- Các tai biến, những viêm nhiễm (đặc biệt qua đư­ờng tình dục), phẫu thuật và các bệnh khác khi mang thai.

    6- Ða thai (sinh đôi hoặc sinh ba). Với những nguy cơ này, bạn sẽ được chỉ định khám tăng cường và được hướng dẫn đặc biệt hơn. Trong một số trường hợp bất khả kháng có thể ảnh hư­ởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người mẹ, bác sĩ cổ thể đề nghị hủy thai.

    Những quan tâm về di truyền

    Những cặp vợ chồng trước khi dự định có con cần nghĩ đến vấn đế di truyền của mình, họ nên kiểm tra xem nếu họ hoặc thân nhân (đặc biệt cha, mẹ, anh, chị, ông, bà) có bất cứ khuyết tật nào di truyền hoặc có vấn đề về sức khỏe.

    Có đến 5% trẻ đ­ược sinh ra bị khuyết tật do (ảnh hưởng) di truyền ở bất cứ bộ phận nào của cơ thể, kể cả não, và có khi làm chết thai.

    Một ví dụ về khuyết tật di truyền như hội chứng Down gây đần độn và những vấn đề sức khỏe khác, những ng­ười có nguồn gốc từ những chủng tộc khác nhau. Ví dụ : người Anh, Do Thái và người Mỹ gốc Phi, có tỷ lệ nguy hiểm khác nhau đối vài rối loạn di truyền.

    Nếu có khả năng thừa hư­ởng một khuyết tật trong gia đình thì đôi vợ chồng này cần tìm đến sự cố vấn về di truyền dể tìm ra những cơ may vượt qua những gì có thể xảy ra cho trẻ sơ sinh, nhất là đã có một đứa con bị khuyết tật di truyền rõ rệt. Việc này cần tiến hành ngay với các nhà di truyền học giỏi.

    NHỮNG THAY ĐỔI TRONG KHI MANG THAI

    Những thay đổi cơ thể trong suốt quá trình mang thai

    Quý một:

    Ða số các ảnh hưởng gây ra ấn t­ượng mạnh nhất khi mang thai (ngoài sự lên cân) đều xảy ra trong quý một: Trong ba tháng đầu tiên này có các thay đổi quan trọng về mức nội tiết, đặc biệt mức đo hai nội tiết tố estrogen và progesterone. Những thay đổi này làm vú căng, hai núm vú và quầng vú sẫm màu, nhất là phụ nữ mang thai lần đầu. Phụ nữ có thai cần đi tiểu nhiều hơn bình thư­ờng và có thể bị táo bón. Táo bón là một chứng nhưng không được đề nghị cho uống những loại thuốc nhuận trường vì thuốc có thể gây nguy hiểm cho bào thai, thay vào đó người mẹ nên uống thêm chất lỏng và ăn thêm chất xơ trong khẩu phấn ăn hằng ngày.

    Mệt mỏi và buồn ngủ là do mức kích thích tố progesterone tăng, điều đó không có gì bất thường, vì thường lúc này họ cần ngủ từ tám đến mười giờ mỗi ngày, thêm giờ ngủ trưa.

    Khoảng phân nửa phụ nữ mắc chứng buồn nôn và ói, gọi là “ốm nghén”.

    Ví dụ: Một vài phụ nữ buồn nôn khi thấy hoặc ngửi mùi thức ăn, đặc biệt mùi thức ăn đang nấu, những người khác cảm thấy đau dạ dày mỗi khi thức dậy, họ thường ăn bánh snach (như bánh quy giòn) cứ hai hoặc ba giờ họ ăn một lần giúp làm giảm cảm giác buồn nôn. Cần tránh các thức ăn chiên có mỡ và các loại thức ăn khó tiêu.

    Phần lớn chứng ốm nghén sẽ qua đi và biến mất vào đầu tháng tư, điều quan trọng là không nên dùng các loại thuốc như kháng acid để điều trị chứng đau dạ dày, trừ khi được bác sĩ chỉ định.

    Sẩy thai cũng thường xảy ra vào quý đầu. Sảy thai thường do nguyên nhân tự nhiên chứ không tại bác sĩ hay chính đương sự. Thật ra, hầu hết các nguyên nhân sẩy thai đều không được xác định, bất kỳ sự chảy máu nào của âm đạo ở giai đoạn sớm này đều là dấu hiệu của nguy cơ sẩy thai, nên báo với bác sĩ ngay để được hướng dẫn.

    Quý hai:

    Hầu hết các vấn đề của quý một sẽ giảm dần trong quý hai, bây giờ là sự tăng trưởng ở vùng bụng rất nhanh.Vào tháng thứ năm, họ sẽ cảm nhận được những cử động của thai nhi (thai đạp lần đầu) và họ cảm thấy thật sung sướng. Ðây là dấu hiệu cho thấy thai nhi đang phát triển tốt. Cũng vào khoảng thời gian này, nhịp tim có thể nghe được qua ống nghe tim thai.

    Một số vấn đề trong quý một vẫn còn tiếp diễn trong quý hai. Táo bón thường đi đôi với việc cơ quan ép lên vùng tiểu khung và các mạch máu ở trực tràng gây phát triển bệnh trĩ. Muốn sử dụng thuốc phải hỏi ý kiến của bác sĩ. Một số phụ nữ bị chứng phù (sưng), đặc biệt ở tay, chân và cả cổ chân. Vì phù có thể là dấu hiệu của chứng ngộ độc huyết, cần trình bày rõ cho bác sĩ biết những chỗ bị sưng. Vào tuần thứ mười chín (hoặc trễ hơn) của thai kỳ, vú có thể sinh sản sữa non. Sữa non là một chất lỏng, dinh dính, màu vàng nhạt, tuy không nhiều như­ng cũng đủ để nhận ra.

    Quý ba:

    Vào quý ba, tử cung trở nên rất rộng và lên cân đáng kể. Khi mang thai, phụ nữ có thể tăng khoảng 10 đến 13kg, nhất là vào quý hai và ba, phụ nữ tăng cân khoảng 1/2 kg một tuần.

    Vào khoảng cuối thai kỳ (hai hoặc ba tuần trước khi sinh) thai nhi xuống vị trí thấp hơn trong ổ bụng, khi đáy tử cung căng ra chuẩn bị sinh. Sự thay đổi vị trí này gọi là sự sa bụng (có lẽ vì nó làm giảm áp lực khó chịu bên trong phổi và dạ dày) và dấu hiệu mệt nhọc sẽ sớm bắt đầu. Sa bụng làm tăng sức ép ở bụng dưới, có thể gây ra một vài khó chịu mới bao gồm: đi tiểu thường hơn, táo bón và sưng cổ chân.

    Sự thay đổi cơ thể trong khi mang thai đáng quan tâm nhất ở quý ba là gây ra một số tác dụng phụ có thể làm khó chịu. Có điều những khó chịu này chỉ nhất thời và sẽ biến mất hoàn toàn sau khi sinh một tuần.

    NHỮNG THAY ĐỔI TRONG TÂM LÝ VÀ TÌNH CẢM

    Người mẹ tương lai

    Những thay đổi thể lý có thể tương tự nhau, nhưng những phản ứng tình cảm nơi mỗi sản phụ có thể khác nhau. Có bao nhiêu phụ nữ mang thai là có bấy nhiêu phản ứng khác nhau. Khác nhau về tình cảm chờ mong, rồi thai kỳ có được mạnh khỏe và thoải mái không, vấn đề tài chính ra sao. Nhưng ngay cả trong những điều kiện tốt nhất, phụ nữ (và đàn ông) có thể có rất nhiều cảm giác lẫn lộn về thai kỳ.

    Nếu sự mang thai là điều xảy ra ngoài ý muốn, ngư­ời phụ nữ cảm thấy rất căng thẳng và bất ổn về tình cảm. Mỗi lần mang thai đều khác nhau và xảy ra trong những điều kiện khác nhau, vì thế phụ nữ không thể mong là có những cảm nhận giống nhau mỗi lần có thai.

    Vài tuần lễ đầu tiên của thai kỳ thường là thời điểm của những tình cảm lẫn lộn đặc biệt. Phụ nữ có thể hồi hộp khi có thai như­ng cũng có thể có nhiều ngờ vực và lo sợ nhất là lần mang thai đầu. Vài phụ nữ quá quan tâm đến nỗi họ trở nên mê tín dị đoan và từ chối việc nói chuyện có thai với bất cứ người nào khác vì sợ gặp điềm gở, thường có tới 20% trường hợp sẩy thai vào thời gian đầu này, nên hãy thủng thẳng khi nói chuyện có thai. Họ còn nghi ngại về khả năng làm người mẹ của mình.

    Thật sự nàng không thể mường tượng mình sẽ là một ngư­ời mẹ và chồng nàng sẽ là một người cha.

    Khi bước vào quý hai và đặc biệt sau khi cô ta cảm thấy thai nhi cử động, một số lo lắng trước đây giảm. Nhiều tình cảm khác lại phát sinh, như sự gắn bó và kính trọng mẹ ruột của nàng, vì cả hai người cảm thấy họ có những cái chung. Vài tuần cuối của thai kỳ có thể khó khăn hơn do mệt mỏi và khó đi lại. Lúc này có thể phát sinh tình cảm bị lẻ loi buồn chán.

    Người cha tương lai

    Cũng như phụ nữ, người đàn ông cũng có những tình cảm lẫn lộn. Vì người cha tương lai không phải trải qua những thay đổi cơ thể, nhưng trước tiên, việc mang thai dường như không phải là sự thật đối với họ, mặc dù họ rất quan tâm. Vào quý hai, một khi họ nghe tim thai đập và cảm nhận bào thai đang đạp, lúc ấy đối với họ dường như mới là sự thật.

    Nhưng người cha háo hức luôn lo lắng về những gì họ mường tượng lúc sinh con. Họ sợ không biết vợ mình có khả năng chịu đựng lúc trở dạ và sinh nở hay không. Phương pháp tốt nhất để chống lại những mối cảm xúc này là sự am hiểu thông tin bằng cách tìm hiểu sách báo hay trao đổi với những người có kinh nghiệm. Họ cần sáng suốt hơn, vì chính họ mới là người quán xuyến nhiều thứ, nhất là sau khi người vợ sinh xong còn mệt mỏi.

    MỐI QUAN HỆ CỦA HAI NGƯỜI VÀ BẦU KHÔNG KHÍ TRONG GIA ĐÌNH

    Sự mang thai thường có những tác động mạnh đến mối quan hệ của hai vợ chồng. Bên cạnh niềm vui là những sự lo lắng về tương lai, rồi những hạn chế trong sinh hoạt tình dục nhiều khi cũng trở thành vấn đề. Anh chị của đứa em sắp chào đời cũng chịu sự tác động bởi sự có thai, chúng có thể đáp ứng lại bằng niềm vui và sự nâng đỡ nhưng cũng có thể là sự lo âu nên có thể không có cảm tình với đứa em sắp chào đời. Chính vì thế, điều cần thiết là phải chuẩn bị tinh thần cho những đứa con lớn, giúp chúng hiểu để có tình cảm dịu dàng và giảm bớt sự ghen tuông.

    TÌNH DỤC LÚC MANG THAI

    Ða số phụ nữ vẫn tiếp tục giao hợp trong lúc mang thai, nhưng nhiều cặp vợ chồng có những lo lắng và thắc mắc trong thời gian này. Có thể có ng­ười phụ nữ không cảm thấy ham muốn vào những tháng cuối của thai kỳ.

    Một số khác sợ việc đưa mạnh dương vật vào hoặc sức nặng cơ thể của bạn tình có thể đè bẹp bào thai, nhưng phổ biến là lo lắng nguy cơ gây viêm nhiễm.

    Cũng có một số cảnh báo cần được nhắc nhở khi giao hợp lúc mang thai:

    1- Nếu người phụ nữ có tiền sử xảy thai hoặc xuất huyết âm đạo trong thời gian mang thai.

    2- Cuối cùng kỹ thuật làm tình mà tất cả phụ nữ có thai nên tránh, đó là hành động thổi mạnh không khí vào âm đạo trong khi giao hợp bằng miệng (kích thích bộ phận sinh dục nữ bằng miệng).

    VẪN LÀM VIỆC KHI ĐANG MANG THAI

    Ngày nay, hầu hết phụ nữ đều ra ngoài làm việc để kiếm tiền, và trong số này có khoảng 80% mang thai ít nhất là một lần trong đời làm việc của họ. Nhiều phụ nữ thắc mắc là khi có bầu thì họ sẽ làm việc được trong bao lâu, nhưng chẳng thể đơn giản trả lời được vì nó phụ thuộc vào sức khỏe và bản chất công việc của mỗi người. Trong đa số trường hợp, để cho toàn vẹn, cần nghỉ làm ngay cho đến khi sinh đẻ xong. Những đối xử bất công cần được pháp luật can thiệp.

    SỨC KHỎE LÚC MANG THAI

    Sự dinh dưỡng

    Những phụ nữ khi mang thai cần nhiều chất đạm, sinh tố, chất khoáng và tổng nhu cầu nhiệt lư­ợng nhiều hơn phụ nữ bình th­ường (từ 2000 đến 2400 calo).

    Một chế độ ăn uống dinh dưỡng cung cấp cho một ngày vào khoảng 2000 đến 2400 calo th­ường bao gồm:

    • Sữa
    • Thực phẩm gốc thịt
    • Trái cây chín
    • Bánh mì và các loại thức ăn chứa tinh bột khác
    • Các chất béo và dầu mỡ
    • Những chất khoáng khác nhau như chất sắt và chất vôi (canxi), cũng đặc biệt quan trọng trong thời gian thai nghén. Chúng hỗ trợ ngư­ời phụ nữ chống lại sự mệt mỏi, co thắt cơ bắp, thiếu máu, nhức đầu và tăng cường dinh dưỡng cho thai nhi.

    Tập thể dục

    Việc tập thể dục giúp ổn định trọng lượng cơ thể và góp phần giữ gìn sức khỏe tổng quát, sự sảng khoái tinh thần. Nếu bạn đã tập thể dục đều đặn, bạn không có lý do gì ngưng tập khi mang thai.

    Thuốc men

    Nhiều loại thuốc như aspirin, các chất kháng acid, thuốc chống xung huyết, hoặc thuốc nhuận trường được dùng quá thông dụng đến nỗi chúng ta không nghĩ đến khả năng gây nguy hiểm của chúng. Nhưng những thuốc này đều cần cẩn trọng trong thời kỳ có thai vì chúng đều có thể gây nguy hiểm cho sự phát triển của bào thai.

    Trên thực tế nhau thai có cung cấp một sự bảo vệ nào đó giúp lọc bớt những chất nguy hiểm khỏi dòng máu người mẹ trước khi tới bào thai, nhưng khả năng này có giới hạn. Nhiều loại thuốc đi qua nó tới được bào thai và gây ra những tổn hại, nhất là não.

    Rượu

    Người ta ước tính rằng cứ 1.000 trẻ sinh ra do người mẹ uống rượu, dù chưa phải là nghiện, thì có đến 78 đến 690 trẻ bị những khuyết tật hoặc các vấn đề về sức khỏe.

    Ảnh hưởng của rượu tỉ lệ với lượng mà người mẹ đưa vào cơ thể, nghĩa là người mẹ càng uống nhiều, nguy cơ cho bé sơ sinh càng lớn.

    Hút thuốc

    Nhiều người trong chúng ta thừa nhận rằng phụ nữ không nên sử dụng thuốc lá trong khi có thai, nhưng hầu hết chúng ta không nghĩ rằng thuốc lá như là thuốc uống, mặc dù chúng có chứa chất gây nghiện (nicotin) – Chúng ta thường hiểu thuốc lá là một nguy cơ đối với sức khỏe nhưng không phải cho thai nhi đang phát triển mà cho phổi chúng ta.

    Sự thực, hút thuốc lá trong khi mang thai rất nguy hiểm, ảnh hưởng rõ rệt nhất là sự phát triển của thai nhi. Ðứa bé được sinh ra do người mẹ hút thuốc thường cân nhẹ hơn trẻ em bình thường ít nhất khoảng 200g. Chúng cũng ngắn hơn và đầu nhô hơn. Những tác động này có thể kéo dài và thậm chí là vĩnh viễn. Hút thuốc còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển trí tuệ của con cái.

    Hút thuốc xem chừng còn làm gia tăng sự sẩy thai, làm trẻ chết lúc sinh, nhất là những phụ nữ còn bị những chứng bệnh khác như cao huyết áp.

    Chất cafêin

    Nhiều loại thực phẩm và thuốc chứa chất cafêin khác nhau được nhiều người tiêu thụ số lượng đáng kể mỗi ngày, nhiều loại nước ngọt đặc biệt như nước giải khát cô ca, sôcôla và trà cũng có chất cafêin. Nhiều nghiên cứu cảnh báo việc phụ nữ có thai dùng quá nhiều các thực phẩm chứa cafêin, vì nó có thể gây dị dạng ở thai nhi.

    CÁC LOẠI THUỐC BẤT HỢP PHÁP

    Người ta còn biết ít về tác dụng của đa số các loại thuốc bất hợp pháp đối với bào thai đang phát triển, cả hai loại thuốc gây nghiện như heroin và methadone được biết là cực kỳ nguy hiểm

    --- Bài cũ hơn ---

  • 21 Dấu Hiệu Có Thai Giúp Bạn Phát Hiện Em Bé Sớm
  • 20+ Dấu Hiệu Mang Thai Con Trai Chính Xác Đến 90%
  • 9+ Dấu Hiệu Mang Thai Con Trai Sớm Nhất, Chính Xác Nhất
  • Mang Thai Tháng Thứ 2: Trái Tim Nhỏ Bé Đã Có Những Nhịp Đập Đầu Tiên
  • Mang Thai Tháng Thứ 2 Và Những Điều Mẹ Bầu Nên Biết
  • Quan Sát Trẻ Dựa Trên Quá Trình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Và Giám Sát Đào Tạo Liên Tục
  • Điều Hành Và Giám Sát Các Hoạt Động Y Tế Công Cộng
  • Nâng Cao Vai Trò Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn Trong Thực Hành Giám Sát Nhiễm Khuẩn Bệnh Viện Tại Tỉnh Yên Bái
  • Quan Sát Hỗn Hợp Sắc Tố Phức Tạp Trong Tế Bào Sống
  • Mách Nhỏ Chủ Shop 5 Cách Quản Lý Nhân Viên Bán Hàng Hiệu Quả
  • Vào ngày 9/6/2016 tại Đà Nẵng đã diễn ra Hội thảo Tổng kết “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng về Hệ thống quan sát trẻ dựa trên quá trình”.

    Tham gia hội thảo có đại diện các Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ GD&ĐT, đại diện một số Sở và Phòng GD&ĐT của các tỉnh dự án và đông đảo lãnh đạo nhà trường và giáo viên, những người trực tiếp tham gia vào nghiên cứu. Đặc biệt, hội thảo còn được hân hạnh tiếp đón ngài Geert Vansintjan, Phó đại sứ Vương quốc Bỉ tại Việt Nam.

    Trong khoảng thời gian tháng 12/2015 đến tháng 5/2016, cùng với Sở GD&ĐT Thái Nguyên và Sở GD&ĐT Quảng Nam, VVOB Việt Nam tiến hành Nghiên cứu Khoa học Sư phạm Ứng dụng về Hệ thống quan sát trẻ dựa trên quá trình. Đã có 5 cán bộ Sở và Phòng GD&ĐT, 48 lãnh đạo và giáo viên trường Mầm non, 8 giảng viên trường ĐH/CĐSP và 519 trẻ em từ 8 trường Mầm non tham gia vào nghiên cứu.

    Tham gia vào quá trình nghiên cứu này, giáo viên được tập huấn về kỹ năng quan sát trẻ – bước đầu tiên trong toàn bộ quá trình. Ở bước tiếp theo, giáo viên đánh giá mức độ tham gia và cảm giác thoải mái của trẻ trong lớp, xác định những rào cản khiến trẻ có mức độ tham gia và cảm giác thoải mái thấp và sau đó đưa ra các biện pháp can thiệp và hỗ trợ thông qua việc xây dựng và thực hiện các hành động trong số 10 hành động hỗ trợ cụ thể mà VVOB Việt Nam tập huấn. Chu trình quan sát, đánh giá trẻ, lập kế hoạch và hỗ trợ lặp lại 2 lần trong khoảng thời gian tháng 1 đến tháng 5/2016.

    Tại buổi hội thảo, VVOB và các trường tham gia nghiên cứu trình bày những kết quả đạt được từ nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đó. Những kết quả định tính và định lượng thu được cho thấy, trong thời gian một học kỳ, khi giáo viên thực hiện quan sát trẻ, xác định những rào cản ngăn trở việc trẻ học sâu, lập và thực hiện kế hoạch can thiệp, cảm giác thoải mái và sự tham gia của nhiều trẻ em được cải thiện rõ rệt. Dù mức độ tiến triển ở các nhóm trẻ không đồng đều, rõ ràng đã có những thay đổi tích cực ở mọi nhóm trẻ, dù đó là trẻ người Kinh hay dân tộc thiểu số, bé trai hay bé gái, trẻ học tại điểm trường chính hay tại điểm trường lẻ.

    Bằng việc tham gia vào quá trình nghiên cứu giáo viên đã có kiến thức và kỹ năng trong việc quan sát trẻ, đặc biệt là biết rút ra những phương pháp tác động tới từng trẻ, hỗ trợ từng trẻ phát triển để đạt được mục đích không một trẻ em nào bị bỏ rơi. Bà Nguyễn Thúy Hồng, Phó cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục

    Nghiên cứu này là bước thử nghiệm đầu tiên của VVOB Việt Nam. Những bài học và kinh nghiệm quý báu thu được từ nghiên cứu sẽ giúp VVOB Việt Nam trong việc phối hợp cùng Bộ GD&ĐT mở rộng phạm vi nội dung này trong chương trình hợp tác tiếp theo 2022-2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Sát Hành Vi Khách Hàng Cần Thiết Cho Kinh Doanh Ngày Nay
  • Phương Pháp Quan Sát Hành Vi Là Gì?
  • Cách Chuyển Đổi Font Chữ Bằng Unikey Cho Word, Excel…
  • Phương Pháp Giải Nhanh Bài Tập Peptit Và Protein
  • Hướng Dẫn Quy Đổi Chi Phí Đầu Tư Xây Dựng Công Trình
  • Quá Trình Chuyển Hóa Các Chất Dinh Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Luận Văn Thạc Sỹ Luật “vai Trò Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Ở Tỉnh Bắc Giang Trong Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Của Người Chưa Thành Niên Là Người Bị Tạm Giữ, Bị Can, Bị Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự”
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Trị Chiến Lược Trong Kinh Doanh
  • Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Các Nhà Khoa Học Đã Phát Hiện Ra Cách Thức Tế Bào Ung Thư Lẩn Trốn Trong Cơ Thể
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Hoạt Động Sư Phạm
  • Sự tiêu hóa bắt đầu từ miệng, với men amylase của nước bọt. Tinh bột được chuyển hóa thành dextrin và maltose.

    Ở dạ dày, men amylase tiếp tục chuyển hóa tinh bột thành những phân tử đơn giản hơn, nhưng sự tiêu hóa trong ruột non mới đáng kể.

    Ở tá tràng, dưới tác dụng của men amylase từ tụy tạng, tinh bột chuyển thành dextrin, maltose, rồi men maltase ở ruột chuyển hóa maltose thành glucose.

    Glucose và các đường fructose, lactose theo các mạch máu nhỏ ở ruột vào động mạch rồi được đưa đến gan. Một số glucose từ gan được chuyển đến tế bào, một số được tích trữ lại trong gan và cơ dưới dạng glycogen. Các đường fructose và lactose cuối cùng cũng chuyển hóa thành đường glucose.

    Một số carbohydrat như chất xơ, cellulose không được tiêu hóa và được thải ra theo phân. Động vật nhai lại có thể tiêu hóa cellulose, chất xơ nhờ tác dụng của vi khuẩn trong bộ máy tiêu hóa của chúng.

    Dạ dày là chặng đầu tiên tiêu hóa chất đạm, nhưng chỉ tiêu hóa được một phần rất ít. Đa số chất đạm được tiêu hóa ở tá tràng. Dưới tác dụng của men trypsin từ tụy tạng, chất đạm được biến đổi thành các phân tử acid amin rồi theo đường máu đến gan và được dự trữ trong gan. Hầu hết chất đạm ăn vào đều được hấp thụ ở ruột non, chỉ có khoảng 1% thất thoát ra ngoài theo phân.

    3. Chất béo

    Cũng như chất đạm, hầu hết chất béo đều được tiêu hóa ở ruột non, nhất là đại tràng, dưới tác dụng của men lipase từ dạ dày và tụy tạng. Sau khi tiêu hóa, chất béo được chuyển sang máu dưới dạng acid béo và cholesterol. Dịch mật từ gan cũng góp phần nhiều trong quá trình tiêu hóa chất béo.

    4. Các chất dinh dưỡng khác

    Vitamin, chất khoáng và nước được hấp thụ ở ruột. Mỗi ngày có khoảng 8 lít nước được thẩm thấu qua lại từ ruột để giữ cho chất dinh dưỡng ở trong tình trạng dung dịch loãng. Vitamin cũng được hấp thụ nguyên dạng từ ruột. Sự hấp thụ của chất khoáng phức tạp hơn, cần có sự chuyên chở chọn lọc của các protein và albumin.

    Sự hấp thụ

    Sự hấp thụ là quá trình chuyển hóa trong đó các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa ở ruột non được hấp thụ và chuyển vào máu, được chuyển hóa để các tế bào hấp thụ được. Chất dinh dưỡng gồm có: glucose từ carbohydrat, acid amin từ chất đạm, acid béo và glycerol từ chất béo.

    Sự chuyển hóa

    Sự chuyển hóa là một chuỗi phản ứng hóa học nhờ có các men xúc tác, dẫn đến hình thành những dưỡng chất có thể được cơ thể sử dụng để bổ sung nuôi dưỡng tế bào và tạo ra năng lượng đáp ứng nhu cầu của cơ thể.

    Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong thức ăn gồm có các nhóm chất đạm, chất béo và carbohydrat. Mỗi nhóm có những chức năng khác nhau trong việc nuôi dưỡng cơ thể, nhưng tất cả đều cho năng lượng. Vitamin, muối khoáng và nước không cho năng lượng nhưng lại cần thiết cho sự chuyển hóa.

    Sự chuyển hóa tạo ra năng lượng nhưng đồng thời cũng tạo ra những cặn bã không tốt cho cơ thể và cần được thải ra ngoài.

    Sự chuyển hóa diễn ra cùng một lúc dưới hai hình thức:

    a. Dị hóa (catabolism): chất dinh dưỡng hữu cơ được đốt cháy để cho năng lượng.

    b. Đồng hóa (anabolism): các phản ứng hóa học chuyển đổi chất dinh dưỡng thành các sản phẩm nuôi dưỡng tế bào và các chất hóa học khác như kích thích tố, men, máu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Tiểu Luận Pháp Luật Đại Cương Chi Tiết
  • Bắt Ong Dú, Mách Bạn 3 Cách Làm Tổ Bẫy Ong Dễ Thành Công
  • Nghiên Cứu Chỉ Ra Những Lợi Ích Mới Của Mật Ong
  • Phân Biệt Odds Ratio & Relative Risk
  • Odds Là Gì ? Chia Sẽ Kiến Thức Cơ Bản Về Phương Pháp Odds
  • Quá Trình Fenton Xử Lý Nước Thải

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Fenton Đầy Đủ Và Ứng Dụng Trong Xử Lý Nước Thải
  • 28 Cách Giảm Cân Nhanh Và Hiệu Quả Đã Được Khoa Học Chứng Minh
  • 7 Cách Giảm Cân Cấp Tốc Tại Nhà Nhanh
  • Khám Phá Phương Pháp Giảm Cân Mới
  • Phương Pháp Giảm Cân Bằng Cách Nhịn Ăn Gián Đoạn Có Phản Khoa Học?
  • Sử dụng phản ứng oxy hóa để phá hủy các chất độc hại là một phương pháp xử lý ô nhiễm có hiệu quả. Từ đầu những năm 70 người ta đã đưa ra một quy trình áp dụng nguyên tắc phản ứng Fenton để xử lý ô nhiễm nước thải mà theo đó hyđro peroxyt phản ứng với sắt (II) sunfat sẽ tạo ra gốc tự do hyđroxyl có khả năng phá hủy các chất hữu cơ. Trong một số trường hợp nếu phản ứng xảy ra hoàn toàn, một số chất hữu cơ sẽ chuyển hóa thành CO2 và nước. Hiện nay các quy định bảo vệ môi trường càng trở nên khắt khe hơn vì vậy phương pháp Fenton lại càng được chú trọng.

    Dùng cho phản ứng Fenton cần có xúc tác và chất oxy hóa. Chất xúc tác có thể là muối sắt hai hoặc sắt ba còn chất oxy hóa là hyđro peroxit. Phản ứng tạo ra gốc tự do hyđroxyl diễn ra như sau:

    Phản ứng của gốc hydroxyl :Gốc hydroxyl là chất oxy hóa mạnh, chỉ sau Fluorine. Phản ứng hóa học của gốc hydroxyl trong nước có 4 dạng :

    (1) Dạng cộng thêm : Gốc hydroxyl thêm vào một hợp chất chưa bão hòa, aliphatic (béo) hay aromatic (thơm) để tạo nên một sản phẩm có gốc tự do .

    (2) Dạng loại hydro : Phản ứng tạo ra một gốc hữu cơ tự do và nước

    (3) Dạng chuyển đổi electron : Tạo ra những ion ở trạng thái hóa trị cao hơn (hoặc một nguyên tử, một gốc tự do nếu ion mang điện tích 1- bị oxy hóa ) :

    (4) Dạng tương tác giữa các gốc : 2 gốc hydroxyl phản ứng với nhau hay 1 gốc hydroxyl phản ứng với một gốc khác để tạo nên một sản phẩm bền vững hơn:

    Trong việc ứng dụng phản ứng Fenton xử lý nước thải, những điều kiện của phản ứng được điều chỉnh để ưu tiên xảy ra theo 2 cơ chế đầu.

    Ngoài ra, phản ứng oxy hóa còn được xúc tác bởi một lượng nhỏ mangan dưới dạng muối sulfate. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, sự hiện diện của mangan làm tăng hiệu quả phản ứng nhưng chỉ với một tỉ lệ mangan rất thấp (nếu nhiều mangan quá cũng không tốt). Mangan làm tăng tác dụng hấp phụ của bông hydroxit và vai trò của mangan chủ yếu thể hiện khi pH được nâng lên khoảng 7-8.

    Bể xử lý nước thải dệt nhuộm bằng fenton lưu lượng nhỏ

    Quá trình Fenton trong xử lý nước thải

    Thông thường qui trình oxi hóa Fenton đồng thể gồm 4 giai đoạn:

    Điều chỉnh pH phù hợp: Trong các phản ứng Fenton, độ pH ảnh hưởng tới tốc độ phản ứng và nồng độ Fe2+ , từ đó ảnh hưởng lớn đến tốc độ phản ứng và hiệu quả phân hủy các chất hữu cơ, pH thích hợp cho quá trình là từ 2 – 4, tối ưu nhất là ở mức 2. 8. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm giảm thiểu khó khăn khi đưa pH về mức thấp rồi sau đó lại nâng pH lên mức trung tính để tách khử Fe, H2O2 dư. Nếu ta dùng các chất xúc tác khác như quặng sắt Goethite (a-FeOOH), cát có chứa sắt, hoặc sắt trên chất mang Fe/SiO2, Fe/TiO2, Fe/than hoạt tính, Fe/Zeolit… thì quá trình này gọi là Fenton dị thể, pH thích hợp ở trường hợp này theo nghiên cứu cao hơn đồng thể, khoảng từ 5 – 9.

    Quá trình lắng: Các bông keo sau khi hình thành sẽ lắng xuống khiến làm giảm COD, màu, mùi trong nước thải. Sau quá trình lắng các chất hữu cơ còn lại (nếu có) trong nước thải chủ yếu là các hợp chất hữu cơ có khối lượng phân tử thấp sẽ được xử lý bổ sung bằng phương pháp sinh học hoặc bằng các phương pháp khác.

    1. Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng Fenton :

    Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm

    Các ứng dụng khác trong lĩnh vực môi trường của H2O2 đã được thế giới áp dụng gồm có :

    – Khử mùi : oxy hóa H2S, mercaptan, amine và aldehyde. H2O2 có thể đưa trực tiếp vào nước thải có mùi hoặc đưa vào tháp phun ướt để khử mùi từ dòng khí.

    – Kiểm soát sự ăn mòn : phân hủy dư lượng chlorine và hợp chất lưu huỳnh (thiosulfates, sulfites và sulfides) tạo ra các axit ăn mòn khi ngưng tụ trong thiết bị và bị oxy hóa bởi không khí.

    – Khử BOD, COD : oxy hóa các chất ô nhiễm gây ra BOD, COD, đối với những chất khó phân hủy có thể cần xúc tác.

    – Oxy hóa chất vô cơ : oxy hóa cyanide, NOx, SOx, nitrites, hydrazine, carbonyl sulfide, và các hợp chất lưu huỳnh (phần khử mùi).

    – Oxy hóa chất hữu cơ : thủy phân formaldehyde, cacbon disulfide (CS2), carbohydrat, photpho hữu cơ, các hợp chất nitơ, phenol, thuốc bảo vệ thực vật…

    – Oxy hóa kim loại : oxy hóa sắt II, mangan, arsenic, selenium…để cải thiện khả năng hấp phụ , lọc hay kết tủa từ các quá trình xử lý nước và nước thải.

    – Khử độc, cải thiện khả năng phân hủy sinh học : với xúc tác H2O2 phân hủy các chất hữu cơ phức tạp thành đơn giản hơn, ít độc hơn, dễ phân hủy sinh học hơn.

    – Khử trùng.

    – Giải phóng các bọt khí nhỏ phân tán, nâng cao hiệu quả khử loại các váng dầu mỡ trong hệ thống tuyển nổi.

    – Cung cấp nguồn DO bổ sung tại chỗ cho quá trình xử lý sinh học, cải thiện hiệu quả đốt cháy và làm giảm nhiệt độ vận hành trong lò đốt…

    Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước ứng dụng hệ oxy hóa Fenton để xử lý một số chất hữu cơ độc hại như các dẫn xuất của phenol, dẫn xuất của bezen… cũng đã được thực hiện

    3. Các nghiên cứu về động học phản ứng Fenton

    Động học phản ứng của hệ Fenton đã được nhiều tác giả trên thế giới như David R. Grymonpré; Hui Chen, Namgoo Kang và đồng sự … nghiên cứu khá kỹ trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơ khó phân huỷ và độc hại như thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, clophenol, thuốc nhuộm… Trong các nghiên cứu này, các phương pháp phân tích hiện đại như sắc khí khí, sắc ký lỏng cao áp, sắc ký khí ghép khối phổ… đã được sử dụng để nghiên cứu thành phần các chất hữu cơ trung gian trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học để dự đoán cơ chế phản ứng; sau đó một số tác giả đã dùng chương trình máy tính để mô phỏng để tính toán các thông số động học và sự thay đổi nồng độ của các chất hữu cơ theo thời gian … kết quả tính trên mô hình mô phỏng khá phù hợp với số liệu thí nghiệm.

    Qua các tài liệu, thông tin tra cứu được cho thấy, vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu động học phản ứng Fenton cho nước rỉ rác. Điều này sẽ giúp nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về quá trình oxy hóa Fenton xử lý nước rác, đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng giúp cho việc điều khiển và tối ưu quá trình; đồng thời nghiên cứu cơ chế chuyển hoá các chất hữu cơ từ dạng khó phân huỷ sang dạng dễ phân huỷ sinh học trong các điều kiện phản ứng khác nhau nhằm kết hợp phương pháp oxy hóa Fenton với các công nghệ xử lý khác như xử lý sinh học…

    Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn rõ hơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Fenton
  • Hướng Dẫn Vận Hành Máy Hàn Tig * Máy Hàn Tig Chính Hãng Giá Rẻ
  • Các Lỗi Thường Gặp Trong Hàn Mig Và Cách Khắc Phục
  • Martingale Wysiwyg: Quản Lý Vốn Trade Bo Giảm Được 96% Thua Lỗ Và Mở Rộng Thêm 69% Lợi Nhuận
  • 5 Chiến Lược Quản Lý Vốn Khi Giao Dịch Quyền Chọn Tại Iq Option
  • Quá Trình Thụ Thai: Sự Kết Hợp Hoàn Hảo Của Trứng Và Tinh Trùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Tượng Rỉ Ối Ở Mẹ Bầu Khi Mang Thai Và Những Điều Cần Biết
  • Rối Loạn Tiêu Hóa Là Gì Và Những Điều Cần Biết Về Hội Chứng Này
  • “bỏ Túi” 5 Triệu Chứng Rối Loạn Tiêu Hóa Điển Hình Cần Biết
  • Suy Thận Là Gì? Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Các Cấp Độ Và Cách Chữa
  • Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Trẻ Em Bị Sốt Xuất Huyết Tại Nhà Và Cách Phòng Bệnh
  • Tham vấn y khoa: Bác sĩ Lê Duy Thảo – Trung tâm IVF Hồng Ngọc

    Sau quan hệ bao lâu thì tinh trùng gặp trứng

    Đối với phụ nữ vào mỗi chu kỳ kinh nguyệt thì buồng trứng sẽ rụng khoảng từ 1 đến 3 quả trứng. Trung bình mỗi quả trứng chỉ có thể tồn tại trong vòng 24 giờ sau khi rụng.

    Sau khi rụng, trứng sẽ di chuyển qua ống dẫn trứng để đến tử cung và đợi để gặp tinh trùng và nếu thụ tinh thành công thì người phụ nữ có thể sẽ mang thai.

    Mặt khác, nếu quá trình thụ tinh không xảy ra thì trứng sẽ bị các đại thực bào tiêu hóa.

    Theo ước tính, một người phụ nữ có thể phóng thích khoảng 400 trứng tính từ khi kỳ kinh đầu tiên cho đến khi mãn kinh.

    Khác với phụ nữ, khi mỗi kỳ kinh nguyệt chỉ rụng khoảng từ 1 quả trứng thì đàn ông lại luôn sản xuất tinh trùng thường xuyên. Các tinh trùng sẽ sống một vài tuần trong cơ thể đàn ông và thường phải mất 2-3 tháng cho chu kỳ tái tạo tinh trùng.

    Mỗi khi xuất tinh, nam giới sẽ xuất ra khoảng 40-300 triệu tinh trùng và chỉ có duy nhất một tinh trùng có thể vượt qua “các chướng ngại vật” để tiến tới thụ tinh với trứng.

    Hành trình tinh trùng gặp trứng

    Sau khi xuất tinh thì tinh trùng sẽ qua âm đạo hướng về phía tử cung đi qua tử cung đến vòi trứng tìm gặp trứng. Tại đây, tinh trùng sẽ tiết ra chất làm mềm vỏ trứng để có thể chui vào được bên trong noãn. Và khi có một tinh trùng thành công chui vào noãn thì trứng sẽ ngay lập tức tiết ra chất làm cứng vỏ để không cho các tinh trùng khác có cơ hội xâm nhập.

    Quá trình thụ tinh sẽ diễn ra trong thời gian nhanh nhất khi tinh trùng gặp luôn được trứng tại đoạn đầu của vòi. Thời gian ước tính ngắn nhất mất khoảng 45 phút và chậm nhất là 12 tiếng. Tuy nhiên, nếu tinh trùng không gặp được trứng thì sẽ phải đợi trong khoảng thời gian từ 2-3 ngày khi trứng rụng để có thể thụ tinh.

    Những trở ngại cản trở tinh trùng gặp trứng

    Một trong những yếu tố cũng ảnh hưởng đến thời gian tinh trùng gặp trứng chính là đặc điểm của tinh trùng. Theo đó, những tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thường khỏe hơn, di chuyển nhanh hơn nhưng thời gian sống lại tương đối ngắn. Ngược lại những tinh trùng mang nhiễm sắc thể X có tốc độ di chuyển chậm hơn nhưng lại tồn tại lâu hơn.

    Bên cạnh đó có một số nguyên nhân có thể gây cản trở cho quá trình tinh trùng gặp trứng như:

    Chất nhầy ở cổ tử cung: nếu vào những ngày rụng trứng thì chất nhầy sẽ lỏng hơn và giúp tinh trùng có thể dễ dàng chui qua. Nhưng đối với những ngày không phải rụng trứng thì chất nhầy sẽ đặc hơn và cản trở tinh trùng có thể tiến vào bên trong.

    Ngoài ra, trong một số trường hợp, chất nhầy cổ tử cung của người phụ nữ cũng có thể hình thành kháng thể để kháng tinh trùng của người chồng.

    Độ ph trong âm đạo: trong môi trường âm đạo thì độ ph có tính axit nên tinh trùng khó có thể tồn tại được.

    Hệ miễn dịch: tinh trùng có thể bị tiêu diệt ngay bởi các tế bào bạch cầu vì hệ miễn dịch của phụ nữ vốn vô cùng nhạy cảm.

    Quá trình thụ thai diễn ra như thế nào?

    Quá trình thụ thai được tính từ lúc trứng bắt đầu thụ tinh cho tới khi phôi thai làm tổ trong tử cung. Sau khi thụ tinh thành công, khoảng 3-4 ngày sau trứng sẽ bắt đầu di chuyển để đi vào tử cung tìm nơi làm tổ. Trong quá trình di chuyển, hợp tử sẽ bắt đầu phân bào và hình thành nên phôi nang.

    Phôi nang sẽ đi về phía tử cung và quá trình này có thể mất đến 3 ngày. Khi phôi nang bám vào thành tử cung sẽ dần dần hình thành nên phôi thai và nhau thai. Quá trình làm tổ thường mất khoảng 7 đến 10 ngày. Nếu tính khoảng thời điểm từ sau khi quan hệ đến khi thai nhi làm tổ trong tử cung sẽ mất khoảng thời gian từ 14 đến 17 ngày.

    Tuy nhiên, trong một số trường hợp phôi nang lại bám vào một nơi khác ngoài thành tử cung và thường nằm trong ống dẫn trứng, đây chính là hiện tượng mang thai ngoài tử cung. Nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm cho ống dẫn trứng.

    Ngoài ra cũng có những trường hợp kể cả khi thụ tinh thành công thì cũng không thể thụ thai vì trong quá trình phân bào, hợp tử gặp phải những bất thường về nhiễm sắc thể khiến cho phôi bị vỡ trước khi kịp làm tổ trong tử cung.

    Mặt khác, giới tính của thai nhi được quyết định bởi nhiễm sắc thể của tinh trùng lọt vào bên trong trứng đầu tiên. Nếu trứng thụ tinh với tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thì đứa bé sẽ mang giới tính nữ. Còn nếu trứng thụ tinh với tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thì giới tính sẽ là nam.

    Những dấu hiệu thụ thai thành công

    Ngoài những phương pháp kiểm tra thụ thai thành công như dùng que thử hay chính xác nhất là xét nghiệm nồng độ HCG trong máu thì có một số biểu hiện bên ngoài giúp nhận biết dấu hiệu mang thai như:

    Căng tức ngực, nhũ hoa dần sậm màu: hiện tượng này xảy ra khi tinh trùng và trứng thụ tinh thành công dẫn đến lượng hormone thay đổi đột ngột, làm cho lượng máu tuần hoàn đến ngực nhiều hơn gây ra sự căng tức ở ngực.

    Trễ kinh: đây được coi là dấu hiệu mang thai dễ nhận biết nhất và có độ chính xác cao. Khi trứng thụ tinh thành công thì kỳ kinh nguyệt sẽ không đến nữa trong suốt thai kỳ. Sau khi sinh xong kỳ kinh nguyệt sẽ quay trở lại.

    Ra máu bất thường: nếu chưa đến kỳ kinh nguyệt tiếp theo mà phụ nữ lại xảy ra hiện tượng ra máu thì có thể đó là dấu hiệu thụ thai vì khi trứng thụ tinh bám vào lớp nội mạc tử cung để làm tổ thì một vài mảnh niêm mạc có thể bị bong ra gây ra hiện tượng này.

    Bên cạnh các dấu hiệu như trên thì một vài triệu chứng mà phụ nữ cũng thường có như cảm thấy mệt mỏi, thân nhiệt cao hơn bình thường, thường xuyên bị chuột rút hoặc đi tiểu thường xuyên,…

    Hỗ trợ quá trình thụ thai được suôn sẻ hơn

    Để giúp cho quá trình thụ thai diễn ra suôn sẻ hơn thì có một số cách có thể hỗ trợ các cặp vợ chồng tăng tỷ lệ thành công như:

    Hai vợ chồng cần đảm bảo thể trạng sức khỏe tốt nhất, hạn chế sử dụng các loại chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá,… Ngoài ra tinh thần, giảm thiểu áp lực stress cũng là yếu tố quan trọng giúp việc thụ thai dễ dàng hơn.

    Ngoài ra, thời điểm vàng quan hệ giúp dễ có thai nhất là 5 ngày trước rụng trứng và trong ngày rụng trứng.

    Bên cạnh đó, sau khi quan hệ tình dục, người nữ không nên thụt rửa âm đạo mà thay vào đó hãy nằm ngửa tại chỗ và kê gối dưới mông trong khoảng 20 đến 30 phút để giúp tinh trùng di chuyển nhanh hơn.

    Fanpage Trung Tâm IVF Hồng Ngọc: https://www.facebook.com/ivfhongngoc2014

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tinh Trùng Gặp Trứng Có Hiện Tượng Gì, Ở Tử Cung Bao Lâu Và Bao Lâu Thụ Thai?
  • Quá Khứ Hoàn Thành Tiếp Diễn
  • Hình Ảnh Que Thử Thai Thế Nào Là Có Thai Và Không Có Thai?
  • Chăm Sóc Người Bệnh Mổ Tắc Ruột
  • Những Điều Cần Biết Về Bệnh Quai Bị Ở Trẻ
  • Hô Hấp Hiếu Khí Là Gì? Phân Biệt Hô Hấp Hiếu Khí Và Kị Khí

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Hàng Thật, Hàng Giả 100% Chính Xác
  • Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Hàng Nhật Thật Và Giả
  • Phân Biệt Iphone Thật Giả Chính Xác Nhất, Tránh Mua Phải Hàng Nhái
  • Phân Biệt Iphone Chính Hãng, Iphone Tân Trang Và Iphone Trôi Bảo Hành
  • Cách Phân Biệt Iphone 6 Và 6S Bằng Mắt Thường Cực Chuẩn
  • Bạn chưa hiểu bản chất của hô hấp hiếu khí là gì, nó diễn ra ở đâu, có vai trò gì và khác gì so với hô hấp kị khí? Đừng lo lắng, chúng tôi sẽ giải đáp tất cả những vấn đề trên trong bài viết sau đây.

    1. Hô hấp hiếu khí là gì?

    Hô hấp hiếu khí là quá trình oxi hóa các phân tử hữu cơ, mà chất nhận electron cuối cùng là oxi phân tử (O2). Đây là cách hô hấp của các vi sinh vật nhỏ bé. Ở vi sinh vật nhân thực, chuỗi truyền electron ở màng trong ti thể, còn sinh vật nhân sơ diễn ra ngay trên màng sinh chất.

    Vi sinh vật là những cơ thể nhỏ bé, chúng ta chỉ nhìn rõ chúng dưới kính hiển vi. Đặc điểm chung của chúng là hấp thụ và chuyển hóa chất dinh dưỡng rất nhanh, sinh trưởng và sinh sản nhanh, phân bố rộng. Trong tự nhiên, vi sinh vật có mặt ở khắp mọi nơi, trong các môi trường và điều kiện sinh thái đa dạng.

    Trong môi trường có oxi phân tử, một số vi sinh vật tiến hành hô hấp hiếu khí. Còn khi môi trường không có oxi phân tử, vi sinh vật sẽ tiến hành lên men hoặc hô hấp kị khí. Tìm hiểu thêm về hô hấp kị khí trong bài viết: Hô hấp kị khí là gì? Vai trò của hô hấp kị khí?

    Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải đường là CO2 và H2O. Ở vi khuẩn, khi phân giải một phân tử Glucôzơ, tế bào sẽ tích lũy được 38 ATP, tức là chiếm 40% năng lượng của phân tử Glucôzơ. Có một số vi sinh vật hiếu khí, khi môi trường thiếu một số nguyên tố vi lượng làm rối loạn trao đổi chất ở giai đoạn kế tiếp với chú trình Crep. Như vậy, loại vi sinh vật này thực hiện hô hấp không hoàn toàn.

    Tổng kết kiến thức: Hô hấp hiếu khí là quá trình phân giải nguyên liệu để sinh năng lượng cung cấp cho hoạt động sống của cơ thể. Nguyên liệu chúng sử dụng là đường đơn, trải qua giai đoạn đường phân và cho ra sản phẩm cuối cùng là ATP. Đặc điểm lớn nhất của hô hấp hiếu khí là nó cần môi trường có O2 để thực hiện quá trình hô hấp.

    Chú giải thêm:

    Ty thể là một bào quan với màng kép và hiện diện ở tất cả sinh vật nhân thực. Ty thể giúp tạo ra phần lớn loại phân tử cao năng là adenosine triphosphate (ATP), một nguồn năng lượng hóa học cung cấp cho hầu hết các hoạt động của tế bào. Chính vì vậy, ty thể còn được gọi là “nhà máy năng lượng của tế bào”.

    Màng sinh chất là một màng sinh học phân cách môi trường bên trong của các tế bào với môi trường bên ngoài của chúng. Có thể nói, màng sinh chất như bộ mặt của tế bào khi chúng thực hiện nhiệm vụ trao đổi chất với môi trường một cách có chọn lọc, thu nhận thông tin cho tế bào.

    Góc chia sẻ: Nếu các bạn trẻ tại Hà Nội chưa biết nên chọn trường học như thế nào thì có thể tham khảo ngay top các trường cấp 3 tại Hà Nội được chia sẻ bởi bacbaphi.com.vn

    2. Ý nghĩa của hô hấp hiếu khí

    Hô hấp hiếu khí có ý nghĩa rất đặc biệt, nó giúp tổng hợp ATP và cung cấp nguyên liệu cần thiết cho các phản ứng tổng hợp. Hệ số hô hấp là tỉ số giữa số phân tử CO2 thải ra và số phân tử O2 lấy vào khi hô hấp. Hệ số này cho biết số nguyên liệu đang hô hấp là nhóm chất gì và qua đó có thể đánh giá tình trạng hô hấp của cây.

    3. Hô hấp hiếu khí xảy ra ở đâu?

    Là quá trình xảy ra trong môi trường có O2, hô hấp hiếu khí chỉ thực hiện được khi có sự tham gia của O2 trong hô hấp. Hô hấp hiếu khí cùng với hô hấp kị khí, là một phần thuộc hô hấp ở xây xanh. Hô hấp hiếu khí được thực hiện qua nhiều con đường khác nhau:

    • Đường phân – chu trình Crebs.
    • Chu trình Pentozo photphat.
    • Đường phân – chu trình Glioxilic (ở thực vật).
    • Oxy hoá trực tiếp (ở VSV)

    Đường phân – chu trình Crebs

    Hô hấp hiếu khí theo con đường đường phân – chu trình Crebs là con đường chính của hô hấp tế bào xảy ra phổ biến ở mọi sinh vật, ở mọi tế bào. Hô hấp hiếu khí theo con đường này xảy ra qua 3 giai đoạn:

    • Đường phân tiến hành trong tế bào chất.
    • Chu trình Crebs tiến hành trong cơ chất ty thể.
    • Chuỗi hô hấp tiến hành trên màng trong ty thể.

    Đường phân: đường phân là quá trình phân huỷ phân tử glucose tạo acid pyruvic và NADH. Điểm đặc biệt của đường phân là không phải phân tử đường tự do phân giải mà phân tử đường đã được hoạt hoá bởi việc gắn gốc P vào mới bị phân huỷ. Ở dạng đường – photphat phân tử trở nên hoạt động hơn nên dễ biến đổi hơn.

    Đường phân được chia làm 2 giai đoạn:

    • Phân cắt phân tử glucose thành 2 phân tử trioza: AlPG và PDA.
    • Biến đổi AlPG và PDA thành acid pyruvic.

    Kết quả đường phân có thể tóm tắt là: C6H12O6 + 2NAD + ADP + 2H3PO4 → 2 CH3COCOOH + 2NADH + H+ + 2ATP

    Trong hô hấp hiếu khí, acid pyruvic tiếp tục phân huỷ qua chu trình Crebs, còn 2 NADH + H+ thực hiện chuỗi hô hấp để tạo H2O: 2NADH + H+ + O2 → 2 NAD + 2 H2O

    Vậy kết quả của đường phân trong hô hấp hiếu khí là: C6H12O6 + O2 → 2 CH3COCOOH + 2H2O

    Chu trình Crebs: sản phẩm của đường phân là acid pyruvic sẽ tiếp tục phân huỷ qua chu trình Crebs (chu trình do Crebs và SZ.Gyogy phát hiện ra năm 1937).

    Quá trình phân huỷ acid pyruvic qua chu trình Crebs được thực hiện tại cơ chất ty thể do nhiều hệ enzyme xúc tác. Phần lớn các phản ứng trong chu trình là decacboxyl hoá và dehydro hoá acid pyruvic. Chu trình xảy ra qua 2 phần:

    • Phân huỷ acid pyruvic tạo CO2 và các coenzime khử (NADH – H+, FADH2).
    • Các coenzime khử thực hiện chuỗi hô hấp.

    Kết quả của chu trình là:

    • 2 CH3COCOOH + 6H2O → 6CO2 + 10H2 (phần 1)
    • 10H2 + 5O2 → 10H2O (phần 2)

    Kết quả chung là: 2 CH3COCOOH + 5O2 → 6CO2 + 4H2O

    Nếu kết hợp giai đoạn đường phân ta có phương trình tổng quát của hô hấp là:

    C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O

    Chu trình Pentozo photphat

    Phân huỷ glucose qua đường phân không phải là con đường duy nhất mà còn có nhiều con đường khác, trong đó, chu trình Pentozo P là con đường phổ biến hơn cả. Con đường Pentozo P được phát hiện đầu tiên ở nấm enzyme, sau đó ở động vật và cuối cùng ở thực vật (Warburg, Cristian, 1930; Grise, 1935; Diken, 1936 …).

    Khác với đường phân, con đường Pentozo – P không phân huỷ glucose thành 2 triose mà glucose bị oxy hoá và decacboxyl hoá để tạo ra các Pentozo – P. Từ các Pentozo P tái tạo lại glucozo P. Con đường Pentozo – P xảy ra trong tế bào chất cùng với đường phân, vì vậy, có sự cạnh tranh với đường phân.

    Từ glucozo – P, nếu được enzyme glucozo – 6P – izomerase xúc tác sẽ biến thành fructozo 6P và đường phân sẽ xảy ra. Còn nếu enzyme glucozo 6P -dehydrogenase hoạt động nó sẽ oxy hoá glucozo 6P thành acid 6P – gluconic và con đường pentozo P xảy ra.

    Cũng như chu trình Crebs, con đường phân huỷ glucose theo chu trình Pentozo P cũng xảy ra theo 2 phần:

    • Phân huỷ glucose tạo CO2 và NADPH2.
    • NADPH2 thực hiện chuỗi hô hấp tạo H2O.

    Quá trình đó xảy ra một cách tổng quát là:

    • C6H12O6 + 6H2O → 6CO2 + 12H2O
    • 12H2 + 6O2 → 12 H2O

    Kết quả chung là: C6H12O6 + 6H2O → 6CO2 + 6H2O

    4. Phân biệt hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí

    Ở như phần định nghĩa, chúng tôi đã có nhắc qua về sự khác biệt của hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí. Tuy nhiên, để giúp bạn hiểu rõ hơn, chúng tôi sẽ làm rõ sự khác biệt này. Đây cũng là phần nội dung thường được đưa vào các câu hỏi tự luận trong môn sinh học nên bạn cần lưu ý.

    Giống nhau:

    • Đều là quá trình phân giải nguyên liệu để sinh năng lượng cung cấp cho hoạt động sống của cơ thể.
    • Nguyên liệu thường là đường đơn.
    • Đều có chung giai đoạn đường phân.
    • ATP là sản phẩm cuối cùng.

    Khác nhau:

    Hô hấp hiếu khí: là hô hấp mà chất nhận electron cuối cùng là Oxi phân tử.

    • Nơi xảy ra: màng trong ty thể (sinh vật nhân thực) hoặc màng sinh chất (sinh vật nhân sơ).
    • Điều kiện môi trường: cần O2.
    • Chất nhận điện tử: O2 phân tử.
    • Năng lượng sinh ra: tạo ra 38 ATP (riêng chuỗi vận chuyển electron tạo ra 34 ATP).
    • Sản phẩm cuối cùng: CO2 và H2O cùng với năng lượng ATP.

    Hô hấp kị khí: là hô hấp mà chất nhận electron cuối cùng là Oxi liên kết. Ví dụ, NO3 2- (hô hấp nitrat), SO4 2- (hô hấp sunfat).

    • Nơi xảy ra: màng sinh chất – sinh vật nhân thực (không có bào quan ty thể).
    • Điều kiện môi trường: không cần O2.
    • Chất nhận điện tử: chất vô cơ NO3- , SO4 2-, CO2.
    • Năng lượng sinh ra: tạo lượng ATP ít hơn, vì hô hấp kị khí chỉ dùng một phần chu trình Krebs, và không phải tất cả các chất mang trong chuỗi vận chuyển electron đều tham gia vào quá trình hô hấp kị khí.
    • Sản phẩm cuối cùng: chất vô cơ, chất hữu cơ với năng lượng ATP (đường phân piruvic, lên men CO2, rượu etylic hoặc axit lactic).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiện Tại Hoàn Thành Hay Thì Hiện Tại Hoàn Thành Tiếp Diễn
  • Bài Tập Phân Biệt Thì Hiện Tại Hoàn Thành Và Thì Hiện Tại Hoàn Thành Tiếp Diễn
  • Cách Nhận Biết Glucozơ, Saccarozơ, Tinh Bột, Xenlulozơ Hay, Chi Tiết
  • Phân Biệt Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp
  • Phân Biệt Giải Thể Và Phá Sản
  • Các Pha Của Quá Trình Quang Hợp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Khuynh Hướng Phát Triển Của Sự Vật Và Hiện Tượng
  • Phân Biệt Phí Và Lệ Phí Đăng Ký Thủ Tục Hành Chính
  • Thuế Là Gì? Phí Là Gì? Lệ Phí Là Gì? Phân Biệt Thuế, Phí, Lệ Phí Có Điểm Gì Giống Và Khác Nhau?
  • Phân Biệt Thuế, Phí Và Lệ Phí Theo Quy Định Pháp Luật
  • Lệ Phí Trước Bạ Là Gì? Khi Nào Phải Nộp Lệ Phí Trước Bạ?
  • Hình 17.1 Hai pha của quá trình quang hợp

    Quá trình quang hợp thường được chia thành 2 pha là pha sáng và pha tối (hình 17.1).

    Pha sáng chỉ có thể diễn ra khi có ánh sáng, còn pha tối có thể diễn ra cả khi có ánh sáng và cả trong tối.

    Trong pha sáng, năng lượng ánh sáng được biến đổi thành năng lượng trong các phân tử ATP và NADPH (nicôtinamit ađênin đinuclêôtit phôtphat).

    Trong pha tối, nhờ ATP và NADPH được tạo ra trong pha sáng, CO 2 sẽ được biến đổi thành cacbohiđrat.

    Pha sáng diễn ra ở màng tilacôit còn pha tối diễn ra trong chất nền của lục lạp. Quá trình sử dụng ATP và NADPH trong pha tối sẽ tạo ra ADP và NADPH. Các phân tử ADP và NADP+ này sẽ được tái sử dụng trong pha sáng để tổng hợp ATP và NADPH. 

    1. Pha sáng

    Trong pha sáng, năng lượng ánh sáng được hấp thụ và chuyển thành dạng năng lượng trong các liên kết hóa học của ATP và NADPH. Vì vậy, pha này còn được gọi là giai đoạn chuyển hóa năng lượng ánh sáng.

    Quá trình hấp thụ năng lượng ánh sáng thực hiện được nhờ hoạt động của các phân tử sắc tố quang hợp.

    Sau khi được các sắc tố quang hợp hấp thụ, năng lượng sẽ được chuyển vào một loạt các phản ứng ôxi hoá khử của chuỗi chuyền êlectron quang hợp. Chính nhờ hoạt động của chuỗi chuyển êlectron quang hợp mà NADPH và ATP sẽ được tổng hợp.

    Các sắc tố quang hợp và các thành phần của chuỗi chuyền êlectron quang hợp đều được định vị trong màng tilacôit của lục lạp. Chúng được sắp xếp thành những phức hệ có tổ chức, nhờ đó quá trình hấp thụ và chuyển hoá năng lượng ánh sáng xảy ra có hiệu quả.

    O 2 được tạo ra trong pha sáng có nguồn gốc từ các phân tử nước.

    Sắc tố quang hợp

    (Chú thích : NLAS là năng lượng ánh sáng, P là phôtphat vô cơ)

    2. Pha tối

    Trong pha tối, CO 2 sẽ bị khử thành cacbohiđrat. Quá trình này còn được gọi là quá trình cố định CO 2 vì nhờ quá trình này. các phân tử CO 2 tự do được “cố định” lại trong các phân tử cacbohiđrat.

    Hiện nay, người ta đã biết một vài con đường cố định CO 2 khác nhau. Tuy nhiên, trong các con đường đó, chu trình C 3 (hình 17.2) là con đường phổ biến nhất. Chu trình C 3 còn có một tên gọi khác là chu trình Canvin. Chu trình này gồm nhiều phản ứng hóa học kế tiếp nhau được xúc tác bởi các enzim khác nhau.

    Hình 17.2 Sơ đồ giản lược của chu trình C 3

    Chu trình C 3 sử dụng ATP và NADPH đến từ pha sáng để biến đổi CO 2 của khí quyển thành cacbohiđrat.

    Chất kết hợp với CO 2, đầu tiên là một phân tử hữu cơ có 5 cacbon là ribulôzôđiphôtphat (RiDP). Sản phẩm ổn định đầu tiên của chu trình là hợp chất có 3 cacbon. Đây chính là lí do dẫn đến cái tên C 3 của chu trình. Hợp chất này được biến đổi thành Anđêhit phôtphoglixêric (AlPG). Một phần AlPG sẽ được sử dụng để tái tạo RiDP. Phần còn lại biến đổi thành tinh bột và saccarôzơ. Thông qua các con đường chuyển hoá vật chất khác nhau, từ cacbohiđrat tạo ra trong quang hợp sẽ hình thành nhiều loại hợp chất hữu cơ khác.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Tính Chất Hóa Học Của Oxit Axit Và Oxit Bazơ Dễ Nhớ Nhất
  • Tính Chất Hoá Học Của Oxit, Oxit Axit, Oxit Bazơ Và Bài Tập
  • Mua Serum The Ordinary Lactic Acid 5% + Ha 2% 30Ml Giá 280,000 Trên Boshop.vn
  • Review The Ordinary Lactic Acid 10 + Ha Serum
  • Quá Trình Thụ Thai Kỳ Diệu Diễn Ra Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Muốn Tìm Hiểu Rượu Vang Pháp Nổi Tiếng?
  • Tìm Hiểu Rượu Vang Pháp 02/2021
  • Tìm Hiểu Văn Hóa Rượu Vang Pháp Truyền Thống
  • Kiến Thức Phân Loại Rượu Vang Pháp Dành Cho Những Tín Đồ Yêu Rượu Vang
  • Rocket 1H Hộp 1 Viên Mua Ở Đâu? Uống Trước Bao Lâu? Sử Dụng Như Thế Nào
  • Thời điểm nào dễ dẫn đến quá trình thụ thai

    Theo các chuyên gia sản khoa, chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ thường diễn ra trong vòng 28 ngày và thời gian trứng rụng rơi vào giữa chu kỳ. Trong chu kỳ kinh nguyệt, tuần thứ 3, được coi là thời điểm thuận lợi nhất để có thể thụ thai. Vào thời gian này, nếu muốn thụ thai thì các cặp đôi cần chú ý hơn trong chuyện chăn gối, làm sao diễn ra nhịp nhàng và thường xuyên hơn tạo điều kiện cho tinh trùng đi vào cơ thể mẹ kết hợp với trứng một cách thuận lợi.

    Tuy nhiên, chu kỳ kinh nguyệt của mỗi người phụ nữ lại khác nhau dựa vào môi trường cũng như các yếu tố bên trong cơ thể từng người. Có người kinh nguyệt diễn ra trong chu kỳ là 28 ngày, có người 22 ngày, thậm chí có người 36 ngày và thời gian trứng rụng của các tháng cũng khác nhau. Do đó mà khiến các chị em khó xác định được ngày trứng rụng. Bởi vậy các cặp đôi nên “yêu” thường xuyên từ 2-3 ngày/ lần để vừa có thể hâm nóng tình cảm vợ chồng, lại có thể cải thiện chất lượng giúp trứng và tinh trùng kết hợp với nhau một cách hoàn hảo để diễn ra quá trình thụ thai.

    Trong lúc “yêu” cơ thể nam sẽ tiết ra một thứ gọi là tinh, sau đó bơi vào phần âm đạo của người phụ nữ. Mỗi lần xuất tinh, sẽ chứa khoảng 150- 300 triệu tinh trùng cùng nhau bơi vào âm đạo. Sau đó, từ âm đạo, các chàng tinh trùng bắt đầu bơi theo các hướng khác nhau. Và tiếp tục bơi đến điểm hẹn ở ống dẫn trứng. Lúc này các chàng sẽ dựa vào sức của mình để có thể nhanh chóng gặp được nàng, có chàng sức yếu phải mất mấy ngày mới đến điểm hẹn. Sau cuộc đua đọ sức diễn ra, chàng tinh trùng khỏe mạnh nhất sẽ kết duyên với nàng trứng. Sau khi thành đôi, trứng sẽ tiết ra một lớp vỏ bọc chắc chắn để bảo vệ tình yêu của chúng, không cho bất cứ kẻ nào có thể xâm nhập vào. Và cuộc sống kỳ diệu bắt đầu diễn ra. Tình trùng bắt đầu kết hợp với trứng tạo ra một tế bào mới để chuẩn bị cho quá trình thụ thai và manh nha của một thiên thần bé nhỏ sẽ xuất hiện trên thế gian này bắt đầu.

    Những điều cần tránh để quá trình thụ thai diễn ra thuận lợi

    1. Không dùng dầu bôi trơn

    Dầu bôi trơn có thể giúp cho quá trình “yêu” diễn ra thăng hoa, và làm tăng khoái cảm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia sức khỏe tình dục, dầu bôi trơn sẽ làm chậm giảm khả năng bơi của tinh trùng, khiến chúng có thể chết ngay khi vừa vào tới âm đạo.

    Để thay cho dầu bôi trơn và quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi, tốt nhất các cặp đôi nên có màn dạo đầu thật lãng mạn, vì dầu bôi trơn tốt nhất chính là được tiết ra từ cơ thể của người phụ nữ. Bởi vậy mà các đáng mày râu nên dùng ra 10 phút đầu để kích thích chuyện yêu được diễn ra mỹ mãn.

    Theo các nhà nghiên cứu, nếu mỗi người phụ nữ ngày uống 3 ly rượu sẽ làm cho chu kỳ kinh nguyệt bị rối loạn, thậm chí làm mất kinh, ảnh hưởng đến quá trình thụ tinh, làm giảm khả năng rụng trứng, và tệ hơn có thể ngưng rụng trứng. Do đó, khiến cho quá trình thụ thai diễn ra khó khăn hơn và thiên chức làm mẹ cũng bị giảm đi.

    Các chuyên gia nhận định, Ethanol trong rượu sẽ làm teo tinh hoàn,làm loãng tinh, khiến cho chất lượng tinh trùng giảm đi rất nhiều, điều này làm cho tinh trùng bơi vào điểm hẹn gặp trứng khó khăn hơn vì có thể chưa bơi vào bên trong tử cung đã bị chết.

    Và nếu mẹ mang bầu uống rượu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thai nhi và thậm chí sảy thai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Quạt Điều Hòa Hơi Nước Giúp Ích Cho Đời Sống
  • Quạt Điều Hòa Loại Nào Tốt Nhất
  • Tìm Hiểu Các Dòng Quạt Điều Hòa Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Cách Sử Dụng Quạt Điều Hòa Tốt Cho Trẻ Nhỏ
  • Gặp Gỡ Tác Giả Đoạt Giải Cao Cuộc Thi Tìm Hiểu “quê Hương Và Con Người An Giang”
  • Quá Trình Fenton Trong Xử Lý Nước Thải

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Nước Thải Dệt Nhuộm Bằng Phương Pháp Fenton – Hasy Environment
  • Xử Lý Nước Thải Dệt Nhuộm Bằng Phương Pháp Fenton Là Gì?
  • Chương Trình Tập Gym Phá Vỡ Chai Cơ, Phát Triển Cơ Bắp
  • Các Phương Pháp Ăn Kiêng Khoa Học Giảm Cân Tốt Nhất
  • 5 Chế Độ Ăn Kiêng Khoa Học Giúp Giảm Cân Hiệu Quả Và An Toàn
  • Quá trình  Fenton trong xử lý nước thải được ứng dụng trong việc oxi hóa các chất khó phân hủy sinh học được dùng trong một số công nghệ xử lý nước thải khó xử lý. Công ty môi trường Nguồn Sống Xanh. Liên hệ: 0909 773 264 Ms Hải

    1. Quá trình Fenton trong xử lý nước thải là gì?

    Quá trình sản xuất ngày một phát triển, kèm theo đó lượng nước thải sinh ra càng ngày càng nhiều, nồng độ các chất ô nhiễm ngày càng gia tăng. Việc ứng dụng ngày càng cao các công nghệ sản xuất mới, sử dụng các hóa chất mới có hiệu quả cao, đã làm nồng độ ô nhiễm trong nước thải phức tạp thêm, gia tăng các chất bẩn khó xử lý đặc biệt là các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học.

    Các phương pháp xử lý nước thải phổ biến như hiện nay bao gồm xử lý hóa lý, xử lý sinh học…, có hiệu quả cao trong việc làm giảm nồng độ các chất bẩn như cặn lơ lửng, các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Tuy nhiên đối với các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học các các công nghệ trên chưa đảm bảo được hiệu quả xử lý.

    Giải pháp oxy hóa các chất khó phân hủy sinh học được tính đến. Trong xử lý nước thải, nó được đặt tên là oxy hóa bậc cao (AOPs- Advanced Oxidation Processes). Giải pháp này đòi hỏi tạo ra một chất trung gian có hoạt tính cao, có khả năng oxy hóa hiệu quả các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, trong xử lý nước thải đó là các gốc hydroxyl tự do ( *OH).

    Trong việc áp dụng giải pháp này (AOPs), quá trình Fenton và các quá trình kiểu Fentom (Fenton – like processes) được cho là giải pháp có hiệu quả cao. Công trình nghiên cứu này được J.H. Fenton công bố vào năm 1894 trong tạp chí hội hóa học ở Mỹ. Quá trình này dùng tác nhân là tổ hợp H2O2 và muối sắt Fe2+ làm tác nhân oxy hóa, thực tế đã chứng minh hiệu quả xử lý và kinh tế của phương pháp này khá cao. Nhược điểm của nó là, việc oxy hóa có thể dẫn tới khoáng hóa hoàn toàn các chất hữu cơ thành CO2, nước, các ion vô cơ và do vậy phải sử dụng nhiều hóa chất sau xử lý này làm cho chi phí xử lý cao. Vì vậy, trong các trường hợp chỉ nên áp dụng quá trình Fenton để phân hủy từng phần, chuyển các chất khó phân hủy sinh học thành có khả năng phân hủy sinh học rồi tiếp tục dùng các quá trình xử lý sinh học tiếp sau.

    2. Quá trình Fenton trong xử lý nước thải

    Thông thường qui trình oxi hóa Fenton đồng thể gồm 4 giai đoạn:

    – Điều chỉnh pH phù hợp: Trong các phản ứng Fenton, độ pH ảnh hưởng tới tốc độ phản ứng và nồng độ Fe2+, từ đó ảnh hưởng lớn đến tốc độ phản ứng và hiệu quả phân hủy các chất hữu cơ, pH thích hợp cho quá trình là từ 2 – 4, tối ưu nhất là ở mức 2,8. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm giảm thiểu khó khăn khi đưa pH về mức thấp rồi sau đó lại nâng pH lên mức trung tính để tách khử Fe, H2O2 dư. Nếu ta dùng các chất xúc tác khác như quặng sắt Goethite (a-FeOOH), cát có chứa sắt, hoặc sắt trên chất mang Fe/SiO2, Fe/TiO2, Fe/than hoạt tính, Fe/Zeolit… thì quá trình này gọi là Fenton dị thể, pH thích hợp ở trường hợp này theo nghiên cứu cao hơn đồng thể, khoảng từ 5 – 9.

    – Quá trình lắng: Các bông keo sau khi hình thành sẽ lắng xuống khiến làm giảm COD, màu, mùi trong nước thải. Sau quá trình lắng các chất hữu cơ còn lại (nếu có) trong nước thải chủ yếu là các hợp chất hữu cơ có khối lượng phân tử thấp sẽ được xử lý bổ sung bằng phương pháp sinh học hoặc bằng các phương pháp khác.

    3. Ứng dụng quá trình Fenton trong xử lý nước thải

    Ứng dụng quá trình Fenton trong xử lý nước thải được áp dụng đối với nước thải độc hại chứa nhiều chất độc, chất hữu cơ khó phân hủy như nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác, nước thải bề mặt nhiễm thuốc trừ sâu, nước thải dệt nhuộm.

    a) Ứng dụng quá trình Fenton 2 bậc trong xử lý nước thải rỉ rác từ bãi chôn lấp rác

    Nước thải rỉ rác từ bãi chôn lấp rác có thành phần ô nhiễm nặng, lượng BOD, COD, Nitơ cao, ngoài ra còn nhiều chất độc hại, khó phân hủy sinh học sinh ra từ rác thải. Phương pháp xử lý sinh học có thể loại trừ các thành phần hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học, nhưng không thể xử lý xử lý được lượng lớn các chất khó phân hủy sinh học. Phản ứng Fenton có khả năng phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ trong các loại nước rác khó xử lý. Nó có thể tiến hành ở nhiệt độ bình thường và không có yêu cầu nào về ánh sáng.

    Công nghệ Fenton được ứng dụng  phổ biến trong các hệ thống xử lý nước rỉ rác hiện nay

    b) Ứng dụng quá trình Fenton trong xử lý nước thải dệt nhuộm

    Nước thải dệt nhuộm là loại nước thải khó xử lý, nhiệt độ cao, lượng BOD lớn, đặc biệt là COD (lượng chất hữu cơ khó phân hủy sinh học cao) và độ màu, do sử dụng các loại phẩm nhuộm trong quá trình sản xuất. Có rất nhiều cách để xử lý nước thải dệt nhuộm ví dụ như đông tụ, keo tụ, lọc màng hay hấp phụ bằng than hoạt tính tuy nhiên trong nhiều trường hợp, các chất độc hại, chỉ chuyển từ dạng ô nhiễm này sang dạng ô nhiễm khác, không được xử lý triệt để.

    Quá trình Fenton là phương pháp oxy hóa các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học đã được nghiên cứu trong trường hợp này. Phương pháp Fenton là một công cụ khử màu hiệu quả. Phương pháp Fenton cổ điển cho kết quả rất nhanh với khử màu, vừa phải với COD nhưng rất chậm với khử TOC và khử độc trong nước thải dệt nhuộm. Hiện nay người ta đã nâng cao hiệu quả của phương pháp bằng nhiều cách: H2O2/than đá, H2O2 và xúc tác cùng với kim loại chuyển tiếp, phương pháp Fenton có vòng chelat trung gian và Cu(II)/ axit hữu cơ/H2O2. Trong suốt quá trình xử lý bằng photo-Fenton chúng ta chỉ có thể quan sát được sự biến đổi màu chứ không nhìn thấy sự phân hủy sinh học. Chúng ta có thể kết hợp giữa phương pháp oxy hóa bằng Fenton với xử lý sinh học để khử triệt để màu và COD trong nước thải công nghiệp dệt.

    Phương pháp Fenton có thể xử lý axit blue 74 (nhóm thuốc nhuộm indigoid), axit orange 10 (hợp chất màu azo) và axit violet 19 (thuốc nhuộm triarylmethane). Quá trình khử màu diễn ra trong suốt quá trình oxy hóa. Chỉ với tỉ lệ khối lượng thuốc nhuộm:H2O2 là 1:0,5 mà sự khử màu có thể lên đến 96,95 và 99 đối với axit blue 74, axit orange 10 và axit violet 19. Sự loại màu thì dễ dàng hơn so với sự khử COD.

    c) Ứng dụng quá trình Fenton xử lý nước bề mặt nhiễm thuốc trừ sâu

    Loại thuốc trừ sâu trong nước bề mặt mà Fenton có thể xử lý được chia thành 3 nhóm: MCPA, mecoprop và 2,4D. Một loạt các thử nghiệm đã diễn ra trong phòng thí nghiệm để xác định điều kiện tối ưu của phản ứng: liều lượng, pH và thời gian phản ứng với nước thô có nồng độ thuốc trừ sâu là 1.5 microgam/l. Phương pháp Fenton đã xử lý rất thành công atrazine, 2,4- D và alachlor. Điều kiện tối ưu để xảy ra phản ứng là pH = 3 và tỉ lệ thuốc trừ sâu : Fe(II) : H2O2 từ 1: 10: 10 đến 1:10:1000.

                     Biểu đồ phần trăm phân hủy DOC ở pH = 3, 5 và 7

    Tóm lại: trong quá trình xử lý bằng Fenton, tỉ lệ thuốc trừ sâu:Fe(II):H2O2  là rất quan trọng. Khi tăng hàm lượng Fe(II) lên 10 lần  thì sẽ làm tăng tốc độ phản ứng và kết thúc sự chuyển hóa thuốc trừ sâu chỉ trong 5 phút. Sự chuyển hóa thuốc trừ sâu trong nước bề mặt còn phụ thuộc vào pH (pH=3 và pH=7). Ở pH=7 chuyển hóa được 16% mecoprop và 34% MCPA. Sự chuyển hóa DOC cao hơn ở pH thấp, từ 50-87%.

    Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ công ty môi trường Nguồn Sống Xanh chuyên tư vấn thiết kế hệ thống xử lý nước thải áp dụng các công nghệ hiện đại nhất. 

    CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG NGUỒN SỐNG XANH

    53A Nơ Trang Long, phường 7, quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh

    Hotline: Ms Hải 0909 773 264 hoặc 0283 5100 127

    Email: [email protected]

    Website: chúng tôi – nguonsongxanh.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Nước Thải, Khí Thải Và Tư Vấn Lập Báo Cáo Môi Trường.
  • Công Nghệ Fenton Xử Lý Nước Thải Dệt Nhuộm
  • Một Số Phương Pháp Quản Lí Vốn Khi Giao Dịch Binary Option
  • Phương Pháp Quản Lý Vốn Hiệu Quả
  • Công Thức Đánh Theo Quản Lý Vốn 100 – 1000 Đô Lợi Nhuận 10% Ngày
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100