Việt Nam Gia Nhập Asean

--- Bài mới hơn ---

  • Trường Chính Trị Tỉnh Bến Tre
  • Vì Sao Vàng Lại Đắt ?
  • Vì Sao Vàng Là Hàng Hóa Kỳ Lạ?
  • Vì Sao Giá Vàng Tăng Kỷ Lục?
  • Tại Sao Giá Vàng Tăng Phi Mã?
  • Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

    Nói về việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm luôn cho rằng, đó là một quyết sách đúng đắn và kịp thời thể hiện khả năng nắm bắt được sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa.

    Trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, theo nhà ngoại giao kỳ cựu, Việt Nam đã đáp ứng được lời tuyên bố của các nhà sáng lập ra Hiệp hội là “tăng cường hợp tác để mỗi nước phát triển và cả khu vực cùng phát triển”. Tham gia ASEAN, Việt Nam đồng thời gia nhập AFTA – tổ chức hợp tác kinh tế của ASEAN. Nhờ tranh thủ cơ hội hợp tác với các nước trong Hiệp hội sẽ giúp đất nước vừa thoát khỏi bao vây cấm vận, đẩy nhanh sự phát triển đất nước.

    Sáu tháng sau khi gia nhập ASEAN, Hiệp hội (lúc này đã có bảy thành viên) cùng với ba nước châu Á khác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đại diện cho châu Á họp với 17 nước châu Âu thành lập Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM). Nhờ đó, Việt Nam nghiễm nhiên là một thành viên sáng lập của tổ chức liên khu vực, liên châu lục này, có quan hệ hợp tác, cả trên bình diện song phương lẫn bình diện đa phương, với các nước châu Âu có trình độ phát triển cao và tiềm năng lớn, góp phần đẩy nhanh hơn nữa sự phát triển. Năm 1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) bao gồm các nước ở hai bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có những nước phát triển hàng đầu như Mỹ và Nhật Bản.

    Như vậy, sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam cùng các nước trong tổ chức hoặc dựa vào uy tín và kinh nghiệm của ASEAN, tranh thủ được ngày càng nhiều đối tác phát triển mạnh, có tiềm năng, số vốn lớn, công nghệ, kỹ thuật cao cùng kinh nghiệm quản lý tốt đã góp phần tăng thế và lực của mình.

    Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (thứ 2 từ phải) cùng các Ngoại trưởng ASEAN trong cuộc họp kết nạp Việt Nam vào ASEAN tại Brunei, ngày 28/7/1995.

    Thời khắc không phai

    Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gắn bó với sự nghiệp ngoại giao hơn 50 năm trời. Làm ngoại giao, ông có dịp đi nhiều nước, gặp nhiều bạn bè trên khắp thế giới và lưu lại trong mình không ít kỷ niệm.

    Một trong hai sự kiện để lại ấn tượng không thể phai mờ trong ông là lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN diễn ra tại Quảng trường Trung tâm Hội nghị Quốc gia Brunei chiều 28/7/1995.

    Ông kể lại, khoảnh khắc khi lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, “tôi xúc động đến rưng rưng nước mắt”. Khi lá cờ được kéo lên đỉnh, một tràng pháo tay vang lên, từng cái bắt tay, từng khuôn mặt hân hoan của các ngoại trưởng ASEAN, quan chức nước chủ nhà và các nước thành viên ASEAN dự buổi lễ chúc mừng cho Việt Nam khiến nhà ngoại giao kỳ cựu càng không thể quên.

    Ngay sau đó, đại diện cho thành viên thứ bảy của ASEAN, ông Nguyễn Mạnh Cầm khi đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt Chính phủ lên đọc diễn văn. Bày tỏ niềm vui khi Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, ông cảm ơn đồng nghiệp và nhấn mạnh vai trò quan trọng của ASEAN và hứa sẽ làm hết sức với tư cách là một thành viên có trách nhiệm trong tổ chức này.

    Cũng sau diễn văn của đại diện Việt Nam, sáu Ngoại trưởng và Tổng Thư ký ASEAN đã phát biểu chúc mừng và ca ngợi Việt Nam hết lời. Sự xúc động đó hòa quyện với niềm tự hào về đất nước và dân tộc từ những giờ phút ấy đã khắc sâu vào tâm trí nhà ngoại giao kỳ cựu…

    Những người bạn thân thiết

    Nghiệp ngoại giao nhiều thập niên giúp ông Nguyễn Mạnh Cầm gặp, tiếp xúc rồi thân thiết với nhiều bạn bè trên thế giới. Đó là những người bạn từ Bộ Ngoại giao và Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ông gặp khi bắt đầu sự nghiệp tại Moscow, những người bạn khi công tác tại Hungary. Và đặc biệt, đó còn là những đồng nghiệp trong ASEAN.

    Năm tháng sau khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt kết thúc chuyến thăm hai nước ASEAN, tháng 7/1992, ASEAN chủ động mời Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam và Lào dự Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm, ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á – văn kiện chính của ASEAN và nhận cương vị quan sát viên.

    Trong cuộc trò chuyện, ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc lại một điều đặc biệt thú vị trong buổi đầu, khi ông và Bộ trưởng Ngoại giao Lào nhận cương vị quan sát viên, các đồng nghiệp ASEAN đều đổi cách xưng hô từ “ông” hoặc “Ngài” bằng tên như những người bạn thân thiết từ lâu.

    Kể từ sau đó, các cuộc họp đều diễn ra trong không khí thân mật và dễ đi đến đồng thuận dù có những vấn đề ban đầu khác nhau phải tranh cãi, nhưng dù có lời qua tiếng lại cũng nhẹ nhàng không ảnh hưởng bầu không khí thân thiện.

    Từ ngày Việt Nam gia nhập ASEAN đến ngày ông Nguyễn Mạnh Cầm thôi kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao, ông tham gia các hoạt động trong ASEAN khoảng 4 năm rưỡi. “Trong thời gian đó, có một vài nước thay đổi Bộ trưởng, nhưng chúng tôi vẫn giữ cách xưng hô như buổi ban đầu”, ông nhớ lại.

    Đến nay trong số đồng nghiệp làm việc với ông hồi đó có người đã mất hay chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Ông vẫn giữ liên hệ với một số người bạn cũ, do điều kiện địa lý và công việc cũng như hoàn cảnh khác nhau nên ít khi gặp được nhau.

    “Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn gửi thư thăm hỏi nhau, nhắc lại kỷ niệm những ngày hợp tác với nhau và gửi thư chúc mừng nhau nhân các ngày lễ, tết và Quốc khánh”, ông chia sẻ.

    Khi golf là đầu câu chuyện

    Một năm trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN, tại cuộc họp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 7/1994 tổ chức ở Bangkok, theo lời dặn của Tổng Thư ký, Bộ trưởng Ngoại giao khi đó là ông Nguyễn Mạnh Cầm phải nói rõ rằng Việt Nam đã sẵn sàng tham gia ASEAN chưa. Bắt đầu cuộc họp, chủ tọa nêu vấn đề: “Đề nghị bạn Cầm cho biết Việt Nam đã sẵn sàng gia nhập ASEAN chưa, tự xét đã đủ điều kiện chưa?”. Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đứng dậy, dõng dạc nói: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập ASEAN và tự nhận mình đã đủ điều kiện gia nhập”.

    Cả khán phòng vỗ tay hoan nghênh và Việt Nam được ghi vào biên bản để chuẩn bị cho lễ kết nạp vào tháng Bảy năm sau tại Brunei. Đột nhiên, Ngoại trưởng Malaysia Badawi đứng dậy: “Cầm ơi, điều kiện Việt Nam thì đủ rồi, nhưng còn hai điều kiện với Ngoại trưởng”. Ông Nguyễn Mạnh Cầm khi đó hơi ngỡ ngàng nhưng vẫn vui vẻ hỏi lại Ngoại trưởng Badawi rằng: “Những điều kiện gì, có khó không?”. Ngoại trưởng Malaysia chậm rãi: “Điều kiện thứ nhất: Trong ASEAN chỉ nói tiếng Anh, không được nói tiếng Pháp hay tiếng Nga”.

    Tuy với vốn tiếng Anh tự học và chỉ cần cố gắng thì sử dụng được nên ông Nguyễn Mạnh Cầm mạnh dạn trả lời: “Về tiếng Anh, tuy vốn ít nhưng tôi sẽ cố gắng. Còn điều kiện thứ hai?”, ông Nguyễn Mạnh Cầm hỏi. Ngoại trưởng Badawi vừa cười vừa nói: “Vào ASEAN phải đánh golf!”. Nhà ngoại giao kỳ cựu liền trả lời: “Điều kiện này khó quá, khó hơn cả điều kiện Việt Nam vào ASEAN vì từ bé đến giờ tôi có biết golf là gì đâu”.

    Ngoại trưởng Indonesia liền đứng dậy: “Cầm ơi, golf trong ASEAN là làm việc đấy chứ không phải đánh cho vui hay để tăng sức khỏe đâu. Cậu yên tâm bọn tớ sẽ tạo điều kiện giúp cậu đánh golf. Người Việt Nam làm gì chẳng được!”. Tất cả cười xòa vui vẻ. Quả thực đúng như vậy, các cuộc họp của ASEAN từ chuyên viên cao cấp, Bộ trưởng đến Hội nghị cấp cao trong chương trình nghị sự bao giờ cũng có một buổi chơi golf…

    “Lúc bấy giờ, nắm bắt được sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa, ta đã có một quyết sách đúng đắn và kịp thời là gia nhập ASEAN. Gia nhập ASEAN, chúng ta đáp ứng lời tuyên bố của các nhà sáng lập ra Hiệp hội tăng cường hợp tác để mỗi nước phát triển và cả khu vực cùng phát triển”. Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm

    Trong ASEAN, họp hẹp quan trọng như thế nào?

    TGVN. Cơ chế họp hẹp ASEAN qua hơn 2 thập kỷ đã trở thành một quy trình tư vấn cho lãnh đạo cấp cao ASEAN …

    Toàn cảnh AMM Retreat: Những đóng góp thầm lặng cùng tạo nên thành công

    TGVN. Thành công của Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM Retreat) 2022 từ ngày 15-17/1 tại thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) có …

    Video toàn cảnh Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN

    TGVN. Ngày 17/1, tại Nha Trang, Khánh Hòa, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã chủ trì Hội nghị hẹp Bộ …

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Tên Tuổi Từng Gây Đình Đám Trong Rap Việt Mà Ít Ai Biết Đến!
  • Điện Thoại Vertu Vì Sao Lại Đắt?
  • Vì Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt Nhất Thế Giới? Sự Khác Biệt Ở Đây Là Gì?
  • Module Là Gì Và Vì Sao Phải Chia Nhỏ Từng Module?
  • Tại Sao Ung Thư Tấn Công Giết Chết Con Người, Phòng & Điều Trị Bệnh, Kiến Thức Y Tế Học Đường, Sinh Viên Đang Học
  • Gia Nhập Asean, Bước Ngoặt Quan Trọng Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Việt Nam Có Vai Trò Trung Tâm Ở Asean?
  • Vì Sao Pháo Binh Việt Nam Giành Thắng Lợi Trước Pháp
  • Vì Sao Vàng Sẽ Chiến Thắng Trong Mọi Cuộc Chiến Tiền Tệ?
  • Tại Sao Các Ngân Hàng Trung Ương Phủ Nhận Vàng Là Tiền Nhưng Lại Xây Cả Hầm Quân Sự Kiên Cố Để Bảo Vệ Nó?
  • Những Lý Do Khiến Cho Wifi Chậm Và Yếu Vào Buổi Tối
  • Từ vị trí là địch thủ của nhau, ASEAN và Việt Nam chuyển sang thành bạn, là đối tác và là thành viên trong cùng một cộng đồng. ASEAN đã thực sự trở thành một trong những trọng tâm, là trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

    Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 50 hồi năm ngoái, Việt Nam đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông quốc tế vì nỗ lực nhằm đưa những lời lẽ mạnh mẽ về Biển Đông vào bản thông cáo chung của các ngoại trưởng. Sự kiện này nêu bật một bước phát triển rất lớn trong nhận thức của Việt Nam về ASEAN cũng như tầm quan trọng mà Việt Nam dành cho tổ chức khu vực này trong chính sách đối ngoại của mình.

    Được thành lập năm 1967 khi Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn đỉnh điểm. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã có những nỗ lực để cải thiện quan hệ với các nước ASEAN mà một minh chứng là chuyến thăm các nước ASEAN của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào năm 1978.

    Nhưng phải tới đầu thập kỷ 1990 thì quan hệ của Việt Nam với ASEAN mới bắt đầu cải thiện tích cực. Tháng 7 năm 1992, Việt Nam gia nhập Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN. Ba năm sau, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của hiệp hội, chính thức chấm dứt thời kỳ đối đầu giữa ASEAN và Đông Dương.

    Khi theo đuổi tư cách thành viên ASEAN, mối quan tâm chính của Việt Nam vào thời điểm đó là tạo thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế với các thành viên ASEAN và bảo đảm một môi trường khu vực hoà bình có lợi cho các cải cách kinh tế trong nước của mình. Khi ấy những gì Việt Nam mong muốn chính là điều mà năm 1989 Thủ tướng Thái Lan Chatichai Choonhavan đã gọi là quá trình biến Đông Dương “từ chiến trường thành thị trường”.

    Nghi thức thượng cờ các nước ASEAN trong ngày khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Nông-Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 40 diễn ra tại Hà Nội. Ảnh TTXVN

    Kể từ khi gia nhập ASEAN đến nay, Việt Nam đã được hưởng lợi đáng kể từ các mối quan hệ thương mại và đầu tư với các nước thành viên. Các nước thành viên ASEAN hiện nay là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam sau Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, và là nguồn nhập khẩu lớn thứ hai sau Trung Quốc. Trong khi đó, Singapore, Malaysia, và Thái Lan là ba trong số mười nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu của Việt Nam.

    Một điều thú vị đó là quan điểm của Việt Nam về vai trò của ASEAN trong việc quản lý các tranh chấp Biển Đông đã thay đổi đáng kể. Đặc biệt, Việt Nam đã sử dụng rộng rãi các dàn xếp do ASEAN dẫn dắt để vừa can dự, vừa cân bằng mềm với Trung Quốc. Một mặt, hợp tác kinh tế với Trung Quốc thông qua những hành lang như Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN đã tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng lớn giữa hai nước, qua đó xoa dịu phần nào các căng thẳng trên biển. Mặt khác, Việt Nam cũng đang cố gắng sử dụng các công cụ chính trị và pháp lý do ASEAN cung cấp để định hình các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông.

    Biến chuyển trong nhận thức của Việt Nam về vai trò của ASEAN trong việc quản lý các tranh chấp Biển Đông bắt nguồn từ một sự kết hợp những diễn biến mới kể từ đầu những năm 1990. Ví dụ, việc Trung Quốc ngày càng hung hăng trên biển đã bắt buộc Việt Nam phải sử dụng các kênh ASEAN để đối phó với Trung Quốc và khiến các nước thành viên ASEAN khác bớt thờ ơ về vấn đề này và thấu cảm hơn với cách tiếp cận của Việt Nam. Đồng thời, sự xuất hiện của các dàn xếp mới do ASEAN dẫn dắt với sự tham gia của Trung Quốc, như Diễn đàn Khu vực ASEAN (1994), Hội nghị Cấp cao Đông Á (2005), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (2010), cũng đã tạo điều kiện cho những nỗ lực của Việt Nam nhằm cân bằng mềm với Trung Quốc thông qua ASEAN.

    Không thể phủ nhận, ASEAN đã biến chuyển đáng kể trong hơn 50 năm qua, và nhận thức của Việt Nam về ASEAN và vai trò của nó trong các vấn đề khu vực cũng vậy. Việc gia nhập ASEAN đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, và bất chấp những thất vọng nhất định vào lúc này lúc khác do ASEAN không thể đạt được đồng thuận về các vấn đề nhạy cảm chính trị, ASEAN vẫn hết sức quan trọng đối với chính sách ngoại giao của Hà Nội cả về kinh tế lẫn chiến lược. Mối quan hệ ASEAN-Việt Nam là một câu chuyện nữa cho thấy ASEAN là một tài sản có giá trị như thế nào đối với các nước thành viên, một câu chuyện rất có thể sẽ được kể tiếp trong 50 năm tới và xa hơn nữa.

    H. Lê – Lê Thu Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Nhập Asean Giúp Kinh Tế Việt Nam Hội Nhập Sân Chơi Khu Vực Và Toàn Cầu
  • Lý Giải Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt
  • Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt Như Vậy? Có Gì Đặc Biệt?
  • Ung Thư Cổ Tử Cung Giai Đoạn Đầu Có Biểu Hiện Như Thế Nào?
  • Tại Sao Phải Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung?
  • Phân Tích Thời Điểm Và Thời Cơ Để Việt Nam Gia Nhập Asean

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Sao Diêm Vương Không Còn Là Hành Tinh Thuộc Hệ Mặt Trời?
  • “vì Sao Đông Ấm, Vì Sao Hạ Mát”: Bản Ngôn Tình Ngọt Ngào Đầy Cảm Động
  • Nơi Nào Đông Ấm
  • Câu Trả Lời Cho “tại Sao 1 + 1 = 2?”
  • Giá Vàng Tăng Vọt Trở Lại
  • Trường Học viện ngoại giao

    Khoa Chính trị quốốc tếố

    Đếề tài: Việt Nam – ASEAN:

    1

    tránh khỏi những sai sót, rất mong ý kiến đóng góp của mọi người để chúng tôi có thể rút

    kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau này.

    Trang

    Lời nói đầu………………………………………………………………………………..1

    Gia nhập ASEAN- chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước…….3

    Phù hợp… …………………………………………………………………………………..5

    …nhưng có phải là phù hợp nhất?………………………………………………..6

    Sớm, hay là muộn?…………………………………………………………………….11

    Kết luận……………………………………………………………………………………. 14

    2

    Gia nhập ASEAN- chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước

    Thực tiễn 15 năm qua đã khẳng định chủ trương gia nhập ASEAN là chính sách

    đúng đắn, kịp thời, có ý nghĩa lịch sử và chiến lược quan trọng. Tham gia hợp tác ASEAN

    đã và sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích quan trọng và thiết thực về an ninh, chính

    trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại,… với mục tiêu bao trùm là giữ vững môi trường

    quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; đồng thời góp một phần rất

    lớn trong việc duy trì môi trường hòa bình và ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác

    3

    và phát triển khu vực Đông Nam Á thông qua việc xây dựng một Cộng đồng ASEAN

    thống nhất, liên kết chặt chẽ. Đặc biệt, Việt Nam có cái nhìn thực tế hơn để cố gắng, nâng

    cao năng lực cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Là thành viên của ASEAN tạo thế cho Việt Nam mở rộng và tăng cường quan hệ

    với các đối tác khác ngoài ASEAN, nhất là các nước lớn, cũng như tham gia sâu rộng hơn

    vào các khuôn khổ hợp tác quốc tế hay liên khu vực rộng lớn như ASEAN+3, EAS,

    APEC, ASEM, chúng tôi đó góp phấn nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam.

    Hội nhập ASEAN đã giúp Việt Nam đào tạo và nâng cao năng lực của đội ngũ cán

    bộ tham gia các hoạt động đa phương cũng như hội nhập khu vực và quốc tế, góp phần

    tạo bước chuyển biến tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách .

    Bên cạnh những thuận lợi trên Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những thách

    thức cần vượt qua để có thể tham gia đầy đủ và hiệu quả hơn vào các hoạt động của

    ASEAN, tương xứng với vị trí và vai trò của mình trong Hiệp hội, như: sự khác biệt về

    chế độ chính trị và hệ tư tưởng trong ASEAN; Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi và

    hiệu quả quản lý còn bất cập, hệ thống các thể chế kinh tế thị trường phát triển chưa đồng

    bộ, còn yếu kém. Ngoài ra, ASEAN tạo ra sức ép lớn đối với các sản phẩm và thị trường

    của Việt Nam trong và ngoài nước, có thể tạo ra các dòng di cư lớn, trong đó có “chảy

    máu chất xám”, nạn thất nghiệp tăng do nhiều công ty bị phá sản và nhiều người chưa thể

    làm quen hay điều chỉnh phù hợp với cơ chế hay môi trường mới; cần chú ý giữ gìn bản

    sắc văn hóa của mình với tiêu chí ” hòa nhập mà không hòa tan”,…

    Tuy nhiên, những thách thức trên cũng gắn liền với nhiều mặt tích cực. Ví dụ như

    việc những động thái và chính sách của Việt Nam vẫn được xem là tích cực trong các vấn

    đề thế giới với chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn muốn tìm giải pháp

    hoà bình để giải quyết các mâu thuẫn khu vực và quốc tế; các thách thức về kinh tế góp

    phần đòi hỏi Việt Nam phải gia tăng cạnh tranh, phải thay đổi tích cực hơn trong đào tạo

    trình độ tay nghề và cải tiến chất lượng sản phẩm, cũng như đổi mới cách thức sản xuất

    với quy mô lớn; sự hòa nhập tạo ra giao lưu văn hoá và kèm theo là những dòng người

    sang Việt Nam làm việc.

    Như vậy, có thể khẳng định việc Việt Nam gia nhập ASEAN là một chính sách

    đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Song, liệu thời điểm năm 1995 đã

    phải là thời điểm gia nhập phù hợp nhất chưa?

    4

    Phù hợp…

    Có thể khẳng định được ngay năm 1995 là thời điểm phù hợp để Việt Nam gia

    nhập ASEAN vì những lý do sau đây:

    Năm 1995, Chiến tranh lạnh đã lùi xa, thế giới đang nổi lên những thay đổi từ đối

    đầu sang đối thoại, xu thế hội nhập và phát triển giữa các nước trở nên mạnh mẽ. Các

    cuộc chạy đua vũ trang chấm dứt, vấn đề Campuchia được giải quyết đã mang lại những

    cơ hội mới về quan hệ thân thiện và hợp tác cho các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Sau

    hơn 20 năm đấu tranh giành và bảo vệ độc lập cũng như xây dựng kinh tế, nhiều nước

    trong khu vực bước vào thời kì ổn định, dốc sức để phát triển kinh tế. Các nước đều có

    nhu cầu hợp tác cùng phát triển và từ đây, kinh tế được xem trọng trong chính sách của

    mỗi nước. Vào lúc này, Liên Xô và Đông Âu đã tan rã dẫn đến việc Việt Nam bị mất đi

    một chỗ dựa, một sự viện trợ lớn. Việc gia nhập vào một tổ chức khu vực càng trở nên

    cấp thiết hơn bao giờ hết.

    Trong cùng năm đó, Việt Nam mở rộng hợp tác Việt – Trung để giải quyết những

    vấn đề còn tồn đọng giữa hai nước trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền

    và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Trước đó, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã quyết định bãi

    bỏ hoàn toàn cấm vận đối với Việt Nam vào năm 1994 và thiết lập cơ quan liên lạc Mỹ tại

    Hà Nội đầu năm 1995. Đây là lần đầu tiên Việt Nam chính thức có quan hệ ngoại giao

    trên cơ sở hòa bình và bình thường hóa quan hệ với các nước lớn trên thế giới; góp phần

    củng cố vị thế của Việt Nam, tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam mở rộng quan hệ

    hợp tác với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là với các nước trong ASEAN.

    Trên thực tế, vào năm 1992, sau khi Việt Nam và Lào tham gia kí Hiệp ước Bali

    1976 vào tháng 1/1992, ASEAN đã chấp thuận hai nước này trở thành quan sát viên của

    5

    …nhưng có phải là phù hợp nhất?

    Tại sao mãi đến năm 1995 Việt Nam mới chính thức gia nhập ASEAN mà không

    phải trước đó – từ năm 1975 – khi ASEAN chủ động mời Việt Nam gia nhập, hay là muộn

    hơn – khoảng năm 1996 – để phát huy sức mạnh nội tại và giành thế chủ động? Mỗi giai

    6

    đoạn Việt Nam lại có những khó khăn cũng như thuận lợi khác nhau. Chúng tôi sẽ đi vào

    xem xét, đánh giá và so sánh những giai đoạn đó để trả lời cho câu hỏi trên.

    Chiến thắng năm 1975 đã chính thức đánh dấu chấm dứt chiến tranh trên lãnh thổ

    Việt Nam, thống nhất đất nước và góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường

    quốc tế.

    Tuy nhiên, sau chiến tranh, Việt Nam vẫn còn trong quá trình khôi phục đất nước,

    phải đối mặt với hàng loạt các vấn dề về kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy được bảo trợ

    về chính trị và viện trợ về kinh tế khá lớn từ Liên Xô nhưng kinh tế Việt Nam vẫn không

    phát triển mạnh được. Các nước khác ngoài Liên Xô hầu như không có đầu tư hay viện

    trợ cho Việt Nam, mà những sự giúp đỡ đó chuyển sang hình thức hợp tác, có đi có lại, có

    vay có trả. Điều này tạo khó khăn mới cho Việt Nam trong tình trạng nội lực đất nước

    không đủ mạnh và các mối quan hệ với nhiều nước còn bấp bênh. Mặt khác, vào khoảng

    năm 1975-1976, Việt Nam đòi Mỹ bồi thường chiến tranh nhưng Mỹ không đồng ý; từ

    năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhận ghế thành viên chính thức

    Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) của chính quyền Sài Gòn, đồng

    thời gia nhập một số tổ chức về kinh tế khác (FIDA, SEV,…) nhưng cũng không đạt được

    nhiều kết quả vượt bậc. Nhìn chung, tình hình trong nước của Việt Nam lúc này khá ảm

    đạm, đòi hỏi sự giúp đỡ và hợp tác đa phương từ bên ngoài.

    Mặt khác, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển: Trung Quốc không còn lợi dụng

    cuộc chiến ở Việt Nam để phục vụ cho lợi ích chiến lược của mình được nữa, còn Liên

    Xô vẫn là một hậu thuẫn lớn của Việt Nam, nước Mỹ thì bị giảm uy tín sau chiến tranh và

    đành phải quay giải quyết những vấn đề trong nước. Đây rõ ràng là thời điểm thuận để

    Việt Nam gia nhập ASEAN, góp phần tạo nên tình thế mới có lợi hơn cho khu vực, đồng

    thời Việt Nam có thể có được một thời gian hoà bình, ít nhất là một môi trường an ninh

    xung quanh để đảm bảo tập trung phát triển kinh tế và tạo điều kiện thu hút sự hợp tác, hỗ

    trợ nhiều hơn từ các nước trong khu vực.

    Song, vào năm 1975, khi ASEAN nêu lại đề nghị mời Việt Nam tham gia thì Việt

    Nam đã từ chối vì cho rằng ASEAN là một dạng khác của SEATO. Lập luận của Việt

    Nam dựa trên cơ sở một số nước thành viên của ASEAN (Thái Lan và Philippines) đã gửi

    quân tham chiến trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng lý do chủ yếu là vào thời điểm này

    chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng và tác động khá nhiều bởi vấn đề ý

    thức hệ.

    7

    Tiếp đó, trong khoảng thời gian từ cuối 1977 đến cuối 1978, tình hình khu vực có

    những thay đổi nhanh chóng: “Có đồng minh cũ, vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đã trở

    thành kẻ thù mới của ta và đã gây ra một cuộc chiến mới làm cho tình hình khu vực tiếp

    tục không ổn định; có nước là chỗ dựa và hậu phương lớn của ta trong chiến tranh nay lại

    có ý đồ kiềm chế ta, thậm chí gây xung đột và chiến tranh nóng ở biên giới và hải đảo của

    ta, gây nhiều khó khăn cho ta và tạo ra một tình hình rất căng thẳng cho ta và cho khu

    vực” (Trịnh Xuân Lãng).

    Trước tình hình trên, Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ tốt với các nước

    ASEAN để tạo môi trường xung quanh hòa bình, ổn định, rút lui những bảo lưu đối với

    ZOPFAN; đề nghị với ASEAN để Việt Nam kí Hiệp ước Bali 1976 (Hiệp ước không xâm

    lược) và trở thành thành viên ASEAN, nhưng các nước ASEAN đã bác bỏ đề nghị này.

    Cần phải chú ý rằng vào thời điểm 1977-1978, các cuộc tranh chấp và xung đột

    biên giới của Việt Nam với Campuchia xảy ra liên tục. Giai đoạn này chính là đỉnh cao

    của xung đột Việt Nam – Khmer Đỏ 1975-1978 (cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay

    sau khi Sài Gòn thất thủ, tức là chỉ vài ngày sau ngày thống nhất đất nước). Đây là tiền đề

    phát sinh vấn đề Campuchia về sau này. Những động thái trên đã khiến các nước ASEAN

    trở nên nghi kỵ và bác bỏ lời đề nghị của Việt Nam. Không thể phủ nhận một điều là Việt

    Nam là một nước có vị trí địa lý, có tiềm năng kinh tế, có khả năng quân sự, thậm chỉ là

    có sự ảnh hưởng nhất định về chính trị với nhiều nước lớn. Cho nên có thể hiểu được việc

    trước đây các nước ASEAN lo sợ sẽ bị Việt Nam trả thù. Lần này, cuộc xung đột với

    Khmer Đỏ khiến cho các nước ASEAN lo sợ thuyết Domino của Mỹ sẽ thành hiện thực

    và nghi ngờ về chính sách hữu nghị của Việt Nam với ASEAN. Kết quả là nối tiếp Mỹ và

    các nước châu Âu khác, ASEAN cũng tham gia cô lập và cấm vận toàn diện đối với Việt

    Nam. Nhiều nước trên thế giới cùng lúc lên án hành động đưa quân vào Campuchia cảu

    Việt Nam Quan hệ chính trị, ngoại giao của Việt Nam với nhiều nước trên thế giới trở nên

    lạnh nhạt, thậm chí là đối địch; tình hình kinh tế, an ninh, xã hội trong nước càng trở nên

    khó khăn hơn.

    Một sự kiện khác đáng nhắc đến trong năm 1977 là việc Mỹ bắt đầu có những tín

    hiệu hoà dịu với Việt Nam tỏ ý mong muốn bình thường hoá quan hệ hai nước nhưng

    không đạt thành. Giả sử Việt Nam chủ trương muốn bình thường hóa quan hệ với Mỹ

    ngay lúc này thì có lẽ sẽ không chỉ tranh thủ được viện trợ từ Mỹ mà còn tránh được việc

    bị cấm vận, cô lập và thậm chí Việt Nam có thể gia nhập ASEAN đúng như ý muốn vào

    cuối năm 1977, góp phần giúp giải quyết một loạt những vấn đề về sau này.

    8

    Ví dụ đến năm 1978 xuất hiện nhân tố Trung Quốc, Mỹ quay sang bắt tay với

    Trung Quốc và đẩy nhanh quá bình thường hóa giữa hai nước, gác lại việc bình thường

    hóa với Việt Nam. Lý do chính là vì lúc này quan hệ Xô-Mỹ, nằm trong cuộc chạy đua vũ

    trang, vẫn chưa thực sự hòa dịu, Trung Quốc lại đang muốn vượt qua Liên Xô, mở rộng

    ảnh hưởng ở châu Á-Thái Bình Dương nên muốn kiềm chế Việt Nam, đẩy mạnh chính

    sách thù địch Liên Xô và Việt Nam để tăng cường quan hệ với Mỹ. Trung quốc là nhân tố

    xúi giục quân Khmer Đỏ và lôi kéo các nước ASEAN tham gia cô lập Việt Nam.

    Tóm lại, nếu không đặt lợi ích quốc gia (mục tiêu phát triển) sau nghĩa vụ quốc tế

    (mục tiêu an ninh) thì Việt Nam đã có thể không phạm sai lầm đóng quân 10 năm trên đất

    Campuchia để phải chịu hàng loạt những bất lợi và tổn thất sau này.

    Đến tháng 9/1991, sau khi rút hết quân ra khỏi Campuchia (9/1989), một số lãnh

    đạo Việt Nam có đề nghị tham gia Hiệp ước Bali 1976 ( thực chất là đề cập đến vấn đề

    Việt Nam có thể trở thành thành viên ASEAN). Nhưng những đề nghị này khi đó không

    được các nước ASEAN xem xét một cách nghiêm chỉnh vì vẫn tồn tại tâm trạng không tin

    cậy rất lớn giữa Việt Nam và ASEAN, mặc dù Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia.

    Mãi đến năm 1992, ASEAN mới có động thái mời Việt Nam tham gia kí Hiệp ước và trở

    thành quan sát viên của ASEAN.

    Có thể thấy từ trước khi kết thúc vấn đề Campuchia, Việt Nam đã hầu như không

    có nhiều mối quan hệ ngoại giao vững chắc với các nuớc trên thế giới và trong khu vực,

    đặc biệt là nhóm nuớc ASEAN, mặc dù luôn chủ động đẩy mạnh quan hệ đối ngoại song

    phương, đa phương. Các cuộc tiếp xúc giữa nhóm nước Đông Dương và ASEAN vẫn duy

    trì trong suốt thời gian diễn ra vấn đè Campuchia nhưng do sự nghi ngờ, chưa thông cảm

    với nhau và cũng do thái độ của các nước lớn tác động, cuộc đối thoại không đạt kết quả

    cụ thể. Tuy vậy quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN về gần cuối đã bớt căng

    thẳng hơn.

    Sau đó, Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với các nước lớn,

    thiết lập và thắt chặt quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á, tập trung giải quyết

    những vấn lịch sử còn tồn đọng một cách nhanh chóng. Đặc biệt là sau khi trở thành quan

    sát viên của ASEAN, Việt Nam đã có hơn 15 chuyến đi thăm tới các nước, nhanh chóng

    hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho việc gia nhập chính thức vào năm 1995.

    Như vậy, vấn đề Campuchia đã trở thành rào cản lớn nhất trong quá trình tìm cách

    gia nhập ASEAN của Việt Nam. Quá trình sau khi vấn đề được giải quyết diễn ra nhanh

    chóng, chặt chẽ hết mức có thể để gia nhập ASEAN nhằm giải quyết nhiều vấn đề kinh tế,

    9

    xã hội, văn hóa, chính trị,… trong nước và khu vực. Nói cách khác, nếu không vướng vấn

    đề Campuchia thì Việt Nam có thể đã thuận lợi gia nhập ASEAN sớm hơn khoảng 10

    năm.

    

    Tới đây, ta đặt giả thiết năm 1995 Việt Nam vẫn chưa gia nhập ASEAN.

    Lúc này, tình hình ngoại giao chính tr ị của Việt Nam khá khả quan: đã và đang

    thiết lập, thắt chặt và thúc đẩy các mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực

    và trên thế giới; Mỹ đã bỏ hoàn toàn cấm vận; bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Trung

    Quốc. Riêng ASEAN đã có một quá trình xúc tiến cùng với Việt Nam trong việc để Việt

    Nam tham gia ASEAN. Trên mặt chính trị, Việt Nam đã “sẵn sang tham gia ASEAN vào

    thời điểm thích hợp…” (Tuyên bố của Tổng bí thư Đỗ Mười ngày 5/10/1993 tại Singapo).

    Có một vài ý kiến cho rằng thời điểm năm 1995 là còn quá sớm cho việc gia nhập,

    câu hỏi được đặt ra là: nên chăng Việt Nam cần chờ thêm một khoảng thời gian để có sự

    chuẩn bị kĩ càng hơn sức mạnh nội tại, góp phần giúp Việt Nam chủ động hơn cả trước và

    sau khi gia nhập ASEAN?

    Vào năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra khiến nhiều nước

    ASEAN gặp khó khăn, nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng. Việt Nam hầu như không

    chịu ảnh hưởng, thực tế là do nền kinh tế của Việt Nam thời điểm này tụt hậu hơn nhiều

    so với các nước trong khu vực, mặc dù đã gia nhập ASEAN và nhận được sự giúp đỡ, hợp

    tác từ nhiều nước. Mặt khác, một phần do chịu ảnh hưởng các nước lớn nên “sự gắn kết

    của các nước trong khu vực bị giãn ra, lỏng lẻo hơn, vai trò của ASEAN trên trường quốc

    tế bị lung lay” (Nguyễn Vũ tùng, CSĐN VN II, tr87).

    Thời điểm này nếu Việt Nam vẫn không có những chính sách phát triển mới đáng

    ghi nhận thì cơ hội vào ASEAN sẽ không cao, và nếu không thực hiện được việc gia nhập

    thì có khả năng Việt Nam sẽ bị tụt hậu ngày càng xa, bị hạn chế trong việc gia nhập với

    một số tổ chức quốc tế (WTO,…), khó có cơ hội thể hiện tiếng nói riêng, bị chèn ép bởi

    các nước lớn (như Trung Quốc),… gây khó khăn lớn cho kinh tế, chính trị và việc giữ gìn

    bản sắc dân tộc của Việt Nam.

    10

    Vậy thì, đặt giả thiết trong khoảng thời gian 1991-1995 ngoài việc nỗ lực tham gia

    ASEAN (tức là đến bỏ qua việc gia nhập năm 1995), Việt Nam cũng hướng đến đẩy

    mạnh quan hệ hợp tác mọi mặt với các nước tư bản Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan,

    Nhật Bản hay thậm chí với các nước ngoài khu vực như Mỹ để tìm giải pháp kinh tế, tăng

    sức mạnh nội tại để chủ động hơn thì việc gia nhập ASEAN thời điểm này cũng không

    hẳn là muộn. Nhưng điều này có thể sẽ tạo một mặt trái khác: việc hợp tác khu vực sẽ bị

    hạn chế, quan hệ Việt Nam với khu vực không thực sự vững chắc và sâu sắc; liên minh

    khu vực lỏng lẻo thì không đủ để có thể là một “cỗ xe nhỏ kéo một cỗ xe lớn” được.

    Sau năm 1995, Việt Nam có đủ điều kiện hoàn cảnh, chính trị,… để gia nhập

    ASEAN. Nhưng liệu việc trì hoãn thời điểm năm 1995 là có nên làm khi mà bản thân Việt

    Nam còn đang gặp khó khăn từ nhiều phía?

    Việt Nam gia nhập ASEAN là một quá trình. Quá trình này không chỉ dựa vào một

    phía để giải quyết mà là tác động hai chiều, các nhu cầu của cả hai bên phải gặp nhau

    đúng thời điểm đồng thời cũng có các nhân tố bên ngoài khác tác động (sự ảnh hưởng của

    các nước lớn, tình hình khu vực và thế giới qua từng giai đoạn). Muốn nhận định đâu là

    khoảng thời gian phù hợp nhất, cần xem xét giai đoạn nào có lợi ích to lớn và lâu dài hơn

    đối với Việt Nam.

    Sớm, hay là muộn?

    Đánh giá giai đoạn 1975-1977 so với năm 1995:

    Hai giai đoạn này đều có hoàn cảnh hòa bình cả trong nước, khu vực và thế giới.

    Việt Nam cơ bản đã có quan hệ ngoại giao với một số nước nhưng về kinh tế thì đang gặp

    rất nhiều khó khăn.

    Giai đoạn 1975-1977 là thời điểm sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, xu

    hướng liên kết, nhất thể hoá song song cùng với sự phát triển độc lập của mỗi quốc gia trở

    nên phổ biến trên thế giới. Trong nước, nhân dân đặt niềm tin lớn lao vào sự lãnh đạo của

    Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Việt Nam chủ yếu vẫn

    bị ý thức hệ chi phối nên hầu như chỉ tập trung mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ

    nghĩa, đặc biệt là Liên Xô (thời kỳ này Liên Xô vẫn là hậu thuẫn lớn về chính trị, an ninh

    và kinh tế của Việt Nam) và quay lưng lại với các nước tư bản chủ nghĩa (từ chối lời mời

    của ASEAN và mong muốn bình thường hóa quan hệ của Mỹ. Bị ý thức hệ chi phối, tư

    11

    duy trong chính sách của Việt Nam đã không thay đổi kịp thời để bắt kịp với biến chuyển

    của thời thế.

    Nếu Việt Nam chấp nhận gia nhập ASEAN vào năm 1975-1976 thì sẽ thu được

    những cái lợi hơn năm 1995.

    Thứ nhất, các nước trong ASEAN đang phát triể`n theo đường lối tư bản với nền

    kinh tế thị trường (mang tiềm năng phát triển kinh tế mạnh). Đến khoảng những năm 90,

    các nước ASEAN “đủ long đủ cánh”, đầy đủ điều kiện để thực sự phát triển kinh tế. Việt

    Nam có thể có cơ hội áp dụng nền kinh tế thị trường để phát triển một cách nhanh chóng,

    bắt kịp với nhịp độ và trình độ của các nước trong khu vực, góp phần giải quyết khó khăn

    trong nước. Chưa kể tốc độ phục hồi và phát triển của Việt Nam cũng khá nhanh mặc dù

    xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn các nước khu vực. Tuy nhiên có thể có trường hợp

    các nước tư bản lớn sẽ tranh thủ ảnh hưởng chính trị của mình vào Việt Nam (trong nước

    còn tồn tại tàn dư cũ của chính quyền Sài Gòn, chính quyền miền Bắc còn chưa kịp củng

    cố lại sau chiến tranh). Nhưng vào thời điểm này, tư tưởng chủ yếu của ASEAN và nước

    lớn Mỹ là muốn vừa hợp tác vừa cạnh tranh, chưa kể dư âm của cuộc chiến vẫn còn nên

    vấn đề trên không quá đáng ngại.

    Thứ hai, vấn đề Campuchia cũng sẽ được nhìn nhận dưới góc độ có lợi hơn cho

    Việt Nam hoặc thậm chí chúng ta có thể không vướng vào vấn đề này. Việt Nam có thể

    giữ được hình ảnh và tạo niềm tin đối với các nước khu vực và thế giới trước sự kiện này:

    không phải là một nước hiếu chiến như luận điệu của Trung Quốc mà là một nước tích

    cưc và yêu chuộng hòa bình. Thậm chí Việt Nam còn có thể tránh được cấm vận và

    những vấn đề gây bất lợi khác.

    Thứ ba là việc có thể chống lại được sự bá quyền của Trung Quốc ở khu vực và

    dần dần phát triển độc lập với các nước lớn xã hội chủ nghĩa. Việc gia nhập vào lúc này

    có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Liên Xô, nhưng nếu Đảng và

    Nhà nước Việt Nam đặt mục tiêu phát triển lên trên mục tiêu an ninh cũng như chuyển

    biến cái nhìn mới phù hợp về thế giới thì sẽ giữ được quan hệ với Liên Xô và các nước xã

    hội chủ nghĩa. Tất nhiên, việc này đòi hỏi sự khéo léo, nhay bén trong chính sách đối

    ngoại để nắm thế chủ động và có khả năng Việt Nam sẽ không còn quá phụ thuộc vào

    Liên Xô, Trung Quốc, từng bước phát triển độc lập hơn.

    Ngoài ra Việt Nam còn có cơ hội tham gia được nhiều tổ chức khu vực và quốc tế

    từ rất sớm. Đặc biệt là các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã tiếp nhận ghế thành viên từ

    những năm 76 trở đi.

    12

    Đánh giá giai đoạn sau năm 1995 so với năm 1995:

    Từ năm 1995 trở đi, tình hình khu vực hòa bình, ổn định, Việt Nam có quan hệ

    mạnh mẽ với các nước; có thành tựu về kinh tế, văn hóa, giáo dục,… ; chính quyền được

    củng cố hơn, tư duy đối ngoại đổi mới; hình ảnh đất nước được cải thiện trong mắt bạn bè

    thế giới.

    Nhưng các vấn đề khó khăn trong nước vẫn còn tồn tại, Việt Nam không có một

    liên minh khu vực bảo trợ. Nếu đến sau năm 1995 Việt Nam mới gia nhập ASEAN, sợ

    rằng Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 19971998 vào thời điểm gia nhập. Cơn bão khủng hoảng đi qua khi Việt Nam chưa kịp có sự

    liên kết chặt chẽ với các nước trong khu vực khiến cho việc gia nhập trở nên khó khăn

    nhiều lần.

    Gia nhập muộn cũng đồng nghĩa với việc chưa có một tổ chức khu vực nào có thể

    đứng ra bao bọc, hỗ trợ cho Việt Nam trước sự đe dọa an ninh. Trung Quốc có thể vẫn

    thực hiện việc bành trướng lãnh thổ, thi hành những âm mưu nhằm chia rẽ các nước Đông

    Nam Á để dễ kiềm chế và chi phối khu vực này. Ngoài ra, mở rộng quan hệ với bên ngoài

    cũng như gia nhập các tổ chức quốc tế khác như APEC, ASEM,WTO,… đều bị hạn chế.

    Nói cách khác Việt Nam đang cần một liên minh khu vực chặt chẽ để giảm bớt sự

    ảnh hưởng của các nước lớn, tạo môi trường và điều kiện cho ổn định và phát triển.

    Thực ra việc liên kết khu vực rất quan trọng, vì khu vực là nơi có vị trí địa-chính trị

    thuận lợi nhất với một quốc gia, dễ dàng tạo liên kết, cùng chung chí hướng. Thực tiễn

    lịch sử chứng minh một khu vực phát triển và có liên kết chặt chẽ bao giờ cũng ổn định

    hơn và an toàn hơn: những bất ổn ở Trung đông dẫn đến những nước phát triển như Isarel

    hay chậm phát triển như Palestine đều phải quan tâm đến chiến tranh và khó mà dốc sức

    cho việc phát triển kinh tế.

    Do đó, việc trì hoãn lại thời điểm gia nhập ASEAN là không cần thiết. Điều ta cần

    là tham gia liên kết đó càng sớm càng tốt, nhất là một liên kết khu vực để phát huy được

    sự tương đồng về văn hoá, địa lí, khí hậu và trình độ phát triển để có một môi trường hoà

    bình, ổn định và có nhiều thuận lợi hơn để phát triển.

    13

    Kết luận

    Trong 15 năm gia nhập ASEAN , Việt Nam đã có nhiều bước chuyển biến quan

    trọng làm thay đổi bộ mặt của đất nước theo chiều hướng tích cực. Lật ngược lịch sử,

    chúng ta có thể thấy quyết định tham gia vào ASEAN năm 1995 của Việt Nam là quyết

    định chính xác, phù hợp với thời điểm hiện tại. Nhưng giả thiết nếu chúng ta tham gia vào

    ASEAN sớm (khoảng 1975-1976) thì biết đâu bây giờ Việt Nam lại có những kết quả khả

    quan hơn?

    Thời điểm 1975-1976 là thời điểm phù hợp nhất để Việt Nam gia nhập ASEAN.

    Với động thái này, cách nhìn lịch sử sẽ có nhiều biến chuyển: Việt Nam có thể có được

    mối quan hệ tốt đẹp với các nước khu vực và trên thế giới trong hoàn cảnh thế giới bắt

    đầu hòa dịu; vị thế của Việt Nam sẽ trở nên ngang hàng về mọi mặt với các nước

    ASEAN, bình đẳng hơn, chủ động hơn cả trước và sau khi gia nhập chứ không bị động

    như thực tiễn của lịch sử.

    Lịch sử đã đi qua, tuy không thể thay đổi được lịch sử nhưng bài học từ lịch sử qua

    việc chúng ta gia nhập ASEAN vẫn còn đó. Đó là bài học phải biết đặt lợi ích quốc gia,

    lợi ích dân tộc lên hàng đầu và chính sách đối ngoại nào cũng cần phải nắm bắt đúng thời

    điểm mới phát huy được hết hiệu quả của nó.

    14

    Phạm Đức Thành – Trần Khánh (2006), Việt Nam & ASEAN: Nhìn lại và hướng tới,

    NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

    Học viện Quan hệ quốc tế (2001), Hội thảo Quan hệ Việt Nam-Thái Lan hướng tới

    tương lại, Hà Nội.

    PGS.TS Vũ Dương Huân (2003), Quan hệ đặc biệt Viêt – Lào, Hà Nội.

    Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1999), Xây dựng ASEAN thành

    cộng đồng các quốc gai phát triển bền vững, đồng đều và hợp tác, Hà Nội.

    Ban tư tưởng-văn hóa Trung ương – Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế (2005),

    Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    (1991), Đảng Công sản Việt Nam – Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

    VII, NXB Sự thật.

    Trường Chinh (1979), Về vấn đề Campuchia, NXB Sự thật, Hà Nội

    Vũ Dương Ninh (2004), Việt Nam – ASEAN Quan hệ đa phương và song phương,

    NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    Viện nghiên cứu Đông Nam Á (1995), Viêt Nam – Đông Nam Á: quan hệ lịch sử

    văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    Tạp chí “Nghiên cứu Đông Nam Á”, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc

    gia-Viện nghiên cứu Đông Nam Á.

    ThS.Vũ Đoàn Kết, Chính sách đối ngoại Việt Nam Tập II, NXB Thế giới, Hà Nội.

    TS.Vũ Dương Huân (2002), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp Đổi mới

    (1975-2000), Hà Nội.

    15

    Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN 28-7-1995,

    http://tinhdoanbinhthuan.vn/index.php?

    option=com_content&view=article&id=287:ngay-vit-nam-gia-nhpasian&catid=139:nhng-ngay-l-ln-trong-nm&Itemid=253

    Những tác động của việc mở rộng ASEAN-7 lên ASEAN-10,

    http://www.hocvienngoaigiao.org.vn/nr040730095659/nr040730100743/nr050517172

    414/ns050523150037

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Điện Thoại Vertu Đắt Đỏ Đến Thế, Giá Trị Có Thể Lên Tới Cả Tỷ Bạc?
  • Tuyệt Phẩm Khúc Thụy Du: Đừng Bao Giờ Em Hỏi Vì Sao Ta Yêu Nhau
  • Đừng Bao Giờ Em Hỏi, Vì Sao Ta Yêu Nhau
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Đáng Giá Nhất Hiện Nay
  • Bị Ung Thư Cổ Tử Cung Khi Mang Thai Phải Làm Sao?
  • Gia Nhập Asean Giúp Kinh Tế Việt Nam Hội Nhập Sân Chơi Khu Vực Và Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Nhập Asean, Bước Ngoặt Quan Trọng Của Việt Nam
  • Vì Sao Việt Nam Có Vai Trò Trung Tâm Ở Asean?
  • Vì Sao Pháo Binh Việt Nam Giành Thắng Lợi Trước Pháp
  • Vì Sao Vàng Sẽ Chiến Thắng Trong Mọi Cuộc Chiến Tiền Tệ?
  • Tại Sao Các Ngân Hàng Trung Ương Phủ Nhận Vàng Là Tiền Nhưng Lại Xây Cả Hầm Quân Sự Kiên Cố Để Bảo Vệ Nó?
  • Việt Nam rất tích cực đưa ra những định hướng, quyết sách cho việc phát triển ASEAN.

    Theo PGS.,TS. Nguyễn Huy Hoàng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), kể từ khi gia nhập ASEAN (năm 1995), ASEAN được coi là bệ phóng giúp Việt Nam hội nhập sân chơi khu vực và toàn cầu. Từ đó, Việt Nam tham gia rất nhiều cơ chế hợp tác khu vực, từ ASEAN+ đến các hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực mà ASEAN là trung tâm… Đến nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hầu hết các nước trên thế giới, có độ mở kinh tế rất lớn với tỷ lệ kim ngạch thương mại/GDP hơn 200%.

    Gia nhập ASEAN cũng là bệ phóng giúp Việt Nam hiện thực hóa mong muốn hội nhập khu vực và thế giới, mở rộng quan hệ thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, từ đó phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện cuộc sống người dân. Những cơ chế hợp tác này có lợi cho Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng quan hệ thương mại. Bằng chứng là, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình hơn 10 năm nay và thu nhập bình quân đầu người đạt gần 3.000 USD. Bên cạnh đó, Việt Nam luôn thể hiện sự tích cực thúc đẩy cơ chế hợp tác chung.

    Cùng với chính sách mở cửa thu hút đầu tư, sau khi gia nhập ASEAN, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt từ ASEAN vào Việt Nam cũng đã tăng mạnh.

    Trong 25 năm qua, Cộng đồng ASEAN đã ghi nhận những đóng góp của Việt Nam vào sự phát triển chung của Khối. Điển hình như: Việt Nam rất tích cực đưa ra những định hướng, quyết sách cho việc phát triển ASEAN, chỉ mới gia nhập ASEAN được 3 năm, vào năm 1998, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VI. Hội nghị đã đưa ra Chương trình Hành động Hà Nội với những nội dung rất quan trọng để triển khai Tầm nhìn 2022, tạo nền tảng cho việc thành lập Cộng đồng ASEAN sau này.

    Đồng thời, Việt Nam đã đảm nhiệm rất thành công các nhiệm vụ luân phiên; tham gia rất nhiều đề xuất sáng kiến hợp tác thiết thực hướng tới người dân. Khi đề xuất thành lập Cộng đồng ASEAN, các quan chức ASEAN ban đầu chủ yếu tập trung cho việc xây dựng 2 cộng đồng chính, gồm Cộng đồng An ninh – Chính trị và Cộng đồng Kinh tế, còn Cộng đồng Văn hóa – Xã hội về sau mới được xây dựng với đóng góp lớn từ Việt Nam, bởi Việt Nam đề xuất nhiều sáng kiến về phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế và gắn kết người dân ASEAN.

    Đến nay, Việt Nam là một trong 2 quốc gia thành viên có tỷ lệ thực hiện cam kết cao nhất (chỉ sau Singapore), thực hiện trên 95,5% cam kết trong kế hoạch tổng thể xây dựng AEC.

    GS. Yasuhiro Yamada, trợ lý đặc biệt của Chủ tịch Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA) về vấn đề Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam Vốn FDI từ các nước ASEAN chảy vào Việt Nam trong 25 năm qua đã khẳng định, Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực. Những dòng vốn FDI vào các khu công nghiệp tại Việt Nam là xung lực đưa kinh tế Việt Nam đi lên, đồng thời giúp thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Giải Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt
  • Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt Như Vậy? Có Gì Đặc Biệt?
  • Ung Thư Cổ Tử Cung Giai Đoạn Đầu Có Biểu Hiện Như Thế Nào?
  • Tại Sao Phải Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung?
  • Tại Sao Ung Thư Không Chữa Được? Nguyên Nhân Và Lời Giải Đáp
  • Cổng Thông Tin Asean Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra, Điều Tra Và Giám Sát
  • Sự Khác Biệt Giữa Hệ Điều Hành Mac Os Và Windows
  • Điểm Giống Và Khác Nhau Của Các Nguồn Vốn Huy Động Từ Quốc Tế
  • So Sánh Các Phiên Bản Windows 7
  • Top 10 Sự Khác Biệt Giữa Windows 7 Và Windows 8/10
  • Các đặc điểm chính của ASEAN là gì? ASEAN giống và khác gì EU?

    Đặc điểm chính của ASEAN là một tổ chức liên chính phủ, không phải là một tổ chức siêu quốc gia có quyền lực bao trùm lên chủ quyền của các nước thành viên. Mọi quyết định của ASEAN đều có sự tham gia đóng góp của các nước thành viên. Đặc điểm này làm ASEAN khác nhiều tổ chức khu vực khác như Liên minh châu Âu (EU), Liên minh châu Phi (AU), hay Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) là các tổ chức khu vực vừa có thành tố hợp tác liên chính phủ, vừa tạo ra các thể chế siêu quốc gia có thể ra phán quyết buộc các nước thành viên phải tuân thủ.

    Một đặc điểm nổi trội nữa của ASEAN là sự đa dạng về mọi mặt của các nước thành viên. Các nước thành viên ASEAN rất khác nhau về lịch sử, nguồn gốc dân tộc và sắc tộc, về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế. Các nước ASEAN đôi khi có quan tâm, ưu tiên an ninh và kinh tế khác nhau. Đặc điểm này tạo nên sự phong phú, đa dạng của cộng đồng ASEAN, song cũng tạo nên không ít khó khăn trong quá trình hợp tác giữa các nước ASEAN với nhau. So với EU, tuy các quốc gia châu Âu cũng có bản sắc phong phú và đa dạng về nhiều mặt, song lại khá gần gũi về mặt sắc tộc, lịch sử, tôn giáo và văn hóa, có thể chế chính trị cơ bản giống nhau và không chênh lệch nhau nhiều về trình độ phát triển. Các nước EU cũng cơ bản chia sẻ các giá trị, tầm nhìn và định hướng phát triển cùng như về các thách thức chung của khu vực.

    Bên cạnh đó, cần chỉ ra rằng chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á, mà hợp tác ASEAN là một biểu hiện, cũng còn khá non trẻ. Trong khi sự phát triển và suy tàn của các đế chế ở châu Âu với tầm ảnh hưởng bao trùm rộng lớn đã góp phần tạo điều kiện cho các dân tộc ở châu Âu có sự giao thoa, qua đó hình thành bản sắc riêng của châu lục thì tại Đông Nam Á, sự chia rẽ về mặt địa lý, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực, của các đế quốc trong giai đoạn thuộc địa và ảnh hưởng của Chiến tranh lạnh đã khiến các dân tộc Đông Nam Á phần nào bị chia rẽ, ít giao lưu và hiểu biết về nhau hơn, đặc biệt so với EU.

    Tuy nhiên, ASEAN cũng có khá nhiều điểm giống EU, đó là: là một tổ chức luôn phát triển, biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh; là tổ chức “mở” và có quan hệ phong phú với các đối tác trên khắp thế giới; cả ASEAN và EU đều được đánh giá là các tổ chức thành công và là nòng cốt thúc đẩy chủ nghĩa khu vực ở châu Âu và Đông Á. ASEAN và EU đều có cùng một mục tiêu là duy trì hòa bình ở khu vực và trên thế giới, đem lại sự phát triển và thịnh vượng cho các nước thành viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Thuốc Và Thực Phẩm Chức Năng?
  • Thực Phẩm Chức Năng Là Gì? Khác Nhau Giữa Tpcn Và Thuốc
  • Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Kim Loại Đen Và Kim Loại Màu ?
  • Vĩ Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • Vì Sao Việt Nam Có Vai Trò Trung Tâm Ở Asean?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Pháo Binh Việt Nam Giành Thắng Lợi Trước Pháp
  • Vì Sao Vàng Sẽ Chiến Thắng Trong Mọi Cuộc Chiến Tiền Tệ?
  • Tại Sao Các Ngân Hàng Trung Ương Phủ Nhận Vàng Là Tiền Nhưng Lại Xây Cả Hầm Quân Sự Kiên Cố Để Bảo Vệ Nó?
  • Những Lý Do Khiến Cho Wifi Chậm Và Yếu Vào Buổi Tối
  • Cải Thiện Mạng Wifi Chậm Và Hay Rớt Mạng(Thành Công 100%)
  • Kể từ khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Việt Nam có vai trò ngày càng lớn trong khối. Việt Nam đã nỗ lực không mệt mỏi cho nền hòa bình và hòa giải của khu vực vốn bị chia rẽ sâu sắc bởi chiến tranh. Cụ thể, vai trò của Việt Nam được thể hiện qua 2 bình diện chính trị và kinh tế.

    Là quốc gia Đông Dương đầu tiên gia nhập ASEAN, Việt Nam giúp chấm dứt thời kỳ đối đầu giữa Đông Dương và ASEAN, hơn nữa còn liên kết ASEAN với các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Liên minh Châu Âu.

    Đóng góp của Việt Nam vào an ninh khu vực rất đáng kể. Ngay sau khi gia nhập khối đã ký Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á phi vũ khí hạt nhân và là một trong những thành viên sáng lập Diễn đàn Khu vực ASEAN.

    Nhưng bước đi chủ động nhất của Việt Nam trong duy trì ổn định khu vực được biểu hiện qua vấn đề Biển Đông. Là nước có tranh chấp trực tiếp, Việt Nam cùng với Philippines đã nỗ lực không ngừng để đưa Biển Đông vào chương trình nghị sự ASEAN, đảm bảo xung đột được giải quyết trên cơ sở xây dựng, theo Sadhavi Chauhan, Quỹ Nghiên cứu Quan sát viên của Ấn Độ.

    Việt Nam kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) bao gồm thông qua các quy định về tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển.

    Năm tới, Việt Nam cũng đảm nhận vai trò thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2022 – 2022, nhiệm kỳ đầu diễn ra vào năm 2008 – 2009.

    Theo luật sư Hoàng Duy Hùng, cựu Nghị viên Hội đồng TP Houston, Texas, Mỹ, với việc tái trúng cử thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với số phiếu tuyệt đối, Việt Nam trên đường trở thành “đại gia” trên trường quốc tế.

    Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư, thương mại hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN đã tăng gần 10 lần, từ 5,9 tỷ USD Mỹ năm 1996 lên 56,3 tỷ USD vào 2022.

    Việt Nam cũng tăng cường đóng góp vào Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Gia nhập trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á, Việt Nam ngay lập tức tham gia vào hàng loạt hoạt động tái thiết của tổ chức này.

    Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 tổ chức tại Hà Nội năm 1998, qua “Kế hoạch Hành động Hà Nội”, Việt Nam đã đưa ra những ý tưởng và đề xuất để thu hẹp khoảng cách phát triển trong khu vực, nêu bật các giải pháp cho các vùng có điều kiện kinh tế dễ bị ảnh hưởng.

    Khi Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 34 vào năm 2012, ASEAN đã thông qua “Tuyên bố Hà Nội” về thu hẹp khoảng cách phát triển. Tuyên bố này nhắc lại cam kết của ASEAN về hợp nhất Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam vào dòng chảy kinh tế ASEAN và xác định 4 lĩnh vực ưu tiên của cải cách kinh tế: Cơ sở hạ tầng, thông tin và truyền thông, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế khu vực.

    Bên cạnh những nỗ lực bên ngoài hướng tới thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2022, Việt Nam đã tiến hành những thay đổi trong nước để hòa nhập với toàn khối. Đất nước đã dần cơ cấu lại bộ máy hành chính để phù hợp với nền kinh tế thị trường.

    Chỉ một năm gia nhập ASEAN, Việt Nam thành lập Ủy ban quốc gia ASEAN do một Phó Thủ tướng lãnh đạo. Cơ quan này chịu trách nhiệm điều phối tất cả các tổ chức tương tác với các bộ phận trực thuộc ASEAN. Thậm chí có hẳn Cục ASEAN trong Bộ Ngoại giao.

    Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất. Đất nước đang tận dụng từng cơ hội để cải cách hơn nữa sao cho cái tên Việt Nam xuất hiện trong chuỗi giá trị toàn cầu.

    Kể từ công cuộc “Đổi mới” vào năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 100 USD lên khoảng 2.700 USD hiện nay. Con số này được dự đoán sẽ tăng mạnh trong những năm tới.

    Hiện tại, Việt Nam là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sở hữu nhiều hiệp định thương mại tự do nhất thế giới với tổng cộng 17 (so với 6 ở Thái Lan). Hiệp định được ký kết mới nhất là với Liên minh châu Âu (EVFTA).

    Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài đang đổ tiền vào Việt Nam để tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do cũng như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

    Cập nhật mới nhất từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng đáng kể trong nửa đầu năm nay. Theo đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng 33%.

    Tính đến tháng 12/2018, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lũy kế vào Việt Nam lên đến 340,1 tỷ USD. Hàn Quốc đứng đầu với 62,56 tỷ USD, Nhật Bản đứng thứ hai với 57,02 tỷ USD, tiếp theo là Singapore với 46,62 tỷ USD và Đài Loan 31,44 tỷ USD.

    Hơn 20 năm kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam giờ đây đã là một thành viên trụ cột và trở thành một trong những quốc gia năng động nhất khu vực, đặc biệt trong hội nhập và phát triển kinh tế, nhà báo Kavi Chongkittavorn nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Nhập Asean, Bước Ngoặt Quan Trọng Của Việt Nam
  • Gia Nhập Asean Giúp Kinh Tế Việt Nam Hội Nhập Sân Chơi Khu Vực Và Toàn Cầu
  • Lý Giải Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt
  • Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt Như Vậy? Có Gì Đặc Biệt?
  • Ung Thư Cổ Tử Cung Giai Đoạn Đầu Có Biểu Hiện Như Thế Nào?
  • 25 Năm Việt Nam Tham Gia Asean: Chung Tay Vì Một Cộng Đồng Asean Gắn Kết Và Thích Ứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Mỹ Có Thể Thắng Trong Chiến Tranh Việt Nam Hay Không?
  • Vì Sao Việt Nam Chiến Thắng Còn Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Covid
  • Giải Thích Cặn Kẽ Nguyên Nhân Vì Sao Vô Sinh Ở Nữ Giới
  • Vì Sao Cây Osaka Vàng Có Giá Trị
  • Cá Sủ Vàng Giá Cả 1,5 Tỷ: Đắt Vì Giá Trị Dinh Dưỡng, Tâm Linh?
  • Ngày 28/7/2020 đánh dấu 1/4 thế kỷ Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đặc biệt năm nay, lễ kỷ niệm sự kiện đáng nhớ này trùng với thời điểm Việt Nam đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch luân phiên lần thứ hai của Hiệp hội.

    Việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 là một trong những mốc quan trọng nhất trong lịch sử đối ngoại của Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như trong quá trình phát triển của ASEAN. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa quan trọng, đưa khu vực Đông Nam Á từ đối đầu sang đối thoại, từ nghi kỵ sang tin cậy, từ chia rẽ sang đoàn kết. Với ASEAN, việc kết nạp Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 giúp đẩy nhanh quá trình mở rộng Hiệp hội ra cả 10 nước trong khu vực, qua đó củng cố hòa bình, ổn định ở một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt về địa – chính trị và địa – kinh tế, là trung tâm kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khi Việt Nam gia nhập ASEAN, khu vực mới bước ra khỏi Chiến tranh Lạnh, vị thế, vai trò và quy mô kinh tế của ASEAN vẫn còn khiêm tốn. Song 25 năm qua đã chứng kiến sự đổi thay mạnh mẽ của Hiệp hội. Để đến nay, cả 10 nước Đông Nam Á trở thành một Cộng đồng thống nhất với uy tín ngày càng cao ở châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

    Trên nền tảng các cơ chế Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), với sự hình thành Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), ASEAN dần trở thành một khu vực hòa bình, ổn định với vị thế từng bước được khẳng định. Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) cùng với việc ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa ASEAN với hàng loạt các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới đã góp phần tạo nên phồn vinh cho ASEAN, đưa ASEAN trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới. Năm 2022, ASEAN đã là mái nhà chung của khoảng 650 triệu người dân, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt hơn 3.200 tỉ USD và kim ngạch thương mại đạt 2.800 tỉ USD.

    Đặc biệt, Cộng đồng ASEAN hình thành ngày 31/12/2015, đã đưa ASEAN trở thành một Cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế và sẻ chia trách nhiệm xã hội. ASEAN ngày nay được coi là hình mẫu thành công về hợp tác khu vực. Các diễn đàn do ASEAN khởi xướng đã quy tụ được nhiều quốc gia, được tất cả các nước lớn coi trọng.

    Không chỉ gắn kết, liên kết về nội khối, ASEAN còn tích cực mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, trở thành một đối tác quan trọng của các nước lớn trong và ngoài khu vực. Trên cơ sở quan hệ đối ngoại rộng mở bao gồm 10 đối tác đối thoại, trong đó có tất cả các nước lớn, tiếng nói ASEAN được lắng nghe và vai trò trung tâm của ASEAN ngày càng được củng cố.

    Trên thực tế, vai trò trung tâm của ASEAN đã được khẳng định thông qua việc ASEAN thúc đẩy sự ra đời và dẫn dắt Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Mở rộng (ADMM Plus), đóng góp ngày càng quan trọng vào việc giải quyết những vấn đề chung của khu vực. Tiêu biểu là việc ASEAN đã bày tỏ lập trường kiên định trong việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông và khu vực, như Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) đang được kỳ vọng sớm hoàn tất, cùng nhiều tiến triển quan trọng khác.

    Với Việt Nam, ngày 28 tháng 7 của 25 năm trước đồng thời là cột mốc quan trọng đánh dấu bước tiến rất quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập khu vực và quốc tế. Chúng ta đã từng bước hội nhập với tâm thế ngày càng tự tin, ngày càng tích cực, chủ động, không ngừng phát huy vai trò là một đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng các nước Đông Nam Á nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.

    Trong quá trình hội nhập của đất nước, ngành ngoại giao luôn đóng vai trò tiên phong đột phá, mở đường ra thế giới. Trong nhiệm vụ thuở ban đầu đưa đất nước phá thế bao vây, cô lập, ASEAN được xem là đột phá khẩu đầu tiên của Việt Nam trong hội nhập. Ở những giai đoạn sau, hội nhập và tham gia của Việt Nam trong ASEAN gắn liền với quá trình Đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước. Chúng ta đã có những bước tiến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy đối ngoại, từ chủ trương “thêm bạn, bớt thù” tới trở thành “thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm” trong ASEAN và nay là phương châm “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” 1, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, “chuyển từ đối đầu sang đối thoại” 2 .

    Việt Nam từng bước khẳng định là một phần không thể tách rời của ASEAN và khu vực Đông Nam Á, gắn sự phát triển của đất nước với ASEAN và mong muốn gánh vác công việc chung của ASEAN. Chính sách đối với ASEAN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Điều này được nhấn mạnh trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về đối ngoại, đặc biệt là Chỉ thị 25-CT/TW ngày 8/8/2018 về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.

    Ngay sau khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy để các nước ở Đông Nam Á còn lại gia nhập ASEAN. Các nước Lào, Mi-an-ma và Cam-pu-chia đã tham gia ASEAN lần lượt các năm 1997 và 1999. Qua đó, giấc mơ về một ASEAN gồm toàn bộ 10 nước Đông Nam Á đã trở thành hiện thực. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã chủ động, tích cực, và có trách nhiệm khi tham gia vào các công việc của ASEAN trong đó có xây dựng thể chế cho ASEAN như Hiến chương ASEAN (2008), Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2009-2015), Kế hoạch Tổng thể 2009, 2022, và 2025, Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2022, 2025 và xa hơn …và triển khai toàn diện cả ba trụ cột Cộng đồng ASEAN. Việt Nam đã tổ chức tốt Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6, đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch Ủy ban Thường trực ASEAN (ASC) khóa 34 (7/2000-7/2001), Chủ tịch ASEAN 2010, và hiện đang nỗ lực hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2022. Với nhiều sáng kiến và đóng góp quan trọng như mở rộng EAS hay thành lập cơ chế ADMM cộng, Việt Nam tích cực cùng các thành viên ASEAN duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình.

    Thứ hai , tham gia ASEAN giúp chúng ta hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, huy động các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao sức mạnh tổng hợp. Tiếp sau quá trình tham gia ASEAN, Việt Nam đã chủ động tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các FTAs thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu, thu hút đầu tư, ODA, qua đó giúp cho kinh tế tăng trưởng cao trong nhiều năm.

    Thứ ba , hội nhập ASEAN giúp Việt Nam từng bước nâng tầm đối ngoại giao đa phương, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Thành công trong tham gia ASEAN đã và đang giúp Việt Nam thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ đối ngoại đa phương quan trọng như Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009, 2022-2021), đăng cai Cấp cao APEC (năm 2006, năm 2022), tích cực tham gia xây dựng các “luật chơi” quốc tế, hợp tác đối phó với các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, đối phó với đại dịch Covid-19…

    Thứ tư , quá trình tham gia ASEAN 25 năm qua đã rèn luyện, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ đối ngoại, nhất là cán bộ làm công tác đa phương của Việt Nam; giúp chúng ta ngày càng vững vàng hơn khi “vươn ra biển lớn” – hội nhập toàn cầu.

    Cái cách mà ASEAN vượt qua những sóng gió bất ngờ và không có tiền lệ mà đại dịch Covid-19 gây ra minh chứng cho một ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng, kiên định và không khuất phục trước nghịch cảnh. Hơn bao giờ hết, chúng ta thấu hiểu tầm quan trọng của tư duy Cộng đồng và hành động Cộng đồng. Như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh “…các nỗ lực đơn lẻ cần được gắn kết lại, vượt tầm quốc gia, trở thành hành động chung của cả Cộng đồng ASEAN”./.

    (1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội Đảng VII , Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

    (2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 154

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lật Lại Hồ Sơ: Loạt Rapper Được Biết Đến Sau Khi Dính ‘phốt Bẩn’, Tử Nạn Vì Ma Túy
  • Vì Sao Vertu Lại Đắt? Chỉ Có 3 Lý Do Này Thôi!
  • Lý Giải Vì Sao Vertu Đắt
  • Phân Tích Ý Nghĩa Của Lời Thoại Sau: “thiếp Cảm Ơn Đức Của Linh Phi, …. Chẳng Thể Trờ Về Nhân Gian Được Nữa.”
  • Review Khi Lỗi Thuộc Về Các Vì Sao Và Nỗi Sợ Hãi Bị Lãng Quên
  • Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Israel Và Dân Tộc Do Thái
  • Israel: Một Đất Nước Thần Kỳ
  • Tìm Hiểu Về Quốc Gia Israel?
  • Tìm Hiểu Về Đất Nước Israel, Vùng Đất Của Kinh Thánh
  • 12 Cách Người Israel Thay Đổi Nền Nông Nghiệp Thế Giới (P1)
  • Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập vào ngày 8/8/1967 thông qua Tuyên bố ASEAN, hay còn gọi là Tuyên bố Bangkok, được ký bởi ngoại trưởng 5 nước thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.

    ASEAN không phải tổ chức khu vực đầu tiên được thành lập ở Đông Nam Á. Năm 1961, Hiệp hội Đông Nam Á (Association of Southeast Asia: ASA) ra đời, nối kết Liên bang Malaya (bây giờ là Malaysia và Xingapo), Philippin, và Thái Lan. Năm 1963, Indonesia, Liên bang Malaya, và Philippin còn thành lập tổ chức Maphilindo, trong một nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa 3 quốc gia này.

    Nhưng hợp tác bên trong ASA và Maphilindo bị tổn hại nghiêm trọng bởi các cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa các nước thành viên cũng như bất đồng đối với việc thành lập Liên bang Malaysia. Kết quả, Maphilindo chỉ tồn tại từ năm 1963 cho đến khi ASEAN thay thế nó vào năm 1967. ASA cũng chỉ tồn tại chính thức từ năm 1961 đến năm 1967, đóng cửa một thời gian ngắn sau khi ASEAN được thành lập.

    Mặc dù mục tiêu công khai của ASEAN khi được tuyên bố thành lập là hợp tác kinh tế và văn hoá-xã hội, nhưng thực chất đây là một tập hợp chính trị giữa các nước thành viên nhằm ngăn chặn nguy cơ chủ nghĩa cộng sản (cả từ bên ngoài và bên trong), đặc biệt trong bối cảnh cuộc chiến tranh ở Việt Nam khi đó đang gây nên những tác động lớn đến tình hình khu vực.

    Trải qua hơn 40 năm tồn tại, cho tới nay ASEAN đã mở rộng bao gồm toàn bộ 10 quốc gia ở Đông Nam Á, trong đó Brunei gia nhập năm 1984, Việt Nam năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997 và Campuchia năm 1999. Hiện ASEAN có trụ sở ban thư ký đặt tại Jakarta, Indonesia. Chức Tổng thư ký được luân phiên nắm giữ giữa các quốc gia thành viên theo thứ tự tên chữ cái tiếng Anh. Kể từ cuối năm 2008 khi Hiến chương ASEAN có hiệu lực, mỗi năm ASEAN tổ chức hai cuộc họp thượng đỉnh cấp nguyên thủ quốc gia để bàn thảo các vấn đề quan trọng đối với khu vực. Ngoài ra hàng năm ASEAN còn tổ chức hàng trăm cuộc họp ở các cấp khác nhau nhằm tăng cường hợp tác ở các lĩnh vực khác nhau giữa các quốc gia thành viên.

    Cho tới nay, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng sau hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển. Thành tựu đáng chú ý nhất là Hiệp hội đã hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, giúp chấm dứt sự chia rẽ và đối đầu giữa các nước Đông Nam Á; tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác toàn diện và ngày càng chặt chẽ dựa trên những nguyên tắc của ” Phương thức ASEAN,” trong đó chú trọng đối thoại, đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. ASEAN-10 cũng giúp biến Hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác khu vực thực sự, là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương.

    Trên lĩnh vực chính trị-an ninh, ASEAN đã đưa ra nhiều sáng kiến và cơ chế bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực, như : Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) năm 1971 ; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) ký năm 1976; Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) năm 1995 ; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002… Kể từ năm 1994, ASEAN cũng khởi xướng và chủ trì Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), là nơi ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh ở Châu Á-Thái Bình Dương. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, ARF vẫn được coi là cơ chế trụ cột giúp đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực.

    Về kinh tế, đến nay ASEAN đã cơ bản hoàn tất các cam kết về hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA), với hầu hết các dòng thuế đã được giảm xuống mức 0-5%. Kim ngạch thương mại nội khối hiện đạt khoảng 300 tỷ USD và chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN. Ngoài ra hiện ASEAN cũng thúc đẩy hợp tác kinh tế trên nhiều lĩnh vực khác như đầu tư (thông qua thỏa thuận về Khu vực đầu tư ASEAN -AIA), công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, hải quan, thông tin viễn thông… ASEAN cũng coi trọng đẩy mạnh thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, nhất là thông qua việc triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về hỗ trợ các nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam). Mặt khác, ASEAN cũng đã tích cực tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với các đối tác bên ngoài thông qua việc đàm phán thiết lập các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.

    Như vậy sau hơn 40 năm tồn tại, ASEAN đã chuyển hóa căn bản về mọi mặt, trở thành nơi tập hợp lực lượng không thể thiếu của các nước nhỏ và vừa, nhằm duy trì hòa bình và an ninh khu vực, tạo điều kiện để các nước thành viên mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế. Ở cuộc họp thượng đỉnh ASEAN ở Bali vào ngày 07/10/2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (ASEAN Concord II) nhằm xây dựng một Cộng đồng ASEAN vào năm 2022, bao gồm ba trụ cột chính: Cộng đồng chính trị – an ninh ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN, và Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN.

    Tháng 11/2007, Hiến chương ASEAN cũng đã được thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/12/2008 sau khi đã được tất cả 10 quốc gia thành viên phê chuẩn. Bản Hiến chương này giúp tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho ASEAN tăng cường liên kết khu vực, trước hết là phục vụ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2022. Ngoài ra bản Hiến chương phản ánh sự trưởng thành của ASEAN, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ hơn và vững mạnh hơn, hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng như từng nước thành viên.

    Đánh giá về ASEAN, một số nhà quan sát cho rằng ASEAN từng là điển hình cho một câu chuyện thành công cho đến giữa thập niên 1990 khi hình ảnh của nó bắt đầu bị lu mờ dần, chủ yếu do những thách thức gây ra bởi việc mở rộng số lượng thành viên, cũng như do tác động của cuộc khủng hoàng tài chính tiện tệ Châu Á 1997-1998. Một đánh giá cân bằng hơn lại cho rằng ASEAN không phải là một câu chuyện thành công cho đến giữa thập niên 1990 khi ASEAN bắt đầu mở rộng thành viên và hợp tác trong lòng ASEAN được phát triển một cách toàn diện, đồng thời vai trò của Hiệp hội trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được tăng cường mạnh mẽ hơn về mọi mặt.

    Tuy nhiên, mọi tiến bộ của ASEAN trong tương lai đều phụ thuộc vào việc Hiệp hội có thể vượt qua được những hạn chế và thách thức còn tồn tại hay không. Có thể nói, đến nay, ASEAN vẫn là một hiệp hội khá lỏng lẻo, tính liên kết khu vực còn thấp trong khi vẫn tồn tại sự khác biệt lớn về chế độ chính trị-xã hội và trình độ phát triển giữa các nước thành viên. ASEAN còn bị chỉ trích vì có nhiều chương trình hợp tác nhưng kết quả thực hiện còn hạn chế; tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động cồng kềnh, kém hiệu quả. Việc ASEAN duy trì “Phương thức ASEAN” cũng bị chỉ trích là một cản trở đối với việc phát huy vai trò của tổ chức này. Ngoài ra, nhiều mâu thuẫn vẫn còn tồn tại trong ASEAN, tiêu biểu như tranh chấp biên giới giữa Thái Lan và Campuchia. Những mâu thuẫn này tiếp tục làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến đoàn kết, hợp tác và uy tín của ASEAN.

    Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Resort Hội Nghị Tốt Nhất Gần Hà Nội
  • Kinh Nghiệm Đi Asean Resort Trong Ngày 2022 (Cập Nhật)
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Năm Chủ Tịch Asean 2022 Của Việt Nam
  • Giáo Án Lớp 4 Môn An Toàn Giao Thông
  • Câu Hỏi Về An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Thcs
  • Cơ Hội, Thách Thức Với Việt Nam Khi Tham Gia Cộng Đồng Kinh Tế Asean (Aec) 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Cộng Đồng Kinh Tế Asean – Cơ Hội Và Thách Thức Với Việt Nam
  • Vai Trò Chủ Tịch Asean 2022: Cơ Hội, Thách Thức Và Định Hướng Công Tác Đối Ngoại
  • Vì Sao Đông Ấm, Vì Sao Hạ Mát Khuấy Đảo Trái Tim Thiếu Nữ
  • Vì Sao Đông Ấm, Vì Sao Hạ Mát (Lồng Tiếng)
  • Review: Vì Sao Đông Ấm, Vì Sao Hạ Mát. – Cố Tây Tước – Review Truyện Xuyên Không Về Thời Tam Quốc
  • Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú phát biểu tại hội thảo

    Theo Hiến chương ASEAN có hiệu lực từ 15/12/2008, mục tiêu xây dựng một Cộng đồng ASEAN trên nền tảng ba trụ cột: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng An ninh – Chính trị ASEAN (APSC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC). Theo đó, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), dự kiến sẽ được thành lập vào cuối năm 2022, được coi là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện các nền kinh tế Đông Nam Á, hòa nhập nền kinh tế của 10 quốc gia thành viên thành một khối sản xuất thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ USD. Từ năm 2004 đến nay, ASEAN đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều đối tác: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Ấn Độ. Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán các FTA với EU, Liên minh Hải quan (Nga, Belarus, Kazakhstan), ASEAN+6, Hàn Quốc, Khối Thương mại tự do châu Âu (Thụy Sỹ, Na Uy, Liechtenstein, Iceland) và Hiệp định Thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP).

    Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ giúp các doanh nghiệp mở rộng trao đổi thương mại, thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, tiếp cận các thị trường rộng lớn hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn, các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN sẽ dẫn đến một số ngành, doanh nghiệp chịu cạnh tranh, phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút khỏi thị trường. Phát biểu tại buổi khai mạc, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú nhấn mạnh: “Hội nhập kinh tế đã, đang và sẽ tác động trực tiếp tới việc hoạch định chính sách của cơ quan quản lý, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và việc làm, thu nhập của người dân; trong đó tác động trực tiếp và lớn nhất là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa. Các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa cạnh tranh của các nước. Những doanh nghiệp có lợi thế xuất khẩu sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, trong khi doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh yếu đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ gặp thách thức nghiêm trọng.”

    Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Phùng Tấn Viết, hội nhập quốc tế ngày càng nhấn mạnh đến các lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực khác, đồng thời mở ra nhiều cơ hội mới cho phát triển kinh tế, căn cứ đặc thù của các vùng, miền. Thành phố Đà Nẵng với vai trò là một cửa ngõ của đất nước và khu vực sẽ có tiềm năng cao trong hội nhập kinh tế, đặc biệt trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN. Phó Chủ tịch Phùng Tấn Viết hy vọng hội thảo sẽ là cơ hội để các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tìm hiểu về các cơ hội, thách thức, cũng như tác động pháp lý của FTA, hướng dẫn các loại ưu đãi thuế quan, quy tắc xuất xứ ưu đãi và thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ cập nhật các thông tin về cam kết thuế quan….Qua đó, góp phần tăng cường năng lực tận dụng lợi thế từ tiến trình hội nhập kinh tế, mang lại các lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân địa phương.

    CÔNG TÂM

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 Chiếc Vertu Đắt Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Tại Sao Điện Thoại Vertu Lại Đắt? Giá Trị Thật Của Những Siêu Phẩm Này Nằm Ở Đâu?
  • Cuộc Chiến Sai Lầm Của Uber Tại Thị Trường Đông Nam Á
  • Tóc Bạc Sớm Ở Trẻ: Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Dành Cho Cha Mẹ
  • Mẹ Nên Làm Gì Khi Trẻ Sơ Sinh Biếng Bú?
  • Tại Sao Mỹ Đánh Việt Nam?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Trung Quốc Đánh Chiếm Gạc Ma? Vấn Đề Sống Còn Đối Với Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • 9+ Cách Trị Thâm Môi Bẩm Sinh Hiệu Quả Nhất Tại Nhà
  • Trả Lời Câu Hỏi Môi Thâm Bẩm Sinh Phun Xăm Có Lên Màu Không
  • 【Hot】 5 Cách Trị Thâm Môi Bẩm Sinh + Làm Sáng Viền Môi
  • Cách Trị Môi Thâm Bẩm Sinh Hiệu Quả Tại Nhà Quả Bằng Nguyên Liệu Thiên Nhiên Dễ Tìm
  • Dưới thời Tổng thống Harry S. Truman, Hoa Kỳ đã thiết lập một học thuyết đối ngoại gọi là “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản.

    Được khởi nguồn bởi George Kennan, Dean Acheson, cùng với các nhà ngoại giao và cố vấn chính sách khác, học thuyết Truman bắt đầu bằng bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Truman vào ngày 12 tháng 3 năm 1946. Quốc hội Mỹ bỏ phiếu cho chính sách này vào ngày 8 tháng 5, Thượng viện Mỹ thông qua vào ngày 22 tháng 5.

    Mục đích của chính sách “ngăn chặn” không phải để chống lại Liên Xô bằng một cuộc chiến tranh, mà là giới hạn chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô trong ranh giới hiện có tại thời điểm đó.

    Học thuyết Truman dựa trên một số tiền đề:

    – Thế giới phân 2 cực = Đế chế Mỹ + Đế chế Liên Xô.

    – Không có quốc gia nào đứng giữa = Hoặc thuộc đế chế Mỹ + Hoặc thuộc đế chế Liên Xô.

    – Liên Xô là kẻ bành trướng = Áp đặt thẩm quyền tuyệt đối của mình lên phần còn lại của thế giới.

    – Mỹ công nhận có chủ nghĩa cộng sản = Học thuyết “ngăn chặn” sẽ tránh cuộc chiến tranh toàn diện với Liên Xô, càng tránh cuộc chiến tranh toàn diện với chủ nghĩa cộng sản; nhưng Mỹ sẽ thực hiện các bước ngăn chặn bất kì một chính phủ cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng.

    Với lí do Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn mọi quốc gia cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng, học thuyết Truman đã trực tiếp dẫn đến cuộc chiến dai dẳng và mất mát khủng khiếp nhất tại Việt Nam, kéo dài hơn ba thập kỉ.

    Vào năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Krushchev, trong cuộc tranh luận với Richard Nixon ở Moscow, đã đe dọa “We will bury you – Chúng tôi sẽ chôn cất bạn!”

    Sở hữu kho vũ khí hạt nhân và khả năng quân sự, cùng với những tuyên bố, Liên Xô đã trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ. Hoa Kỳ mặc định, không có một quốc gia cộng sản nào mà không phải là một phần của Liên Xô. ngoại trừ Trung Quốc cũng là quốc gia cộng sản từ năm 1948, nhưng nền văn hóa giữa hai quốc gia quá khác biệt tạo nên mối thù hận làm cho Trung Quốc và Nga không thể vượt qua đường biên giới chung.

    Và thế giới phân cực: phần còn lại bắt buộc phải liên minh với Mỹ!

    Việt Nam là một đất nước rất xinh đẹp, với rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, thiên nhiên ưu đãi cho khí hậu 4 mùa ở miền Bắc và mưa thuận gió hòa khắp dải đất hình chữ S. Địa lí Việt Nam đóng vai trò cực kì quan trọng giữa Trung Quốc và thế giới: là cửa ngõ cả trên đất liền và trên biển, đặc biệt với lợi thế đồi núi xen kẽ đồng bằng và hệ thống sông ngòi rất phù hợp với chiến thuật quân sự phòng thủ phản công, chiến thuật ấy còn đặc biệt hơn ngay cả trên biển với 2 quần đảo chiến lược là Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với những cảng biển nước sâu như Cam Ranh và bờ biển kéo dài 3260 km án ngữ cả lối ra vào của toàn bộ cửa biển Thái Bình Dương.

    Đó là lí do tại sao Việt Nam có lịch sử đấu tranh giành độc lập rất dài.

    Trong hàng ngàn năm, Việt Nam phải đã vật lộn chiến đấu để bảo tồn ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng biệt, đẩy lùi những cuộc xâm lược kéo dài của Trung Quốc, 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên, sau đó là Nhật Bản và Pháp, cuối cùng là cuộc chiến tranh tổng lực với Mỹ.

    Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ nửa cuối thế kỉ 19.

    Đến WW2, Hồ Chí Minh trở thành nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc, ông chủ trương lãnh đạo toàn dân làm cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền, bắt buộc thực dân Pháp phải rút quân, giành lại độc lập cho Việt Nam sau gần trăm năm đô hộ.

    Xuất thân từ gia đình nho giáo, nhưng Hồ Chí Minh lại sớm tiếp cận với nền văn minh phương Tây là Pháp, sau đó là Liên Xô. Ông là người cộng sản, nhưng cũng là người đặt niềm tin vào nền dân chủ phương Tây mà đại diện là Pháp, cùng với thể chế tự do kiểu Mỹ. Hồ Chí Minh là nhà cải cách ruộng đất, ông muốn mang lại cuộc sống ấm no cho dân nghèo, giải phóng dân tộc khỏi chế độ áp bức của thực dân, xây dựng một thể chế tự do dân chủ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

    Hồ Chí Minh có ý thức mạnh mẽ về quốc gia và dân tộc!

    Trong WW2, sau khi Pháp bị hất cẳng khỏi Việt Nam, Hồ Chí Minh chấp nhận để quân đồng minh Nhật tạm thời chiếm đóng thay vì đội quân của Tưởng Giới Thạch, bởi Hồ Chí Minh hiểu hơn ai hết một khi phiên bản của Trung Quốc bám rễ sẽ rất khó để nhân dân Việt Nam trục xuất được đội quân ấy ra khỏi đất nước.

    Hồ Chí Minh là người cộng sản, nhưng xuyên suốt, ông lại là nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, rất thực tế, quan tâm đến những gì tốt nhất cho Việt Nam, ông có xu hướng theo nền tự do dân chủ kiểu Mỹ hơn là theo Liên Xô như một đồng minh.

    Trong WW2, Charles De Gaulle là người đã làm sống dậy bóng ma của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1945 đến 1954, De Gaulle đã mang vinh quang trở lại cho nước Pháp thông qua cuộc chiến chống phát xít, khôi phục lại thuộc địa trong đó có Việt Nam.

    Nhưng thật oái oăm: Đảng Cộng sản Pháp lại quá mạnh!

    Truman là người chống cộng cực đoan, ông dễ bị tổn thương và cực kì nhạy cảm với 2 chữ “cộng sản”. Một mặt Truman rất lo lắng phong trào cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo sẽ lan tỏa ra khắp Đông Nam Á rồi đến châu Á, mặt khác lo sợ Đảng Cộng sản Pháp sẽ chiến thắng De Gaulle để giành được thực quyền.

    Thiện chí của Hồ Chí Minh với Mỹ đã bị lờ đi vì 2 lí do này.

    Nhưng người Pháp đã làm rất tệ!

    Hồ Chí Minh đã biết cách lãnh đạo một đội quân nhỏ bé là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ban đầu chỉ có 34 chiến sĩ chủ yếu làm công việc tuyên truyền, nhưng vẫn đủ sức đánh bại đội quân viễn chinh oai hùng Pháp có sự hậu thuẫn cực kì mạnh mẽ của Mỹ. Với chiến thắng chấn động địa cầu mang tên Điện Biên Phủ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới đã được truyền cảm hứng từ chính Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, chủ nghĩa thực dân đã sụp đổ hoàn toàn bởi hiệu ứng domino không thể cưỡng lại được.

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ đúng 1 ngày, Hiệp định Geneve được tổ chức ở Thụy Sĩ, bắt đầu từ ngày 8 tháng 5 năm 1954 chính thức bàn về việc khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương. Hội nghị có sự tham gia dàn xếp của 4 cường quốc số một thế giới gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp. Liên Xô muốn kéo thêm vào bàn đàm phán một quốc gia cộng sản làm đồng minh, đó là Trung Quốc, nhưng ý tưởng không thành vì Trung Quốc chưa có vai trò chính thức ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Sau khi đàm phán, Pháp đồng ý rút quân khỏi Đông Dương, Việt Nam tạm thời phân chia làm 2 nửa, ranh giới phân chia là vĩ tuyến 17 và sẽ tổng tuyển cử trong vòng 2 năm theo hình thức bỏ phiếu tự do dân chủ để thống nhất đất nước.

    Nhưng chẳng bao giờ có cuộc tổng tuyển cử!

    Năm 1955, được Mỹ hậu thuẫn, Quốc gia Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ được thành lập, Ngô Đình Diệm được đề cử làm Tổng thống. Thay vì thực hiện bỏ phiếu tự do thống nhất giữa 2 miền Nam Bắc, thì Ngô Đình Diệm tuyên bố chống cộng, ông đề nghị Mỹ chi viện để chống lại Hồ Chí Minh.

    Để ngăn chặn Liên Xô và Trung Quốc, chống lại Hồ Chí Minh, chống lại phong trào cộng sản trên toàn thế giới, Hoa Kỳ đã cung cấp toàn bộ quân sự, súng, đạn dược, đô la, thuốc men, cố vấn quân sự…v.v. cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

    Ngô Đình Diệm là người Công giáo, ông theo chủ nghĩa dân tộc, thực hiện chế độ gia đình trị. Chính phủ của ông nhanh chóng bộc lộ những bất ổn. Ngay sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm cho thiết kế các biện pháp tấn công cộng sản, thông qua các hình thức tố cộng, diệt cộng, đỉnh điểm là việc ban hành Luật 10/59 với công cụ là chiếc máy chém đầu. Nhưng nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm, là sự kì thị tôn giáo, đàn áp đạo Phật. Ngô Đình Diệm chỉ công nhận Kito giáo, không chấp nhận các tôn giáo khác, cố gắng bằng mọi cách loại bỏ Phật giáo ra khỏi đời sống xã hội.

    Năm 1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã tăng cường đầu tư cho chính quyền Ngô Đình Diệm, cả về tiền bạc lẫn vũ khí, điều thêm 15 ngàn quân đến tham chiến tại Việt Nam.

    Một trong những lí do để Kennedy đưa quân vào Việt Nam theo lời đề nghị của Ngô Đình Diệm, đó là hội nghị Camp David 1959, Hoa Kỳ biết được qua Khrushchev rằng cộng sản Trung Quốc đang nghiên cứu sản xuất vũ khí hạt nhân. Nhưng vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vẫn hoài nghi về khả năng sản xuất bom hạt nhân của Trung Quốc, nhưng có điều chắc chắn Hoa Kỳ biết, đó là mối quan hệ Xô – Trung là 2 quốc gia cộng sản đồng sàng dị mộng.

    Hơn 15 ngàn lính Mỹ được Kennedy đưa đến Việt Nam, ban đầu họ tin rằng đang thực hiện một sứ mệnh rất cao cả, là đến một đất nước xa xôi để cứu người dân khỏi bị cộng sản dìm xuống nước, hay nướng trên ngọn lửa. Nhưng rồi họ sớm phát hiện ra người dân địa phương không coi họ là những vị cứu tinh, mà ngược lại là sự thù địch, khiến nhiều lính Mỹ khá bối rối và tức giận.

    Ngày 11 tháng 6 năm 1963, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn, Mỹ chính thức loại bỏ Ngô Đình Diệm vào ngày mùng 2 tháng 11 năm 1963. Sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Kennedy đã nhận ra sự nguy hiểm của tình hình và dự thảo kế hoạch rút khỏi Việt Nam, nhưng quốc hội Mỹ không thông qua.

    Ngày 22 tháng 11 Kennedy bị ám sát.

    Lyndon Johnson, Tổng thống mới của Hoa Kỳ đã nhanh chóng củng cố vị thế chính trị bằng chiến thuật bàn tay sắt với cộng sản. Là người chống cộng lâu năm và có nhiều kinh nghiệm, một lần nữa Johnson đẩy mạnh học thuyết “ngăn chặn” với lập luận bổ sung bằng “học thuyết domino”. Theo đó, học thuyết domino chỉ ra rằng nếu một quốc gia như Việt Nam rơi vào tay cộng sản, thì các quốc gia khác trong khu vực cũng sẽ lần lượt rơi vào tay cộng sản. Cách lập luận đó không hề có cơ sở, nhưng nó là lí thuyết tạo nên xương sống cho học thuyết “ngăn chặn” và một lần nữa được Johnson đẩy lên đỉnh điểm.

    Người Mỹ đã bị cuốn vào học thuyết “ngăn chặn”, họ tin rằng với sức mạnh vượt trội về công nghệ, vũ khí tối tân, kinh tế hùng cường; chiến tranh ở Việt Nam có sự can thiệp của Mỹ sẽ nhanh chóng được kết thúc theo cách dễ dàng nhất.

    Một nhà báo Mỹ đi thăm hàng không mẫu hạm Ranger đã viết: “Chỉ cần đưa con tàu này cho Việt Cộng thì chắc chắn họ sẽ bỏ chạy – They just ought to show this ship to the Viet Cong, that would make them give up”. Bản thân Johnson còn gọi Việt Nam là “đất nước hạng tư rách rưới – ragged ass little fourth rate country”, cùng với chiến dịch truyền thông vô cùng dữ dội về sức mạnh hủy diệt của nước Mỹ, đã làm cho không một người Mỹ nào có thể tin một quốc gia bé nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam lại có thể đánh bại được quân đội Mỹ.

    Nhưng Johnson và người Mỹ đã nhầm!

    Vũ khí của Mỹ sản xuất theo mẫu hình chiến trận của WW2, cho dù nó vô cùng tối tân và hiện đại, nhưng chỉ triển khai tham chiến trên Đại Bình nguyên châu Âu. Đó là những cuộc chiến trên diện rộng, chiến đấu nhanh chóng, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ và đầy đủ, hỏa lực cực mạnh để giảm thiểu hi sinh cho binh lính. Ngược lại, chiến trường Việt Nam với núi đồi, sông ngòi, rừng sâu, nên người Việt đã xây dựng một lượng lớn hầm ngầm, địa đạo, giao thông hào để kéo kẻ thù phải chui xuống lòng đất, phải lặn trong nước, phải luồn trong rừng. Quân đội Mỹ có thể thắng trên tất cả các mặt trận, nhưng ở chiến trường Việt Nam, Johnson chắc chắn thất bại.

    Năm 1964: Johnson tìm kiếm lí do để đánh Việt Nam!

    Ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hải Quân Hoa Kỳ đưa 2 tàu khu trục C Turner Joy và USS Maddox ra thăm Vịnh Bắc Bộ, nhưng lại cố tình xâm phạm lãnh hải, liền bị các tàu phóng lôi của Hải quân Bắc Việt tấn công. Chừng đó chưa đủ sức thuyết phục để tạo cớ, Mỹ đã dựng lên cuộc tấn công không có thật lần thứ 2, vào ngày 4 tháng 8.

    Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ sử dụng 2 biên đội tàu sân bay Constellation và Ticonderoga, gồm 40 máy bay tiêm kích và cường kích hiện đại nhất, bất ngờ đánh thẳng vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình.

    Kể từ đó Mỹ lên tục leo thang.

    Riêng năm 1967, Mỹ đã thực hiện ném một lượng bom khổng lồ, bằng tổng số bom sử dụng trong WW2. Với 500 ngàn quân Mỹ đồn trú, mỗi tháng tiêu tốn 2 tỉ đô la, thương vong cho phía Bắc Việt ước tính 1000 người mỗi tuần.

    Có một sự thật trong chiến tranh Việt nam, lính Mỹ không bao giờ coi đối phương là con người, lí do không phải sự thù hận, mà là khoảng cách văn hóa, sự giàu có, công nghệ giữa Mỹ và Bắc Việt quá xa nhau, giống như ở 2 thế giới đối lập hoàn toàn. Sự khinh bỉ và phân biệt chủng tộc là nét đặc trưng của quân đội Mỹ. Một nhà báo đặt câu hỏi, liệu các vụ ném bom có giết chết thường dân hay không, một trung sĩ đã cười và trả lời: “Có vấn đề gì đâu? Tất cả đều là người Việt Nam – “What does it matter? They’re all Vietnamese.” Theo quy luật ngón tay cái, nếu người chết nói tiếng Việt, thì đó là Việt Cộng, tất cả được thống kê thành con số ấn tượng để báo cáo về Washington!

    Chất độc màu da cam làm rụng lá và bom lửa Napalm, đó là 2 thứ vũ khí nổi tiếng của quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam, nó phát quang cả dãy Trường Sơn. Trên thân mỗi chiếc máy bay chở 2 loại vũ khí này luôn treo một khẩu hiểu: “Chỉ có chúng ta mới ngăn cản được rừng – Only We Can Prevent Forests”.

    Không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt suy yếu vì bom Mỹ!

    Các vụ đánh bom, hầu hết chỉ phá hoại đồng ruộng, hoa màu và nhà cửa. Những vụ tấn công và đốt, lính Mỹ chỉ biết nhắm vào dân thường, làm cho người Việt càng trở nên căm thù. Những ngọn giáo mác, những bẫy chông, hầm mìn giăng ở mọi nơi, bỗng chốc trở thành nỗi khiếp đảm.

    Những con đường lớn bị bom Mỹ phá hủy, thì người Việt sử dụng con đường mòn, đường hầm, họ cần mẫn vận tải vào ban đêm, bằng những đội dân công, thanh niên xung phong, hay sự tự nguyện của mỗi người dân nghèo với quyết tâm cao độ sẽ đánh tan giặc Mỹ xâm lược.

    Tướng William Westmorland cho rằng: “Mạng sống của con người là rẻ mạt đối với người châu Á. Họ không cảm nhận thấy giống như cái chết mà chúng ta làm – Human life is cheap to the Asian. They don’t feel the same way about death that we do”. Câu nói này được sử dụng trong bộ phim phản chiến nổi tiếng “Trái tim và Khối óc – Hearts and Minds”, nó ngược lại với hỉnh ảnh trong phim một người vợ đang vật vã khóc lóc tuyệt vọng bên mộ chồng.

    Chiến tranh Việt Nam thực sự là nỗi ám ảnh khủng khiếp với lính Mỹ!

    Những người lính luôn đặt câu hỏi: tại sao họ phải ở đây? Trên cánh đồng, trong làn nước, trong khu rừng, hay ở những ngôi làng toàn túp lều cỏ, họ chẳng thể tìm thấy Việt Cộng, nhưng chỗ nào cũng không an toàn, hầm chông hay bắn tỉa, cảm giác Việt Cộng ở khắp mọi nơi nhưng lại không thể nhìn thấy.

    Tháng 3 năm 1968, một đơn vị Mỹ đã chịu tổn thất do Việt Cộng tấn công trước đó, nên tổ chức đi càn ở ngôi làng Mỹ Lai thuộc miền Trung Việt Nam. Thất vọng vì không thể tìm thấy Việt Cộng và lo lắng bị trả thù, lính Mỹ đã vây bắt đàn bà, trẻ em và người già không vũ trang, cưỡng hiếp phụ nữ, sau đó nổ súng thảm sát hơn 300 thường dân.

    Dưới sự chỉ huy của Trung úy William Calley, những người lính của Đại đội Charlie nghỉ trưa, sau đó quay lại Mỹ Lai tiếp tục giết chóc và đốt cháy ngôi làng. Calley chỉ dừng tay, khi hai lính Mỹ thuộc sư đoàn trực thăng trên không đã chặn lại, họ tuyên bố sẽ quay súng bắn lại nếu Calley tiếp tục ra lệnh giết thêm phụ nữ hoặc trẻ em khác.

    Quân đội Mỹ đã tìm mọi cách che đậy vụ việc. Hai người lính Mỹ ngăn chặn vụ thảm sát đã bị đe dọa, tờ báo Úc đăng tải câu chuyện vụ thảm sát đã bị kiện. Cuối cùng, nhờ những nỗ lực của nhà báo Seymour Hersch, câu chuyện đã công khai sáng tỏ, Calley đã bị đưa ra tòa án quốc gia và bị kết án ba năm.

    Năm 1968, Bắc Việt đã phát động cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Nguyên Đán, mệnh lệnh ban ra là “đánh vào đêm 30 tết Mậu Thân”. Nhưng do lịch âm Trung Quốc và lịch âm Việt Nam năm đó chênh nhau 1 ngày, miền Bắc ăn tết sớm và miền Nam ăn tết muộn theo lịch Trung Quốc, vì thế mà rất có thể đã xuất hiện 2 cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc lệch thời gian tác chiến.

    Cụ thể, chiến trường thuộc các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hoà nổ súng vào đúng đêm giao thừa miền Nam. Còn chiến trường Quảng Trị – Thừa Thiên Huế, Nam Trung Bộ, Nam Bộ lại đánh muộn hơn 1 ngày, tức là đêm 1 tết của miền Nam. Nếu nổ súng cùng lúc, có lẽ, Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng từ năm 1968.

    Tuy vậy, cuộc tổng tiến công đã gây choáng váng cho người Mỹ, hầu hết Sài Gòn và cả Đại Sứ quán Hoa Kỳ đều bị chiếm giữ. Nhưng do lệch giờ, Mỹ đã kịp sốc lại đội hình, chủ động phòng thủ, tổ chức phản công đẩy lùi được Việt Cộng và giành lại những vùng lãnh thổ đã bị chiếm mất.

    Sau tết Mậu Thân: dư luận Mỹ bắt đầu lên án chiến tranh!

    Nhiệm kì của Tổng thống Lyndon Johnson bị phá hỏng, các cuộc biểu tình khốc liệt diễn ra khắp nước Mỹ, Johnson phải từ chối tranh cử lần 2. Những người lính trở về từ Việt Nam, thay vì được chào đón như những vị anh hùng giống lúc học ra đi, thì lại bị công chúng phản đối như kẻ thù, thậm chí người biểu tình nhổ nước bọt.

    Chiến tranh Việt Nam đã chia rẽ nội bộ nước Mỹ!

    Richard Nixon, người được bầu vào vị trí tổng thống mới năm 1968, ông tuyên bố đã xây dựng một kế hoạch bí mật để chấm dứt xung đột. Thực tế Nixon chẳng có kế hoạch nào cả, ông gia tăng chiến tranh, đánh sang cả Campuchia đề phòng Bắc Việt chọn đó là hướng tấn công. Hành động của Nixon đã dấy lên phong trào biểu tình, một trong số những cuộc biểu tình tại Đại học Quốc gia Kent ở Ohio, quân đội Vệ binh Quốc gia Ohio đã nổ súng, 4 sinh viên bị bắn chết tại chỗ.

    Cả nước Mỹ rúng động, bắt buộc Nixon phải rút quân bằng kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội Hoa Kỳ đã giảm từ 540 ngàn binh lính vào năm 1968 xuống còn 60 ngàn vào năm 1972. Hòa đàm Paris bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1968, nhưng giẫm chân tại chỗ, vì Bắc Việt yêu cầu Mỹ phải ngừng oanh tạc miền Bắc đồng thời loại bỏ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng Mỹ chỉ đồng ý ngừng bắn.

    Cuối năm 1972, công chúng Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam dưới mọi hình thức. Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger đã cố gắng cứu vớt “hòa bình với danh dự – peace with honor”, tìm mọi cách ép Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán, nhưng Hà Nội không nhượng bộ và chỉ muốn chiến thắng. Vào tháng 12 năm 1972, Nixon đã ra lệnh “ném bom Giáng sinh”, B52 rải thảm 12 ngày đêm xuống Hà Nội và các thành phố khác, nhưng đã bị phòng không Bắc Việt đánh trả, Mỹ thất bại thảm hại trên bầu trời. Nixon bắt buộc phải dừng vụ đánh bom, Hiệp địn Paris được kí vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ chấp nhận rút quân vô điều kiện.

    Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ có 58.148 lính bị thiệt mạng, với độ tuổi trung bình 23,1 tuổi, trong đó 61% dưới 21 tuổi và 11.465 binh lính dưới 20 tuổi; rất nhiều lính Mỹ là phế binh khi trở về vẫn chưa đủ tuổi vào tiệm mua mưa rượu với tư cách hợp pháp.

    Cuộc chiến cũng tiêu tốn của Mỹ 140 tỉ đô la.

    Hơn 2 năm sau, những ngày cuối tháng 4 năm 1975, quân đội chính quy Bắc Việt như từ dưới đất chui lên với đầy đủ súng đạn, đại bác và xe tăng; chế độ Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng sụp đổ. Những người Mỹ còn sót lại, họ phải di tản trong cay đắng, phương tiện là những chiếc trực thăng hay máy bay chở hàng.

    Những người miền Nam giàu có, họ lo sợ lịch sử sẽ lặp lại, đó là những cuộc trả thù như cải cách ruộng đất, nên họ tuyệt vọng tìm mọi cách để trốn thoát. Bất cứ ai kết hôn với một người Mỹ, hoặc đã giúp đỡ các lực lượng Mỹ trước đó, cũng đều tìm cách trốn đi.

    Đất nước thống nhất, nhưng chẳng xảy ra hiệu ứng domino nào cả, việc người Mỹ với học thuyết “ngăn chặn” tạo nên cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một sai lầm phải trả giá băng xương máu vô cùng tồi tệ. Chiến tranh cũng đã dạy cho người Mỹ bài học về sự kiêu ngạo ẩn sau nỗi ám ảnh và sự sợ hãi của các nhà lãnh đạo Mỹ trước “chủ nghĩa cộng sản”.

    Năm 1995, Hoa Kỳ và Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Văn hóa Việt cùng với thực phẩm và đủ các loại hàng hóa trở nên phổ biến ở Mỹ, chiều ngược lại cũng vậy. Đến hôm nay, Việt Nam đã thực sự trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà tư bản Hoa Kỳ đầu tư, đúng như lời hứa hẹn của Hồ Chí Minh từ những năm 1950.

    Bs Trần Văn Phúc

    #ngannua

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Mỹ Muốn Đánh Chiếm Thành Phố Raqqa?
  • Co Giật Mí Mắt, Điềm Báo Hay Triệu Chứng Bệnh Về Mắt
  • Lý Giải Tại Sao Mắt Bị Giật Và Liệu Đây Có Phải Điềm Báo?
  • Tại Sao Miền Trung Lại Là Nơi Bão Đổ Bộ Vào Nhiều Nhất?
  • Nguyên Nhân Nào Khiến Đô Thị Miền Trung Ngập Lụt Nghiêm Trọng?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100